Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:23:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7258 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #20 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:03:07 pm »

Hoàn thành cơ bản công cuộc cải tạo nền kinh tế, thiết lập quan hệ sản xuất mới trong một thời gian tương đối ngắn là một thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để giữ vững thành tựu đó cần có một khoảng thời gian dài hơn nữa, trong đó đòi hỏi phải có đường lối, chính sách, biện pháp đúng để biến đổi và phát triển sản xuất. Đường lối cơ bản để giải quyết nhiệm vụ này được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng đề ra; theo đó miền Bắc phải: "Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Cuộc cách mạng này gắn bó chặt chẽ với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước; đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.


Theo phương hướng đó, từ năm 1960 đến năm 1965, miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với nhiệm vụ cơ bản đặt ra là "xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa"1 (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Sđd, tr. 566). Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch diễn ra sôi nổi. Nhiều cuộc vận động lớn cũng được phát động trong công nghiệp, nông nghiệp, trong lực lượng vũ trang... Đến cuối năm 1965, các mục tiêu kinh tế cơ bản cũng được thực hiện. Giá trị sản lượng công nghiệp nặng đến năm 1965 đã tăng ba lần so với năm 1960; toàn miền Bắc có 88,8% số hộ nông dân vào sản xuất tập thể, 71,7% tổng số đơn vị sản xuất tập thể thuộc hợp tác xã nông nghiệp bậc cao. Giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh với việc xây dựng thêm nhiều trường mới, có chính sách ưu tiên đào tạo con em vùng cao, con em đồng bào miền Nam, nâng cao tỷ lệ học sinh nữ; kết hợp vừa đào tạo chính quy dài hạn vừa đào tạo tại chức; đào tạo trong nước là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn đê đưa học sinh đi học ở nước ngoài. Hệ thống y tế đã phát triển rộng khắp, nhiều loại dịch bệnh từng phổ biến ở miền Bắc căn bản được xoá bỏ. Mười năm sau ngày giải phóng, từ đổ nát của chiến tranh, nhân dân miền Bắc khắc phục trở ngại, xây dựng cuộc sống mới, nền kinh tế có bước tiến vững chắc với hai ngành kinh tế chính công - nông nghiệp và hai hình thức sở hữu bao trùm là quốc doanh và tập thể.


Tháng 4-1965, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ quyết định tăng cường lực lượng yểm trợ của Mỹ từ 18.000 lên 20.000 quân sang Việt Nam, triển khai bốn tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ từ phòng giữ các căn cứ sang yểm trợ tấn công. Tháng 6-1965, máy bay Mỹ đe dọa vùng trời Hà Nội, Hải Phòng; quy mô và cường độ đánh phá miền Bắc gia tăng cùng với sự phát triển chiến tranh ở miền Nam. Sự việc Mỹ đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tăng cường ném bom miền Bắc đã làm cho tình hình Đông Dương hết sức căng thẳng, chiến tranh Việt Nam được đẩy lên một nấc thang mới.


Để ứng phó với tình hình, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ chức hai hội nghị - Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) và Hội nghị lần thứ 12 (12-1965) khẳng định lại nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba đề ra. Các hội nghị nhấn mạnh: Đường lối và phương châm thực hiện các nhiệm vụ được nêu ra trong những văn kiện trước đây về cơ bản không thay đổi. Song, trong tình hình mới, "miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, nhưng nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 108); mỗi miền phải đảm trách một chiến lược cách mạng với những nhiệm vụ khác nhau song nhiệm vụ của hai miền có quan hệ khăng khít, gắn bó hữu cơ. Đặc biệt, khi Mỹ càng đẩy mạnh chiến tranh, chiến tranh càng trở nên quyết liệt ở miền Nam thì nhiệm vụ của miền Bắc đối với miền Nam càng nặng nề và quan trọng.


Để miền Bắc có thể vừa xây dựng kinh tế vừa chiến đấu phù hợp với tình hình cả nước đang có chiến tranh Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng đối với miền Bắc.


Về kinh tế, trong nông nghiệp, Nhà nước chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch phân bố lại lực lượng lao động, đầu tư số vốn thích đáng để phát triển sản xuất chăn nuôi. Đồng thời, Nhà nước còn ban hành Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (4-1969), trong đó quy định rõ tính chất, nhiệm vụ của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, những nguyên tắc đảm bảo quyền làm chủ của xã viên. Nhờ có chính sách đúng đắn, kịp thời mà sản xuất nông nghiệp của miền Bắc trải qua sự ác liệt của chiến tranh phá hoại vẫn không ngừng được củng cố và phát triển. Cuối năm 1968, 94,9% hộ nông dân vào hợp tác xã. Hàng chục nghìn công nhân, cán bộ kỹ thuật được đào tạo để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhiều địa phương năng suất lúa đã đạt trên 5 tấn/ha. Trong những năm 1966-1971, sản xuất nông nghiệp tăng 141,9% so với thời kỳ 1954-1957 và những năm 1972-1975 tăng 158,9%. Trong công nghiệp, Nhà nước cũng đề ra nhiều biện pháp để duy trì đẩy mạnh sản xuất theo phương châm "tích cực bảo vệ, duy trì và phát triển sản xuất". Những kho tàng, xí nghiệp được phân tán, sơ tán về những nơi an toàn để tiếp tục ổn định sản xuất. Nhà nước chủ trương đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, chú trọng xây dựng các xí nghiệp vừa và nhỏ. Tổng số vốn đầu tư vào công nghiệp trong các năm 1965-1967 tăng gấp 33 lần so với tổng số vốn đầu tư trong ba năm trước đồ. Mạng lưới công nghiệp địa phương với các xí nghiệp quy mô nhỏ cũng được hình thành và bước đầu phát triển, sản xuất công nghiệp nhờ vậy mà không ngừng phát triển. Đặc biệt sản lượng công nghiệp địa phương ngày càng tăng. Năm 1965 chiếm 46,7% sản lượng công nghiệp thì đến năm 1971 chiếm 54,1%. Các lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng đạt được những thành tựu quan trọng. Văn hoá - giáo dục cũng ngày càng lớn mạnh. Năm 1965, miền Bắc có 60.000 học sinh các trường trung học và 24.000 sinh viên đại học, đến nàm 1975 con số tương ứng là 69.000 và 55.000.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #21 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:04:30 pm »

3. Về quân sự

Sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp và chỉ rõ: "Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm, nguy hiểm... Cho nên, tăng cường quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 9-1954), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 29). Tháng 3-1957., Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhóm họp tại Hà Nội. Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị là bàn về việc "tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng". Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhấn mạnh nhiệm vụ "tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại"2 (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, (tháng 3-1957); Văn kiện Đảng toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 195).


Về xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, Trung ương Đảng chỉ rõ:

- Thực hiện chính quy hoá, nhằm thống nhất quân đội về mọi mặt, chủ yếu là thống nhất chỉ huy, biên chế, huấn luyện, chế độ, kỷ luật, thích hợp với yêu cầu của chiến tranh hiện đại.

- Thực hiện hiện đại hoá nhằm từng bước trang bị cho quân đội các loại vũ khí và phương tiện hiện đại, rèn luyện con người nắm vững khoa học - kỹ thuật hiện đại, đưa quân đội từ một quân đội đơn thuần bộ binh sang một quân đội gồm nhiều quân chủng, binh chủng.

- Trong tình hình kinh tế của đất nước chưa phát triển, việc hiện đại hoá quân đội một phần quan trọng nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.

Trung ương Đảng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội, làm cho quân đội dù ở trình độ nào, tình thế nào cũng luôn sẵn sàng chiến đấu. Trung ương Đảng chủ trương xây dựng lực lượng thường trực mạnh, có số lượng thích hợp và chất lượng cao, xây dựng lực lượng hậu bị hùng mạnh, phát triển đến phạm vi toàn dân, trên cơ sở thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự. Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cũng chỉ rõ, trong khi quán triệt tư tưởng "tích cực xây dựng quân đội tiến dần từng bước vững chắc lên chính quy, hiện đại", cần phải tránh tư tưởng nóng vội, thoát ly thực tế, song hết sức cố gắng tranh thủ thời gian, vì đòi hỏi của tình hình lúc này là hết sức cấp bách, nhiệm vụ xây dựng quân đội rất khẩn trương, nặng nề.


Cũng tại Hội nghị lần thứ 12 (3-1957), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phê chuẩn kế hoạch xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm (1955-1959). Đây là kế hoạch xây dựng một lục quân chính quy, tương đối hiện đại, đặt những cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng hai quân chủng Không quân và Hải quân và chuẩn bị điều kiện để tới kế hoạch sau sẽ hiện đại hoá quân đội lên một bước. Nội dung của kế hoạch này gồm những vấn đề chính như: Tổ chức biên chế lại quân đội về tổng số quân thường trực; cải tiến trang bị vũ khí một cách căn bản; đẩy mạnh huấn luyện quân đội một cách toàn diện; tăng cường công tác cán bộ; kiện toàn cơ quan tham mưu các cấp; xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất trong quân đội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội...


Kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955-1959) đề ra nhiều công tác cụ thể, nhằm tăng cường phòng thủ và chuẩn bị chiến đấu cho quân đội. Trung tuần tháng 3-1958, Tổng Quân ủy quyết định điều chỉnh kế hoạch xây dựng quân đội, tăng thời gian thực hiện kế hoạch thêm một năm (đến năm 1960) cho phù hợp với kế hoạch ba năm cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá của Nhà nước (1958-1960), đẩy nhanh tiến độ xây dựng quân đội về mọi mặt.


Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất, Tổng Quân ủy tập trung chỉ đạo các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chuyển quân tập kết, khẩn trương chấn chỉnh một bước tổ chức, biên chế, cải tiến trang bị, bảo đảm cho quân đội sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị bước vào xây dựng chính quy, hiện đại. Sau khi lực lượng cách mạng miền Nam tập kết ra miền Bắc, quân số bộ đội khoảng 33 vạn, chủ yếu là bộ binh; biên chế, điều lệnh, trang bị chưa thống nhất. Trước thực tế đó, quân đội tiến hành chấn chỉnh một bước về mọi mặt. Các sư đoàn, trung đoàn bộ binh được thành lập. Bên cạnh đó, các đơn vị phòng thủ bờ biển, bộ đội biên phòng, bộ đội bảo vệ nội địa, bảo vệ giới tuyến cũng được thành lập. Các đơn vị binh chủng, hệ thống phân xưởng quốc phòng, kho tàng, viện quân y được biên chế và bố trí phù hợp với phương án phòng thủ miền Bắc.


Tháng 2-1961, Bộ Chính trị họp nhận định về kết quả 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại; thông qua nhiệm vụ quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965) nhằm đẩy mạnh hdn nữa sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng toàn dân, đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới. Trên cơ sở đó, lực lượng vũ trang miền Bắc được xây dựng, phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Các sư đoàn bộ binh được biên chế đủ quân số và trang bị. Tháng 10-1962, bộ đội phòng không và không quân hợp nhất thành Quân chủng Phòng không - Không quân gồm 12 trung đoàn, 17 tiểu đoàn. Hệ thống rađa triển khai thành mạng trinh sát cảnh giới phòng không quốc gia, một số sân bay được nâng cấp hoặc xây dựng mới. Lực lượng hải quân xây dựng bốn tiểu đoàn tàu ven biển làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm; một số đơn vị được bố trí ở các trọng điểm.


Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (1965) đã ra quyết nghị về các vấn đề xây dựng quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, thông qua kế hoạch xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại.

Thực hiện kế hoạch này, quân đội tiến hành giảm tổng quân số đi đối với nâng cao chất lượng toàn diện của bộ đội tập trung, tận dụng khả năng xây dựng kinh tế, xây dựng các công trình quân sự và đẩy mạnh công tác tổng kết nghiên cứu khoa học quân sự. Năm 1965, gần 290.000 thanh niên tình nguyện gia nhập quân đội, trong đó, tháng 5-1965, đã có tới 150.000 người. Những tháng cuối năm 1965, hàng chục nghìn thanh niên và quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên được động viên vào quân đội, hàng chục nghìn người khác được gọi vào lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến.


Đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực trên miền Bắc tăng từ 195.000 lên 400.000 quân, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần các cấp trong toàn quân cũng được chấn chỉnh, sắp xếp theo biên chế mới nhằm nâng cao hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy. Một số quân chủng, binh chủng mới lần lượt ra đời, các quân chủng, binh chủng cũng tăng gấp ba lần so với một năm trước đó. Từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối về số lượng, đến năm 1960, cơ cấu, biên chế quân đội được điều chỉnh căn bản. Tỉ lệ giữa bộ binh và các binh chủng kỹ thuật xấp xỉ nhau: 51/49%. Riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, những tháng năm ấy, đã phát triển vượt bậc - không chỉ có pháo phòng không mà còn có các binh chủng tên lửa đất đối không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Nếu năm 1964, lực lượng phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn không quân tiêm kích, hai trung đoàn rađa, thì từ năm 1965 đến năm 1967, con số đó tăng lên 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn cao xạ, 10 trung đoàn tên lửa đất đối không, hai trung đoàn không quân tiêm kích, bốn trung đoàn và một tiểu đoàn rađa. Đến năm 1972, số trung đoàn, tiểu đoàn pháo phòng không của bộ đội chủ lực tăng gấp 5 lần đến 7 lần so với năm 1965. Bên cạnh bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương cũng phát triển với tốc độ nhanh, được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội pháo phòng không 12,7mm, 14,5mm, 37mm, 100mm; dân quân tự vệ hình thành hàng nghìn đơn vị trực chiến, tham gia phốỉ hợp chiến đấu với bộ đội.


Cùng với lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ biển cũng có bước phát triển mạnh mẽ, bao gồm các đơn vị pháo binh bờ biển của chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Đến năm 1972, pháo binh của bộ đội chủ lực có 12 trung đoàn, một tiểu đoàn, bốn đại đội; của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ lên tới 500 đơn vị và được trang bị các loại pháo bắn biển nhiều gấp 17 lần so với năm 1964.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #22 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:05:21 pm »

Đến cuối 1965, bộ đội chủ lực miền Bắc đạt 27 vạn; bộ đội địa phương và dân quân du kích tăng nhanh, vũ khí trang bị đều được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, hoả lực, sức cơ động của bộ đội do vậy được tăng cường. 37.250 cán bộ từ trung đội trở lên bao gồm cán bộ chính trị, quân sự, hậu cần các quân chủng, binh chủng được bổ túc hoặc đào tạo chính quy ở các trường quân sự trong nước hoặc nước ngoài. Đó là một đảm bảo quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội tiến lên chính quy.


Thực hiện nhiệm vụ này, việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp với hội dung sát thực và phương pháp ngày càng được cải tiến. Thông qua huấn luyện, bản lĩnh chiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Khả năng chiến đấu hiệp đồng quân chủng, binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn cũng được dự tính và triển khai huấn luyện.


Hệ thống điều lệnh quân đội được tổ chức biên soạn và thực hiện nhằm đưa bộ đội vào nếp sống chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao của quân đội.

Xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng quân đội trở thành một quân đội cách mạng nói riêng, Đảng Lao động Việt Nam đặc biệt coi trọng việc xây dựng về chính trị, xem đó là yếu tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội. Vì vậy, song song với các mặt công tác khác, Đảng đẩy mạnh công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Từ năm 1957, Đại hội Đảng bộ ở các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn bắt đầu được tiến hành thường xuyên theo định kỳ nhằm thực hiện sự lãnh đạo toàn điện theo chế độ tập trung dân chủ của các cấp ủy Đảng trong lực lượng vũ trang. Tháng 11-1958, Hội nghị chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân được triệu tập. Hội nghị đã bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ, nội dung công tác đảng, công tác chính trị, chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị.


Tổng cục Chính trị chỉ đạo toàn quân mở nhiều đợt học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, thời kỳ này, các đơn vị thực hiện cuộc vận động lớn nhằm "nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa", "rèn luyện lập trường giai cấp vô sản cho đảng viên", "xây dựng chi bộ vững mạnh". Hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị và bầu không khí chính trị - xã hội ở miền Bắc cũng như sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, lôi cuốn mạnh mẽ thanh niên trong quân đội; thôi thúc họ phấn đấu trong công tác, học tập, rèn luyện và chiến đấu. Trên cơ sở đó, hàng chục nghìn đoàn viên, chiến sĩ qua thử thách đã gia nhập hàng ngũ của Đảng, đưa tỉ lệ đảng viên trong quân đội lên đến 40% năm 1960.


Đường lối quân sự của Đảng Lao động Việt Nam là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Vì vậy, Đảng Lao động Việt Nam thường xuyên quan tâm đến việc nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên. Nhà trường, bên cạnh giáo dục cho học sinh về kiến thức, khoa học, luôn luôn chú trọng bồi đắp tình yêu quê hương đất nước, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người trước vận mệnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước đã phát động nhiều phòng trào thi đua, mở nhiều cuộc vận động lớn, tổ chức cho các tầng lớp nhân dân học tập chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng... nâng cao sự thống nhất về chính trị và tinh thần trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trên cơ sở đó, Nhà nước huy động nhân dân tham gia đóng góp vào việc xây dựng các công trình quân sự, các hệ thống phòng thủ ven biển, vùng giới tuyến, phục hồi và xây dựng mới nhiều tuyến giao thông có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng.


Để củng cố hơn nữa nền quốc phòng toàn dân, căn cứ vào thế bố trí chiến lược chung, miền Bắc được chia thành các quân khu. Bộ Tư lệnh Quân khu là cơ quan quân sự cao nhất, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, xây dựng tiềm lực quân sự trên địa bàn quân khu.


Đảng Lao động Việt Nam chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Kết quả sự kết hợp giữa hai lĩnh vực này, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết ra đời. Các cơ sở đó được bố trí trên những địa bàn có ý nghĩa chiến lược về chính trị, kinh tế và quân sự. Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông - lâm trường trở thành địa bàn đóng quân, đảm bảo hành quân... cho các đơn vị chủ lực vào miền Nam chiến đấu.


Ngày 31-3-1959, Quốc hội thông qua Luật Nghĩa vụ quân sự. Từ chế độ tòng quân tình nguyện, chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự là bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Nó cho phép tăng cường lực lượng hậu bị, giam bớt quân số thường trực, tiết kiệm tài lực để tập trung cho công cuộc kiến thiết miền Bắc. Ngoài ra, chế độ nghĩa vụ quân sự còn tạo điều kiện phổ cập tri thức quân sự, nâng cao ý thức quốc phòng trong xã hội, động viên sự tham gia đóng góp của toàn dân vào sự nghiệp củng cố quốc phòng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:06:20 pm »

4- Về đối ngoại

Trong bối cảnh quốc tế rất phức tạp, đất nước đứng trước muôn vàn những khó khăn, thử thách, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là "xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nước nào dựa theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên đểu có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.304); theo đó, nhiệm vụ đối ngoại phải góp phần "chống chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ, chống Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á, củng cố hoà bình ở Đông Dương, bảo vệ hoà bình Đông Nam Á và toàn thế giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.304). Giữ vững độc lập, tự chủ, ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế để đẩy mạnh cuộc kháng chiến gắn với không ngừng tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là đối với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc và hai nước láng giềng là Lào và Campuchia.


Đối với Cách mạng Lào và Campuchia, Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương giúp đỡ trên tinh thần quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân hiểu rõ tầm quan trọng của liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, đề phòng tư tưởng hẹp hòi hoặc chủ nghĩa sôvanh nước lớn. Suốt những năm chống Mỹ, nhất là từ năm 1960 trở đi, miền Bắc không chỉ là hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam mà còn là hậu phương của cách mạng Lào, Campuchia. Những người lính tình nguyện và cán bộ chiến đấu, công tác ở vùng giải phóng Lào hay Campuchia đều thấu suốt đường lối, quan điểm trên đây của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính vì vậy, cán bộ và chiến sĩ Việt Nam được nhân dân Lào, Campuchia tận tình ủng hộ, giúp đỡ coi như chính con em của mình.


Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì giải thích, thuyết phục, để các nước này hiểu rõ và hiểu đúng chủ trương chiến lược, khả năng chiến thắng và sách lược của Việt Nam trong tiến hành chiến tranh, qua đó, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ tối đa nhất có thể.


Trước những biện pháp vận động ngoại giao đa phương, song phương của Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đẩy mạnh tuyên truyền đối ngoại, làm cho nhân dân và chính phủ nhiều nước - trước hết là các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh đồng tình, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, phản đối chính sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Đông Dương.


Đối với nhân dân tiến bộ Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương làm cho họ ngày càng hiểu rõ lập trường và thiện chí của Việt Nam, thấy được tính chất phản tiến bộ của cuộc chiến tranh mà các đời Tổng thống Mỹ theo đuổi ở Việt Nam.

Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, những thắng lợi ở hai miền Nam - Bắc, sự vững chắc của hậu phương chiến lược trước thử thách ác liệt của chiến tranh cùng đường lối đối ngoại trên đây của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm thất bại âm mưu và nhiều thủ đoạn ngoại giao của Mỹ, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế ngày càng rộng rãi, to lớn. Trên thực tế trong kháng chiến chống Mỹ, mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam đà hình thành, Toà án quốc tế Bertrand Russell (Béctơrăng Rútxen) được thành lập và tiến hành các phiên họp xét xử tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Chính phủ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội và dư luận nhiều nước, kể cả một số đồng minh chiến lược của Mỹ đã lên tiếng phê phán cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương...


Về mặt đó, hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ là miền Bắc. Hậu phương đó còn là sự đồng tình, cổ vũ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của dư luận tiến bộ và chính phủ nhiều nước trên thế giới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #24 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:07:57 pm »

II- BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC

1- Bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc

Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc luôn luôn phải đối phó với âm mưu và thủ đoạn chống phá của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên tất cả các mặt, trong đó chống phá bằng biện pháp quân sự ngày càng trở nên ác liệt theo mức độ gia tăng của chiến tranh ở chiến trường chính miền Nam. Theo quan điểm của Mỹ, nếu chặn được luồng tiếp viện từ miền Bắc vào Nam thì cũng có nghĩa là cuộc chiến tranh ở miền Nam phần thắng thuộc về phía Mỹ. Vì vậy, Mỹ ngày càng tăng cường tiến hành chiến tranh chống phá miền Bắc hòng đè bẹp ý chí chiến đấu, làm kiệt quệ miền Bắc. Miền Bắc chiến đấu chống âm mưu và hành động phá hoại của Mỹ, nhất là qua hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân là tiến hành một cuộc đấu tranh hết sức cam go, quyết liệt.


Từ năm 1954 đến năm 1964, Mỹ tiến hành nhiều hoạt động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (tung biệt kích, thám báo vào miền Bắc, móc nối với các phần tử phản động nằm vùng hoạt động gián điệp, xây dựng chương trình tuyển mộ người Việt Nam thành lập các đội đánh mìn hoạt động ở vùng ven biển...). Từ ngày 5-8-1964, Mỹ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Việt Nam. Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đó, Mỹ muốn hủy hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; bẻ gãy ý chí kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nâng đỡ tinh thần của quân đội Sài Gòn. Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này một lực lượng không quân và hải quân rất lớn, gồm hàng nghìn máy bay tối tân thuộc 50 loại khác nhau, kể cả những loại mới nhất như B.52, F.111 và với các loại vũ khí hiện đại. Không quân, hải quân Mỹ tập trung đánh phá các mục tiêu quân sự, các đầu mối giao thông, nhà máy, xí nghiệp, các công trình thủy lợi, khu đông dân; đánh cả vào trường học, nhà trẻ, bệnh viện... Máy bay, tàu chiến Mỹ đánh phá liên tục, khắp mọi nơi, mọi lúc, trong mọi thời tiết với cường độ ngày càng tăng. Trung bình mỗi ngày có 300 lần chiếc máy bay đi gây tội ác, với 1.600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc, phố xá. Theo tính toán của một số tác giả người Mỹ, chỉ tính đến năm 1967 thôi, thì không lực Hoa Kỳ cũng đã kịp ném xuống miền Bắc Việt Nam 1.630.000 tấn bom đạn các loại, nghĩa là nhiều hơn khối lượng bom đạn mà Mỹ ném xuống chiến trường châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai và gấp đôi số bom ném xuống Triều Tiên, gấp ba lần số bom ném xuống chiến trường Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. "Cái thác bom giội xuống Việt Nam đạt tới mức cứ mỗi dặm vuông hứng chịu tới 12 tấn ở cả miền Bắc và miền Nam, và khoảng 100 pound (50kg) chia cho mỗi đầu người dân Việt, kể cả đàn bà và trẻ con mà rất nhiều người trong số họ không nặng tới trọng lượng đó - kể cả máu, thịt và xương". Lời nhận xét trên đây của tác giả Don Oberdoifer (D. Ôbơđoiphơ), quả thật đã được chứng tỏ trên thực tế. Cơ quan phân tích Cục Tình báo Trung ương Mỹ ước tính, chiến dịch ném bom miền Bắc của Mỹ đã cướp đi sinh mạng 13.000 người dân trong năm 1965, 24.000 người trong năm 1966, khoảng 29.000 người trong năm 1967 và con số đó tăng theo nhịp độ của các bước "leo thang". Hầu hết toàn bộ hệ thống giao thông, cầu, đường, nhà ga, kho bãi, bệnh viện, trường học, nhiều cơ sở kinh tế, công trình công cộng, hệ thống thủy lợi như đê điều, đập nước bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng nề; trong đó có các cơ sở y tế, hàng trăm nhà thờ và chùa chiền, phá vỡ nhiều công trình giao thông, cơ sở kinh tế quan trọng mà phải mất nhiều năm miền Bắc mới khôi phục được. Bom đạn Mỹ đã tàn phá 4.000/5.780 xã, 28/30 tỉnh lỵ, 350 bệnh viện, 1.300 trường học và các hệ thống giao thông, công trình thủy lợi.


Do xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân, dự đoán chính xác âm mưu của Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, quân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giữ vững sản xuất và không ngừng tăng cường tiềm lực chi viện cho chiến trường miền Nam.    


Miền Bắc đã xây dựng được lực lượng công an và dân quân tự vệ lớn mạnh. Năm 1965, lực lượng này có 1.670.785 người, đến năm 1969 lên đến 2.202.216 và đến năm 1975 là 2.051.865 người. Bên cạnh lực lượng công an và dân quân tự vệ, miền Bắc còn xây dựng và tăng cường được lực lượng biên phòng. Tại các vùng biên giới, hải đảo, giới tuyến quân sự và những vị trí có tầm quan trọng về an ninh, hệ thống đồn canh, tram kiểm soát, các công trình phòng thủ được củng cố. Tháng 6-1961, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc tập trung cải tạo những phần tử có hoạt động nguy hại cho trật tự trị an. Tháng 6-1962, Hội đồng Chính phủ ra nghị định quy định rõ những vấn đề thuộc về an ninh bí mật quốc gia và trách nhiệm của mọi công dân trong việc giữ gìn, bảo vệ bí mật Nhà nước. Những văn bản đó đã góp phần kịp thời vào việc trấn áp những lực lượng phản động để giữ vững an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #25 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:09:14 pm »

Từ đầu năm 1964, trước âm mưu tăng cường và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc được triệu tập. Hội nghị bàn biện pháp triển khai và tăng cường hệ thống phòng không nhân dân ba thứ quân, kế hoạch sơ tán nhân dân khỏi những vùng trọng điểm. Tiếp theo đó, tháng 3-1964, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt tại Hà Nội nhằm đoàn kết toàn dân giữ vững ý chí chiến đấu, kêu gọi nhân dân miền Bắc mỗi người "phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho miền Nam ruột thịt". Tháng 6-1964, Bộ Chính trị ra chỉ thị về tăng cường công tác phòng không, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, kết hợp mọi biện pháp đánh địch bằng mọi thứ súng, trong đó lấy bộ đội phòng không làm nòng cốt.


Thực hiện chủ trương đó, quân và dân miền Bắc tích cực chuẩn bị mọi mặt. Lực lượng vũ trang gấp rút chấn chỉnh biên chế, tổ chức, tăng cường về số lượng. Năm 1965, gần 290.000 thanh niên tình nguyện gia nhập quân đội. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, 68.874 thanh niên và quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên được tuyển vào quân đội, hàng chục nghìn người khác được gọi vào thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. So với đầu năm, đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực miền Bắc tăng gấp hai lần - từ 195.000 quân lên 400.000 quân. Các binh chủng, quân chủng cũng tăng nhanh về lực lượng, tăng cường về vũ khí, trang bị. Đến cuối năm 1965, quân số các quân chủng, binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân, nhiều đơn vị được gấp rút xây dựng, trong đó có các đơn vị tên lửa phòng không, pháo phòng không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Bên cạnh lực lượng bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng bộ đội phòng không các địa phương cũng phát triển với tốc độ nhanh, tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, nhiều đại đội; dân quân, tự vệ hình thành hàng nghìn đơn vị trực chiến. Dân quân, tự vệ là lực lượng nòng cốt phát triển phong trào toàn dân bắn máy bay và tàu chiến Mỹ, làm công tác phòng không nhân dân, bảo đảm giao thông vận tải, bảo vệ trị an, xung kích trong sản xuất ở những địa bàn đối phương thường xuyên đánh phá ác liệt... Vùng ven biển, lực lượng phòng thủ bao gồm các đơn vị bờ đối biển của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ nhanh chóng được tăng cường. Ngoài ra, ở các làng xã vùng ven biển, hàng trăm đội tuần tra được tổ chức, tăng cường canh gác, kịp thời phát hiện và đập tan mọi hành động đột nhập, phá hoại của biệt kích, thám báo. Các lực lượng vận tải và bảo đảm giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải Nhà nước, vận tải nhân dân..., theo nhịp độ gia tăng của cuộc chiến tranh cũng ngày càng lớn mạnh.


Quân chủng Phòng không - Không quân hoàn chỉnh phương án chiến đấu, triển khai lực lượng theo hướng tập trung hoả lực bảo vệ các mục tiêu quan trọng. Quân chủng Hải quân từ tháng 7-1964 chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Các quân chủng, binh chủng khác cũng gấp rút hình thành phương án chiến đấu, đảm bảo giao thông trong điều kiện địch đánh ra miển Bắc. Các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp với công an vũ trang, dân quân tự vệ chuẩn bị triển khai theo kế hoạch phòng thủ. Trong nội địa, các binh đoàn chủ lực tập kết tại những khu vực quy định, sẵn sàng cơ động chiến đấu ở những hướng cần thiết. Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ biển được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung hoả lực mạnh bảo vệ các khu vực mục tiêu trọng điểm. Thế trận đó cho phép quân dân miền Bắc đánh địch rộng khắp, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều thủ đoạn đánh phá cũng như nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại của máy bay, tàu chiến Mỹ.


Tháng 1-1965, Hội đồng Quốc phòng họp đề ra nhiệm vụ và phương hướng công tác quốc phòng cho miền Bắc trước mắt là tăng cường công tác phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tích cực xây dựng và củng cố miền Bắc về mọi mặt. Như vậy cuối năm 1964, đầu năm 1965, miền Bắc đã chuẩn bị một bước rất cơ bản, ở vào tư thế sẵn sàng đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.


Tháng 3 và tiếp đó là tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ 12, ra quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến nhằm bảo đảm cho miền Bắc tiếp tục đi lên trong điều kiện có chiến tranh và đảm bảo cho việc chi viện vào chiến trường miền Nam, hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại do cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ gây ra.


Thực hiện nhiệm vụ đó, các cơ quan Đảng, Nhà nước gấp rút chân chỉnh, sắp xếp kiện toàn về tổ chức và lề lối làm việc, thực hiện đúng chức năng, giản tiện hoá các thủ tục hành chính, kịp thời giải quyết các vấn đề cấp thiết đặt ra. Mặt trận Tổ quốc tiếp tục được củng cố, mở rộng trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Các tổ chức quần chúng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội tham gia. Hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ... đã tập hợp và động viên quần chúng nhân dân thực hiện đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua chiến đấu và công tác, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày, góp phần ổn định tình hình hậu phương và động viên những người ra trận.


Trong khi công cuộc xây dựng miền Bắc càng có bước phát triển, thì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ ngày càng được đẩy mạnh cả về quy mô và cường độ đánh phá. Do luôn nắm thế chủ động, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo quân và dân miền Bắc đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #26 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2026, 09:10:04 pm »

Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (từ 5-8-1964 đến 1-11-1968), từ khắp nơi trên miền Bắc, các phong trào "ba sẵn sàng", "ba đảm đang", "cử người đi đánh Mỹ", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... dấy lên mạnh mẽ, sôi nổi và rộng khắp ở mọi địa phương. Với quyết tâm cao, cơ cấu tổ chức, bố trí lực lượng và thế trận hợp lý; với vũ khí, trang thiết bị, phương tiện bảo đảm ngày càng được cải tiến và tăng cường; với nghị lực và sức sáng tạo được phát huy cao độ của con người Việt Nam, lực lượng phòng không, lực lượng phòng thủ biển và lực lượng bảo đảm giao thông vận tải ba thứ quân ở miền Bắc thực sự là nòng cốt phát động toàn dân tham gia chống chiến tranh phá hoại. Vì vậy, suốt những năm chiến tranh, phong trào toàn dân bắn máy bay, tàu chiến Mỹ bằng mọi thứ vũ khí, ở mọi nơi và trong mọi lúc phát triển rộng khắp các địa phương. Tự vệ các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, công trình; dân quân các bản làng, xóm thôn đều tổ chức các tổ bắn máy bay để vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Khắp nơi các khẩu hiệu "Tay cày, tay súng", ''Tay búa, tay súng'' trở thành phương châm hành động của giai cấp công nhân và nông dân...


Bên cạnh phong trào bắn máy bay và tàu chiến Mỹ, các địa phương còn phát động phong trào toàn dân tham gia bảo đảm giao thông vận tải, toàn dân giúp đỡ bộ đội, phục vụ chiến đấu, toàn dân làm công tác phòng không. Các đội thuyền nan, bè, mảng, xe thồ của nhân dân với phương thức vận tải thô sơ nhưng phù hợp, ngày đêm bền bỉ vận chuyển hàng hoá qua những vùng trọng điểm đối phương thường xuyên đánh phá. Chỉ riêng việc phục vụ chiến đấu như tiếp đạn, kéo pháo, đào đắp công sự, cứu chữa và chăm sóc thương binh..., những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhân dân miền Bắc đã đóng góp hàng triệu ngày công. Tính ra mỗi ngày, trên miền Bắc, có tới 92.000 lao động theo nghĩa vụ thời chiến chiếm tới 10,5% số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của miền Bắc tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong điều kiện miền Bắc phải liên tục động viên thanh niên vào lực lượng vũ trang, vào thanh niên xung phong; trên ruộng đồng, trong nhà máy, lao động nữ là chủ yếu. Những con số trên phản ánh những nỗ lực cao độ của hậu phương lớn, chứng tỏ sự tham gia tích cực, rộng rãi và hiệu quả của nhân dân, tạo ra lực lượng vật chất và tinh thần to lớn, góp phần quan trọng bảo đảm cho miền Bắc có đủ sức mạnh đương đầu, đánh trả liên tục và có hiệu quả nhiều thủ đoạn đánh phá, vô hiệu hoá nhiều loại vũ khí hiện đại của Mỹ.


Vì thế, dù chiến tranh diễn ra ngày càng khốc liệt, tác động lên toàn bộ đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội... nhưng miền Bắc vẫn vững vàng trong lửa đạn, ngẩng cao đầu đánh Mỹ, trừng trị đích đáng lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ trên bầu trời và vùng biển. Trong cuộc chiến đấu đó, quân và dân miền Bắc đã kết hợp chặt chẽ phương thức tác chiến tại chỗ và rộng khắp của lực lượng phòng không, phòng thủ biển của cả ba thứ quân với phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng - chủ yếu là Quân chủng Phòng không - Không quân. Một sự kết hợp như vậy cho phép vận dụng và sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo phù hợp với con người Việt Nam, điều kiện Việt Nam, tạo nên lưới lửa phòng không, phòng thủ liền mạch, dày đặc, rộng khắp và đầy hiệu lực. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận: "Trong chiến dịch đánh phá bằng không quân vào các khu vực được bảo vệ dày đặc ở miền Bắc Việt Nam, cứ mỗi lần xuất kích, Mỹ mất một phi công". Báo Mỹ Người hướng dẫn khoa học đạo Thiên Chúa số ra ngày 22-7-1967 xác nhận rằng: "Trong khi đánh nhau với pháo bờ biển miền Bắc Việt Nam, các tàu chiến Mỹ đã gặp phải sự chống trả ngày càng có hiệu lực. Các tàu khu trục và tuần dương phải chạy nhanh qua vùng nguy hiểm để bắn vào mục tiêu trên bờ". Còn như những nỗ lực chặn cắt luồng tiếp tế từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam của không quân và hải quân Mỹ, cũng không mang lại hiệu quả như phía Mỹ trông đợi. Tất cả những thực tế đó, không phải sau này mà ngay từ những năm đầu chiến tranh phá hoại, giới chức cao cấp Mỹ đã nhận thấy rằng: "Không một khối lượng bom đạn nào ném xuống miền Bắc - trừ phi có một sự hủy diệt mang tính diệt chủng, điều mà không một ai tính tới, mới có thể chấm dứt nổi cuộc chiến tranh" (thừa nhận của Mc Namara (M. Namara) trong cuốn: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam), vả chăng, như chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara trong Bị vong lục gửi lên Tổng thống Mỹ B. Johnson (B. Giônxơn) ngày 15-9-1967 mà ở đó, ông cho rằng: "Hình ảnh một siêu cường lớn nhất thế giới cứ mỗi tuần lại giết hại hoặc làm bị thương 1.000 dân thường trong khi tìm cách khuất phục một dân tộc bé nhỏ, lạc hậu vì một vấn đề mà giá trị của nó đang bị tranh cãi sôi nổi - hình ảnh ấy không đẹp đẽ gì".


Trong bốn năm (1964-1968), lưới lửa phòng không miền Bắc bắn rơi 3.243 máy bay (trong đó có cả máy bay B.52 và F.111), bắn cháy, bắn chìm 143 tàu chiến Mỹ. Sản xuất, về cơ bản không bị ngừng trệ mà tiếp tục được duy trì, hơn nữa trên một số mặt như năng suất lúa, kinh tế địa phương... còn có bước phát triển. Đời sống nhân dân, kể cả vùng tuyến lửa Khu 4, không bị đảo lộn lớn. Dưới bom đạn đánh phá của Mỹ, học sinh vẫn mũ rơm đội đầu đến trường, ngày đêm lên lớp. Gian khổ, thiếu thốn, mất mát, hy sinh, nhưng phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" xuất hiện và phát triển khắp nơi trên mọi nẻo đường chống chiến tranh. Giữa những ngày Mỹ leo thang đánh phá, nhân dân Việt Nam vẫn tổ chức trọng thể lễ mít tinh 200 năm ngày sinh của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Trên mặt trận bảo đảm giao thông, mặc dù toàn bộ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy, cầu công, bến cảng, kho tàng thường xuyên bị đánh phá, bị uy hiếp nhưng nhịp độ và khối lượng vận chuyển vẫn không ngừng tăng lên, đáp ứng kịp thời, liên tục và ngày càng đầy đủ yêu cầu của cuộc chiến đấu trên hai miền Nam, Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:22:01 pm »

Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần hai (từ 6-4-1972 đến 15-1-1973), các lực lượng vũ trang được tăng cường về số lượng và chất lượng theo yêu cầu nhiệm vụ và quy mô mới của cuộc chiến đấu. Bộ Quốc phòng thành lập thêm một sư đoàn, ba trung đoàn và 20 tiểu đoàn cao xạ. Bộ đội phòng không chủ lực được bổ sung, trang bị pháo cao xạ, tên lửa và rađa cùng nhiều khí tài mới. Hai sư đoàn bộ binh cơ động 325 và 320 trực thuộc Bộ và sáu trung đoàn chủ lực cơ động thuộc Quân khu 4, Quân khu Việt Bắc, Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn biên chế đủ số quân và trang bị. Học viên sĩ quan các trường lục quân và binh chủng tổ chức thành một sư đoàn dự bị thuộc Bộ Tổng Tư lệnh (mang phiên hiệu Sư đoàn 312B), sẵn sàng cơ động chiến đấu bảo vệ phía bắc Quân khu 4. Hàng chục trung đoàn, tiểu đoàn pháo binh, thiết giáp, đặc công, công binh, thông tin được thành lập. Một số bộ phận lực lượng phòng không đang chiến đấu ở Quảng Trị được điều gấp ra miền Bắc. Các trung đoàn không quân được giao nhiệm vụ đảm trách tác chiến không đối không trên từng khu vực, hỗ trợ và sẵn sàng chuyển đến bảo vệ những mục tiêu cần thiết. Mỗi trung đoàn không quân đều khẩn trương chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện chỉ huy, để có thể cơ động chiến đấu trên hai hoặc ba sân bay. Cùng với việc tiếp tục mở mặt trận đánh địch trên không, việc chuẩn bị đánh các mục tiêu trên mặt đất, mặt nước của Binh chủng Không quân cũng được triển khai tích cực. Binh chủng Pháo binh và các quân khu được Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ tổ chức các trận địa pháo bờ biển đánh hạm tàu dịch. Chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng vũ trang tập trung trên miền Bắc đã phát triển lên 530.000 người (tăng 10 vạn so với năm 1968), trong đó, bộ đội chủ lực thuộc các quân khu tăng gấp hai lần, riêng Quân khu 4 tăng gấp năm lần.


Lực lượng dân quân tự vệ ở các cơ quan và địa phương tăng nhanh, được trang bị khá mạnh. Ngoài các tổ đội trực chiến, dân quân tự vệ miền Bắc đã tổ chức hàng chục đại đội trang bị pháo cao xạ 37, 57 và 100 ly; 170 đại đội, trung đội trang bị súng máy cao xạ; 20 đại đội, trung đội trang bị pháo 85 ly đánh tàu chiến Mỹ. Tổng số lực lượng dân quân tự vệ bắn máy bay trên toàn miền Bắc đến năm 1972 có 414 đội với 1.441 khẩu pháo, súng các loại. Vận dụng và phát triển kinh nghiệm qua cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, lực lượng phòng không - không quân bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân, vừa có thể đánh địch rộng khắp, vừa tập trung được lực lượng mạnh trên các địa bàn trọng yếu, bảo vệ các mục tiêu quan trọng.


Ngay sau khi địch bắt đầu chiến dịch phong toả miền Bắc lần thứ hai, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Thường vụ Hội đồng Chính phủ họp đề ra các chủ trương, biện pháp đối phó. Ngày 16 tháng 5 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho các lực lượng chủ lực, theo đó, "Quân chủng Hải quân làm lực lượng nòng cốt rà phá, tháo gỡ thủy lôi, bom mìn ở các cảng, cửa sông, ven biển. Binh chủng Công binh và lực lượng vũ trang các quân khu, các tỉnh rà phá, tháo gỡ bom mìn thả trong các sông và trên bộ. Viện Kỹ thuật quân sự cùng với Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Công binh nghiên cứu cấu tạo thủy lôi, bom từ trường, cải tiến chế tạo thiết bị khí tài và hướng dân các địa phương cách sử dụng các phương tiện rà phá thủy lôi, bom mìn của địch"1 (Chỉ thị số 31/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu).


Với tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, các lực lượng phòng không, phòng thủ biển ba thứ quân trên miền Bắc, ngay từ những ngày đầu địch đánh phá, đã liên tiếp bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ. Ngày 6 tháng 4 năm 1972, quân và dân Quảng Bình - Vĩnh Linh bắn rơi 10 máy bay. Ngày 9 tháng 4, các đơn vị pháo bờ biển Quảng Bình bắn cháy tàu chiến Mỹ. Ngày 16 tháng 4, Hà Nội, Hải Phòng bắn rơi 15 máy bay, trong đó có một chiếc B.52. Ngày 19 tháng 4, máy bay chiến đấu MiG-17 đánh trúng một tàu khu trục địch ở ngoài khơi Quảng Bình. Trong tháng đầu Mỹ leo thang đánh phá trở lại, miền Bắc đã bắn rơi 90 máy bay, bắn cháy 20 tàu chiến Mỹ, trong đó quân dân Hải Phòng đã bắn cháy một máy bay B.52 trên bầu trời thành phố. Trong sáu tháng chiến đấu liên tục, từ ngày 9 tháng 5 đến ngày 22 tháng 10 năm 1972, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 561 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 60 tàu chiến địch, bắt nhiều giặc lái Mỹ. Chỉ riêng ngày 10 tháng 5 năm 1972, 18 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi. Đây là con số kỷ lục máy bay Mỹ bị hạ trong một ngày kể từ khi Níchxơn ra lệnh đánh phá miền Bắc lần thứ hai.


Trong toàn bộ cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần hai, miền Bắc bắn rơi 735 máy bay Mỹ, trong đó có 61 chiếc B.52, 10 chiếc F.111, bắn chìm và bắn bị thương 125 tàu chiến, tàu biệt kích. Cuộc chiến đấu để bảo vệ hậu phương miền Bắc là một bộ phận rất quan trọng của cuộc chiến tranh nhân dân. Leo thang đánh phá miền Bắc, mục tiêu hàng đầu của Mỹ là uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, trải qua bốn năm chống chiến tranh phá hoại, quân và dân miền Bắc đã đoàn kết một lòng, giáng trả đích đáng không quân, hải quân Mỹ, gây cho đối phương những tổn hao nặng nề về người lái và máy bay, tàu chiến; làm suy giảm ý chí xâm lược của giới lãnh đạo cao cấp Mỹ. Đánh bại các bước leo thang của không quân và hải quân Mỹ, hậu phương miền Bắc đã làm suy giảm nặng nề uy tín và sức mạnh Mỹ, góp phần quan trọng vào thắng lợi ở chiến trường miền Nam, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ. Qua đó, hậu phương miền Bắc đã thể hiện được sức mạnh và tính bền vững của mình - đó là sức mạnh của một hậu phương được tổ chức chặt chẽ và được củng cố vững chắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:23:06 pm »

2- Miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và chiến trường Đông Dương

Dựa trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hoà bình (1954-1964), được củng cố và bảo vệ vững chắc trong 10 năm chiến tranh (1965-1975), Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vai trò, tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đảng thường xuyên chăm lo giáo dục công tác chính trị, làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhận thức rõ tính chất chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, mức độ quyết liệt, lâu dài của cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam với một đối phương có tiềm lực mạnh, nhiệm vụ nặng nề, vẻ vang của hậu phương miền Bắc, sức mạnh tổng hợp và to lớn của nhân dân Việt Nam... qua đó, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, giữ vững quyết tâm kháng chiến; phát huy cao độ sức mạnh của lòng yêu nước, yêu chế độ trong mọi tầng lớp nhân dân miền Bắc, biến chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước thành hành động cách mạng, thành phong trào thi đua sôi nổi của quần chúng. Mặt khác, Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng công tác rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong gian khổ, hy sinh, đội ngũ này càng thể hiện tính tiên phong trên các mặt trận chiến đấu, giao thông, sản xuất; gắn bó chặt chẽ với nhân dân; thực sự là tấm gương cho quần chúng noi theo, được mọi người tin yêu, mến phục.


Trên nền tảng của chế độ xã hội mới, giải quyết mối quan hệ giữa chiến đấu và sản xuất, giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, giữa yêu cầu Trung ương và yêu cầu địa phương, giữa vùng trọng điểm bị địch đánh phá... Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra và thực hiện có hiệu quả chính sách động viên sức người, sức của phù hợp với điều kiện thực tế của từng thời kỳ, từng địa phương.


Đồng thời với công tác động viên, Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm và đề ra những biện pháp bồi dưỡng sức dân. Trong những năm chiến tranh, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, đặc biệt là củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhằm cho phép động viên cao độ sức người, sức của phục vụ kháng chiến, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về quân số của chiến trường. Tại hậu phương, Đảng, Nhà nước Việt Nam ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế, văn hoá - xã hội, chính sách phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế... theo định hướng đảm bảo duy trì và ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh. Đối với công nhân viên, cán bộ trong biên chế, bên cạnh tăng tiền lương, Nhà nước Việt Nam ban hành chính sách cung cấp theo định lượng, bán theo tem phiếu các nhu yếu phẩm với giá tương đối ổn định thống nhất. Đối với nông dân, Nhà nước chỉ đạo các địa phương, các hợp tác xã thực hiện chính sách phân phối theo phương thức kết hợp, trong đó một phần lương thực được phân phối theo nhu cầu thiết yếu căn cứ theo định suất (mức ăn đã được xác định cho từng nhân khẩu) và phần này được bán theo giá cả ổn định do Nhà nước quy định, thấp hơn giá thị trường tự do. Đối với bộ phận cư dân thành thị không nằm trong biên chế, Nhà nước đảm bảo các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu theo tem phiếu theo giá thấp hơn giá thị trường tự do... Ngoài ra, việc học hành, chữa bệnh cũng được Nhà nước bao cấp phần lớn. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chi viện cho chiến trường ngày càng tăng, việc thực hiện chính sách phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo định hướng cho mọi người dân, ổn định đời sống nhân dân là cố gắng to lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một chính sách cần thiết và đúng đắn, thể hiện sự chăm lo cho đời sống nhân dân của Đảng và Nhà nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:25:35 pm »

Trong khi đó, các cấp bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong nhân dân và giữa những vùng ít bị địch đánh phá với những trọng điểm đánh phá của địch. Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội neo đơn trong thời kỳ chiến tranh trở thành lương tâm và trách nhiệm của mọi người, mọi nhà. Chính quyền các địa phương, các tổ chức quần chúng, các trường học đã có nhiều hình thức giúp đỡ, tương trợ kịp thời; hiệu quả với những người mẹ, người vợ liệt sĩ, thương binh hoặc gia đình bộ đội ở địa phương mình trong cuộc sống, trong sản xuất. Ngoài việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, Đảng, Nhà nước ban hành các chế độ chính sách ưu tiên đối với những vùng trọng điểm bị địch đánh phá, đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đối với con em cán bộ miền Nam...


Nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chính quyền các cấp luôn luôn chú trọng công tác sơ tán, phòng tránh, vận động và tổ chức toàn dân làm nhiệm vụ phòng không nhân dân. Nhờ thế dù chiến tranh ngày càng ác liệt nhưng miền Bắc vẫn hạn chế được tối đa những tổn thất về người và của trước sự đánh phá của không quân và hải quân Mỹ.


Nhìn chung lại, suốt những năm chiến tranh, đặc biệt trong hai cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy vai trò tác dụng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn một cách mạnh mẽ, liên tục. Dù chiến tranh gây ra nhiều tổn thất, tác động tối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; dù đòi hỏi của chiến trường ngày càng cao, nhu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn và cuộc sống của người dân miền Bắc có bị xáo trộn, còn nhiều thiếu thốn, gian lao, nhưng miền Bắc luôn luôn là một hậu phương vững mạnh được tổ chức chặt chẽ. Hậu phương đó không ngừng đứng vững trước thử thách ác liệt mà còn vươn lên đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến.


Ngay sau Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, miền Bắc bắt đầu tổ chức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cho cách mạng Lào và sau đó, cách mạng Campuchia. Sự chi viện đó ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Năm 1959, miền Bắc chi viện cho miền Nam 542 người thì năm 1964, con số đó tăng lên 17.475 người. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên từ miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng lên gấp từ 4 đến 5 lần so với trước đó. Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm nhiệm vụ dự bị chiến lược và chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ riêng số quân từ miền Bắc vào các chiến trường ở miền Nam trong những năm kể trên như sau: 1968: 141.081, 1972: 152.974, 1975: 117.193.


Năm 1975, năm cuối của cuộc kháng chiến, tổng số nhân lực miền Bắc động viên theo nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc; 60 - 65% trong số đó vào lực lượng vũ trang. Giai đoạn 1973-1975, 50% số quân bộ đội tập trung ở miền Nam là lực lượng do miền Bắc tăng cường.


Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, lực lượng đảm bảo giao thông, mở đường và các lực lượng đảm bảo khác... bao gồm hàng chục vạn người cũng đều được động viên ở miền Bắc.

Đại bộ phận lực lượng động viên phục vụ nhu cầu chiến tranh thời kỳ này là thanh niên. Đó là những người trưởng thành trong chế độ xã hội mới, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có giác ngộ, có tri thức, có phẩm chất đạo đức, có sức khoẻ. Do vậy, đây là lớp người có trình độ nắm vững và sử dụng thành thạo có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại1 (Trong kháng chiến chống Mỹ, binh chủng kỹ thuật chiếm khoảng 52% trong biên chế Quân đội nhân dân Việt Nam), là lớp người chiến đấu với niềm tin và ý chí giác ngộ cao.


Về vật chất, phần lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, lương thực, thuốc men... phục vụ công tác chiến đấu và ổn định vùng giải phóng ở miền Nam là do miền Bắc chi viện. Miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, phương tiện vật chất kỹ thuật do nước ngoài viện trợ, tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cải biên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài chiến đấu, vận chuyển vượt hàng nghìn kilômét dưới bom đạn đánh phá của địch, đưa các loại vật chất vào các mặt trận, các vùng giải phóng. Trong những năm từ 1965 đến 1968, miền Bắc đã tổ chức vận chuyển vào miền Nam khối lượng vật chất lớn gấp 10 lần so với những năm 1961-1964. Tổng khối lượng vật chất mà miền Bắc chi viện cho miền Nam trong những năm chống chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" còn tăng gấp nhiều lần so với thời kỳ "chiến tranh cục bộ".


Như vậy, lực lượng và vật chất - hai nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh đã được hậu phương miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ, liên tục cho chiến trường miền Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM