Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:28:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7261 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:26:27 pm »

Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, với chế độ xã hội mới được thiết lập trong 10 năm hoà bình (1954-1960), được bảo vệ và tỏ rõ sức sống trong khói lửa chiến tranh (1965-1975), miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam. Nếu từ năm 1955 đến năm 1959, miền Bắc là chỗ dựa về tinh thần, là niềm tin và hy vọng của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam trong những ngày tháng chịu nhiều tổn thất, hy sinh, thì từ năm 1960, đặc biệt từ năm 1965 trở đi, miền Bắc không chỉ là nguồn cổ vũ tinh thần mà còn là nguồn sức mạnh vật chất to lớn của cách mạng miền Nam. Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thế trận chiến tranh nhân dân bị suy giảm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, miền Bắc đã đưa vào miền Nam số lượng lớn người và vật chất để khôi phục lại lực lượng và thế trận của cách mạng miền Nam. Nhiều đơn vị chủ lực mới từ miền Bắc vào đã phân thành các bộ phận nhỏ xuống các cơ sở làm nhiệm vụ của du kích và bộ đội địa phương. Năm 1968, 141.081 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ dân - chính - Đảng và 72.499 tấn vật chất từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Trong ba năm tiếp theo (1969-1972), miền Bắc chi viện cho miền Nam 162.501 người và 111.045 tấn vật chất. Sự chi viện đó đã giúp cho cách mạng miền Nam nhanh chóng phục hồi và phát triển.


Như vậy, bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam về vật chất và tinh thần, nhất là những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, khó khăn...

Đánh bại các bước leo thang của chiến tranh không quân và hải quân Mỹ, làm thất bại các mục tiêu chiến lược chủ yếu của cuộc chiến tranh này, quân và dân miền Bắc đã góp phần rất quan trọng cùng tiền tuyến lớn miền Nam trên tuyến đầu chống Mỹ.

Thành quả của công cuộc xây dựng miền Bắc, sự ổn định của miền Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại, sự phục hồi nhanh của miền Nam sau năm 1972 là một trong những cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam để ra chủ trương chiến lược giải phóng miền Nam, hoàn thành độc lập dân chủ trong hai năm 1975-1976.


Mặt khác, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã động viên cao độ sức mạnh toàn diện của miền Bắc cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975: Trong hai năm 1973-1974, 25 vạn thanh niên miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, 15 vạn quân từ biệt hậu phương vào chiến trường chiến đấu, hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tới các vùng giải phóng góp phần ổn định tình hình. Lực lượng công binh, bộ đội Đoàn 559, ngành vận tải miền Bắc cùng hàng vạn dân công miền Bắc dồn sức mở rộng đường Trường Sơn, đặt thêm đường ông dẫn dầu. Trong hai năm này, 379.000 tấn vật chất từ miền Bắc được chuyển vào các mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao cho chiến trường trong suốt 16 năm trước đó. Được sự chi viện mạnh mẽ của miền Bắc, thế và lực của cách mạng miền Nam trở nên áp đảo quân địch. Trên miền Bắc, các lực lượng dự bị chiến lược được tăng cường, các quân đoàn chủ lực gồm các đơn vị hợp thành lần lượt được ra đời. Các quân binh chủng cũng xây dựng thêm nhiều đơn vị mới.


Toàn bộ tình hình trên đây là cơ sở để Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đi đến quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm đó, bốn tháng đầu năm 1975, miền Bắc đưa nhanh vào miền Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấn vật chất các loại. Như vậy, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, miền Bắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn. Kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc: trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là từ miền Bắc đưa vào.


Như vậy, suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc trở thành hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến, được xây dựng và bảo vệ theo một đường lối nhất quán và bằng những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó là: Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, gắn chặt nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, kết hợp giữa nhiệm vụ xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá với xây dựng quân đội nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân; kết hợp nhiệm vụ xây dựng với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc hậu phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, biến quyết tâm của Đảng thành phong trào và cao trào cách mạng của đông đảo quần chúng, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hậu phương miền Bắc trong chiến tranh. Miền Bắc trở thành nguồn cung cấp chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến; nơi đề ra đường lối chiến lược và sách lược trong các giai đoạn chiến tranh; là cơ sở để tiến hành đường lối đối ngoại nhằm mở rộng hậu phương của cuộc kháng chiến. Ngoài ra, miền Bắc còn là nguồn cổ vũ to lớn đối với đồng bào miền Nam, đối với cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ở ngoài mặt trận hay trong vùng địch chiếm đóng. Báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư (1976) đánh giá về vai trò, vị trí của miền Bắc như sau: "Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.490).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:28:22 pm »

III- XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC

1- Xây dựng tuyến vận tải chiến lược

Từ sau Hiệp định Geneva đến năm 1958, Ban Thống nhất Trung ương đã tổ chức đường dây Thống nhất để đưa đón cán bộ, chuyển tài liệu và một số hàng cần thiết giữa miền Bắc và miền Nam. Đây là thời kỳ chính quyền Sài Gòn đánh phá mạnh mẽ các tổ chức cách mạng ở miền Nam, song đường dây Thống nhất vẫn được duy trì, giữ vững.


Bước vào năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển, nhiều căn cứ hình thành ở vùng rừng núi, bưng biền đã tạo nên thế đứng mới của lực lượng cách mạng miền Nam.

Từ giữa năm 1959, cách mạng Lào chuyển hẳn sang thời kỳ kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập chính quyền cách mạng.

Sau gần 5 năm (1954-1959) phục hồi và xây dựng mới nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của Nhà nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và quân đội nhân dân, sự nghiệp củng cố miền Bắc thành nền tảng cho cách mạng miền Nam đã đạt được một số kết quả vững chắc. Khắc phục những sai lầm trong cải cách ruộng đất và trong một số mặt công tác khác, miền Bắc tiếp tục hoàn thành các kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa.


Tháng 1-1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và khẳng định: Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, miền Bắc phải đẩy mạnh chi viện cho miền Nam. Trong điều kiện đó, đường dây Thống Nhất Bắc - Nam không còn phù hợp. Hậu phương miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong chiến tranh chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng và sức mạnh khi nó được nối liền bằng hệ thống giao thông thông suốt. Đất nước Việt Nam dài và hẹp, nhân dân miền Bắc còn nghèo, Mỹ lại là một nước giàu về tiềm lực kinh tế, quân sự, có nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại... Vì vậy, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải nối liền hai miền vừa cấp thiết, vừa phức tạp và khó khăn...


Nhận thức được tầm quan trọng cùng những phức tạp và khó khăn đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược; chỉ đạo chặt chẽ quá trình xây dựng, mở rộng, bảo vệ và phát huy vai trò, tác dụng của nó trong chiến tranh.

Ngày 5-5-1959, Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập tuyến giao liên quân sự trên bộ (Đoàn 559). Tiếp đó, tháng 7-1959, tuyến vận tải đường biển chi viện miền Nam ra đời (Đoàn 759).

Buổi đầu, tuyến vận tải đường bộ dựa vào đường dây Thống nhất để thực hiện nhiệm vụ, chủ yếu làm công tác giao liên, vận chuyển một số vật chất bằng phương pháp gùi thồ với phương châm: Phòng tránh, giữ bí mật tuyệt đối để bảo vệ lực lượng, bảo vệ mục tiêu, nhiệm vụ. Tuyến vận tải biển do Mỹ có lực lượng hải quân mạnh khống chế chặt chẽ vùng biển miền Nam nên Đoàn 759 gặp nhiều khó khăn. Mặc dù đã tìm nhiều biện pháp, mở nhiều tuyến ven biển vòng qua tây Trường Sa, nhưng kết quả hạn chế. Từ năm 1962 đến năm 1972, đoàn vận tải biển chi viện miền Nam tổ chức 101 chuyến vận chuyển cho chiến trường được 5.616 tấn vũ khí, đạn dược. Việc bảo đảm chi viện chiến trường, nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia chủ yếu dựa vào tuyến vận tải chiến lược trên bộ.


Sau Đồng khởi, ngày 24-1-1961, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định: "Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 158, 159); đồng thời chủ trương "tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn; tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 158, 159). Thực hiện những nhiệm vụ trên đây, chiến trường miền Nam rất cần sự chi viện về lực lượng, về vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng... với số lượng lớn. Chi viện sức người, sức của kịp thời trở thành yêu cầu sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của cách mạng miền Nam và điều đó đòi hỏi phải gấp rút mở những tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến. Những tuyến đường ấy phải đủ sức đảm nhận, hoàn thành nhiệm vụ vận tải chiến lược, đáp ứng yêu cầu, tình hình phát triển của chiến trường và thậm chí phải vượt trước một bước. Trước tình hình cấp bách lúc đó, Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ cho Quân ủy Trung ương và Ban Thống nhất Trung ương chỉ đạo công tác quân sự ở miền Nam, quyết định tăng cường cán bộ, đẩy mạnh việc tiếp tế vũ khí, tài chính cho cách mạng miền Nam và mở rộng giao thông liên lạc Bắc - Nam.


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chủ trương nhanh chóng tăng cường lực lượng cho Đoàn 559 nhằm mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn theo phương hướng: Kiên trì giữ vững hành lang phía đông, khẩn trương mở đường vận tải phía tây Trường Sơn. Đồng thời, mạnh dạn áp dụng phương thức vận tải cơ giới, kết hợp với phương thức vận tải thô sơ (xe đạp thồ), chú trọng khai thác đường sông.


Được tăng cường lực lượng và bằng những biện pháp tổ chức chặt chẽ, hiệu quả, đến giữa năm 1964, Đoàn 559 đã xây dựng được địa bàn hoạt động từ tây Quảng Bình vào đến ngã ba biên giới, triển khai được một số tuyến, thành lập được các cung trạm, xây dựng được tuyến hành lang nối liền miền Bắc với chiến trường miền Nam. Nhờ đó, trong bốn năm thực hiện nhiệm vụ (1961-1965), Đoàn đã vận chuyển, bàn giao cho các chiến trường gần 3.000 tấn vật chất các loại, đảm bảo hành quân cho 12.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:29:24 pm »

Từ năm 1965, Mỹ sử dụng không quân, hải quân leo thang đánh phá miền Bắc, đưa các lực lượng quân bộ Mỹ và đổng minh tham chiến trực tiếp tại chiến trường miền Nam. Trước tình hình đó, "tất cả chi viện tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" là ý chí của hậu phương miền Bắc đối với cách mạng miền Nam. Miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam, cho cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.


Để đảm bảo vận chuyển người và phương tiện chiến tranh cùng các loại vật chất cần thiết khác vào chiến trường, trong điều kiện đánh phá ác liệt, toàn bộ hệ thống giao thông vận tải từ miền Bắc vào chiến trường đều được chấn chỉnh và tăng cường. Lực lượng vận tải quân sự cùng lực lượng vận tải dân sự trên miền Bắc tập trung năng lực vận chuyển tạo chân hàng cho Đoàn 559. Lực lượng phòng không, lực lượng đảm bảo giao thông tăng nhanh về số lượng; hình thành thế trận vừa đánh địch rộng khắp vừa tập trung bảo vệ các đầu mối giao thông, các địa bàn trọng điểm.


Trên tuyến vận tải chiến lược, Đoàn 559 được tăng cường lực lượng và phương tiện, hình thành lực lượng binh chủng hợp thành. Lực lượng này được bố trí thành thế trận đánh địch, đảm bảo giao thông và vận tải quân sự trên toàn tuyến theo phương châm vừa có lực lượng tại chỗ, vừa có lực lượng cơ động mạnh. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật thuộc nhiều binh chủng và cơ quan dân sự được điều động vào chiến đấu, công tác trên đường Trường Sơn.


Khắc phục gian khổ, khó khăn, cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong và nhân viên kỹ thuật của Đoàn 559 đã bền bỉ, mưu trí đánh địch, mở đường, đảm bảo giao thông, thực hiện nhiệm vụ trung tâm là tiếp nhận các nguồn hàng từ hậu phương miền Bắc và nguồn thu mua từ hướng Campuchia, tổ chức vận chuyển chi viện tới các chiến trường miền Nam và Lào, đảm bảo hành quân cho bộ đội và các đoàn cán bộ qua lại trên đường Trường Sơn.


Bốn năm (1965-1968), Đoàn 559 đã chuyển tới chiến trường miền Nam và Lào gần 100.000 tấn vật chất, đảm bảo cho hơn 200.000 lượt người qua lại trên đường Trường Sơn; góp phần đánh bại "chiến tranh đặc biệt" ở Lào; tạo điều kiện cho việc hoàn thành các nhiệm vụ ở giai đoạn tiếp theo.


Từ năm 1969 đến năm 1972, Mỹ triển khai một loạt biện pháp nhằm ngăn chặn bằng được mọi nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào miền Nam. Mỹ đánh phá hệ thống đường Trường Sơn với những loại vũ khí hiện đại và mật độ ngày càng cao. Được tăng cường về lực lượng và phương tiện, bộ đội Trường Sơn nhanh chóng tổ chức lại đội hình, bố trí lại thế trận, điều chỉnh giới tuyến chiến đấu, hiệp đồng giữa các quân chủng, binh chủng... Vì vậy, mặc dù đánh phá ác liệt nhưng tuyến vận tải chiến lược vẫn không ngừng được xây dựng và mở rộng, vươn sâu, vươn xa vào các chiến trường. Nếu trong thời kỳ "chiến tranh cục bộ", Đoàn 559 mới chỉ mở được trục đường 20 - cửa khẩu vượt đỉnh Trường Sơn, nối với hệ thống đường chiến lược ở đường phía tây Trường Sơn, rút ngắn cung độ đến các hướng chiến trường..., thì từ năm 1968 đến năm 1972, thêm bốn trục đường từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn được mở, bao gồm các đường 18, 16, 10 và 12 tạo thành hệ thống đường vượt khẩu chống địch ngăn chặn, nâng tổng số chiều dài tuyến đường từ 2.930km (1968) lên gần 11.000km (1972), chưa kể 6.500km đường giao liên, gùi thồ. Nhờ đó, chỉ trong bốn năm (1968-1972), tuyến vận tải chiến lược đã vận chuyển được tổng khối lượng vật chất đạt 118%; đảm bảo hành quân đạt 190% so với chỉ tiêu; bàn giao cho các chiến trường khối lượng vật chất và nhân lực tăng gấp 3 - 6 lần so với bốn năm trước đó1 (Giai đoạn 1965-1968: Kế hoạch chi viện 85.000 tấn, hành quân 324.000 lượt người; giai đoạn 1969-1972: Kế hoạch chi viện 114.820 tấn, hành quàn 598.000 lượt người, Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự chiến lược, Tài liệu lưu hành nội bộ của Tổng cục Hậu cần, 1984, tr 100), đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, đặc biệt vào những thời điểm quân và dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, quân và dân Lào mở cuộc tiến công chiến lược nhằm buộc địch phải ký Hiệp định Paris và Hiệp định Vientiane (Viêng Chăn).


Thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh (1973-1975), nhiệm vụ của tuyến vận tải chiến lược là phải tranh thủ thời cơ, "tiếp tục thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, tiếp tục bảo đảm hành quân vào các chiến trường... đảm bảo cho các quân khu thực hiện tốt việc tổ chức chiến trường, xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược. Đồng thời phải đảm bảo một phần nhu cầu dân sinh kinh tế, góp phần xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam và các nước bạn"2 (Nghị quyết số 221/NQ-ĐU559, Dẫn theo: Công tác vận tải quân sự chiến lược; Tlđd, tr.106-107).


Tháng 11-1973, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn kế hoạch thiết kế, mở rộng tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Lực lượng công binh của Đoàn 559 và ngành vận tải miền Nam được huy động làm đường. Từ tám trung đoàn và 65 tiểu đoàn năm 1972, lực lượng công binh của Đoàn 559 đã tăng lên một sư đoàn, 17 trung đoàn và 40 tiểu đoàn với tổng quân số 36.341 người. Bên cạnh lực lượng công binh, lực lượng mở đường còn có 2.741 thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến...; đồng thời, Nhà nước và quân đội còn tăng cường thêm phương tiện cho Đoàn 559, bao gồm hàng nghìn xe máy các loại, xe lu, máy ép hơi, máy san ủi...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:30:21 pm »

Khí thế chiến thắng trên khắp chiến trường cùng với việc lực lượng và phương tiện được bổ sung, được tổ chức chặt chẽ đã tạo nên sức mạnh mới, giúp Đoàn 559 nhanh chóng mở thêm 3.480km đường cơ giới với các trục dọc men theo đông và tây Trường Sơn. Chiều dài của các đường mới mở còn lớn hơn tổng số chiều dài đường giao thông được xây dựng trong vòng 13 năm trước đó. Các tuyến đường ngang hỗ trợ cũng được khai thông. Gần 5.000km đường ống dẫn nhiên liệu lỏng với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại từ hậu phương miền Bắc, men theo các trục dọc Trường Sơn, vươn tới các chiến trường. Các tuyến đường bộ phía tây được sửa chữa, bảo dưỡng, mở rộng, bảo đảm cho việc vận chuyển cơ giới theo đội hình lớn.


Qua gần 16 năm xây dựng, từ lối mòn giao liên bí mật len lỏi dưới các triền rừng, với phương thức vận tải thô sơ, gùi thồ là chủ yếu, tuyến vận tải chiến lược phát triển thành hệ thống trục dọc và trục ngang, ngày càng vươn xa tối các chiến trường, vươn sâu vào các hướng chiến dịch. Tính đến năm 1975, tuyến vận tải chiến lược lên tới gần 20.000km, bao gồm bốn hệ thống trục dọc dài 6.810km, 13 hệ trục ngang dài 4.980km, năm hệ thống đường vượt khẩu dài 700km, một hệ thống đường vòng tránh các trọng điểm dài 4.700km, một hệ thống đường ống dài 1.300km, tuyến vận tải đường sông vào tới Stungtreng.


Trên các nẻo đường, hệ thống cung binh trạm làm nhiệm vụ vận tải, điều chỉnh giao thông, cấp phát, giao liên, bảo đảm hành quân, đưa đón và điều trị thương bệnh binh; hệ thống kho trạm, trận địa phòng không, trạm sửa chữa và bảo dưỡng xe máy... cũng được xây dựng và hoàn chỉnh, bảo đảm sự hoạt động thông suốt của con đường trong mọi tình huống.


Dọc dài theo các tuyến, nhiều khu căn cứ dự trữ chiến lược của Bộ và các khu căn cứ hậu cần của các quân khu, các mặt trận được bố trí dưới những tán rừng Trường Sơn, tiếp cận các hướng chiến trường, đáp ứng mọi yêu cầu chiến lược, chiến dịch...

Từ khi được đưa vào sử dụng cho tới lúc kết thúc chiến tranh, tuyến vận tải chiến lược thường xuyên bị địch đánh phá dữ dội bằng nhiều lực lượng với nhiều phương thức khác nhau. Mỹ và chính quyền Sài Gòn mở nhiều cuộc tiến công của bộ binh, hàng chục vạn cuộc đánh phá của không quân, tung hàng nghìn toán biệt kích, thám báo hoạt động sâu trong khu vực đường mòn, rải xuống các cánh rừng hàng chục triệu quả bom, mìn vướng nổ và nhiều thiết bị điện tử tinh vi cùng nhiều chất độc làm trụi lá cây rừng...


Trung bình hằng năm, mỗi kilômét thuộc khu vực đường Trường Sơn phải chịu 736 quả và loạt bom. Chỉ hai năm 1970-1971, ngoài 4.959.489 quả và loạt bom, cùng hàng chục vạn quả mìn và nhiều thiết bị điện tử tinh vi rải xuống Trường Sơn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn sử dụng một lực lượng lớn quân đội đánh cắt tuyến vận tải: Cuộc hành quân Chenla I, Chenla II của 25.000 quân đánh vào vùng ngã ba Biên giới; cuộc hành quân "Lam Sơn - 719" của 20.000 quân với sự yểm trợ của 9.000 binh lính Mỹ cùng 2.000 máy bay các loại đánh vào đường 9 - Nam Lào - một chi nhánh quan trọng của tuyến vận tải chiến lược.


Dọc các đường 14, 23, 16, 13... quân đội Sài Gòn và quân đội Vientiane bố trí hàng loạt cứ điểm, sân bay quân sự và hệ thống đồn bốt nhằm không chế, chặn cắt, ngăn cách khu vực Trường Sơn với vùng giáp ranh và vùng đồng bằng.

Tuyến vận tải chiến lược trở thành mặt trận nóng bỏng, quyết liệt, nơi thử thách ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm, sức chịu đựng của đôi bên.

Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, khí hậu thời tiết phức tạp, việc xây dựng và bảo vệ tuyến vận tải kéo dài hàng nghìn kilômét qua nhiều khu vực địa hình bị chia cắt mạnh đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm mà còn phải có trí thông minh, có biện pháp tổ chức lực lượng, bố trí thế trận... đúng đắn, hiệu quả.


Buổi đầu, lực lượng công tác trên tuyến chỉ có một số đơn vị nhỏ lẻ, tổ chức thành các "trạm đường dây" với nhiều vụ soi đường, dẫn quân, gùi thồ luồn sâu qua các vùng địch chiếm. Dần dần trước yêu cầu chi viện chiến trường ngày càng tăng, không gian chi viện ngày càng rộng, địch đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, lực lượng chiến đấu và công tác trên tuyến không ngừng lớn mạnh. Lực lượng đó bao gồm các đơn vị binh chủng hợp thành như vận tải cơ giới, bộ binh, phòng không, công binh, thông tin và các lực lượng bảo đảm khác như quân y, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. Đến cuối cuộc chiến tranh, chỉ riêng bộ đội Trường Sơn đã tăng đến 100.495 người, trong đó có tám sư đoàn và cấp tương đương, 14 trung đoàn trực thuộc và cấp tương đương, lực lượng công tác và phục vụ trong các xưởng sửa chữa, trạm xá... Toàn bộ lực lượng trên đây được tổ chức thành hai bộ phận: Lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động là những đơn vị hợp thành, những đơn vị chuyên môn binh chủng thực hiện các chiến dịch vận chuyển và đánh địch trên từng hướng hoặc vào những thời điểm quan trọng, phục vụ ý đồ chiến lược chung. Lực lượng tại chỗ là những binh trạm với các bộ phận binh chủng và lực lượng phục vụ, đảm nhiệm công tác chiến đấu, vận chuyển, bảo vệ giao thông, bảo đảm hành quân... trên từng cung, chặng được giao. Giữa các bộ phận lực lượng có sự liên quan chặt chẽ, hỗ trợ, phối hợp và dưới sự lãnh đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất. Các lực lượng đó lấy việc vận chuyển, mở đường, bảo đảm hành quân, bảo vệ tuyến vận tải làm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó nhiệm vụ vận chuyển chi viện là trung tâm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:31:29 pm »

Để hoàn thành nhiệm vụ đó, bộ đội Trường Sơn đã chủ động, tích cực quy hoạch và xây dựng mạng giao thông bao gồm nhiều trục dọc, trục ngang, đường vòng tránh, đường nghi binh; hình thành nhiều hệ thống đường cho các loại xe cơ giới, triệt để khai thác đường sông, xây dựng tuyến đường ống với hệ thống trạm bơm, bể chứa tương đối hiện đại; phối hợp với các chiến trường, các quân khu mở mạng đường chiến dịch nối với mạng đường chiến lược; cấu trúc các công trình cầu, bến vượt, bãi trú quân, bãi giấu xe; tổ chức các binh trạm, khu kho, trạm sửa chữa, bệnh viện; xây dựng các đài quan sát, trạm điều phối giao thông... Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, thế trận giao thông vận tải của tuyến ngày càng phát triển, hoàn chỉnh, đảm bảo cho việc vận chuyển liên tục, mức độ ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn bảo đảm tốt yêu cầu cơ động lực lượng của các binh đoàn chủ lực.


Thế trận đó được mệnh danh là "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm", khiến sự đánh phá của địch không thể nào ngăn chặn nổi nguồn tiếp tế từ miền Bắc tới các chiến trường.

Ngoài việc xây dựng và hoàn chỉnh thế trận giao thông vận tải, bộ đội Trường Sơn còn luôn gắn chặt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược với việc tác chiến mở rộng khu vực hành lang, xây dựng địa bàn vững mạnh, xem đó là một điều kiện quan trọng làm thất bại các hoạt động ngăn chặn, phá hoại của địch; khắc phục tác động tiêu cực của địa hình và thời tiết đối với nhịp độ mở đường và vận chuyển. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, các trung đoàn chủ lực của miền Bắc Việt Nam đã phối hợp với lực lượng cách mạng Lào tổ chức nhiều đợt chiến đấu giải phóng một khu vực khá rộng phía tây Trường Sơn bao gồm Mường Phin, Bản Đông (1960-1961), đường 12, từ Mụ Giạ đến đường 9 (1962-1963); Pha Lan - Đồng Hến (1964-1965)... Trong những năm 1970-1972, bộ đội Việt Nam đã giải phóng Atôpơ, cao nguyên Bôlôven, Saravan, Pha Lan (lần 2)... Những hoạt động tác chiến đó có mục tiêu mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến hành lang, tạo ra sự liên hoàn giữa tuyến vận tải chiến lược. Mở rộng địa bàn đến đâu, bộ đội Trường Sơn khẩn trương tổ chức triển khai các đơn vị như công binh, giao liên, cơ sở sản xuất, kho tàng... Các đơn vị này vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn vừa đảm nhiệm chức năng lực lượng vũ trang địa phương tác chiến bảo vệ địa bàn khắc phục điều kiện thiếu vắng dân cư.


Đối với vùng có dân, bộ đội Trường Sơn đã giúp đỡ chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng làng chiến đấu, xây dựng lực lượng bảo vệ làng bản, duy trì và đẩy mạnh sản xuất. 16 năm chiến đấu và công tác, bộ đội Trường Sơn đã góp phần bảo đảm, ổn định đời sống và sinh hoạt cho 250.000 đồng bào trên địa bàn hoạt động của mình. Đối với vùng giải phóng dọc tuyến vận tải, cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn đã tích cực giúp đỡ bạn xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, phát động chiến tranh bảo vệ và mở rộng tuyến hành lang, xây dựng những địa bàn vững chắc đảm bảo đối phó với mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch.


Mặc dù có vai trò hết sức to lớn, song tuyến đường trên bộ chủ yếu vận tải cho các vùng căn cứ, miền rừng, miền Đông Nam Bộ. Vả lại, thời kỳ đầu, hiệu quả vận chuyển trên tuyến đường này thấp, không thể ngay lập tức vươn tới chiến trường Đông Nam Bộ và đồng bằng Nam Bộ - nơi cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam đang diễn ra quyết liệt từng phút, từng giây và yêu cầu về vũ khí, về phương tiện vật chất để chiến đấu, hoạt động trở thành yêu cầu sinh tử, quyết định sinh mệnh đồng bào và chiến sĩ. Trước bài toán đó, tháng 7-1959, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Tổng Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức đường vận tải trên biển chi viện cho các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ.


Đơn vị được giao nhiệm vụ vinh dự, song hết sức nặng nề nói trên thuộc Tổng cục Hậu cần, thành lập vào tháng 7-1959, do đó, có biệt danh là Đoàn 7591 (Đến ngày 23-10-1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 97/QĐ do Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký, chính thức thành lập Đoàn 759 trực thuộc Bộ Quốc phòng, cử Trung tá Đoàn Hồng Phước làm Đoàn trưởng, Võ Huy Phúc làm Chính ủy. Thượng tá Võ Bẩm được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh Đoàn 759). Với 38 chiến sĩ và 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ, Đoàn 759 bước vào cuộc thử thách đầu tiên. Theo kế hoạch, chiếc thuyền sẽ chở 5 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men cho tĩnh Quảng Nam (Khu 5), điểm đến là bến Hố Chuối (dưới chân đèo Hải Vân) và hành động theo hai phương án chiến đấu: 1- Nếu đưa được hàng vào bến an toàn, sẽ tìm cách hủy tàu và đi theo đường bộ để trở lại đơn vị; 2- Nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật con đường vận tải biển, còn trường hợp bị địch bắt, cho nổ mìn phá thuyền. Đêm 27-1-1960, sau cuộc chia tay bịn rịn, lặng lẽ và cảm động, chiếc thuyền gồm sáu người dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Nguyễn Bất rời bến. Do sóng to, gió lớn, do trục trặc tay lái, con thuyền trôi dạt về phía Nam. Sau ba ngày gió lặng, những thuyền dân đánh cá và tàu địch đổ ra biển rất đông, tình hình hết sức khẩn cấp. Để đảm bảo bí mật con đường vận chuyển trên biển, thuyền trưởng Nguyễn Bất quyết định phi tang hàng theo phương án đã định. Chiều hôm đó, sáu thủy thủ trên thuyền bị bắt, năm người đã vĩnh viễn không bao giờ trở về, một người bị đày ra Côn Đảo, bị địch tra tấn nhiều năm nhưng không hề khai báo. Chuyến vượt biển đầu tiên thất bại, Bộ Quốc phòng chỉ thị tạm ngừng hoạt động để tìm một phương thức vận chuyển mới, trên cơ sở tổ chức hết sức chặt chẽ với những tính toán, lựa chọn phương án thật chuẩn xác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2026, 08:32:32 pm »

Trong khi chờ đợi tìm ra một phương thức vận chuyển vũ khí theo đường biển từ miền Bắc vào miền Nam một cách an toàn, đảm bảo nhất, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và tổ chức những chuyến vượt biển ra Bắc để nhận vũ khí. Đó là những chuyến đi mang tính chất thăm dò, nghiên cứu, mở đường và tổng kết, báo cáo tình hình. Quyết định của Trung ương Đảng đáp ứng lòng mong mỏi của các địa phương đang "đói" vũ khí cho cuộc đấu tranh ngày một quyết liệt. Những địa phương tiên phong đi đầu là các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa. Có kinh nghiệm vượt biển ra Bắc chở vũ khí từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, trong một thời gian ngắn, tỉnh Bến Tre - quê hương của "Đồng khởi" đã tổ chức được hai đội tàu. Các tỉnh Bạc Liêu cử hai đội tàu; tỉnh Trà Vinh, Bà Rịa - mỗi tỉnh cử một đội. Sáu chuyến đi chỉ có một chuyến phải quay trở về. Những người con của Nam Bộ thành đồng, "đi trước, về sau" đã thành công mở đường đột phá ra Bắc. Trong những chuyến vượt biển đầu tiên này, các thủy thủ nắm bắt quy luật, hiểu biết rõ hơn tình hình trên biển, rút kinh nghiệm, cùng với Trung ương đánh giá, đưa ra và lựa chọn phương án.


Sau khi bàn bạc, cân nhắc, tính toán, tháng 4-1962, Quân ủy Trung ương quyết định cử Bông Văn Dĩa (một chiến sĩ vượt biển kỳ cựu của đội thuyền tỉnh Bạc Liêu, ngay từ năm 1947 đã điều khiển thuyền buồm đi Thái Lan để mua vũ khí rồi chở về cho Nam Bộ) trở vào Nhật Lệ bằng chính chiếc tàu mà năm trước anh đã vượt biển ra Bắc. Lần trở về này, thuyền anh chưa vận chuyển vũ khí mà ra đi với mục đích tiếp tục thăm dò, tìm kiếm phương án. Ngày 18-4-1962, Bông Văn Dĩa vào tới cửa Bồ Đề, thuộc Cà Mau và tháng 7-1962, Trung ương có lệnh gọi anh trở ra để báo cáo1 (Đặng Phong. Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 157).


Dựa trên phân tích, tổng kết của các chuyến đi thăm dò hai chiều Nam - Bắc, Bắc - Nam, sau khi khảo sát, điều nghiên kỹ lưỡng, chuẩn bị loại tàu vận tải thích hợp và lên phương án, "Quân ủy Trung ương và đích thân Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã chọn Bông Văn Dĩa phụ trách chiếc tàu đầu tiên chở vũ khí vào Nam"1 (Đặng Phong. Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr. 157). Đêm 12-10-1962, chiếc tàu "Phương Đông 1" gồm 10 thủy thủ dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa chở gần 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) đi về phương Nam. Đến 6 giờ sáng ngày 16-10-1962, tàu an toàn vào tới Chùm Gọng (Vàm Lũng, Tân An). Tàu "Phương Đông 1" đã đi vào lịch sử - chính thức khai thông một tuyến vận tải hết sức đặc biệt của chiến tranh nhân dân Việt Nam - đường Hồ Chí Minh trên biển.


Sau chuyến đi thành công của tàu "Phương Đông 1", ba chiếc tàu khác cũng đã cập bến Cà Mau an toàn. Cùng thời điểm đó, các bến Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa cũng đón những chuyến tàu đầu tiên, hình thành nên bốn cụm bến đầu tiên đón hàng của tuyến vận tải trên biển.


Cũng từ đây trở đi, công tác vận tải của đường Hồ Chí Minh trên biển được liên tục cải tiến mọi khâu, từ phương tiện vận chuyển, phương thức vận chuyển, đến đội ngũ và nguyên tắc vận chuyển; nhờ thế, vận hành ngày càng chủ động, hiệu quả hơn. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, chưa từng có một con đường vận tải nào độc đáo đến thế và cũng thành công đến thế trong các biện pháp bảo mật, ngụy trang. Chở nặng hàng hóa, vũ khí, thực hiện hành trình trong khu vực biển trông trải, nơi tàu địch thường xuyên kiểm soát, lùng sục gắt gao, song phần lớn những con tàu không số đã ngụy trang đến mức nghệ thuật và ứng phó hết sức bản lĩnh trong nhiều tình huống nguy hiểm, vượt qua sự nhòm ngó của đối phương để về tới bến bãi, kịp thời đưa hàng hóa, vũ khí đến với tuyến lửa miền Nam. Và "nếu tính từ chuyến đầu tiên của tàu "Phương Đông 1", cập bến Vàm Lũng ngày 16-10-1962 đến con tàu số 143 vào bến Vũng Rô ngày 15-2-1965, đã có 87 chuyến tàu ra đi; trong đó chỉ có một chuyến tàu số 6 đi ngày 10-10-1963 là phải quay về, còn tất cả đều tới đích"1 (Đặng Phong, Năm đường mòn Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201). Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, với mọi khó khăn, thử thách, dường như vượt qua mọi giới hạn chịu đựng của con người. Thế nhưng, bắt đầu từ những chiếc thuyền thô sơ, trọng tải nhỏ, chỉ đi theo lộ trình dọc ven biển, tuyến vận tải chiến lược đã nhanh chóng phát triển, có hàng trăm chiếc tàu sắt trọng tải lớn, vươn rộng ra ngoài hải phận quốc tế với phương thức vận chuyển linh hoạt, kết hợp giữa hợp pháp với bất hợp pháp; uyển chuyển lựa chọn lộ trình (biển xa, biển gần); nhanh nhạy lựa chọn địa hình, bến bãi, lợi dụng con nước, thời tiết; khéo léo nghi binh, lừa địch một cách táo bạo, bất ngờ; càng đi, càng tinh, càng tỉnh táo, quyết đoán.


Sự tồn tại của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển với những chuyến vượt biển thành công của các đoàn tàu không số là kết quả của trình độ chỉ huy, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng hỗ trợ, các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần, hệ thống thông tin vô tuyến điện, các bến bãi, kho tàng tiếp nhận, bảo quản, phân phối, lực lượng bốc dỡ, lực lượng vũ trang chiến đấu khi xảy ra sự cố, các đường dây cứu thương... hoạt động theo một hệ thống hoàn chỉnh, thông suốt, khoa học. Trên tất cả, đường Hồ Chí Minh trên biển là tuyến đường của thế trận lòng dân trong thế trận chiến tranh nhân dân. Dựa vào dân, có sự chở che, giúp đa, hỗ trợ hết lòng của nhân dân, tuyến vận tải chiến lược trên biển đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách khốc liệt, gian nan, vất vả, vượt qua mọi sự phong tỏa của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


14 năm âm thầm chở nặng những chuyến hàng, chở nặng nghĩa tình, chở nặng những "thắt lưng, buộc bụng" của miền Bắc đến với miền Nam, đường Hồ Chí Minh trên biển cũng gánh chịu không ít những tổn thất, hy sinh. Đó là việc bắt buộc phải cho nổ tàu 143 ở Vũng Rô (2-1965), có hàng chục chuyến tàu xuất bến phải quay về. Trong số 168 con tàu đã ra đi từ năm 1966 đến năm 1972, có tám con tàu đã phải phá hủy để xóa dấu vết nhằm bảo đảm bí mật tuyệt đối của tuyến đường huyết mạch. Quá trình chiến đấu với nhiệm vụ đặc biệt này, "đã có 117 cán bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình trên biển"1 (Bùi Đình Nguyên, Mở đường trên biển với Đoàn tàu không số, Báo Sức khỏe và đời sống, số 792, ngày 31-3-2005). Những chiến sĩ Phan Vinh, Huỳnh Ngọc Trạch, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Ngọc Lương, Nguyễn Văn Hiệu... và bao đồng đội khác đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển bao la và sâu thẳm. Trong chặng vượt biển cuối cùng, các anh đã không thể cùng đồng đội đi trọn quãng đường, ở lại với biển khơi, với sóng gió, các anh đã dệt nên huyền thoại bằng tuổi thanh xuân, bằng nhiệt huyết, bằng niềm tin giản dị, trong trẻo và bằng hy vọng về một ngày toàn thắng không xa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #36 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 06:54:39 pm »

2- Phát huy vai trò của tuyến vận tải chiến lược

Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn không chỉ nối liền, chi viện cho chiến trường miền Nam mà còn là tuyến đường chi viện cho cả chiến trường hai nước bạn Lào và Campuchia. Suốt 16 năm xây dựng, tuyến vận tải đó đã không ngừng mở rộng, vươn sâu, vươn xa, trở thành hậu phương tại chỗ, thành căn cứ vững chắc của cách mạng ba nước, nối liền hậu phương tại chỗ của cách mạng ba nước với hậu phương chiến lược miền Bắc. Nhờ vậy, sự chi viện của miền Bắc và bạn bè quốc tế cho cách mạng Lào và Campuchia luôn luôn được giữ vững và tăng cường. Từ năm 1959 đến năm 1964, tuyến vận tải chiến lược đã đảm bảo vận chuyển và hành quân cho chiến trường miền Nam và Lào được 10.136 tấn cùng hàng nghìn tấn vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho cách mạng Lào. Trong các năm từ 1967 đến 1969, vận chuyển chi viện cho chiến trường Lào và các đơn vị hành quân đạt từ 105% đến 115% chỉ tiêu kế hoạch. Năm 1970, tuyến vận tải chiến lược đã chuyển trên 5.000 tấn vũ khí, đạn dược phục vụ kịp thời cho lực lượng giải phóng Campuchia phối hợp với Quân giải phóng miền Nam đập tan cuộc hành quân "Chenla". Các đơn vị tình nguyện của tuyến 559 phối hợp với quân và dân Lào đánh địch, giải phóng một vùng rộng lớn phía tây bao gồm Atôpơ, Saravan, Pha Lan... Từ sau cuộc đảo chính của Mỹ - Lonnon, đường vào cảng Sihanoukvin (Xihanúcvin) bị cắt đứt, toàn bộ vật chất chi viện cho lực lượng Quân giải phóng Campuchia đều do Đoàn 559 đảm nhiệm. Hai năm 1973-1974, Tuyến 559 đã vận chuyển cho chiến trường Lào, Campuchia và chiến trường miền Nam một khối lượng vật chất gấp 3,8 lần giai đoạn 1969-1972 và bằng 65,5% tổng khối lượng vận chuyển chi viện trong 17 năm trước đó (1955-1972), tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng ba nước giành thắng lợi.


Đối với tuyến vận tải trên biển, đối đầu với lực lượng của kẻ thù mạnh hơn hàng trăm lần về sức mạnh quân sự1 (Hải quân Mỹ trên bờ biển Việt Nam thời đó là một lực lượng hải quân hùng mạnh bậc nhất trên thế giới (Hạm đội 7 (Seventh Fleet), huy động 40% lực lượng vào việc ngăn chặn vận tải biển của miền Bắc vào miền Nam. Trực thuộc Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương là một loạt lực lượng đặc nhiệm (Task Force) trực tiếp tham chiến ở Việt Nam (lực lượng đặc nhiệm 73, 76, 77, 78, 115, 116, 117) với sự hỗ trợ của hơn 30 hàng không không mẫu hạm. Các lực lượng này đều trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam (Naval Forces Vietnam) với quân số năm cao nhất lên tới 36.500 người (dẫn theo: Đặng Phong, Năm đường mòn Hồ Chí Minh)), bằng ý chí, sức mạnh tinh thần, sự nỗ lực, can trường, lòng quả cảm và được nhân dân chở che, trong suốt 14 năm liên tục (1961-1975), những chiến sĩ bình dị của đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại đã vận hành "1.789 chuyến tàu không số, vận chuyển 150.000 tấn vũ khí, trang bị và 80 nghìn lượt cán bộ, vượt qua hàng vạn hải lý, khắc phục hơn 400 quả thủy lôi, chống chọi hơn 20 cơn bão, chiến đấu 300 lần với tàu địch, đánh trả 1.200 lần máy bay địch tập kích, bắn rơi năm chiếc và bắn cháy nhiều tàu, xuồng địch"2 (Mai Thắng, Đường Hồ Chí Minh trên biển: 50 năm - huyền thoại một trường ca, Daidoanket.vn, ngày 13-7-2011), hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thực hiện chỉ thị "thần tốc", "đại thần tốc" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đường Hồ Chí Minh trên biển đã thần tốc vận chuyển "130 lần với 143 chuyến tàu, chở 8.741 tấn vũ khí hạng nặng, gồm 50 xe tăng và đại pháo; đưa 18.741 cán bộ, chiến sĩ vượt 65.721 hải ]ý để kịp thời tham gia chiến đấu"3 (Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Bảo đảm giao thông vận tải ở đồng bằng sông Cửu Long 1954-1976, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb Phương Đông, Hồ Chí Minh, 2008, tr. 31-32), hợp đồng tác chiến với cánh quân đường bộ. Những chiến công của con đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển chính là những kỳ tích lịch sử, được làm nên bởi trí tuệ, bởi lòng yêu nước, bởi sức mạnh của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và bởi khát vọng hòa bình, khát vọng về một ngày mai tươi sáng.


Như vậy, quyết định xây dựng tuyến vận tải chiến lược và thực hiện thắng lợi quyết định đó là một trong những thành công to lớn trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyến đường vận tải chiến lược đó mãi đi vào lịch sử như là con đường huyền thoại, là sản phẩm kỳ diệu của tài năng, sự kiên nhẫn và sự hy sinh vô bờ bến của con người, là biểu hiện của tình đoàn kết chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau của cách mạng ba nước trên bán đảo Đông Dương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #37 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 06:56:23 pm »

Chương III
MIỀN NAM THÀNH ĐỒNG TRÊN TUYẾN ĐẦU GIAN KHỔ


I- XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ VÀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ

1- Xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ

Khi Hiệp định Geneva được ký kết và lệnh ngừng bắn có hiệu lực, Xứ ủy Nam Bộ, các cấp ủy Đảng và chính quyền kháng chiến - hành chính ở các địa phương miền Nam khẩn trương sắp xếp, bố trí lực lượng tập kết và lực lượng ở lại. Bộ phận ở lại bao gồm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm hoạt động trong những điều kiện khó khăn, phức tạp trước Cách mạng tháng Tám và trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn miền Nam. Đây là lực lượng nòng cốt tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Geneva. Ở các địa phương, việc cất giấu vũ khí, muối, một số vật chất cần thiết cho hoạt động sau này được bí mật xúc tiến. Các huyện Đức Hoà, Nhơn Ninh, Thạnh Phước, Vĩnh Đức thuộc Long An chôn nhiều hầm vũ khí đủ trang bị cho ba trung đội vũ trang. Tỉnh Sóc Trăng chôn bốn hầm với 200 khẩu, tỉnh Kiến Tường chôn ba hầm với 280 khẩu. Phân liên khu miền Tây để lại một số vật chất thiết yếu và 14 triệu đồng "tiền" Cụ Hồ, giao cho Ban căn cứ thuộc Xứ ủy quản lý. Ngoài vật chất, vũ khí, một số thợ cơ khí, thợ quân giới được bố trí ở lại hoạt động hợp pháp. Khi cần thiết họ sẽ là người tập hợp lực lượng, tổ chức sửa chữa, chế tạo các loai vũ khí thô sơ. Dù số lượng không nhiều và phân bố rải rác nhưng vũ khí, lực lượng để lại là một trong những điều kiện thiết yếu cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến buổi đầu.


Sau ngày Hiệp định Geneva được ký kết, thực hiện chính sách "tố cộng", tiêu diệt các phe phái chống đối, chính quyền Ngô Đình Diệm gom dân lập "khu trù mật", "khu dinh điền", nhằm kiểm soát chặt người dân miền Nam, tách người dân khỏi sự liên hệ với những người cộng sản. Dọc các trục lộ giao thông Khu 5, dọc các cánh rừng từ Tây Ninh, Kon Tum đến miền Đông Nam Bộ... một loạt khu tập trung được xây dựng. Mục tiêu của chính quyền Sài Gòn là thiết lập một cơ cấu kiểm soát chặt vùng tiếp cận giữa vùng núi và đồng bằng nhằm đảm bảo an ninh tại các địa bàn bị tình nghi có liên hệ với cách mạng.


Trước hành động khủng bố của chính quyền Sài Gòn, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng cao, quần chúng cách mạng bị khống chế gắt gao. Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng... hoặc chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các "trại bí mật". Ở các chiến khu Đ, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành "làng chiến đấu", "làng thoát ly"; vùng Đồng Tháp Mười ra đời các mũi "túi dân tản cư". Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các "làng rừng"; vùng đồng bào S.Tiêng có các "làng Độc Lập"... Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu chiến tranh Việt Nam.


Mặt khác, từ sau Hiệp định Geneva, đặc biệt những năm 1955, 1956, để duy trì sự liên hệ về mặt tổ chức đảng giữa các vùng để xây dựng các địa bàn đứng chân của lực lượng cách mạng, Xứ ủy và Khu ủy Khu 5 đã chỉ đạo việc mở các "đường giao liên bí mật", thành lập Ban miền Tây, Ban căn cứ. Ở Khu 5, đến cuối năm 1955, đường dây liên lạc bắt đầu từ Bắc vào Nam, qua Quảng Trị, Thừa Thiên đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum... vào tận các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Ở Đông Nam Bộ và Nam Bộ, các tuyến liên lạc cũng được thiết lập, kết nối giữa các vùng rừng núi, đồng bằng với các đô thị. Sự liên hệ giữa các cơ sở Đảng ở nhiều địa phương vẫn được duy trì. Đường giao liên bí mật hình thành và ngày càng phát triển tạo điều kiện cho việc xây dựng tuyến hành lang, hệ thống căn cứ địa - hậu phương tại chỗ ở miền rừng núi và vùng giáp ranh những năm 1955-1956...


Như vậy, trước sự bức bách của tình thế, để tự vệ, để bảo tồn lực lượng, một yêu cầu lớn đặt ra cho cách mạng miền Nam là phải hình thành những vùng căn cứ làm chỗ đứng chân cho các lực lượng cách mạng. Những vùng như vậy đã xuất hiện ở miền rừng núi, ở các vùng căn cứ cũ thời kháng chiến chống pháp. Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã phát hiện ra thực tế này: "Những càn cứ địa vững chắc của cộng sản đã được thiết lập ở Nam Việt Nam trong quá trình cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại người Pháp. Dân cư ở những vùng này vẫn duy trì mối quan hệ chặt chẽ về Đảng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tạo ra những vùng đất thánh an toàn và những căn cứ hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động chống chính phủ Việt Nam"1 (Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982).
   Từ cuối năm 1956, để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương thành lập các đội vũ trang tuyên truyền, cử Nguyễn Hữu Xuyến làm ủy viên quân sự của Xứ ủy. Từ U Minh, Nguyễn Hữu Xuyến đã về miền Đông để chỉ đạo công tác xây dựng căn cứ địa của Xứ ủy và tổ chức các lực lượng vũ trang tập trung. Từ năm 1957 trở đi, các đơn vị vũ trang tập trung xuất hiện ngày càng nhiều, bao gồm của Xứ ủy, của các tỉnh và lực lượng du kích mật của các địa phương. Cùng với quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang tập trung, yêu cầu xây dựng, củng cố và mở rộng các vùng căn cứ thành hậu phương tại chỗ cho lực lượng cách mạng, cho các đơn vị vũ trang được đặt ra và giải quyết.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #38 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 06:57:36 pm »

Đầu năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ quyết định thành lập khu căn cứ miền Đông. Khu căn cứ này nối thông với các vùng đất sát biên giới Việt Nam - Campuchia theo hai hướng tây bắc và đông bắc. Ở Khu 5, tháng 2-1958, Tỉnh ủy Quảng Ngãi họp tại căn cứ Trà Bồng quyết định tăng cường công tác xây dựng các vùng căn cứ du kích, trọng tâm là các huyện Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Hoà. Hội nghị để ra nhiệm vụ thành lập các đội tự vệ vũ trang ở các xã để bảo vệ căn cứ, tổ chức sản xuất để tự túc lương thực, thực phẩm và có một phần dự trữ. Nhiều địa phương ở Quảng Ngãi đã thành lập các đội "Nông binh" làm nòng cốt trong việc bảo vệ và sản xuất ở các vùng căn cứ; tích lũy gạo, muối, thuốc men. Đồng bào các dân tộc miền núi đã bí mật làm "rẫy cách mạng" để đóng góp, ủng hộ lương thực cho lực lượng dân quân, du kích. Trong khi đó, một số lương thực, thuốc men, muối cũng được bí mật chuyển từ đồng bằng lên các vùng căn cứ bổ sung vào nguồn dự trữ.


Giữa năm 1958, Liên khu ủy Khu 5 họp Hội nghị mở rộng, quyết định xây dựng miền Tây các tỉnh đồng bằng và khu vực Tây Nguyên thành căn cứ địa cách mạng, tổ chức lực lượng vũ trang và bán vũ trang để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ và nhân dân. Sau Hội nghị, việc xây dựng căn cứ, xây dựng lực lượng được xúc tiến mạnh mẽ. Các đơn vị vũ trang tập trung, các đội tự vệ và du kích mật đẩy mạnh hoạt động diệt ác, trừ gian, làm trong sạch địa bàn vùng căn cứ và khu vực tiếp giáp với vùng địch kiểm soát. Các dân tộc Tây Nguyên tích cực rào làng, cắm chông, canh phòng. Năm 1958, một số xã ở Gia Lai, Kon Tum, tây Quảng Ngãi đã thành lập "Ban tự quản", "Ban cán sự" nhằm quản lý mọi mặt vùng căn cứ, vùng làm chủ. Đến cuối năm 1958, bên cạnh một số căn cứ có từ thời chống Pháp tiếp tục được duy trì, củng cố sau Hiệp định Geneva, nhiều vùng căn cứ mới xuất hiện dọc những miền rừng núi nối với nhau bằng các đường dây liên lạc bí mật. Các vùng căn cứ này được thiết lập ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Tây các tỉnh đồng bằng Khu 5, khu vực Đông Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ tạo thành thế đứng mới của cách mạng miền Nam.


Năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khoá II) xác định: Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Nhiệm vụ của các địa phương miền Nam là phải tích cực xây dựng những "cơ sở an toàn", "khu an toàn" làm cơ sở để xây dựng lực lượng, chuẩn bị điều kiện cho bước phát triển mới của cách mạng.


Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Tổng Quân ủy họp bàn nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam quyết định mở tuyến vận tải trên biển và trên bộ nối liền hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam.

Tại miền Nam, sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15, phong trào Đồng khởi - phong trào đấu tranh chính trị với sự hỗ trợ của các lực lượng tự vệ, lực lượng vũ trang ngày càng phát triển, công tác xây dựng lực lượng, mở rộng hậu phương tại chỗ được đẩy mạnh. Dựa vào đó, các đơn vị vũ trang tăng cường các hoạt động diệt ác, phá tề, trừ gian; tiến công, bao vây, bức rút đồn bốt địch; hỗ trợ cho quần chúng đồng loạt nổi dậy giành quyền làm chủ, mở ra vùng giải phóng trên nhiều khu vực rộng lớn ở đồng bằng và rừng núi miền Nam: 800 xã trong số 1.202 xã ở Nam Bộ, 3.200 thôn, bản ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng Khu 5 - tại đây, chính quyền cách mạng được thành lập. Chính quyền cách mạng đã chia ruộng đất cho dân nghèo, tổ chức lực lượng tự vệ, vũ trang, vận động nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, tham gia bảo vệ vùng giải phóng.


Trên đà thắng lợi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập (20-12-1960), đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng, lấy đấu tranh chính trị làm hình thức đấu tranh chủ yếu sang thế tiến công rộng khắp, liên tục; kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt hai hình thức đấu tranh cơ bản: Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Từ đây, cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, hậu phương tại chỗ ngày càng mở rộng và được củng cố vững chắc trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị.


Đô thị là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong hơn 20 năm cầm quyền, chính quyền Sài Gòn ra sức tăng cường lực lượng bảo vệ, áp dụng các biện pháp về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá nhằm biến đô thị thành hậu phương an toàn, thành căn cứ quân sự vững chắc của chiến tranh. Vì vậy, cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và chính quyền Sài Gòn ở địa bàn đô thị diễn ra phức tạp, quyết liệt trên tất cả các mặt. Trong cuộc đấu tranh đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong đô thị, lấy đó làm chỗ dựa vững chắc để phát triển lực lượng, phát động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh đấu tranh bằng nhiều hình thức và với những mức độ khác nhau. Mặt khác, các cơ sở cách mạng ở đô thị còn là nơi giấu ém lực lượng và vũ khí; nơi xuất phát của các đội biệt động, đặc công tập kích vào các mục tiêu quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tận sào huyệt; nơi thu gom tài liệu, thuốc men, tin tức tình báo... phục vụ cho việc chỉ đạo chiến tranh của Đảng.


Vùng nông thôn đồng bằng từ Trị - Thiên qua ven biển miền Trung đến Nam Bộ là khu vực đông dân, nhiều của, có tầm quan trọng đối với cả lực lượng cách mạng cùng như chính quyền Sài Gòn. Vì vậy, đây là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa "bình định" và chống phá bình định nhằm giành quyền kiểm soát, giành đất, giành dân. Để bình định nông thôn miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đưa người dân vào sống trong các trại tập trung "khu trù mật", "ấp chiến lược", "ấp tân sinh", "ấp đời mới", nhằm mục đích thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ vùng đồng bằng, tách nông dân khỏi sự liên hệ với cách mạng, xoá bỏ "hạ tầng cơ sở" của chiến tranh nhân dân bao gồm cơ sở chính trị, căn cứ du kích, vùng làm chủ và vùng giải phóng rộng lớn...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #39 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 06:58:29 pm »

Cuộc chiến đấu giành quyền kiểm soát vùng nông thôn đồng bằng diễn ra dai dẳng, quyết liệt trên các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Trong cuộc chiến đấu đó, quân và dân miền Nam thực hiện phương châm "ba bám", "một tấc không đi, một ly không rời", đẩy mạnh ba mũi giáp công, không ngừng mở rộng quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn, xây dựng hành lang chiến đấu thành căn cứ du kích, "vành đai diệt Mỹ", tiến tới áp sát và uy hiêp nhiều tuyến giao thông huyết mạch, nhiều đô thị, nhiều căn cứ quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đỉnh cao là những năm 1964 và 1968. Vùng giải phóng được củng cố, mở rộng ở nông thôn đồng bằng trở thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng, của dân quân du kích, bộ đội địa phương và các đơn vị bộ đội chủ lực.


Vùng rừng núi bao gồm tây Trị - Thiên, Tây Nguyên, tây Khu 8, Đông Nam Bộ, dải rừng U Minh ở Tây Nam Bộ có vị trí chiến lược trọng yếu cho toàn bộ chiến trường miền Nam và Nam Đông Dương. Nếu trước Đồng khởi, đây là địa bàn che giấu, bảo tồn lực lượng cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phục hồi và phát triển thì sau Đồng khởi, từ năm 1961 trở đi, vùng rừng núi trở thành địa bàn tiếp nhận sự chi viện của hậu phương miền Bắc, nơi đặt bản doanh của các cơ quan chỉ đạo miền Nam, nơi xây dựng, phát triển của lực lượng vũ trang tập trung. Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", vùng rừng núi là nơi lực lượng cách mạng tổ chức các trận đánh lớn nhằm thu hút, kìm chân, tiêu diệt một bộ phận lớn chủ lực địch, tạo điều kiện cho các chiến trường khác đẩy mạnh tiến công chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn đồng bằng, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị. Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, địa bàn rừng núi do lực lượng cách mạng làm chủ ngày càng được mở rộng, bao gồm vùng rừng núi từ tây Trị - Thiên đến miền núi Khu 5 vào tới Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, vùng núi Khu 6; nối với vùng giải phóng Hạ Lào, vùng Đông Bắc Campuchia, vùng U Minh Thượng, U Minh Hạ, vùng rừng đước Năm Căn Quân khu 9... Từ năm 1969 trở đi, do chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Đông Dương thực sự là một chiến trường, quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chung một chiến hào, trong đó miền Nam Việt Nam là chiến trường chính. Trong cuộc chiến đấu đó, nhiều vùng đất thuộc Campuchia và nhất là Lào trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam; miền Bắc Việt Nam là hậu phương căn cứ địa cho cách mạng miền Nam, cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Trên thực tế, đã hình thành một vùng giải phóng rộng lớn thuộc ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Vùng giải phóng rộng lớn đó được xây dựng, củng cố, nối với hậu phương miền Bắc qua hệ thống đường vận tải chiến lược 559 để trở thành hậu phương trực tiếp, thành bàn đạp tiến công của các binh đoàn chủ lực Quân giải phóng, uy hiếp ngày càng mạnh hệ thống phòng thủ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn bộ chiến trường.


Suốt 21 năm chiến tranh, sự hình thành và phát triển của hậu phương tại chỗ gắn bó chặt chẽ với sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam. Hậu phương đó dựa vào lòng dân, bao gồm cơ sở cách mạng bí mật, khu du kích, làng chiến đấu, hệ thống vành đai, hệ thống căn cứ địa được xây dựng và không ngừng mở rộng trên khắp ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị. Đó vừa là điều kiện, vừa là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh quân sự và chính trị; là điều kiện hình thành và phát triển của thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam; là kết quả của đường lối, chủ trương, biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ do Đảng Lao động Việt Nam đề ra trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp.


Giữ một vai trò to lớn trong suốt quá trình phát triển của cách mạng miền Nam, là điều kiện để triển khai thế trận chiến tranh nhân dân, thực hành chiến lược tiến công rộng khắp trên ba vùng chiến lược, hậu phương tại chỗ trở thành mối uy hiếp trực tiếp, ngày càng mạnh hậu phương, hậu cứ của địch trên nhiều hướng. Vì vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đề ra và thực hiện nhiều kế hoạch bình định, sử dụng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng nhằm giành đất, giành dân, thu hẹp dần và tiến tới xoá bỏ cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, vùng làm chủ, vùng giải phóng.


Trước tình hình đó, cuộc đấu tranh chống phá bình định, duy trì, mở rộng hậu phương tại chỗ của quân và dân miền Nam Việt Nam trên khắp chiến trường diễn ra quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh đó, tuỳ điều kiện và tình hình cụ thể, quân và dân các địa phương miền Nam vận dụng nhiều biện pháp, sáng tạo nhiều hình thức, kết hợp chặt chẽ các mặt đấu tranh, tạo nên sức mạnh bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng xây dựng thành hậu phương tại chỗ của các lực lượng cách mạng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM