Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7267 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #60 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:13:49 pm »

Quán triệt chủ trương nói trên, từ ngày 16-2 đến ngày 3-3-1962, tại vùng Kà Tum (Tây Ninh), Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam họp lần thứ nhất. Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, góp phần tăng cường khối đoàn kết của nhân dân miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ. Sau Đại hội, phạm vi và ảnh hưởng hoạt động của Mặt trận ngày càng mở rộng. Mặt trận đã tổ chức lãnh đạo nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, làm công tác binh vận cả nông thôn và thành thị, mở rộng vùng giải phóng. Ở vùng giải phóng, Ủy ban Mặt trận các cấp đã được thành lập, chuyển sang làm chức năng của chính quyền cách mạng, có nhiệm vụ đoàn kết, tổ chức nhân dân chiến đấu, sản xuất và xây dựng cuộc sống mới. Đến tháng 10-1962, tất cả các miền (Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Sài Gòn - Gia Định, Trung Nam Bộ, Tây Nam Bộ) đều có Ủy ban Mặt trận1 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.198). Trong số 41 tỉnh thành, từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau thì 38 tỉnh thành đã có ủy ban Mặt trận ra mắt nhân dân" và "uy tín của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng thêm to lớn trong quần chúng nông thôn cũng như thành thị"2 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.198). Cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến, Ủy ban nhân dân giải phóng cũng được thành lập ở nhiều vùng ven đô thị và cả trong lòng các đô thị. Tại nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam, chính quyền Diệm không còn tồn tại, thay vào đó, người dân chỉ biêt có "Chính phủ bí mật" (tức Ủy ban Mặt trận ở các địa phương) tồn tại song song hoặc thay thế nhiều cấp Chính quyền Diệm. Đặc biệt, từ sau khi Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra Chỉ thị "Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây dựng, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp" (29-2-1968) và Chỉ thị "Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng các cấp theo kịp sự phát triển của tình hình" (25-5-1968), thì việc lập chính quyền cách mạng càng được nhân dân hưởng ứng rộng rãi. Chỉ sau sáu tháng thực hiện các chỉ thị trên, chính quyền cách mạng ở các cấp được xây dựng rộng rãi. Theo số liệu chưa đầy đủ, đã có tối 516/1.800 xã được xây dựng chính quyền; chính quyền cấp huyện được xây dựng trong 21/170 huyện; 3/44 tỉnh (Cà Mau, Gia Lai, Mỹ Tho) đã có chính quyền1 (Cao Văn Luận, Bên dòng lịch sử (1940-1965), Nxb Trí Dũng, Sài Gòn, 1972, tr.412). "Chính quyền cách mạng được thành lập một cách dân chủ dưới bom đạn ác liệt của quân thù" và "thật sự đem lại cho đồng bào quyền dân chủ, dân sinh, quyền sống tự do, bình đẳng, quyền được thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống với nhau đầy tình người"2 (Nguyễn Văn Linh và tập thể tác giả, Chung một bóng cờ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.412).


Với việc xây dựng, mở rộng, tăng cường vùng giải phóng miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, có lực lượng chính trị hùng hậu thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi - điều kiện đã chín muồi cho việc thành lập chính quyền Trung ương. Năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời với Mặt trận Dân tộc giải phóng làm nòng cốt - đó là kết quả của quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, đồng thời, đánh dấu bước phát triển mới của mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ và tay sai ở miền Nam. Cũng từ thời điểm này, lịch sử hoạt động của Mặt trận lật sang một trang mới - sát cánh cùng Chính phủ Cách mạng lâm thời thực hiện các chủ trương lập chính quyền cách mạng, thi hành những cải cách dân chủ, mở rộng vùng giải phóng. Thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", dưới sự chỉ đạo của Mặt trận và chính quyền cách mạng, từ năm 1965 đến năm 1973, đã chia cấp thêm 15.000ha ruộng đất cho nông dân; nhờ đó, về cơ bản, "nông dân vẫn giữ được quyền làm chủ ruộng đất từ "Đồng khởi" cho đến ngày giải phóng"3 (Lâm Quang Huyên, Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Sđd, tr. 132).


Quá trình phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam Việt Nam là quá trình vận động từ thấp lên cao; từ chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy. Chính vì vậy, từ sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, cùng với việc xây dựng và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, Mặt trận chủ trương phải tạo ra được những vùng giải phóng tương đối rộng lớn và hoàn chỉnh - nơi đó được triển khai xây dựng một cách toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá, xã hội; bảo đảm được sự ổn định và vững chắc để có thể đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của chiến tranh.


Quán triệt và thực hiện tốt xây dựng căn cứ địa - hậu phương về chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thực chất là công cuộc vận động nhân dân, xây dựng căn cứ lòng dân. Thực hiện nhiệm vụ phức tạp song hết sức cấp thiết đó, Mặt trận đã xác định đúng đắn vai trò to lớn của quần chúng nhân dân; xác định rõ phương thức, phương pháp lôi cuốn, tập hợp nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ căn cứ địa - hậu phương, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh. Hiểu rõ rằng, muốn lôi cuốn, tập hợp được nhân dân cần phải có một đường lối chính trị đúng đắn, hợp lòng dân, đường lối chính trị ấy phải có cơ sở vững chắc - chỉ khi đó mới quy tụ, cố kết lòng dân. Đường lối của Mặt trận với nội dung cốt lõi "Phải HOÀ BÌNH! Phải độc lập! Phải dân chủ! Phải cơm no áo ấm! Phải hoà bình thống nhất Tổ quốc!" đã đáp ứng đúng nguyện vọng thiết tha, cấp bách nhất của toàn thể nhân dân miền Nam, trở thành ý chí sắt đá, sức mạnh phi thường thúc đẩy toàn thể đồng bào kết thành hàng ngũ, kiên quyết đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #61 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:15:17 pm »

Bên cạnh đó, động viên sức dân để xây dựng căn cứ địa - hậu phương chiến tranh, xây dựng, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng chế độ mới trong chiến tranh cách mạng, Mặt trận đã tập trung củng cố sức dân, chăm lo đến đời sống nhân dân - đó chính là sự kế thừa và phát triển tư tưởng "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc" của cha, ông. Chính sách kinh tế kháng chiến đã góp phần đáng kể cải thiện, nâng cao đáng kể đời sống vật chất, tinh thần của người dân tại các vùng giải phóng, khu căn cứ. Tư tưởng dựa vào dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh tổng hợp to lớn của nhân dân mà Mặt trận đã thực hiện nhất quán trong toàn bộ quá trình lãnh đạo xây dựng, mở rộng vùng giải phóng đã mang lại hiệu quả to lớn và thiết thực.


Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, từ năm 1962, Mặt trận chủ trương đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, gắn cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam với phong trào đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ trên thế giới. Ngày 20-7-1962, ngày kỷ niệm lập lại hoà bình ở Đông Dương, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã công bố một bức thư tố cáo chính sách xâm lược vũ trang của Mỹ, kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, các tổ chức, các khuynh hướng đoàn kết lại một cách rộng rãi để thực hiện mục tiêu độc lập, tự do. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra bốn chủ trương cứu nước khẩn cấp1 (Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam; giải tán toàn bộ "ấp chiến lược"; thành lập ở miền Nam một chính phủ liên hiệp dân tộc; thực hiện đường lối ngoại giao hoà bình trung lập), gây tiếng vang mạnh mẽ ở trong nước và trên thế giới. Nhận thức đại đoàn kết là vấn đề sinh tử của cuộc đấu tranh giải phóng, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố: "Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam sẵn sàng bắt tay một cách bình đẳng với mọi lực lượng, từ các đảng phái, phe phái, nhóm đến các cá nhân chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam"1 (Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ tháng 9-1962 đến tháng 11-1963, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.52). Nói cách khác, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chủ trương thực hiện đoàn kết rộng rãi với mọi lực lượng, dù lực lượng ấy thuộc khuynh hướng chính trị khác, dù lực lượng ấy chưa tán thành hoàn toàn Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, dù lực lượng ấy có mặt ở miền Nam hay tồn tại ở nước ngoài, từ trước đến nay đã hợp tác với Mỹ bất cứ ở mức độ nào nhưng nay đã chống lại sự thống trị của chúng, dù lực lượng ấy là đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, nghề nghiệp hay tổ chức vũ trang từ trước đã đối lập với cách mạng miền Nam hay hiện nay còn ở trong chính quyền và quân đội miền Nam muốn đứng lên chống Mỹ, cứu nước. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vận động, thuyết phục và tổ chức cho nhân dân sử dụng thế hợp pháp đấu tranh trực diện không cho chính quyền Sài Gòn dồn dân lập ấp, vận động gia đình binh sĩ giáo dục con em không thực hiện các hành động tội ác; đẩy mạnh xây dựng cơ sở nội tuyến trong lực lượng dân vệ, thanh niên, phá địch từ bên trong.


Tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp, chủ trương "phải ra sức củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc giải phóng trên cơ sở công nông liên minh và do Đảng lãnh đạo, làm cho Mặt trận có khả năng động viên quần chúng thật rộng rãi đặng hoàn thành các nhiệm vụ chính trị mới do Đảng đề ra và đủ sức gánh vác một phần chức năng của chính quyền cách mạng trong vùng giải phóng"1 (Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ tháng 9-1962 đến tháng 11-1963, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr.52).


Thực hiện chủ trương nói trên, từ ngày 1 đến ngày 8-1-1964, tại một địa điểm gần Xóm Giữa (Tây Ninh), Đại hội lần thứ hai Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã khai mạc. Tham dự Đại hội có 150 đại biểu từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, từ Tây Nguyên đến đồng bằng sông Cửu Long, từ các đô thị miền Nam đến Việt kiều từ nước ngoài về. Bên cạnh những tổ chức đã có từ trước, hàng ngũ của Mặt trận đã được mở rộng thêm với sự tham gia của các tổ chức "Củng cố hoà bình chung sống" của tín đồ Cao Đài Tây Ninh do đạo nhân Lê Văn Bụi và thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng dẫn đầu, "Quân đội Cao Đài kháng chiến", "Các lực lượng vũ trang yêu nước" do trung tá Võ Văn Môn đứng đầu, "Đoàn đại biểu các quân nhân tham gia đảo chánh ngày 11-11-1960" với đại úy Phan Lạc Tuyên, trung úy Nguyễn Công Minh, thiếu tá Thái Trần Trọng Nghĩa, "Ban vận động thành lập Hội liên hiệp Hoa kiều"...


Tổng kết những thắng lợi của phong trào cách mạng ở miền Nam trong hai năm sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Báo cáo tại Đại hội nhấn mạnh: "Nhân dân miền Nam biết rằng sức mạnh của mình xuất phát từ sự đoàn kết nhất trí. Cả khối dân tộc gắn bó với nhau là một phép màu có thể trừ khử được tất cả bọn bàng môn tà đạo"1 (Nguyễn Hữu Thọ, Báo cáo chính trị tại Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.33, 52. 211). Đại hội đề ra nhiệm vụ "mở rộng hơn nữa đoàn kết và hợp tác tất cả lực lượng yêu nước, xây dựng lực lượng ta lớn mạnh"2 (Nguyễn Hữu Thọ, Báo cáo chính trị tại Đại hội Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ hai, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1964, tr.33, 52. 211). Đại hội phân tích: Để thực hiện nhiệm vụ đó, nhân dân miền Nam phải nỗ lực tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực địch, cô lập chúng nặng nề hơn nữa ở trong nước cũng như trên trường quốc tế; tranh thủ ngày càng nhiều sự ủng hộ của các chính phủ và nhân dân thế giới, phối hợp với nhân dân yêu chuộng hoà bình Mỹ, ngăn chặn cuộc chiến tranh thực dân của Mỹ ở miền Nam; đánh bại âm mưu chia rẽ của địch, đặc biệt là âm mưu lợi dụng tôn giáo để chông cách mạng, mở rộng hơn nữa mặt trận đoàn kết và liên hiệp dân tộc. Đại hội kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, đảng phái, giai cấp, tầng lớp xã hội trong và ngoài nước đoàn kết chặt chẽ, kiên cường đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ đó, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp lực lượng, đoàn kết quần chúng và tổ chức các lực lượng quần chúng liên kết lại, hình thành các mặt trận cơ sở. Các tổ chức Bảo vệ văn hoá dân tộc ra đời, như Hội Bạn trẻ Việt Nam, Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam, Hội Bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ... Ngoài ra, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cũng đã tập hợp được những người có cảm tình với cách mạng trong các tầng lớp trung gian và tầng lớp trên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #62 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:16:24 pm »

Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo hơn nữa mọi lực lượng, từ ngày 15 đến ngày 20-8-1967, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội bất thường tại vùng chiến địa Tây Ninh, thông qua Cương lĩnh chính trị mới. Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bao gồm bốn phần: Phần I về đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước; phần II về xây dựng miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình trung lập và phồn vinh; phần III về lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc; phần IV về thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập.


Với bốn nội dung đó, Cương lĩnh xác định đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ chính quyền thân Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ rộng rãi, xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập và phồn vinh, tiến tới hoà bình, thống nhất Tổ quốc - sức mạnh đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ đó là đại đoàn kết dân tộc. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tiếp tục chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, tầng lớp trong nhân dân, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước và tiến bộ, không phân biệt xu hướng chính trị, để cùng nhau giành lại quyền dân tộc thiêng liêng, xây dựng lại Tổ quốc.


Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi 14 triệu đồng bào miền Nam kề vai sát cánh cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng khối đoàn kết các dân tộc Đông Dương, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của nhân dân thế giới, giành lấy độc lập, dân chủ, hoà bình, toàn vẹn lãnh thổ. Cương lĩnh Mặt trận nhấn mạnh: Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước đồng tình ủng hộ, giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, tăng cường quan hệ láng giềng tốt với Campuchia và Lào; tích cực ủng hộ phong trào độc lập dân tộc, phong trào đấu tranh vì hoà bình dân chủ và tiến bộ xã hội ở các nước trên thế giới... Nhìn chung lại, tinh thần của toàn bộ Cương lĩnh chính trị, như Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tổng kết, là "Cương lĩnh chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc; cương lĩnh đại đoàn kết toàn dân; cương lĩnh xây dựng đất nước; cương lĩnh tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc; cương lĩnh đoàn kết với nhân dân thế giới đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội"1 (Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nxb Giải phóng, Sài Gòn, 1969, tr.25).


Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố và uy tín cao trên trường quốc tế, được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế công nhận là người đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam. Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng, được phát hành rộng rãi ở các nước, các châu, được 41 chính phủ, 12 tổ chức quốc tế, năm tổ chức có tính chất khu vực đã lên tiếng ủng hộ. Đến năm 1967, Mặt trận đã có cơ quan thường trực ở 12 nước và một phái đoàn đại diện ở Hà Nội2 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 4, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, tr. 394).


Cùng với đẩy mạnh đấu tranh chính trị và quân sự Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại "hoà bình trung lập", tăng cường hoạt động trên trường quốc tế, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cách mạng miền Nam. Mặt trận đặt cơ quan đại diện tại nhiều nước dân tộc chủ nghĩa như Algeria (Angiêri), Tanzania (Tandania), Ai Cập, Syria (Xyri), Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào...; ngoài ra, Mặt trận còn thiết lập các phòng thông tin làm nhiệm vụ cơ quan đại diện ở các nước như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Chile (Chilê)... Các cơ quan đại diện nói chung đều được hưởng quy chế ngoại giao; các phòng thông tin tuy không được hưởng quy chế ngoại giao nhưng cũng được các chính phủ sở tại ưu đãi, có trường hợp được giúp đỡ về vật chất để hoạt động. Nhờ có một hệ thống cơ quan đại diện và phòng thông tin tại các châu lục, có đại diện dự các cuộc họp của các tổ chức quốc tế và quốc gia, Mặt trận đã triển khai những hoạt động ngoại giao nhân dân rộng khắp, có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hình thành phong trào các nước đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các đoàn thể trong Mặt trận như Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn, Hội Lục Hoà (tức đại diện Phật giáo), Công giáo kháng chiến, Hội Nhà báo, Hội Nhà văn Giải phóng... đều tham gia các sinh hoạt quốc tế lớn hoặc có quan hệ với các tổ chức tương ứng của các nước. Đại diện của Mặt trận đã được bầu vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức quốc tế như Liên hiệp Công đoàn thế giới, Hội đồng Hoà bình thế giới, Liên hiệp Phụ nữ dân chủ quốc tế, Liên hiêp Thanh niên dân chủ thế giới, Hội Luật gia dân chủ thế giới, Hội Nhà báo, Ủy ban Đoàn kết ba châu, Phong trào Không liên kết...


Từ năm 1961, các đoàn đại biểu của Mặt trận liên tục đi thăm các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc, Cuba...); dự các đại hội quốc tế như Đại hội thế giới đòi tổng giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình ở Moscow (7-1962), Đại hội quốc tế các nhà báo họp ở Budapest (Buđabét)... Đầu năm 1963, đại biểu của Mặt trận tham dự Hội nghị đoàn kết nhân dân Á - Phi họp tại Moshi (Môchi thuộc Tanzania) và sau đó đại biểu Mặt trận thăm thủ đô nước cộng hoà Ảrập thống nhất. Riêng năm 1964, đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đi thăm 12 nước và 21 lần đi dự hội nghị quốc tế. Tại các Đại hội và trong các chuyến thăm, đoàn đại biểu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đều kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam.


Những hoạt động tích cực đó đã mang lại kết quả hết sức khả quan. Tháng 10-1963, tại Hội nghị của "Ủy ban quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam", họp ở Thủ đô Hà Nội, 35 đoàn đại biểu các nước đã tiếp sức cho nhân dân Việt Nam nói chung, cho đồng bào miền Nam nói riêng bằng sự ủng hộ nhiệt thành và nhất trí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Hội nghị đồng thanh quyết định lấy ngày 20-12, ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, làm ngày đoàn kết quốc tế hằng năm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới với đồng bào miền Nam. Tiếp đó, ngày 20-12-1963, tại 42 nước trên thế giới, có 420 đoàn thể tổ chức ngày đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam. "Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ hoà bình" của 64 đoàn đại biểu thuộc 50 nước và 12 tổ chức quốc tế họp tại Hà Nội cuối năm 1964 đã ra tuyên bố: Hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, giành độc lập dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà bình và trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc. Ngày 15-1-1966, tại La Habana, Hôi nghị đoàn kết nhân dân ba châu Á - Phi - Mỹ Latinh đã ra Nghị quyết ủng hộ bản Tuyên bố năm điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và lập trường bốn điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.


Nhìn chung lại, trong những chặng đường đấu tranh gian khổ, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã có những đóng góp hết sức quan trọng cho sự nghiệp chung, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đáp ứng vai trò là người đại diện cho nhân dân miền Nam trong một giai đoạn hết sức đặc biệt. Cách mạng miền Nam Việt Nam không thể có những bước phát triển mạnh mẽ, không thế huy động được sức mạnh đại đoàn kết nếu như không có sự ra đời và đóng góp của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #63 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:18:50 pm »

2- Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và những dấu ấn lịch sử

Như đã trình bày ở trên, sau Chỉ thị "Tích cực, khẩn trương, củng cố, xây dựng, phát triển chính quyền cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở xã, ấp" (29-2-1968) của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Trung ương Cục miền Nam, hệ thống chính quyền cách mạng các cấp ở miền Nam Việt Nam phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Ở nhiều vùng, chính quyền cách mạng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Tính đến ngày 25-6-1969, trong số 44 tỉnh miền Nam Việt Nam "đã có 34 tỉnh và bốn thành phố đã bầu xong Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh và thành phố từ cơ sở lên"1 (). Lúc này, vấn đề thành lập chính quyền Trung ương trở thành yêu cầu cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại. Trên thực tế đã có những điều kiện để thành lập một chính quyền như vậy, đó là ở miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng chính trị ngày càng phát triển mạnh mẽ.


Nhằm xúc tiến thành lập chính quyền Trung ương - Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam điện gửi Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xin ý kiến về một số nội dung. Trước tiên, về nhân sự trong Chính phủ, Trung ương Cục chủ trương lựa chọn những người tiêu biểu có ảnh hưởng rộng trong các giới, trong quần chúng, được quần chúng tin tưởng, có uy tín và khả năng liên hiệp rộng rãi. Tiếp đó, ngày 23-5-1969, đoàn đại biểu ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam tiến hành Hội nghị hiệp thương, nhất trí triệu tập Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, để bàn bạc những vấn đề trọng yếu về kháng chiến và xây dựng đất nước.


Từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, Đại hội quốc dân miền Nam khai mạc trọng thể tại vùng Tà Nốt (Tây Ninh). Thành phần tham gia Đại hội gồm 72 khách mời, 88 đại biểu, đại diện cho các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng trên toàn miền Nam. Tất cả các đoàn đại biểu, các vị khách họp lại thành một đội ngũ trong không khí đoàn kết, sẵn sàng "chiến đấu vì tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc, thể hiện truyền thống bất khuất quyết đánh thắng ngoại xâm của Hội nghị Diên Hồng, của Đại hội Tân Trào lịch sử, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của 14 triệu nhân dân miền Nam"1 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, Sđd, tr.224).


Xác định những quyền dân tộc cơ bản, thiêng liêng của nhân dân Việt Nam, là quyền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Đại hội chỉ rõ rằng, những quyền dân tộc bất khả xâm phạm ấy đã lực lượng ngoại bang chà đạp nghiêm trọng, vì thế, nhất định phải nhất tề đứng lên chống Mỹ. Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam long trọng khẳng định mục tiêu cơ bản, bất di bất dịch của nhân dân miền Nam Việt Nam là độc lập dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước, tỏ rõ quyết tâm sắt đá quyết phấn đấu đến cùng cho những mục tiêu đó2 (Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nxb Giải phóng, Sài Gòn, 1969, tr.48). Đại hội đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho quân và dân miền Nam Việt Nam là đoàn kết chiến đấu, đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thực hiện miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước.


Để thực hiện những nhiệm vụ nói trên, Đại hội tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại hội xác định chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam là chế độ cộng hoà với chính sách đối nội là đoàn kết toàn dân, không phân biệt thành phần xã hội, tôn giáo dân tộc, xu hướng chính trị và quá khứ, miễn là tán thành hoà bình, độc lập và trung lập. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thi hành chính sách ngoại giao hoà bình, trung lập, không liên minh quân sự với nước ngoài dưới bất kỳ hình thức nào, đặt quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình, thiết lập quan hệ láng giềng tốt với Vương quốc Campuchia, Lào, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ với biên giới hiện tại đã được xác lập. Sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng, việc thống nhất đất nước sẽ do nhân dân Việt Nam ở hai miền giải quyết từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa hai miền, không có sự can thiệp của nước ngoài.


Đại hội đã bầu ra Chính phủ cách mạng Lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát - Phó Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch; Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Uy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; Luật sư Trịnh Đình Thảo - Chủ tịch ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam làm Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ; ông Trần Nam Trung làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; bà Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; kỹ sư Cao Văn Bổn phụ trách Bộ Kinh tế - tài chính... Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là kết quả của quá trình hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, đồng thời, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam. Đó là "chính quyền dân tộc, dân chủ và liên hiệp bao gồm các lực lượng yêu nước, có lực lượng cách mạng của Mặt trận Dân tộc giải phóng làm nòng cốt, là thành quả cách mạng của quân và dân miền Nam trong sư nghiệp giải phóng miền Nam"1 (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất, tập 2 (1945-1977), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 474).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #64 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:20:18 pm »

Sau khi được thành lập, vào ngày 10-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đề ra Chương trình hành động 12 điểm, nêu rõ chính sách đối nội và đối ngoại, gồm các chính sách lớn như đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ, thực hiện chính sách hoà hợp dân tộc, khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá, đảm bảo các quyền tự do dân chủ, thực hiện "người cày có ruộng". Điểm 12 của Chương trình hành động chỉ rõ nhiệm vụ ngoại giao cơ bản, cụ thể của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: 1- Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam; 2- Tích cực ủng hộ phong trào độc lập dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân cũ và mới; 3- Tích cực phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam; 4- Lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, kể cả với Mỹ, đồng thời, chú trọng quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt với Vương quốc Lào và Campuchia; 5- Nhận viện trợ về vốn, kỹ thuật, chuyên gia của tất cả các nước không kèm theo điều kiện chính trị; 6- Không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự trên đất mình, không công nhận sự bảo hộ của bất cứ nước nào hoặc liên minh quân sự nào1 (Huỳnh Tấn Phát, Tuyên bố về chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nxb Giải phóng, Sài Gòn 1969, tr.11). Nhìn chung lại, chính sách đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là "chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập"2 (Huỳnh Tấn Phát, Tuyên bố về chương trình hành động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nxb Giải phóng, Sài Gòn 1969, tr.11), không tham gia khối liên minh quân sự với nước ngoài; đồng thời, thực hiện quan hệ hữu nghị và chính sách láng giềng tốt và lập quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hóa với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, kể cả với nước Mỹ.


Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, thực hiện chính sách của Chính phủ, tính đến ngày 25-6-1969, trong số 44 tỉnh miền Nam Việt Nam "đã có 34 tỉnh và bốn thành phố đã bầu xong Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh và thành phố từ cơ sở lên"3 (Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, Sđd, tr. 242). Việc thi hành những cải cách dân chủ cũng được đẩy mạnh ở vùng giải phóng, các quyền tự do, dân chủ và những chính sách mới được ban hành, đặc biệt là chính sách ruộng đất. Như một bộ phận của chính sách địch vận, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách "chia treo" ruộng đất, tức là để dành ruộng đất cho những người đi lính cho chính quyền Sài Gòn, khi nào họ trở về với cách mạng thì sẽ được nhận số ruộng đất đã chia. Việc thực thi chính sách ruộng đất đã tác động mạnh mẽ, tích cực đến thái độ, tình cảm của binh sĩ và gia đình họ với cách mạng.


Để tập hợp mọi lực lượng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chủ trương thực hiện bình đẳng dân tộc, đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, cùng chung sức đấu tranh thực hiện hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, cơm áo và hòa hợp dân tộc. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chống mọi chính sách và các hành động khinh miệt, chia rẽ, lừa mị, áp bức, cưỡng ép các dân tộc.


Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời là nhân tố quan trọng, góp phần tập hợp lực lượng rộng rãi cho cách mạng miền Nam; đồng thời, đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam cả trong nước lẫn trên trường quốc tế.

Ngày 7-11-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố về chính sách chiến tranh của chính quyền Níchxơn đối với miền Nam Việt Nam. Bản Tuyên bố nêu rõ: Miền Nam Việt Nam phải được độc lập, tự do... Nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đòi bất kỳ điều kiện gì, phải để nhân dân Việt Nam giải quyết công việc nội bộ của mình.


Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam và của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam đã tiến công dồn dập trên chiến trường, bao vây hàng trăm đồn bốt và chủ động bẻ gãy nhiều cuộc hành quân "bình định" lấn chiếm của chính quyền Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân. Ở các đô thị, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân miền Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam, đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ diễn ra sôi động, quyết liệt. Nhân dân Sài Gòn thuộc các thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo và các tổ chức xã hội khác nhau xuống đường đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh, đòi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi lập một chính phủ hoà bình... Ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành thị khác, các phong trào đưa yêu sách được tổ chức, thu hút hàng vạn công nhân, sinh viên, học sinh, trí thức... tham gia. Hàng nghìn học sinh, sinh viên, tổ chức bãi khoá, hội thảo, mít tinh, phản đối chính quyền Sài Gòn vi phạm quyền tự trị đại học, phản đối chính sách quân sự hoá học đường và cưỡng bức sinh viên cầm súng tham gia quân đội địch. Nội dung các yêu sách đều tập trung đòi chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, xây dựng thể chế chính trị dân chủ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #65 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2026, 10:22:11 pm »

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (1973), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát động phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam, nhằm lên án thái độ phá hoại Hiệp định Paris của chính quyền Sài Gòn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một phong trào đấu tranh của các tầng lớp, ngành nghề khác nhau bùng lên mạnh mẽ. Các phong trào này lên án chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tăng cường bắt lính, gửi kiến nghị yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Bên cạnh đó, còn có các phong trào đấu tranh của giới luật sư đòi quyền bào chữa và quyền tham dự của dân chúng tại phiên tòa, phong trào đấu tranh của đồng bào Công giáo, Phật giáo, các linh mục, Hội thánh Tin lành Việt Nam, tướng tá quân đội Sài Gòn...


Về đối ngoại, ngay sau khi ra đời, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã xúc tiến ngay các hoạt động vận động quốc tế với mục tiêu tranh thủ sự ủng hộ đối với hoạt động của mình, cũng như thừa nhận và đề cao vai trò của Chính phủ. Trong năm 1969, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đi thăm hữu nghị nhiều nước: Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa dân chủ Đức (9-1969), Ảrập, Syria, Tiệp Khắc, Triều Tiên, Mông Cổ, Ba Lan, Hungari (10-1969), thăm vùng giải phóng Lào (12-1969). Đây đều là những nước vốn có quan hệ tốt đẹp và lâu đời với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Kết quả là rất nhanh chóng, chỉ trong tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được 23 nước công nhận (Cuba, Algeria, Triều Tiên là ba nước đầu tiến công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam); trong đó 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngay khi chính phủ vừa tuyên bố thành lập. Nhiều nước mặc nhiên chuyển các cơ quan đại diện và các phòng thông tin của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành các cơ quan ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ Đức... Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Hội nghị quốc tế các Đảng Cộng sản và công nhân họp tại Moscow ngày 12-6-1969, đánh giá cao: "75 Đảng Cộng sản dự Hội nghị nhận thấy trong sự kiện này, một giai đoạn mới và quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng và anh hùng của nhân dân Việt Nam"1 (Ban biên tập Tạp chí Nghiên cứu lịch sử: "Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập trong điều kiện lịch sử nào?", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 123-1969, tr.3).


Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tích cực vận động để trở thành thành viên của Phong trào Không liên kết. Thực hiện mục tiêu nói trên, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tăng cường mạnh mẽ các chuyến thăm hữu nghị, các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều lực lượng hòa bình, dân chủ trên thế giới. Điểm đến của Đoàn là những nước có tiếng nói quan trọng trong Phong trào Không liên kết, bao gồm các nước dân chủ, các nước trung lập.


Tháng 6-1970, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đi thăm hai nước Nam Á (Ấn Độ và Sri Lanka); tiếp đó, đầu tháng 9-1970, Đoàn Ngoại giao tiếp tục các chuyến thăm theo lời mời của Chính phủ các nước Ai Cập, Tanzania (châu Phi). Ngoài các nước châu Á, châu Phi, trong khoảng thời gian cuối năm 1970, đầu năm 1971, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng tới thăm các nước châu Âu như nước Anh, Bulgaria (Bungari), Italy (Italia), Ba Lan... Không chỉ có vậy, tháng 9-1971, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn tham dự Hội nghị các nước đứng đầu Phong trào Không liên kết tại Lusaka (Luxaca), Zambia (Dămbia); tham dự Hội nghị thế giới lần thứ 16 chống bom nguyên tử và khinh khí họp tại Nhật Bản (từ 30-7 đến 9-8-1970). Hội nghị đã nhất trí bầu các đại biểu Nam, Bắc Việt Nam làm Chủ tịch danh dự.


Hội nghị cấp cao các nước Không liên kết ở Algeria năm 1973 đã công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Phong trào các nước không liên kết và đến ngày 6-10-1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 34 nước. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một loạt nước như Cộng hòa Swaziland (Xoadilen), Nauy... tiếp tục công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sự kiện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được công nhận là thành viên của Phong trào Không liên kết đã mở ra cơ hội, khả năng tăng cường Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #66 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:34:15 pm »

Năm 1969 - năm Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời cũng là thời điểm Hội nghị Paris bước vào giai đoạn hai - giai đoạn đàm phán bốn bên và bắt đầu từ phiên họp thứ 21 (12-6-1969), Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lần đầu tiên có mặt tại Hội nghị Paris. Cũng bắt đầu từ đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đưa ra các giải pháp, các tuyên bố, tham gia tích cực và có những đóng góp quan trọng trong toàn bộ tiến trình của Hội nghị. Đoàn ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phối hợp ăn ý cả trong cũng như ngoài bàn đàm phán. Bên ngoài Hội nghị, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiến hành những hoạt động đối ngoại phong phú, nhằm tranh thủ tối đa dư luận quốc tế, cô lập Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đặt trọng tâm vào việc tố cáo tội ác của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, cũng như âm mưu kéo dài chiến tranh. Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Đoàn Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra trước ánh sáng công luận vụ thảm sát Mỹ Lai (Sơn Mỹ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) năm 1968, việc giam giữ, đầy ải những người yêu nước trong các "chuồng cọp" ở Côn Đảo... Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã mở các cuộc họp báo tại Phòng Thông tin của mình để tố cáo Mỹ; đồng thời, khuếch trương chiến thắng của quân dân hai miền Nam - Bắc. Phòng Thông tin đã công bố nhiều tư liệu, danh sách nạn nhân tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Để tăng thêm tính thuyết phục, Đoàn Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn mời sang châu Âu những nhân chứng sống của Sơn Mỹ, nhà tù Côn Đảo..., để họ tham dự các cuộc họp báo quốc tế do Đoàn tổ chức, các buổi hội thảo, nói chuyện do các tổ chức xã hội ở nhiều nước châu Âu tổ chức. Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn tố cáo hành động mở rộng chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương, chỉ rõ đây không phải là "phi Mỹ hóa chiến tranh" mà là "Đông Dương hóa chiến tranh". Trong các Tuyên bố, các cuộc tiếp xúc được tổ chức khá thường xuyên, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phê phán ý đồ muốn dùng áp lực quân sự để thương lượng trên thế mạnh của Tổng thống R.Nixon (Níchxơn), khẳng định chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam nhất định thất bại. Khi Mỹ ném bom miền Bắc trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai, Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Tuyên bố lên án hành động chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân việc Mỹ và quân đội Sài Gòn mở chiến dịch Lam Sơn 719, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã bày tỏ lòng công phẫn trước số phận của binh lính Sài Gòn bị ném vào chỗ chết để Tổng thống R.Nixon thể nghiệm chiến lược. Với những nỗ lực đó, "chưa bao giờ cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác và những hành động man rợ của Mỹ ở Việt Nam bị dư luận rộng rãi ở khắp thế giới lên án mạnh mẽ như ngày nay. Ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ ngày càng mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.31-32).


Để vận động dư luận ủng hộ lập trường của Việt Nam, năm 1971, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã đi thăm các nước châu Âu: Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Italy... gặp gỡ các tổ chức, các nghị sĩ và nhân sĩ chống chiến tranh, tiếp xúc với các báo, trả lời phỏng vấn, nói chuyện với sinh viên, gặp gỡ kiều bào. Chuyến đi của Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tới các nước tư bản chủ nghĩa - những chính phủ ít nhiều chịu ảnh hưởng của Mỹ, nhưng đồng thời đó cũng là các nước có phong trào nhân dân chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mạnh mẽ nhất, được coi như là một quyết tâm lớn nhằm phân hóa và cô lập Mỹ. Cuối năm 1972, khi tình hình chiến sự miền Nam đang có những chuyển biên nhanh chóng, Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tranh thủ thời gian thăm hữu nghị chính thức các nước Cuba, Liên Xô, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Somalia, Chile, nhằm tranh thủ sự ủng hộ; đồng thời hiểu thêm ý đồ của Mỹ qua các cuộc gặp gõ của Mỹ với các nước này.


Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng rất quan tâm đến mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ, đặc biệt là giữa những người Mỹ yêu chuộng hòa bình và nhà cầm quyền hiếu chiến. Tuy Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không có điều kiện tới Mỹ để trực tiếp vận động, nhưng đã tranh thủ gặp gỡ các đại biểu Mỹ tại các hội nghị quốc tế, gặp các đại biểu Mỹ ở ngoài nước Mỹ như gặp nhóm Thanh niên chống quân dịch ở Budapest, Stockholm (Xtốchôm), Đoàn Phụ nữ Mỹ tại Jakarta (Giacátta)..., để thông báo tình hình đấu tranh ở miền Nam Việt Nam. Hai đoàn Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gặp Đoàn nhân dân Mỹ tại Bratislava, gặp Đoàn Phụ nữ Mỹ tại Nicaragoa, Canada (Canada), gặp nhóm binh sĩ Mỹ bỏ ngũ tại Canada, Thụy Điển... Qua các cuộc gặp này, hai đoàn Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ. Cộng hòa cùng phối hợp hoạt động, làm cho họ hiểu thiện chí hòa bình của Việt Nam và âm mưu kéo dài chiến tranh của phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #67 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:35:12 pm »

Với sự kiên trì và những nỗ lực to lớn, hoạt động ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần thúc đẩy và hình thành nên một Mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam, bao gồm các nước Không liên kết, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước tư bản chủ nghĩa, các tổ chức khu vực và quốc tế... Những giải pháp mà Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra lần lượt nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận thế giới, tạo sức ép trên bàn đàm phán Paris.


Tháng 1-1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các phiên họp của Hội nghị hiệp thương; đồng thời nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động trên trường quốc tế. Nhận thức Paris là địa bàn tập trung khá đông Việt kiều thuộc các khuynh hướng chính trị khác nhau, tập trung nhiều hãng thông tấn báo chí; do vậy, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xác định Thủ đô Paris là một địa điểm tốt để tiếp xúc với các khuynh hướng chính trị ở miền Nam, đặc biệt là những người thuộc "lực lượng thứ ba". Thời gian bên ngoài Hội nghị, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tập trung mở cuộc vận động, tranh thủ vận động dư luận quốc tế, nhằm tăng tính hiệu quả của các hoạt động đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định. Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng sẵn sàng gặp gỡ những người từ Sài Gòn sang tìm hiểu thái độ của Đoàn, khiến mọi giới, kiều bào đều có cảm tình với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hoạt động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần làm dấy lên trên thế giới các phong trào ủng hộ Việt Nam: Phong trào của 500 đại biểu kiều bào Việt Nam tại Pháp ủng hộ thi hành Hiệp định Paris; nhân dân các nước Đức, Tiệp Khắc, Mông Cổ... và 53 tổ chức dân chủ tổ chức phong trào ủng hộ nhân dân miền Nam Việt Nam lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phản đối Ngân hàng quốc tế viện trợ cho chính quyền này; Hội nghị Phật giáo châu Á lần thứ 3 tại New Deli (Niu Đêli) (2-11-1974), cực lực lên án Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phá hoại Hiệp định, kêu gọi nhân dân các nước phát triển đoàn kết chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ độc lập dân tộc...


Để phối hợp với những hoạt động ngoại giao của Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị hiệp thương, tranh thủ dư luận thế giới, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã đi thăm hữu nghị nhiều nước: Cộng hòa dân chủ Yemen (Yêmen), Cộng hòa Mangas (Mănggát) (6-1974), Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Albania (Anbani), Bulgaria, Mông cổ, Liên Xô (từ 8 đến 10-1974). Trong các cuộc viếng thăm và hội đàm, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình và Đoàn Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên án thái độ của chính quyền Sài Gòn trong việc phá hoại Hội nghị hiệp thương, gây khó khăn cho các hoạt động của Ban Liên hiệp quân sự hai bên và Tổ liên hợp quân sự bốn bên, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam. Các cuộc viếng thăm này đã có những kết quả tích cực, thêm nhiều chính phủ chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam về mặt ngoại giao, hoặc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ1 (Chính phủ Morixer công nhận ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (6-1974); Cộng hòa Yemen là nước thứ 42 công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (9-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (11-1974); Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng lập Đại sứ quán tại Banglades (Bănglađét) (4-3-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Guinea (Ghinê) xích đạo (Bitxo - Bitxô, 20-5-1974); kiến lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Mangas (10-6-1974); lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Cộng hòa Gabon, Cộng hòa Guinea xích đạo; lập cơ quan Tổng đại diện tại Ấn Độ, đặt cơ quan liên lạc bên cạnh cơ quan Liên hiệp quốc ở Geneva (1-1975)).


Bên cạnh những chuyến viếng thăm ra nước ngoài, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã đón nhiều đoàn khách tới thăm và vùng giải phóng1 (Ủy ban quốc tế, Đoàn đại biểu ủy ban đoàn kết Bulgaria - Việt Nam, Đoàn đại biểu liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế (gồm Liên Xô, Thụy Điển, Cuba, Pháp, Nhật Bản, Chile); Đoàn đại biểu Hội đồng hòa bình thế giới và đoàn đại biểu Hội nghi Stockholm về Việt Nam; Đoàn đại biểu của Hội liên hiệp sinh viên quốc tế và liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới; Đoàn đại biểu tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi và Hội Nhật - Việt hữu nghị; Đoàn đại biểu tổ chức quốc tế các nhà báo; Đoàn đại biểu Ủy ban những người bạn Mỹ; Đoàn phụ nữ Mỹ... đã lần lượt tới thăm vùng giải phóng trong năm 1974). Được chứng kiến tận mắt cuộc sống của nhân dân vùng giải phóng và tinh thần lạc quan của những chiến sĩ cách mạng, các tổ chức, các đoàn đại biểu quốc tế bày tỏ sự ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam. Với các nỗ lực hoạt động của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức và nhân dân các nước đã có nhiều hành động phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam2 (Đảng Cộng sản Pháp và 20 Đảng Cộng sản ở Tây Âu ra tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhân ngày ký Hiệp định (27-1); kiều bào Pháp biểu tình đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris; nhân dân Nauy, Hungari, Liên Xô, Pháp, Anbani, Triều Tiên, Nhật Bản, Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ Đức mít tinh, biểu tình, đòi Mỹ - Thiệu nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định; 400 sinh viên, kiều bào ta ở Tây Đức tổ chức "ngày đồng tâm ủng hộ đồng bào" (14-12-1974), sinh viên và kiều bào ăn cơm muối, uống nước lã biểu thị lòng cảm thông với cuộc đấu tranh gian khổ của đồng bào Nam Bộ; Hội đồng liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế nhân ngày thành lập Chính phủ Cách mạng lảm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tổ chức "tháng đoàn kết với nhân dân Việt Nam"; nhân dân Moscow tổ chức "tuần quốc tế ủng hộ các tù chính trị ở miền Nam Việt Nam" (tháng 10-1974); "tuần đấu tranh vì hòa bình ở Việt Nam" bắt đầu từ ngày 11-11-1974 bằng việc biểu tình quanh Đại sứ quán Mỹ của đông đảo nhân dân thành phố London), yêu cầu Mỹ chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, chấm dứt vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Những hoạt động đối ngoại đa dạng, tích cực của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã góp phần củng cố ba tầng mặt trận ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn: Mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ ở Việt Nam, Mặt trận thống nhất chống Mỹ của các dân tộc Đông Dương, Mặt trận của nhân dân thế giới chống Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #68 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:36:11 pm »

III- PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ NỔI BẬT TRONG CÁC ĐÔ THỊ MIỀN NAM

1- Một số phong trào đấu tranh tiêu biểu phản đối chính quyền Sài Gòn

Với chính sách tố cộng diệt cộng tàn bạo và các chính sách sai lầm khác như tiêu diệt các giáo phái, lập ấp chiến lược, đàn áp phong trào Phật giáo, đối xử nghi kỵ và hiềm khích với những tri thức và công chức từng có quan hệ với Pháp... vô hình trung, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh phản kháng của nhiều tầng lớp nhân dân khác nhau. Trong 4 năm (1955-1958) đã có hơn 12 triệu lượt người tham gia các phong trào đấu tranh chính trị dưới các hình thức và mức độ khác nhau1 (Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sdd, tr. 43). Theo thống kê của Bộ Lao động Việt Nam cộng hoà thì trong hai năm 1961-1962, toàn miền Nam đã nổ ra 8.916 cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động; riêng tại Sài Gòn - Gia Định, số cuộc đấu tranh tăng lên nhanh chóng qua từng năm - năm 1955 mới có hơn 30 cuộc thì năm 1960 nổ ra 227 cuộc; 1961: 287 cuộc; 1962: 324 cuộc; 1963: 503 cuộc1 (Nguyễn Văn Linh và tập thể tác giả, Chung một bóng cờ, Sđd, tr. 253).


Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân, nhân dân lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, chợ... bùng nổ mạnh mẽ. Tiêu biểu là phong trào đấu tranh của hơn ba vạn công nhân và nhân dân lao động Sài Gòn đòi hiệp thương Tổng tuyển cử. Ngày 10 tháng 7 năm 1955, tại Sài Gòn diễn ra cuộc Tổng bãi công, bãi thị đòi mở Hội nghị hiệp thương hai miền, thu hút tới 70% dân chúng Sài Gòn tham gia. Trong phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, nổi bật nhất là cuộc đình công, bãi công của công nhân dệt Vinatexco và Vimytex. Các cuộc đình công, bãi công này kéo dài tới ba tháng liền với tính chất quyết liệt không khoan nhượng để đạt tới thắng lợi cuối cùng. Những cuộc đấu tranh của công nhân một số ngành như hỏa xa, cầu cảng, điện nước... có thời điểm đã làm tê liệt và đảo lộn đời sống sinh hoạt ở các thành phố lớn. Chưa dừng lại ở đó, cuộc đấu tranh còn lan rộng đến các hãng thầu Mỹ như RMK - BRJ, Usaid, Juspao... gây nên phản ứng dây chuyền, góp phần làm tê liệt một số bến tàu, cảng, sân bay quân sự, các nhà máy, cơ sở quốc phòng...


Ngày 27-4-1961, Hội Lao động giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đổi thành Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam) được thành lập. Nhân ngày Quốc tế lao động, Hội kêu gọi công nhân lao động đấu tranh, đồng thời khẳng định ngày 1-5 là ngày biểu dương khí thế và lực lượng của giai cấp công nhân. Từ sau khi Hội Lao động giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, phong trào đấu tranh của công nhân trong các xí nghiệp ngày càng lan rộng và dần dần đóng vai trò tiên phong trong đấu tranh chính trị. Tại Sài Gòn, ba nghiệp đoàn miền Nam đã thống nhất nêu ra gần 50 yêu sách và những khẩu hiệu như: Tăng lương, hạ giá sinh hoạt, trả tự do cho cán bộ và nghiệp đoàn viên đã bị bắt... Các cuộc bãi công, đình công đòi quyền dân sinh, dân chủ nổ ra liên tục ở các hãng, xưởng: Nước ngọt BGI, đóng tàu Caric, nhà đèn Chợ Quán, công nhân ô tô buýt, xe lửa, rượu Bình Tây... Từ ngày 6 đến ngày 22-9-1961, công nhân đình công phản đối thái độ ngang ngược của chủ người Mỹ đối với công nhân Việt Nam. Cuộc đình công được hàng chục nghìn công nhân, hàng trăm nghiệp đoàn và báo chí ở Sài Gòn - Chợ Lớn hưởng ứng, chỉ trích thái độ của chủ hãng Stanvac. Cuộc đấu tranh làm cho việc cung cấp xăng dầu bị tê liệt. Nhiều tàu chở xăng không dám vào cảng Sài Gòn, các hãng hàng không quốc tế phải tự cung cấp xăng dầu trước khi vào Việt Nam.


Phong trào đấu tranh của công nhân, nhân dân lao động các đô thị lớn đã tác động ảnh hưởng đến các tầng lớp nhân dân khác. Từ các hoạt động bột phát, riêng lẻ, phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động đã có sự liên kết với nhau dưới các hình thức tổ chức hợp pháp như Nghiệp đoàn, Ủy ban bảo vệ hòa bình, Ủy ban cứu trợ nạn nhân chiến tranh... Các cuộc đấu tranh nổ ra với nhiều hình thức đa dạng, quy mô và mục tiêu đấu tranh của các phong trào này là bảo vệ hòa bình, đòi quyền dân tộc tự quyết, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, bảo vệ hàng hóa nội địa, bảo vệ quyền lợi của giới, nội dung đấu tranh gắn liền với lợi ích thiết thực của người lao động. Ngoài thiệt hại kinh tế, các phong trào đấu tranh làm cho kế hoạch quân sự của chính quyền Sài Gòn bị ảnh hưởng nghiêm trọng.


Dưới sự lãnh đạo của Hội Lao động giải phóng miền Nam, công nhân miền Nam Việt Nam còn tham gia phong trào chống bắt lính. Nhân ngày 1-5-1964, sau khi Hội Lao động giải phóng miền Nam ra lời kêu gọi "bãi bỏ lệnh động viên toàn lực", "đả đảo chính sách bắt lính, kiên quyết không đi làm bia đỡ đạn cho Mỹ", công nhân các xưởng máy, đồn điền tích cực hưởng ứng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #69 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:37:10 pm »

Phong trào công nhân còn có sự liên kết với phong trào của học sinh, sinh viên, Phật giáo, tạo nên làn sóng chính trị phản kháng mạnh mẽ, dữ dội.

Ngày 9-1-1961, Hội Liên hiệp thanh niên sinh viên học sinh giải phóng được thành lập. Sự ra đời của Hội thúc đẩy phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên chống lại sự kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn và đòi các quyền lợi thiết thân trong trường học, là một bộ phận khăng khít của phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam, học sinh, sinh viên đấu tranh bền bỉ, quyết liệt. Phong trào diễn ra với các hình thức bãi khóa, mít tinh, biểu tình đòi tự do học tập, chống quân sự hóa học đường, chống bắt lính... Lực lượng tham gia ngày càng đông và có sự đoàn kết giữa các trường, các đô thị lớn, với Phật giáo, công nhân.


Ngày 17-1-1961, Ban cán sự phát động quần chúng đấu tranh với nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Trong đó nổi bật là những khẩu hiệu: "Chống bắt lính, miễn quân dịch cho học sinh, sinh viên", "Chuyển ngữ ở đại học"... Từ phong trào đấu tranh, ngày 26-3-1961, Đội vũ trang quyết tử học sinh, sinh viên được thành lập đế hỗ trợ cho biểu tình, nhập thị chống bầu cử. Nhân kỷ niệm ngày ký Hiệp định Geneva, thanh niên cùng đồng bào xuống đường đấu tranh, đòi "Thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ", "Đả đảo Ngô Đình Diệm"...


Để uy hiếp phong trào, Ngô Đình Diệm cho bắt Lê Hồng Tư và một số sinh viên khác. Ngày 24-5-1962, chính quyền Sài Gòn đã đưa Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, và nhiều người khác ra "Tòa án quân sự đặc biệt" và xử với án tù từ 5 năm tối chung thân, tử hình. Một phong trào chống "vụ án 24-5" lan rộng ra khắp Sài Gòn, các thành phố và các tỉnh ở miền Nam. Trong suốt một tuần lễ, truyền đơn, khẩu hiệu được rải hàng loạt tại nhiều trường. Trước khí thế đấu tranh của đồng bào, chính quyền Sài Gòn buộc phải giảm án tử hình cho một số người, riêng đối với Lê Hồng Tư vẫn giữ nguyên án và đày ra Côn Đảo.


Bên cạnh đó, học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam còn đấu tranh đòi tự trị đại học. Phong trào nổ ra ở Đại học Y khoa rồi lan ra Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học và các trường đại học khác có mục tiêu chống lại mọi sự can thiệp của chính quyền Sài Gòn vào các sinh hoạt đại học. Phong trào có sự tham gia của nhiều vị giáo sư, giảng viên đại học, không ngừng được mở rộng phạm vi, lan xuống cơ sở các trường đại học ở Sài Gòn mà mở rộng đến Huế, Cần Thơ, Đà Lạt... Phong trào của học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam còn đấu tranh đòi dạy tiếng Việt ở bậc đại học, nêu khẩu hiệu "Dân tộc Việt học tiếng Việt", thu hút được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trí thức Sài Gòn.


Một trong những nội dung đấu tranh trọng tâm của phong trào của học sinh, sinh viên miền Nam Việt Nam là chống quân sự hóa học đường. Để chống lại chính sách "quân sự hóa học đường" của chính quyền Sài Gòn, Tổng hội sinh viên lập ra Ủy ban chống quân sự hóa học đường, tổ chức mít tinh, hội thảo về chống bắt lính, về chủ đề "sinh viên và quân trường"... (giữa năm 1967), sinh viên, nhân sĩ, tôn giáo trung lập các trường Đại học Sư phạm, Đại học Khoa học, Y khoa, Luật khoa, Dược khoa, Nông lâm... Sài Gòn, tổ chức hội thảo phản đối luật động viên số 04/67 của Nguyễn Văn Thiệu. Tổng hội sinh viên Sài Gòn lên tiếng phủ nhận luật động viên vì bâ't hợp hiến. Các cuộc biểu tình của sinh viên đã tranh thủ được lực lượng lớn quần chúng ở đô thị tham gia; đồng thời, tranh thủ được sự ủng hộ của các giảng viên ở nhiều trường đại học.


Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh của giới tri thức, văn nghệ sĩ cũng phát triển mạnh mẽ. Khởi đầu và là một trong những phong trào đấu tranh tiêu biểu ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết là "Phong trào bảo vệ hòa bình" của giới trí thức và các tầng lớp nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, Phạm Huy Thông... Ra đời tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, phong trào nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, cần Thơ..., được tổ chức rộng rãi với nhiều chi nhánh xuống tới tận các khu phố, nhà máy, trường học... Ngày 7 tháng 11 năm 1954, một số nhà lãnh đạo phong trào bị bắt - sự kiện này châm ngòi cho một cuộc đấu tranh phản kháng rộng khắp đòi trả tự do cho các nhà lãnh đạo phong trào bảo vệ hoà bình. Phong trào bảo vệ hòa bình xuất bản tờ báo Hòa bình do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu phụ trách, thông qua tờ báo này, kêu gọi các tầng lớp nhân dân Việt Nam và nhân dân tiến bộ trên thế giới đoàn kết nhau lại, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh.


Hai tổ chức công khai hoạt động hợp pháp là Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và Hội Ái hữu ký giả Việt Nam cũng tích cực tham gia đấu tranh, ra các tờ báo đăng tải thông tin một cách khách quan, vạch rõ nỗi thống khổ của các nạn nhân chiến tranh. Tham gia đấu tranh, nhiều ký giả như Ái Lan, Hương Nam, Trần Thanh Thế, Nguyễn Văn Mai, Trần Ngọc Sơn đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam.


Từ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban bố Luật 10/59, mặc dù phong trào đấu tranh của tri thức, văn nghệ sĩ gặp nhiều khó khăn, song giới này vẫn tích cực dùng báo chí để nói lên tâm tư, nguyện vọng, bày tỏ chính kiến của mình về vận nước, về chiến tranh và hòa bình.


Như đã trình bày, một trong những chính sách sai lầm mà Ngô Đình Diệm thi hành ngay từ khi lên nắm quyền là chính sách kỳ thị Phật giáo. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến công Phật giáo trên quy mô lớn, xem chính sách kỳ thị Phật giáo như là một trong những biện pháp tiêu diệt các lực lượng đối kháng. Chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây nhiều đau thương, uất hận không chỉ trong Phật tử, tăng ni mà còn trong cả nhiều tầng lớp nhân dân miền Nam. Chính sách kỳ thị Phật giáo đó đã khiến bùng nổ phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM