Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:30:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Con đường kết thúc chiến tranh Việt Nam  (Đọc 7238 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #90 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:52:43 pm »

2- Thúc đẩy mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam

Trong lịch sử loài người, có lẽ chưa từng có một phong trào quốc tế nào có phạm vi rộng lớn như Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, bao trùm khắp cả năm châu lục lan tỏa từ các nước xã hội chủ nghĩa tới các nước tư bản chủ nghĩa, tới các nước dân tộc độc lập, liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị - xã hội trên thế giới vì Việt Nam mà đấu tranh. Cuộc chiến tranh càng lan rộng, càng ác liệt, thì sự ủng hộ của phong trào đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam lại càng mạnh mẽ, nhiệt thành.


Phong trào ủng hộ Việt Nam đặc biệt sôi nổi, rầm rộ ở các nước Tây Bắc Âu, Thuỵ Điển, Hà Lan, Pháp, Đan Mạch, Na Uy, Tây Đức, Anh... cho đến các nước phát triển ở Thái Bình Dương như: Nhật Bản, úc... Phong trào bao gồm các đoàn thể dân chủ, hòa bình, các tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên, sinh viên, các tổ chức tôn giáo, xã hội, từ thiện... Nhiều tổ chức ủng hộ Việt Nam, đoàn kết với Việt Nam được thành lập ở nhiều nước với các hình thức ủng hộ rất đa dạng như mít tinh, biểu tình, hội thảo, ký kiến nghị, quyên góp tiền bạc, thuốc men, quần áo, hiến máu ủng hộ Việt Nam... Năm 1967, cuộc diễu hành phản đối đế quốc Mỹ gây chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân Thụy Điển được tổ chức ở Stockholm đã gây tiếng vang lớn. Tháng 7-1967, Hội nghị quốc tế ở Stockholm, quy tụ hàng trăm nhà khoa học, học giả có tên tuổi đại diện cho hơn 300 tổ chức đoàn kết với Việt Nam đã liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị ủng hộ Việt Nam. Tòa án quốc tế Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ được thành lập và hoạt động từ năm 1967. Những kết luận của tòa án tạo thêm sức mạnh đối với nhân dân Việt Nam, là chỗ dựa chính trị và tinh thần cho phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ.


Phong trào giải phóng dân tộc và thế giới thứ ba là bạn bè, đồng minh tự nhiên của Việt Nam, nguồn ủng hộ chính trị, cổ vũ tinh thần cho nhân dân Việt Nam. Những ví dụ tiêu biểu như cuộc đột kích của du kích quân Venezuela (Vênêduêla) bắt sĩ quan Mỹ giữa Thủ đô Caracas (Caracát) để đổi lấy mạng sống cho Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, sự kiện Toà án quốc tế Bertrand Russell xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ, Hội nghị 50 nước của Phong trào không liên kết (Georgetown tại Gioócgiơtao, năm 1972)... cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng tiến bộ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Phong trào đã tác động nhất định tới chính sách chiến tranh của Mỹ, tác động rõ rệt đến thái độ, cũng như ứng xử của Liên Xô, Trung Quốc trong vấn đề giúp đỡ Việt Nam chông đế quốc Mỹ. Phong trào như một lực đẩy tương hỗ đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, tạo ra sự cô lập nhất định, dội gáo nước lạnh vào nước Mỹ hiếu chiến, mở rộng đáng kể hậu phương quốc tế của Việt Nam. Nhà báo Mỹ, biên tập viên sáng lập của tạp chí The New Republic Walter Lippmann (W. Lípman) viết: "Không có một nước độc lập nào ở châu Âu, hay châu Á theo gót chúng ta về Việt Nam cả".


Bên cạnh đó, phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh với quy mô lớn, đấu tranh kéo dài, có tác động mạnh mẽ đến nội tình nước Mỹ và kết cục của chiến tranh. Năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam và đánh phá miền Bắc, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân bùng phát. Các tổ chức chống chiến tranh thành lập Ủy ban phối hợp toàn quốc đòi đế quốc Mỹ chấm dứt chiến tranh. Mỹ càng mở rộng chiến tranh thì phong trào càng phát triển và hình thức đấu tranh càng đa dạng, phong phú. Những năm 1967-1968, phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ lan rộng chưa từng có. Thanh niên, sinh viên đốt thẻ quân dịch, cựu binh vứt bỏ huân chương phản đôi chính phủ. Nhiều cuộc biểu tình, diễu hành, hội thảo... được tổ chức trong 120 thành phố; 2.000 trường học, hàng trăm tò báo và hơn 200 tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ phản chiến... làm rúng động Nhà Trắng. Tháng 10-1969, trên khắp nước Mỹ dấy lên những đợt đấu tranh lớn làm tê liệt chính quyền Mỹ. Năm 1970, khi Mỹ đưa quân vào Campuchia, nhân dân Mỹ tiếp tục đấu tranh, đặc biệt là giáo viên, sinh viên nhiều trường đại học đã tham gia đợt đấu tranh này. Năm 1971, khi Mỹ cùng quân đội Sài Gòn mở rộng chiến tranh sang Lào, một đợt đấu tranh của nhân dân Mỹ được tổ chức, lôi cuốn hàng triệu người xuống đường...


Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã tác động lớn đến thái độ của chính giới Mỹ khiến số nghị sĩ chống chiến tranh Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều nghị sĩ đòi chấm dứt ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đòi thương lượng hòa bình. Walter Lippmann nhận xét: "Lương tâm người Mỹ nổi giận". Điều đó phản ánh một hiện thực: Đây là cuộc chiến tranh mất lòng dân nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Phong trào dẫn đến sự phân hoá đối với giới cầm quyền Mỹ, tạo thành một sức ép thường trực, đòi lập lại hoà bình, rút quân Mỹ và chống kéo dài, mở rộng chiến tranh. Phong trào đặt chính quyền Mỹ trước nguy cơ của sự khủng hoảng toàn diện, "cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng"1 (H. Kitxinhgiơ, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr. 190). Trên thực tế, tiếng thét phẫn nộ của phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã kết hợp với diễn biến ở chiến trường buộc Tổng thống Mỹ Johnson phải chuyển từ leo thang sang xuống thang, buộc Tổng thống R. Nixon phải rút dần quân Mỹ, không thể kéo dài cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai (1969-1972). Nếu phong trào dân tộc, phong trào nhân dân thế giới có tác động gián tiêp đến nước Mỹ, thì phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh có tác động trực tiếp - Mỹ bị cô lập ngay tại nước Mỹ, rơi vào khủng hoảng triền miên, phải "chiến đấu với một tay bị trói sau lưng". Phong trào này đã tạo nên cuộc khủng hoảng sâu sắc, triền miên trong lòng nước Mỹ - cuộc khủng hoảng đã tác động mạnh mẽ đối với chính giới, buộc chính quyền phải thay đổi chính sách trong vấn đề Việt Nam. Hồ Chí Minh gọi đây là "mặt trận thứ hai" chống đế quốc Mỹ, một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ, góp thêm một sức mạnh mới cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.


Phong trào nhân dân thế giới chống cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, ngày càng tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ của nhiều chính phủ trên thế giới đôi với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Phong trào nhân dân thế giới chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ đã đánh mạnh vào chính sách của chính quyền Mỹ, góp phần tạo ra một tập hợp lực lượng chưa từng thấy, bao vây, cô lập và tiến công lực lượng Mỹ hiếu chiến từ mọi phía, mọi hướng. Việt Nam chiến thắng chiến tranh mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn gây ra bằng sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại. Việt Nam đã chiến thắng nhờ biết lấy thành quả của kháng chiến để mở rộng và tăng cường đoàn kết quốc tế; nhân tố quốc tế đến lượt mình trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #91 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 07:53:59 pm »

KẾT LUẬN


Sau chín năm kháng chiến, với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, những tưởng Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập, bước vào thời kỳ xây dựng trong hòa bình. Tuy nhiên, dưới tác động của những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, Hiệp định Geneva chỉ mang lại hòa bình trên nửa nước, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau.


Là một cuộc hòa giải không vững chắc giữa các nước lớn, Hiệp định Geneva chẳng những đã không mang lại hòa bình thực sự cho Việt Nam và các nước Đông Dương, mà còn để lại khả năng đẩy những nước này đứng trước bờ vực của một cuộc chiến tranh mới.


Bị ám ảnh bởi Học thuyết Domino (Đôminô) và hiểm họa cộng sản, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương và chính sự can thiệp ấy là một trong những nguyên nhân quá trình làm bùng phát cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm (1954-1975). Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào cuộc chiến đấu mới và trải qua một quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn đã đưa ra đường lối tiến hành chiến tranh hết sức độc đáo với hai bộ phận hợp thành: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam; đồng thời, tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, giải phóng miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước - những nhiệm vụ ấy được thực hiện trên cơ sở ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.


Chiến tranh là sự tổng hợp tất cả các mặt đấu tranh quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá... của các bên đối chiến. Các mặt đấu tranh đó liên quan mật thiết với nhau, chi phối, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau. Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ 21 năm (1954-1975) đã phát triển lên một bước mới nội dung và hình thức tiến hành chiến tranh hiệu quả và rất phong phú. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Phương thức tiến hành chiến tranh không chỉ bó hẹp trong hoạt động đấu tranh vũ trang mà có phạm vi rộng lớn hơn, với nội dung căn bản, chủ chốt nhất của nó là sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả ba vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận (ba mũi giáp công), kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.


Trên cơ sở của đường lối, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh trên hai miền Nam, Bắc phù hợp với sự phát triển của hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) và gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương đặt trong quá trình vận động, biến đổi của tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế. Đó còn là nghệ thuật kết hợp tiến công địch ở miền Nam với bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc với tăng cường sức mạnh mọi mặt cho miền Nam; phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường Nam, Bắc Việt Nam với chiến trường hai nước Lào và Campuchia trên một thế chiến lược tiến công của nhân dân ba nước Đông Dương.


Thực hiện những nội dung trên của chiến tranh nhân dân thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và thực hiện một chiến lược chiến tranh tổng hợp; trong đó, xây dựng hậu phương - căn cứ địa cách mạng chiếm một vị trí quan trọng. Yêu cầu này được quy định bởi hoàn cảnh, điều kiện của đất nước - con người - nền văn hoá và những thách thức lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cuộc chiến tranh nhân dân 21 năm lúc này là miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và là hậu phương tại chỗ rộng lớn. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng ấy gắn liền với chế độ chính trị - xã hội, gắn với con người, gan với lòng dân, gắn với nền tảng văn hoá bền vững. Đó chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng - lòng người trên nền tảng đại đoàn kết - đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.


Trong suốt 21 năm chiến tranh, nếu như miền Bắc gồng mình trong mưa bom bão đạn và trụ vững, hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, thì miền Nam thành đồng trên tuyến đầu chống đế quốc Mỹ đã đi đầu, đẩy mạnh các hoạt động quân sự với chiến lược tiến công. Đó là chiến lược toàn dân đánh giặc dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp giữa tác chiến của lực lượng vũ trang với khởi nghĩa quần chúng cách mạng; là chiến lược tiến công bằng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị); kết hợp giữa đánh địch với giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để làm chủ ngày càng vững chắc hơn.


Song song với việc xây dựng, phát triển, củng cố hậu phương miền Bắc vững chắc và đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đánh thắng mọi kế hoạch chiến tranh cả trên miền Bắc và chiến trường miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn hết sức chú ý và đề cao việc tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, dân chủ và hòa bình thế giới. Nỗ lực ấy đã tạo nên một mặt trận rộng khắp nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam; đồng thời, ra sức xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương trên tinh thần "Đông Dương là một chiến trường" và "giúp bạn là tự giúp mình".


Với tinh thần "không có gì quý hơn độc lập, tự do", với đường lối tiến hành chiến tranh phù hợp, biết tận dụng mọi yếu tố cả trong nước và quốc tế có lợi nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước của mỗi con người Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không bắt đầu chiến tranh nhưng đã dẫn dắt cuộc chiến một cách hiệu quả và kết thúc chiến tranh theo cách có lợi nhất.


Trải qua 21 năm chiến tranh, cuối cùng, đất nước được thống nhất, hòa bình thực sự và vững bền đã về trên mảnh đất nhiều đau thương nhưng cũng hết sức kiên cường. 21 năm ấy, sự bền gan, nỗ lực của hai miền Nam - Bắc, dân tộc và thời đại... tất cả đã hòa quyện để làm nên một chiến thắng to lớn, đặc biệt và lẫy lừng nhất của thế kỷ XX - với chiến thắng ấy, nhân dân Việt Nam không chỉ tỏ rõ thiện chí và khát khao hòa bình, mà còn khẳng định ý chí, quyết tâm và mong mỏi thống nhất đất nước, non sông. Chiến thắng ấy đã để lại nhiều bài học lịch sử lớn thuộc các lĩnh vực chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo của Việt Nam. Cụ thể là: Đường lối tiến hành độc lập tự chủ; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; phát huy vai trò căn cứ địa và hậu phương trong chiến tranh; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; liên minh đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế... Đây cũng chính là những nội dung có chiến lược có thể tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào hoạch định đường lối xây dựng nền quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng thế trận phòng thủ đất nước, vào củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như các nước trong cộng đồng thế giới trong công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM