Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7269 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:09:44 pm »

Điều cần luôn luôn chú ý là những bước phòng ngự hay rút lui đó chỉ là bộ phận và tạm thời để tạo điều kiện tiếp tục tiến công. Trong chiến tranh, khi cần thiết phải tiến hành phòng ngự, các cấp chiến lược chủ trương phòng ngự tích cực. Trong phòng ngự, Quân giải phóng vẫn tìm mọi cách tiến công và phản công tiêu diệt địch, nhờ vậy mà tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển hoá so sánh lực lượng có lợi, phát triển được thế tiến công từ nhỏ đến lớn để giành thắng lợi. Đó cũng là một biểu hiện của tư tưởng tiến công trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.


Nhìn lại toàn bộ tiến trình của cuộc chiến tranh (1954-1975), có thể thấy được rằng, chiến lược của cách mạng Việt Nam là chiến lược tiến công. Đó là tiến công bằng hai lực lượng quân sự và chính trị, bằng ba mũi giáp công, chính trị, quân sự, binh vận; tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị. Đó là tiến công địch rộng khắp, thường xuyên, bằng mọi vũ khí có trong tay, với nhiều hình thức phong phú, đầy tính sáng tạo của lực lượng tại chỗ, của dân quân du kích, của chiến tranh nhân dân địa phương. Đó còn là tiến công địch trên những vùng, những chiến trường, những hướng chiến lược chủ yếu bằng những lực lượng vũ trang tập trung của bộ đội chủ lực. Kết hợp hai hình thức, hai phương thức tiến công chiến lược trên đây của lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, quân dân miền Nam đã tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh nhân dân, đã tiến công liên tục và ngày càng mạnh, ngày càng hiệu lực vào lực lượng quân sự địch cũng như vào hệ thống chính quyền các cấp. Chỉ đạo chiến lược tiến công, trong chiến lược quân sự mà nội dung quán xuyến là xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược cho từng giai đoạn chiến lược, các cơ quan chỉ đạo chiến lược đặc biệt chú trọng việc chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu và việc xác định nguyên tắc tác chiến của lực lượng vũ trang trên hướng đó. Giải quyết các nội dung trên đây của chiến lược quân sự, ở từng giai đoạn cũng như trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân Việt Nam đã tổ chức và thực hiện thành công các hoạt động tác chiến chiến lược, các đòn tiến công và phản công chiến lược, tạo nên những bước chuyển biến lớn, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng và bất lợi cho đối phương.


Đó là việc Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển cách mạng miền Nam từ Đồng khởi tiến lên chiến tranh cách mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công về chiến lược. Đó còn là hoạt động tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng trong Đông Xuân 1964-1965 với những chiến dịch quân sự khởi đầu như Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài làm nòng cốt, đánh lại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" khi quân đội Sài Gòn còn nguyên vẹn 11 sư đoàn bộ binh. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ", Quân giải phóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của Mỹ, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Cuộc phản công có ý nghĩa chiến lược trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (Xuân năm 1971) của Quân giải phóng đã đánh thắng một bước quan trọng về quân sự chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Tiếp đó, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với ba chiến dịch tiến công ở Quảng Trị, An Lộc, Kon Tum và hai chiến dịch tổng hợp Khu 5, Khu 8 đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Trên đà thắng lợi, đầu năm 1975, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công và nối dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, kết thúc thắng lợi chiến tranh.


Những hoạt động tiến công và phản công chiến lược nêu trên thể hiện hiệu lực của chiến lược quân sự Việt Nam cũng như sự tài giỏi trong việc tổ chức, điều hành của các cơ quan chỉ đạo chiến lược trên mặt trận đấu tranh quân sự nói riêng, trên các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao nói chung. Đó là một chiến lược quân sự tiến công chủ động đầy sáng tạo; một chiến lược quân sự của toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, phối hợp chặt chẽ hành động tác chiến của lực lượng vũ trang với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng cách mạng và đó cũng là cơ sở để giải quyết thành công những vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trên chiến trường miền Nam.


Về chiến dịch, từ năm 1964 đến năm 1965 là giai đoạn bắt đầu vận dụng nghệ thuật chiến dịch tiến công qua các chiến dịch khởi đầu như chiến dịch Bình Giã (từ 2-12-1964 đến 7-3-1965), chiến dịch Đồng Xoài (từ 10-5 đến 2-7-1965), chiến dịch Ba Gia (từ 29-5 đến 20-7-1965). Đây là các chiến dịch tiến công có quy mô sử dụng lực lượng liên trung đoàn, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, được sự bảo đảm một phần về hậu cần của nhân dân địa phương trên địa bàn chiến dịch, đánh vào đối tượng chủ lực của quân đội Sài Gòn là chính, diễn ra ở khu vực rừng núi hoặc giáp ranh trên một không gian khoảng từ hai đến ba huyện và trong thời gian từ một đến hai tháng. Đặc điểm của các loại hình chiến dịch tiến công thời kỳ đầu này là mang tính chất tổng hợp - kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng nhằm thực hiện mục tiêu tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:10:29 pm »

Từ giữa năm 1965 đến năm 1968 là giai đoạn trực tiếp đánh quân viễn chinh Mỹ. Trong giai đoạn này, có các chiến dịch tiến công là: Chiến dịch tiến công Plei Me, Tây Nguyên (từ 19-10 đến 26-11-1965), chiến dịch tiến công Bàu Bàng - Dầu Tiếng ở Đông Nam Bộ (từ 12 đến 27-11-1965), chiến dịch tiến công Tây Sơn Tịnh ở Quảng Ngãi (từ 20-2 đến 20-4-1966), chiến dịch tiến công Sa Thầy ở Tây Nguyên (từ 18-10 đến 6-12-1966), chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Junction City, Đông Nam Bộ (từ 22-2 đến 15-4-1967), chiến dịch tiến công Đắc Tô ở Bắc Tây Nguyên (từ 3 đến 23-11-1967). Chiến dịch tiến công đường 9 - Khe Sanh ở Bắc Quảng Trị (Xuân Hè năm 1968) và các cuộc tiến công vào nội đô Sài Gòn và Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 có quy mô như những chiến dịch tiến công mang tính chất chiến lược. Như thế, về loại hình, bên cạnh các chiến dịch tiến công, đã xuất hiện các chiến dịch phản công; về quy mô, lực lượng tham gia chủ yếu là cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường cùng lực lượng vũ trang địa phương; về cách đánh chiến dịch và sự chỉ đạo vận dụng chiến thuật trong chiến dịch cũng như nghệ thuật vận dụng các mưu kế, lập thế trận chiến dịch, nghệ thuật tổ chức, điều hành chiến dịch có sự phát triển cao hơn giai đoạn trước.


Từ năm 1970 đến năm 1971 là giai đoạn Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Đây là giai đoạn mở các hoạt động và các chiến dịch phản công như: Hoạt động phản công làm thất bại cuộc tiến công sang Campuchia của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; ba chiến dịch phản công đánh bại ba cuộc hành quân quy mô lớn của địch ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và đường 6 (Công Pông Chàm - Công Pông Thom). Nghệ thuật chiến dịch phản công đã phát triển lên một trình độ mới, khá hoàn chỉnh, lực lượng sử dụng lên tới tương đương cấp quân đoàn, diễn ra ở vòng ngoài chiến trường chính miền Nam Việt Nam, giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược tạo thế và lực cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Năm 1972: Lần đầu tiên trong chiến tranh, cứu nước, Quân giải phóng đã tiến hành đồng thời ba chiến dịch tiến công với lực lượng sử dụng ở mỗi chiến dịch tương đương cấp quân đoàn tăng cường, trên ba hướng chiến lược quan trọng thuộc chiến trường chính miền Nam là Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; đột phá thẳng vào hệ thống phòng ngự kiên cố của địch. So với các chiến dịch tiến công giai đoạn trước, đây là những chiến dịch có quy mô lớn hơn, không gian rộng hơn, thời gian dài hơn. Bên cạnh các chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực, còn liên tiếp mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp ở Bắc Bình Định (Trung Bộ) và ở Khu 8 (Nam Bộ). Trên miền Bắc, Quân chủng Phòng không - Không quân cùng lực lượng phòng không địa phương tiến hành chiến dịch phòng không quy mô lớn đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, ở Bắc Lào, lực lượng vũ trang Việt Nam và Lào thực hiện thắng lợi chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nơi Liên quân Lào - Việt tổ chức lực lượng thích hợp (chia thành bộ phận phòng ngự tại chỗ và cơ động đánh địch trên các hướng), ngăn chặn, phản kích bẻ gãy các mũi và hướng tiến công của địch, kết hợp tập kích tiêu hao sinh lực, tạo thế và lực đánh trận then chốt quyết định. Như vậy, đây là giai đoạn mà các loại hình chiến dịch phát triển phong phú, nghệ thuật chiến dịch phát triển toàn diện và khá hoàn chỉnh.


Từ năm 1973 đến năm 1975: Trên cơ sở tạo thế tạo lực của hai năm 1973, 1974, Quân giải phóng mở các chiến dịch lớn kế tiếp nhau giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh với quy mô lực lượng lớn, trên một không gian rộng, trong một thời gian ngắn. Với các chiến dịch này, loại hình chiến dịch tiến công đã có bước phát triển mới, mang ý nghĩa chiến lược. Nó có các đặc điểm chủ yếu như: Do cấp chiến lược trực tiếp chỉ đạo, do từng tập đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành tương đối lớn thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ của bộ đội địa phương dân quân du kích trên địa bàn chiến dịch, nhằm mục đích tiêu diệt và làm tan rã lớn từng tập đoàn chiến dịch - chiến lược của địch, giải phóng từng địa bàn chiến lược tạo nên sự đột biến chiến dịch và đưa đến sự phá vỡ thế chiến lược của địch; các hình thức chiến thuật phát triển phong phú và ở trình độ cao, nhất là nghệ thuật tổ chức thực hành các trận then chốt.


Nhìn chung, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân phát triển lên một trình độ mới. Sự phát triển này được biểu hiện trên những nội dung thuộc về nghệ thuật chiến dịch như chọn hướng, mục tiêu, đối tượng tác chiến chiến dịch; tổ chức, sử dụng lực lượng; lập thế trận; chọn cách đánh; chuẩn bị và thực hành chiến dịch; chỉ đạo chiến thuật trong chiến dịch; tổ chức chỉ huy, đảm bảo hậu cần, kỹ thuật; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến dịch.


Về chiến thuật, trong giai đoạn đầu, từ phong trào Đồng khởi đến đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (1961-1965), bộ đội trên chiến trường miền Nam chủ yếu vận dụng các hình thức chiến thuật chủ yếu đã được tổng kết trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Đó là chiến thuật vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không, tập kích.


Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968). Để đương đầu và đánh bại đối phương có quân số đông, vũ khí trang bị dồi dào, hiện đại, có hoả lực và sức cơ động cao lại chiếm ưu thế áp đảo trên biển, trên sông, trên không, các cấp chiến lược chủ trương đẩy mạnh đánh đêm và đánh gần, "bám thắt lưng Mỹ mà đánh". Vì vậy, ở miền Nam, hình thức chiến thuật mà lực lượng vũ trang vận dụng và phát triển rộng rãi là tập kích, vận động tiến công, phục kích.


Trong giai đoạn thứ ba là giai đoạn đánh thắng chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" (1969-1975), lực lượng vũ trang cách mạng trên chiến trường vận dụng và phát triển các loại hình chiến thuật như tập kích, vận động tiến công địch đang cơ động, tạm dừng hoặc mới chuyển vào phòng ngự nhưng chưa có công sự vững chắc; tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc.


Tóm lại, trải qua 21 năm kháng chiến, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam trên chiến trường miền Nam là tư tưởng chiến lược tiến công. Tư tưởng ấy dựa trên một loạt nhân tố trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam và quân đội Mỹ. Tư tưởng chỉ đạo chiến lược ấy dựa trên cơ sở đánh giá đúng so sánh lực lượng của hai bên đối chiến, dựa trên sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh cách mạng Việt Nam ở miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, dựa trên lòng yêu nước và tinh thần dám đánh quyết đánh, biết đánh và biết thắng của toàn quân, toàn dân Việt Nam. Chiến lược ấy phát huy cao độ truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Đó là truyền thống lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, lấy con người Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, trí tuệ Việt Nam để đương đầu và đánh bại vũ khí, sắt thép và bộ máy điều hành chiến tranh khổng lồ của Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:12:20 pm »

3- "Vành đai diệt Mỹ"- một hình thức toàn dân đánh giặc

Thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", từ giữa mùa hè năm 1965, các đơn vị lớn quân Mỹ bắt đầu ồ ạt đổ vào miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ". Dựa trên tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh có quân đông và vũ khí hiện đại, Mỹ tin rằng: Các đơn vị chiến đấu Mỹ sẽ nhanh chóng "bẻ gãy xương sống Việt cộng", tiêu diệt Quân giải phóng, giành lại thế chủ động chiến trường, cứu quân đội và chính quyền miền Nam đang suy sụp. Vừa đặt chân lên đất Việt Nam, quân Mỹ nhanh chóng chiếm lĩnh những vị trí then chốt có ý nghĩa chiến lược để làm bàn đạp và biến những vị trí đó thành những căn cứ quân sự lớn: Căn cứ tác chiến của các sư đoàn, thiết đoàn, của không quân, hải quân; làm nơi xuất phát những cuộc hành quân "tìm diệt"; căn cứ hậu cần - kỹ thuật, nơi tích trữ lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Quân Mỹ đã sử dụng một khối lượng lớn bom, đạn, đánh phá dữ dội vùng giải phóng xung quanh các căn cứ, kết hợp với quân đội Sài Gòn mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân, nhằm thiết lập vành đai an toàn cho cả một hệ thống căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam.


Để xây dựng căn cứ Chu Lai, đối phương đã đánh phá các xã Kỳ Sanh, Kỳ Liên, Kỳ Anh, Kỳ Khương, Kỳ Hòa... suốt ngày đêm. Chỉ tính riêng xã Kỳ Sanh rộng không quá 50km2 với 8.000 dân, trong suốt 12 ngày đầu tháng 6 năm 1965 đối phương đã ném 500 quả bom các loại. Trung bình mỗi tháng, Kỳ Sanh phải chịu 37 trận càn quy mô từ hai trung đội đến sáu tiểu đoàn Mỹ và quân đội Sài Gòn, có máy bay, pháo binh và xe tăng yểm trợ. ở Tây Ninh, sau khi lữ đoàn 196 Mỹ đổ quân xây dựng căn cứ Trảng Lớn, những cánh rừng nơi đó nhanh chóng bị bom đạn và chất độc hóa học Mỹ tàn phá, hủy diệt. Các xã Bình Đức, Thạch Phú sát căn cứ Đồng Tâm bị đối phương đánh phá ác liệt, chỉ còn lại một, hai đảng viên và vài ba du kích trụ bám. Ở căn cứ An Khê, khi sư đoàn kỵ binh không vận số 1 đến, bom đạn Mỹ liên tiếp dội xuống các vùng xung quanh, nhân dân xã Bắc phải dời làng đi nơi khác sống... Có thê thấy rằng, "việc sử dụng hoả lực chưa từng có và hoang phí để thay cho con người là một đặc điểm nổi bật của các chiến thuật quân sự Mỹ trong chiến tranh Việt Nam"1 (G. Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.199).


Trước tình hình cuộc chiến leo thang và lan nhanh ra khắp cả hai miền Nam Bắc, Hội nghị lần thứ 11 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (3-1965) quyết định chuyển toàn bộ miền Bắc từ thời bình vào thời chiến nhằm đảm bảo cho miền Bắc có đủ điều kiện và sức mạnh cùng một lúc hoàn thành các nhiệm vụ trọng đại là tiếp tục giữ vững công cuộc xây dựng miền Bắc, đánh thắng các bước "leo thang" chiến tranh của không quân, hải quân Mỹ, duy trì và đẩy mạnh sự chi viện toàn diện, mạnh mẽ, liên tục sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, tại Hội nghị quan trọng này, trên cơ sở lượng định rằng, quân và dân Việt Nam đang phải đương đầu với cuộc chiến trong khuôn khổ chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của phía Mỹ ở mức độ cao, bao gồm trong đó một số nhân tố đang manh nha của "chiến tranh cục bộ" - một loại hình chiến tranh khác, ở mức độ cao hơn "chiến tranh đặc biệt", của chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng linh hoạt" mà nước Mỹ đề ra và theo đuổi từ năm 1961, nên Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng mới chỉ đề ra nhiệm vụ cho toàn quân, toàn dân Việt Nam tập trung đánh bại nỗ lực quân sự cao nhất của Mỹ trong khuôn khổ "chiến tranh đặc biệt" mà thôi. Còn như, việc chính thức hạ quyết tâm đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" thì phải tới tháng 12-1965, khi Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được triệu tập. Khoảng thời gian giữa hai kỳ Hội nghị đó, chiến sự leo thang ở mức độ "chóng mặt" trên cả hai miền Nam, Bắc từng ngày, từng tuần. Trước việc quân chiến đấu Mỹ ùn ùn đổ vào miền Nam, không quân, hải quân Mỹ đêm ngày giội bom đạn xuống mọi làng mạc của miền Bắc với quy mô và cường độ cực kỳ khốc liệt, quả thật, trong một bộ phận cán bộ đảng viên, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang và một bộ phận nhân dân ở miền Nam xuất hiện tâm trạng băn khoăn, lo lắng, thậm chí hoang mang... Trên thực tế, đã có một số người rời làng đi nơi khác để tránh sự đánh phá của quân Mỹ, đặc biệt những nơi có các căn cứ quân sự Mỹ.


Tình hình trên đây đặt ra cho các cấp ủy Đảng ở địa phương miền Nam một vấn đề nóng bỏng phải giải quyết: Làm thế nào để quân và dân từng địa phương bám trụ tại chỗ, đánh Mỹ, diệt quân đội Sài Gòn ngay tại mảnh đất quê hương? Riêng đối với lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở chiến trường, mối quan tâm hàng đầu giờ đây là phải tìm ra cách thức, biện pháp để trong điều kiện quân Mỹ chiếm ưu thế về quân số, vũ khí trang bị, hoả lực, sức cơ động, vẫn có thể trụ bám và đánh địch ngay tại mảnh đất quê hương vẫn tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công, không cho địch phân vùng, phân tuyến - một cố gắng thường trực của quân Mỹ hòng phát huy được ưu thế của họ là hoả lực, sức cơ động, quân số đông... Nói cách khác, trong điều kiện quân Mỹ có trang bị, vũ khí hiện đại, sức cơ động nhanh, hỏa lực nhiều và mạnh, nếu chỉ dùng phương thức tác chiến như trong thời kỳ "chiến tranh đặc biệt" thì khó thắng được quân Mỹ. Phải tìm cách bao vây và tiến công, hạn chế những mặt mạnh cơ bản của đối phương, đánh đối phương từ nơi xuất phát, đánh gần. Muốn vậy, phải tạo nên một vành đai xung quanh căn cứ Mỹ, trong đó xây dựng một lực lượng mạnh đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bám trụ và phải lấy tiến công tiêu diệt đối phương làm phương thức chủ yếu để tồn tại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:13:10 pm »

Sau cả một quá trình nỗ lực suy nghĩ, tìm tòi, chọn lựa các giải pháp khả dĩ, đến những tháng của nửa đầu năm 1965, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 đã thống nhất chủ trương phải bắt tay tổ chức lại lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn toàn Khu, mà trước hết là ở những địa phương có các căn cứ quân sự Mỹ, đảm bảo cho lực lượng vũ trang và nhân dân có điều kiện bám trụ để tiến công quân Mỹ ngay tại căn cứ xuất phát hành quân, nghĩa là đánh gần, đánh quần lộn với quân Mỹ, kiên quyết giữ vững quyền làm chủ quê hương, làng xóm của mình, cần mở ngoặc để nói ngay ở đây rằng, trước đó, nghĩa là trong những năm đương đầu với "chiến tranh đặc biệt", quân dân các địa phương miền Nam đã xây dựng, củng cố được và ngày càng mở rộng hệ thống các làng xã chiến đấu, thôn ấp chiến đấu. Tại đó, lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị của cách mạng không ngừng lớn mạnh, thực hành các hình thức đấu tranh, các phương thức tác chiến linh hoạt, biến hoá, hiệu quả. Thế cho nên, sau khi có chủ trương trên đây của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5, các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo quân dân các địa phương có căn cứ quân sự Mỹ bắt tay tổ chức các làng xã, thôn ấp chiến đấu thành "vành đai" bao vây, áp sát, vây hãm những căn cứ quân sự đó.


Theo tư tưởng tiêu diệt đối phương để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt, các cấp ủy Đảng địa phương đã kịp thời lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang bám trụ bằng cách trên cơ sở những làng xã chiến đấu đã có, phát triển, xây dựng thành những "vành đai diệt Mỹ"1 (Thoạt đầu, khi mới hình thành, được gọi là "Vành đai du kích diệt Mỹ"). Đó là hệ thống những thôn, xã chiến đấu áp sát, bao vây quanh các căn cứ quân sự Mỹ, được tổ chức thành thế trận vây hãm và tiến công đối phương ngay tại căn cứ chỉ huy và xuất phát hành quân của đối phương.


"Vành đai diệt Mỹ" xuất hiện là sự kế tục và phát triển lên một trình độ mới những làng xã chiến đấu và phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân địa phương đã từng tồn tại và chiến thắng trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây cũng như trong "chiến tranh đặc biệt" vừa qua. Hình thức "toàn dân đánh giặc" này ra đời cho phép lực lượng vũ trang và nhân dân các xã xung quanh căn cứ Mỹ trụ bám vững chắc trên quê hương, vừa sản xuất, vừa chiến đấu và đấu tranh trực diện với kẻ thù bằng cả tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và thực hành binh vận. Trên một thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, rộng khắp, quân và dân các xã vành đai đã thực hiện chủ động tiến công đối phương kết hợp với phòng giữ vững chắc, tiêu hao, tiêu diệt đối phương để giữ vững quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt đối phương đạt hiệu quả ngày càng cao.


Ngay sau khi thành lập, quân dân Vành đai Chu Lai đã dựa vào thế trận được xây dựng, chiến đấu tiêu diệt một đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ vào sáng 28 tháng 5 năm 1965. Được sự hỗ trợ của đòn quân sự, nhân dân các xã đã nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng hoàn toàn hai xã Kỳ Xuân, An Xuân và năm thôn của Kỳ Hòa, Kỳ Khương với số dân 13.000 người, ở Vành đai Rạch Kiến (Long An) sau ba tháng kể từ khi thành lập, quân dân 12 xã vành đai đã tiêu diệt hơn 1.000 lính Mỹ, đánh thiệt hại một tiêu đoàn quân đội Sài Gòn, phá hỏng 20 xe quân sự, bắn cháy 20 máy bay, giữ vững các thôn xã giải phóng. Trải qua 2.250 ngày đêm chiến đấu (1965-1972), quân dân Vành đai Trảng Lớn (Tây Ninh) đã đánh 3.825 trận, tiêu diệt hàng nghìn quân Mỹ, quân đội Sài Gòn, bắn hỏng, bắn cháy hàng trăm xe quân sự và tàu xuồng chiến đấu trên sông, trừng trị nhiều "cán bộ bình định" và ác ôn, bảo vệ vững chắc quyền làm chủ địa phương. Trên thực tế "Vành đai diệt Mỹ" là một hình thức đánh địch của toàn dân, thực hiện làm chủ và tiến công, tiêu hao, tiêu diệt địch rất rộng lớn, xây dựng, phát triển lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng.


Vào miền Nam, Mỹ quyết giành thế chủ động, "đánh gãy xương sống Việt cộng" bằng các cuộc hành quân "tìm diệt". Nhưng, từ đầu và suốt thời gian tham chiến trên chiến trường miền Nam, quân Mỹ chẳng những không giành lại được thế chủ động chiến trường, không diệt được chủ lực, mà còn bị quân và dân miền Nam Việt Nam tiến công liên tục ngay tại căn cứ của đối phương, buộc đối phương phải thường xuyên đối phó bị động, phải xé lẻ lực lượng phòng giữ căn cứ, điều mà quân đội Mỹ tối kỵ. Hệ thống "Vành đai diệt Mỹ" ở miền Nam đã góp phần quan trọng vào việc đẩy quân đội Mỹ bị hãm vào tình thế đó. Dựa vào công sự, trận địa và giao thông hào chiến đấu, lực lượng vành đai đã thực hành vây hãm căn cứ Mỹ, sử dụng các tổ, đội đặc công, trinh sát, các đội pháo, súng cối chuyên trách, các tổ bắn tỉa, các tổ, đội nữ pháo binh liên tục tiến công, tiêu hao binh lực đối phương. Nếu đối phương nống ra ngoài càn quét thì bị hệ thống các bãi chông, mìn, bẫy, bố trí xung quành vành đai sát thương. Sự tồn tại của các vành đai diệt Mỹ đã trở thành áp lực đe dọa ngày càng tăng, uy hiếp nặng nề các căn cứ quân sự Mỹ, khiến đối phương thường xuyên căng thẳng, luôn luôn nơm nớp lo sợ, bị động đối phó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:14:52 pm »

Quân Mỹ phải sử dụng một bộ phận lực lượng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét nống ra xung quanh nhằm tạo lập và nới rộng vành đai trắng an toàn cho căn cứ. Trong các cuộc hành quân đó, bao giờ đối phương cũng chiếm ưu thế về binh lực tập trung và hỏa lực yểm trợ. Nhưng, lực lượng vũ trang và nhân dân các xã vành đai đã dựa vào thế trận được chuẩn bị, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, liên tục tiến công vào chính diện, bên sườn và sau lưng quân Mỹ; buộc đối phương phải đánh theo cách đánh của Quân giải phóng, hạn chế tối đa những mặt mạnh vốn có của đối phương. "Hậu phương" của quân đội Mỹ luôn luôn bị đe dọa, bị tiến công, khiến phải thường xuyên sử dụng ít nhất là 1/3 lực lượng để bảo vệ căn cứ, không tập trung được lực lượng vào các cuộc hành quân "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng. Ví như, lính thủy đánh bộ Mỹ là một trong những binh chủng mạnh nhất của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sau khi vào miền Nam đã "phải tập trung cố gắng vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài, Đà Nẵng"1 (S. L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam, Nxb Presido Press, 1986, Minh Bảo lược dịch, đăng trong Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 8-1987). Cuộc chiến đấu của nhân dân vành đai, bởi thế, đã kìm giữ, giam chân một bộ phận lực lượng cơ động quân Mỹ, góp phần cùng với quân và dân ở các nơi khác trên khắp chiến trường buộc đối phương phải phân tán, dàn mỏng lực lương bộc lộ sơ hở, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực Quân giải phóng tập trung được ưu thế binh, hỏa lực trên hướng chính chiến dịch và trong những trận then chốt, tiêu diệt từng bộ phận quan trọng, đập tan các cuộc hành quân lớn của đối phương.


Ở "Vành đai diệt Mỹ", ngoài lực lượng các xã vành đai, các xã, huyện kế cận đã luân phiên đưa du kích, bộ đội địa phương đến hoạt động tác chiến trong từng thời gian, vừa để chi viện cho vành đai, vừa rút kinh nghiệm chuẩn bị sẵn sàng đánh Mỹ khi đối phương đến. Đồng thời, bộ đội chủ lực cơ động của Quân giải phóng dựa vào "Vành đai diệt Mỹ" mở những trận tiến công bằng bộ binh, pháo binh, đặc công vào căn cứ Mỹ. Nhờ có "Vành đai diệt Mỹ" mà lực lượng vũ trang giải phóng đã thực hiện được hàng nghìn trận đánh sâu vào căn cứ đối phương, trong đó trận tiến công vào căn cứ Đồng Dù (26-7-1966), căn cứ Biên Hòa (28-10-1966), căn cứ An Khê và sân bay Plei Ku (29-2 và 24-4-1966), căn cứ Chu Lai (20-2 và 3-3-1966), sân bay Đà Nẵng (24-1-1966)... đã gây cho đối phương tổn thất nặng nề. Chỉ 10 tháng đầu của năm 1967, tại các sân bay Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Plei Ku, Nha Trang, pháo binh và đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam đã phá hủy, phá hỏng 476 máy bay các loại của Mỹ - chiếm 84% tổng số máy bay Mỹ do quân dân Khu 5 diệt và bằng 24,3% tổng số máy bay các loại của Mỹ trên địa bàn Khu 51 (Quân khu 5, Thắng lợi và bài học trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1981, tr.94). Riêng căn cứ Đà Nẵng, số máy bay Mỹ bị thiệt hại trị giá 75 triệu USD2 (James S. Olson, Dictionnary of Vietnam War, Green Wood Press, Westport, 1988, p.276, 109), còn nếu chỉ kể các trận tiến công vào sân bay Đà Nẵng trong tháng 4 năm 1969 thì đã tiêu hủy 38.000 tấn bom đạn và 20.000 thùng dầu, đánh đòn nặng vào các kho tồn trữ hành quân của Mỹ. Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1 Mỹ làm nhiệm vụ bảo vệ các cửa ngõ vào căn cứ Đà Nẵng đã phải "chiến đấu ác liệt... để đẩy đối phương khỏi vành đai có thể đặt tên lửa bắn vào Đà Nẵng. Chỉ sau một thời gian ngắn, việc liên tục tuần tra các cánh đồng và làng mạc đầy mìn, bẫy đã gây cho quân Mỹ nhiều tổn thất"1 (Shelby L. Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Sdd.184). Một số tác giả Mỹ sau này nhận xét, ở miền Nam, Cộng sản vô hiệu hoá một phần không lực Mỹ bằng đặc công, bằng việc sử dụng đường hầm vào ban đêm và bằng cách buộc kẻ thù dùng nhiều máy bay để bảo vệ căn cứ. Còn như, việc quân Mỹ thường xuyên sử dụng pháo binh giội đạn ra các khu vực xung quanh thì, "các lực lượng cách mạng đối phó với trọng pháo bằng cách đánh vào các căn cứ cố định hoặc dã chiến"2 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.203, 204) của Mỹ. Tài liệu thống kê của Lầu Năm Góc nhận xét rằng: Vào năm 1969, có nhiều cuộc tiến công của đặc công đối phương vào các căn cứ Mỹ, "mỗi cuộc gây ít nhất một triệu USD thiệt hại"3 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.203, 204). Rõ ràng "Vành đai diệt Mỹ" tồn tại, phát triển không những tạo nên thế trận vây hãm đối phương mà còn là bàn đạp tiến công lợi hại để bộ đội chủ lực đánh sâu vào các căn cứ của đối phương, là nơi rèn luyện tinh thần và cách đánh cho lực lượng du kích, bộ đội địa phương các nơi khác.


Để có những "Vành đai diệt Mỹ" vừa chủ động tiến công đối phương liên tục, vừa phòng giữ kiên cường, bảo tồn và phát triển được lực lượng Quân giải phóng, đồng bào và chiến sĩ các xã quanh căn cứ Mỹ đã phải vượt qua những thử thách gay go, ác liệt, trụ bám địa bàn, thắng đối phương từng bước mới xây dựng được. Do đó, thế trận chiến tranh nhân dân theo kiểu "Vành đai", thực ra, không phải là một tập hợp đơn giản các làng xã, thôn ấp chiến đấu sẵn có, mà là sự gắn bó chặt chẽ trên các phương diện liên quan (như hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy; hệ thống công sự, trận địa; phối hợp giữa các lực lượng, công tác đảm bảo hậu cần, thông tin liên lạc...) đủ để tạo nên sức mạnh và tính bền vững của thế trận này. Một cách tổng quát, có thể hình dung rằng, toàn bộ làng xã, thôn ấp chiến đấu giò đây được tổ chức lại để thành một hệ thống gắn bó, theo một chủ trương thống nhất và thống nhất về tổ chức chỉ huy giữa các lực lượng, các đơn vị bộ đội, xây dựng lực lượng và hệ thống công sự, trận địa thành một thế trận liên hoàn vững chắc. Toàn bộ lực lượng trực tiếp tác chiến thường xuyên của vành đai và lực lượng cơ động của khu, tỉnh, huyện... đều hoạt động theo phương án hiệp đồng tác chiến thống nhất, hỗ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh tống hợp của chiến tranh nhân dân trên vành đai. Cùng với những hoạt động của các tổ săn cơ giới, bắn máy bay, các tổ đội bắn tỉa, pháo, súng cối được tổ chức gọn nhẹ, cơ động linh hoạt, kìm giữ, đánh tiêu hao, sát thương đối phương, gây cho đối phương căng thẳng thường xuyên, là những đòn đánh tiêu diệt quy mô vừa của bộ đội chủ lực, nhằm tiêu diệt từng bộ phận lực lượng quan trọng của quân Mỹ, tạo nên những rung động mạnh trong căn cứ đầu não của đối phương.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2026, 09:16:02 pm »

Trong điều kiện lực lượng chiến đấu gồm nhiều thành phần, thường xuyên đối diện trực tiếp với quân Mỹ tình huống diễn biến phức tạp..., vành đai tổ chức Ban chỉ huy chung gồm chỉ huy trưởng, chính trị viên và các chỉ huy phó do Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo và Ban chỉ huy quân sự tỉnh chỉ huy. Nhiệm vụ của ban chỉ huy chung là tổ chức các hoạt động quân sự, chính trị và binh vận trên toàn tuyến vành đai phù hợp với ý định của cấp trên và tình hình, nhiệm vụ, khả năng của địa phương. Vành đai lại được tổ chức thành hai hoặc nhiều tuyến chiến đấu. Một số vành đai như Trảng Lớn, Bình Đức... được phân thành các cụm hoặc các mặt trận. Mỗi cụm, mỗi mặt trận lại được phân thành các tuyến.


Tuyến một, bao gồm những thôn, xã trực tiếp tiếp xúc với căn cứ Mỹ, xây dựng cho được một hệ thống công sự, hào giao thông kiên cố, bí mật, bất ngờ bảo đảm phát huy được mọi loại hỏa lực và cách đánh, đồng thời che giấu được lực lượng giải phóng và do một bộ phận lực lượng nhỏ chiếm giữ. Thường là những tổ trinh sát, bắn tỉa, tổ đặc công, tổ du kích... Do đó, phổ biến ở tuyến một là công sự bắn tỉa, hầm chông, bãi mìn, lựu đạn gài và các loại bẫy.


Tuyến hai là những thôn, xã chiến đấu bao quanh tuyến một. Lực lượng cơ bản của vành đai thường bố trí ở tuyến hai. Ở tuyến này, quân và dân vành đai đã xây dựng hệ thống công sự, trận địa vững chắc đánh bộ binh, xe tăng, xe bọc thép và máy bay; các hầm trú ẩn liên kết với những hào giao thông ngang dọc, từ xã này qua xã khác thành thế trận liên hoàn. Nhờ đó, trong chiến đấu, các lực lượng tham gia tác chiến trên vành đai có thể cơ động nhanh, bí mật, kịp thời chi viện cho nhau trong những tình huống gay cấn, đồng thời phân tán nhanh lực lượng, hình thành các mũi bất ngờ tiến công vào sườn hoặc sau lưng đối phương. Các vành đai còn có hệ thống địa đạo kiên cố. Trên những trục đường và những hướng đối phương có thể đột nhập bất ngờ (đặc biệt vào thời kỳ đầu, khi đối phương dùng chiến thuật phân đội nhỏ thọc sâu) quân và dân vành đai còn bố trí hầm chông, bãi mìn, các loại bẫy, dựng chướng ngại vật, đào các hào sâu để ngăn xe cơ giới.


Thông thường, ngoài tuyến một và tuyến hai, các vành đai còn tổ chức tuyến trung gian nhằm tăng thêm chiều sâu của thế trận. Khắp vành đai, ở nơi công cộng và trong mỗi gia đình, ngoài các loại hầm chiến đấu, hầm trú ẩn và hầm cất giấu tài sản, gia súc..., là một hệ thống hầm bí mât được xây dựng công phu, luôn luôn cải tiến về kỹ thuật và dời chuyển vị trí. Đây là loại công sự nhằm che giấu và bảo tồn lực lượng, thực hiện "ba bám" (bám đất, bám dân, bám đánh đối phương), bảo đảm thế chủ động, liên tục tiến công, ở Vành đai An Khê, nhiều hầm bí mật có thể chứa khoảng 70, 80 người, có thể che giấu được một lực lượng cỡ trung đội, đại đội.


Tuy nhiên, không phải "Vành đai diệt Mỹ" nào cũng bố trí lực lượng và có cấu trúc giống nhau. Tùy điều kiện, nhiệm vụ, khả năng, địa hình, quân và dân vành đai đã sáng tạo trong cách bố trí và xây dựng hệ thống công sự, trận địa, không ngừng cải tiến và hoàn thiện nó. Trước một đội quân có hỏa lực mạnh, cơ động nhanh, có thể đánh từ xa và lắm thủ đoạn..., quân và dân các xã vành đai không chỉ dựa vào công sự, trận địa để thắng đối phương mà còn phải xây dựng cho mình một lập trường chính trị kiên định, vững vàng trước mọi thử thách, một ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc ngoại xâm, một lòng yêu quê hương, đất nưâc. Đó là sức mạnh to lớn của nhân dân vành đai - một nhân dân thủy chung với cách mạng, có giác ngộ chính trị cao, được tổ chức chặt chẽ, có nghệ thuật đánh giặc tài giỏi.


Ngay sau ngày xuất hiện các "vành đai diệt Mỹ" ở Chu Lai, Đà Nẵng, An Khê thuộc địa bàn Khu 5, hình thức tổ chức thế trận này cũng như cách thức xây dựng điều hành hoạt động của các lực lượng chiến đấu, công tác trên trận tuyến "vành đai" nhanh chóng được các địa phương miền Nam, nơi có căn cứ quân sự Mỹ, vận dụng sáng tạo tuỳ theo điều kiện địa hình cụ thể và tình hình thực tế của mỗi nơi. Dựa trên thế trận lợi hại đó, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, các đơn vị vũ trang "vành đai" đã mở một số trận chiến đấu nhằm vào quân Mỹ và giành thắng lợi ở Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bàu Bàng, Pleime... Đây là những chiến công đầu của quân và dân các địa phương miền Nam trên các địa bàn trọng yếu khác nhau ở Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ..., mà ý nghĩa của nó, xét trong bối cảnh cuộc chiến lúc bấy giờ, vượt quá khuôn khổ của một trận đánh, một chiến dịch quân sự bình thường. Nó giáng đòn phủ đầu vào quân Mỹ, hạ uy thế của lực lượng thủy quân lục chiến và một số sư đoàn, lữ đoàn "khét tiếng" Mỹ như Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn bộ binh 1 "Anh cả đỏ", Sư đoàn kỵ binh không vận số 1... khi các đơn vị này vừa đổ quân vào miền Nam.


Nhưng quan trọng hơn, tự bản thân các hoạt động quân sự nói trên cũng như kết quả của nó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của nhân dân, của lực lượng vũ trang Việt Nam và báo hiệu khả năng quân và dân Việt Nam có thể đương đầu, có thể đánh bại quân đội Mỹ về quân sự ngay trên chiến trường miền Nam. Quả nhiên, từ nửa cuối của năm 1965, ở nhiều địa phương miền Nam đã dấy lên phong trào "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt". Tiếp đó, trong lực lượng vũ trang, xuất hiện nhiều gương điển hình "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt cơ giới Mỹ"... Rồi, "vành đai" còn là địa bàn cho lực lượng vũ trang từ các địa phương khác tới hoạt động nhằm rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, rút kinh nghiệm đặng chuẩn bị một cách tích cực, chủ động cho việc đón đánh quân Mỹ ngay trên chính địa phương mình. Nhưng quan trọng hơn, những trận chiến đấu đánh Mỹ trên Mặt trận "vành đai" nhằm tìm hiểu sự ứng phó của quân Mỹ cũng như khả năng thực tế của quân dân Việt Nam là một trong số những nhân tố quan trọng để Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đi đến nhận định rằng: "Ngày nay, mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và đich vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt, nhưng nhăn dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Sđd, tr. 633). Vì thế, tại Hội nghị này, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh của cả nước, kiên quyết kìm chân và đánh bại quân Mỹ ngay trên chiến trường Nam Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #56 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 09:57:04 pm »

Theo thời gian, cùng với sự gia tăng lực lượng quân sự Mỹ và đồng minh là việc xuất hiện ngày càng nhiều căn cứ quân sự Mỹ trên chiến trường miền Nam. Những căn cứ quân sự đó chủ yếu được bố trí trên các địa bàn trọng yếu, các đô thị, các khu vực không chế trục lộ giao thông huyết mạch, đặc biệt tập trung ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5, Trị - Thiên. Và như thực tế lịch sử đã chứng tỏ, chỉ một thời gian sau đó, xung quanh các căn cứ quân sự Mỹ, thế trận chiến tranh nhân dân được tổ chức lại - mức cao là các "vành đai diệt Mỹ", mức thấp là sự xuất hiện các làng xã chiến đấu mới bên cạnh những làng xã chiến đấu đã có từ trước đó. Ngoài ra, bao quanh, áp sát các căn cứ quân sự, các vùng ven đô thị - thậm chí lồng xen giữa vùng địch kiểm soát, là những vùng lõm - bao gồm lõm chiến đấu, lõm chính trị. Dựa vào thế trận đó của chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang tại các "vành đai", tại các làng xã chiến đấu, tại các căn cứ lõm, bằng mọi vũ khí, với nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt đã tổ chức các trận đánh sâu, đánh hiểm, đồng thời thường xuyên duy trì các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tạo nên áp lực uy hiếp ngày càng mạnh toàn bộ hệ thống căn cứ. Theo cuốn Từ điển chiến tranh Việt Nam của tác giả James S. Olson, có tới 90% số thương vong của lính thủy đánh bộ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng là do mìn chông, súng bắn tỉa của đối phương1 (James S. Olson, Dictionnary of Vietnam War, Sdd, p.276, 109).


Trước áp lực ngày càng tăng của "vành đai", phía Mỹ đã buộc phải đầu tư nhiều công sức, lực lượng, tiền của và thời gian vào việc đảm bảo an toàn cho các căn cứ quân sự trải khắp miền Nam bằng việc tập trung một bộ phận lớn binh lực, vũ khí và phương tiện chiến tranh vào nhiệm vụ phòng giữ căn cứ. Như nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko (G. Côncô) nhận xét, vào đầu năm 1966, "khoảng một nửa lực lượng trên bộ của Mỹ là để bảo vệ các khu căn cứ và đến cụôi năm đó thì tỷ lệ trên là 40% - khi quân số Mỹ tại miền Nam lên tới 485.000 quân"2 (2. G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr.190). Cụ thể hơn, Shelby L. Stanton - tác giả cuốn Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam năm 1965-1973 cho biết, trong năm 1966, "toàn bộ nỗ lực của các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ chủ yếu dồn vào việc phòng thủ ba căn cứ Chu Lai, Phú Bài - ngoại ô Huế, Đà Nẵng thuộc vùng một chiến thuật3 (Shelby L.Stanton, Sự thăng trầm của đạo quân đánh bộ Hoa Kỳ ở Việt Nam (1965-1973), Tldd). Nhiều tác giả Mỹ sau này nhận xét, việc Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) buộc phải tập trung một bộ phận lực lượng chiến đấu làm nhiệm vụ phòng giữ căn cứ là một điều rất mỉa mai. Điều rất mỉa mai này là ở chỗ: Trong khi chiến lược quân sự Mỹ tại Nam Việt Nam là "tìm và diệt" chủ lực đối phương thì với cách thức tiến hành chiến tranh nặng về sử dụng hoả lực của quân Mỹ, Mỹ lại buộc phải - ngay từ đầu, tự cố định ở tư thế tĩnh tại. Rồi đó, cùng với sự xuất hiện các "vành đai" và trước sức tiến công của chiến tranh nhân dân Việt Nam, tư thế này của quân Mỹ chẳng những không khắc phục được mà ngược lại, "Mỹ luôn phải tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam trên thế phòng thủ chiến lược"1 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr. 191, 193). Điều đó giải thích vì sao, suốt những năm theo đuổi cuộc "Chiến tranh cục bộ", MACV luôn hối thúc giới lãnh đạo Washington tăng quân vào miền Nam. Hẳn rằng, góp phần tạo nên thế lưỡng nan này của quân Mỹ có vai trò và vị trí quan trọng của các "vành đai". Nhìn lại những năm tháng ấy, người ta thấy được rằng: "Số quân Mỹ và Việt Nam cộng hoà lại chiếm ưu thế so với lực lượng cách mạng kể từ sau năm 1965 và đến năm 1967 thì tỷ lệ đó là 4,7 trên 1. Trong cùng năm, vì cách mạng ghìm Mỹ và đồng minh Mỹ trong những vị trí tĩnh tại, cho nên cách mạng vượt họ về số quân chiến đấu giành cho các cuộc hành quân tiến công2 (G.Côncô, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Sđd, tr. 191, 193). Tất thảy điều đó cũng đủ nói lên rằng, cuộc chiến đấu của lực lượng "vành đai" đã kìm giữ, giam chân một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động quân Mỹ, góp phần cùng quân dân toàn miền buộc đối phương phải phân tán, dàn mỏng lực lượng, bộc lộ sơ hơ, tạo điều kiện cho chủ lực Quân giải phóng tập trung ưu thế binh lực, hoả lực mở các cuộc tiến công trên các hướng chiến trường và giành thắng lợi trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967.


Ngay khi chiến lược "chiến tranh cục bộ" đang diễn ra ác liệt trên chiến trường Việt Nam, bên kia bờ Thái Bình Dương, những người viết Tài liệu mật Lầu Năm Góc đã nhận xét khá xác đáng rằng: "Ý nghĩa cơ bản nêu rõ trong chiến lược "tìm và diệt"1 là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của đối phương, làm cho đối phương không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên mặt đất... và giáng cho đổi phương những đòn thật nặng nề"1 (Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, tập 2, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành năm 1971, tr. 137). Thế nhưng, thực tế lịch sử cho thấy, trải qua hai mùa phản công chiến lược, bằng việc tung toàn bộ lực lượng quân sự gồm quân Mỹ và quân đội Sài Gòn hiện có trong tay song Bộ chỉ huy quân sự Mỹ chẳng những đã không sao thực hiện được mục tiêu chiến lược trên đây mà ngược lại, còn bị tổn thất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, quân Mỹ bị vây hãm trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đó là thế trận xen cài giữa các vùng của hai bên kiểm soát, bao gồm vùng căn cứ, vùng giải phóng liên hoàn, vùng làm chủ, hệ thống các làng xã chiến đấu được tổ chức thành "Vành đai diệt Mỹ" bao vây, áp sát và thường xuyên uy hiếp các căn cứ quân sự Mỹ cũng như các trục lộ giao thông huyết mạch trên khắp chiến trường. Trên thế trận đó, quân dân Việt Nam thực hành chiến lược tiến công rộng khắp, liên tục, ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự và chính trị; bằng nhiều hình thức và với mọi thứ vũ khí sẵn có trong tay, kể cả việc tiến công sâu và hiểm vào các căn cứ xuất phát hành quân, các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của quân Mỹ trên khắp chiến trường. Đấy rõ ràng đã là một trong số những nhân tố quan trọng để Bộ Thống soái Việt Nam hạ quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Trên thực tế, các "vành đai diệt Mỹ" chẳng những góp phần ghìm chân một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, tạo điều kiện cho quá trình chuẩn bị Tết Mậu Thân diễn ra tuyệt đối bí mật cho dù hàng bao sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực Quân giải phóng rời căn cứ, qua bao làng mạc, xóm thôn để áp sát các vùng ven đô trên toàn miền... mà đấy còn là địa bàn tập kết lực lượng quân sự, chính trị, là bàn đạp xuất phát tiến công của quân và dân miền Nam trong dịp Têt Mậu Thân - cuộc tiến công xuất thần mà hiệu quả chiến lược của nó, xét trên nhiều chiều cạnh, đã giáng đòn quyết định vào ý chí tiến hành chiến tranh của Mỹ, buộc Mỹ dù còn rất ngoan cố và hiếu chiến, vẫn phải đơn phương xuống thang, rút dần quân Mỹ ra khỏi cuộc chiến Việt Nam, trút gánh nặng chiến tranh xuống vai chính quyền và quân đội Sài Gòn - một đội quân vốn đã bại trận trong những năm "chiến tranh đặc biệt" 1961-1965 và ngày càng phụ thuộc nặng nề vào sự có mặt của quân đội Mỹ cũng như các đồng minh của Mỹ. Cho dù sau đó, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn ác liệt thêm 5 năm nữa và phải 7 năm sau mới kết thúc với thắng lợi thuộc về quân và dân miền Nam Việt Nam nhưng rõ ràng, về mặt chiến lược, Mỹ đã thua trận kể từ mùa Xuân 1968. Trong chiến công chung của cả dân tộc có sự đóng góp của quân và dân trên Mặt trận "Vành đai" - một mặt trận mà ở đó, suốt bao năm ròng chiến tranh, sức mạnh của lòng yêu quê hương, đất nước, chí căm thù giặc sâu sắc được quân và dân các địa phương "vành đai", dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, phát huy cao độ, bảo đảm cho "vành đai" chẳng những ngang nhiên tồn tại sát với toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự Mỹ mà còn trụ vững và phát huy ngày càng đầy đủ vai trò, tác dụng của nó trước mọi sự đánh phá dữ dội của kẻ thù.


Trong đạn bom ác liệt của kẻ thù, "Vành đai diệt Mỹ" miền Nam đã đứng vững và chiến thắng. Đó là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam; thể hiện sự vận dụng linh hoạt quan điểm "toàn dân đánh giặc", tư tưởng chiến lược tiến công và làm chủ của quân và dân miền Nam trong cuộc đương đầu lịch sử với đội quân mạnh nhất, hiện đại nhất. "Vành đai diệt Mỹ" thực sự là một phát triển mới và làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #57 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:00:17 pm »

II- VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM

1- Sự ra đời, hoạt động và đóng góp của Mặt trận Dàn tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết (7-1954), Đảng Lao động Việt Nam chủ trương "thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc...). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.274). Tuy nhiên, đến giữa năm 1956, Việt Nam Cộng hòa đã từ chối Tổng tuyển cử, tiến hành nhiều biện pháp chống cộng quyết liệt. Lúc này, khả năng thực hiện các điều khoản chính trị của Hiệp định Geneva hầu như không còn tồn tại, cách mạng miền Nam rơi vào tình thế hết sức khó khăn, yêu cầu chuyển hướng đấu tranh đặt ra cấp thiết - thời điểm này hết sức cần những quyết sách đúng đắn, kịp thời.


Trước những đòi hỏi của tình hình, tháng 6-1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam họp và ra Nghị quyết "Về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam", nêu rõ cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm cho miền Nam, Mặt trận đó phải "đoàn kết bất cử người nào đoàn kết được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập được".


Trên cơ sở thực tiễn cách mạng miền Nam, tháng 8-1956, Ủy viên Bộ Chính trị Lê Duẩn soạn thảo "Đường lối cách mạng miền Nam", xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Mỹ - Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dận chủ có tính chất dân tộc độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc, phong kiến, độc tài, phát xít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc"2 (). Thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, Đương lối cách mạng miền Nam khẳng định cần thiết phải xây dựng một mặt trận dân tộc có tính giai cấp rõ ràng, đồng thời phải bao hàm các lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết, tránh "tả khuynh" cô độc, hẹp hòi, nhằm tập hợp mọi lực lượng để chống kẻ thù chung - đây là "một nhiệm vụ rất quan trọng (của Đảng ta hiện nay - TG) đề chiến thắng quân thù"3 ().


Trong khi đó, chính sách chống cộng của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã khiến cách mạng miền Nam chịu nhiều tổn thất. Đến năm 1959, nhiều xã không còn chi bộ, cả Nam Bộ chỉ còn 5.000 đảng viên; ở đồng bằng Liên khu 5, có 70% chi ủy viên, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên bị địch bắt, giết; 12 huyện không còn cơ sở đảng; có tỉnh chỉ còn một chi bộ Đảng. Đến năm 1959, ở miền Nam có gần nửa triệu người bị bắt, bị tù đày và gần 7 vạn người bị giết hại. Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Trước tình hình đó, đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (khoá II) của Đảng Lao động Việt Nam được tổ chức (1-1959) và ra nghị quyết lịch sử, phân tích sâu sắc thái độ của các giai cấp, tầng lớp (công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ), các dân tộc thiểu số, các tín đồ tôn giáo, binh lính trong quân đội miền Nam. Trên cơ sở đó, Nghị quyết chỉ ra khả năng tập hợp ngày càng đông đảo các lực lượng yêu nước, dân chủ ở miền Nam trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông, do Đảng lãnh đạo, nhằm cô lập đến cao độ và đánh đổ chế độ Ngô Đình Diệm.


Xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là "đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 81-82, 88), Hội nghị Trung ương 15 chủ trương thành lập một mặt trận riêng cho miền Nam. Mặt trận đó "phải rất rộng rãi, phải đoàn kết tất cả các dân tộc đa số và thiểu số, các đảng phái, các tôn giáo và những cá nhân yêu nước, đoàn kết với ngoại kiều, đặc biệt là Hoa kiều; không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, điều cốt yếu là chống Mỹ - Diệm, tán thành tự do dân chủ, cải thiện dân sinh và hoà bình thống nhất Việt Nam"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 81-82, 88).


Nghị quyết 15 như mồi lửa ném vào đống củi khô, làm bùng phát một phong trào đấu tranh mạnh mẽ và rộng khắp miền Nam - phong trào "Đồng khởi" làm xoay chuyển tình hình và mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên. "Đồng khởi" đã đánh một đòn quyết định vào chiến lược Eisenhower, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bước ngoặt của cách mạng miền Nam đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng có đường lối đấu tranh phù hợp với đặc điểm tình hình miền Nam, có khả năng đứng ra động viên, tổ chức toàn thể nhân dân đoàn kết lại đặng hoàn thành công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.


Nhấn mạnh lại và làm rõ thêm nhiều điểm trong nội dung Nghị quyết Trung ương 15, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) khẳng định: Quá trình thực hiện nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là quá trình tập hợp, đoàn kết, tổ chức và phát triển các lực lượng đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, nhấn mạnh một lần nữa nhiệm vụ "thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập. lập 21. Sđd, tr. 920) ở miền Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #58 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:01:48 pm »

Thực hiện Nghị quyết 15 và Nghị quyết Đại hội lần thứ ba Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và các đảng phái đã họp Đại hội, quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Thông tấn xã Giải phóng và Đài phát thanh Giải phóng - cơ quan ngôn luận của Mặt trận ra đời, đã góp phần quan trọng trong việc giác ngộ, tập hợp lực lượng yêu nước ở miền Nam. Nhân sĩ, trí thức lần lượt rời Sài Gòn và các thành phố khác của miền Nam vào căn cứ, đi theo cách mạng.


Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (12-1960), chủ trương "đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị"1 (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr.7) trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Ủy ban Trung ương Mặt trận lâm thời của Mặt trận gồm nhiều nhân vật tiêu biểu, đứng đầu là Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát và Võ Chí Công. Mặt trận quyết định chọn cờ nửa xanh, nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm cờ của Mặt trận, chọn bài "Giải phóng miền Nam" của Huỳnh Minh Siêng làm bài ca chính thức của Mặt trận. Với Tuyên ngôn, Chương trình hành động 10 điểm, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức trở thành người đại diện cho nhân dân miền Nam, giương cao ngọn cờ đoàn kết, tiên phong trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ trên con đường đi tới độc lập, thống nhất. Với chủ trương hòa bình, hòa hợp dân tộc, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quy tụ nhiều tổ chức, đoàn thể, cá nhân yêu nước ở nông thôn, thành thị, rừng núi. Nhiều tổ chức chính trị, xã hội tự nguyện làm thành viên của Mặt trận như: Hội lao động giải phóng, Hội liên hiệp sinh viên, học sinh; Hội nhà giáo yêu nước; Hội phụ nữ giải phóng; Hội nhà báo yêu nước và dân chủ; Hội những người Công giáo kính Chúa, yêu nước; Hội Lục Hòa Phật tử miền Nam; Đảng xã hội cấp tiến trí thức yêu nước; Đảng dân chủ miền Nam của tư sản dân tộc...


Trước khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời, Mặt trận thực hiện chức năng nhà nước; Ủy ban Trung ương Mặt trận thực tế là Chính phủ cách mạng ở miền Nam, các ủy ban tỉnh, quận, xã... thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng giải phóng.


Từ khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam phát triển về quy mô khắp các vùng nông thôn đồng bằng, rừng núi và đô thị. Ở nhiều vùng của nông thôn Nam Bộ và rừng núi miền Nam Trung Bộ, nhân dân đã vùng lên phá thế kìm kẹp của địch, hình thành vùng giải phóng. Thực hiện Cương lĩnh và Chương trình hành động 10 điểm, lúc này, Mặt trận tồn tại, phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng, hoặc đại diện cho chính quyền cách mạng, đảm nhận chức năng của bộ máy chính quyền, có thêm trách nhiệm quản lý một vùng giải phóng rộng lớn. Xây dựng, phát triển vùng giải phóng trên mọi phương diện, hình thành chế độ tự quản của nhân dân trở thành một trong những nhiệm vụ đặc biệt và hàng đầu của Mặt trận.


Từ tháng 12-1960, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc sống mới nảy nở ở những vùng giải phóng, các cải cách dân chủ, trong đó có chính sách ruộng đất được thực hiện, khẩu hiệu "người cày có ruộng" trở thành hiện thực ở nhiều nơi. Nhận thức rõ rằng, xây dựng vùng giải phóng toàn diện về kinh tế, chính trị, quốc phòng là nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, lực lượng vững chắc chủ động đối phó với đối phương, chỉ có xây dựng được kinh tế phát triển thì mới đảm bảo được đời sống của nhân dân, mới có cơ sở để giải quyết hậu cần tại chỗ, có cơ sở vật chất để tổ chức vùng kinh tế lấn sâu vào vùng kinh tế địch, Mặt trận phát động phong trào tăng gia sản xuất, bảo vệ mùa màng, tăng cường chỉ đạo xây dựng cho được nền kinh tế vững mạnh thật sự ở vùng giải phóng. Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhân dân các vùng giải phóng đẩy mạnh tăng gia, sản xuất, thực hiện tự cung, tự cấp, cung ứng một phần nhu cầu về lương thực, thực phẩm; đồng thời, góp sức, góp phần nuôi quân đánh giặc. Mặt trận chủ trương trao đổi lưu thông hàng hoá giữa các vùng giải phóng với các vùng bị tạm chiếm, triệt để khai thác các nguồn vật chất trong dân, các loại vật tư thiết yếu từ các cơ sở của quần chúng yêu nước trong vùng địch kiểm soát. Trong vùng địch tạm chiến, tuỳ theo tình hình từng vùng, từng thời kỳ, Mặt trận triển khai phù hợp cuộc đấu tranh kinh tế với địch, hạn chế và phá các kế hoạch vơ vét lúa gạo; khai thác nhân, vật lực, làm thất bại âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của đối phương, coi đây là một mặt trận đấu tranh không kém phần quan trọng, đặc biệt là đối với những chiến trường trù phú như ở đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, từ năm 1965, miền Bắc đã gửi cán bộ thuộc nhiều lĩnh vực như tuyên giáo, giáo dục, y tế, văn hoá... vào miền Nam để hỗ trợ Mặt trận trong bảo vệ, xây dựng vùng giải phóng. Sự hỗ trợ này của miền Bắc cùng với những nỗ lực to lớn của Mặt trận đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt vùng giải phóng, cuộc sống ở đó đơm hoa, khởi sắc.


Trong thế xen cài giữa vùng giải phóng và vùng địch kiểm soát, cùng với Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ đạo mở rộng vùng giải phóng, bao gồm những cơ sở cách mạng, căn cứ, khu du kích, vùng căn cứ được xây dựng thành hậu phương tại chỗ của cách mạng miền Nam thành địa bàn triển khai các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị một cách hợp lý trên khắp các vùng chiến lược. Trong thế phát triển đi lên của cách mạng miền Nam, tư tưởng chỉ đạo chung ở các vùng giải phóng và trên chiến trường là phải "vừa tiến công, vừa xây dựng; tiến công để xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng; xây dựng để tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công quyết liệt với địch, giành thắng lợi lớn nhất". "Đoàn kết giết giặc và sản xuất" vừa là mục tiêu, vừa là phương châm hành động của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của nhân dân vùng giải phóng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #59 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:12:21 pm »

Phục vụ mục tiêu đánh thắng chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã công bố" bức thư tố" cáo chính sách xâm lược vũ trang của Mỹ, một lần nữa kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, các tổ chức, các khuynh hướng đoàn kết lại một cách rộng rãi để đánh bại bọn xâm lược Mỹ; đồng thời, để ra bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp1 (Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam; giải tán toàn bộ "ấp chiến lược"; thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc; thực hiện đường lối ngoại giao hoà bình, trung lập).


Hiện thực hóa bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp, ở vùng giải phóng, Mặt trận tập trung phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào chống phi pháo, chống gom dân, lập ấp... đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, xây dựng xã ấp chiến đấu, củng cố các tổ chức quần chúng phát huy vai trò làm chủ của nông dân ở vùng nông thôn; kiên quyết bảo vệ quyền lợi ruộng đất cho dân... Đối với vùng tranh chấp, Mặt trận phát động nông dân liên tục nổi dậy khởi nghĩa phá ấp chiến lược, diệt ác, phá kìm, giải phóng đến đâu chia ngay ruộng đất cho dân đến đó; xây dựng và củng cố xã ấp, các tổ chức chính trị như chi bộ Đảng, nông thôn, phụ nữ...


Thực hiện chủ trương "tìm mọi cách để tuyên truyền, giáo dục cho tất cả lực lượng vũ trang của địch hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ cấp bách của họ là phải cùng toàn dân tiến lên đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 167, 168) và chủ trương "tăng cường các tổ chức binh vận từ trên xuống cho đến xã. Phải dùng mọi mối liên hệ của gia đình binh lính, của các giới"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 167, 168), Mặt trận cùng Vụ Binh vận trực thuộc Ban Thống nhất Trung ương hình thành nhiều bộ phận chuyên trách như tuyên truyền, tổ chức đấu tranh, xây dựng quản lý nội tuyến, đội vận động sĩ quan... Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ban Binh vận tập trung vận động, thuyết phục và tổ chức cho nhân dân lợi dụng thế hợp pháp đấu tranh trực diện không cho địch dồn dân lập ấp, vận động gia đình binh sĩ giáo dục con em không thực hiện các hành động tội ác; đẩy mạnh xây dựng cơ sở nội tuyến trong lực lượng dân vệ, thanh niên, phá địch từ bên trong và làm nội ứng cho lực lượng từ bên ngoài đánh vào. Trên cơ sở Cương lĩnh, Mặt trận cho công bố các chính sách đối với tù binh, hàng binh, nghĩa binh, chính sách đối với đơn vị theo cách mạng, chính sách đối với những đơn vị ly khai chính quyền Ngô Đình Diệm. Mặt trận đẩy mạnh tuyên truyền về việc hoan nghênh, khen thưởng, giúp đỡ làm ăn, sắp xếp công tác cho cá nhân hoặc từng nhóm, từng đơn vị làm binh biến, nếu cả đơn vị tình nguyện theo cách mạng sẽ được giữ nguyên biên chế; đối với những đơn vị có khuynh hướng chính trị hòa bình, trung lập ly khai Diệm, nhưng chưa hoàn toàn tán thành Cương lĩnh Mặt trận, thì liên hiệp hành động, giúp đỡ với điều kiện cùng chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Bên cạnh đó, Mặt trận cũng chỉ đạo hướng dẫn các cấp, các địa phương, các ban ngành, đoàn thể như: Thanh vận, Phụ vận, Nông vận, Trí vận, Hoa vận... kết hợp công tác dân vận với công tác binh địch vận, giao trách nhiệm cho từng đoàn viên, hội viên kết hợp với phong trào đấu tranh của quần chúng để vận động binh lính, sĩ quan.


Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam, của Mặt trận, phong trào phá ấp chiến lược, công tác binh vận ngày càng tăng, hiệu quả cao: Năm 1961 có 33,8 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, có 11 triệu lượt người tham gia phá ấp chiến lược, đặc biệt ở thành thị có 31,5 vạn người xuống đường đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Năm 1962, số người ở thành thị tham gia đấu tranh tăng lên thành 67,8 vạn, hỗ trợ cho 2,7 triệu người từ nông thôn kéo vào thành thị đấu tranh. Năm 1963, hưởng ứng phong trào "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công", có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, phá ấp chiến lược. Nhờ nỗ lực của Trung ương Cục miền Nam, của Mặt trận, vùng giải phóng không chỉ được củng cố tăng cường mà còn không ngừng mở rộng, còn ở các vùng tranh chấp, đa phần nhân dân một lòng hướng về cách mạng, làm hậu thuẫn, nội ứng cho cách mạng. 80% ấp chiến lược nằm trong "quốc sách" của Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị nhân dân miền Nam phá vỡ. Trên 2/3 lãnh thổ miền Nam có trên một nửa triệu dân được sống trong vùng tự do, dưới quyền kiểm soát thực tế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.


Sau một thời gian hoạt động, thanh thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam không ngừng được khuếch trương, uy tín của Mặt trận ngày càng cao - thực tế đó đặt ra yêu cầu tập hợp rộng rãi hơn nữa các lực lượng dân tộc ở miền Nam vào Mặt trận. Chỉ thị "về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam" (1-1961) của Bộ Chính trị nêu những khả năng mới tăng cường, mở rộng đoàn kết, tập hợp lực lượng dựa trên sự chuyển biến thái độ chính trị của các giai tầng xã hội miền Nam theo hướng ngày càng "thuận lợi cho việc tập hợp thêm lực lượng mới chống Mỹ - Diệm và cho việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam để cô lập Mỹ - Diệm hơn nữa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 156, 163); từ đó, khẳng định: Cần "mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Sđd, tr. 156, 163).


Xác định mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khắp mọi nơi và xây dựng cho được mặt trận ở bên trên (tỉnh, miền, Trung ương) cũng đồng thời là hình thức phát triển chính quyền cách mạng rộng khắp, Hội nghị lần thứ nhất (mở rộng) của Trung ương Cục miền Nam (10-1961) đề cập một cách cơ bản, có hệ thống các vấn đề về Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam. Hội nghị chủ trương đẩy mạnh công tác mặt trận, dân vận, củng cố khôi liên minh công nông, tăng cường tổ chức, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng công nông, đồng thời mở rộng tổ chức và ảnh hưởng của Mặt trận trong các tôn giáo và tầng lớp trên, xúc tiến thành lập úy ban Mặt trận các cấp, nhất là Trung ương và tỉnh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM