Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:46:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7297 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #70 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:38:32 pm »

Phong trào Phật giáo miền Nam bắt đầu từ ngày 7 tháng 5 năm 1963 và kết thúc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, trải qua bốn giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 7-5 đến 16-6) - chủ yếu là đấu tranh đòi thực hiện Tuyên ngôn ngày 10-5-1963; giai đoạn 2 (từ 16-6 đến 16-7), phong trào tạm hòa hoãn; giai đoạn 3 (từ 16-7 đến 20-8), phong trào đấu tranh đòi thực thi Thông cáo chung; giai đoạn 4 (từ 21-8 đến 1-11), đấu tranh góp phần đưa đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm.


Vào ngày lễ Phật Đản (6-5-1963), tăng ni, Phật tử trên toàn miền Nam tiến hành mít tinh và biểu tình, tuần hành quy mô lớn chống lệnh cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ trọng đại do chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành. Chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp cuộc biểu tình của tăng ni, Phật tử Huế. Ngày 10 tháng 5 năm 1963, cuộc mít tinh của Phật tử tại chùa Từ Đàm (Huế) phát đi Bản Tuyên ngôn gửi chính quyền Ngô Đình Diệm, khẳng định quyết tâm đấu tranh đòi thực thi "tôn giáo bình đẳng". Cuộc đấu tranh của Phật tử Huế nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo các giới, các tôn giáo; kể cả một số công chức trong chính quyền Sài Gòn và sĩ quan trong quân lực Việt Nam cộng hòa, một số chức sắc và tín đồ Thiên chúa giáo. Tiếp đó, nhiều cuộc biểu tình, mít tinh phản đối đàn áp Phật giáo đã diễn ra liên tục tại Huế, Đà Nẵng, cần Thơ, Đà Lạt và khắp các đô thị miền Nam. Trước sự bùng phát dữ dội của phong trào Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã "cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới tăng ni, công chức, giáo sư, sinh viên cũng như trong các đoàn thể nhân dân"1 (Tài liệu SC06, HS 8356, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 2). Hàng trăm ngôi chùa trên khắp miền Nam bị khám xét, lục soát, hàng nghìn Phật tử bị bắt bớ, tù đày, tra tấn...; tuy nhiên, phong trào đấu tranh của Phật giáo không những không bị đè bẹp mà còn phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều lực lượng, nhiều phong trào khác phát động đấu tranh, hiệp thông với phong trào đấu tranh của phật giáo. Các trí thức, một số người trong chính quyền, một số nhân vật đấu tranh có tên tuổi đều lên tiếng lên án và phản đối thái độ tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và không sai khi khẳng định rằng, chính sách kỳ thị Phật giáo và sự phản kháng của tăng ni, phật tử là một trong những lý do quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11-1963.


Từ năm 1965, các phong trào đấu tranh của nhiều giới chống một số chính sách của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bùng nổ nhanh chóng và lan rộng. Điển hình là cuộc biểu tình của 50.000 người gồm trí thức, sinh viên, học sinh, công nhân và Phật giáo Sài Gòn - Gia Định chống quân Mỹ vào miền Nam (1-5-1965). Hơn 1.500 học sinh trường Hồng Lạc (Sài Gòn) căng biểu ngữ chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu (23-3-1966). Ngày 24-3-1966, hàng vạn sinh viên và thanh niên ở Huế biểu tình chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và bài Mỹ. Nhân ngày quốc tế lao động (1-5-1966), 30.000 nhân sĩ, trí thức, giáo chức, sinh viên, học sinh, cùng các tầng lớp nhân dân xuống đường biểu tình đòi Mỹ rút quân về nước, đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ở Huế, ngày 26-4-1966, hơn 2.000 sinh viên, học sinh tổ chức mít tinh tại Thương Bạc, sau đó kéo xuống đường biểu tình tuần hành.


Tháng 4 và tháng 5 năm 1966, Ủy ban lãnh đạo lực lượng Phật tử tổ chức biểu tình lớn tại Sài Gòn để phản đối quân đội điều lực lượng ra Huế, Đà Nẵng đàn áp các cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên, Phật tử phản đối "Đại hội chính trị" đòi Ủy ban lãnh đạo quốc gia và chính phủ Nguyễn Cao Kỳ rút lui, thành lập chính quyền dân sự. Ngày 18 tháng 5, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra Tuyên cáo bày tỏ bất tín nhiệm chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vì đã bội ước không rút quân khỏi Đà Nẵng và Huế; đồng thời, ủng hộ cuộc đấu tranh ở miền Trung kêu gọi tăng ni sẵn sàng tranh đấu.


Năm 1970, phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên dân biểu, tôn giáo, hội phái tiếp tục bùng lên mạnh mẽ. Sinh viên toàn miền Nam lập tức đấu tranh tổng bãi khoá đòi hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Sinh viên tiến hành bãi khoá với mít tinh, hội thảo, biểu tình, đốt lửa trại, đêm không ngủ... kết hợp với các hình thức mới như tuyệt thực, bãi khoá, xuống đường, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, dán áp phích, gây tắc nghẽn giao thông, xâm nhập trụ sở Quốc hội, Bộ Giáo dục, Bộ Tư pháp, Toà án quân sự... Giữa năm 1972, hàng nghìn nhân sĩ, trí thức, đại diện tôn giáo (gần một nửa mang tư tưởng trung lập) tổ chức nhiều cuộc hội thảo đòi Mỹ rút quân, đòi ký kết Hiệp định Paris, đòi nhanh chóng lập lại hoà bình. Phong trào đấu tranh chống Mỹ - Thiệu nhanh chóng lan rộng ra Đà Nẵng, Huế, Nha Trang... (Trung - Trung Bộ), Mỹ Tho, Cần Thơ... (Tây Nam Bộ). Để đàn áp và dập tắt các phong trào, Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tục tổ chức các cuộc tuần ráp lùng bắt những người yêu nước, song các phong trào không vì thế mà thoái lui, trái lại tiếp tục sôi nổi đấu tranh.


Từ sau khi Hiệp định Paris được ký kết, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng ở đô thị tiếp tục phát triển sâu rộng. Ở Nam Bộ, ngoài đội ngũ trí thức cách mạng đang hoạt động công khai hoặc bí mật chống lại chính quyền Sài Gòn, nhiều trí thức khác ủng hộ một nền hoà bình, độc lập, thống nhất dựa trên quyền tự quyết của người dân Việt Nam. Nhiều trí thức yêu nước vốn theo đường lối quốc gia dân tộc như luật sư Trần Ngọc Liêng, giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Kiều Mộng Thu, giáo sư Châu Tâm Luân, dân biểu Ngô Công Đức... đã dựa vào các điều khoản của Hiệp định Paris làm căn cứ pháp lý tập hợp quần chúng đòi hoà giải hoà hợp dân tộc, chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Ở thành phố Huế, Tổng hội sinh viên Huế phối hợp với Mặt trận văn hoá dân tộc miền Trung chào mừng Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết. Tổng hội sinh viên Huế lên án mạnh mẽ chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định Paris, đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đòi công nhận thực thể chính trị thứ ba, đòi hoà giải hoà hợp dân tộc. Tổng hội sinh viên Huế cho ra đời các tập san Thái Hoà, Đất Mới để phản ánh cuộc sống và phong trào đấu tranh của liên khoa sinh viên Huế. Sinh viên, học sinh Đại học Văn khoa, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn hưởng ứng phong trào "Mặt trận nhân dân cứu đói" rầm rộ xuống đường vừa phát chẩn cứu đói vừa tuyên truyền nội dung đấu tranh đòi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Sinh viên, học sinh Sài Gòn kêu gọi đấu tranh đảm bảo quyền sống, quyền lao động, đòi hoà bình, hoà giải dân tộc...


Cuối năm 1973, đầu năm 1974, phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam Việt Nam tiếp tục mở rộng và phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức đấu tranh. Tiêu biểu là Phong trào dân tộc tự quyết ra bản tuyên ngôn (23-2-1974) kêu gọi nhân loại tiến bộ trên thế giới cùng các đoàn thể, báo trí trong và ngoài nước ủng hộ lập trường đấu tranh vì hoà bình, hoà giải và hoà hợp dân tộc tại miền Nam Việt Nam. Hay Lực lượng trung lập dân tộc Việt Nam ra lời hiệu triệu với nội dung "Quyết tâm tranh thủ thống nhất đất nước trong hoà bình và thịnh vượng, thực hiện một nước Việt Nam độc lập và trung lập"1 (Bộ Tư lệnh cảnh sát Quốc gia, Tập tài liệu của Phủ Thủ tướng, Bộ Nội vụ về hoạt động của các mặt trận, Tài liệu Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, phòng PTT Việt Nam Cộng hoà, hồ sơ số 31518). Hay như ngày 30 tháng 1 năm 1973, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra thông bạch số 892 và 90 gọi tăng ni và phật tử lưu ý các việc phải làm sau khi ngừng bắn tại Việt Nam.


Như vậy, phong trào đòi hoà bình, hoà giải dân tộc phát triển rộng khắp các thành phố, thị xã miền Nam. Chỉ tính riêng địa bàn Sài Gòn - Gia Định đã có đến "30 đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, tôn giáo liên kết lại thành một mặt trận đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Mỗi đoàn thể đưa ra nội san, báo chí để phổ biến lập trường chính trị của mình trong việc đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Paris"1 (Tập san Đứng dậy số 51, tháng 11-1973, tr. 1-2). Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị trên toàn miền Nam phát triển với nhiều hình thức đấu tranh, tập hợp được đông đảo, rộng rãi các phe nhóm, các nhân sĩ, trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, thương gia, các cựu sĩ quan của quân đội Sài Gòn..., có khuynh hướng chống chiến tranh đòi hoà bình, độc lập cho Việt Nam, góp phần thúc đẩy chính quyến Sài Gòn đến sự khủng hoảng toàn diện.


Nhìn chung lại, trong 21 năm chiến tranh (1954-1975), phong trào đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, nhất là ở các đô thị lớn, đi từ tự phát tới tự giác, từ nhỏ, vừa đến lớn với những nội dung cụ thể, sắc bén, đa dạng, đưa ra những khẩu hiệu hành động, thiết thực, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào các hình thức đấu tranh phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, mỗi lực lượng, mỗi giới, mỗi tầng lớp, thành phần trong nhân dân đều có những hình thức đấu tranh phù hợp mục tiêu, yêu cầu đấu tranh, với so sánh lực lượng từng lúc, ở từng địa bàn. Đặc biệt là hầu hết các cuộc đấu tranh của các tổ chức nhân sĩ, trí thức, Công giáo, Phật giáo, dân biểu... đều được các tổ nhóm cán bộ cách mạng hoạt động bí mật ở nội thành tranh thủ, vận động cùng thực hiện, làm cho kết quả thu được vượt xa sự mong đợi. Phối hợp với ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) của lực lượng cách mạng các tầng lớp nhân dân khác nhau đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi cuối cùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #71 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:43:45 pm »

2. Lực lượng thứ ba và những đóng góp cho sự nghiệp thống nhất đất nước

Từ điển Merriam - Webster Collegiate Dictionary (2005) giải thích về "lực lượng thứ ba" (Third Force) như sau: "Lực lượng thứ ba là một nhóm (đảng phái chính trị hoặc lực lượng quốc tế) đứng trung gian giữa hai lực lượng chính trị đối địch". P. Mendoza (P. Mêdôda) định nghĩa lực lượng thứ ba là "nhóm đưa ra đường hướng, giải pháp thay thế các lực lượng thứ nhất và thứ hai; do đó, lực lượng thứ ba chỉ đơn giản là một bên thứ ba trong một cam kết chính trị"1 (P. Mendoza, Is There a Third Force in Philippine Politics?, Chapel.net). Trên quan điểm đó, P. Mendoza xác định lực lượng thứ ba" ở miền Nam Việt Nam bao gồm những người "không thuộc về phe Quốc gia, cũng không thuộc về phe cách mạng cộng sản. Đó là những người đấu tranh chống lại tham nhũng, độc tài, sự quản lý kém hiệu quả của chế độ Quốc gia"2 (P. Mendoza, Is There a Third Force in Philippine Politics?, Chapel.net).


Về thời điểm xuất hiện lực lượng thứ ba ở Việt Nam, các ý kiến khá khác nhau. P. Mendoza nêu giả thuyết thuật ngữ này được đề cập lần đầu tiên trong cuốn The Quiet American (1955) của Graham Greene (G. Gòrinơ); trong đó, Alden Pyle (A. Philê) - một nhân viên tình báo CIA trong vai người của Phái bộ Kinh tế thuộc Đại sứ quán Mỹ đã bí mật phát triển một lực lượng thứ ba tách khỏi cả phe thực dân Pháp lẫn quân nổi dậy Việt Minh do cộng sản cầm đầu1 (Graham Greene, The Quiet American, Penguin Books, 2002, p.17-36).


Phóng viên báo Le Monde Jean - Claude Pomonti (J. C. Pômônti) nhắc đến lực lượng thứ ba vào năm 1960, gắn nó với sự kiện nhóm 18 chính khách vừa có lập trường chống cộng, vừa chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm ra kháng thư phản đối chế độ2 (Jean Claude Pomonti, La Rage d'être Vietnamien, Le Seuil, Paris, 1972, p.242). Một phóng viên khác của báo Le Monde - Jacques Decornoy (J. Đêcônoi) cho rằng lực lượng thứ ba ở miền Nam Việt Nam xuất hiện vào năm 1969, khi một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh... hình thành nên "nhóm Dương Văn Minh"3 (Jacques Decornoy, "Tombeur" de Diem et Ennemi de Thieu, Le Monde, 27-28/1975). André Menras (A. Menrát) coi phong trào hòa bình đấu tranh chông các chính sách độc tài của Ngô Đình Diệm hình thành và lớn mạnh từ năm 1963 là lực lượng thứ ba4 (André Menras, How America mocked the ceasefire: Vietnam since the Paris Agreement, Bulletin of Concerned Asia Scholars, 1974, N° 11-12, p.25). Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình có ý kiến khác. Bà khẳng định lực lượng thứ ba ra đời trong thời gian đàm phán Hiệp định Paris, tuy nhiên bà không chỉ ra một thời điểm cụ thể5 (Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2011): Đóng góp của "thành phần thứ ba" cho ngày chiến thắng, Báo Đại Đoàn Kết, ngày 18-4-2001).


Bên cạnh đó, một số học giả không thừa nhận sự tồn tại của "lực lượng thứ ba" ở miền Nam Việt Nam. Ông Huỳnh Văn Tòng - một nhân vật nổi bật trong giới trí thức yêu nước miền Nam phân tích: "Giữa hai lực lượng tham chiến hung hãn, giàu mạnh là Mỹ - Thiệu và kháng chiến Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phe xã hội chủ nghĩa), trong lòng các đô thị miền Nam vào thời điểm ấy (1973) không có một thế lực nào được gọi là lực lượng thứ ba có đủ sức mạnh đóng vai trò trung gian hòa giải như Hiệp định Paris đã đề ra"1 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Ông Huỳnh Văn Tòng giải thích: "Bản thân chính trị can thiệp Mỹ không tồn tại trong đầu óc các nhà làm chính sách của tòa Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao và tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn một ý niệm nào về một lực lượng như thế. Các chế độ phụ thuộc từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu lại càng rạch ròi hơn. Không Quốc gia là Cộng sản. Không Cộng sản là Quốc gia"2 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Ông Huỳnh Văn Tòng đề nghị nên gọi đó là "thành phần thứ ba" hoặc "khuynh hướng chính trị thứ ba" và kết luận: "Thành phần chính trị thứ ba chỉ xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt - Mỹ. Nó được đăng ký khai sinh qua văn bản Hiệp định Paris. Nó là một thực tế phát sinh từ hai lực lượng chính quyết định cuộc chiến là Mỹ và Cộng sản Việt Nam"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, diendan.org). Tương tự, Don Luce (D.Luxi), John Sommers (J.Sămmơ)4 (Don Luce & John Sommers, Vietnam: The Unheard Voices (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1969), p.123) và Alfred Hassler (A.Haxlơ)5 (Paul Menzel, Moral Argument and the War in Vietnam, Nasville: Aurora Publishers, 1971, p.202) gọi phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam Việt Nam từ năm 1965 trở đi là "giải pháp thứ ba" (Third Solution)6 (Don Luce & John Sommers, Vietnam: The Unheard Voices (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1969), p.123; Paul Menzel: Moral Argument and the War in Vietnam, Nasville: Aurora Publishers, 1971, p.202).


Về phía Đảng Lao động Việt Nam, cho đến trước năm 1972, thuật ngữ "lực lượng thứ ba" chưa thấy xuất hiện ở các văn kiện, nghị quyết. Năm 1970, 1971, Đảng Lao động Việt Nam dùng cụm từ "lực lượng trung gian", "tầng lớp trên" để chỉ các lực lượng, các plie phái "đối lập" với Mỹ và chính quyền Sài Gòn - đó là "các lực lượng tiến bộ trong giới trí thức và trong các tổ chức tôn giáo, các nhóm chính trị có tinh thần dân tộc, dân chủ, các nhóm cải cách, các nhóm thân Pháp, thân Mỹ, muốn chấm dứt chiến tranh, muốn có chủ quyền quốc gia và chống lại chính quyền tay sai hiện nay của đế quốc Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 31, tr.79). Bà Nguyễn Thị Bình gọi lực lượng này là "những người không phải của Mặt trận, cũng không phải của chính quyền Sài Gòn - đòi phải chấm dứt chiến tranh, thay đổi chính quyền không có sự can thiệp của nước ngoài"2 (Nguyễn Thị Bình, Đấu tranh vì lợi ích tối cao của dân tộc, news.go, 26-1-2013).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #72 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:45:14 pm »

Thuật ngữ "lực lượng thứ ba" được Đảng Lao động Việt Nam sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972 trong bức điện ngày 28-9 của Lê Duẩn gửi Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Khu 5, Khu ủy Trị - Thiên chỉ thị về những công tác cấp bách ở miền Nam. Nói về "các phe, nhóm tán thành hoà bình, dân tộc, dân chủ, hoà hợp dân tộc"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 33, Sđd, tr.327), Lê Duẩn đã gọi đó là "lực lượng thứ ba", lực lượng này, như Lê Duẩn khẳng định, có thể trở thành lực lượng đồng minh trực tiếp, góp phần "phân hoá hơn nữa các thế lực phản động, cô lập và chĩa mũi nhọn vào Thiệu và các phần tử thân Mỹ cực đoan, hiếu chiến"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 33, Sđd, tr.327). Thậm chí, đến năm 1973, Đảng Lao động Việt Nam vẫn coi việc "thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời [TG nhấn mạnh] của lực lượng thứ ba" là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, khẳng định cần "thông qua các lực lượng hoà bình, dân tộc, dân chủ trong các từng lớp trung gian và các từng lớp trên, lôi kéo các xu hướng, các lực lượng "đối lập" với Thiệu"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 34, tr.608).


Trên thực tế, ở miền Nam Việt Nam, cuộc đấu tranh của một bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ "không quốc gia, không cộng sản" vì hòa bình, phản đối chiến tranh, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội có từ rất sớm, ngày sau khi Hiệp định Geneva vừa ký kết. Đó là các phong trào bảo vệ hòa bình (dưới sự lãnh đạo của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, các giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, Phạm Huy Thông), Phong trào cứu trợ nạn nhân và đòi hiệp thương Tổng tuyển cử, Phong trào Phật giáo, phong trào của Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt và Hội ái hữu ký giả Việt Nam... Tuy diễn ra tương đối rầm rộ, nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn, thu hút đông đảo người dân xuống đường đấu tranh bãi công, bãi khóa, mít tinh..., song nó mới chỉ dừng lại ở mức độ phong trào, chưa đủ chín muồi để kết thành lực lượng. Hơn nữa, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng không thể dung chứa và cho phép tồn tại một bộ phận quyền lực như thế - một bộ phận quyền lực khiến xã hội miền Nam có thể bị chia rẽ và chính quyền bị vướng bận, không thể toàn tâm, toàn lực chiến đấu với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì lẽ đó, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tăng cường đàn áp, bắt bớ, đánh phá tan nát hoặc lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận trong các phong trào ấy nghiêng về hoặc đi theo; đồng thời, bằng bạo lực đã đẩy một bộ phận khác ra xa rồi đi về phía cộng sản; cô lập, vô hiệu hóa phần nào bộ phận còn lại.


Năm 1968, sau sự kiện Tết Mậu Thân, chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ phá sản, chính trị, kinh tế - xã hội nước Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, chính trường Mỹ chia rẽ. Tin Tướng Westmoreland (Oétmolen) xin thêm 206.000 quân đã trở thành sự kiện lớn ở Mỹ, là "tiêu điểm" cho cuộc tranh luận chính trị và làm tăng thêm "tinh thần bất mãn của công chúng"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tập I, Việt Nam Thông tấn xã dịch và phát hành, 8-1971, tr.247). Bên cạnh đó, nội bộ chính quyền Sài Gòn rối ren, tinh thần của quân đội Sài Gòn sa sút mạnh, bước vào thời kỳ "thoái chí". Một phong trào phản đối chiến tranh bùng phát mạnh mẽ trên thế giới và ở cả Mỹ cũng như miền Nam Việt Nam. Từ tháng 11-1968 đến tháng 3- 1969, hàng loạt các tổ chức trung lập cổ vũ cho xu hướng tự do dân chủ, hòa bình ra đời: Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà binh Việt Nam, Ban vận động hiệp thương Đảng xã hội cấp tiến, Lực lượng quốc gia tiến bộ, Tổ chức tiếng nói nhân dân miền Nam, Ủy ban thanh niên học sinh tranh thủ dân chủ và hoà bình; Ủy ban phụ nữ đòi quyền sống, Ủy ban công giáo vận động hoà bình... Các tờ báo "Tin Sáng", "Đối diện", "Quật khởi", "Điện tín", "Tin tưởng"... (cơ quan ngôn luận của các tổ chức nói trên) đã đăng nhiều bài báo thể hiện lập trường yêu nước, chống chiến tranh, phản đối Chính phủ Thiệu - Kỳ, tố cáo R.Nixon chủ trương mở rộng hoạt động quân sự, đòi Mỹ rút quân về nước. Phong trào đấu tranh của giáo chức, sinh viên, học sinh với các hình thức tuyệt thực, bãi khoá, xuống đường, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, dán áp phích nở rộ khắp các đô thị. Hàng trăm nhân sĩ, trí thức, cha xứ, tăng ni, Phật tử, dân biểu (Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung..., thượng tọa Thích Pháp Lan, hoà thượng Thích Hiển Pháp, ni sư Huỳnh Liên; Linh mục Trương Đình cần, Linh mục Phan Khắc Từ...) đứng lên phản đôi chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn càng đàn áp, bắt bớ, phong trào càng bùng lên mạnh mẽ. Khi đàm phán Hội nghị ở Paris khởi động, "nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành, có người và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có người và nhóm không có liên hệ gì với Mặt trận"1 (Kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2011): Đóng góp của "thành phần thứ ba" cho ngày chiến thắng, Tlđd).


Bùng nổ rầm rộ, bao gồm nhiều giai tầng khác nhau, nhanh chóng lan rộng ra các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ..., thu hút đông đảo lực lượng xuống đường đấu tranh bãi công, bãi khóa, mít tinh, tán thành hoà bình, dân chủ, hoà hợp dân tộc - với tính chất và đặc điểm như vậy, từ thời điểm năm 1969, các phong trào này kết thành làn sóng mạnh mẽ, liên kết nhiều thành phần trong xã hội, hình thành một lực lượng trung lập, đẩy Mỹ và chính quyền Sài Gòn vào thế khó khăn, đối phó một cách lúng túng - đó chính là "lực lượng thứ ba". Lực lượng thứ ba đã có những đóng góp nổi bật trong cuộc đấu tranh đi đến ký kết Hiệp định Paris, thi hành Hiệp định Paris và nhất là trong chiến thắng ngày 30-4.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #73 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:46:11 pm »

Tháng 6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời và sau đó tham gia Hội nghị với tư cách là một thực thể chính trị độc lập.

Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân sĩ, trí thức, giáo chức, sinh viên, tôn giáo, đảng phái lan toả mạnh mẽ. Tháng 6-1969, Đảng xã hội cấp tiến ra tuyên bố đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi hoà bình, thống nhất đất nước trong dân chủ. Lực lượng Quốc gia tiến bộ tuyên ngôn kêu gọi cấp tốc thực hiện ngừng bắn. Tổ chức Tiếng nói nhân dân miền Nam Việt Nam kêu gọi "phải đoàn kết lại, đặt tình thương dân tộc trên hết, để xoá mọi hận thù, cùng nhau tranh đấu để đòi tái lập trật tự và an ninh cho đất nước".


Cuối năm 1970, đầu năm 1971, phong trào đấu tranh kết hợp các mục tiêu dân sinh dân chủ, dân tộc và hoà bình ở đô thị tiếp tục phát triển. Hàng loạt tổ chức rộng rãi, công khai, hợp pháp, nhằm tập hợp và thúc đẩy phong trào đấu tranh ra đời. Mặt trận nhân dân tranh thủ hoà bình được thành lập ở Sài Gòn, ở Huế rồi lan ra khắp miền Nam.


Trên bàn đàm phán Hội nghị Paris, để tranh thủ dư luận thế giới, tháng 9-1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra Kế hoạch tám điểm (tám điểm nói rõ thêm). Ngoài vấn đề rút quân, trao trả tù binh, gạt bỏ bộ ba Thiệu - Kỳ - Khiêm, điểm nhấn của Kế hoạch tám điểm là thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm ba thành phần ở miền Nam, trong đó thành phần thứ ba bao gồm "những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ". Kế hoạch tám điểm gây được thiện chí, sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong và ngoài Việt Nam.


Từ tháng 7-1971, Phong trào nhân dân chống trò hề bầu cử, Phong trào dân tộc tự quyết; Phong trào phụ nữ đòi quyền sống; Tổng hội sinh viên... đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các xu hướng chính trị, các đảng phái, tôn giáo miền Nam cùng đoàn kết chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, khơi dậy một làn sóng đấu tranh mới. Năm 1971 được coi là năm đỉnh cao của phong trào đô thị miền Nam, thúc đẩy hơn nữa sự phân hoá trong nội bộ chính quyền Sài Gòn, mở rộng lực lượng đấu tranh dân chủ và hòa hợp dân tộc.


Phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhanh chóng lan rộng ra Đà Nẵng, Huế, Nha Trang... (Trung - Trung Bộ), Mỹ Tho, Cần Thơ... (Tây Nam Bộ). Ở Huế, tháng 3 -1972, Tổng hội sinh viên Huế phối hợp với Mặt trận văn hoá dân tộc miền Trung tổ chức Tuần lễ văn hoá sinh viên, học sinh tại khuôn viên Trường Đại học Khoa học Huế. Cuối năm 1972, 30 tổ chức, đoàn thể và 15 nhân sĩ trí thức, tôn giáo ở Sài Gòn và các tỉnh thành miền Nam đấu tranh đòi chính quyền Mỹ và Sài Gòn ký kết Hiệp định Paris, trả tự do tù chính trị và sinh viên, học sinh.


Trong một thời gian dài, những phong trào đấu tranh ủng hộ hòa bình, phản đối chiến tranh, phản đối hành động của chính quyền Mỹ đối với miền Nam Việt Nam diễn ra liên tục, rộng khắp, sôi nổi, mạnh mẽ đã ảnh hưởng đến công luận Mỹ, chính giới Mỹ, từ đó tác động trực tiếp tới tiến trình Hội nghị Paris, là một trong những nguyên nhân dẫn đến ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào tháng 1-1973. Điều 12 của Hiệp định ghi rõ: "Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia"1 (Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ, http://thuvienphapluat.vn); "hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia để hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau"1 (Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Hoa Kỳ, http://thuvienphapluat.vn).


Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, lực lượng chính trị trong các đô thị miền Nam phân hoá mạnh mẽ. Trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Paris, lực lượng thứ ba đã được quốc tế công nhận là một lực lượng chính trị, có quyền tham gia thành lập chính phủ ba thành phần. Trên vị thế mới đó, lực lượng thứ ba đứng lên kêu gọi các lực lượng chính trị ở miền Nam hiệp thương bàn thảo về tương lai của đất nước, chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Nhiều trí thức yêu nước theo đường lối quốc gia dân tộc (luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Kiều Mộng Thu, giáo sư Châu Tâm Luân, dân biểu Ngô Công Đức...) đã lấy các điều khoản của Hiệp định Paris làm căn cứ pháp lý, tập hợp quần chúng đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi hoà giải hoà hợp dân tộc, chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Tổng hội sinh viên Huế lên án mạnh mẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vi phạm Hiệp định Paris, đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đòi công nhận thực thể chính trị thứ ba, đòi hoà giải, hoà hợp dân tộc. Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ra đời, Uy ban đòi và nhận tù nhân thuộc thành phần chính trị thứ ba được thành lập là bước tiến mới của lực lượng thứ ba. Những tổ chức này tuyên bố đứng trên lập trường dân tộc và cơ sở hoà giải, hoà hợp dân tộc giải quyết mọi tranh chấp bằng phương pháp hoà bình. Phong trào Phụ nữ Việt Nam đòi quyền sống phát đi thông điệp: Đấu tranh thuần tuý chính trị đòi hoà bình trong hoà giải dân tộc, đòi quyền dân tộc tự quyết trong tự do dân chủ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #74 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:48:11 pm »

Cuối năm 1973, đầu năm 1974, khối Phật giáo Ấn Quang tuyên bố thành lập Lực lượng hoà giải dân tộc. Các Măt trận cứu đói, Cộng đồng tin mừng, Tổ chức chống tham nhũng, Ủy ban hành động cho công bằng xã hội... thuộc phong trào Phật giáo cũng lần lượt ra đời. Phong trào đòi hoà bình, hoà giải dân tộc phát triển rộng khắp, chỉ tính riêng địa bàn Sài Gòn - Gia Định đã có "30 đoàn thể chính trị, văn hoá, xã hội, tôn giáo liên kết lại thành một mặt trận đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng hoà"1 (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chỉ văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh, tập 2, Nxb Hồ Chí Minh, 1998, tr. 617).


Với một thế đứng trung lập rõ rệt, không đồng hoá với hai phe miền Nam Việt Nam, phản đối chính sách độc tài của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng như can thiệp quân sự - chính trị của Hoa Kỳ vào nội bộ miền Nam Việt Nam, hoạt động của lực lượng thứ ba khiến nội bộ chính quyền Sài Gòn vốn đã bất ổn lại càng bất ổn hơn. Chính thể Việt Nam Cộng hoà lún sâu vào khủng hoảng, báo hiệu ngày sụp đổ.


Ngày 21-4-1975, sau khi tuyến phòng thủ then chốt Xuân Lộc thất thủ, chính quyền Sài Gòn rơi vào tuyệt vọng, sự tan rã chỉ còn tính bằng giờ. Trong tình hình đó, sự tồn tại của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu - một chính quyền chống cộng đến cùng là hết sức bất lợi cho việc thu xếp một kết cục chung cuộc. Phế truất Nguyễn Văn Thiệu là con đường mong manh, "còn nước, còn tát" để cứu vãn  Sài Gòn. Do vậy, phong trào đấu tranh gây áp lực đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức dấy lên khắp nơi (phong trào đấu tranh của Tổ chức nhân dân thi hành Hiệp định Paris, phong trào của Trung tâm văn bút Việt Nam...). Các tổ chức này lên án Nguyễn Văn Thiệu độc tài phát xít, phá hoại các điều khoản của Hiệp định Paris về hoà bình, hoà giải, hoà hợp dân tộc. Thời gian này, báo chí có tác dụng to lớn trong tuyên truyền, đấu tranh. Báo Điện Tín, báo Đối Diện viết bài công kích chế độ Nguyễn Văn Thiệu, đăng tải đầy đủ tin chiến sự bất lợi đối với chính quyền Sài Gòn, khiến lực lượng tướng lĩnh quân đội Sài Gòn hết sức hoang mang. Tình hình chiến sự tiếp tục xấu đi nhanh chóng, trong khi đó, Quốc hội Mỹ từ chối viện trợ cho miền Nam Việt Nam (4-1975). Dưới hàng loạt áp lực, tối 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải tuyên bố từ chức, giao lại quyền hành cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương theo quy định của Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà. Tuy nhiên, về bản chất, Trần Văn Hương cũng là một nhân vật chống cộng quyết liệt, nên việc Tổng thống Thiệu từ chức và Trần Văn Hương tại vị không thể dẫn đến giải pháp hòa bình, thương lượng.


Trong không khí ảm đạm, nhiều người tin tưởng ở Dương Văn Minh - người cầm đầu lực lượng hòa bình, hòa giải dân tộc, nhận định đó là gương mặt có thể thương thuyết với "Việt Cộng", nhưng Trần Văn Hương vẫn quyết không chịu từ chức, thề sẽ tử thủ đến cùng.    Ngày 26 và 27-4-1975, được sự cổ vũ của Đại sứ Pháp, Đại sứ Mỹ và một số quan chức Sài Gòn, Dương Văn Minh được "đôn" lên thay Trần Văn Hương, hy vọng mở lối hiệp thương với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ hoà giải, hoà hợp dân tộc. "Sự xuất hiện trở lại trên chính trường của ông Dương Văn Minh chính là kết quả hoạt động tích cực của lực lượng thứ ba, lực lượng những người đấu tranh với Mỹ - Thiệu ngay trong lòng chế độ Sài Gòn bấy giờ"1 (Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, Tuần báo Quốc tế, 31-3-2005). Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kịp thời cài sâu nhiều cán bộ binh vận trong nội các của Tổng thống Dương Văn Minh.


Với thế thắng như chẻ tre, các cánh Quân giải phóng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên bốn hướng chiến dịch tiếp tục tiến công, áp sát Sài Gòn, giải pháp thương thuyết "thành lập một chính phủ hoà giải, hoà hợp dân tộc" đã không còn được đặt ra, vấn đề còn lại chỉ là chính phủ Dương Văn Minh đầu hàng hay không đầu hàng. 10 giờ ngày 29-4-1975, Quân ủy Trung ương, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đang họp thì nhận được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị cấp tốc gửi điện Về tiếp tục tổng tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, chỉ thị tiếp tục tiến công "tiến công với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chỉnh quyền các cấp của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân 1975 - Văn kiện Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.324).


9 giờ sáng ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái3 (Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1963-1964), thành viên Cụm Điệp báo A10) thông báo cho các nhóm thuộc lực lượng thứ ba tại Chùa Vạn Hạnh rằng "thầy Trí Quang đã bàn thảo với các thành viên của Lực lượng Hòa giải và Liên lạc với dinh Độc lập để chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd, thi đại). 9 giờ 30 phút, qua đài phát thanh, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố sẵn sàng bàn giao quyền lực cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: "Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam (...). Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào"1 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tạp chí Xưa và nay, số tháng 3-2008). Như vậy, thay vì "tử thủ" như một số tướng tá kêu gọi, trong hy vọng cuối cùng, Dương Văn Minh chấp nhận giải pháp bàn giao quyền lực. Dương Văn Minh lý giải cho bước đi ấy như sau: "Sinh mạng con người, sinh mạng người Việt, sinh mạng người Pháp, phải được cứu"2 (Le Monde, 2-5-1975). Luật sư Trần Ngọc Liễng thêm cho biết: "Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa ngày 29-4-1975"3 (Phạm Văn Hùng, Hồ sơ Tướng Dương Văn Minh, Tạp chí Hồn Việt, số 11, tháng 5-2008).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2026, 08:49:58 pm »

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng húc sập cổng dinh Độc Lập, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung và một số người khác từ phòng trong ra tiền sảnh để nghênh đón Quân giải phóng nhưng họ rơi vào tình thế nhốn nháo, căng thẳng và bất ngờ. Có mặt tại dinh Độc Lập vào giây phút ấy, ông Huỳnh Văn Tòng nhận xét: "Đã diễn ra cảnh tượng đầu hàng - tiếp nhận đầu hàng không đáng có giữa chính phủ Dương Văn Minh và những người sĩ quan xe tăng miền Bắc"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd). Trước đó, Hà Nội đã hạ lệnh "có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại thắng mùa Xuân 1975 - Văn kiện Đảng, Sdd, tr.332).


Được đưa đến đài phát thanh, trong thế lưỡng nan, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sài Gòn được giải phóng, miền Nam được giải phóng, Việt Nam ngập cờ và hoa, lẫn trong đó có nụ cười của người chiến thắng, có nước mắt của "bên thua cuộc". Hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các "đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phô Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn"2 (Phạm Văn Hùng, Hồ sơ Tướng Dương Văn Minh, Tạp chí Hồn Việt, số 11, tháng 5-2008). Việc Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng đã làm giảm ý chí chiến đấu của đại bộ phận quân đội Việt Nam Cộng hòa vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho Quân giải phóng tiến nhanh vào thành phố Sài Gòn và nhiều vị trí khác, tránh những tàn khốc, đổ máu và mất mát không cần thiết. Hành động của nội các Dương Văn Minh thể hiện "ý chí và khát vọng hòa bình theo tinh thần của đạo Phật và đường lối, chủ trương của Giáo hội Phật giáo"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd) với hy vọng "hòa giải, hòa hợp dân tộc, toàn dân chung sức chung lòng xây dựng đất nước sau 117 năm bị xâm lược, chiến tranh tàn phá và xâu xé, tương tàn"4 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd). Nguyễn Hữu Thái bình luận: Dương Văn Minh đã "hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để thực sự cứu thành phố" này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát (...). Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời"1 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tlđd). Tham gia vào công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước, Dương Văn Minh thức thời nhận ra rằng, "chiến tranh ý thức hệ đã mất hết ý nghĩa. Vấn đề khẩn cấp không còn là sự chiến thắng của lập trường chính trị này hay ý thức hệ kia mà là sự sống còn của dân tộc"2 (Far Eastern Economic Review, 11 October 1974, p.14). Không loại trừ khả năng bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch, vào điểm "gút" của lịch sử, như Nguyễn Hữu Thái nhận xét, "một người trong cương vị ông Minh có thể có nhiều quyết định"3 (Chu Sơn, Trò chuyện với Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng, Tlđd), ông có thể có một sự lựa chọn khác, nhưng ông đã bước qua sĩ diện và tự ái cá nhân để tránh cảnh huynh đệ, cốt nhục tương tàn, "nồi da nấu thịt", những mong hân hoan "trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập"4 (Nguyễn Hữu Thái, 30-4-1975, Dương Văn Minh và tôi, Tlđd).


Tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau chiến tranh, Võ Văn Kiệt nhắc nhở "không thể không nói đến vai trò của các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ"5 (Những trăn trở của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc, Tlđd). Điều đó trở thành nỗi trăn trở của ông cho đến mãi sau này.


Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã lùi xa nhưng nhiều vấn đề của nó không chìm đi mà vẫn luôn hiện hữu ở hiện tại. Như mọi xã hội hậu chiến, Việt Nam phải đối diện với nhiều vết thương chiến tranh ở những mức độ nông sâu khác nhau và sự tác động, ảnh hưởng hết sức đa dạng. Một trong những vết thương sâu đậm nhất là sự chia rẽ lòng người. Chiến tranh qua đi nhưng nếu không hóa giải được hận thù và nghi kỵ thì như một tất yếu đó sẽ là mồi lửa cho những cuộc chiến có tiếng súng và không tiếng súng. Để đẩy lùi xung đột, nhất là những xung đột trong tâm thức dân tộc, chỉ có một con đường duy nhất là tha thứ và hòa giải - đó là quá trình hai chiều và từ hai phía. Trên tinh thần ấy, đã có những ghi nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước trong và ngoài đất nước sông dưới chế độ Sài Gòn từng khẳng khái đấu tranh và hy vọng về một ngày hòa giải, hòa hợp dân tộc. Dù đã được ghi nhận những đóng góp nhất định cho đất nước, song đến nay, đề tài về lực lượng thứ ba vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để nhìn nhận về vai trò của nó đã có trong lịch sử.


Mỗi thời khắc, mỗi năm tháng qua đi, trách nhiệm của giới nghiên cứu lại nặng hơn, đầy thêm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #76 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:10:51 pm »

Chương IV
TRANH THỦ SỨC MẠNH THỜI ĐẠI


I- TRANH THỦ TỐI ĐA SỰ GIÚP ĐỠ, ỦNG HỘ CỦA PHE XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1- Tranh thủ sự giúp đỡ của Liên Xô

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào chiến tranh trong điều kiện quốc tế hết sức phức tạp, nhất là các lực lượng đồng minh của Việt Nam có những mâu thuẫn, bất đồng. Vượt qua những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài, tranh thủ mọi yếu tố quốc tế thuận lợi, Đảng Lao động Việt Nam tính toán, phân tích, cân nhắc toàn bộ những vấn đề thuộc về, hoặc liên quan đến cuộc kháng chiến, từng bước hình thành nên đường lối kháng chiến chống Mỹ; trong đó, quan điểm, chủ trương vận động quốc tế là bộ phận hợp thành.


Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đường lối, chính sách vận động quốc tế với nội dung cốt lõi là tăng cường đoàn kết quốc tế, củng cố tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, tranh thủ mọi sự ủng hộ của các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.


Thực hiện nhiệm vụ nói trên, Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ của Liên Xô - một trong những nước lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Bước ra khỏi cuộc kháng chiến chín năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương mở rộng quan hệ với các nước dân chủ nhân dân và đặt trọng tâm quan hệ vào các nước xã hội chủ nghĩa; đồng thời, tạm thời duy trì thế giữ gìn lực lượng, đấu tranh đòi Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện những điều khoản cơ bản của Hiệp định Geneva, từng bước hiệp thương thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình. Chủ trương của Hà Nội phù hợp với quan điểm "ba hòa" của Moscow - tiến hành đấu tranh chính trị - pháp lý, từng bước giải quyết vấn đề miền Nam.


Về phía Liên Xô, với cương vị là đồng Chủ tịch Hội nghị Geneva năm 1954, Liên Xô phối hợp với Việt Nam đấu tranh với các vi phạm Hiệp định của Chính quyền Ngô Đình Diệm, ủng hộ Việt Nam thi hành Hiệp định, gìn giữ hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương.


Trên trường quốc tế, Liên Xô nêu cao vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lên án các hành động chiến tranh của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, đấu tranh để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có đại diện ở các tổ chức quốc tế mà Việt Nam Cộng hòa tham gia. Tháng 1-1957 và tháng 10-1958, Liên Xô phản đối kiến nghị của Mỹ và 12 nước khác về việc kết nạp miền Nam Việt Nam và Nam Triều Tiên vào Liên Hiệp Quốc. Đầu năm 1959, trước việc Mỹ và Chính quyền Diệm gây tội ác ở nhà tù Phú Lợi, Liên Xô tổ chức những cuộc mít tinh của quần chúng, gửi kiến nghị phản đối Mỹ và chính quyền Diệm. Bên lề các cuộc hội nghị quốc tế, Liên Xô gặp gỡ Việt Nam, tranh thủ ý kiến, thu thập tài liệu để giới thiệu những thành tựu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới. Tuy Việt Nam chưa được kết nạp vào Liên Hợp Quốc, nhưng hằng năm, trước kỳ họp Đại hội đồng, Liên Xô thường trao đổi trước với Việt Nam một số vấn đề. Đối với những tổ chức quốc tế mà Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tham gia, sau mỗi kỳ họp, Moscow đều thông báo cho Hà Nội về kết quả, thái độ của Đoàn đại biểu chính quyền Sài Gòn.


Bước sang năm 1965, cuộc chiến tranh ở Việt Nam ngày càng trở nên khốc liệt và thu hút sự chú ý, quan tâm của cả nhân loại tiến bộ. Vấn đề Việt Nam trở thành vấn đề chính trị quốc tế, liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc). Cũng từ năm 1965, Liên Xô đã nhìn nhận, cân nhắc lại quan hệ với Đông Nam Á và Đông Dương, khởi động lại chính sách châu Á. Đối với chiến tranh Việt Nam, Liên Xô có thái độ tích cực hơn. Sau chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin (Côxigin) (2-1965), Liên Xô đã tuyên bố về "sự giúp đỡ toàn diện" cho Việt Nam.


Thực hiện cam kết, ngày 9-2-1965, chính thức về mặt Nhà nước, Liên Xô ra Tuyên bố lên án Mỹ ném bom lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, yêu cầu Mỹ chấm dứt ngay mọi hoạt động quân sự, nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Geneva. Tuyên bố có lời lẽ khá gay gắt, "hy vọng rằng Washington nhìn nhận một cách thực tế về tình hình hiện nay ở Đông Dương"1 (Газета Правда, 9 Февраля 1965). Bản Tuyên bố khẳng định về sự chuẩn bị sẵn sàng của nhân dân Liên Xô "có những biện pháp mới cùng với các nước đồng minh và bạn bè của mình nhằm bảo vệ an ninh và tăng cường khả năng phòng thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa"1 (Газета Правда, 9 Февраля 1965). Tháng 3-1965, phát biểu tại Quảng trường Đỏ nhân dịp Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông-2, L. I. Brezniev (Brêgiơnhép) lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam, khẳng định sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản với người anh em Việt Nam. Trong bài phát biểu, L.I.Brezniev đề cập đến những tình nguyện viên Xôviết sẵn sàng đến xứ sở Việt Nam xa xôi để giúp đỡ những người anh em chống Mỹ. Đại sứ Mỹ F. D. Kohler (F. D. Kôlơ) tại Liên Xô gọi bài phát biểu của L.I.Breznierv là "một vũ khí chính trị, tuyên truyền sắc nhọn hòng làm suy yếu lập trường của Mỹ tại Việt Nam"2 (И. В. Гайдук, Советский Союз и война во Вьетнаме, Указ. Соч, С. 37). Tháng 5-1965, L.I.Brezniev một lần nữa khẳng định quan điểm: "ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ là sự nghiệp danh dự, là lợi ích thiết thân của tất cả các dân tộc bảo vệ tự do và độc lập"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30). Trong bức thư gửi Hội nghị Hội đồng hòa bình họp ở Helsinki (Henxinki; 7-1965), A.N. Kosygin (Côsưghin) viết: "Ngày nay nghĩa vụ hàng đầu của các lực lượng yêu chuộng hòa bình là ủng hộ nhân dân Việt Nam anh hùng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa và gian khổ chống xâm lược"4 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30). Liên Xô luôn khẳng định lập trường ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Thậm chí, Đại hội XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô (4-1966) còn trao trọng trách cho Chính phủ Xôviết "làm tất cả những gì có khả năng để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, để quân đội Mỹ và quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình"1 (ХХІІІ съезд Коммунистической партии Советского Союза, Стеногр. отчет, Издательство политической литературы, М.1966, т. 2, с. 290).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #77 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:13:05 pm »

Từ năm 1965 đến năm 1975, Moscow luôn đề cao vấn đề Việt Nam trên trường quốc tế; các cơ quan chính quyền, nhà nước Liên Xô đều ra tuyên bố ủng hộ nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiến chính nghĩa, bảo vệ độc lập, tự do, lên án Mỹ xâm lược, gây tội ác với nhân dân Việt Nam. Điều đáng nói là Liên Xô ra tuyên bố ủng hộ Việt Nam liên tục với tần suất cao và vào những thời điểm cần thiết2 (Hai Đại hội của Đảng Cộng sản Liên Xô đều ra tuyên bố ủng hộ nhân dân Việt Nam, lên án Mỹ xâm lược, Hội đồng Xô viết tối cao - bốn lần; Chính phủ - 11 lần; Hãng thông tấn TASS -12 lần; Bộ Ngoại giao Liên Xô gửi công hàm phản đối Mỹ ba lần, với Nhật bốn lần, với Úc hai lần, với New Zealand hai lần, với Thái Lan một lần (Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30]. Liên Xô cùng các nước tham gia Hiệp ước Warsaw ra bảy tuyên bố và các Đảng ra bốn tuyên bố lên án Mỹ, ủng hộ Việt Nam [Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 30]). Có vai trò, vị trí, ảnh hưởng trong các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, các Đảng Cộng sản Tây Âu, Mỹ Latinh và một số đảng châu Á, trong các đoàn thể quần chúng quốc tế, Liên Xô tích cực kêu gọi các phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, giúp vận động các đoàn thể quần chúng thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lên tiếng bảo vệ Việt Nam.


Trong các tuyên bố, trên các diễn đàn và với các tổ chức quốc tế cũng như tại các cuộc gặp gỡ các nhân vật cấp cao của Chính phủ Mỹ, Liên Xô tập trung yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút quân khỏi miền Nam, công việc nội bộ miền Nam Việt Nam phải do nhân dân miền Nam tự giải quyết. Những năm 1965-1972, Moscow chủ động, tích cực thông báo, tiếp xúc và trao đối với Hà Nội về các vấn đề quốc tế, các vấn đề có liên quan đến hai nước, đặc biệt là về cuộc hòa đàm Paris1 (Trung ương và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô gửi cho Việt Nam 33 bức thư cũng như các thông báo và giữa hai nước có ít nhất là 150 cuộc tiếp xúc ngoại giao để bàn bạc, trao đổi, tham vấn ý kiến (Nguồn: Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 31]).


Một hành động tích cực của Liên Xô nhằm ủng hộ trực tiếp cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiết lập quan hệ chính thức và tăng cường quan hệ với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Ngày 13-1-1965, Mặt trận đại diện thường trú ở Liên Xô và tháng 5-1965 hưởng quy chế của cơ quan ngoại giao. Bắt đầu từ thời điểm này, Liên Xô thường xuyên đề cập đến tính pháp lý của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 13-6-1969, Liên Xô tiến thêm một bước, chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong bức điện gửi Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng A.N. Kosygin tuyên bố: "Liên Xô trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình, đã và đang luôn luôn đứng về phía các dân tộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chính phủ Liên Xô trước sau như một ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống bè lũ bù nhìn Sài Gòn và bọn đế quốc quan thầy của chúng"2 (Báo Nhân dân, ngày 14-6-1969). Từ đó, Liên Xô thường xuyên có những cuộc tiếp xúc, trao đổi về mặt nhà nước với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Về vật chất, Liên Xô tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự cho Việt Nam. Khoảng 70% viện trợ kinh tế của Liên Xô những năm 1965-1967 là dành cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chủ chốt, trong đó 30% là dành để xây dựng các nhà máy điện, phát triển ngành năng lượng1 (И.В.Коровяковский: "Основные направления экономического сотрудничества CCCP ДРВ в период Второй индокитайской войны 1965-1973 гг", Ученые записки-электронный научный журнал Курского государственного университета. 2011, No 3 (19), Т. 2). Nếu như năm 1967, vốn giúp đỡ của Liên Xô cho Việt Nam không lớn hơn 37%, thì năm 1968 đã đạt 50%. Số vốn này được thực hiện chủ yếu qua con đường viện trợ và cho vay dài hạn. Từ năm 1966 đến năm 1975, trung bình mỗi năm Liên Xô viện trợ cho Việt Nam khoảng 700-800 triệu rúp2 (Hoàng Hải, "Quan hệ kinh tế Việt - Nga những năm cuối thế kỷ XX, báo cáo tại Hội thảo 50 năm quan hệ Việt - Nga, Hà Nội, 2000). Tháng 6-1973, Liên Xô đã xóa những khoản nợ cũ từ năm 1973 trỏ về trước cho Việt Nam (khoảng 1,3 tỷ rúp), đề nghị "gạch sổ giai đoạn trước, xây dựng mối quan hệ kinh tế trên cơ sở bình thường giữa các nước với nhau"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 66). Những công trình kinh tế do Liên Xô giúp đỡ xây dựng góp phần nhanh chóng khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân miền Bắc. Đặc biệt, Liên Xô thường xuyên viện trợ tăng thêm, đáp ứng những yêu cầu đột xuất của Việt Nam. Theo tổng kết của các cơ quan hữu quan Việt Nam, trong số viện trợ của nước ngoài, viện trợ của Liên Xô chiếm 1/3 (còn Trung Quốc bảo đảm 52%, Đông Âu bảo đảm 19%), trong đó hàng viện trợ của Liên Xô bảo đảm 1/2 thiết bị, máy móc (không kể thiết bị toàn bộ), 1/3 nguyên, nhiên, vật liệu và 1/3 hàng tiêu dùng, trong đó Liên Xô chiếm 1/3 hàng nhập về thép, 1/2 kim loại màu, 1/2 xăng dầu, 1/2 phân bón, 1/2 xe vận tải, 1/2 máy kéo, máy ủi, 2/5 lương thực1 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 33). Bên cạnh sự viện trợ về mặt Nhà nước, các đoàn thể Liên Xô tích cực hoạt động ủng hộ Việt Nam, tổ chức quyên góp trong nhân dân, dành cho Việt Nam khoản viện trợ theo đường quần chúng.


Là nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh với những vũ khí chiến lược tối tân, hiện đại, viện trợ quân sự toàn diện của Liên Xô, nhất là vào những thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến, đã tăng cường đáng kể sức mạnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dựa vào các nguồn Tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Liên bang Nga được giải mật, các nhà nghiên cứu Liên bang Nga đưa ra con số viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam những năm 1965-1971 là 1 tỷ 579 triệu USD (tính trung bình vào khoảng 2 triệu USD/ngày)2 (Россия (СССР) в локальных войнах и военных конфликтах второй половины ХХ века/Под ред. В.А. Золотарева. М.: Кучково поле, Полиграфресурсы, 2000, С.100). Nhìn chung, về cơ bản, con số viện trợ theo tài liệu lưu trữ các cơ quan Nhà nước của Việt Nam và Liên Xô tương đối gần nhau. Các trang bị vũ khí, khí tài Liên Xô viện trợ đã phát huy tác dụng tích cực trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc.


Không chỉ viện trợ trang bị kỹ thuật, Liên Xô còn giúp Việt Nam đào tạo cán bộ, chiến sĩ để tiếp nhận, sử dụng hiệu quả vũ khí viện trợ, nhất là những vũ khí hiện đại; gửi chuyên gia quân sự sang Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, "từ ngày 11-7-1965 đến ngày 31-12-1974, có 6.359 sĩ quan, tướng lĩnh và hơn 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam"1 (Война во Вьетнаме... Как это было (1965-1973), Изд-во "Экзамен", 2005 r, C.320); "13 chuyên gia quân sự Liên Xô đã hy sinh"2 (Tạp chí "Sư tử vàng", số 73-74. Theo Tạp chí này, ngoài 13 chuyên gia quân sự hy sinh do bom đạn Mỹ, còn có ba chuyên gia mất tại Việt Nam vì bệnh tật).


Trước sự giúp đỡ kịp thời nhân dân Liên Xô dành cho nhân dân Việt Nam, ngày 23-4-1975, trong buổi tiếp Đại sứ Liên Xô B. Chaplin, Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu: "Đặc biệt, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chúng tôi cảm ơn về sự giúp đỡ vật chất của Liên Xô cho những vùng mới được giải phóng... Tất cả điều đó làm cho nhân dân và những người cộng sản Việt Nam càng thấy rõ thêm tác dụng của Liên Xô đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Điều này làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam càng thấy sâu sắc rằng, mọi thắng lợi đều gắn liền với sự giúp đỡ to lớn và quý báu của Liên Xô"3 (Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao, Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, Tlđd, tr. 60).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:15:35 pm »

2- Tranh thủ sự giúp đỡ của Trung Quốc

Từ Hội nghị lần thứ 6 (7-1954) qua các hội nghị Trung ương lần thứ 7 (3-1955), Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8-1955) đến Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6-1956, Đảng Lao động Việt Nam luôn nhấn mạnh cần "tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và tất cả các nước dân chủ nhân dân khác"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Sđd, tr.305); "đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 216). Các hội nghị tiếp theo, đặc biệt là Đại hội lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam đã hoàn thiện, xác định chính thức đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; trong đó, vận động quốc tế, đoàn kết quốc tế là một bộ phận hữu cơ, định ra phương hướng kết hợp nội lực với ngoại lực sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Hội nghị Trung ương, Hội nghị Bộ Chính trị được tổ chức sau đó nhằm cụ thể hóa, bổ sung, điều chỉnh đường lối chống Mỹ, cứu nước, quan điểm vận động quốc tế... đều hết sức coi trọng đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, tăng cường đoàn kết quốc tế, đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc, với các nước xã hội chủ nghĩa.


Như vậy, điểm thống nhất, xuyên suốt toàn bộ đường lối vận động quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là mở rộng quan hệ quốc tế, không ngừng củng cố quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Trung Quốc, Liên Xô; trên cơ sở đó, tranh thủ tối đa sự ủng, giúp đỡ trên mọi phương diện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Thực hiện nhiệm vụ nói trên, Việt Nam ra sức vận động, tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc nhất là trong đấu tranh thực hiện Hiệp định Geneva những năm đầu miền Bắc có hòa bình, về thực hiện nhiệm vụ này, Bắc Kinh luôn quan tâm, có sự ủng hộ Hà Nội khá mạnh mẽ. Bắc Kinh khẳng định kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam trong đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva, hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiền bạc, máy móc, thiết bị trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng độc lập, chủ quyền1 (). Bắc Kinh lên tiếng phản đối việc Chính quyền Sài Gòn mà đứng đằng sau là Mỹ đã cố tình không tôn trọng những thỏa thuận tại Geneva, lên án hành động can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, gọi thái độ từ chối Tổng tuyển cử của chính quyền Sài Gòn là "không thể biện hộ được".


Để ủng hộ và thể hiện tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân Việt Nam, các nhà lãnh đạo Trung Quốc tổ chức nhiều hoạt động phong phú. Ngày 19-7-1960, hơn một vạn nhân dân Thủ đô Bắc Kinh tổ chức mít tinh trọng thể lên án tội ác của Mỹ và Chính quyền Ngô Đình Diệm. Tháng 12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và khi các nước xã hội chủ nghĩa khác (kể cả Liên Xô) còn chưa công nhận Mặt trận, thì Trung Quốc là một trong những nước đầu tiên đồng ý để Mặt trận mở cơ quan đại diện tại nước mình.


Từ ngày 7 đến ngày 11-8-1964, Đảng, Nhà nước Trung Quốc tổ chức cho hơn 20 triệu nhân dân Trung Quốc ở các tỉnh thành khác nhau xuống đường tuần hành cực lực lên án Mỹ mở rộng chiến tranh chống miền Bắc Việt Nam; tổ chức viết thư ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đến ngày 25-8-1964, Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh nhận được gần 30.000 bức thư của các tầng lớp nhân dân Thượng Hải ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Về phía lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc, các tuyên bố cũng dày đặc và rất quyết liệt. Mao Trạch Đông tuyên bố "sẽ ủng hộ không điều kiện cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam và Lào"1 (Mao's speech at the Tenth Plenum, 24 September 1962, Maoist Documentation Project, Transcriber, MIA, Vol. VIII, marxists.org). Quan điểm về việc giúp đỡ Việt Nam của người đứng đầu Nhà nước Trung Quốc Mao Trạch Đông là "ủng hộ Việt Nam, Trung Quốc chỉ đơn thuần viện trợ vũ khí, trong khi các đồng chí phải xông pha nơi đầu sóng, ngọn gió, hy sinh cả tính mạng, máu xương"2 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p.27); do đó, "sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Trung Quốc là rất to lớn, giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam chỉ rất nhỏ bé"3 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p.27). Trên tinh thần ấy, tháng 4-1963, trong chuyến thăm Việt Nam, Đại tướng La Thụy Khanh bày tỏ sẽ hỗ trợ Việt Nam, nếu Hoa Kỳ tiến công miền Bắc: "Nếu địch tiến công miền Bắc Việt Nam thì Trung Quốc có trách nhiệm không thể khước từ là ra sức chi viện Việt Nam về mặt chính trị, ngoại giao, chi viện quân sự bao gồm cả vật chất và cho quân sang phối hợp"4 (Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Quân ủy Trung ương, Hồ sơ 342).


Trong cuộc hội đàm với Hồ Chí Minh tại Hà Nội nhân chuyến thăm Việt Nam (5-1963), Lưu Thiếu Kỳ khẳng định: "Chúng tôi luôn ở bên cạnh các đồng chí và nếu Hoa Kỳ tiến công miền Bắc, các đồng chí có thể coi Trung Quốc là hậu phương lớn"5 (Qu Aiguo, Chinese supporters in the operations to assist Vietnam and resist America, Junshi shilin (The Circle of Military History), No. 6 (1989), p. 40).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #79 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:17:27 pm »

Tháng 8-1964, xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, trong khi Moscow phát biểu khá thận trọng về sự kiện này, thì Bắc Kinh tuyên bố rất quyết liệt: "Nhân dân Việt Nam là những người anh em thân như ruột thịt của nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc quyết không khoanh tay ngồi nhìn mà không cứu"1 (Tuyên bố ngày 6-8-1964). Thậm chí Mao Trạch Đông đã chuyển tới Lê Duẩn "kế hoạch triển khai 30.000 - 50.000 quân ở phía Nam Trung Quốc, xây dựng hai sân bay ở Nam Ninh cho máy bay cất cánh sang Việt Nam, nếu Bắc Việt Nam bị đe dọa"2 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, p. 29); đồng thời, khẳng định "Trung Quốc sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung không điều kiện"3 (Mao's talk with the VWP delegation, 30 January 1964, CCP Central Documentary Research Department, ed., Jianguo yilai Mao Zedong wengao, Vol. 10). Sau "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", Mao Trạch Đông thông báo với Lê Duẩn: "Trung Quốc có kế hoạch gửi một trung đoàn máy bay đến Nam Ninh, 1/2 trung đoàn máy bay tới Côn Minh, Simao, hai trung đoàn pháo cao xạ đến Nam Ninh và Côn Minh"4 (Mao's talk with Le Duan, 13 August 1964, CCP Central Documentary Research Department, ed., Jianguo yilai Mao Zedong wengao, Vol. 10) sẵn sàng tiếp ứng Việt Nam. Mao Trạch Đông cam kết: "Trong trường hợp đánh lớn, Mỹ đưa quân ra miền Bắc Việt Nam, Quân giải phóng Trung Quốc sẽ sang Việt Nam chiến đấu. Người Mỹ cần phải biết điều đó"5 (Yang Kuisong, Changes in Mao Zedong's Attitude toward the Indochina War, 1949-1973, Ibid, tr. 29).


Từ năm 1965, khi chiến tranh lan rộng ra miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc ngày một cứng rắn hơn trong các tuyên bố ủng hộ Việt Nam. Trước mỗi bước leo thang chiến tranh của Mỹ, Chính phủ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đều có phản ứng kịp thời, bày tỏ quyết tâm ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến1 (Đó là các Tuyên bố lên án Mỹ mượn cớ có sự kiện Vịnh Bắc Bộ đưa máy bay bắn phá các vùng Nghệ An, Hòn Gai và Thanh Hóa (5-8-1964); Tuyên bố lên án Mỹ liên tục đánh bom và bắn phá các thành phố và làng mạc của Việt Nam như thị xã Đồng Hới, Quảng Bình và khu Vĩnh Linh (9-2-1965); Tuyên bố phản đối quyết định đưa thêm một số lớn quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam của Mỹ (7-8-1965); Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên án Mỹ và Chính quyền Sài Gòn họp tại Honolulu bàn về việc mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam (12-2-1966), Tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc lên án Mỹ cho máy bay bắn phá vùng ngoại vi Hà Nội và thành phố Hải Phòng (3-7-1966)...). Ngày 9-2-1965, sau khi Mỹ dữ dội trút bom xuống miền Bắc Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố: "Mỹ xâm phạm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tức là xâm phạm Trung Quốc, 650 triệu nhân dân Trung Quốc quyết không thể khoanh tay ngồi nhìn"2 (Tuyên bố ngày 9-2-1965). Chính phủ Trung Quốc khẳng định: "650 triệu nhân dân Trung Quốc cam kết ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt kể cả yêu cầu gửi người sang chiến đấu cùng nhân dân Việt Nam, đấu tranh chính nghĩa để đánh bại bọn xâm lược Mỹ"3 (Tuyên bố ngày 12-3-1965); "700 triệu nhân dân Trung Quốc là hậu phương vững chắc của nhân dân Việt Nam. Đất đai rộng lớn của Trung Quốc là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam"4 (Tuyên bố ngày 17-7-1966)... Một trong những cảnh báo nghiêm trọng nhất mà Trung Quốc gửi đến Mỹ là nếu "Hoa Kỳ muốn chơi với lửa và đang mạo hiểm, Trung Quốc sẽ dập tắt đám cháy"5 (Zhou Enlai and Pakistani President Ayub Khan, Karachi, 2 April 1965, Ibid, p.81). Những lời tuyên bố thể hiện lập trường, quan điểm của Đảng, Chính phủ Trung Quốc khiến trong mỗi bước mở rộng chiến tranh, Mỹ luôn phải có những cân nhắc và tính toán, không thể hoàn toàn liều lĩnh trong các hành động quân sự. Nhận định về quan điểm của Trung Quốc đối với chiến tranh Việt Nam và tác động của nó đối với Hoa Kỳ, Harish Mehta (Harít Mêta) viết: "Chính nỗi sợ hãi về sự can thiệp của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Mỹ, họ không dám đưa quân vượt qua vĩ tuyến 17 vì họ rằng Trung Quốc có thể trả đũa bằng cách gửi các lực lượng Trung Quốc trực tiếp chiến đấu chống lại họ"1 (Harish Mehta C: Fighting, Negotiating, Laughing: The Use of Humor in the Vietnam War, Historian 74, no.4 (Winter 2012), p.749).


Ngoài những tuyên bố, phát biểu trong các cuộc gặp gỡ song phương Việt - Trung, Bắc Kinh luôn tranh thủ các diễn đàn quốc tế, những cuộc gặp gỡ, trao đối với lãnh đạo nhiều nước trên thế giới để thể hiện tinh thần đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Tháng 4-1970, khi ba nước Đông Dương tổ chức Hội nghị cấp cao, củng cố tình đoàn kết chiến đấu, Bắc Kinh gửi điện chúc mừng, bày tỏ sự đồng tình đối với cuộc đấu tranh của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, khẳng định một lần nữa tinh thần kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam tiến hành tới cùng cuộc chiến tranh "để thực hiện mục tiêu thiêng liêng là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến lên thống nhất đất nước"2 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 30-4-1970). Cùng với các hoạt động của chính quyền nhà nước, nhân dân Trung Quốc tổ chức hàng trăm cuộc biểu tình, mít tinh lên án hành động xâm lược của Mỹ, ủng hộ nhân dân Việt Nam3 (Một trong những cuộc mít tinh tiêu biểu là mít tinh phản đối việc Mỹ dùng không quân, pháo hạm đánh phá dữ dội thị xã Đồng Hới cùng với một số mục tiêu thuộc tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh và đảo Cồn Cỏ tại quảng trường Thiên An Môn (10-2-1965), có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và hơn 1 triệu người. Từ ngày 8 đến ngày 11-2-1965, hơn 11 triệu người ở các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Trùng Khánh, Nam Kinh, Côn Minh tham gia mít tinh tuần hành bày tỏ quyết tâm làm hết mình để ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Chính phủ Trung Quốc còn tổ chức cuộc mít tinh lớn tại quảng trường Thiên An Môn (22-7-1966) để ủng hộ Việt Nam, sau khi Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ (17-7-1966). Ngày 14-2-1971, hơn 1 triệu nhân dân các thành phố Bắc Kinh, Thẩm Dương, Nam Kinh... tổ chức biểu tình ủng hộ nhân dân Việt Nam...).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM