Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:36:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7272 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #40 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 06:59:17 pm »

Thành thị là căn cứ, là hậu phương quan trọng của chính quyền Sài Gòn. Tại đây, chính quyền Sài Gòn thiết lập hệ thống cảnh sát, do thám, gián điệp dày đặc. Trong tình hình đó, để phát động và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở thành thị trên cơ sở vận động quần chúng, tập hợp lưc lượng, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc giải phóng bao gồm cả các tổ chức nghiệp đoàn, các tổ chức tôn giáo, các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhau, các cấp ủy Đảng miền Nam luôn kết hợp phong trào đấu tranh công khai với các hoạt động bán công khai và các hoạt động bí mật. Bên cạnh đó, các cấp ủy Đảng miền Nam chủ trương ra sức xây dựng cơ sở cách mạng trong các thành thị mà lực lượng nòng cốt là các đảng viên, tổ chức đảng, những quần chúng có giác ngộ chính trị, trung kiên trong công nhân, thanh niên, phụ nữ... Các cơ sở đó bao gồm những tổ chức bí mật, kể cả các cơ sở ngầm, mai phục lâu dài và lồng sâu trong tổ chức hoặc bộ máy của chính quyền Sài Gòn. Để đảm bảo cho các cơ sở này vững mạnh và trong sạch, các nguyên tắc, các biện pháp tổ chức và hoạt động bí mật, công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ nòng cốt, che giấu lực lượng được bảo vệ nghiêm ngặt. Dựa vào các cơ sở cách mạng đó, cán bộ, đảng viên hoạt động ở thành thị có điều kiện bám sát thực tiễn, bắt mạch kịp thời các động thái chính trị, quân sự của chính quyền Sài Gòn, có biện pháp tập hợp, tổ chức quần chúng, phát triển lực lượng nòng cốt và xung kích trong các khu dân cư, xóm thợ; trong các ngành, các giới, không ngừng củng cố và mở rộng cơ sở chính trị bí mật. Mặt khác, lực lượng cách mạng còn tìm cách thâm nhập vào các tổ chức, các nghiệp đoàn, các đảng phái chính trị, các tôn giáo và các công sở của chính quyền Sài Gòn; vận động và giác ngộ binh lính, qua đó, gây dựng cơ sở cách mạng.


Ở nông thôn đồng bằng thuộc vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cách mạng thực hiện "ba bám", tập hợp các tầng lớp nhân dân, tổ chức thành đội ngũ bao vây, bức rút đồn bốt, đấu tranh chống cào ủi làng xóm, ruộng vườn, gom dân vào các trại tập trung; chống bắt lính, vây ráp; giành dân, che giấu, bảo vệ thanh niên trốn lính và đào binh; buộc chính quyền phải ngừng các hoạt động bắn phá bừa bãi, phải bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản cho nhân dân. Qua đấu tranh, sự giác ngộ chính trị của quần chúng nhân dân vùng đối phương kiểm soát được nâng cao, tạo điều kiện để xây dựng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong các vùng bị chiếm đóng, ở các địa bàn trọng điểm, các cấp ủy Đảng chỉ đạo lập ra bộ phận lãnh đạo gồm đại diện cấp ủy Đảng, cán bộ chính trị, quân sự để chỉ huy thống nhất các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận nhằm tạo nên sức mạnh phá rã chính quyền đối phương, giành quyền làm chủ trên từng vùng, từng mảng, từng khu vực ngày càng rộng lớn, xây dựng các vùng này thành căn cứ, khu du kích, vùng giải phóng liên hoàn, thành hậu phương tại chỗ của lực lượng cách mạng miền Nam.


Nhìn chung, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam đan xen "cài răng lược" với vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát hoặc vùng tranh chấp. Vì vậy, để bảo vệ, phát huy vai trò của hậu phương tại chỗ, hậu phương đó phải được xây dựng vững mạnh toàn diện.


Xây dựng hậu phương tại chỗ vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ hàng đầu vì sự vững chắc của cơ sở cách mạng, khu du kích, làng chiến đấu, căn cứ địa... trước hết dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân; dựa vào sự vững mạnh của các tổ chức chính trị của quần chúng cách mạng. Buổi đầu, tình hình mọi mặt ở vùng giải phóng, căn cứ địa phức tạp. Các tổ chức do chính quyền Sài Gòn cài lại, các gián điệp ngầm thường trà trộn, lén lút hoạt động, phá hoại. Do vậy, ở những vùng mới giải phóng, cùng với việc xoá bỏ bộ máy được chính quyền Sài Gòn thiết lập, phải thường xuyên làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và ý thức cảnh giác cho nhân dân, tổ chức nhân dân tham gia công tác bảo đảm trị an.


Việc xây dựng và củng cố chính quyền được đẩy mạnh nhằm đảm bảo cho hậu phương tại chỗ không ngừng mở rộng và phát huy vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến. Trong giai đoạn Đồng khởi, các ủy ban nhân dân tự quản hình thành ở nhiều xã, ấp, đồng bằng và miền núi, thay thế cho chính quyền địch bị tan rã hoặc bỏ chạy. Các ủy ban này đảm nhận chức năng của chính quyền cách mạng: Tổ chức nhân dân ổn định sản xuất, xây dựng cuộc sống mới; chống các cuộc càn quét, đánh phá của địch. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân tự quản mới là hình thức chính quyền sơ khai, mới ở cấp cơ sở và chưa thành một hệ thống. Từ khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Ủy ban Mặt trận được xây dựng ở các địa phương. Đối với những địa phương chưa có chính quyền cách mạng, những vùng còn tranh chấp hoặc những vùng mới giành quyền làm chủ, Ủy ban Mặt trận đảm nhiệm chức năng của chính quyền cách mạng. Ở các vùng giải phóng, Ủy ban Mặt trận đóng vai trò của Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tự quản được kiện toàn, củng cố và đóng vai trò chính quyền cách mạng cơ sở. Từ năm 1965, úy ban nhân dân tự quản đổi thành Ủy ban giải phóng nhằm nêu bật nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền cách mạng là chống xâm lược, giải phóng đất nước. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tổ chức tuyển cử bầu ra Ủy ban nhân dân cách mạng ở các địa phương. Các cuộc bầu cử thực sự là những đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân vùng giải phóng. Thông qua các cuộc bầu cử này, nhân dân ý thức sâu sắc hơn những quyền lợi mà chính quyền cách mạng đem lại; cổ vũ họ tham gia tích cực và tự nguyện vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ vùng giải phóng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #41 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 07:00:24 pm »

Tháng 6-1969, trước yêu cầu của cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập; từ đó, hệ thống chính quyền từ Trung ương tới cơ sở được kiện toàn, củng cố. Hệ thống chính quyền đó đã phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn trong việc vận động và tổ chức quần chúng tham gia tích cực nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ.


Trong sự nghiệp xây dựng và củng cố hậu phương tại chỗ, các tổ chức chính trị của quần chúng đóng một vai trò quan trọng. Các tổ chức này tập hợp nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi hoặc theo giới và động viên mọi người thực hiện đường lối chính sách của Đảng và chính quyền, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Trên thực tế, ở các vùng giải phóng, các tổ chức quần chúng được thành lập như Hội Lao động giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng, Hội Nhà báo yêu nước, Hội Liên hiệp sinh viên và học sinh, Hội những người Công giáo kính Chúa, yêu nước... Các tổ chức quần chúng đó thu hút ngày càng nhiều hội viên tham gia và đã phát huy tác dụng đoàn kết, động viên mọi người tham gia xây dựng, bảo vệ vùng giải phóng. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân và tính hiệu lực của chính quyền cách mạng, các cấp ủy Đảng và chính quyền thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương làm nòng cốt cho toàn dân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Bên cạnh dân quân du kích và bộ đội địa phương, lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân được chú trọng phát triển. Nòng côt của lực lượng này là các tổ chức chính trị của quần chúng do các cấp ủy Đảng ở cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo. Năm 1960, toàn miền Nam có khoảng 12.000 bộ đội địa phương và 10.000 dân quân du kích cùng hàng chục vạn dân quân tự vệ. Lực lượng này tiếp tục được tăng cường cùng với quá trình mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng. Đến năm 1965, bộ đội địa phương của các huyện, tỉnh miền Nam lên tới 68.000 và dân quân du kích là 137.000. Đây là lực lượng nòng cốt cho việc phát động phong trào đấu tranh chống phá bình định, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thất bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" và chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ.


Từ giữa năm 1968 trở đi tối các năm 1969, 1970, trước sự đánh phá dữ dội của chính quyền Sài Gòn, cách mạng miền Nam bao gồm cơ sở cách mạng, quần chúng cách mạng, cán bộ đảng viên và lực lượng vũ trang bị tổn thất nặng nề. Riêng về lực lượng dân quân, nếu năm 1967, toàn miền Nam có 302.638 người thì đến cuối năm 1968 con số đó chỉ còn 184.081 người và năm 1969 còn lại 104.744 người. Cùng với quá trình sút giảm lực lượng là sự thu hẹp dần vùng giải phóng, vùng làm chủ ở ven đô thị và nông thôn đồng bằng. Mất bàn đạp tiến công, bộ đội chủ lực phải lùi về vùng rừng núi. Thế trận chiến tranh nhân dân bị giảm sút nghiêm trọng...


Như vậy, giữa xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ với nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị có mới liên quan chặt chẽ, hỗ trợ và tác động lẫn nhau. Khi nào và ở đâu, vấn đề này được các cấp ủy Đảng, chính quyền và chỉ huy chú trọng giải quyết tốt thì khi đó, hậu phương tại chỗ được bảo vệ và mở rộng, thế trận chiến tranh được củng cố và phát triển.


Đồng thời với xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, quân và dân các vùng giải phóng, vùng căn cứ đã xây dựng làng chiến đấu với hệ thống công sự, trận địa được bố trí, tổ chức phù hợp với điều kiện địa hình và phương án chiến đấu cụ thể từng nơi, từng lúc. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu kịp thời, hiệu quả bằng mọi vũ khí sẵn có. Dựa vào hệ thống công sự, trận địa đó, quân và dân miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và binh vận, bảo vệ, mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng, tạo thành thế liên hoàn hỗ trợ cho nhau.


Tại các vùng tranh chấp, vùng nằm sâu trong hậu phương địch, ngoài hệ thống công sự, trận địa, quân và dân miền Nam còn xây dựng hầm bí mật để ém giấu lực lượng, tài sản; chống các cuộc càn quét bình định. Một số địa bàn xung yếu uy hiếp mạnh các mục tiêu chiến lược của địch; nơi thường xuyên bị địch đánh như Củ Chi, Bến Cát và những làng mạc xung quanh căn cứ quân sự Mỹ, quân và dân miền Nam đã đào địa đạo sâu trong lòng đất, tổ chức các tuyến giao thông, giao liên bí mật liên kết các làng xã giải phóng với nhau, hình thành các tuyến trước, tuyến sau, bố trí lực lượng quân sự, chính trị phù hợp trên từng tuyến, tạo thành thế trận vững chắc bảo vệ vùng giải phóng.


Vùng căn cứ rừng núi và khu vực giáp ranh là địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực và các cơ quan chỉ đạo kháng chiến của cách mạng miền Nam, nơi tập kết lực lượng và vật chất chi viện từ miền Bắc vào. Đây là khu vực thường xuyên bị chính quyền Sài Gòn đánh phá, uy hiếp bằng các cuộc hành quân quy mô lớn, bằng không quân, biệt kích, thám báo, bằng các loại vũ khí, khí tài hiện đại, kể cả chất độc khai quang và các thiết bị điện tử... Trước tình hình đó, để bảo vệ vững chắc căn cứ, kho tàng, mạng lưới đường sá và các khu vực tập kết lực lượng, bên cạnh việc bố phòng ngụy trang, phòng gian, tuần tra canh gác... quân và dân miền Nam đã tích cực và chủ động tiến công quân địch, bẻ gãy các cuộc hành quân lớn đánh lên vùng căn cứ (tiêu biểu là các cuộc hành quân Attleboro, Cedar Falls, Junction City (Áttơnbord, Xêđaphôn, Gianxơn Xity) mùa khô 1966-1967 đánh vào căn cứ kháng chiến).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #42 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 07:01:12 pm »

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn tìm mọi cách phá hoại kinh tế, phá hoại vùng giải phóng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc thì việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, xây dựng đời sống mới ở vùng giải phóng là cuộc đấu tranh quyết liệt, là nhiệm vụ cần kíp để ổn định đời sống nhân dân, xây dựng tiềm lực kinh tế - chính trị tinh thần của hậu phương tại chỗ.


Tại những vùng vừa giành được quyền làm chủ, những vùng căn cứ và vùng giải phóng, chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất chia cho nông dân, xóa bỏ những tô phụ do chính quyền cũ đặt ra trước đó. Việc chia cấp ruộng đất cho nông dân còn được thực hiện ở những vùng tranh chấp khi tình hình cho phép. Đồng thời, quyền sở hữu chính đáng về ruộng đất của các tổ chức tôn giáo kể cả đồng bào di cư từ miền Bắc vào trước và sau năm 1954 cũng được bảo đảm; ngoài ra, gia đình của binh lính quân đội Sài Gòn và vợ con cũng được chia ruộng đất. Chính sách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam được thực hiện ở vùng giải phóng đã thu phục được nhiều tầng lớp nhân dân. Đến năm 1965, nông dân miền Nam đã được chia 2.100.000ha ruộng đất1 (Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) và đến năm 1968, chính quyền cách mạng đã chia thêm hàng vạn hécta ruộng đất cho nông dân, chống lại các chính sách về nông thôn của chính quyền Sài Gòn. Các con số trên đây có ý nghĩa không chỉ về mặt kinh tế mà còn về chính trị - xã hội. Việc chính quyền cách mạng chia ruộng đất cho nông dân, xác lập quyền làm chủ của người nông dân trong các vùng giải phóng đối với loại tư liệu sản xuất cơ bản này đã tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi kinh tế của người lao động với chế độ chính trị - xã hội mới hình thành ở vùng giải phóng. Đó là nguồn động viên to lớn đối với các tầng lớp nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân ở các vùng làm chủ, vùng giải phóng nói riêng; cổ vũ họ trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của địch, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.


Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ ruộng đất, các cấp ủy Đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân bám đất, giữ làng, đấu tranh chống địch lấn chiếm và phá hoại kinh tế vùng giải phóng. Trong cuộc đấu tranh đó, quân và dân vùng giải phóng đã kết hợp nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu để bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ sản xuất; phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chống địch bình định, lấn chiếm vùng giải phóng. Ở nhiều địa phương, nhân dân thực hiện "hầm tốt hơn nhà tốt", biến nơi ở thành công sự, đào đắp hệ thống hầm hào, địa đạo... ở trong làng và ngoài đồng, tổ chức lực lượng tuần tra, canh phòng để bảo vệ làng xóm, bảo vệ sản xuất. Trong vùng địch kiểm soát, với danh nghĩa để sản xuất, nhân dân đã phá thế kìm kẹp, bỏ khu tập trung, bung về làng cũ. Phong trào quần chúng bung ra ngày càng nhiều góp phần phục hồi sản xuất, lấp dần vào các vùng trắng, tạo điều kiện xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ. Ở Tây Nguyên, với phương châm "lấn đất, ép địch, giành dân, tạo thế chiến trường", cán bộ và chiến sĩ miền Nam đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở rộng nương rẫy dọc hai bờ sông Pô Cô, Sa Thầy, đặc biệt là ở phía đông, hình thành hệ thống nương rẫy sản xuất ở các vùng địch tạm chiếm, các trục đường 14, 19... thu hẹp vùng chiếm đóng của địch, tạo điều kiện cho nhân dân bám trụ vùng ven, duy trì và đẩy mạnh sản xuất, thực hành các hình thức đấu tranh. Bên cạnh đòn tác chiến của lực lượng vũ trang, nhân dân vùng ven, vùng tranh chấp tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị phản đối Mỹ và chính quyền Sài Gòn cào ủi ruộng vườn, nhà cửa, mồ mả; buộc địch phải bồi thường thiệt hại. Song song với cuộc đấu tranh bảo vệ sản xuất, chống địch phá hoại kinh tế, quân và dân vùng giải phóng, vùng căn cứ thường xuyên chú trọng tăng gia sản xuất, khai thác nguồn hậu cần tại chỗ. Năm 1967, vùng căn cứ Khu 5 bị bom đạn và chất độc Mỹ phá hoại hầu hết mùa màng. Khắc phục thiếu đói, khó khăn, nhân dân vùng căn cứ khai thác sản vật của rừng làm nguồn lương thực, kiên quyết trụ bám căn cứ, đẩy mạnh khai thác nương rẫy, từng bước phục hồi sản xuất. Sau thắng lợi Tết Mậu Thân, từ năm 1968 cho đến năm 1970, cách mạng miền Nam gặp khó khăn và thử thách nặng nề về nhiều mặt, trong đó có hậu phương tại chỗ. Ở nhiều nơi, cơ sở cách mạng bị vỡ, hậu phương tại chỗ ở thành thị, vùng ven, đồng bằng bị thu hẹp, vùng căn cứ rừng núi bị uy hiếp, sự chi viện từ miền Bắc bị ngăn chặn quyết liệt. Trong tình hình đó, vấn đề bảo đảm hậu cần cho các đơn vị bộ đội chủ lực, cho lực lượng vũ trang, các cơ quan dân - chính - Đảng và nhân dân vùng căn cứ trở nên bức xúc. Trong các cấp lãnh đạo, chỉ huy chiến trường xuất hiện ý kiến cho rằng cần phân tán khối chủ lực về hoạt động lẻ ở các địa phương để khôi phục phong trào, khắc phục trở ngại, khó khăn về lương thực... Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã chỉ thị cho các đơn vị vừa đánh địch bảo vệ căn cứ, vừa tổ chức tăng gia sản xuất; xem tăng gia sản xuất là một nhiệm vụ cần kíp và rất quan trọng. Quân dân Khu 5 nêu khẩu hiệu: "Sản xuất như đánh giặc". Hết thảy cán bộ, chiến sĩ trong quân khu đều thực hiện "ngày sản xuất đêm chiến đấu và công tác". Quân khu Trị - Thiên phát động phong trào trồng 5 triệu hốc sắn; Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định giành 10% quân số làm nhiệm vụ tăng gia sản xuất. Một số đơn vị bộ đội chủ lực được đưa ra miền Bắc để củng cố và khắc phục khó khăn về hậu cần ở các vùng căn cứ... Những chủ trương, biện pháp trên đây đã thúc đẩy phong trào phát triển sản xuất tự túc, góp phần ổn định dần tình hình vùng căn cứ, giữ vững khối bộ đội tập trung.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #43 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 07:03:31 pm »

Trong điều kiện chiến tranh liên miên, địch thường xuyên càn quét, đánh phá, để duy trì và phát triển sản xuất, nhân dân các vùng giải phóng và vùng căn cứ đã phát huy mạnh mẽ truyền thống "lá lành đùm lá rách", giúp đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất và cuộc sống thông qua hình thức các tổ văn công và đổi công. Hình thức này ra đời trong kháng chiến chống Pháp, được duy trì và phát triển trong kháng chiến chống Mỹ. Sau Hiệp định Geneva, mặc dù Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm cấm đoán nhưng tại nhiều vùng, nông dân vẫn duy trì các tổ vần công, đổi công - đây là chỗ dựa nửa hợp pháp cho cán bộ, đảng viên hoạt động. Sau Đồng khởi, cùng với vùng giải phóng rộng lớn hình thành, các tổ đổi công, vần công xuất hiện ngày càng nhiều, thu hút đông đảo nông dân lao động tham gia.


Nhờ vần công, đổi công mà nông dân vùng giải phóng, vùng căn cứ khắc phục có hiệu quả sự đánh phá của địch, sự tàn phá của thiên tai; duy trì và đẩy mạnh sản xuất cả về diện tích, năng suất, thời vụ; bảo vệ sản xuất khỏi sự phá hoại của địch. Các tổ vần công, đổi công đã tổ chức cảnh giới để cày cấy, thu hoạch, giúp nhau làm công sự chống bom, pháo, cất giấu trâu, bò, dụng cụ, lương thực mỗi lần địch càn quét... Ngoài ra, các tổ viên còn động viên và giúp đỡ nhau trong cuộc sống hằng ngày, trong việc đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, cho việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ...


Sản xuất được duy trì và đẩy mạnh, đời sống kinh tế tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng đời sống văn hóa mới ở vùng giải phóng. Chính quyền cách mạng và các đoàn thể như Công hội, Nông hội, Đoàn Thanh niên giải phóng, Hội Phụ nữ giải phóng... đã vận động nhân dân tham gia bài trừ văn hoá thực dân, bảo tồn và phát huy vốn văn hoá dân tộc để xây dựng đời sống văn hoá mới. Cùng với sự phát triển của cách mạng, các tổ chức văn hoá như Hội Văn học - Nghệ thuật giải phóng, Hội nhà báo giải phóng, Đài phát thanh giải phóng, Nhà xuất bản Giải phóng, Xưởng phim tài liệu giải phóng, các đội văn công ra đời với đội ngũ cán bộ văn hoá văn nghệ trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Hoạt động của các tể chức đó góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, của mặt trận; xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần ở các vùng giải phóng.


Sau năm 1954, ở các làng rừng sâu trong các cánh rừng tràm, rừng đước U Minh (Tây Nam Bộ), ở chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), ở Tây Nguyên... một số cán bộ giáo dục được phân công ở lại đã tổ chức các lớp bổ túc văn hoá và dạy chữ cho cán bộ, con em nhân dân vùng căn cứ. Từ sau Đồng khởi, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, nhiều địa phương thành lập Tiểu ban giáo dục bên cạnh Ủy ban tự quản để chăm lo việc học tập ở vùng giải phóng. Được sự chi viện của miền Bắc, ngành giáo dục giải phóng nhanh chóng phát triển vươn lên đáp ứng yêu cầu "giải phóng tới đâu, mở trường tới đấy". Đến năm 1966, toàn vùng giải phóng đã có gần 6.000 trường học phổ thông với 500.000 học sinh. Năm 1967, các trường sư phạm giải phóng đào tạo giáo viên cấp I, II được thành lập. Bên cạnh giáo dục phổ thông, phong trào bổ túc văn hoá đã bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá cho hàng trăm nghìn lượt cán bộ các cấp của mặt trận, của chính quyền cách mạng và đoàn thế quần chúng. Giáo dục giải phóng của cách mạng miền Nam cũng đã mở rộng ảnh hưởng vào các trường học ở vùng tranh chấp. Tại đây, cán bộ giáo dục giải phóng khắc phục hy sinh, gian khổ bám trụ địa bàn, mở lớp học cho con em nhân dân lao động. Trong khói lửa chiến tranh, ngành giáo dục giải phóng đã góp phần đào tạo thế hệ trẻ có lòng yêu quê hương, đất nước; có kiến thức, đạo đức, sức khoẻ. Giáo dục giải phóng còn góp phần nâng cao trình độ chính trị, văn hoá cho nhân dân vùng giải phóng, cho cán bộ các cấp, các ngành và lực lượng vũ trang.


Mạng lưới y tế phát triển mạnh ở vùng giải phóng, vùng giáp ranh, vùng tranh chấp từ sau ngày miền Nam đồng khởi. Các ban dân y của các khu, tỉnh, huyện, xã lần lượt được thành lập cùng với các bệnh viện, các cơ sở bào chế, cơ sở nghiên cứu... tạo thành mạng lưới y tế điều trị, khám chữa bệnh rộng khắp. Mạng lưới này ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vùng giải phóng và tham gia cứu chữa thương bệnh binh từ tuyến trước gửi về. Bên cạnh số cán bộ dân y từ miền Bắc vào (bao gồm 1.641 người từ năm 1961 đến năm 1975), ngành y tế giải phóng đã thành lập hệ thống các trường trung cấp, sơ cấp y, dược; mở các lớp chuyên tu, bổ túc; đào tạo được một đội ngũ những người thầy thuốc và nhân viên y tế tận tụy trong công việc, có năng lực chuyên môn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc kháng chiến, của vùng giải phóng ngày càng mở rộng.


Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, tuỳ điều kiện và tình hình cụ thể, chính quyền cách mạng các cấp, các địa phương chú trọng đảm bảo quyền tự do, dân chủ cho nhân dân: quyền bầu cử các cơ quan chính quyền, quyền về ruộng đất, về văn hoá - xã hội...

Nhìn chung lại, Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp động viên và phát huy sức mạnh của lòng yêu nước, ý thức dân tộc, truyền thống đoàn kết, bất khuất tiềm tàng trong mỗi người dân miền Nam, làm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ thực sự là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, dựa trên sự giác ngộ của nhân dân. Mặc dù chiến tranh kéo dài và ngày càng ác liệt, nhưng đại đa số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân vùng giải phóng hay vùng địch chiếm vẫn giữ vững niềm tin, khắc phục gian khổ, hy sinh, vừa đẩy mạnh cuộc đấu tranh quân sự, chính trị vừa ra sức xây dựng, bảo vệ hậu phương tại chỗ. Nhờ đó, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam không ngừng mở rộng và được củng cố vững chắc trên khắp ba vùng chiến lược, với nhiều hình thức đa dạng, ngày càng phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #44 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 07:04:38 pm »

Để tồn tại và phát triển, quân và dân miền Nam phải khắc phục bao trở ngại khó khăn, phải chịu nhiều hy sinh, mất mát; dù vậy, cách mạng miền Nam không ngừng ở thế đi lên, lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh. Một trong những nguyên nhân quan trọng của thực tế đó là cách mạng miền Nam đã dựa vào lòng dân, dựa vào sức dân để xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ làm cơ sở để bảo tồn và phát triển lực lượng cách mạng. Giai đoạn 1954-1959, được sự đùm bọc, che chở, nuôi giấu của nhân dân mà cán bộ, đảng viên nằm vùng mặc dù bị tổn thất nặng nề nhưng vẫn duy trì được lực lượng, vẫn dựa chắc vào nhân dân mà tồn tại và đi lên. Trong khi đó, tại vùng rừng núi, bưng biền, một số căn cứ kháng chiến cũ được duy trì, một số khác mới hình thành là nơi xây dựng các đơn vị vũ trang, bán vũ trang; là bàn đạp thực hiện một số cuộc tiến công quân sự vào chi khu, đồn bốt địch. Sau ngày miền Nam Đồng khởi, vùng làm chủ, vùng giải phóng rộng lớn được mở ra đã tạo điều kiện để xây dựng lực lượng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân. Tại những vùng này, vổi sự tham gia tích cực của nhân dân vào nhiệm vụ sản xuất và đánh giặc, với nguồn tích trữ, cất giấu và tiếp tế từ ngoài vào, lực lượng cách mạng miền Nam có điều kiện để phát triển mạnh mẽ. Lực lượng đó bao gồm các cơ quan dân - chính - Đảng, lực lượng vũ trang ba thứ quân và đông đảo quần chúng nhân dân một lòng đi theo kháng chiến.


Thời điểm cách mạng miền Nam gặp những thử thách nặng nề như những năm 1969, 1970... vai trò của hậu phương tại chỗ càng trở nên quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt, cơ sở cách mạng ở đô thị, vùng giải phóng rộng lớn và các căn cứ du kích ở đồng bằng bị thu hẹp. Mất chỗ đứng chân và bàn đạp tấn công ở vùng ven và đồng bằng, bộ đội giải phóng phải lùi dần về căn cứ rừng núi dọc miền biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Tại đây, quân dân vùng căn cứ phải trải qua những ngày tháng đầy gian khổ, thiếu thốn, khó khăn. Bộ đội Khu 5 hy sinh hàng nghìn người trong khi đi thu gom lương thực. Bộ đội và nhân dân vừa vận chuyển vũ khí vừa phải đào củ mài, hái rau rừng thay cơm. Phụ nữ vùng căn cứ Khánh Hoà không có vải mặc phải lấy vỏ cây rừng làm quần áo, khi tải đạn phải mở lối đi riêng, ở Khu 6 và Trị - Thiên - Huế, do địch ném bom, bắn pháo, rải chất độc hoá học cộng với thiên tai mất mùa, mỗi tấn gạo thu gom lúc này phải đổi bằng sinh mạng của 5, 6 chiến sĩ. Những đơn vị trực tiếp chiến đấu phía trước, mỗi người chỉ được cấp 2, 3 lạng gạo mỗi ngày, còn ở phía sau, cán bộ, nhân dân, chiến sĩ ăn củ rừng, khoai, sắn thay cơm. Ở Tây Nguyên, toàn bộ gạo còn tồn năm 1968 chỉ còn 1/3 so với số tồn kho năm 1967, dự trữ lương thực năm 1969 chỉ đủ nuôi sống bộ đội trong khoảng 1 tuần..., đói rét, ghẻ lở đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ của bộ đội, nhân dân; vũ khí thiếu hụt, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang giảm sút. Dù vậy, một lần nữa, dựa vào căn cứ rừng núi, dựa vào sự đùm bọc, che chở của nhân dân, lực lượng vũ trang ba thứ quân khắc phục khó khăn, vừa đẩy mạnh tăng gia tự túc, tích cực đánh địch bảo vệ căn cứ rừng núi, vừa bám đất, bám dân, bám địch ở đồng bằng; từng bước khôi phục vùng làm chủ, vùng giải phóng, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở ba vùng chiến lược và cách mạng miền Nam đã vượt qua thời kỳ đầy khó khăn, thử thách, tiếp tục phát triển. Như vậy, hậu phương tại chỗ là cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng trong mọi tình huống chiến tranh; mặt khác, suốt 21 năm kháng chiến, hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thê chiến lược chiến tranh nhân dân.


Về mặt quân sự, chiến trường miền Nam hẹp, mật độ quân địch (bao gồm lực lượng vũ trang, bộ máy kìm kẹp) dày đặc. Chỉ riêng lực lượng vũ trang, địch tập trung một số lượng lớn gồm các quân chủng, binh chủng của quân đội Mỹ, chính quyền Sài Gòn và đồng minh với những vũ khí hiện đại, chi phí chiến trường khổng lồ... vượt xa mức độ và chi phí của Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên cũng như trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trên một diện tích xâp xỉ 18 vạn kilômét vuông, lúc cao nhất, lực lượng vũ trang của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn lên đến 1.591.356 binh lính (1 triệu quân đội Sài Gòn, 550.136 quân Mỹ, 70.220 quân đồng minh).


Để đương đầu và chiến thắng, Đảng Lao động Việt Nam đã phát động quân và dân miền Nam tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên thế trận được xây dựng và ngày càng phát triển ở khắp ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Đó là thế trận xen cài giữa vùng giải phóng và vùng chính quyền Sài Gòn tạm thời kiểm soát; bao gồm những cơ sở cách mạng, lõm căn cứ, khu du kích, vùng làm chủ, vùng giải phóng, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam, thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và chính trị một cách tương đối hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công quân địch rộng khắp liên tục và ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị bằng nhiều hình thức, với những vũ khí sẵn có trong tay. Bị bao vây, chia cắt, bị tiến công liên tục và từ mọi phía, Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó khiến cho ưu thế về binh lực, hoả lực, sức cơ động bị hạn chế. Suốt cuộc chiến tranh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn bị lâm vào tình thế giằng co, vào mâu thuẫn giữa chiếm đóng và cơ động, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa bình định và tìm diệt... Trong "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ", hay trong "Việt Nam hoá chiến tranh", mặc dù số quân chủ lực, quân địa phương và lực lượng kìm kẹp không ngừng -tăng lên nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn luôn luôn thiếu quân. Trong "chiến tranh cục bộ", 1/3 lực lượng Mỹ thường xuyên buộc phải làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ trước sức tiến công, uy hiếp của quân và dân miền Nam ở các "vành đai diệt Mỹ". Lính thủy đánh bộ Mỹ - một trong số những binh chủng mạnh nhất của quân đội Mỹ sau khi vào miền Nam đã phải "tập trung cố gắng vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài, Đà Nẵng"1 (Shelby L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Nxb Presidio Press, 1985, tài liệu dịch, lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ những năm "chiến tranh cục bộ" là một trong những cơ sở để Đảng Lao động Việt Nam hạ quyết tâm mở cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nàm 1968, nhằm tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #45 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2026, 07:05:20 pm »

Ngoài vai trò quan trọng trên đây, hậu phương tại chỗ còn là nguồn cung cấp sức người, sức của quan trọng cho chiến trường; nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh và các vật phẩm khác từ hậu phương miền Bắc đưa vào.

Bên cạnh sự chi viện của miền Bắc, nguồn hậu cần khai thác từ hậu phương tại chỗ đóng góp một phần quan trọng. Dựa vào sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân vùng địch chiếm và dựa vào cơ sở cách mạng ở đô thị, lực lượng cách mạng đã tổ chức thu mua và vận chuyển được một số lượng thuốc chữa bệnh và các vật phẩm thiết yếu khác từ vùng địch kiểm soát. Trong các giai đoạn kháng chiến, tổ chức hậu cần của Quân giải phóng bao gồm hậu cần miền, quân khu, hậu cần các địa phương và hậu cần nhân dân đã trụ bám tại vùng tranh chấp, vươn sâu vào vùng địch kiểm soát, tới tận hậu phương chiến lược của địch là vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của và vùng đô thị để khai thác nguồn hậu cần ngay trong hậu phương của địch. Ngoài ra, thị trường nội địa Campuchia cũng là một địa bàn quan trọng mà tổ chức hậu cần của cách mạng miền Nam khai thác có hiệu quả trong suốt những năm chiến tranh. Từ năm 1969, trước những khó khăn của cách mạng miền Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở rộng phạm vi hoạt động hậu cần sang Campuchia. Trên chiến trường miền Nam lúc bấy giò chỉ còn có một số đoàn hậu cần và cơ sở hậu cần bám trụ ở vùng sâu - đó là Đoàn hậu cần 81 ở khu vực chiến khu Đ, một bộ phận lực lượng của các đoàn hậu cần 82, 83 ở khu vực núi Bà Đen, Dầu Tiếng, Long Nguyên... Do kịp thời mở rộng tổ chức và phạm vi hoạt động ở Campuchia nên đã tạo được nguồn vật chất rất quan trọng, đủ đảm bảo cho đơn vị vũ trang đứng chân trên đất Campuchia; đồng thời chi viện về cho các đơn vị đang chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ và chi viện một phần quan trọng ra chiến trường Tây Nguyên, Tuyến 559, góp phần tích cực cùng với hậu cần Trung ương giải quyết khó khăn về nguồn cung cấp và vận chuyển vật chất cho chiến trường trong những năm 1970-1971. Từ cuối năm 1971, bên cạnh một sô đoàn hậu cần vẫn hoạt động ở Campuchia, các đoàn hậu cần của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vươn sâu vào chiến trường miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Vùng làm chủ, vùng giải phóng được xây dựng vững mạnh toàn diện và ngày càng mở rộng, đã tạo điều kiện cho việc huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến, thực hiện hậu cần tại chỗ. Dựa vào sự giác ngộ chính trị của nhân dân vùng căn cứ, hậu phương tại chỗ, các cấp ủy Đảng bộ miền Nam đã phát huy mạnh mẽ sự tham gia đóng góp của nhân dân vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng hậu phương tại chỗ. Đã huy động hàng triệu lượt người phục vụ chiến đấu, hàng chục vạn thanh niên nam nữ vùng giải phóng gia nhập lực lượng vũ trang. Từ đô thị và vùng nông thôn địch chiếm, nhiều thanh niên yêu nước đã tìm đến với cơ sở cách mạng hoặc vào vùng giải phóng gia nhập lực lượng vũ trang. Trên thực tế, suốt những năm chiến tranh, ở vùng giải phóng hay vùng địch tạm thời kiểm soát, phần lớn các tầng lớp nhân dân miền Nam từ cụ già tới em bé đều tự nguyện tham gia, ủng hộ cách mạng bằng nhiều hành động như che giấu cán bộ, giao liên dẫn đường, đấu tranh chính trị chống địch phá hoại nhà cửa, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu... về vật chất, trong 15 năm (từ 1960 đến 1975), hậu phương tại chỗ đã đảm bao 22,5% nhu cầu vật chất của lực lượng vũ trang miền Nam. Nếu tính cả số chiến lợi phẩm thu được của địch và số lương thực, thực phẩm do bộ đội tập trung sản xuất thì trong 21 năm chiến tranh, hậu cần tại chỗ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu của các chiến trường. Tỷ lệ đó có ý nghĩa to lớn trong điều kiện Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên sử dụng các biện pháp quân sự, kinh tế, chính trị đề ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, phá hoại và bao vây kinh tế đối với vùng giải phóng, đánh phá kho tàng, căn cứ dự trữ chiến,lược... Đặc biệt tỷ lệ 35% mà hậu cần tại chỗ đáp ứng nhu cầu của các chiến trường càng trở nên quan trọng vào những thời điểm sự chi viện từ miền Bắc bị ngừng trệ và nguồn thu mua từ chiến trường Campuchia gặp khó khăn.


Cùng với sự gia tăng của chiến tranh, nhu cầu về nhân lực và vật chất của các chiến trường ngày càng lớn, Tuyến vận tải chiến lược 559 không ngừng được mở rộng với hệ thống trục dọc, trục ngang và hệ thống đường nhánh vươn tới các chiến trường, các hướng chiến dịch để đáp ứng sự chi viện ngày càng mạnh mẽ của hậu phương miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Hầu hết mạng đường chiến lược chạy qua các khu vực hậu phương của chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên vào tới Lộc Ninh của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống căn cứ hậu cần, kho chứa, trạm sửa chữa, khu vực tập kết bộ đội... cũng được bố trí ở các vùng giải phóng, vùng căn cứ dọc theo trục dọc, trục ngang và mạng đường nhánh chiến dịch thuộc Tuyến vận tải chiến lược 559 và hệ thống các đường trục trong khu căn cứ, vùng giải phóng. Trong điều kiện vận tải chiến lược trên đường Trường Sơn chủ yếu thực hiện vào mùa khô, toàn bộ số vật chất, vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh từ miến Bắc đưa vào nhằm tạo nguồn dự trữ chiến lược, cung cấp cho các chiến trường hay phục vụ cho việc xây dựng và bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng... đều dồn vào một số tháng trong năm. Dựa vào hệ thống kho tàng, mạng đường trong khu căn cứ, vùng giải phóng, vật chất, vũ khí... được tiếp nhận, cất giấu, bảo quản kịp thời nên đã hạn chế được hư hao, tổn thất, ùn tắc do địch lùng sục, đánh phá và do thiên tai, thời tiết gây nên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:06:21 pm »

Ở vùng ven biển miền Nam, dựa vào sự che chở của nhân dân, sự giúp đỡ của chính quyền và đoàn thể cách mạng ở vùng giải phóng, một số bến bãi, kho chứa tiếp nhận vũ khí do miền Bắc chi viện bằng đường biển đã được xây dựng. Năm 1962, Đoàn 926 đã mở được các bến bãi ở Cà Mau, Trà Vinh, Bên Tre. Từ năm 1963 đến năm 1965, Đoàn 759 thuộc Miền đã xây dựng bến bãi ở vùng giải phóng Hàm Tân - Xuyên Mộc, tiếp nhận 70 tấn vũ khí, giải quyết một phần khó khăn về vũ khí của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ thời kỳ này. Tại ven biển Khu 5, khắc phục địa hình trống trải, cơ sở bí mật đã tổ chức được các bến bãi ở Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thủy (Phổ An, Quảng Ngãi), Bình Đào (Quảng Nam); tiếp nhận vũ khí do Đoàn 125 hải quân chuyển giao. Cuối năm 1965, theo đường hàng hải quốc tế, tàu biển từ miền Bắc đã cập bờ biển Rạch Kiến Vàng (Tây Nam Bộ) và bãi biển Cà Mau, chuyển giao cho các đơn vị chủ lực Miền 197 tấn vũ khí, đạn dược, góp phần quan trọng giải quyết vấn đề trang bị vũ khí thời kỳ đầu "chiến tranh cục bộ".


Càng về cuối cuộc chiến tranh, hậu phương tại chỗ, đặc biệt là vùng căn cứ rừng núi càng được mở rộng, đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực lớn tập kết lực lượng, chuẩn bị điều kiện thực hiện các đòn đánh chiến lược.

Trong cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam, tác chiến của các binh đoàn chủ lực ngày càng quan trọng - giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt những bộ phận sinh lực lớn của địch, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện để kết thúc chiến tranh thắng lợi. Một trong số những nhân tố đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực phát huy vai trò và hiệu lực trên chiến trường là hậu phương tại chỗ phải được xây dựng và mở rộng, trở thành chỗ đứng chân vững chắc và bàn đạp tiến công của các binh đoàn.


Trong những năm "chiến tranh cục bộ", sở dĩ Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị được thành lập và trở thành hướng tiến công mới của Quân giải phóng vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, thành chiến trường thu hút, giam chân và tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động địch là bởi tại đây, dựa vào vùng căn cứ tại chỗ kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ sở hậu cần ở nam Quảng Bình; vì thế, có điều kiện đảm bảo hậu cần, đảm bảo bàn đạp tiến công cho các sư đoàn, trung đoàn từ miền Bắc đưa vào.


Những năm 1969-1970, tại vùng căn cứ rừng núi dọc miền biên giới phía tây và vùng giải phóng của cách mạng Campuchia, của cách mạng Lào, các đơn vị bộ đội tập trung được duy trì, củng cố, từng bước tăng cường lực lượng, đẩy mạnh tiến công, phục hồi thế trận chiến tranh nhân dân ở nông thôn đồng bằng và mở rộng căn cứ địa rừng núi. Bước sang năm 1971, các sư đoàn và trung đoàn bộ đội tập trung mở một số chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch binh chủng hợp thành quy mô lớn đầu tiên của chủ lực ở Đường 9 - Nam Lào, đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giữ vững và mở rộng hậu phương tại chỗ miền rừng núi phía tây. Đây là khu vực tiếp nhận, bảo quản một khối lượng vật chất, vũ khí, là địa bàn tập kết của các binh đoàn chủ lực từ miền Bắc vào, tạo điều kiện quyết định để thực hiện cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đánh vào tập đoàn lớn quân địch trong hệ thống phòng thủ chiến lược của chúng.


Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, quân và dân miền Nam trên chiến trường tiếp tục đẩy mạnh tiến công mở rộng hơn nữa hậu phương tại chỗ, của các binh đoàn chủ lực nói riêng. Hai năm 1973, 1974, một vùng giải phóng rộng lớn nối liền tây Trị - Thiên tới vùng rừng núi Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ được xây dựng thành hậu phương trực tiếp của các binh đoàn chủ lực. Dựa vào đó, sau khi củng cố và tăng cường lực lượng, chuẩn bị thế trận, các binh đoàn chủ lực mở cuộc tiến công mãnh liệt giải phóng Tây Nguyên, tiến nhanh xuống đồng bằng, cùng quân và dân cả nước mở cuộc tiến công thần tốc giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh ven biển miền Trung... góp phần tạo nên tính thần tốc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tạo nên thế và lực áp đảo đối phương trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Được thắng lợi Tây Nguyên cổ vũ, quân và dân trên khắp chiến trường, từ rừng núi, đồng bằng nông thôn tới thành thị đã diễn ra tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, làm tan rã tại chỗ chính quyền và lực lượng địch ở cơ sở, hỗ trợ cho đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực. Trên những nẻo đường Quân giải phóng tiến công, nhân dân ủng hộ Quân giải phóng bằng nhiều hành động thiết thực.


Nhìn chung lại, trong kháng chiến chống đế qưôc Mỹ, hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cuộc đấu tranh cách mạng, xây dựng và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược. Thế trận đó cho phép quân và dân miền Nam thực hành chiến lược tiến công, giữ vững quyền chủ động chiến trường, uy hiếp và thu hẹp hậu phương địch, buộc chúng phải lâm vào tình thế bị động về chiến lược, chiến thuật, phải đối phó cả phía trước, phía sau, không phát huy được ưu thế về binh lực, hoả lực và sức cơ động trong một thế trận đan xen, cài răng lược, không phân vùng, phân tuyến.


Sở dĩ hậu phương tại chỗ đã phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, tác dụng đối với cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam là bởi hậu phương đó được xây dựng, bảo vệ và không ngừng mở rộng theo một đường lối phù hợp, bằng những biện pháp hiệu quả. Đường lối và biện pháp đó đã tạo được sự bền vững, tạo ra tính đa dạng và rộng khắp của hậu phương tại chỗ ở rừng núi, ở đồng bằng, ở thành thị. Tuỳ điều kiện từng nơi, từng lúc mà đề ra và thực hiện các biện pháp xây dựng, bảo vệ, củng cố và mở rộng hậu phương tại chỗ phù hợp với tình hình cụ thể nhưng tựu trung phải biết tin vào dân, dựa vào nhân dân, cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân, xuất phát từ quyền lợi, nguyện vọng và ý chí của nhân dân mà tìm ra các hình thức và biện pháp xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân, phát động nhân dân đẩy mạnh đấu tranh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ ngày càng vững mạnh.


Thực tiễn chiến trường những năm đánh Mỹ cho thấy ở đâu và lúc nào, công tác xây dựng, bảo vệ và mở rộng hậu phương tại chỗ được chú trọng thích đáng, được thực hiện bằng những biện pháp tích cực, đúng đắn thì các nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng lực lượng đạt được kết quả rõ rệt, to lớn. Buông lỏng việc xây dựng và bảo vệ hậu phương tại chỗ, để cho địch lấn đất, giành dân, thu hẹp hậu phương tại chỗ thì lực lượng cách mạng bị tổn thất, thế trận chiến tranh nhân dân bị sa sút, cách mạng miền Nam bị uy hiếp nặng nề.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:07:28 pm »

2- Tư tưởng chiến lược tiến công và quá trình đánh thắng các kế hoạch quân sự của Mỹ ở miền Nam

Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam lại phải bước vào một cuộc đọ sức mới với tương quan lực lượng hết sức bất lợi. Nhìn vào tương quan lực lượng đó, nhiều người cho rằng Việt Nam khó có thể đương đầu nổi; Việt Nam sẽ thua và Mỹ sẽ thắng, song nhưng thực tế đã diễn ra với những kết thúc hết sức bất ngờ...


Trên cơ sở phân tích những điều kiện khách quan và chủ quan trong bước chuyển mới của cách mạng, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương thay đổi sách lược đấu tranh, khẩu hiệu "kháng chiến đến cùng" được thay bằng khẩu hiệu "hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ", nhằm phân hoá lực lượng đối phương, tìm kiếm những điều kiện có lợi cho cách mạng Việt Nam, phát huy thế mạnh chính trị.


Trong hai năm đầu của chiến tranh, Đảng Lao động Việt Nam đã chủ trương lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Geneva, đòi củng cố hoà bình, thực hiện các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ; đấu tranh chống khủng bố, đàn áp của chính quyền Sài Gòn, chống chính sách "tố cộng, diệt cộng" của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong hai năm đó, đã có 12 triệu lượt quần chúng đấu tranh chính trị dưới những hình thức và mức độ khác nhau; tuy nhiên, loại hình đấu tranh chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản tình hình miền Nam. Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 6 năm 1956 đã chỉ rõ: Đấu tranh chính trị không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình thức vũ trang tự vệ trong hoàn cảnh nhất định... Từ tháng 8-1956, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam (Đề cương cách mạng miền Nam), chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, ngoài con đường đó không có con đường nào khác; tuy nhiên bản Đề cương vẫn chưa để ra được những biện pháp cụ thể, thích đáng để đối phó có hiệu quả với địch, giảm bớt tổn thất của quần chúng.


Trên cơ sở những vận động của thực tiễn, những kiến nghị khẩn thiết của cán bộ, đảng viên và một số cấp ủy Đảng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã dành nhiều công sức chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền Nam. Năm 1959, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 đã xác định con đường tiến lên của cách mạng miền Nam, chỉ rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng miền Nam. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Nhằm làm rõ thêm chủ trương chuyển hướng đấu tranh, tiếp sau đó, nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng (9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối kháng chiến chống Mỹ, khẳng định đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng chung cả nước cũng như cách mạng miền Nam.


Những nghị quyết của Trung ương Đảng và chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị trong giai đoạn chiến lược này cũng như những thực tế diễn biến chiến lược trên chiến trường miền Nam đã cho thấy sự lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam trong giai đoạn đầu của chiến tranh có những điểm nổi bật: Đảng Lao động Việt Nam đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc, từ đó xác định hai chiến lược cách mạng phải đồng thời tiến hành ở hai miền Nam, Bắc, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã củng cố miền Bắc để trở thành hậu phương của cách mạng miền Nam; tìm giải pháp đưa cách mạng miền Nam tiến lên theo con đường đúng đắn, có lợi nhất. Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối, phương pháp cách mạng giải phóng miền Nam, giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa giải phóng miền Nam và củng cố bảo vệ miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế và phong trào bảo vệ hoà bình thế giới.


Chiến tranh nhân dân ở miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh toàn dân và toàn diện phát triển lên một bước rất cao, dựa trên cơ sở những quy luật chung trong phương pháp cách mạng miền Nam, là một cuộc chiến tranh bao gồm đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, phát triển lên từ phong trào khởi nghĩa của quần chúng với tư tưởng nhất quán là tư tưởng chiến lược tiến công. Đó là tư tưởng chiến lược của cách mạng miền Nam từ khi chuyển sang thế tiến công bằng cao trào Đồng khởi năm 1959-1960. Thế tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam trong thời kỳ chống "chiến tranh đặc biệt" là thế tiến công dựa trên ưu thế về chính trị và tinh thần, trên sức mạnh áp đảo của quần chúng cách mạng, kiên quyết vùng lên đấu tranh để giành quyền sống. Tư tưởng ấy luôn luôn được giữ vững và phát triển từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn bộ, bằng hai quả đấm quân sự và chính trị ngày càng mạnh trong thời kỳ chống "chiến tranh cục bộ", thế tiến công ấy dựa vào sự triển khai lực lượng quân sự và chính trị trên các địa bàn chiến lược trên toàn chiến trường, khiến cho quân và dân miền Nam có thế trận vững chắc và có lực lượng hùng hậu để giữ vững thế chủ động tiến công đã giành được sau khi đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Nhìn toàn cục, quá trình phát triển của chiến tranh cách mạng là quá trình vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công, là quá trình tiến công kiên quyết, liên tục và ngày càng mãnh liệt, phát triển từ thấp đến cao, theo những bước tuần tự, xen kẽ những bước nhảy vọt. Trong quá trình đó, cũng có lúc, có nơi phòng ngự, song đó chỉ là chiến thuật, chỉ là tạm thời để tạo điều kiện tiếp tục tiến công. Với chiến lược tiến công ấy, quân và dân miền Nam đã đánh bại các kế hoạch, các chiến lược quân sự của Mỹ, đánh đổ chế độ Ngô Đình Diệm, đánh bại "chiến tranh đặc biệt" và tiếp đó đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" trong giai đoạn leo thang cao nhất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:08:09 pm »

Chiến lược tiến công của chiến tranh nhân dân miền Nam là chiến lược toàn dân đánh giặc, dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị song song, là chiến lược tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, kết hợp tác chiến của ba thứ quân với các cuộc khởi nghĩa của quần chúng cách mạng; là chiến lược kết hợp đánh địch với giành quyền làm chủ; luôn luôn giành thế chủ động và quyền chủ động đánh địch trên toàn chiến trường, buộc địch luôn căng ra, bị bao vây, chia cắt phải bị động đối phó với cách đánh của Quân giải phóng.


Khả năng tiến công của chiến tranh nhân dân miền Nam gắn liền với sự đánh giá đúng đắn đặc điểm và xu thế phát triển của tình hình so sánh lực lượng giữa quân, dân miền Nam với Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đối thủ tuy đông về số lượng, mạnh về phương diện kỹ thuật, song có những mặt yếu rất cơ bản không thể nào khắc phục được. Trái lại, quân và dân miền Nam, bên cạnh những mặt yếu lại có những chỗ mạnh rất cơ bản. Nhờ biết phát huy những mặt mạnh, chỗ mạnh của mình, nhằm vào những chỗ yếu, mặt yếu của địch mà đánh, quân và dân miền Nam đã giành được thế chủ động tiến công và làm tăng thêm sức tiến công của mình lên gấp bội.


Muốn áp dụng chiến lược tiến công, thì nhất thiết phải giải quyết được một loạt vấn đề về nghệ thuật quân sự, về hình thức chiến thuật và phương thức tác chiến, về mặt này, quân và dân miền Nam đã sáng tạo ra nhiều cách đánh thích hợp, rất độc đáo, phong phú và linh hoạt, có hiệu lực cao làm cho địch thua đau mà lực lượng cách mạng thì ít bị tổn thất nhất. Đó là cách đánh kết hợp các hình thức tác chiến du kích của bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ với các hình thức tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực. Đó là phương thức tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, vừa để nâng cao mức đánh tiêu diệt quân địch, vừa để củng cố và mở rộng không ngừng quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng chiến lược. Đó là cách đánh lấy chất lượng cao của lực lượng vũ trang cách mạng để thắng số lượng đông của địch, luôn luôn tạo ra thế mạnh để lấy ít thắng nhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Đó là lối đánh táo bạo, mưu trí, bí mật, bất ngờ, khi thì mỗi binh chủng độc lập tác chiến, khi thì hiệp đồng các binh chủng nhằm vào chỗ yếu, chỗ hiểm của địch mà tiến công, đánh vào đầu não, yết hầu của địch, tạo ra hiệu suất chiến đấu rất to lớn. Đó là lối đánh tiến công kiên quyết và chủ động do lực lượng vũ trang cách mạng hoàn toàn lựa chọn, không cho địch đánh theo sở trường, làm cho chiến thuật của đối phương bị động, chắp vá, làm cho mọi phản ứng mọi sự phòng ngự của địch đều trở nên bất lực. Đó là lối đánh kết hợp nhiều phương pháp và hình thức tiến công tiêu diệt địch, sử dụng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí và phương tiện chiến tranh có trong tay, tận dụng mọi điều kiện địa hình và thời tiết, đánh địch trong mọi tình huống, khi địch tiến cũng như lúc rút lui, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc khi địch yếu và sơ hở; cả ở chỗ chúng mạnh và có đề phòng.


Tất cả đó là những hình thức chiến thuật và phương thức tác chiến dựa vào tính năng động, chủ quan, trí thông minh, tài sáng tạo của cán bộ và chiến sĩ Quân giải phóng và của đồng bào miền Nam, những con người yêu nước, chẳng những dám đánh và quyết đánh mà còn biết đánh và biết thắng một cách có lợi nhất.


Phương châm chiến lược của chiến tranh nhân dân miền Nam là đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh. Đó cũng là quy luật của chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam trong toàn bộ chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ, quân, dân miền Nam phải đương đầu với một quân đội đông và trang bị hiện đại, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn gấp nhiều lần, cho nên cần phải có thời gian từng bước tiêu diệt và làm suy yếu lực lượng của địch, hạn chế chỗ mạnh và khoét sâu chỗ yếu của đối phương, để bồi dưỡng và phát triển lực lượng vũ trang và chính trị của mình, tạo ra tình hình so sánh lực lượng ngày càng có lợi, làm cho địch càng đánh càng yếu, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đánh ngày càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn. Quá trình đánh lâu dài là quá trình liên tục tiến công địch từ nhỏ đến lớn, đánh lui địch từng bước, đánh bại từng âm mưu chiến lược của đối phương, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch. Trong quá trình đánh lâu dài, nếu biết phát huy đến mức cao nhất cố gắng chủ quan, tận dụng mọi điều kiện khách quan thuận lợi, biêt tạo ra và lợi dụng những chỗ yếu của địch, chỉ đạo chiến lược chính xác và sắc bén, biết nhằm phướng hướng, mục tiêu đúng và chọn thời cơ có lợi, giáng những đòn thật đau, thật hiểm, giành thắng lợi lớn về quân sự, lại biêt khéo kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, công kích với khởi nghĩa thì có thể tạo ra những bước nhảy vọt rất quan trọng làm thay đổi thế lực của đôi bên và chuyển biến của cục diện chiến tranh.


Trong quá trình phát triển của chiến tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam đã diễn ra những bước nhảy vọt như thế với chiến dịch Bình Giã vào Đông Xuân (1964-1965), với việc mở Mặt trận Trị - Thiên năm 1967, với cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong dịp Tết Mậu Thân. Những bước phát triển trên đây chứng tỏ quân và dân miền Nam đã biết chọn phương hướng đúng, đã khéo léo kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, kết hợp đánh lâu dài, liên tục với đánh mạnh, đánh chớp nhoáng rất táo bạo, bất ngờ, và trên cơ sở kiên trì đánh lâu dài, đã biết cố gắng rất cao về mọi mặt để sáng tạo thời cơ, tranh thủ thời gian, giành thắng lợi ngày càng to lớn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:08:41 pm »

Trên cơ sở nhận định thế, lực và tương quan so sánh lực lượng giữa hai bên, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam xác định trong khi kiên trì tiến công địch toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao, cần chuẩn bị đánh những trận quy mô lớn, có hiệu suất cao, tạo điều kiện để đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đối với cách mạng miền Nam, vấn đề chớp thời cơ, táo bạo, sáng tạo cách đánh mới, tạo nên hiệu lực có ý nghĩa chiến lược mới có quyết định lớn đến bước chuyển của cách mạng. Đảng Lao động Việt Nam đã nhìn xuyên suốt về sức mạnh, về so sánh lực lượng địch - ta trong chiến tranh cách mạng miền Nam. Trong bài viết ở Tạp chí Quân đội nhăn dân, tháng 3 năm 1967, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chỉ rõ: "Chiến tranh nhân dân ở miền Nam là một cuộc tiến công toàn diện của cách mạng miền Nam vào nền tảng thống trị của bọn Mỹ và tay sai chứ không đơn thuần là một cuộc tiến công về quân sự. Sức mạnh của nó không đơn thuần là sức mạnh quân sự (nhất là trong thời kỳ đầu thì chủ yếu không phải là sức mạnh quân sự), mà là một sức mạnh tổng hợp mọi mặt về chính trị - tinh thần, về quân sự, về thế và lực của cả nhân dân và đất nước (...). Khi so sánh lực lượng, nói mạnh yếu là nói trong những điều kiện nhất định. Nhất là phải xem những lực lượng đó với hiệu lực thực tế trong hành động, trong cuộc đọ sức trực tiếp với nhau, mà trong hành động thì trên cơ sở những điều kiện vật chất nào đó, tính năng động của con người (bao gồm cả ý chí, tài năng, mưu trí, sáng tạo) có tác dụng quyết định". Trong thư gửi Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tháng 7-1967, Lê Duẩn nhấn mạnh: Xét lực lượng so sánh đôi bên trên chiến trường "là phải xét kết quả tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, của các lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá mà mỗi bên sử dụng để chống lại đối phương. Nó không phải là trừu tượng mà là cụ thể, nó không phải là một tỉ lệ bất biến mà là một so sánh trong vận động, kết quả của quá trình phát triển biện chứng về số lượng cũng như về chất lượng của các yếu tố, các lực lượng nói trên".


Chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng miền Nam không chỉ dựa trên so sánh tương quan lực lượng một cách khoa học và cách mạng mà còn gắn liền với đường lối động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc, xây dựng lực chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân, đường lối xây dựng cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu phương của Đảng, đảm bảo cho lực lượng cách mạng có chỗ đứng chân ở nông thôn cũng như thành thị, ở vùng rừng núi cũng như vùng đồng bằng. So với lực lượng của toàn dân Việt Nam, với tiềm lực của đất nước, quân địch tăng bao nhiêu quân, dùng bao nhiêu vũ khí cũng không đủ, kết quả là muốn tập trung nhưng phải phân tán, muốn tiến công nhưng không thể không đi vào con đường phòng ngự.


Chiến lược tiến công của quân và dân miền Nam Việt Nam còn gắn liền với nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân, với các hình thức đấu tranh, các biện pháp tác chiến độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam. Do biết tiến công địch một cách toàn diện bằng cả đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, bằng cả tác chiến và nổi dậy, bằng cả chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, cho nên quân và dân miền Nam đã phát huy mọi khả năng để tiến công. Do biết sáng tạo ra nhưng cách đánh thích hợp và có hiệu lực lớn cho nên các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã phát huy đến trình độ cao sức mạnh tiến công và tiêu diệt đối phương.


Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1970 nhận định: Chỉ trên thế tiến công của toàn dân với mọi phương pháp thích hợp mới đánh bại được từng bước, từng mặt, ở từng vùng đi đến đánh bại hoàn toàn quân địch. Chỉ có nắm vững quy luật nối dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy, làm chủ và tiêu diệt, tiêu diệt và làm chủ, tiến công địch trên cả ba vùng, mới biến những cuộc đấu tranh chính tri và quân sự thành một lực lượng tổng hợp, mới biến lực lượng quân chúng và lực lượng vũ trang thành một lực lượng tổng hợp. Chỉ trên cơ sở đó mới có được chiến lược tiến công của quân đội cách mạng, của nhân dân cách mạng của một nước nhỏ, đánh thắng quân đội của một nước đế quốc mạnh nhất - nước Mỹ và chỉ có trên thế tiến công mới đánh bại được đối phương.


Chỉ có tiến công một cách tích cực, kiên quyết và liên tục mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, do đó mà làm cho sức mạnh thực tế của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam được nhân lên gấp bội. Tiến công là hành động để giành quyền chủ động buộc địch phải luôn luôn ở vào thế bị động đối phó, do đó mà làm suy yếu cả thế và lực của đối phương, làm cho đối phương bị thất bại từng bước, cuối cùng giành lấy thắng lợi hoàn toàn.


Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn nêu cao và quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, đi vào chủ trương tác chiến cụ thể, không phủ nhận sự cần thiết phải tiến hành phòng ngự hoặc rút lui trong một thời gian nào đó, ở một khu vực nào đó, khi tình hình so sánh lực lượng không có lợi. V. I. Lênin nói: "Những cuộc chiến tranh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc chỉ toàn tiến công hầu như không có trong toàn bộ lịch sử thế giới, hoặc nếu có thì chỉ là trường hợp ngoại lệ". Hoặc như trong lịch sử dân tộc Việt Nam, ba cuộc chiến tranh chống quân Nguyên thời nhà Trần, cuộc chiến tranh chống quân Thanh thời Tây Sơn đều có rút lui khỏi Thăng Long. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mới bắt đầu, sau một thời gian kiên quyết ngăn chặn bước tiến của quân địch, quân và dân Việt Nam đã chấp hành chỉ thị của Đảng "tránh những trận bất lợi, rút lui tới một mức nào đó". Nhờ vậy mà đã bảo toàn được lực lượng, giữ vững được cuộc kháng chiến lâu dài. Trong chiến dịch và chiến đấu, quân đội cũng đã từng tiến hành phòng ngự hoặc rút lui khi cần thiết.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM