KẾT LUẬN
Sau chín năm kháng chiến, với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, những tưởng Việt Nam sẽ hoàn toàn độc lập, bước vào thời kỳ xây dựng trong hòa bình. Tuy nhiên, dưới tác động của những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, Hiệp định Geneva chỉ mang lại hòa bình trên nửa nước, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau.
Là một cuộc hòa giải không vững chắc giữa các nước lớn, Hiệp định Geneva chẳng những đã không mang lại hòa bình thực sự cho Việt Nam và các nước Đông Dương, mà còn để lại khả năng đẩy những nước này đứng trước bờ vực của một cuộc chiến tranh mới.
Bị ám ảnh bởi Học thuyết Domino (Đôminô) và hiểm họa cộng sản, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương và chính sự can thiệp ấy là một trong những nguyên nhân quá trình làm bùng phát cuộc chiến tranh kéo dài 21 năm (1954-1975). Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào cuộc chiến đấu mới và trải qua một quá trình tìm tòi, tổng kết thực tiễn đã đưa ra đường lối tiến hành chiến tranh hết sức độc đáo với hai bộ phận hợp thành: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam; đồng thời, tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, giải phóng miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước - những nhiệm vụ ấy được thực hiện trên cơ sở ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Chiến tranh là sự tổng hợp tất cả các mặt đấu tranh quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá... của các bên đối chiến. Các mặt đấu tranh đó liên quan mật thiết với nhau, chi phối, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn nhau. Kế thừa thành quả và kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ 21 năm (1954-1975) đã phát triển lên một bước mới nội dung và hình thức tiến hành chiến tranh hiệu quả và rất phong phú. Đó là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Phương thức tiến hành chiến tranh không chỉ bó hẹp trong hoạt động đấu tranh vũ trang mà có phạm vi rộng lớn hơn, với nội dung căn bản, chủ chốt nhất của nó là sự kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang trên cả ba vùng chiến lược, đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận (ba mũi giáp công), kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị với đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ, chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.
Trên cơ sở của đường lối, phương châm và chiến lược tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống Mỹ, cứu nước, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh trên hai miền Nam, Bắc phù hợp với sự phát triển của hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) và gắn bó chặt chẽ với quá trình cách mạng và chiến tranh cách mạng của ba nước Đông Dương đặt trong quá trình vận động, biến đổi của tình hình khu vực, thế giới và các mối quan hệ quốc tế. Đó còn là nghệ thuật kết hợp tiến công địch ở miền Nam với bảo vệ miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ trên vùng trời, vùng biển miền Bắc với tăng cường sức mạnh mọi mặt cho miền Nam; phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường Nam, Bắc Việt Nam với chiến trường hai nước Lào và Campuchia trên một thế chiến lược tiến công của nhân dân ba nước Đông Dương.
Thực hiện những nội dung trên của chiến tranh nhân dân thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đề ra và thực hiện một chiến lược chiến tranh tổng hợp; trong đó, xây dựng hậu phương - căn cứ địa cách mạng chiếm một vị trí quan trọng. Yêu cầu này được quy định bởi hoàn cảnh, điều kiện của đất nước - con người - nền văn hoá và những thách thức lịch sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng của cuộc chiến tranh nhân dân 21 năm lúc này là miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội và là hậu phương tại chỗ rộng lớn. Hậu phương - căn cứ địa cách mạng ấy gắn liền với chế độ chính trị - xã hội, gắn với con người, gan với lòng dân, gắn với nền tảng văn hoá bền vững. Đó chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng - lòng người trên nền tảng đại đoàn kết - đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Trong suốt 21 năm chiến tranh, nếu như miền Bắc gồng mình trong mưa bom bão đạn và trụ vững, hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, thì miền Nam thành đồng trên tuyến đầu chống đế quốc Mỹ đã đi đầu, đẩy mạnh các hoạt động quân sự với chiến lược tiến công. Đó là chiến lược toàn dân đánh giặc dựa vào sức mạnh tổng hợp của hai lực lượng quân sự và chính trị, dựa vào sự kết hợp hai hình thức đấu tranh quân sự và chính trị, kết hợp giữa tác chiến của lực lượng vũ trang với khởi nghĩa quần chúng cách mạng; là chiến lược tiến công bằng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị); kết hợp giữa đánh địch với giành quyền làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch và tiêu diệt địch để làm chủ ngày càng vững chắc hơn.
Song song với việc xây dựng, phát triển, củng cố hậu phương miền Bắc vững chắc và đẩy mạnh các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đánh thắng mọi kế hoạch chiến tranh cả trên miền Bắc và chiến trường miền Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn hết sức chú ý và đề cao việc tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, dân chủ và hòa bình thế giới. Nỗ lực ấy đã tạo nên một mặt trận rộng khắp nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam; đồng thời, ra sức xây dựng liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương trên tinh thần "Đông Dương là một chiến trường" và "giúp bạn là tự giúp mình".
Với tinh thần "không có gì quý hơn độc lập, tự do", với đường lối tiến hành chiến tranh phù hợp, biết tận dụng mọi yếu tố cả trong nước và quốc tế có lợi nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước của mỗi con người Việt Nam, Đảng Lao động Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không bắt đầu chiến tranh nhưng đã dẫn dắt cuộc chiến một cách hiệu quả và kết thúc chiến tranh theo cách có lợi nhất.
Trải qua 21 năm chiến tranh, cuối cùng, đất nước được thống nhất, hòa bình thực sự và vững bền đã về trên mảnh đất nhiều đau thương nhưng cũng hết sức kiên cường. 21 năm ấy, sự bền gan, nỗ lực của hai miền Nam - Bắc, dân tộc và thời đại... tất cả đã hòa quyện để làm nên một chiến thắng to lớn, đặc biệt và lẫy lừng nhất của thế kỷ XX - với chiến thắng ấy, nhân dân Việt Nam không chỉ tỏ rõ thiện chí và khát khao hòa bình, mà còn khẳng định ý chí, quyết tâm và mong mỏi thống nhất đất nước, non sông. Chiến thắng ấy đã để lại nhiều bài học lịch sử lớn thuộc các lĩnh vực chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân hết sức độc đáo của Việt Nam. Cụ thể là: Đường lối tiến hành độc lập tự chủ; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; phát huy vai trò căn cứ địa và hậu phương trong chiến tranh; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; liên minh đoàn kết chiến đấu với Lào và Campuchia; tranh thủ sự ủng hộ quốc tế... Đây cũng chính là những nội dung có chiến lược có thể tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào hoạch định đường lối xây dựng nền quốc phòng - an ninh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng thế trận phòng thủ đất nước, vào củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị Việt Nam, Lào và Campuchia cũng như các nước trong cộng đồng thế giới trong công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay.