Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:32:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức người lính đặc công  (Đọc 3829 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 29 Tháng Chín, 2025, 07:32:36 pm »

- Tên sách: Ký ức người lính đặc công
- Tác giả: Nguyễn Cao Chí
- Nhà xuất bản: Lao động
- Năm xuất bản: 2018
- Người số hóa: macbupda, thongdiepthoigian


Thể hiện: Đại tá Nguyễn Hữu Đức


LỜI NÓI ĐẦU


"Xuất quân là thắng vinh quang"... là lời bài hát ngợi ca Đại đội đặc công 202, Tỉnh đội Phú Yên trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đơn vị đã được Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng, vào tháng 9 năm 1971 và hai đồng chí đại đội trưởng là Lê Trung Kiên và Lương Tấn Thịnh cũng đã được tuyên dương danh hiệu cao quý này vì những thành tích chiến đấu đặc biệt xuất sắc.


Tôi là một chiến sĩ của đại đội anh hùng ấy, chiến đấu cho đến khi bị mất đi một phần cơ thể, không thể tham chiến cùng đồng đội, mới rời xa đơn vị và trở về hậu phương miền Bắc khi cuộc chiến tranh chưa kết thúc.

Thời gian sống, chiến đấu trong Đại đội đặc công 202 anh hùng không nhiều, song những kỷ niệm của tôi về những ngày sống, chiến đấu trên mảnh đất Phú Yên anh dũng đó mãi mãi không phai. Đó là những ký ức đi suốt cuộc đời tôi, kể cả sau này khi tôi làm nhiệm vụ ở cương vị cao hơn, những kỷ niệm chiến trận đối với tôi vẫn là đẹp nhất, đáng nhớ nhất. Tôi luôn tự hào mình là một chiến sỹ đặc công, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ đội Cụ Hồ!


Kể từ trận đánh đầu tiên mà tôi tham dự đến nay đã gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng kỷ niệm hào hùng về những trận đánh địch, trong những năm tháng ác liệt trên chiến trường tỉnh Phú Yên vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi, sẽ theo tôi đi cùng năm tháng cho đến hết cuộc đời.


Giờ đây được Đảng, Nhà nước cho hưởng chính sách nghỉ hưu, tôi hồi tưởng lại những ngày tháng bi hùng của tuổi trẻ mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Cuốn hồi ức nhỏ bé này được viết ra như một nén tâm hương tưởng niệm những đồng đội đã cùng tôi chiến đấu hy sinh, cũng là món quà nhỏ tặng những đồng đội may mắn được trở về gia đình, quê hương sau khi đất nước được hòa bình.


Thực ra những trang viết này chỉ ghi lại những kỷ niệm, của một người lính, đúng như vị trí tham gia của mình. Trong cuốn sách tôi chỉ kể lại những sinh hoạt, chiến đấu và tâm tư của chính mình khi đó, nó không phản ánh về những hoạt động của quân dân ta trên một chiến trường, một mặt trận rộng lớn, mà là những hoạt động sống và chiến đấu của những người lính đúng như những gì đã diễn ra trong thực tế.


Các đồng chí của tôi, nếu ai đọc được những dòng hồi ức này, phát hiện ra điều gì liên quan tới mình mà chưa đúng cũng xin được lượng thứ, vì thời gian đã trôi xa và trí nhớ có thể sai sót.

Xin trân trọng cảm ơn Đại tá Nguyễn Hữu Đức và Nhà xuất bản Lao động đã giúp tôi thể hiện và cho phép tôi được xuất bản cuốn sách nhỏ này.


Hà Nội, tháng 5 năm 2018
NGUYỄN CAO CHÍ
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:26:50 pm »

Chương 1
QUÊ HƯƠNG VÀ TUỔI THƠ


Tôi sinh ra và lớn lên ở Thượng Cát, một xã có lịch sử lâu đời của huyện Từ Liêm (nay là phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội.

Với bao thế hệ, người dân Thượng Cát đã xây dựng nên một làng quê đông đúc bên dòng sông Hồng huyền thoại, với những đình, chùa cổ kính. Hồi trẻ con, những khi nghỉ hè và ngày nghỉ, chúng tôi vẫn thường ra sân đình hay khuôn viên nhà chùa để chơi với nhau.


Làng tôi, cho tới tận những năm đầu thế kỷ 21, vốn là làng thuần nông. Đất bãi ven sông đã trở thành những cánh đồng phì nhiêu trồng lúa và hoa màu, rau quả do sức lao động của người dân cải tạo từ đời này qua đời khác.

Thượng Cát là một miền quê giàu truyền thống yêu nước, kiên cường trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược những năm đầu công nguyên, đến các cuộc kháng chiến chống quân Lương, Nguyên, Minh, Thanh của thời kỳ phong kiến và thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thời kỳ lịch sử hiện đại.


Tôi sinh trưởng trong một gia đình có ba chị em. Tôi là con trai út, trên tôi là hai chị. Tôi được bố, mẹ cho ăn học tử tế. Vào những năm sáu mươi thế kỷ trước, cả xã chỉ có một trường cấp I và hai, ba xã mới có một trường cấp II. Học sinh không đông lắm, mỗi khối học cũng chỉ có hai, ba lớp. Sĩ số mỗi lớp khoảng 40 - 45 học sinh.


Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, hòng ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta.

Năm 1966, chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã tiến hành một bước leo thang rất nguy hiểm, chúng đã đánh phá vào ngoại thành Hà Nội. Tháng 8 năm 1966, máy bay Mỹ đã tấn công trận địa cao xạ ở cánh đồng Nhật Tân, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, chỉ cách quê tôi có vài cây số. Chính nơi đây ngày nay là đầu cầu Nhật Tân hùng vĩ bắc qua sông Hồng, nối với đường mang tên vị tướng huyền thoại - Võ Nguyên Giáp - tạo thành một con đường đẹp vào loại nhất nhì thủ đô, đi lên sân bay quốc tế Nội Bài. Bị quân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã ném bom bừa bãi vào khu dân cư vùng xung quanh, làm hàng chục dân thường thiệt mạng. Ngày đó đã trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình hai xã Nhật Tân và Phú Thượng.


Sau khi tốt nghiệp lớp 7 (nay là lớp 9) tại Trường cấp II xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi cũng như nhiều bạn cùng lớp đăng ký đi học chuyên nghiệp (nay là bậc trung học kỹ thuật - nghề), không học tiếp lên cấp III. Hồi đó vào các loại trường này không phải thi. Tôi đăng ký xin học Trường trung cấp Bưu điện - Truyền thanh, bởi tôi thích nghề này lắm. Nhưng cuộc đời không chiều theo ý muốn cá nhân, tôi lại được Trường trung cấp Hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ gọi nhập học. Mặc dù không thích nhưng tôi cũng nhập trường đi học.


Trường sơ tán tại xã Văn Lang, huyện Tam Nông, Phú Thọ. Thời gian này, máy bay Mỹ mở rộng đánh phá trên toàn miền Bắc. Trường tôi học máy bay Mỹ chỉ bay qua, chúng đến đánh bom Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao và Khu công nghiệp Việt Trì. Để bảo đảm an toàn, chúng tôi phải đào hầm để cả lớp học chìm vào lòng đất, đề phòng máy bay Mỹ ném bom.


Thời kỳ đó, học sinh đi học đều được Nhà nước chu cấp học bổng, với nhiều mức khác nhau. Nhưng học bổng rất ít, mỗi học sinh được lĩnh học bổng từ 10 đến 20 đồng. Số tiền này chỉ tạm đủ trang trải cho việc mua rau, mua gạo ăn uống hàng ngày. Sức trẻ ăn nhiều và chẳng mấy khi được ăn thịt, cá, nên lượng gạo tiêu thụ lại càng cao; bây giờ thịt cá trong bữa ăn nhiều, lượng tinh bột giảm đi đáng kể trong khẩu phần ăn. Thời chúng tôi đi học, cơm học sinh chỉ có rau, chỉ khi nào liên hoan mới được ăn thịt, cá. Nhưng gạo lại chỉ được mua theo tiêu chuẩn ít ỏi, học sinh được mua 15kg lương thực mỗi tháng, không phải toàn gạo mà kèm bột mì hoặc ngô, sắn nên đói lắm. Bữa ăn hằng ngày chỉ có rau luộc với nước giếng, ở nơi trường tôi theo học là vùng nước chứa nhiều oxit, nên rau luộc đen xì! Thời ấy buộc phải ăn, chứ còn bây giờ không ai dám thò đũa gắp ăn loại rau luộc đó! Ngoài cơm, chúng tôi được ăn thêm một miếng mì luộc hôi mù mà bọn học sinh chúng tôi lúc đó gọi là "nắp hầm", ném chó không chết!


Tôi làm lớp phó phụ trách học tập, học giỏi nên được học bổng toàn phần là 20 đồng/tháng, tôi thường nhường lại một phần cho các bạn nhà nghèo chỉ được học bổng 10 đồng/tháng, nhà nghèo. Những ngày nghỉ tôi thích đến thăm các bạn đồng hương Hà Nội cùng học trong trường, hoặc đi đào sắn giúp dân. Tôi nhớ nhất món sắn khô giã nhỏ đồ xôi, buổi tối được gia đình bà Thược, anh Đệ ở gần trường cho ăn thấy ngon lắm, nhưng ăn rồi hay bị nóng ruột.


Nơi chúng tôi ở nhân dân trồng nhiều chuối, sắn và cả dứa. Lúc đó hai hào có thể mua được năm quả chuối to, còn dứa hào một quả. Có lần vì đói cơm, tôi ăn liền một lúc 5 quả dứa, ăn xong nhổ nước bọt thấy có lẫn cả máu ở lưỡi tứa ra. Mấy cậu bạn bảo, muốn khỏi rát lưỡi thì chấm dứa với muối trước khi ăn.


Thỉnh thoảng, sau bữa cơm xong, chúng tôi lại rủ nhau ra chợ "cóc" gần cổng trường, mua hoa quả để ăn thêm cho đỡ đói, sức trẻ đang tuổi ăn, tuổi ngủ, có hôm phải ăn tới 5 quả chuối nữa mới đủ no bụng!

Mùa hè năm 1968, sau khi học hết năm thứ hai của chương trình trung cấp ba năm, chúng tôi được về nghỉ phép mười ngày. Lúc chưa hết phép, tôi có giấy nhà trường gọi lên để đi công nhân quốc phòng. Tôi đang ốm nên không lên kịp. Khi trở lại trường, trên đường lên đến Hưng Hóa (Phú Thọ), tôi gặp một số bạn cùng lớp đi công nhân quốc phòng.


Tôi về trường tiếp tục đi thực tập tại Nhà máy Hóa chất Việt Trì. Thực tập xong, có một đơn vị quân đội về khám sức khỏe tuyển đi học phi công, nhưng chúng tôi không ai đủ tiêu chuẩn, vì toàn những người "thấp bé nhẹ cân" như tôi.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt, thanh niên được huy động ngày càng nhiều vào quân đội thì "thấp bé nhẹ cân" như tôi cũng "đắt hàng" với các binh chủng không cần tầm vóc to cao như lái máy bay. Những người bị "thiệt thòi" về ngoại hình như chúng tôi vẫn được các đơn vị bộ binh tuyển chọn. Trường tôi đến năm 1968 đã có hai đợt học sinh được lệnh gọi nhập ngũ vào quân đội.


Tình hình chiến sự ở hai miền ngày càng ác liệt, tin tức đánh nhau ở miền Nam và miền Bắc liên tiếp được đài báo cập nhật hàng ngày. Những người khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn đều hăng hái viết đơn nhập ngũ và đã lần lượt lên đường. Chúng tôi học tập trong tình trạng sĩ số cứ giảm dần qua các đợt gọi nhập ngũ, ai cũng có tâm trạng bồn chồn, chờ đợi, nên không khí học tập cũng có phần giảm sút.


Thế rồi đợt ba gọi nhập ngũ của trường tôi cũng đã đến. Tôi có danh sách trong đợt tòng quân lần này. Lúc đó tôi người gày lắm, cân nặng chỉ có 43kg thôi, mọi người cho rằng ngữ tôi khó lòng trụ được trong quân đội. Còn tôi thì nghĩ để rồi xem, và tôi tin là mình có thể trụ vững được.


Vợ chồng thầy Ân, chủ nhiệm lớp tôi học, mời tôi ăn bữa cơm chia tay với thầy. Bữa cơm cùng gia đình thầy giáo tuy đơn sơ nhưng thật cảm động! Thầy giáo đã căn dặn tôi nhiều điều khi vào quân ngũ.

Tháng 9/1968, chúng tôi chia tay bạn bè cùng học để lên đường nhập ngũ trong sự lưu luyến thật khó tả giữa người đi và người ở. Các bạn gái gửi tặng chúng tôi những chiếc khăn mùi xoa, khăn rửa mặt, với những dòng chữ thêu như nhắn gửi chúng tôi lời ước hẹn. Với tôi chưa có mối tình với bạn gái nào nên lên đường cảm thấy thanh thản, nhưng trong lòng cũng thấy xao xuyến bùi ngùi.


Từ đây chúng tôi từ giã cuộc đời học sinh, với nhiều mơ mộng và hoài bão của tuổi trẻ, xếp bút nghiên lên đường dấn thân vào cuộc chiến đấu cùng với cả dân tộc ta đánh Mỹ, cứu nước. Khóa học của chúng tôi nếu không đi bộ đội, học xong 3 năm trung cấp, sẽ có nhiều bạn sang Liên Xô học tiếp, vì thời ấy môn hóa tổng hợp hữu cơ, sản xuất chất dẻo là ngành mới của Việt Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:28:48 pm »

Chương 2
CUỘC ĐỜI QUÂN NGŨ


1. Những ngày tháng luyện rèn trên đất Bắc

Đợt nhập ngũ cùng với tôi, Trường trung cấp Hóa chất Việt Trì có 200 người.

Giờ phút chia tay thật cảm động. Tôi cảm thấy bùi ngùi khi phải chia tay với mái trường thân yêu mà tôi đã có hai năm gắn bó với nhiều kỷ niệm. Chiến tranh đã buộc chúng tôi phải dang dở với những ước mơ rất đẹp tuổi thanh niên.

Tạm biệt mái trường thân yêu, tạm biệt thầy cô và nhân dân nơi đã cưu mang chúng tôi trong những tháng năm học tập ở đây. Buổi lễ tiễn học sinh nhập ngũ của nhà trường diễn ra trang nghiêm và ngắn gọn. Tôi thay mặt những người nhập ngũ đợt này đã phát biểu hứa với lãnh đạo nhà trường, thầy cô giáo và các bạn ở lại rằng, dù khó khăn gian khổ đến đâu, dù phải hy sinh trong chiến đấu, nhưng nhất định sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Tôi nhớ anh Duyên là Trung đội trường bộ binh của Sư đoàn 304B, là một trong những cán bộ về nhận quân tại trường tôi.

Hôm ấy, chúng tôi hành quân về tả ngạn sông Cầu. Quá trưa về chiều, gió sông thổi lên mát rượi. Trong lúc cao hứng anh Duyên hát xuyên tạc (nay gọi là hát chế) câu đầu của bài hát Giải phóng miền Nam, với chất giọng đàn ông khê nồng "Bầm ơi, con ngan nhà ta nó què, thịt đi không mai ngày kia nó gày...". Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa tức cười, sao anh dám hát thế, rồi chúng tôi cũng cùng hát phụ họa theo anh, thì ra đời bộ đội cũng vui nhộn chứ không phải là quá cứng nhắc, quá nghiêm như tôi tưởng.


Trời tối, đoàn tân binh chúng tôi dừng chân tại một làng ven sông Cầu thơ mộng. Đoạn này thuộc huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc cách phố Thắng khoảng 5km (nay là Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Chúng tôi được phân ra từng tổ vào nghỉ trong nhà dân. Đơn vị đã cử tiền trạm và liên hệ trước với địa phương, nên việc đến ở trong dân cũng nhanh chóng và được các gia đình niềm nở tiếp đón như con em đi xa trở về.


Sáng hôm sau, chúng tôi được tổ chức biên chế vào các tiểu đội, trung đội, đại đội của Sư đoàn 304B, Quân khu Việt Bắc.

Trung đội trưởng của tôi là anh San, người huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay sáp nhập về Hà Nội). Anh là người hiền lành, hay cười vui vẻ với mọi người. Tôi được biết, anh đã từng trải qua chiến đấu ở chiến trường Lào. Lúc rảnh rỗi, anh thường kể cho chúng tôi nghe về những trận chiến đấu anh đã tham gia, nghe thật hấp dẫn.


Trong thời gian huấn luyện tân binh, hàng ngày, chúng tôi được huấn luyện ở thao trường, luyện tập kỹ, chiến thuật chiến đấu bộ binh. Tối đến, sinh hoạt chính trị. Lúc rảnh rỗi, tôi lấy cái điếu bát của gia đình nơi đóng quân, "bắn" thử vài bi thuốc lào, thế là tôi biết hút thuốc từ ngày ấy, và có thâm niên hút thuốc lào đến nay cũng đã nửa thế kỷ.


Vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật cánh lính chúng tôi phải vào rừng kiếm củi, hoặc khênh lợn, thổi cơm giúp anh nuôi. Bọn tôi lúc đó tếu táo với nhau, thượng vàng hạ cám đều đến tay lính, đúng là "nước sông công lính". Cán bộ luôn nói với chiến sỹ: vào bộ đội là vào trường đại học lớn của cuộc đời! Đúng là cái gì chúng tôi cũng được học và được làm!


Những ngày tháng khổ luyện trong thời tiết mưa, nắng đã làm cho da dẻ chúng tôi, những cậu học sinh với màu da trắng đã chuyển sang đen nhẻm, nhưng khỏe mạnh. Đúng là cơm gạo bộ đội, chỉ trong thời gian ngắn sau nhập ngũ, tôi đã tăng trọng từ 43kg lên 47kg, nhưng dáng thư sinh vẫn còn "lưu luyến" trong tôi. Cùng với cái tính hay tranh luận mọi chuyện, nên nhiều khi mấy anh cán bộ cũng không thích tôi lắm, nhất là anh Thành - Tiểu đội trưởng.


Kết thúc đợt huấn luyện, chúng tôi vào trường bắn núi Voi để kiểm tra kết quả. Chúng tôi được kiểm tra xạ kích bằng súng CKC. Bắn 3 viên bia số 6, tôi đạt 26 điểm, đạt loại khá, riêng ném lựu đạn thật tôi ném xa gần 45m, thật không ngờ, tôi được nhận giấy báo công của đơn vị gửi về gia đình, cho đến nay tôi còn giữ được cái giấy báo công này.


Một tuần sau đợt sát hạch diễn tập, chúng tôi được báo đi khám sức khỏe để tuyển chọn vào binh chủng đặc công. Nghe được vào đặc công, anh em thích lắm. Từ lâu chúng tôi đã ao ước được làm lính đặc công, được học võ thuật, đây là binh chủng đặc biệt tinh nhuệ của quân đội ta. Cầu được, ước thấy khoảng 1/3 chúng tôi trúng tuyển, toàn anh em tuy nhỏ con, nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn.


Chia tay lính bộ binh, chúng tôi về với bộ đội đặc công. Tôi được biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 8. Anh Nghị làm Đại đội trưởng, anh Thị làm Tiểu đoàn trưởng. Anh Thị là người miền Nam. Trông vóc dáng các anh, ai cũng mạnh khỏe, nhanh nhẹn, quắc thước. Bộ đội đặc công, từ đại đội trưởng trở lên đều đeo súng ngắn K59 trông oai lắm.


Về tiêu chuẩn ăn uống từ 0,68 đồng ở bộ binh, sang đơn vị đặc công chúng tôi được ăn theo tiêu chuẩn 1,2 đồng rồi 1,6 đồng/ngày. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội đặc công gấp hơn hai lần ở bộ binh, nhưng học tập, huấn luyện thì vô cùng vất vả vì kỹ, chiến thuật đặc công rất khắc nghiệt.


Về binh chủng đặc công, đơn vị tôi vẫn ở trong nhà dân. Đến nay tôi vẫn còn nhớ, nơi tôi ở là nhà bà Khuyến, ở thôn Lan Mầu, xã Trung Hậu, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Tổ ba người của tôi có anh An là tổ trưởng nhà ở phố Sơn Tây, Kim Mã, Hà Nội, cũng sinh năm 1949 như tôi, anh em nhanh chóng thân quen, lại là đồng hương Hà Nội nên dễ hòa nhập về tính cách, cũng như sinh hoạt.


Để quen với việc mang vác vượt Trường Sơn nay mai, cứ đến bữa ăn là chúng tôi phải mang một gùi gạch nặng 20kg từ nhà ở đến nhà ăn, ăn xong lại gùi về nhà. Để rèn luyện khả năng mang vác nặng, hành quân đường dài, sẵn sàng hành quân vào chiến trường, cũng như các đơn vị khác đang huấn luyện ở hậu phương miền Bắc lúc bấy giờ, đơn vị tôi thường luyện tập hành quân trên các địa hình phức tạp, trong mọi hoàn cảnh thời tiết. Địa hình càng phức tạp, thời tiết càng khắc nghiệt thì càng thuận lợi cho công tác huấn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu sau này. Đơn vị thường tổ chức hành quân vượt qua dãy núi Yên Tử, một dãy núi rất cao, mang vác nặng, từ suối Chũ (Bắc Giang) sang Đông Triều (Quang Ninh).


Những hôm trời mưa to sấm chớp là y như rằng báo động hành quân. Tập hành quân lại thường vào ban đêm, trong đêm tối, những viên gạch trong ba lô cọ vào lưng đau rát, anh em nói "Mình cấp bậc một sao tám gạch, qua một đêm hành quân gân sáng về đến nhà thì cấp bậc bị hạ xuống chỉ còn một sao năm gạch thôi", ấy là nói đến hành động của những chàng lính trẻ không chấp hành nghiêm quy định huấn luyện, do mệt quá, đã vứt bớt gạch đi cho nhẹ trong quá trình hành quân luyện tập. Những đợt hành quân như thế, ai nấy mệt nhoài nên bạ đâu ngồi đấy, vì thế bộ đội mới có câu là "má văn công, mông bộ đội". Sau này, cán bộ phát hiện ra sự láu cá của mấy chàng chiến sỹ, nhất là chiến sỹ xuất thân từ học sinh, sinh viên và thành thị, đã cho đóng những khối đất sét nặng đúng bằng tiêu chuẩn trọng lượng mang vác để hành quân huấn luyện, làm cho các chàng lính này hết đường tự xin "giáng cấp" trong các buổi hành quân!


Với bộ đội đặc công, có nhiều khoa mục huấn luyện rất đặc thù, như khoa mục tiềm nhập đi khom, khắc phục hầm chông, rào thép gai các loại, leo tường, ống máng, cột thu lôi. Khó nhất là leo ống máng, nó tròn khó bám, rớt xuống đất chấn thương là cái chắc, thậm chí có thể tử vong. Chúng tôi phải đi trong bùn nước, bò trên sỏi không được gây ra tiếng động, làm quen và vô hiệu hóa các loại mìn gài nổ, rồi ngụy trang, hóa trang, khắc phục tránh đèn pha để tiếp cận địch...


Khoa mục võ thuật sử dụng các loại đao, súng... những hôm đầu tập tối về bắp thịt đau ê ẩm, sau rồi cũng quen dần. Có lần Tiểu đoàn trưởng - anh Thị - xuống kiểm tra, tôi được chỉ định biểu diễn võ thuật đánh đối kháng. Sau khi xem chúng tôi trình diễn, Tiểu đoàn trưởng khen và nhận xét về miếng đánh cần kín hơn nữa.


Rồi đơn vị tôi được học chiến lệ trận tập kích cứ điểm làng Vây của Quân giải phóng, học các chiến thuật đặc công như cách đánh luồn sâu, đánh nở hoa trong lòng địch (tức là đánh từ sở chỉ huy trung tâm của căn cứ địch đánh ra). Và nhiều khoa mục khác nữa chúng tôi cũng được huấn luyện rất kỹ càng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:30:15 pm »

Nhưng yếu tố bí mật, bất ngờ của cách đánh đặc công là quan trọng nhất, vì lực lượng đặc công thường đánh vào ban đêm, lực lượng sử dụng ít vũ khí, chủ yếu là súng tiểu liên AK, lựu đạn thủ pháo, B40, B41 nhưng hiệu suất chiến đấu cao.

Ngoài kỹ thuật đánh cứ điểm, chúng tôi được về sân bay Gia Lâm học đánh sân bay. Buổi tối tập cắt hàng rào và khắc phục chướng ngại vật - vượt qua các trạm canh gác để tiếp cận máy bay.

Chúng tôi phải tập đến thành thục cách treo thủ pháo vào cánh máy bay, vào lỗ mũi xả khói của máy bay trực thăng, cứ cách một chiếc, gài một thủ pháo. Khi thủ pháo cháy nổ thì chiếc máy bay không gài thủ pháo cũng bốc cháy theo vì chúng đỗ gần nhau.

Chúng tôi còn được huấn luyện, khi hết thủ pháo sẽ dùng súng AK bắn phá hủy những máy bay còn lại, còn hỏa lực B40, B41 sẽ đánh vào đài chỉ huy không lưu, sở chỉ huy sân bay. Ban ngày, trời miền Bắc tháng 6 nóng như đổ lửa, đường băng sân bay nóng ran, chúng tôi đầu mũ vải, chân đất đi trên đường băng bê tông bỏng cháy da chân, nhưng phải khổ luyện đúng như câu nói "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu".


Cán bộ đơn vị xác định tư tưởng cho chúng tôi là: "Đối tượng tác chiến của đặc công là quân Mỹ, quân ngụy, quân chư hầu, là các căn cứ, sân bay được xây dựng phòng ngự kiên cố nên không thể lơ là trong luyện tập được".

Buổi chiều ngồi trên đám cỏ cạnh đường băng, anh nuôi đem cơm ra mà chúng tôi mệt quá không nuốt được, chủ yếu chỉ uống nước canh cho đỡ khát, đỡ đói.

Sau giai đoạn huấn luyện đánh sân bay, chúng tôi được đưa vào nội thành Hà Nội tập đánh thành phố. Khu vực luyện tập là: Nhà Hát Lớn, đường Trần Hưng Đạo, nhà của Tổng Công đoàn đối diện vườn hoa Con Cóc, Bờ Hồ. Chiến thuật chủ yếu là lợi dụng địa hình đánh chiếm các dãy phố nhà cao tầng, ném lựu đạn cầu vồng, bí mật leo lên tầng cao, từ trên đánh xuống.


Tháng 8 năm 1969, cơ bản kết thúc khóa huấn luyện. Chúng tôi đi thực tập đánh cứ điểm, sân bay giả định, bắn đạn thật AK bài bắn găm, B40, B41, súng bắn AT, phóng lựu. Tôi được bắn thử B41 vì quá trình học tôi học sâu về cách sử dụng loại súng này, sau này vào chiến trường, tôi vẫn được giao sử dụng B41 khi đánh cứ điểm chi khu quân sự Phú Tân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.


Trước khi bắn, anh Minh, y tá người Hải Phòng, lấy hai cục bông bảo tôi nhét vào hai tai, bởi loại súng này tiếng nổ đầu nòng có âm lượng rất lớn, có thể làm ảnh hưởng đến màng nhĩ tại.

Hôm đó tôi ngắm bắn bằng kính quang học. Trời không có gió nên tôi ngắm và bắn thẳng vào mục tiêu lô cốt xa 200 mét. Tôi nín thở bóp cò! Tiếng đùng đoàng quả đạn xé gió lao thẳng vào lô cốt, một vùng lửa da cam bốc lên. Trúng rồi! Mọi người reo lên sau lưng tôi. Tôi để súng sang bên cạnh, móc hai cuộn bông tai ra toét miệng cười! Tiếng nổ đâu có to ghê gớm như mọi người tưởng tượng ban đầu. Sau này vào thực tế chiến đấu, tôi bắn bốn, năm quả liên tiếp có thấy chảy máu tai như nhiều người vẫn kể đâu.


Cùng vào bắn một đợt với tôi, có cậu Bằng cùng tiểu đội, được bắn thử súng phóng lựu. Nó lấy hướng, vặn thước đo độ, lắp quả lựu đạn có chuôi vào đầu khẩu AK, lấy cân bằng bọt nước, rồi bóp cò. Đạn mã tử phóng quả lựu đạn lên cao, cán đuôi lúc lắc lên hết độ cao, quả lựu đạn chúc xuống nổ đoàng, đụn khói bốc lên gần vòng tròn đánh dấu, như vậy cũng đạt yêu cầu. Nhưng cùng lúc với tiếng nổ của súng, nó cũng bật ngửa về phía sau, do tay trái giữ súng không chắc nên bị đầu ruồi khẩu súng đập trúng trán, máu tuôn chảy đầy mặt, thế là y tá Minh có việc để băng bó thương binh! Trông nó nhăn nhó mà tức cười quá, không nhịn được, nó vung tay chửi tôi. Sau này liên tưởng đến việc bắn cối 60 ly của biệt động Sài Gòn vào dinh Độc Lập, do không có bàn đế, lấy tay giữ nòng súng nên đã bị đập gẫy mấy cái răng cửa, phải ôm mồm đầy máu khi rút lui.


Diễn tập xong Đại đội 1 của tôi và một đại đội nữa được lệnh chuẩn bị lên đường chiến đấu. Lính chúng tôi chỉ biết cấp trên bảo gì thì chấp hành đấy, chứ còn đi chiến trường nào, vào tỉnh nào đâu có biết. Mấy cậu tham mưu con thì cứ đoán già, đoán non sẽ đi mặt trận này, chiến trường kia thế thôi.


Vào những ngày cuối tháng 8 năm 1969, chúng tôi nhận quần áo bà ba, mũ tai bèo, tăng, võng bạt vải Tô Châu - Trung Quốc, thuốc men, mỗi người một khẩu AK báng gấp hai băng đạn, hai quả lựu đạn, dao găm Liên Xô, Trung Quốc, ai cũng thích dao găm Trung Quốc hơn bởi chuôi sừng đen, dao nhọn hai lưỡi đẹp lắm, tôi cũng chọn con dao này. Sau này vào đến Trường Sơn, mới thấy không phù hợp, nhất là khi chặt cây, mắc võng, nó chi hợp cho chiến đấu nhưng không đa năng như loại dao năm tác dụng của Liên Xô, cắt được cả dây thép gai. Thêm một xẻng ngắn, một cuốc chim không cán buộc dưới đáy ba lô con cóc, nó nặng đến hai kilôgam. Đi chiến đấu đợt này có anh Năm người Hưng Yên làm Đại đội trưởng, anh Lê người Thanh Hóa là Chính trị viên, các anh đều đã gần 30 tuổi, anh Năm trước là lính cao xạ chuyển sang.


Trước khi lên đường chiến đấu, anh Chu Văn Thịnh là anh rể lấy chị Toán, chị hai của tôi (anh cũng là thầy giáo dạy tôi hồi tôi học cấp II) lên chơi, có chụp được một tấm ảnh lưu niệm tại phố Thắng, Hiệp Hòa.

Sáng 30 tháng 08 năm 1969, chúng tôi chia tay với bà con nhân dân thôn Lan Mau, xã Trung Hậu. Các mẹ, các chị, các em đều rơi nước mắt, chúc chúng tôi lên đường chiến đấu may mắn, bình an. "Vâng! Chúng con sẽ chiến thắng trở về", nhưng trong lòng ai cũng nghĩ: "Thôi từ biệt bà con, gia đình, từ biệt miền Bắc thân yêu, ngày trở lại khó mà hẹn trước được" và sự thật là như vậy.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:32:56 pm »

2. Lên đường vào chiến trường B

Sáng ngày mồng 1 tháng 9 năm 1969, một ngày đáng ghi nhớ trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Tiểu đoàn làm lễ xuất quân cho hai đại đội đặc công đi chiến đấu, đồng chí Thị - Tiểu đoàn trưởng, trực tiếp giao nhiệm vụ, có phái viên của Bộ Tư lệnh Đặc công về dự.

Hai đại đội ăn mặc như chiến sỹ Quân Giải phóng miền Nam, có cờ giải phóng nửa đỏ, nửa xanh. Trong lễ Chào cờ hát Quốc ca, từng loạt súng AK vang rền làm cho buổi xuất quân thêm long trọng, hùng tráng, đoàn quân mười tám, đôi mươi đang sung sức tiến ra chiến trường.


Chúng tôi hành quân bộ đến thị trấn Dĩnh Kế, Bắc Giang vào nghỉ nhờ nhà dân. Đây cũng là quê hương quan họ. Tôi rủ mấy anh em đi chơi quanh xóm, nhìn mấy em gái nhỏ 15, 16 tuổi, mấy cậu lính trẻ chúng tôi rỉ tai nhau "Loại này để giấm chín đã rồi mới dùng được!", rồi chúng tôi cười giòn tan, các em nhìn mấy chú bộ đội vui, cũng cười theo, tôi bảo các em đồng ý rồi đấy. Cái cười thật hồn nhiên trong sáng, nó chỉ có ở nơi đây, ở hậu phương còn đang bình yên cách xa chiến trường khói lửa.


Sáng hôm sau, mồng 2 tháng 9, là ngày Quốc khánh của đất nước, đơn vị chúng tôi tiếp tục hành quân, nhưng được di chuyển bằng tàu hỏa, từ ga Kế về ga xe lửa Gia Lâm. Hai giờ chiều, chúng tôi đến nơi, chờ xe của Bộ Tư lệnh Đặc công đón. Mọi người tỏa ra các quán nước ven đường uống nước chè xanh, hút thuốc. Ai cũng nghĩ, rồi mai đây vào chiến trường nước chè xanh làm gì có mà uống nữa. Tôi mua mấy bao thuốc lá hiệu Trường Sơn, Trà Khúc (loại thuốc lá rẻ tiền phổ biến lúc bấy giờ), cho vào ba lô con cóc.


Trời bỗng nổi gió giật đùng đùng, mây đen che kín cả bầu trời Hà Nội, mưa ầm ầm tuôn nước xuống xối xả, nó như báo hiệu một sự kiện bất thường! Khi Bác Hồ - Vị Cha già kính yêu của dân tộc mất, nhưng lúc đó chúng tôi chưa ai được biết.

Chúng tôi lên xe, đi vào thành phố, đường Trần Hưng Đạo nước ngập đến 1/3 bánh xe ô tô. Đến ga Hàng Cỏ trời hết mưa, nhân dân đứng hai bên đường biết chúng tôi đi chiến đấu, đều vẫy tay tiễn đưa, thật cảm động. Rất nhiều lá thư không dán tem gửi về cho gia đình bay như bươm bướm xuống đường, trong khi xe vẫn chuyển bánh, nhiều người đi đường đổ xô ra nhặt thư. Chúng tôi nghĩ, những lá thư của anh em gửi về cho gia đình, người yêu, bạn bè sẽ được dán tem, đưa ra hòm thư và được chuyển giúp về đúng những nơi chúng tôi mong muốn đến. Anh em tôi ai cũng hy vọng như vậy! Và sự thật, sau này, nhiều anh em trong đơn vị tôi đã nói lại với nhau những lá thư gửi đi bất đắc dĩ ấy đã đến được tay người nhận. Trong chiến tranh, tình người quá đẹp. Hiếm có dân tộc nào mà tình quân dân lại thắm thiết như dân tộc ta. Quả đúng như ai đó đã nhận xét, tình quân dân như cá với nước, nhân dân là người mẹ che chở, bao dung cho những đứa con của mình xông pha nơi chiến trường khói lửa.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến ga Văn Điển. Anh Hạt, người Thanh Hóa, là Trung đội trưởng của tôi, có ông chú làm ở Nhà máy Pin Văn Điển, khi biết tin đã đứng đợi chúng tôi ở đó. Sau khi chào hỏi nhau, chúng tôi cho chú biết sáng mai anh em sẽ lên tàu vào Nam chiến đấu. Chú bảo sáng mai chú sẽ ra ga tiễn chúng tôi đi.


Đơn vị tôi nghỉ đêm ở làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì và đêm hôm đó, chúng tôi được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bản tin thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông tin về tình hình sức khỏe của Bác Hồ, Bác đang ốm rất nặng! Một không khí buồn bao trùm lên tất cả chúng tôi. Bác là vị lãnh tụ thiên tài, là niềm tin của cả dân tộc. Trong tiềm thức chúng tôi lúc đó, cứ nghĩ Bác không bao giờ mất, nhưng chúng tôi cũng linh cảm một tin xấu về Bác có thể sẽ đến.


Quả đúng như vậy, ngày hôm sau, mồng 3 tháng 9, đơn vị đã thông báo chính thức tin Bác Hồ đã từ trần tại thủ đô Hà Nội!

Chúng tôi ai nấy bàng hoàng, không thể tin được, nước mắt tiếc thương trào ra!

Chúng tôi đang trên đường đi chiến đấu, nhận được tin này ai mà không buồn bã. Bác là chỗ dựa tinh thần cho chúng tôi, là niềm tin tưởng để chúng tôi vững tay súng trên trận tuyến tiêu diệt quân thù.

Bữa tối hôm đó, mọi người ăn uống uể oải. Dù trong chúng tôi có đứa thủ được ít rượu cuốc lủi, nhưng chẳng ai bảo bỏ ra uống. Mọi người thì thầm trao đổi rồi lên giường đi ngủ sớm.

"Không có gì quý hơn độc lập tự do", lời hiệu triệu của Bác như khẳng định một chân lý bất di, bất dịch với dân tộc ta. Vậy mà, giờ đây Bác đã không còn nữa. Chúng tôi để tang Bác trên đường ra mặt trận. Lòng thầm hứa sẽ làm tất cả để Tổ quốc ta được độc lập, tự do.


Sáng hôm sau, chú anh Hạt ra ga Văn Điển gặp và tiễn đưa chúng tôi lên tàu, cuộc chia tay thật lưu luyến, diễn ra cũng nhanh chóng theo nhịp thời chiến. Không ngờ, đây là lần chia tay cuối cùng của anh Hạt với người chú ruột của mình. Trong chiến đấu anh đã hy sinh khi đánh sân bay địch.


Hai đại đội lên tàu, lên các toa dành riêng cho bộ đội. Tàu chuyển bánh đi về phía Nam. Đến ga thị xã Thanh Hóa, thấy mấy chị gánh nồi bằng đất đựng nước chè xanh rao bán, tôi nói đùa: "ở Hà Nội cái này chỉ để đựng nước tiểu! Anh Hạt, tức tôi lắm vì câu nói đùa rất láo lại đụng chạm đến quê hương anh. Ngồi trên tàu, chúng tôi có những đề tài tranh luận muôn thuở bất phân thắng bại, như chuyện tên gọi con tôm, con tép...


Tàu khi đó chạy chậm lắm, chạy suốt đêm đến tận sáng mới đến ga Vinh. Đến đây cũng là hết tuyến đường sắt đi về phía Nam. Đoạn từ Vinh vào, do bị máy bay Mỹ đánh phá, hư hỏng toàn bộ. Thành phố Vinh điêu tàn, loang lổ hố bom, lác đác còn mấy cái nhà cao tầng chi chít vết bom đạn như thành phố Stalingrad trong chiến tranh thế giới thứ hai mà tôi có dịp được thấy khi xem phim trước đó.


Mấy chiếc ca nô đã đợi sẵn chúng tôi ở bên bờ sông Lam, dòng sông thơ mộng đọng trong câu hát dân ca xứ Nghệ. Sớm thu, ngồi trên sông Lam ngắm cảnh mênh mông sông nước, xa xa phía Tây là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ trải dài từ Bắc vào Nam thấy đất nước ta đẹp quá, nên thơ quá, nhưng chúng tôi chẳng được thả hồn vào những phút giây ngắm cảnh đẹp non sông mà vẫn luôn phải đề phòng với máy bay Mỹ có thể ập đến bắn phá bất cứ lúc nào.


Qua sông Lam, chúng tôi hành quân tới sông Gianh. Buổi tối sương mù giăng kín mặt sông, dòng sông lịch sử với bao đau thương tang tóc của cuộc chiến tranh hai phe Trịnh - Nguyễn, chia đất nước ta thành hai Đàng: Đàng trong và Đàng ngoài thời phong kiến trước đây, với bao máu xương và nước mắt của nhân dân hai Đàng. Chúng tôi mò mẫm theo giao liên về làng Cự Nam, một làng anh hùng nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một địa danh được kể đến trong bài hát Quảng Bình quê ta ơi! của nhạc sỹ Hoàng Vân mà bộ đội ta rất thích thời bấy giờ. Bài hát này thường được hát trong các buổi sinh hoạt tối ở các đơn vị.


Cũng trên con sông Gianh này, hình ảnh mẹ Suốt anh hùng ngày đêm chở bộ đội qua sông đã in đậm vào trí nhớ chúng tôi, lớp thanh niên khi đó.

Nhà dân ở đây đơn sơ lắm, làm chủ yếu bằng tre, nứa, lá và thấp tè.

Ngày hôm sau chúng tôi được nghỉ xả hơi! Tôi tranh thủ đi cắt tóc, tắm giặt để hôm sau tiếp tục hành quân vào làng Ho, vẫn trên đất Quảng Bình.

Chúng tôi tiếp tục được hành quân bằng ô tô. Có lẽ vì bộ đội đặc công nên được ưu tiên hành quân bằng cơ giới hơi nhiều. Tôi biết, nhiều đơn vị bộ binh đã phải hành quân bộ từ phía Nam Thanh Hóa rồi. Đoàn xe chuyên chở chúng tôi toàn là bộ đội nữ lái xe, đường xấu, mỗi lần qua ổ gà, người ai nấy tung lên cao, giáng bịch xuống sàn xe đau điếng lên tận óc. Chị em lái xe ở tuyến lửa này chịu bao mất mát hy sinh, cùng với chị em thanh niên xung phong viết lên bản hùng ca chiến thắng của dân tộc ta. Chúng tôi thấy cảm phục những tay lái nữ này thật sự. Họ điều khiển xe một cách thành thục qua các đoạn đường dốc, quanh co, ngoằn ngoèo, uốn khúc, nhiều lúc xe băng qua ngầm nước ngập đến gần sàn xe. Họ là tấm gương để chúng tôi học tập, noi theo.


Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, xe chở chúng tôi đi vào một bãi đất trống khá bằng phẳng thuộc làng Ho, Quảng Bình. Làng Ho đã trở thành một cái tên rất quen thuộc đối với các đơn vị đi B thời chống Mỹ.

Một cơn mưa rừng bỗng ập tới, xối xả, như trút nước ầm ầm, gió rừng gào thét, cây rừng nghiêng ngả, những tổ kiến to bằng cái mũ bị gió cuốn thỉnh thoảng rơi bịch xuống kèm theo tiếng rầm, ai nấy thất kinh. Những tháng huấn luyện chiến đấu, chúng tôi cũng đã được trải qua những tình huống thời tiết mưa nắng khắc nghiệt rồi, nhưng chưa thấy trận mưa nào lại đến nhanh và giữ dội như vậy. Tôi thầm nghĩ, đây có lẽ là trận trời phủ đầu cho đám lính trẻ chúng tôi chuẩn bị bước vào hành quân trên dãy Trường Sơn đây.


Mặc mưa to gió lớn, cả đơn vị tôi đội mưa khẩn trương mắc tăng võng để chuẩn bị chỗ ngủ qua đêm, và công việc ưu tiên hơn là che chỗ nấu ăn cho bộ phận anh nuôi tác nghiệp để có cơm cho bộ đội. Khi hành quân, đơn vị tôi tổ chức bếp ăn theo trung đội.

Cũng may, khu vực trú quân của đơn vị tôi có loại cây có dầu, nên mặc dù ướt, nhóm lửa vẫn cháy. Tuy vậy, cũng vô cùng khó khăn mới nhóm được bếp để nấu cơm. Mỗi đứa phải cắt 20 cm dây cao su là quai dép dự phòng để nhóm lửa, tiếc đứt ruột (các đơn vị hành quân vào Nam thời chống Mỹ vẫn được cấp một cuộn dây cao xu dự phòng để thay quai dép khi bị đứt).


Thế rồi nồi cơm cũng chín, tất nhiên là còn rất sượng, bụng đói chúng tôi vẫn ăn ngon lành, ăn xong rửa vội bát đũa bên con suối nhỏ rồi lên võng đi ngủ.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy võng be bét máu. Trong đêm tối những con vắt đã ngửi thấy hơi người, chúng chui vào các bộ phận cơ thể tha hồ hút máu. Tuy nhiên, vì đang tuổi ăn tuổi ngủ, lại hành quân cả ngày nên tụi tôi mệt, lăn ra ngủ, vắt cắn no cũng chả biết gì. Những con vắt no máu bị chúng tôi đè bẹp trên võng máu loang ra đỏ thẫm trên võng!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:34:38 pm »

3. "Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/ Ai chưa đến đó thì chưa biết mình!"

Trong ký ức của tôi, ngoài những kỷ niệm về các trận đánh ác liệt, thì ký ức về con đường Trường Sơn là sâu đậm nhất.

Nói đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải nói ngay đến con đường Trường Sơn.

Những ai vào chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà chẳng phải thử thách trên con đường huyền thoại Trường Sơn.

Tuyến đường chủ yếu chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, con đường ngày đêm bị đế quốc Mỹ dùng không quân, tàu chiến bắn phá thả bom, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Mọi loại phương tiện kỹ thuật chiến tranh tối tân nhất mà đế quốc Mỹ phát minh ra đều được sử dụng để hủy diệt con đường này với đúng nghĩa "hủy diệt".


Những cánh rừng nguyên sinh đã bị tàn phá không một thân cây nào nguyên vẹn. Những cây cổ thụ khổng lồ bị bom tấn, bom tạ, bom phát quang, bom napan, chất độc hóa học màu da cam... quật đổ ngả nghiêng, xác xơ trơ trụi thân cành.

Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống núi rừng Trường Sơn hùng vĩ suốt cả ngày lẫn đêm, trong mọi hình thái thời tiết, kéo dài suốt cả cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam. Chúng thả nhiều cây thu phát nhiệt đới để trinh sát các hoạt động của bộ đội ta, các loại mìn (mìn lá, mìn bướm, vướng nổ...), các loại bom (nổ chậm, napan, từ trường, lân tinh...) để ngăn chặn con đường chi viện sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc vào chiến trường miền Nam.


Từ bãi tập kết làng Ho, chúng tôi bắt đầu leo dốc vượt Trường Sơn.

Trên đường hành quân, chúng tôi gặp những cô gái dân tộc Bru, Vân Kiều sống trên dải Trường Sơn đi ngược lại, đầu không nón mũ, tóc đen xoăn tít, chân to không mang giày dép, ngực để trần không áo che đậy, sau lưng mang gùi đựng xôi lúa nương, hoặc vài quả dưa, còn những người con trai chỉ đóng khố, tay cầm một con dao quắm, cũng chân trần. Họ đi rất nhanh. Gần trưa, bụng tôi đã đói, nhìn những gói xôi trong gùi của những người dân cơn đói lại càng như cồn cào hơn.


Thời tiết cuối thu trên dãy Trường Sơn khí hậu rất ẩm ướt. Ánh sáng yếu ớt xuyên qua tán lá rừng. Những con vắt bắt đầu tấn công chúng tôi, chúng rất nhanh nhẹn, những con đỉa cạn co người búng nhảy tanh tách, chúng chui vào cổ, vào kẽ chân để hút máu. Vắt đỏ thì cắn rất êm, khi no căng mới biết, còn vắt xanh thì cắn rất buốt, dứt được chúng ra nhưng máu vẫn chảy mãi, chúng tôi phải lấy thuốc tím pha loãng bôi vào mới cầm được máu.


Thỉnh thoảng, chúng tôi gặp những đoàn người ra Bắc. Họ đủ mọi thành phần, nào bộ đội, nào văn công, dân chính, trông ai nước da cũng tái sạm, bủng beo, mắt thì trắng, môi thì thâm, vì sốt rét chứ không khỏe như chúng tôi, những người lính từ đất Bắc đang hành quân vào, chưa nếm mùi sốt rét và những ngày đói quay đói quắt.


Đi được khoảng năm ngày, chúng tôi được Binh trạm trên tuyến đường dây 559 cho nghỉ một ngày. Nói là nghỉ, nhưng ngày đó chúng tôi phải đi lấy gạo, thực phẩm cho chặng hành quân tiếp sau. Từ chỗ mắc tăng võng nghỉ trong bãi khách đến kho lấy gạo cũng phải mất tầm 2 tiếng một lượt. Sau khi nhận mỗi người 25kg ở kho, chúng tôi lên đường về nơi nghỉ. Thấy con suối dưới chân khu kho, chúng tôi thống nhất đi theo suối cho mát để về bãi khách. Không ngờ con suối ngoằn ngoèo rất khó đi, gần 12 giờ trưa chúng tôi vẫn chưa về đến đơn vị, bụng thì đói, người thấm mệt. Rất may gặp một toán bộ đội đang ngồi ăn cạnh suối, chúng tôi hỏi thăm thì ra là anh em lính Hải Phòng, họ mời chúng tôi ăn cơm. Không khách sáo, chúng tôi liền ngồi vào ăn luôn, phải chăm lo cho cái dạ dày đã. Ăn xong, chúng tôi chia tay ngay, để kịp về đơn vị. Đi khoảng một tiếng nữa chúng tôi nghe tiếng nói lao xao, rẽ phải lên hết suối, chúng tôi mừng quá, mấy thằng bạn trong đơn vị bảo đang mong chúng tôi, vì đi lâu quá những người khác đã về từ hồi 11 giờ rồi.


Thời gian chúng tôi hành quân ở Trường Sơn đang là mùa mưa. Ngày nào cũng mưa. Mưa rừng Trường Sơn dầm dề, dai dẳng, là môi trường thuận lợi cho các loài vắt hoạt động. Không ai không bị vắt cắn máu chảy toe toét, vết nọ chồng lên vết kia, cho đến hôm nay sau hơn 40 năm vết vắt cắn ngang dọc ở hai chân tôi ngày ấy giờ vẫn còn sẹo. Quần áo ẩm ướt rất khó chịu, vì tấm nilon che người và ba lô không kín hết. Chiều tối đến trạm nghỉ mới, chúng tôi cứ để nguyên thế đốt củi sưởi cho khô rồi leo lên võng ngủ.


Một tổn thất đầu tiên đã đến với đại đội của tôi. Đơn vị lại đi nhận gạo, đợt này tôi không phải đi. Đến trưa, anh em về mặt buồn rười rượi, mọi người thông báo đoàn đi lấy gạo bị đánh bom gần kho gạo, anh Đạt ở 82 Hàng Khoai, Hà Nội là quản lý của đơn vị đã hy sinh. Khi huấn luyện ở miền Bắc, tôi đã biết anh, anh tên là Hoàng Tử Đạt. Tôi đã thấy gợn lên một cái gì đó mơ hồ, tại sao lại có tên đệm là "tử", nhưng tôi lại nghĩ thời tam quốc có danh tướng của Lưu Bị tên là Triệu Tử Long cũng có chữ đệm là "tử" mà cả cuộc đời không dính một hòn tên mũi đạn, lại sống thọ 81 tuổi mới chết, phải chăng mỗi người mỗi số phận. Tôi thương anh quá, anh có nước da trắng hồng như con gái, môi đỏ như son, lại là đồng hương Hà Nội với tôi. Còn anh Khải bị sức ép bom, người trông cứ ngơ ngẩn. Đơn vị phải để anh ở lại giao cho Binh trạm. Sau nghe anh em nói, anh được đưa trở lại miền Bắc để điều trị. Đưa được bộ đội vào chiến trường mà không bị sứt mẻ về quân sổ trên đường hành quân là một thắng lợi của các đơn vị.


Chúng tôi hành quân qua thượng nguồn sông Bến Hải, con sông bắt nguồn từ dẫy Trường Sơn, thuộc địa phận Vĩnh Linh, đây là vĩ tuyến 17 phân chia hai miền Nam Bắc theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Ngồi nghỉ chờ trong cánh rừng bên bờ Bắc sông, phải đợi trời gần tối mới được tổ chức vượt sông, vì từ sông sang bờ Nam là một cánh rừng đã bị B52 Mỹ san phẳng. Cây cối bị bom phạt đổ ngổn ngang. Đi ban ngày dễ bị máy bay trinh sát phát hiện, chúng đánh bom thì chắc chắn sẽ hy sinh rất lớn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:35:42 pm »

Khoảng 6 giờ tối, sương mù trắng xóa, giăng kín mặt sông, bên phải là những dãy núi cao của Trường Sơn, trời trở lạnh. Vì ở thượng nguồn nên chúng tôi lội qua sông nước chỉ đến đầu gối. Ôi sông Bến Hải đây ư, vĩ tuyến 17 đây ư? Con sông tôi chỉ được hình dung qua những trang sách, bài hát, câu thơ, giờ mình đang lội qua nó để sang phía bên kia, sang vùng địch, dải đất đã mười mấy năm chia cắt đôi miền.


Trời mưa phùn rất lạnh, đêm thì tối như mực, chúng tôi phải nhìn ánh sáng xanh của miếng lân tinh sau mũ tại bèo của người đi trước mà đi theo, tay sờ tránh những thân cây đổ nằm bừa bãi, có cây chắn ngang ngực phải khom lưng chui qua. Vắt nhiều vô kể, bom đạn Mỹ nhiều như thế mà không diệt nổi loại sinh vật này. Tay luôn phải sờ xuống chân, lên mặt để nhặt chúng vứt đi. Đêm tối hành quân phải bám theo nhau, người sau phải theo kịp người đi trước nếu không lạc đường ngay.


Phải gần một tiếng đơn vị mới vượt qua bãi bom B52 tiến đến bìa rừng Nam sông Bến Hải. Chúng tôi được lệnh ngồi nghỉ, ai nấy sờ gỡ vắt, nhiều con hút máu no căng lăn cả vào trong áo, phải dò mãi mới tìm được chúng. Lúc này nghe tiếng máy bay địch, pháo sáng liên tiếp soi sáng rực cả bầu trời, rồi chúng đánh bom vào tuyến đường cách chúng tôi gần 1km, đất rung lên, chớp lóe liên tục. May mà không có B52 đánh, nếu B52 dải thảm thì chúng tôi sẽ khó thoát được kiểu đánh tọa độ rất rộng của chúng.


Thế rồi cái điều mà chúng tôi không muốn xảy ra đã đến: sốt rét! Lác đác trong đơn vị đã có người đổ bệnh, rồi cũng đến lượt tôi. Một chiều tự nhiên tôi thấy ăn cơm rất khỏe và rất ngon, qua đêm sáng hôm sau dậy thấy đau nặng trĩu, đau nhức như búa bổ, chân tay rã rời, người run lên bần bật trong cơn sốt, ngoài da nóng mà trong cơ thể thì rất lạnh, đắp chăn vẫn rét run.


Tôi vẫn phải gượng dậy hành quân, hôm nay cái ba lô con cóc, khẩu AK vẫn như mọi ngày giờ sao có cảm giác nó nặng quá vậy, muốn vứt thứ gì đi cho nhẹ! Tôi nhìn cái cuốc chim Trung Quốc buộc dưới đáy ba lô, lưỡng lự trong giây lát, rồi tôi cởi phăng vứt xuống hầm, như vậy cũng giảm được hơn 2kg. Hôm đó hành quân quả là một sự đày ải ghê gớm, nhất là lên dốc, máu dồn lên hai thái dương đập mạnh thình thịch như muốn nổ tung ra. Cứ leo được khoảng hai chục mét là lại phải nghỉ, lấy cây gậy chống vào đáy ba lô đứng nghỉ một lúc, đầu đỡ nhức lại đi, điệp khúc ấy cứ nhai đi nhai lại, đến trạm khách tiếp theo thì tôi không còn sức bước đi nữa. Hôm sau chỉ huy đơn vị đành phải để tôi ở lại binh trạm nghỉ, không hành quân cùng đơn vị được nữa. Ngoài tôi ra nhiều anh em cũng chung tình trạng ấy. Từ đây, những trận sốt rét cứ theo chu kỳ khoảng 3 tháng một lần, chúng lại đốn ngã tôi, đi theo tôi suốt cuộc chiến đấu cho đến khi trở lại miền Bắc, rồi phải mất tiếp thời gian 10 năm nữa chúng mới chịu chia tay.


Phải mất 4 ngày sau khi điều trị, được tiêm quinin vào hai mông tôi mới dứt cơn sốt. Tuy còn rất mệt sau đợt sốt rét, nhưng vì đói và thèm rau tươi quá, tôi hỏi đường vào bản dân tộc để kiếm thức ăn. Một đồng chí giao liên chỉ dẫn cách đi tới một bản gần đó. Tôi khoác khẩu AK sau lưng và mang theo hộp thuốc cá nhân. Phải đi bộ mất gần ba tiếng đồng hồ tôi mới vào đến bản. Tôi leo theo bậc cầu thang lên một nhà sàn, trong nhà có một người đàn ông khoảng gần 50 tuổi, ngồi bó gối trông rất thiểu não. Bên cạnh có hai đứa trẻ con, một trai, một gái, chúng đều cởi truồng, nhìn tôi không nói gì, mà tôi cũng không biết tiếng dân tộc ở đây. Tôi đoán chắc người đàn ông ốm, tôi tiến lại lấy tay đặt lên trán thấy nóng hầm hập, tôi mở hộp thuốc cá nhân lấy mấy viên Aspirin (thuốc cảm) đưa cho ông và ra hiệu mỗi lần uống một viên. Người đàn ông gật đầu, lấy tay chỉ vào băng đạn AK, tôi hiểu ngay họ muốn có đạn để săn bắn. Tôi ra hiệu chỉ vào hũ gạo và nải chuối chín treo trên tường, ông lấy lon sữa bò đong cho tôi bốn lon gạo nương, đưa cho tôi một nải chuối.


Trong hoàn cảnh đói triền miên, kết quả vào bản hôm ấy như vậy là thắng lợi lớn. Tôi lấy băng đạn tháo ra bốn viên đạn mới vàng chóe đưa cho ông, ông cười rất tươi, hai tay đón nhận đạn cất ngay vào gần khẩu CKC cạnh vách nhà. Chia tay ông, tôi về binh trạm thì trời cũng đã trưa, tôi đã có gạo để dành cho những ngày hành quân tới. Cái cảnh đi kiếm ăn, đổi chác với đông bào dân tộc không phải ai cũng gặp may thành công như tôi. Một hôm, một đồng chí trung đội trưởng của đại đội tôi một hôm vào bản để đổi gạo, anh đi qua một dãy của đồng bào dân tộc. Thật không may, anh giẫm phải bẫy thò của dân bẫy thú rừng, một mũi thò làm bằng một cây tre đực nhỏ vót nhọn lao cắm xiên qua đùi anh, anh không thể rút ra được, máu xối ra, anh gục xuống chết bên gốc cây rừng. Thật vô cùng đau xót! Cái chết trên đường hành quân không phải chỉ có thế, nhiều anh em lên cơn sốt rét ác tính, sốt mê man không tỉnh lại được đái dầm cả ra quần mà không biết. Mặc dù các y bác sĩ đã hết sức cứu chữa trong điều kiện có thể, nhưng họ đã chết mà không thể đi tới đích, đó là chiến trường để chiến đấu.


Sau những trận sốt rét, quân số đại đội tôi không còn đầy đủ để đi cùng nhau nữa. Ai ốm thì nằm lại binh trạm điều trị, ai khỏe lên lại tự hành quân đuổi theo đơn vị theo đường giao liên đi vào chiến trường.

Một hôm tôi đi cùng một cô giao liên dẫn đường đi qua địa phận rừng A sầu, A Lưới, bỗng nghe thấy nhiều tiếng đại bác đì đùng vọng đến. Tôi hỏi nơi đó là đâu, cô giao liên bảo đó là Huế, tôi chưa bao giờ đến Huế. Tôi tưởng tượng kinh đô Huế chắc đẹp lắm, nếu hết chiến tranh tôi sẽ đến thăm Huế. Ước nguyện của tôi sau này đã thực hiện được, tôi đã nhiều lần thăm kinh đô Huế cổ kính bên dòng sông Hương thơ mộng. Một hình ảnh đã gây ấn tượng và vô cùng xúc động, đó là trên đường giao liên, thỉnh thoảng tôi lại gặp một nấm mộ cô đơn thấp tè nằm cạnh đường, trên mộ đặt một đôi dép rọ nữ.


Nỗi niềm thương tiếc những người con gái đã cống hiến cả sự sống, tuổi thanh xuân cho sự nghiệp thống nhất đất nước ấy theo tôi đi suốt chặng đường hành quân. Cho đến khi ra Bắc, tôi làm bài thơ để tri ân những người con gái đã nằm lại giữa núi rừng Trường Sơn trùng điệp. Từ bài thơ, một nhạc sĩ đã phổ nhạc thành bài hát nhan đề Hát về em cô gái giao liên và được Đài Truyền hình Huế dàn dựng thành video clip.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:36:42 pm »

Ai hành quân vượt Trường Sơn chắc cũng đi qua dốc Nguyễn Chí Thanh, một vị tướng tài ba của quân đội ta đã vào chiến trường trực tiếp chỉ đạo và tổng kết chiến dich phản công mùa khô lần thứ nhất, dốc cao trên nghìn mét. Sức khỏe của tôi và anh em ngày một giảm sút do bị sốt rét và thiếu ăn. Có hai quả lựu đạn chúng tôi đã đem đánh cá ở suối để cải thiện bữa ăn. Có lần tôi đổi hai viên đạn cho đồng bào dân tộc được một bình tông mật ong rừng. Trong hoàn cảnh này, nó quý hơn vàng, giúp chúng tôi có thêm đường để hỗ trợ sức khỏe tạm thời. Sức khỏe cứ tụt dốc dần, ăn uống ở các binh trạm càng vào sâu càng kém hơn. Có một binh trạm ở Quảng Nam không có gạo phát cho bộ đội, họ chỉ ra nương sắn bảo mọi người tự đi lấy mà ăn. Chúng tôi lấy sắn tươi về rồi lấy ống bơ sữa bò đục lỗ để nạo sắn thành bột, lấy lá dong ven suốt gói bột sắn như gói bánh chưng và cho vào ăng gô luộc chín để ăn và đem theo hành quân; mỗi bữa cũng chỉ được ăn một cái bánh to bằng nắm tay thôi, ăn hết, bữa sau lấy gì mà ăn.


Nghỉ qua đêm, sáng ra, tôi thấy người mệt lắm, đành gửi lại khẩu AK và hai băng đạn trống rỗng ở lại trạm giao liên, chỉ lấy đạn AK đem theo để đổi cái ăn ở dọc đường. Đó là hành vi vi phạm kỷ luật, nhưng ai ở hoàn cảnh này chắc cũng thông cảm cho tôi, phải dứt ruột mà chia tay khẩu AK thân yêu đã theo tôi suốt một chặng đường. Nhưng tôi cảm thấy không còn đủ sức để theo cùng đơn vị khi phải mang khẩu AK bên mình. Lúc này, thật lòng mà nói nếu cắt bỏ một cái khuy áo cho nhẹ tôi cũng cắt bỏ. Sức khỏe đã quá yếu do những cơn sốt rét đã quật ngã tôi. Chúng tôi nói với nhau, giờ chúng ta đi bằng cái đầu, bằng ý chí quyêt tâm của người lính, chứ đôi chân không muốn nhấc lên để đi nữa rồi.


Một hôm, tôi đến một binh trạm ở Quảng Nam, mừng quá gặp lại Trung đội trưởng của tôi là anh Hạt. Tối hôm đó hai anh em mắc võng ngủ cùng nhau trong một cái lán, nói chuyện đến tận khuya. Sáng hôm sau, ăn bữa sáng xong, chúng tôi lại được điểm tâm leo đốc ngay, vì các trạm nghỉ thường hay bố trí dưới chân núi, nằm bên suối để tiện cho việc lấy nước. Các cung trạm giao liên trên tuyến 559 đều có kiểu bố trí trạm nghỉ như vậy nên rời trạm hành quân là phải leo dốc.


Gần trưa thì leo qua đỉnh, hai anh em ngồi nghỉ nói chuyện, ước gì sau chiến tranh còn sống sẽ đến nhà thăm nhau thì thú vị biết mấy. Nghỉ một lúc, nhìn thấy một nương sắn xanh tốt sát bên đường mòn giao liên, anh bảo tôi ngồi trông ba lô, súng, còn anh vào, nhổ ít sắn đem về trạm nghỉ tới luộc ăn cho đỡ đói.


Anh vừa thò chân bước qua hàng rào, bị chông gài ở hàng rào đâm trúng bụng chân. Tôi nặn bóp hết máu chân anh băng lại. Việc lấy sắn phải gác lại, bây giờ, phải lo đưa anh nhanh về trạm nghỉ để cứu chữa kẻo nhiễm trùng thì nguy hiểm đến tính mạng chứ chẳng chơi.


Đến trạm nghỉ, chân anh sưng vù to lắm, anh nằm võng rên hừ hừ, tôi thương anh quá. Tôi đi gọi y tá trạm giao liên đến tiêm kháng sinh cấp cứu cho anh, phải mất đến một tuần anh mới đi lại được. Thật hú vía, mỗi lần nghĩ đến chông tre là tôi thấy ớn lạnh cả người.


Sau này vào chiến trường Phú Yên, anh Hạt được bổ sung vào Tiểu đoàn đặc công 14, chiến đấu ở chiến trường huyện Tuy Hòa I. Anh lập được nhiều chiến công và đã anh dũng hy sinh trong trận tập kích sân bay Đông Tác. Anh không thể sống đến ngày hòa bình để anh em về quê thăm nhau. Nhớ anh, trong tôi đọng lại một niềm tiếc nuối khôn nguôi. Cuộc tiễn đưa anh ở ga Thường Tín đối với người chú của anh là một cuộc vĩnh biệt!


Qua huyện Tiên Phước - Quảng Nam, lúc ngồi nghỉ, tôi ngửi thấy mùi quế thơm lừng. Nơi nghỉ chân là một rừng quế. Mọi người đều chặt những cây quế bóc vỏ cho vào ba lô thỉnh thoảng ăn một chút cho ấm người, chống lại cái lạnh của sốt rét. Dốc núi Quảng Nam có lẽ cao nhất trong dãy Trường Sơn, thứ hai mới đến dốc Kon Tum. Trên đỉnh núi mặc dù trời đang nắng mà vẫn rất lạnh, sương tụ lại thành những giọt nước rơi tí tách. Bên cạnh đường đi là vục sâu thẳm, mây giăng trắng xóa không nhìn thấy đáy vực. Rừng già, cây chen nhau vươn lên che kín mặt trời. Đây đó có vài tia nắng hiếm hoi chiếu xiên qua kẽ lá. Phía dưới gốc cây đây leo chằng chịt, có dây to bằng cổ tay dùng dao găm phạt đứt, nước từ đó chảy ra có thể ngậm mồm vào là uống được. Trong rừng già, lớp lá cây rụng xếp dày đến hai, ba, chục phân, bước chân đi là chúng thụt xuống, rồi những chú vắt xanh, đỏ nhảy lên bâu vào chân để hút máu.


Dốc tiếp dốc, đầu người sau đội mông người trước, lên đến đỉnh dốc vì Quá mệt nên mồm, mũi tranh nhau thở, nhưng cánh lính trẻ vẫn khôi hài. Cậu Sâm người dân tộc Tày quê Cao Bằng, nói trong hơi thở: "Lúc này chị em có mời cũng xin đầu hàng, vái cả nón". Mọi người cười với cái miệng méo xệch.


Những lúc trên đường giao liên qua con suối thấy có rau môn thục, môn dóc, rau tàu bay là tranh thủ hái, rửa sạch cho vào ăng gô để đem về trạm nghỉ nấu ăn. Gia vị chỉ có muối hột, rau tàu bay có thể bóp với muối làm dưa ăn luôn, có mùi hăng hắc, ngai ngái rất khó ăn.


Đến một binh trạm cuối tỉnh Quảng Nam, mấy anh ở binh trạm rủ tôi ở lại làm giao liên, các anh đang thiếu người. Tôi không đồng ý, vì mục tiêu của chúng tôi là hành quân ra chiến trường, cũng muốn giáp mặt với quân Mỹ để chiến đấu, lúc này ý chí chiến đấu cao lắm. Buổi chiều hôm ấy, có tiếng nói của nhiều người, rồi hai cái cáng khênh vào binh trạm, hai anh ở binh trạm đi truy lùng biệt kích địch bị thương, có anh bị lòi cả ruột. Bên ta tiêu diệt được năm tên, còn lại chúng bỏ chạy được trực thăng đón về căn cứ.


Một buổi trưa, tôi ngồi nghỉ bên sông Xê Ca Máng, bên này là Việt Nam, bên kia là đất bạn Lào. Tôi bước qua dòng sông nhỏ như suối, sang đất Lào, thế là tôi không được sang Liên Xô học như các bạn tôi ở trường Hóa chất, thì tôi cũng có số xuất ngoại sang nước Lào đấy chứ! Nghĩ vậy, tôi cũng cảm thấy thú vị trong lòng. Thỉnh thoảng nghe tiếng còi ô tô vận tải ở sườn núi, không thấy xe đâu vì chúng khuất núi. Cũng có lúc chúng tôi đi cắt qua đường ô tô, đường đi dưới tán lá rừng, đường có những khúc cây xếp ngang để ô tô đi không bị patine. Những chiếc ô tô Trường Giang, Zil "kliơ" bò chậm chạp, cõng trên lưng chủ yếu là vũ khí, đạn dược và thuốc men.


Tôi phục nhất là anh em vận tải bộ, bằng đôi vai, họ đi từng tốp trèo đèo lội suối. Chiếc gùi trên vai to cao quá đầu người, trọng lượng mỗi người cõng có lẽ cũng lên đến năm sáu chục cân. Họ như những con kiến tha lâu đầy tổ. Tuy phương thức vận tải thô sơ cổ điển, nhưng nó bổ sung chi viện cho chiến trường rất hiệu quả, nhất là những lúc máy bay địch đánh phá cắt đứt đường vận tải cơ giới của ta.


Suốt dọc đường vào Nam, lúc nào trên bầu trời cũng có máy bay trinh sát L19, OV10 hoạt động nhòm ngó, chỉ điểm cho máy bay phản lực đánh bom. Chúng đánh phá đường ống xăng dầu, kho tàng, đánh vào các đoàn quân. Có lần B52 đánh trúng đội hình hành quân của một trung đoàn, quân số thương vong rất nhiều. Mùa mưa mỗi lần lội qua sông, chúng tôi phải cởi quần áo đội cùng với ba lô trên đầu. Nước chảy xiết, lạnh thấu xương, lên bờ người run cầm cập, hai hàm răng cứ va vào nhau lập cập, phải lấy củi đốt sưởi ấm ngay.


Qua Quảng Nam, chúng tôi tiếp tục hành quân ngày đi đêm nghỉ. Rồi đoàn quân của chúng tôi hành quân qua các tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum, với cái tên trạm Bửu, Ngà, Hương, trạm cô Gia, trạm Lập, trạm Huế, trạm cô Đào... Vào tới tỉnh Gia Lai, lúc này trời đã đỡ mưa, đường giao liên tương đối bằng phẳng, đỡ dốc hơn, những rừng khộp các cây không cao lắm. Anh Sam, người Cao Bằng, đi với tôi gặp một anh trong đoàn dân chính đảng đi ra Bắc, anh gạ tôi đổi cái mũ tai bèo, anh đưa cho một ăng gô ruốc thịt lợn. Tôi đồng ý ngay! Tối hôm đó, chúng tôi làm một bữa liên hoan, đã lâu lắm rồi chúng tôi không được ăn thịt mà chỉ ăn toàn rau rừng, măng tre nứa. Ruốc thịt lợn mà nấu canh với lá giang ngon tuyệt, lúc đun nó bốc lên mùi thơm, hơi chua ngọt mà nước miếng cứ tứa ra. Binh trạm chúng tôi nghỉ gần đường số 19 từ Bình Định đi An Khê. Phải chờ cho đủ chuyến để giao liên dẫn đi, vượt qua đường 19 là sang đất Phú Yên, là nơi mà cả cuộc đời chiến đấu của tôi gắn liền với nó trong những tháng năm ác liệt của chiến tranh.


Lúc này là cuối tháng 12 năm 1969, kể từ ngày đơn vị tôi hành quân vào Nam đã được ba tháng. Thế rôi sau mấy ngày chờ đợi, binh trạm cũng tập hợp được đủ người cho một chuyến vượt đường 19. Đội hình gồm có bộ đội, anh em vận tải, cán bộ dân chính đảng, văn công. Buổi sáng hành quân di chuyển, khoảng 5 giờ chiều chúng tôi đã đến bìa rừng phía Bắc đường 19, chờ tới tối để vượt đường. Trước mặt chúng tôi, nhìn hai bên đường mỗi bên rộng khoảng 500m, toàn bộ cây rừng bị phát quang, cứ cách một chặng vài km địch đóng một chốt, chúng cho xe tăng, xe M113 thường xuyên đi tuần để ngăn chặn quân ta vượt đường.


Trời tối dần, sau khi đoàn xe tuần tra của địch đi qua mất hút ở một khúc của của con đường. Hai anh giao liên cầm tiểu liên chạy trước, cả đoàn chúng tôi chạy theo. Dù mệt nhưng không ai dám nghỉ. Chúng tôi băng qua con đường nhựa phẳng lỳ. Ở miền Bắc tôi chưa được gặp con đường nào tốt như thế. Chạy giữa khoảng trống đất đỏ nham nhở, gần tới bìa rừng phía Nam đường 19 đã an toàn, mọi người đều nằm vật xuống thở như bễ lò rèn. Mừng nhất là cả đoàn an toàn, không xảy ra vấn đề gì. Được biết đã có đoàn vượt đường bị địch phát hiện bắn xối xả và xảy ra thương vong.


Đến đây, cuộc hành quân vượt Trường Sơn của đơn vị đặc công chúng tôi đã kết thúc. Trên đường hành quân có cả máu và cả nước mắt, đã có gần 10 đồng đội của chúng tôi đã vĩnh viễn nằm lại trên các cung đường. Năm tháng qua đi, nhưng những ký ức của tôi về đường Trường Sơn, con đường huyền thoại vẫn sống mãi trong lòng tôi - một người lính, sống mãi trong lòng người Việt Nam, nó viết lên bản hùng ca bi tráng của một dân tộc anh hùng và bất diệt, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

   Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
   Ai chưa đến đó như chưa biết mình!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:38:20 pm »

4. Những năm tháng chiến đấu ác liệt trên chiến trường Phú Yên

Sau khi vượt đường 19 thành công, chúng tôi đến trạm Kte thì trời đã quá trưa. Tôi gặp anh Ái - người Nghệ An, anh Tóa người huyện Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội), hai anh đều là học sinh Trường trung cấp Hóa chất với tôi. Gặp được bạn bè cũ giữa chiến trường, chúng tôi mừng lắm, ôm chầm lấy nhau. Thế là chúng tôi, những học sinh yếu đuối hôm nào, nay đã vượt qua được dãy Trường Sơn, gặp lại nhau vẫn mạnh khỏe, hỏi không vui sao được.


Sáng hôm sau, chúng tôi dậy rất sớm để theo giao liên vượt qua bãi cỏ tranh Tân Sơn. Đường đi không có cây to, chỉ có cây nhỏ từng khóm lúp xúp, nên rất dễ bị máy bay trinh sát phát hiện. Chúng tôi đi từng nhóm ba người, cách nhau khoảng mười mét để dễ ẩn nấp.


Hôm đó trời không mưa, mới 6 giờ sáng mà mặt trời đỏ lừ từ hướng Đông đã nhô lên rất nhanh. Toàn bãi cỏ tranh như một tấm thảm vàng trải dài hơn hai cây số, nhìn rất đẹp mắt.

Một chiếc máy bay trinh sát OV10, từ sân bay Đông Tác gần thị xã Tuy Hòa (nay là thành phố Tuy Hòa), Phú Yên bay lên. Nó hạ thấp độ cao, lượn vòng tròn, nghiêng ngó tìm mục tiêu, nhưng chúng tôi đã nhanh chóng ẩn nấp vào các bụi cây, ngồi yên bất động. Không phát hiện được gì, chúng bay đi nơi khác. Loại máy bay trinh sát này bay tìm mục tiêu dai như đỉa đói, rất khó chịu. Ở bãi tranh này, có lần mấy chị em đi lấy gạo bị chúng phát hiện, chúng gọi phản lực đánh bom. Sau đó, trực thăng hạ cánh bắt sống được ba người đưa về thị xã Tuy Hòa.


Hết bãi cỏ tranh, đi một đoạn ngắn, rẽ trái theo một đường mòn, chúng tôi đến suối Ché. Bên bờ suối, chúng tôi bắt gặp các nhà lợp cỏ tranh, đây là trạm đón tiếp quân từ miền Bắc vào. Trong khi chờ đợi về đơn vị chiến đấu, chúng tôi ăn rồi lại nằm chờ. Thời gian rảnh rỗi, chúng tôi ra suốt bắt cá, bắt cua. Mùa này suối cạn, nước đọng từng vũng, của cá không nhiều. Bắt được con nào chúng tôi đốt củi nướng lên chia nhau, người cái càng, người cái chân, anh em nói vui một con cua mà bốn, năm tỉnh ăn mới hết! Bắt được ít cá con, chúng tôi hái lá non của cây bứa nấu canh chua ăn rất ngon, mỗi bữa ăn mỗi người được một bát cơm, với sức thanh niên thì chả thấm vào đâu, đói vẫn hoàn đói, cái bụng luôn sôi réo đòi ăn.


Ở trạm đón tiếp được 10 ngày thì có anh Hạ, là quản lý của Đại đội đặc công 202 thuộc Tỉnh đội Phú Yên, đến đón chúng tôi về đơn vị. Quân số bổ sung cho Đại đội đặc công 202 có 10 người, trong đó có tôi, anh An, anh Sam, anh Tỏa, anh Ái, anh Ngữ và 10 người nữa bổ sung về Đại đội đặc công 201 cũng thuộc Tỉnh đội Phú Yên. Số còn lại bổ sung cho Tiểu đoàn đặc công 14, đóng ở địa bàn Tuy Hòa I. Chúng tôi chia tay nhau. Sau này, không có điều kiện gặp lại nữa, anh Hạt - Trung đội trưởng của tôi - cũng về Tiểu đoàn 14.


Khi đi qua suối Ché, chúng tôi có gặp một đoàn văn công đi lấy gạo, thế là hỏi thăm quê hương của nhau tíu tít. Các cuộc chuyện trò kiểu như thế thường xuyên xảy ra khi các đơn vị gặp nhau trên đường hành quân thời chống Mỹ ở chiến trường miền Nam. Qua hỏi han nhau, tôi gặp được anh Hồ, người xã Cổ Nhuế cùng huyện Từ Liêm với tôi. Hai anh em hồ hời hỏi chuyện nhau, tôi được biết anh đã gần 30 tuổi, anh ở ban nhạc trong Đoàn văn công tỉnh Phú Yên, anh chơi nhị, ở nhà đã có vợ và năm con. Về sau, tôi nghe tin, anh đã hy sinh trong một lần đi lấy gạo do máy bay đánh bom ngay trên đường 6, gần suối Hòa Bình, ngày 12 tháng 10 năm 1970.


Hôm đó, anh dốc ruột tượng cho tôi khoảng 5 lon ngô xay, trong hoàn cảnh đói kém, số ngô xay này là rất quý cho đến nay tôi vẫn nhớ mãi, không bao giờ quên. Sau này khi ra Bắc, tôi có đến thăm chị cùng các cháu và vào Phú Yên tìm hài cốt anh.

Suốt dọc đường về đơn vị, chúng tôi cứ gạ anh Hạ, về đến đơn vị thì thổi cho chúng tôi một bữa cơm ăn thật no, ước mơ nhỏ nhoi đó tôi cứ nhớ mãi đến bây giờ.

Đại đội đặc công 202, hậu cứ đóng quân ở chân núi hòn Đác, thuộc xã Hòa Định, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, cách đồng bằng khoảng 6 tiếng đi bộ. Quân số đại đội sau Tổng tấn công tết Mậu Thân năm 1968 bị hao hụt nhiều. Đại đội còn 37 người, cộng với 10 người chúng tôi bổ sung nâng quân số lên 47 người, biên chế đại đội đặc công ở chiến trường chỉ thế thôi chứ không nhiều như đại đội bộ binh.


Tôi được biên chế vào Trung đội 3 cùng với anh An và anh Sam. Anh Nghiêm quê Nam Hà là Trung đội trưởng. Trung đội trường đã kiểm tra chúng tôi một số kỹ thuật đặc công như cắt rào dây thép gai, đi khom, bò tiềm nhập trên sỏi... Chúng tôi thực hiện thành thạo, anh xoa tay khen ngợi và bảo: "Với trình độ như vậy là đi chiến đấu được, không cần huấn luyện thêm nữa". Anh Văn quân y sĩ nói: "Mấy chú là đặc công của Bộ có khác, trông "ngon" quá". Nghe anh nói chúng tôi rất phấn khởi, không biết khi chiến đấu có "ngon" như anh bảo không.


Chúng tôi được bổ sung về Đại đội 202, được học tập về truyền thống của đơn vị và những thành tích chiến đấu đã lập được từ ngày thành lập. Tôi vẫn nhớ lịch sử đơn vị tôi tới tận bây giờ, thành lập tháng 10 năm 1959, tiền thân của đại đội là một tổ đặc công ba người do Bộ Tư lệnh Quân khu 5 điều về Tỉnh đội Phú Yên. Ngày thành lập chính thức là ngày 20 tháng 02 năm 1963. Đại đội đã đánh nhiều trận, diệt 60 tên Mỹ ở đèo Cù Mông khi chúng mới đổ bộ vào miền Nam, diệt cứ điểm Mò O, tập kích vào quận lỵ Củng Sơn để giải thoát luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ Tuy Hòa đưa ra vùng giải phóng, ông sau này là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng chí Lê Trung Kiên - Đại đội trưởng Đại đội 202 - có công trong việc này. Tổng tấn công Mậu Thân 1968, Đại đội 202 tấn công vào khu tỉnh đường Trung đoàn 47 Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đóng ở gần bãi biển thị xã Tuy Hòa, đồng chí Kiên bị đại liên địch bắn trúng khi băng qua đường đánh chiếm lô cốt đầu cầu và anh dũng hy sinh. Đồng chí đã được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng ngày 15 tháng 02 năm 1970.


Năm 1969, năm trước khi tôi được bổ sung về làm chiến sĩ của đại đội, Đại đội đặc công 202 đã đánh 32 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 735 tên địch (trong đó có 77 tên Mỹ), diệt gọn hai đại đội địch ở cứ điểm núi Thơm và cứ điểm Mò O, thu 28 súng các loại, ba súng đại liên, một súng cối 60 ly, hai máy thông tin PRC25.

Đại đội đặc công 202 là đại đội "con cưng" của Tỉnh đội Phú Yên lúc đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:39:11 pm »

4.1. Đánh địch ở thị xã Tuy Hòa

Tết Nguyên đán năm 1970 đang đến gần, tôi cùng đơn vị đến Hầm Bò rồi vào đóng quân sát đồng bằng huyện Tuy Hòa II.

Cán bộ trung đội và đại đội đi trinh sát cứ điểm núi Thơm. Trung đội tôi được giao nhiệm vụ đánh địch ở thị xã. Lần đầu xuất kích vào gần Ninh Tịnh, chúng tôi không gặp địch, trên đường về qua xã Quy Hậu vào nhà dân, nhà nào tôi cũng thấy bà con bắc chảo gang làm rim (tức làm mứt tết). Các má nhìn chúng tôi nói: "Tội cho tụi bay quá, tết nhất đến nơi phải xa quê hương!" Các má gửi rất nhiều mứt và cả thịt heo cho chúng tôi đem về núi cho anh em ăn tết. Vào trong bếp, tôi thật sự bị choáng khi nhìn thấy chiếc xe máy Honda 67 sơn đỏ chót, hai gương sáng loáng dựng ở đó, tôi nhìn mãi không thấy chán, nhà nào cũng có đài Nhật như Sony, National, Philip... nói oang oang, ở miền Bắc thời đó mới chỉ có đài Galen. Có một ông già tóc bạc, trông người phúc hậu, nhiệt tình mời tôi ra sân ngắm cây cảnh. Tuy tối nhưng cũng vẫn nhìn thấy các cây bonsai, đủ hình thù trông rất đẹp mắt.


Thực hiện chủ trương của lãnh đạo tỉnh Phú Yên: mở chiến dịch tiến công tổng hợp bằng hai chân, ba mũi giáp công. Mục tiêu chiến dịch là: diệt lực lượng trực tiếp kìm kẹp để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, vận động binh sỹ địch đào, rã ngũ, ly khai, giải tán lực lượng phòng vệ dân sự.


Tháng 3 năm 1970, Đại đội đặc công 202 của tôi tập kích cứ điểm núi Thơm (xã An Chấn, huyện Tuy An), tiêu diệt gọn Đại đội bảo an 152 (địch vừa xây dựng lại), diệt 56 tên, làm bị thương nhiều tên, thu nhiều vũ khí. Trận đánh này rất nhanh, tiêu diệt gọn, hiệu suất chiến đấu cao, đơn vị ít thương vong, chúng tôi chỉ có hơn ba chục người tham gia chiến đấu. Liên tiếp đánh tập kích địch ở xóm Đường tới ngã năm thị xã Tuy Hòa, tiêu diệt được hai trung đội địch, đơn vị tôi an toàn.


Một hôm, sau khi đánh địch trở về căn cứ, chúng tôi đi qua các đồi cát từ thị xã dọc theo bờ biển, trời tối đen như mực. Trên các đồi cát có rất nhiều cây xương rồng bà, gai nhọn tua tủa, chúng đâm vào chân buốt lắm, chúng tôi không dám đi trên đỉnh đồi cát vì sợ địch phát hiện, phải lần mò cắt đường qua giữa hai đồi cát mà đi. Ở đây có rất nhiều ruộng dưa hấu, nhiều lần chúng tôi đã "xin của dân mà không hỏi trước". Chúng tôi, sáng tạo cởi quần dài buộc túm đầu, lấy dưa cho vào hai ống quần rồi vác lên vai, khi về núi thái ra chấm mắm tép sống ăn với cơm cũng rất ngon. Lần sau xuống, bà con biết nhưng không quở mắng mà còn bảo các chú cứ lấy ăn, nhưng phải vùi vỏ xuống đất kẻo địch biết chúng sẽ phục kích. Ôi! Không gì bằng tình quân dân như cá với nước. Chúng tôi hiểu, bà con nơi đây rất thương những đứa con miền Bắc xa gia đình vào đây chiến đấu để giải phóng cho họ, nên họ không tiếc thứ gì đối với các chú bộ đội.


Một lần đang hành quân vào đánh địch ở thị xã Tuy Hòa, tôi trượt chân ngã nhào về phía trước, giẫm phải đầu mũ sắt của lính Nam Triều Tiên đang phục kích. Lúc ấy đã hơn 3 giờ sáng, phục mãi chúng mỏi mệt ngủ thiếp đi. Cả trung đội Nam Triều Tiên hoảng hốt vùng dậy, chúng lập tức bấm mìn định hướng Claymore. Những tiếng nổ chát chúa cùng những chớp lửa bùng lên sau lưng chúng tôi. Rất may là chúng tôi đã đi qua lớp mìn định hướng đó, lẫn lộn giữa đội hình địch nên không bị trúng mìn trực diện. Mọi người co cẳng chạy bừa ra hướng biển, do luống cuống cứ trèo lên đồi cát, cát chảy xuống lại tụt người theo, phải bò trên cát vượt qua đồi cát rồi tụt xuống chạy thẳng ra biển. Tiếng súng phóng lựu M79 chớp lóe liên tục nổ trên các đỉnh đồi cát phía đường số 1 hướng núi, chúng nghĩ chúng tôi sẽ chạy về núi. Chạy đến mép biển, sóng đánh nhẹ vào chân tôi, những con còng thấy động, chúng chạy rào rào chui vào tổ. Lúc này pháo sáng từ thị xã Tuy Hòa và các căn cứ khác bắn lên sáng rõ như ban ngày. Lan đầu tiên trong đời tôi biết biển, tôi vục tay vốc nước lên nếm thử thấy hơi mằn mặn. Rồi cứ đọc bãi cát bờ biển, chúng tôi chạy đến xã An Chấn, huyện Tuy An, rẽ trái qua đường số 1 rút vào núi.


Lúc này các trận địa pháo vẫn nã đạn vào ven bìa rừng. Rất may về đến nơi không ai hy sinh, chỉ có anh Chinh - Trung đội trưởng của tôi người Kim Bôi, Hòa Bình - bị trúng một viên bi của mìn Claymore gần mang tai, chui vào dưới da, sờ thẩy nổi lên như hạt ngô. Ngẫm lại, chúng tôi thấy thật may mắn.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM