vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:19:49 pm » |
|
Những năm 1972-1975, Bắc Kinh tiếp tục thể hiện sự ủng hộ Hà Nội thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ngày 11-5-1970, trong cuộc gặp gỡ Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn, Mao Trạch Đông một lần nữa khẳng định Trung Quốc là hậu phương lớn của Việt Nam, máy bay Việt Nam có thể hạ cánh ở Trung Quốc1 (Hồ sơ quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (từ 3-1954 đến 8-1973), Tlđd, tr.183). Ngày 14-2-1971, hơn 1 triệu nhân dân các thành phố Bắc Kinh, Thẩm Dương, Nam Kinh... đã tổ chức biểu tình ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Về phương diện vật chất, viện trợ kinh tế là một đặc điểm nổi bật trong quan hệ kinh tế Việt - Trung. Năm 1955, Chính phủ Trung Quốc tặng Chính phủ Việt Nam 800 triệu nhân dân tệ không hoàn lại, để "sửa sang đường xe lửa, bến tầu ở ven sông, cầu đường; khôi phục và xây dựng những xí nghiệp dệt, làm da, làm dụng cụ y học, làm đồ phụ tùng về điện khí, làm nông cụ, làm giấy..."2 (Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Những sự kiện 1945-1960, Sđd, tr. 524). Ngoài ra, trong năm 1955, Tổng hội cứu tế Trung Quốc giúp đỡ nhân dân Việt Nam 10.000 tấn gạo, 5 triệu thước vải3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 16, Sđd, tr. 5), tặng riêng đồng bào Hải Phòng và một số vùng bị lụt bão vải vóc, thuốc chữa bệnh trị giá 20 vạn nhân dân tệ. Giúp đỡ người dân vùng đê Mai Lâm bị vỡ (8-1957), Chính phủ Trung Quốc quyết định tặng Việt Nam số hàng lương thực, thực phẩm, vải, thuốc chữa bệnh trị giá 30 vạn nhân dân tệ.
Từ năm 1955 đến năm 1959, Trung Quốc viện trợ kinh tế cho Việt Nam 640 triệu nhân dân tệ, cao nhất trong các nước viện trợ cho Việt Nam1 (Báo Nhân dân, ngày 28-9-1959). Trong 5 năm (1955-1961), Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy... trị giá 1.224 tỉ đồng Việt Nam2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ 1955 đến 1966, Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tr. 12). Từ năm 1955 đến năm 1963, viện trợ kinh tế của Trung Quốc chiếm gần 60% tổng số viện trợ kinh tế của các nước cho Việt Nam. Trong công nghiệp, Trung Quốc giúp khai khoáng, phát triển điện lực, chế biến nông phẩm, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng... Trong giao thông và bưu điện, Trung Quốc giúp khôi phục, xây dựng, sửa chữa toàn bộ các hệ thống giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ và bưu điện (xây lại đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan, cầu phủ Lạng Thương, cầu Việt Trì, cầu Ninh Bình). Những nhà máy, xí nghiệp đầu tiên của Việt Nam như: Nhà máy cao su Thượng Đình, Nhà máy bóng đèn, phích nước Rạng Đông, Nhà máy gang thép Thái Nguyên, Nhà máy hóa chất Việt Trì... đều là những nhà máy do Trung Quốc giúp đỡ xây dựng. Thiết bị của Trung Quốc có một vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc... của Việt Nam. Nhờ có sự giúp đỡ này, đến những năm 1960, miền Bắc có thể sản xuất được hầu hết các sản phẩm công nghiệp quan trọng, đáp ứng một phần về nhu cầu tư liệu sản xuất, trang thiết bị.
Trong 10 năm (1954-1964), Chính phủ Trung Quốc giúp Việt Nam vốn khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy, một số nông trường... trị giá 900 triệu nhân dân tệ1 (Tổ nghiên cứu về Trung Quốc, Sự ủng hộ và chi viện của Trung Quốc cho Việt Nam, Phông Ban đối ngoại Trung ương 1958-1991, đơn vị bảo quản Số 1417) (số tiền này tương ứng với 139.500.000.000 đồng ngân hàng Việt Nam), còn viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Việt Nam những năm này là 1.100.000 nhân dân tệ để xây dựng gần 100 công trình lớn nhỏ2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ 1955 đến 1966, Tlđd, tr. 12).
Những năm 1965-1968, Trung Quốc viện trợ và cho Việt Nam vay nợ tất cả là 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp3 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr. 9-13). Trong vòng 10 năm (1965-1975), "Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 4,847 triệu tấn lương thực, 262 triệu mét vải, 89,1 nghìn tấn bông, 81,05 nghìn tấn sợi, 625,67 nghìn tấn sắt thép, 1,774 triệu tấn xăng, dầu mỡ các loại, 2.510 toa xe lửa, 32.496 chiếc ô tô, 1.400 chiếc máy ủi..."4 (Bùi Thanh Sơn, "50 năm quan hệ Việt - Trung", Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 32-2000, tr.15). Tính chung từ đầu năm 1955 đến tháng 2-1971, Trung Quốc đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 6.447 triệu nhân dân tệ và 10 triệu rúp, cho vay dài hạn không lấy lãi là 300 triệu nhân dân tệ và 227 triệu rúp; tổng số tất cả quy theo rúp là 1.775 triệu rúp5 (Báo cáo của Phủ Thủ tướng về tình hình Trung Quốc viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam từ năm 1955 đến tháng 2-1971, hồ sơ số 8767, tr.1). So với tổng số viện trợ và cho vay dài hạn của các nước cho Việt Nam, Trung Quốc chiếm 46%, riêng viện trợ không hoàn lại chiếm đến 71%6 (Báo cáo của Phủ Thủ tướng về tình hình Trung Quốc viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam từ năm 1955 đến tháng 2-1971, hồ sơ số 8767, tr.1) và phần lớn số viện trợ này tập trung trong giai đoạn 1966-1968.
Đầu những năm 60 (XX), Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đề nghị Trung Quốc về viện trợ ngoại tệ bằng USD. Viện trợ bằng ngoại tệ của Trung Quốc cho miền Nam từ năm 1964 đến năm 1975 là 626.042.653.52 USD/tổng số 678.701.874.36 USD viện trợ của chính phủ, nhân dân và các tổ chức quốc tế cho Việt Nam1 (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1955-1975, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, t.2, tr.1.105).
Trung Quốc tích cực giúp Việt Nam đào tạo nhân lực. Từ năm 1951 đến năm 1958, Trung Quốc nhận đào tạo cho Việt Nam 1.200 lưu học sinh. Trong 4 năm, từ năm 1955 đến năm 1958, Trung Quốc nhận 3.300 cán bộ Việt Nam sang thực tập2 (Tóm tắt quan hệ kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam (1955) đến nay (9-1964), Tlđd, tr.4, 5). Tính chung những năm 1954-1964, Trung Quốc tiếp nhận 4.755 cán bộ, công nhân Việt Nam sang Trung Quốc khảo sát, thực tập, học tập ở hầu hết các ngành kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, nhất là các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ3 (Tóm tắt quan hệ kinh tế và hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam (1955) đến nay (9-1964), Tlđd, tr.4, 5). Trung Quốc đào tạo nhân lực cho Việt Nam chủ yếu đến trước năm 1965, từ năm 1965 và 10 năm sau đó do Trung Quốc tiến hành Cách mạng văn hóa nên hầu như không nhận đào tạo cán bộ, học sinh nước ngoài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:23:33 pm » |
|
Về viện trợ quân sự, từ năm 1955 đến năm 1964, toàn bộ viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam vào khoảng 42.219 tấn, trị giá 382.004.000 nhân dân tệ, trong đó viện trợ năm sau thường cao hơn năm trước4 (Những năm 1954-1964, viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam có khối lượng và trị giá như sau: Năm 1955 là 6.546 tấn, trị giá 23.316.000 nhân dân tệ; năm 1956 là 1.380 tấn, trị giá 14.423.000 nhân dân tệ năm 1957 là 4.019 tấn, trị giá 22.682.000 nhân dân tệ; năm 1958 là 4.410 tấn, trị giá 39.336.000 nhân dân tệ; năm 1959 là 1.672 tấn, trị giá 25.608.000 nhân dân tệ; năm 1960 là 1.562 tấn, trị giá 18.898.000 nhân dân tệ; năm 1961 là 6.234 tấn, trị giá 30.276.000; năm 1962 là 2.717 tấn, trị giá 44.332.000 nhân dân tệ; năm 1963 là 3.538 tấn, trị giá 40.150.000 nhân dân tệ; năm 1964 là 10.141 tấn, trị giá 122.983.000 nhân dân tệ (Bộ Tổng Tham mưu, Tổng hợp giá trị, trọng lượng, chủng loại trang bị quân sự và vật tư hậu cần của Trung Quốc viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1975, tờ số 1-2]) và năm 1964 là năm có giá trị viện trợ lớn nhất: 10.141 tấn tương đương 122.983.000 nhân dân tệ1 (Những năm 1954-1964, viện trợ quân sự không hoàn lại của Trung Quốc cho Việt Nam có khối lượng và trị giá như sau: Năm 1955 là 6.546 tấn, trị giá 23.316.000 nhân dân tệ; năm 1956 là 1.380 tấn, trị giá 14.423.000 nhân dân tệ năm 1957 là 4.019 tấn, trị giá 22.682.000 nhân dân tệ; năm 1958 là 4.410 tấn, trị giá 39.336.000 nhân dân tệ; năm 1959 là 1.672 tấn, trị giá 25.608.000 nhân dân tệ; năm 1960 là 1.562 tấn, trị giá 18.898.000 nhân dân tệ; năm 1961 là 6.234 tấn, trị giá 30.276.000; năm 1962 là 2.717 tấn, trị giá 44.332.000 nhân dân tệ; năm 1963 là 3.538 tấn, trị giá 40.150.000 nhân dân tệ; năm 1964 là 10.141 tấn, trị giá 122.983.000 nhân dân tệ (Bộ Tổng Tham mưu, Tổng hợp giá trị, trọng lượng, chủng loại trang bị quân sự và vật tư hậu cần của Trung Quốc viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1975, tờ số 1-2]). Từ năm 1965 đến năm 1975, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam 1.552.153 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, trị giá 5.008 triệu nhân dân tệ (không kể các khoản chuyển sang đường viện trợ kinh tế)2 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 795, tờ số 15). Năm 1972, tuy đón R.Nixon sang thăm, song Trung Quốc giải quyết phần lớn yêu cầu viện trợ bổ sung của Việt Nam.
Toàn bộ những năm 1955-1975, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam là 1.594.372 tấn hàng hoá các loại với trị giá ước đạt khoảng 5.390.004.0003 (Một thống kê khác của các cơ quan chức năng Việt Nam cho con số là - 1.610.930 tấn hàng hoá các loại với trị giá ước đạt khoảng 5.660.025.000 đồng nhân dân tệ. Con số thống kê có sự chênh lệch song không lớn) nhân dân tệ. Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là vũ khí, trang bị bộ binh, máy bay chiến đấu, tàu hải quân, xưởng sản xuất, sửa chữa và vật tư hậu cần... Tuy không phải là quốc gia hàng đầu trong phe xã hội chủ nghĩa về sản xuất vũ khí, khí tài nhưng trước những yêu cầu viện trợ quân sự của Việt Nam, Trung Quốc đều cố gắng đáp ứng. Ngoài chi viện vũ khí, khí tài, vật tư hậu cần, trang thiết bị quân sự, Trung Quốc còn giúp Việt Nam xây dựng các công trình quân sự. Nếu như trước năm 1965, Trung Quốc chủ yếu giúp xây dựng các xưởng sửa chữa pháo - khí tài quang học, xưởng sửa chữa đạn dược, cơ sở sản xuất vũ khí theo dây chuyền..., thì từ sau năm 1965, Trung Quốc tập trung giúp xây dựng các công trình quân sự tối tân hơn như xưởng đúc vỏ đạn cối, xưởng sản xuất đạn B40, lựu đạn chống tăng, xưởng sản xuất ông nổ đạn cối, ngòi nổ đạn cối, xưởng sửa chữa súng trung đại liên1 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ 1.112, tờ 01-40).
Ngoài viện trợ súng đạn, trang thiết bị vũ khí, khí tài, Trung Quốc còn cử bộ đội sang sửa chữa đường giao thông và chiến đấu tại Việt Nam. Ngày 5-6-1965, bộ đội công binh, đường sắt, tên lửa, pháo cao xạ, hậu cần, quét ngư lôi... chi viện cho Việt Nam đã bí mật có mặt - đó là các sư đoàn (chi đội) 1, 4, 5, 6, gồm 10 vạn người, tổ chức thành 22 trung đoàn2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 427-428). Ngày 20-7-1965, hai sư đoàn pháo cao xạ Trung Quốc vào Việt Nam chiến đấu với danh nghĩa bộ đội tình nguyện, nhưng thực chất đó là lực lượng hiệp đồng chiến đấu. Nhiệm vụ của các đơn vị này là giúp bảo vệ hai trục đường sắt từ Đáp Cầu lên Hữu Nghị Quan và từ Tiên Kiên lên Lào Cai. Ngày 16-10-1965, bộ đội thông tin Trung Quốc tới Việt Nam giúp xây dựng 15 tuyến đường dây cáp dưới biển3 (Lực lượng này sang theo Hiệp định bổ sung ký ngày 24-1-1965, xây dựng tuyến cáp trên các tuyến Tiên Giao - Cát Bà, Mông Dương - Trà Bản, Trà Bản - Do La, Do La - Phượng Hoàng, Vạn Hoa - Cái Lim, Mông Dương - Tài Xá, Mũi Chùa - Cái Bàu, Cát Hải - Phù Long, Cái Lim - Ba Mùn, Ba Mùn - Cô Tô, Cô Tô - Thanh Lân, Ba Mùn - Quan Lạn, Hòn Gai - Bãi Cháy, Trà Bản - Quan Lạn, Quảng Yên - Cát Hải. Công trình được hoàn thành ngày 22-3-1966) và xây dựng hệ thống đường dây thông tin ở 11 đảo, đất liền4 (Ở các địa điểm: Cát Bà, Cô Tô, Thanh Lân, Do La, Phượng Hoàng, Quan Lạn, Cái Lim, Ba Mùn, Trà Bản, Vạn Hoa, Mũi Chùa. Công trình được bàn giao ngày 30-8-1966). Đến tháng 12-1968, tổng số bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam là 310.011 người5 (Bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam chịu nhiều thương vong, tổn thất. Theo số liệu chưa đầy đủ, đến cuối năm 1966, đã có tất cả 220 người hy sinh (62 vì tai nạn, 158 vì bom, bị thương 399, đa số vì máy bay), gồm bộ đội cao xạ1 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội cao xạ Trung Quốc đã đánh 91 trận, bắn rơi 75 máy bay (Việt Nam công nhận 16 chiếc), hy sinh 89 người, bị thương 224 người, tiêu thụ hết 373.450 viên đạn pháo các loại. Tổng số bộ đội Trung Quốc giúp Việt Nam tại năm 1967 là 158.188 người), xây dựng công trình, làm đường sắt2 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội Trung Quốc làm đường sắt hy sinh 81 người (63 bị máy bay oanh tạc, 18 người bị tai nạn giao thông), bị thương 125 người) và đường bộ3 (Từ tháng 10-1966 đến ngày 15-3-1967, bộ đội làm đường bộ hy sinh 139 người (44 người bị tai nạn lao động, 16 người bị ốm chết, 79 người khác bị máy bay oanh tạc), 274 người bị thương), trong đó 198.686 người đã rút dần về nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Bộ đội Trung Quốc tham gia chiến đấu 1.659 trận, bắn rơi 126 máy bay4 (Viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong chiến tranh Việt - Mỹ (tiếng Trung), www. gscn.com.cn).
Về đào tạo nguồn lực quân sự, theo thống kê của Trung Quốc, Trung Quốc đã bồi dưỡng huấn luyện được 1.112 nhân viên không quân các loại, trong đó có hơn 200 là phi công và thợ máy5 (Quách Minh (chủ biên), Diễn biến quan hệ Trung - Việt trong 40 năm qua, Nxb Nhân dân Quảng Tây, tủ sách Đông Nam Á, 1992, bản dịch, lưu tại Thư viện Quân đội, Hà Nội, tr. 69).
Sự ủng hộ toàn diện của Trung Quốc tiếp thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến của quân và dân Việt Nam. Về sự giúp đỡ mà Đảng và nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: "Sự ủng hộ kịp thời, kiên quyết và đầy nhiệt tình của nhân dân Trung Quốc anh em, của Chính phủ, các đoàn thể, các đảng phái dân chủ và các nhân sĩ dân chủ ở Trung Quốc là biểu hiện cao quý nhất của một tình đoàn kết chiến đấu anh em ruột thịt giữa nhân dân hai nước chúng ta"6 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 386) - đó là "một cổ vũ hết sức to lớn đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa và tất thắng của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Sđd, tr. 386).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:25:35 pm » |
|
3. Tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa khác
Cùng với Liên Xô và Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam. Đảng, Chính phủ các nước Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cuba... đều khẳng định lập trường ủng hộ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do. Việt Nam tích cực tăng cường quan hệ, phối hợp hành động trên trường quốc tế và luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả từ nhiều nước xã hội chủ nghĩa. Ở Hungary có phong trào hiến máu cho Việt Nam, phong trào tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Năm 1965, ở Bulgaria có 245 cuộc mít tinh lớn nhỏ của quần chúng ủng hộ Việt Nam (có cuộc lên tối 10.000 người tham dự). Bulgaria tổ chức "tuần lễ ba châu ủng hộ Việt Nam", tuyên bố sẵn sàng gửi quân tinh nguyện sang Việt Nam nếu Chính phủ Việt Nam yêu cầu. Cuba có sáng kiến "vì Việt Nam, nhân dân Cuba sẵn sàng hiến máu", Chính phủ Cuba sẵn sàng gửi quân tình nguyện sang Việt Nam; thành lập tổ chức Ủy ban điều tra tội ác Mỹ ở Việt Nam; thành lập Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam, lấy năm 1967 là "năm Việt Nam anh hùng", Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam kết hợp với Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam và Ủy ban Thanh niên châu Mỹ Latinh đoàn kết với Việt Nam liên tiếp tổ chức nhiều tuần lễ và tháng ủng hộ Việt Nam, tổ chức mít tinh, triển lãm, chiếu phim, thảo luận học tập gương chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam khắp cả nước. Những hoạt động như thế đã góp phần hình thành một mặt trận rộng lớn ủng hộ Việt Nam, tăng cường vị thế, sức mạnh chính trị cho cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh đi tới thắng lợi.
Trên các mặt hợp tác, giúp đỡ về văn hóa - giáo dục - y tế, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bulgaria, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Đức... luôn tạo những điều kiện thuận lợi mở rộng, phát triển các chương trình hợp tác về văn hóa, giúp đào tạo cán bộ chuyên môn và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam.
Việt Nam ký kết các hiệp định kinh tế với nhiều nước xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế - thương mại và giúp đỡ viện trợ: Ngày 17-9-1956, Việt Nam và Hungary ký kết Hiệp định thương mại năm 1956; tháng 3-1956, Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức ký Quy chế về hợp tác khoa học kỹ thuật, tháng 8-1958, hai bên ký tiếp bản Điều kiện chung về hợp tác khoa học kỹ thuật; ngày 25-6-1961, Việt Nam và Mông Cổ ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt - Mông...
Quan hệ buôn bán mậu dịch giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng phát triển. Năm 1956, kim ngạch mậu dịch giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức là 10 triệu rúp, năm 1957 tăng lên 28,4 triệu rúp, đến năm 1960 tiếp tục tăng lên 66 triệu rúp1 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Dân chủ Đức, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 5). Kim ngạch mậu dịch giữa Việt Nam với Hunggari cũng tăng mạnh, năm 1956 mới chỉ là 771.948 rúp, nhưng tới năm 1959 đã tăng lên 3.309.885 rúp, năm 1964 tăng lên 5.849.000 rúp1 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Hunggari, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 15). Với Mông Cổ, kim ngạch cũng từng bước gia tăng, nếu như năm 1957 tổng kim ngạch mới chỉ là 71.989 rúp thì tới năm 1962 đã tăng lên 1.001.200 rúp và năm 1965 tăng lên 1.343.000 rúp2 (Ban Đối ngoại Trung ương, Quan hệ Việt Nam - Mông Cổ, Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1975, tr. 5). Trong quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, cơ cấu xuất nhập trao đối với hai nước Liên Xô và Trung Quốc là lớn nhất, hàng năm lên tới hàng trăm triệu rúp.
Những năm 1965-1968, quan hệ giao lưu buôn bán giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh, tuy nhiên, do chiến tranh phá hoại nên nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước không ổn định. Nếu như năm 1965, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước xã hội chủ nghĩa đạt 72.893.000 rúp, thì năm 1966 tụt xuống còn 58.910.000 rúp, năm 1967 tiếp tục tụt xuống 52.460.000 rúp; trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam lại từng năm tăng lên: Nếu năm 1965, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đạt 222.305.000 rúp, thì năm 1966 tăng lên 339.890.000 rúp, năm 1967 tiếp tục tăng lên 389.500.000 rúp3 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr.9-13).
Những năm 1954-1964, nếu tính chung tổng viện trợ kinh tế và vay nợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam (theo thống kê chưa đầy đủ của phía Việt Nam) lên tới trên 551.981.000 rúp mới và 1.100.000 nhân dân tệ, 45 triệu zloty (tiền Ba Lan), 3.162.000 đồng ngân hàng Việt Nam1 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, Tlđd, tr.12)... Trong tổng số tiền này, Liên Xô và Trung Quốc là hai quốc gia giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất. Tổng số viện trợ và cho vay nợ của Liên Xô cho Việt Nam lên tới gần 400 triệu rúp mới để nhập thiết bị, hàng hóa các loại, xây dựng một số công trình. Trung Quốc giúp Việt Nam 1.100.000 nhân dân tệ để xây dựng gần 100 công trình lớn nhỏ. Cộng hòa Dân chủ Đức viện trợ 13.500.000 rúp; Tiệp Khắc viện trợ 7.875.000 rúp và cho vay 10.225.000 rúp để hợp tác thăm dò và trả nợ nhập siêu; Rumania (Rumani) viện trợ 3.375.000 rúp và cho vay 37.431.000 rúp để mở rộng Nhà máy xi măng Hải Phòng, hợp tác khai mỏ; Hungary viện trợ 8.000.000 rúp cũ (tương đương 1,8 triệu rúp mới) và cho vay 9.000.000 rúp; Ba Lan viện trợ 45 triệu zloty và cho vay 20 triệu rúp cũ và 7 triệu rúp mới để xây dựng Nhà máy đường Vạn Điểm, mở rộng Nhà máy xe lửa Gia Lâm; Bulgaria viện trợ cho Việt Nam 3.162.000 đồng ngân hàng Việt Nam để xây dựng các xưởng rau quả, ướp lạnh, cơ khí địa phương...2 (Quân ủy Trung ương, Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, Tlđd, tr.12).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:28:10 pm » |
|
Sau chuyến đi thăm Mông cổ của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1955, theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Mông cổ, Mông Cổ giúp 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Sđd, tr.29). Tháng 8 năm 1959, đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Mông Cổ do ông Yumzhagiên Tsedenbal (Y. Tòxêđênban) dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Trong chuyến thăm, đoàn tuyên bố viện trợ cho Việt Nam 10 vạn gia súc trong vòng 10 năm (1959-1969)4 (Ban Đối ngoại Trung ương, Tinh hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954-1960), Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng, 1960, tr. 5).
Những năm 1965-1968, tính chung tổng số viện trợ và cho Việt Nam vay nợ của 12 nước trong phe xã hội chủ nghĩa lên tới 852,280 triệu rúp và 1.345 triệu nhân dân tệ1 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Trong số đó, Liên Xô: 405,9 triệu rúp; Trung Quốc: 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp; Cộng hòa Dân chủ Đức: 91 triệu rúp; Tiệp Khắc: 41,38 triệu rúp; Triều Tiên: 33,5 triệu rúp; Albania: 6,1 triệu rúp; Ba Lan: 65,8 triệu rúp; Hungary: 38,8 triệu rúp; Rumania: 52,35 triệu rúp; Bulgaria: 21,5 triệu rúp; Mông Cổ: 4,05 triệu rúp: Cuba: 13,40 triệu rúp2 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Năm 1968, quân và dân Việt Nam thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cấp tốc cho Việt Nam 335 triệu rúp3 (Các thiết bị, vật tư chủ yếu quy thành tiền như sau: Lương thực trị giá 53 triệu rúp, thực phẩm 23 triệu rúp, thuốc chữa bệnh 12 triệu rúp, hàng tiêu dùng 42 triệu rúp, nguyên - nhiên - vật liệu trị giá 100 triệu rúp, dụng cụ và phụ tùng các loại trị giá 52 triệu rúp, thiết bị lẻ trị giá 87 triệu rúp, thiết bị toàn bộ trị giá 101 triệu rúp. Các mặt hàng viện trợ gồm: 250.000 tấn gạo tẻ, 172.000 tấn ngô, 207.000 tấn bột mì, 2.340 tấn thịt và cá hộp, 12 triệu rúp tiền thuốc, 3.800 tấn giấy viết, 6.600 tấn giấy báo, 45 triệu mét vải, 255.000 tấn xăng ô tô và dầu diezen. 21.000 tấn mỡ máy, 10 triệu rúp phụ tùng ô tô, 5.200 xe vận tải, 850 động cơ ô tô, 145 xe cần trục, 60.000 bộ săm lốp ô tô, 923 máy kéo. 900.000 rúp máy nông nghiệp các loại, 1.2 triệu rúp giống cây trồng, 380.000 rúp giống súc vật và cơ sở chăn nuôi, 35 triệu thiết bị công nghiệp địa phương và công nghiệp nhẹ (Nguồn: Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tlđd, tr.13)) (Triều Tiên giúp 13,4 triệu rúp, Mông Cổ giúp 1,3 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức giúp 43 triệu rúp, Ba Lan giúp 31 triệu rúp, Hungary giúp 17,5 triệu rúp, Rumania giúp 22,6 triệu rúp, Tiệp Khắc giúp 16,5 triệu rúp, Bulgaria giúp 10,2 triệu rúp, Albania giúp 2,4 triệu rúp, Cuba giúp 8,7 triệu rúp)4 (Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế trong năm 1969, Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1969, tr. 9-13). Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, theo yêu cầu của Việt Nam, bên cạnh các thỏa thuận đã ký kết trước đây, các nước xã hội chủ nghĩa đồng ý viện trợ bổ sung cho Việt Nam 37,8 triệu rúp vật tư hậu cần các loại1 (Các mặt hàng viện trợ bổ sung cho Việt Nam của các nước xã hội chủ nghĩa sau Tết Mậu Thân năm 1968 gồm: 30.000 tấn gạo, 70.000 tấn ngô, 100.000 tấn bột mì, 55.000 tấn xăng dầu (Liên Xô: 50.000 tấn, Rumania: 5.000 tấn), 33.000 tấn dầu diezen (Liên Xô: 30.000 tấn, Rumania: 3.000 tấn), 5.000 tấn dầu mỡ máy (Liên Xô), 1.230 tấn thịt, cá, rau hộp (Trung Quốc: 1.000 tấn, Hungary: 200 tấn, Ba Lan: 30 tấn), 50 tấn mì chính (Trung Quốc: 30 tấn, Cộng hòa Dân chủ Đức: 20 tấn), 400 tấn rau muối và bột đậu phụ, 100 tấn sữa bột (Ba Lan). Thuốc men và dụng cụ y khoa gồm: Tân dược (300.000 nhân dân tệ của Trung Quốc), 26 triệu viên đa sinh tố (Liên Xô: 15 triệu, Cộng hòa Dân chủ Đức: 10 triệu, Ba Lan: 1 triệu), 50.000 ống đôlagăng (Hungary), 150.000 tuýp phinơgăng (Hungary), 1.000 lọ huyết thanh (Ba Lan), 15.000 lọ ete (Liên Xô), 5kg prômêđôn (Liên Xô), 50.000 viên brêmít (Liên Xô), 100.000 ống moócphin (Liên Xô), 80 bộ đồ phẫu thuật các loại (Liên Xô), 30 bộ kính hiển vi xách tay (Liên Xô), ba bộ máy X.quang xách tay (Liên Xô), 3.000 bộ truyền máu (Ba Lan). Hàng tiêu dùng gồm: 5.100.000 mét vải bông (Trung Quốc: 5.000.000m, Ba Lan: 100.000m). 1.730.000 mét vải bạt và nhựa, 400.000 đôi giày, dép. Phương tiện vận tải gồm: 575 ô tô vận tải các loại (Liên Xô: 250 chiếc, Cộng hòa Dân chủ Đức: 200 chiếc, Ba Lan: 100 chiếc, Tiệp Khắc: 25 chiếc), 20 máy kéo (Liên Xô), 20 xe sửa chữa lưu động (Liên Xô), 80 máy thi công làm đường sắt (Liên Xô), 200 chiếc búa khoan đã (Liên Xô), 10 máy nén khí (Liên Xô), 22.000 bộ săm lốp ô tô, 10 ô tô cứu thương (Liên Xô), 15 ô tô cần trục (Liên Xô: 10 chiếc, Tiệp Khắc: 5 chiếc), 52 ô tô côngtennơ (Liên Xô: 30 chiếc, Ba Lan: 20 chiếc, Tiệp Khắc: 2 chiếc), 2.050.000 rúp phụ tùng ô tô (Liên Xô: 1,5 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức: 200.000 rúp, Ba Lan: 50.000 rúp, Tiệp Khắc: 200.000 rúp, Hungary: 100.000 rúp). Thiết bị thông tin và truyền thanh gồm: 115 máy thu phát các loại, 120 máy (truyền chữ, tách sóng và lọc sóng), 40 máy phát điện quay tay, 374 bộ (dụng cụ, ăngten, bộ sửa). Vật liệu công binh gồm: 25 tấn thuốc nổ plastic, 4 triệu kíp mìn số 8, 1 triệu kíp điện số 8, 1,9m dây cháy chậm, 1,5 triệu mét dây truyền nổ, 2.200 chiếc rìu chặt tay, cưa tay (Nguồn: Bộ Quốc phòng, Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1968, tr.66)) (Liên Xô: 18 triệu rúp, Trung Quốc: 15 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức: 2,6 triệu rúp, Tiệp Khắc: 510.000 rúp, Ba Lan: 800.000 rúp, Hungary: 570.000 rúp, Rumania: 290.000 rúp)2 (Bộ Quốc phòng, Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, Tlđd, tr. 66).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:29:15 pm » |
|
Về quân sự, trong 10 năm (1954-1964), các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam tổng trọng lượng vật chất là 119.790 tấn, bao gồm vũ khí đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Trong đó, từ năm 1955 đến năm 1960, Việt Nam nhận được tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; từ năm 1961 đến năm 1964, Việt Nam tiếp tục nhận được tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật (Liên Xô 47.223 tấn, Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 442 tấn)1 (Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.588 - 589, 601). Các mặt hàng Việt Nam được viện trợ gồm một số loại chính sau: 415.584 súng bộ binh, 5.621 súng chống tăng, 2.542 súng cối, 24 pháo hỏa tiễn, 1.023 pháo mặt đất, 639 súng máy cao xạ, 1.024 pháo cao xạ, 32 máy bay chiến đấu, 46 tàu hải quân chiến đấu, 165 xe tăng các loại, 166 xe vỏ bọc thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 ô tô vận tải và kéo pháo, 198 ô tô chuyên dùng khác, 201 xe máy công trình, 8.486 xe và máy vô tuyến điện, 19.134 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 8.658km dây điện thoại dã chiến, 278.450 bộ quân trang đồng bộ, bảy bộ thiết bị toàn bộ...2 (Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, sáu nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, 1975,tr. 11).
Từ năm 1965 đến đầu năm 1972, các nước xã hội chủ nghĩa (trừ Liên Xô, Trung Quốc) đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam giá trị khoảng 423 triệu rúp, chủ yếu là súng bộ binh, súng chống tăng B41, khí tài thông tin, xe xích kéo pháo, ô tô, vật tư công tác chính trị... trong đó Hungary 119,4 triệu rúp, Ba Lan 98 triệu rúp1 (Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 817)... Tháng 8-1966, Cuba cử đoàn cán bộ quân sự gồm 33 người, gồm bộ đội không quân, tên lửa, cao xạ, pháo binh, quân y... sang Việt Nam vừa giúp đỡ, vừa học hỏi kinh nghiệm chiến đấu; trong đợt công tác, sáu người đã hy sinh2 (А.В. Окороков, Секретные войны Советского Союза, Указ. Соч, C.198). Tháng 9-1966, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đề nghị gửi phi công sang Việt Nam chiến đấu. Hai nước đã ký Nghị định thư (30-9-1966) thỏa thuận nội dung hợp tác cụ thể3 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 15, bản đánh máy, lưu tại Ban Tổng kết lịch sử, Bộ Tổng Tham mưu). Theo thỏa thuận, bộ đội không quân Triều Tiên sang Việt Nam ngày 20-10-1966 gồm 384 người (trong đó có 96 phi công), ngoài ra còn có 35 chuyên gia về địch vận và phát thanh4 (Tài liệu lưu trữ, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Bộ Quốc phòng, hồ sơ số 1.119). Bộ đội không quân Triều Tiên bắt đầu trực chiến từ ngày 15-12-1966, gồm 12 máy bay MiG-17c. Từ khi bắt đầu trực chiến cho đến cuối năm 1967, máy bay Triều Tiên đã cất cánh 736 lần/chiếc, đánh 29 trận với 106 lần/chiếc (có sáu lần sử dụng máy bay MiG-17c), bắn rơi 23 máy bay địch, tiêu hao 700 tấn dầu; 10 phi công đã hy sinh anh dũng (có tám người hy sinh do chiến đấu trên không); bị bắn rơi 10 máy bay, bị đánh hỏng 23 máy bay ở mặt đất (sáu chiếc hỏng hoàn toàn)5 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 20, số 59/CT, Tlđd). Đến tháng 1-1968, tổng số bộ đội Triều Tiên ở miền Bắc Việt Nam còn lại 185 người (trong đó có 46 phi công)6 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 17, số 59/CT, Tlđd). Đến tháng 12-1968, đã thay quân 5 lần, còn lại 159 người (31 phi công), đã bắn rơi tất cả 26 máy bay Mỹ, 12 người hy sinh (hai trường hợp không trong chiến đấu), bị hỏng 43 máy bay (25 chiếc bị hỏng hoàn toàn)1 (Sổ công tác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, quyển 20, số 59/CT, Tlđd). Những người đã ngã xuống được an táng tại khu đồi rừng Hoàng (xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:42:27 pm » |
|
II- TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ CỦA CÁC LỰC LƯỢNG DÂN CHỦ, HÒA BÌNH THẾ GIỚI
1- Xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương
Trên bán đảo Đông Dương, quá trình xây dựng và phát triển của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia có đặc điểm nổi bật là nếu một quốc gia bị xâm lược, thì dù sớm hay muộn hai quốc gia còn lại cũng khó tránh khỏi sự đô hộ của lực lượng xâm lược ấy - đó là một trong những lý do căn bản, quan trọng hình thành nên liên minh đoàn kết, chiến đấu giữa ba dân tộc.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam có môi liên quan chặt chẽ đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, vì Mỹ tiến hành một "chiến lược khu vực" đối với cả ba nước.
Phát huy truyền thống láng giềng đã gắn bó từ xa xưa về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, quốc phòng, kế thừa và phát triển truyền thống đoàn kết chống thực dân Pháp, trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam đã chủ động xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia. Liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương xây dựng trên nguyên tắc: Việc giải phóng và bảo vệ đất nước là sự nghiệp của nhân dân mỗi nước, song nhân dân ba nước Đông Dương quyết hết lòng, hết sức giúp nhau chiến đấu, phối hợp chiến đấu để sức mạnh tổng hợp của nhân dân ba nước được nhân lên gấp bội.
Trong kháng chiến, nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp to lớn để giúp Lào, Campuchia, cũng như nhân dân hai nước Lào, Campuchia đã hết lòng giúp đỡ Việt Nam. Thắng lợi chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cũng là thành quả chung của ba nước Đông Dương. Đó là kết quả của liên minh chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.
Triển khai các kế hoạch ở Đông Nam Á, đối với ba nước Đông Dương, Mỹ đã triển khai các chiến lược liên quan chặt chẽ với nhau: Một là, cùng một lúc đưa quân vào cả ba nước với các biện pháp chiến lược khác nhau tuỳ theo tình hình, đặc điểm ở từng nước, với những thời gian thích hợp; hai là, triệt để lợi dụng vấn đề khác biệt dân tộc, vấn đề tôn giáo, các mối quan hệ lịch sử cũ để lại, ra sức chia rẽ, chia cắt, cô lập từng nước; ba là, dùng lãnh thổ nước này làm bàn đạp để thực hiện các mưu tính chính trị và các kế hoạch quân sự, ngăn cản sự chi viện, hỗ trợ phối hợp lẫn nhau giữa ba nước.
Những chủ trương chiến lược của Mỹ được tiến hành đồng bộ, đan xen và thường xuyên được rút kinh nghiệm bổ sung cho phù hợp với thời gian và không gian ở từng nước.
Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Pháp chiếm đóng cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, đặt ba nước dưới một chế độ cai trị chung, xem Việt Nam, Lào, Campuchia là những vùng lãnh thổ trong một Đông Dương thuộc địa. Do đó, ba dân tộc đã đoàn kết, liên minh chiến đấu dưới sự lãnh đạo của một Đảng chung và từ năm 1951, mỗi nước đã có mặt trận thống nhất dân tộc hoạt động theo cương lĩnh của mình. Sau Hiệp định Geneva, mỗi nước đã độc lập, có chủ quyền, được thế giới thừa nhận về pháp lý, có đường lối chính sách riêng. Cuộc vận động cách mạng trong từng nước cũng do từng Đảng tiến hành theo cương lĩnh của mình có sự phối hợp chung giữa ba đảng.
Đặc biệt, sau Hiệp định Geneva, tuy nhân dân ba nước đều giành được thắng lợi, nhưng mức độ có khác nhau. Việt Nam giải phóng được nửa nước, miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, hoà nhập vào hệ thống xã hội chủ nghĩa, có điều kiện quan hệ rộng rãi với chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Đó là tiền đề, là gốc rễ cho mọi thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Lào có vùng tập kết, Đảng, lực lượng vũ trang và các tổ chức cách mạng được thừa nhận là một lực lượng, một đối trọng để tiến tới tổng tuyển cử thành lập chính phủ liên hiệp. Campuchia được công nhận độc lập, nhưng Đảng, lực lượng vũ trang và các tổ chức kháng chiến trước đây không được thừa nhận; do đó, tình hình Campuchia chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp. Như vậy, rõ ràng các nước trên bán đảo Đông Dương khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đều ở trong tình hình phức tạp hơn trước; tuy nhiên, nhân dân ba nước đều có nguyện vọng, có yêu cầu chung là cùng nhau bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Xu thế tất yếu là nhân dân ba nước cần đoàn kết, tạo một liên minh trong cuộc chiến đấu chung.
Tình hình thực tế trên đặt ra cho Đảng Lao động Việt Nam là để thắng Mỹ phải đồng thời giải quyết hai nội dung cơ bản trong vấn đề liên minh, đoàn kết với nhân dân Đông Dương: Vấn đề cốt tử là phải tập hợp được lực lượng, phải đoàn kết liên minh với các nước láng giềng, cũng như tranh thủ sự đồng tình giúp đỡ chính phủ và nhân dân yêu hoà bình. Nhưng để đoàn kết, liên minh được trong tình hình mới, một mặt - mặt rất cơ bản, phải tranh thủ, kiên trì thực hiện bằng được đoàn kết liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia; mặt khác, phải tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo lực lượng, tuỳ theo không gian, thời gian để chọn hình thức, nội dung, xác định nhiệm vụ đoàn kết, liên minh cho phù hợp.
Sớm nhận rõ những vấn đề trên, Đảng Lao động Việt Nam chủ trương phát huy truyền thống đoàn kết trong kháng chiến chống thực dân Pháp của ba dân tộc; kiên trì đẩy mạnh sự nghiệp đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia theo nguyên tắc luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, cùng nhau đoàn kết, liên minh chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia cho cả ba dân tộc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:43:40 pm » |
|
Thực hiện chủ trương trên, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm chủ động bàn bạc với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Campuchia. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sớm triển khai và tiếp xúc với Chính phủ Vương quốc Lào, Chính phủ Vương quốc Campuchia. Chủ trương trên đây của Đảng Lao động Việt Nam cùng với nỗ lực của chính phủ và nhân dân ba nước, nên mặc dù có những lúc thăng trầm nhưng nhìn chung, liên minh đoàn kết chiến đấu ba dân tộc Việt Nam - Lào - Campuchia hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển trong những năm chống Mỹ, cứu nước. Nhân dân ba nước cùng dựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó thủy chung với nhau trong khó khăn, hoạn nạn. Chính phủ và Mặt trận của mỗi nước phối hợp với nhau về chính trị, ngoại giao.
Để biểu thị tình đoàn kết chống Mỹ, từ ngày 1 đến ngày 9 tháng 3 năm 1965, tại Phnôm Pênh, Hội nghị nhân dân Đông Dương đã được triệu tập. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết cực lực lên án Mỹ chà đạp lên các hiệp định Geneva, gây ra cuộc chiến tranh đối với Việt Nam, can thiệp vũ trang vào Lào và tiến công khiêu khích Campuchia. Hội nghị nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố tình đoàn kết chân thành và bền vững của các dân tộc Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Tiếp sau Hội nghị quan trọng này, từ ngày 24 đến ngày 25-4-1970, những người đứng đầu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia đã họp Hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương. Hội nghị khẳng định: Trên đà thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở ba nước và trong tình hình nghiêm trọng hiện nay do sự can thiệp Mỹ gây ra, Hội nghị cấp cao của ba nước Đông Dương lần này là Hội nghị tăng cường đoàn kết, siết chặt hàng ngũ của nhân dân Campuchia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam để kiên trì và đẩy mạnh chiến đấu, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Hội nghị đã ra tuyên bố chung mang tính chất cương lĩnh đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, đồng thời cũng là hiến chương về mối quan hệ giữa nhân dân ba nước trong cuộc đấu tranh chung.
Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị biểu thị mạnh mẽ ý chí đoàn kết giữa nhân dân ba nước trên đây, lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia sát cánh chiến đấu, tạo ra thế chiến lược tiến công địch trên chiến trường ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược của địch trên chiến trường Đông Dương. Trong cuộc chiến đấu đó, miền Nam Việt Nam được xác định là chiến trường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường vừa là hậu phương, căn cứ địa của chiến trường miền Nam, chiến trường Lào và chiến trường Campuchia. Vì vậy, trong khi đẩy mạnh hoạt động trên chiến trường miền Nam, ở Lào, Việt Nam cùng Quân giải phóng Lào mở các chiến dịch và nhiều đợt hoạt động ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1961, 1964, 1969, 1970, 1972), Nậm Thà (1962), Nậm Bạc (1968), đường 8, đường 12 (1963), đường 9 - Nam Lào (1971)... Ở Campuchia, khi 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn tràn qua biên giới, tiến sâu vào đất Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam kịp thời nhận định: "Đông Dương đã trở nên một chiến trường thống nhất"1 (Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, ngày 30-4-1970) là đặc điểm mới trong cuộc chiến đấu chống Mỹ và chỉ rõ: "Đoàn kết chiến đấu với nhân dân Campuchia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Campuchia, giữ vững và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tài sản và tính mệnh của nhân dân Campuchia và của Việt kiều, bảo đảm các đường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta"2 (Điện của Bộ Chính trị gửi Trung ương Cục, Quân ủy Miền, ngày 30-4-1970).
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, lực lượng vũ trang Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia đã mở cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia với hơn 4 triệu dân. Tiếp đó, lực lượng vũ trang Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch như Chenla I (1970), Toàn thắng (1971), Chenla II (1971).
Vì vậy, qua gần 21 năm cùng hai nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương tiến hành kháng chiến, đường lối nhất quán, nỗ lực thực hiện đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia nhằm mục tiêu đánh thắng Mỹ, thực hiện giải phóng dân tộc là nét nổi bật trong quá trình đoàn kết, liên minh với hai dân tộc Lào, Campuchia. Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện tình hình phát triển ở mỗi nước không giống nhau, do chủ trương chiến lược, biện pháp, bước đi của Mỹ đối với từng nước và lực lượng so sánh trực tiếp trên từng chiến trường khác nhau, một vấn đề lớn khác đặt ra với cả ba nước, đặc biệt đối với Việt Nam là trong quá trình đoàn kết, liên minh phải biết tìm kiếm, lựa chọn các hình thức, nội dung, mục tiêu phù hợp với từng giai đoạn, từng lực lượng, với từng nước khác nhau. Nếu không khéo lựa chọn các hình thức đoàn kết, liên minh phù hợp thì chủ trương đoàn kết liên minh mặc dầu đúng đắn, cần thiết vẫn gặp nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức trong quá trình thực hiện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:45:15 pm » |
|
Đối với Lào, phát huy truyền thống đoàn kết, liên minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp, suốt hơn 21 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ (1954-1975), hai Bộ Chính trị của hai Đảng thường xuyên hội đàm thống nhất đánh giá tình hình, vạch ra chiến lược chung, thống nhất phối hợp chiến trường và phân công chỉ đạo đấu tranh. Hình thức, nội dung liên minh vừa kế thừa những kinh nghiệm đã đạt được trong chống thực dân Pháp, vừa phát triển những nội dung mới, bao gồm nhiều lĩnh vực, đặc biệt tập trung trên các vấn đề chiến lược chủ yếu giúp xây dựng thực lực cách mạng, liên minh chiến đấu, phối hợp chiến trường, cùng nhau mở các chiến dịch, trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau,... Có thể nói, tình đoàn kết, liên minh với Lào đem lại hiệu quả cao cho cả hai bên, cũng như xây dựng nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài về sau. Đây cũng là liên minh đoàn kết nổi trội, rõ nét, chi phối hơn cả so với liên minh với Campuchia.
Đi đôi với liên minh với Đảng Nhân dân Cách mạng của Lào là xuyên suốt, là nền tảng, thì trong các thời kỳ hoà hoãn thành lập chính phủ liên hiệp, Việt Nam đều tranh thủ đoàn kết, ủng hộ đường lối hoà bình, trung lập hoà hợp dân tộc của Chính phủ Vương quốc Lào, nhằm từng bước đẩy Mỹ ra khỏi Lào, do đó tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của Chính phủ Vương quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn tranh thủ đoàn kết với các lực lượng trung lập khác của Lào cùng đứng lên chống đế quốc Mỹ.
Đối với Campuchia, với Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (Khơme) (sau là Đảng Cộng sản Khmer), từ sau Hiệp định Geneva năm 1954, mặc dầu trong quan hệ còn những vướng mắc, Việt Nam vẫn hết lòng giúp đỡ Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer, kể cả việc cử người sang giúp chuyển phương thức hoạt động thích hợp và phát triển lực lượng; đồng thời, Việt Nam tiếp nhận cán bộ dự trữ của Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer sang học tập cũng như phối hợp với bộ phận chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer lưu trú trên đất Việt Nam. Việt Nam nỗ lực giúp đỡ Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chỗ đứng chân, củng cố quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt - Miên. Quân tình nguyện Việt Nam giúp Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer xây dựng bộ đội chủ lực, dân quân du kích, xây dựng hệ thống trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ huy, cán bộ tham mưu các binh chủng và một số ngành chuyên môn kỹ thuật, như bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công, thông tin, cơ yếu, y tá, thợ sửa chữa quân giới... Việt Nam phối hợp chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia, mở các mặt trận mới, tổ chức các chiến dịch phản công, giải phóng nhiều đất đai, nối liền các căn cứ giải phóng, tạo ra một cục diện mới cho Campuchia, làm cho Mỹ phải lúng túng đối phó trên cả hai chiến trường.
Với Chính phủ Vương quốc Campuchia, mặc dầu hiểu rõ chính sách và ý đồ của Chính phủ Vương quốc khai thác sự chưa nhất trí giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer, nhưng Việt Nam vẫn đoàn kết, ủng hộ đường lối hoà bình, trung lập, không liên kết của Chính phủ Sihanouk. Sự đoàn kết, giúp đỡ của Campuchia đối với Việt Nam trong thời điểm địch đang tìm mọi cách cô lập, phong toả, chia cắt chiến trường miền Nam cũng như các giai đoạn sau này là rất có hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng.
Cùng với các hình thức, nội dung đoàn kết, liên minh Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia, Việt Nam còn tạo mọi điều kiện tranh thủ tổ chức đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia dưới các hình thức "Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương". Đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia chống đế quốc Mỹ được tiến hành trong một thời gian dài, trải qua rất nhiều tình huống hết sức phức tạp (đặc biệt là với Campuchia), chịu sức ép từ nhiều phía, trong điều kiện địch tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại nội bộ từng nước. Trong thực tế cũng có nhiều diễn biến không bình thường trong các mối quan hệ, nhưng về cơ bản vẫn giữ vững được tình đoàn kết và chủ trương liên minh đưa cuộc kháng chiến của ba dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn.
Đối với cách mạng Lào, Campuchia, trong đoàn kết, liên minh chiến đấu, có ưu điểm là Việt Nam luôn tôn trọng độc lập chủ quyền của Lào, Campuchia, trước hết là tôn trọng ý kiến của cán bộ Lào, Campuchia. Trong mọi công việc giúp Lào, Campuchia, cán bộ Việt Nam luôn được quán triệt phải nghiên cứu chuẩn bị trước, sau đó gợi ý, hướng dẫn cụ thể cho Lào, Campuchia nắm được tình hình, trên cơ sở đó đề ra chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện từng mặt công tác. Việt Nam luôn quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ của mình quan điểm tôn trọng ý kiến của Lào, Campuchia, mọi công việc đều do Lào, Campuchia làm chủ, Việt Nam cần bồi dưỡng, giúp đỡ tận tình để Lào, Campuchia quyết định và tự đảm đương công việc. Theo tinh thần đó, Việt Nam giúp Lào, Campuchia từng bước nâng cao tinh thần độc lập tự chủ, lòng tự tin, phát huy hiệu quả tinh thần trách nhiệm và ý thức tự lực, tự cường, phấn đấu rèn luyện trưởng thành, tự đảm đương dần, tiến tới hoàn thành mọi nhiệm vụ trong xây dựng, chiến đấu và công tác của Lào, Campuchia.
Bên cạnh những thành tựu nổi bật, việc giúp đỡ, đoàn kết, liên minh với Lào, Campuchia còn có những hạn chế nhất định, còn một số thiếu sót, non kém như phương châm làm việc, giúp đỡ xây dựng nặng về xây dựng tập trung, chưa gắn liền với việc xây dựng cơ sở. Một số cán bộ Việt Nam chưa tin ở bộ đội Pathét Lào, chưa tin ở Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, nội bộ một số tổ thiếu dân chủ (các tổ ở các tiểu đoàn), làm việc không bàn bạc, gây khó khăn cho cán bộ Lào, Campuchia. Nhiều công việc còn mang nặng tính áp đặt, chưa lắng nghe ý kiến của cán bộ Lào, Campuchia, thậm chí còn có thái độ nước lớn và nhiều khi xử lý chưa linh hoạt, nhiều lúc, nhiều nơi, cán bộ Việt Nam vẫn chưa nắm bắt được những biến chuyển nhanh chóng trong tình hình để có đối sách phù hợp, hiệu quả, vẫn còn lúng túng, bị động trong chỉ đạo thực hiện.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:46:57 pm » |
|
Thực tế trên cho thấy cần rút kinh nghiệm về chỉ đạo, về tổ chức thực hiện. Cụ thể là:
Phải kiên trì, nhất quán đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia, mà trước hết là đoàn kết với nhân dân hai nước; nhưng mặt khác, phải biết lựa chọn những hình thức, nội dung phù hợp theo từng giai đoạn đối với từng lực lượng của từng nước khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Lào, Campuchia, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập tự chủ của Việt Nam.
Đối với ba nước Đông Dương, đế quốc Mỹ luôn luôn đặt ba nước trong một chiến lược chung mà Mỹ quen gọi là "một đơn vị chiến lược". Thực tế đế quốc Mỹ đã biến ba nước trên bán đảo Đông Dương thành một chiến trường, lấy miền Nam việt Nam là chiến trường chính. Chủ trương chiến lược nhất quán của đế quốc Mỹ là đồng thời chia cắt, cô lập cả ba nước, với bước đi khác nhau đối với từng nước, nhưng nhằm thực hiện một mục tiêu cơ bản thống nhất: Đặt cả ba nước dưới ảnh hưởng của mình, xây dựng tại đây những chính phủ thân Mỹ.
Triển khai chiến lược trên, đế quốc Mỹ ra sức lôi kéo, chi phối, thúc ép Vương quốc Campuchia trên nhiều phương diện, tiến hành "chiến tranh đặc biệt" với các mức độ khác nhau ở Lào; đồng thời, tập trung lực lượng quyết đè bẹp Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đế quốc Mỹ cho rằng giải quyết được chiến trường chính, đánh bại được đối thủ chính ở Đông Dương là Việt Nam thì sẽ dễ dàng thực hiện các mục tiêu định sẵn ở hai nước Lào Campuchia. Qua một số lần thay đổi chiến lược, Mỹ vẫn bị thất bại ở miền Nam Việt Nam, liên tiếp bị đẩy lùi ở hai chiến trường Lào, Campuchia. Trước những diễn biến đó, Mỹ sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng xung kích cơ động, phối hợp với Quân đội Phnôm Pênh công khai mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào. Nắm bắt tình hình, Đảng Lao động Việt Nam đã sớm xác định Đông Dương là một chiến trường, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường, vừa là hậu phương lớn của các chiến trường Đông Dương để phát huy sức mạnh đoàn kết, liên minh, tạo thế chiến lược tiến công chung trên cả ba chiến trường.
Trong quá trình tiến hành chiến tranh, chủ trương chiến lược trên đã phát huy tác dụng to lớn trong việc thực hiện sự đoàn kết, liên minh giữa ba dân tộc khi cuộc đấu tranh của ba dân tộc phát triển đến mức cao, đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng, rộng lớn theo đúng quy luật phát triển chiến tranh ở giai đoạn cuối cùng để giành thắng lợi hoàn toàn.
Thực hiện chủ trương trên, một mặt, Việt Nam tập trung đánh bại các kế hoạch chiến lược của địch ở chiến trường Việt Nam; mặt khác, Việt Nam thường xuyên đáp ứng cao nhất những yêu cầu quan trọng nhất của Lào, Campuchia, đồng thời cùng Lào, Campuchia phối hợp tác chiến, mở các chiến dịch trên chiến trường Đông Dương, làm cho đế quốc Mỹ phải phân tán lực lượng ra đối phó trên cả ba chiến trường. Trên cơ sở đó tạo ra thế chiến lược tiến công chung cho cả ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn của đế quốc Mỹ trên toàn Đông Dương. Các chiến dịch cùng hàng loạt trận chiến đấu của liên quân Lào - Việt không những đã đánh bại từng bước các chiến lược chiến tranh Mỹ áp dụng ở Lào, tạo những bước nhảy vọt cho chiến tranh cách mạng của Lào, mà đồng thời còn hỗ trợ to lớn, đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam và đà phát triển đi lên của cách mạng Campuchia.
Để tạo và phát triển thế chiến lược chủ động tiến công địch trên cả ba nước, Việt Nam đã cùng Lào, Campuchia xây dựng, phát triển tuyến đường Hồ Chí Minh. Con đường mòn độc đáo ấy vắt qua Tây Trường Sơn trên đất Lào và đi qua lãnh thổ Đông Bắc Campuchia. Nói là tuyến đường nhưng thực chất là một căn cứ kháng chiến hết sức quan trọng, một hậu phương chiến lược vĩ đại, trực tiếp gắn bó các chiến trường ba nước bằng hệ thống đường huyết mạch cùng với hệ thống kho tàng, căn cứ vận chuyển từ hậu phương lớn miền Bắc Việt Nam đi tới các chiến trường quan trọng của ba nước. Trên tuyến đường - căn cứ kháng chiến, có bộ đội ba nước Đông Dương liên minh chiến đấu, phân công phối hợp giữ vững vùng trời, vùng đất cho hệ thống giao thông được thông suốt trong chiến tranh. Không quản gian khổ, nhân dân và lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương đã từng bước mở rộng vùng giải phóng dọc tuyến hành lang, tạo ra sự liên hoàn vững chắc giữa tuyến vận tải chiến lược với các chiến trường. Không có con đường Trường Sơn lịch sử - căn cứ địa vững chắc của ba nước, thì khó có thế bảo đảm được sự chi viện hỗ trợ cho cuộc chiến đấu giữa ba dân tộc trong điều kiện chiến tranh ác liệt, trong hoàn cảnh các chiến trường xa nhau mà đối phương thì tìm mọi cách chia cắt, cô lập từng chiến trường. Trên đường Trường Sơn, lực lượng vũ trang ba nước Đông Dương đã từng giây, từng phút đương đầu với cỗ máy quân sự khổng lồ của Mỹ. Đây không đơn thuần là con đường mòn, nó là cả một luồng tư tưởng, là khát vọng, ý chí và sức sống mãnh liệt của ba dân tộc quật cường đã "chung lưng, đấu cật" cùng đi hàng thế kỷ đấu tranh chống áp bức. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn thực sự là biểu tượng của mối tình đoàn kết, gắn bó liên minh giữa ba nước trong cuộc chiến đấu chung trên một chiến trường thống nhất, có sự gắn bó mật thiết mang tính chi phối lẫn nhau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:48:28 pm » |
|
Song song với việc tập trung đánh địch, trong quá trình liên minh, Việt Nam hết sức giúp Lào, Campuchia xây dựng, phát triển lực lượng theo yêu cầu phát triển của chiến tranh. Việt Nam đã giúp Lào, Campuchia xây dựng, phát triển nhanh lực lượng vũ trang, đặc biệt là giúp Lào, Campuchia bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, tạo những bước tiến mới cả về số lượng và chất lượng trong việc xây dựng thực lực kháng chiến nói chung và xây dựng lực lượng vũ trang nói riêng. Không ngừng tiến công đều khắp trên cả ba chiến trường và cũng do đó mà phát triển được thế chủ động chiến lược trên từng chiến trường, hình thành thế chiến lược tiến công chung của cả chiến trường Đông Dương, làm chuyển biến cục diện chung cả ba nước trong chống Mỹ - điều đó cho thấy rằng, đánh địch để phát triển lực lượng, đẩy mạnh phát triển lực lượng để tiếp tục đánh địch đạt hiệu quả chiến lược cao hơn là một nội dung quan trọng trong quá trình đoàn kết, liên minh giữa ba nước Đông Dương, về phía Lào và Campuchia, phối hợp với cách mạng Việt Nam, trong những thời điểm lực lượng vũ trang miền Nam gặp khó khăn lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Campuchia tích cực giúp Quân giải phóng Việt Nam đứng chân an toàn trên địa bàn Lào, Campuchia. Không ngừng tiến công đối phương đều khắp trên cả ba chiến trường, từ đó phát triển thế chủ động chiến lược trên từng chiến trường, hình thành thế chiến lược tiến công chung trên toàn Đông Dương, lực lượng vũ trang ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia dẫn dắt cuộc chiến tranh chuyển động theo ý đồ của mình, giam chân, làm đối phương sa lầy, bế tắc. Sự phối hợp tác chiến quân sự giữa lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào, Campuchia ngày càng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến cục diện cuộc chiến, tạo ra những bước nhảy vọt cho chiến tranh cách mạng Lào, Campuchia, đồng thời hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.
Vấn đề đoàn kết, liên minh giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác trong các cuộc chiến tranh trên thế giới là vấn đề không mới, dễ gặp và thường xuyên xảy ra. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Đông Dương cũng không nằm ngoài quy luật đó, nhưng Việt Nam tiến hành đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia trong những điều kiện khá đặc biệt.
Việt Nam là nước lớn so với Lào, Campuchia là những nước nhỏ hơn. Ba nước tồn tại cùng nhau gần gũi và lâu đời, đã xây dựng nhiều mối quan hệ truyền thống tốt đẹp nhưng cũng không tránh khỏi một số va vấp nhất định. Việt Nam là chiến trường chính, địch thường xuyên tập trung lực lượng đánh phá cho nên luôn luôn phải gánh trách nhiệm nặng nề hơn trong chiến tranh. Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu, phối hợp trên chiến trường Lào, Campuchia thường có số lượng đông hơn quân đội Lào, Campuchia, trong lúc đó không có quân đội Lào, Campuchia chiến đấu trên chiến trường Việt Nam.
Những đặc điểm, hoàn cảnh trên dễ nảy sinh những tư tưởng, những mối quan hệ đa dạng, đan xen, phức tạp cả về phía Việt Nam lẫn phía Lào và Campuchia mà Việt Nam cần chủ động giải quyết tốt thì mối giữ vững và phát triển được liên minh đoàn kết chiến đấu. Thường xuyên theo dõi để sớm phát hiện các vấn đề nảy sinh trong quan hệ song phương, tiến đến chủ động giải quyết trên cơ sở thực sự tôn trọng, lắng nghe ý kiến Lào, Campuchia, luôn luôn đặt mình ở vị trí Lào, Campuchia để xử lý phù hợp từ việc nhỏ đến việc lớn, không xem thường việc nhỏ... Đó là những nguyên tắc cần phải tuân thủ để có thể luôn luôn thực hiện đoàn kết, liên minh giữa ba nước Đông Dương một cách bền vững.
Vấn đề xuyên suốt có ý nghĩa quyết định thành công của sự nghiệp đoàn kết, liên minh mà Việt Nam phải thường xuyên nắm vững trong quá trình thực hiện là luôn luôn quán triệt quan điểm "giúp bạn là tự giúp mình", đấu tranh phòng chống mọi tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau.
"Giúp bạn là tự giúp mình" đòi hỏi đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn trong quá trình đoàn kết, liên minh với Lào, Campuchia trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là vấn đề được luôn được đặt ra và được các cấp lãnh đạo Việt Nam hết sức quan tâm. Đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi không phải chỉ là vấn đề chính trị, càng không phải chỉ là công tác tư tưởng. Đấu tranh phòng chống tư tưởng nước lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi bao hàm một nội dung rộng lớn hơn, sâu sắc hơn - đó là phướng châm chỉ đạo mọi hoạt động quân sự, chính trị, xây dựng, tác chiến... trong quá trình đoàn kết, liên minh. Những ưu điểm, khuyết điểm, thành công, vấp váp trong quá trình đoàn kết, liên minh với Lào, với Campuchia trong chiến tranh chống Mỹ thường do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết và xét đến cùng đều bắt nguồn từ việc quán triệt, nắm vững và thực hiện đến đâu tư tưởng chỉ đạo trên. Trong quá trình đoàn kết, liên minh, do đánh giá chưa đúng, hiểu Lào, Campuchia chưa đầy đủ mà dẫn đến tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn làm thay với khuynh hướng áp đặt, dẫn tới hậu quả tự nhiên là thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng Lào, Campuchia.
Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương xây dựng trên nguyên tắc "hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Sđd, tr. 470) và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, không ngừng được củng cố, vun đắp vì lợi ích chung. Suốt 21 năm chiến tranh, liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương không ngừng được củng cố, vun đắp vì lợi ích chung của nhân dân ba nước. Đó là liên minh có ý thức, có tổ chức, được xây dựng trên nguyên tắc luôn luôn tôn trọng độc lập chủ quyền, lợi ích chính đáng của mỗi dân tộc, đồng thời giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, cùng nhau đoàn kết, giúp đỡ nhau trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung vì nền độc lập và chủ quyền quốc gia cho cả ba dân tộc. Dựa trên nguyên tắc đó, liên minh đoàn kết chiến đấu ba dân tộc chẳng những không ngừng được củng cố, phát triển mà còn phát huy tác dụng to lớn, góp phần rất quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|