Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:20:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức người lính đặc công  (Đọc 3831 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:52:24 pm »

4.7. Trận đánh phối hợp tác chiến với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào

Đánh địch, rút kinh nghiệm, chỉnh huấn mỗi lần ra quân rồi lại về căn cứ tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực, đó là công việc thường xuyên lặp đi lặp lại đối với đời lính trong chiến trận của chúng tôi.

Bộ đội đặc công luôn được tỉnh ưu tiên cung cấp gạo so với lính bộ binh, nhưng so với nhu cầu vẫn không thể đáp ứng được. Trong các bữa ăn, cơm độn sắn, sắn nhiều hơn cơm, canh chủ yếu là rau sắn, mít xanh lấy ở gò Dư, gần đơn vị, về luộc. Hồi ấy chúng tôi chưa biết tác hại của chất độc màu da cam. Những nương sắn của đơn vị bị máy bay địch rải chất độc màu da cam rụng hết cả lá, những mầm non trồi lên lá quăn queo. Chúng tôi vẫn hái về luộc ăn, làm cả muối dưa chua ăn một cách vô tư lự, chẳng ai nghĩ hậu quả kinh hoàng của thứ chất độc này đối với con người như thế nào. Bây giờ, thấy cảnh đồng chí, đồng đội mình bị nhiễm chất độc màu da cam đẻ ra những đứa con tàn tật đủ kiểu, thật đau xót, thật rùng mình. Sự tàn ác của chiến tranh không chỉ với một thế hệ mà nhiều thế hệ, di hại tới nhiều đời.


Nhìn các gia đình bị hậu quả của chất độc màu da cam gây ra, phải chịu đựng thật cực khổ, dai dẳng, nên chăng Nhà nước ta cần có những chính sách thỏa đáng trong điều kiện kinh tế có thể để giúp họ giảm bớt những nỗi đau đang hình hạ giầy vò hàng ngày.

Ngoài rau ăn, cả đại đội chúng tôi mỗi bữa được bốn hộp cá nhỏ, cho vào xoong nấu với muối và mì chính, lấy nước là chính để, chan vào cơm độn sắn ăn. Chúng tôi được ăn uống như thế cũng là tốt lắm rồi. Thời kỳ trước khi chúng tôi về đơn vị, nghe các anh cũ kể lại còn đói hơn nhiều. Lính ở Tuy Hòa I còn phải đào củ bá, loại củ rừng giống như củ nâu nhuộm vải ngoài Bắc, để ăn thay cơm. Nó rất chát và đắng, phải luộc bỏ nước mấy lần mới ăn được, không ăn thì đói. Trận đánh đoàn xe vận tải địch trên đèo Cù Mông, tiêu diệt xong địch, anh em đói lả không còn sức để leo lên xe địch thu chiến lợi phẩm.


Đầu năm 1971, địch đề ra kế hoạch "Bình định nước rút" đánh phá ác liệt ba vùng (rừng núi - giáp ranh - đồng bằng), đẩy mạnh chiến tranh gián điệp. Chúng khôi phục các đảng phản động như: Đại Việt, Quốc dân Đảng, Nhân xã Đảng. Mỹ - Ngụy ra sức chấn chỉnh quân chủ lực, địa phương quân, từ đó tiến tới thành lập thêm nhiều tiểu đoàn bảo an. Tuy quân Mỹ lúc này ở địa bàn tỉnh Phú Yên giảm xuống còn 200 tên, chủ yếu là cố vấn, nhưng quân Nam Triều Tiên vẫn giữ nguyên như trước đó, Trung đoàn 26 "Mãnh Hổ" đóng ở phía Bắc tỉnh và Trung đoàn 28 "Bạch Mã" đóng ở phía Nam tỉnh Phú Yên. Chúng đóng chốt rải ra 39 cứ điểm rất kiên cố. Tinh thần bọn này đã sa sút, không còn hung hăng như trước nữa, tâm trạng chung là mong sớm được về nước. Chúng không còn tin đế quốc Mỹ có thể thắng được trong cuộc chiến tranh này.


Nhìn chung, năm 1971 lực lượng địch trên chiến trường Phú Yên có giảm, lính Mỹ giảm, quân Nam Triều Tiên chưa giảm, quân Ngụy tăng lên. Nhưng chúng lại được củng cố, tăng cường trang bị vũ khí. Quân Mỹ đang rút dần, niềm tin vào sức mạnh Mỹ cũng giảm theo, chúng không còn tin vào khả năng chúng có thể đương đầu được với quân giải phóng.


Địch rất sợ đặc công ta đánh vào ban đêm, nhưng chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, như: chúng đã có kinh nghiệm đối phó với cách đánh đặc công, quân số bị hao hụt sau các đợt chiến đấu liên tục.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên, quyết định mở Chiến dịch Xuân - Hè năm 1971.

Đơn vị tôi - Đại đội 202, được lệnh trinh sát cứ điểm núi Sầm thuộc xã Hòa Trị, huyện Tuy Hòa II để tập kích, chia lửa với Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Tổ trinh sát dẫn đầu là anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Khôi - Chính trị viên, tôi lúc này là Mũi phó.

Tận dụng những ngày giáp Tết âm lịch, trong đêm Ba mươi rạng sáng mùng Một Tết, hai bên ngừng bắn, địch lơ là cảnh giác, việc đột nhập vào căn cứ địch dễ dàng hơn, nên chỉ sau ba đêm liên tục trinh sát, về cơ bản chúng tôi đã hoàn thành, vẽ xong sơ đồ bố trí phòng ngự của địch.


Núi Sầm là một hòn núi độc lập, nổi lên giữa đồng bằng thuộc xã Hòa Trị, xung quanh là ruộng lúa, nằm cách xa vùng căn cứ của ta. Về địch, có Ban Chỉ huy Liên đội 226, một trung đội thông tin, một trung đội pháo hai khẩu 105 ly, cối 106 ly, 81 ly, ĐKZ, đại liên. Lưng chừng núi, địch xây các lô cốt, trên nóc bố trí đèn pha, quét sáng thâu đêm để phát hiện quân ta. Căn cứ được bố trí 12 lớp rào dây thép gai các loại, với hệ thống mìn dày đặc các loại. Ngoài lực lượng tại chỗ, chúng còn được hỗ trợ quan sát, thông tin trên đỉnh núi Chóp Chài, sự chi viện về pháo binh của lính Nam Triều Tiên tại gò Đá, núi Nhạn Tháp, không quân ở sân bay Đông Tác, sân bay Thọ Lâm.


Đại đội đặc công 202 được lệnh tập kích cứ điểm núi Sầm mở màn Chiến dịch Xuân - Hè năm 1971.

Đại đội 202 sử dụng 30 đồng chí, vũ khí trang bị gọn nhẹ: có sáu khẩu B40, ba khẩu cối cá nhân M79, lựu đạn chống tăng, còn lại là súng tiểu liên AK và thủ pháo.

Sáng ngày 20 tháng 02 năm 1971, tại khu rừng thuộc căn cứ gộp A4, Đại đội trưởng Thâu giao nhiệm vụ cho 3 mũi, tổ chức hiệp đồng chiến đấu, dự kiến các tình huống có thể xảy ra. Đồng chí Khôi - Chính trị viên, động viên bộ đội, yêu cầu các tổ Đảng, đảng viên, đoàn viên nêu cao quyết tâm chiến đấu.


Tôi thuộc mũi chủ công, Đại đội trưởng Thâu đi cùng, đột nhập phía Bắc; còn hai mũi đột nhập từ hướng Đông và hướng Tây. Sườn núi hơi dốc, trời vừa chập choạng tối, chúng tôi đã hành quân đến sát bìa thổ (nơi tiếp giáp giữa rừng và đồng bằng), cởi bỏ quân áo dài, chỉ mặc chiếc quần đùi bó sát thân người, đầu đội mũ vải rằn ri, tiến hành bôi trát ngụy trang toàn thân, kiểm tra lại vũ khí, trang bị lần cuối cùng.


Lệnh xuất phát!

Chúng tôi lặng lẽ vượt qua cánh đồng lúa. Lúc này, lúa đang thì con gái, xanh mướt. Chúng tôi vừa đi vừa căng mắt theo dõi tình hình địch, không một tiếng động phát ra. Phải mất gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới tiếp cận được chân núi Sầm.

Pháo sáng, mìn cóc, lựu đạn gài, việc cắt rào và mở rào thì vốn là nghề của tôi rồi, nên không có gì khó khăn. Nguy hiểm chủ yếu là mìn các loại, chỉ sơ sẩy là mìn nổ ngay. Mũi tôi đột nhập thẳng vào vị trí tên lính quét đèn pha, nó đội mũ sắt, ngồi trên lô cốt được đắp bằng các bao cát, ngay cạnh khẩu pháo 105 ly. Chúng tôi ở thấp nhìn lên rất rõ.


Khi đến hàng rào thứ 8, bỗng từ trên núi, một tên lính mồm phì phèo thuốc lá đi thẳng xuống chỗ chúng tôi. Chúng tôi nín thở chờ đợi, tôi rút dao găm ra chuẩn bị hạ sát nó, sao cho nhanh gọn không phát ra tiếng động. Rất may, nó rẽ đi vào một nhà nhỏ lưng chừng núi, đó là nhà tiêu, nó đi vệ sinh. Vệ sinh xong nó quay lên đỉnh núi. Không khí nghẹt thở đã qua. Tranh thủ chúng tôi tiếp tục bò lên, trước mặt nhà tiêu là ba quả mìn định hướng Claymore. Tôi nhanh chóng dùng răng cắn đứt hết các dây điện của mìn. Từ đây lên đỉnh núi có một lối mòn nhỏ, chỉ toàn rào bùng nhùng, không có mìn. Đèn pha địch quét qua quét lại trên đầu chúng tôi. Trước mặt có một vệt tôi, chúng tôi nhanh chóng chui qua lớp rào cuối cùng, vưọt qua giao thông hào bò tỏa ra tiếp cận các nhà lính, các hầm ngầm.


Tôi đứng ngay sau lưng tên chiếu đèn pha chỉ với tay là tôi túm được nó. Lúc này, anh Đạt đã đột nhập vào giữa sân, kê khẩu B40 lên các hòm đạn pháo nhằm vào nhà hai tầng, nơi ở của Ban Chỉ huy Liên đội 226, chờ đợi. Anh Dậu rẽ phải tiến sát chiếc lô cốt phía Nam. Đồng hồ chỉ 0 giờ 20 phút đêm.


Sau lưng tôi là một chiếc hầm chìm, địch mắc võng nằm ngủ, hầm to chứa khoảng một tiểu đội. Mặc dù đã đến giờ G, nhưng phân đội vẫn chưa nổ súng, tiếp tục chờ cho mũi hai và ba tiếp cận các mục tiêu còn lại.

Khoảnh khắc chờ nổ súng thật khó tả, không gian tĩnh lặng, địch vẫn không hề hay biết rằng chúng tôi đang ở ngay trong lòng chúng.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:10:42 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:53:14 pm »

Đúng 0 giờ 30 phút, Đại đội trưởng Thâu thấy đã chắc ăn, phát lệnh tiến công. Mở màn là quả đạn B40 của anh Đạt lao vút xé tan màn đêm. Ùng! Oàng! Tòa nhà hai tầng bùng lên một vầng lửa muốn sụp xuống. Tôi giật nụ xòe quả thủ pháo ném xuống trước mặt tên địch chiếu đèn pha, nghe tiếng nổ B40 nó giật mình theo phản xạ nhào xuống phía trước, hứng trọn cả quả thủ pháo của tôi chết tan xác. Xoay lại phía cửa hầm, tôi thả liên tiếp hai quả thủ pháo nữa. Hai tiếng nổ âm vang nối tiếp nhau, chỉ nghe tiếng rên nghẹn họng, không một tên địch nào sống sót.

Đúng như lời nói của một giáo viên huấn luyện chúng tôi khi ở miền Bắc: "Mỗi chiến sỹ đặc công là một chiếc B52 ném bom chính xác nhất, một tên lửa bắn chính xác nhất".

Núi Sầm là một ngọn núi nhỏ, nên tiếng nổ của các loại hỏa lực ta cộng hưởng gào thét, trút bão lửa dồn dập càng có uy lực hơn. Nhiều tên địch hoảng loạn từ lô cốt, giao thông hào nhảy bừa xuống hàng rào để tránh đòn.

Từ phía Đông Nam, một chiếc xe bọc thép bò lên quét đại liên vào sườn Phân đội 2. Tôi lấy khẩu B40 của anh Đạt còn duy nhất một quả đạn, lợi dụng các hòm đạn gỗ và chiếc xe tải kéo pháo tiến sát chiếc xe bọc thép, dùng kỹ thuật bắn ứng dụng, ngắm chính xác, nghiến răng bóp cò, một chóp lửa da cam bùng lên chùm kín thành xe, chiếc xe hụ lên rồi nằm im, lửa phụt ra nghi ngút. Nhìn thấy chiếc xe GMC to kềnh càng gần hai khẩu 105 ly, không dám đánh thủ pháo vì sợ sát thương anh em, tôi chĩa khẩu AK vào đầu xe bắn găm xuống mấy loạt. Bỗng một tiếng nổ kèm theo ánh chớp, tôi tối tăm mặt mũi ngã sấp xuống, máu từ hai chân, bụng bên phải chảy túa ra. Tôi đã bị mảnh lựu đạn găm vào, chợt nghĩ chết đến nơi. Lạ thay, chính lúc đó tôi lại thấy mình vẫn tỉnh táo và đứng lên được. Lúc này, đang chiến đấu và cũng không có ai bên cạnh để băng bó cho tôi, tôi đành mặc kệ vết thương đang tứa máu và tiếp tục cuộc chiến đấu.


Ba phát pháo hiệu xanh của ba phân đội bắn vọt lên trời, báo hiệu đại đội đã làm chủ được trận địa. Lúc này đồng hồ mới chỉ 0 giờ 37 phút. Thế là chỉ sau hơn bay phút, với lối đánh nở hoa trong lòng địch, chúng tôi đã đè bẹp hoàn toàn sức kháng cự của địch, toàn bộ quân địch ở đây đã bị tiêu diệt.


Đại đội nhanh chóng rút quân, để lại một bộ phận dùng bộc phá, thủ pháo phá hủy các loại pháo cối, xe vận tải. Không hiểu sao, tôi mất nhiều máu từ các vết thương mà vẫn đi được, rút ra khỏi trận địa theo anh em về hướng Tây. Hướng này, dốc thoai thoải dễ đi hơn. Tôi gặp Ái, người Nghệ An cùng là học sinh trường Hóa chất với tôi, anh bị mảnh lựu đạn US phạt mất một mảng thịt ở vai trái, máu chảy ra rất nhiều, cũng chỉ được băng tạm cầm máu.


Khi đã rút xuống đến ruộng lúa thì một loạt đạn AR15 của một tên địch còn sống sót từ sườn núi bẳn vút qua đầu chúng tôi, sau đó im bặt. Các loại pháo sáng ở các căn cứ xung quanh liên tiếp bắn soi sáng cả một vùng tạo điều kiện cho chúng tôi rút lui. Trên bầu trời, năm chiếc trực thăng vũ trang từ sân bay Đông Tác kéo đến, quét đèn pha, bắn rocket, đại liên chặn đường rút của quân ta. Lợi dụng địa hình địa vật của đồng lúa, đại đội đã rút lui về núi an toàn trước trời sáng.


Một lần nữa, chúng tôi lại chiến thắng giòn giã, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt hiệu suất chiến đấu cao, thực hiện đúng chiến thuật của binh chủng là bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, rút nhanh.

Kết quả trận đánh này: ta tiêu diệt Ban Chỉ huy Liên đội 226 với 160 tên địch, phá hủy hai pháo 105 ly, toàn bộ súng cối, các lô cốt, hầm ngầm của căn cứ này, bắn cháy một xe bọc thép, hai xe kéo pháo GMC, thu mười súng trong đó hai cối 60 ly, hai điện đài PCR25p; đơn vị không ai hy sinh, chỉ bị thương ba người.


Trời sáng rõ, khi vào đến núi, tôi kiểm tra vết thương, cả hai ống chân vẫn còn mảnh kim loại găm vào, bị bùn ruộng che kín, bụng bên phải bị một mảnh chui sâu vào. Tôi nghĩ hay là bị thủng bụng, và tôi chợt chột dạ, hồi đánh núi Thơm anh Sỹ cũng bị thương vào bụng, khi nằm trên cáng thương anh vẫn tỉnh táo nói chuyện, một lúc sau thì hy sinh ngay trên cáng thương.


Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì cho đơn vị, tôi được tặng Bằng khen và danh hiệu Dũng sỹ Diệt xe cơ giới, cán bộ đại đội đều được tặng thường huân chương. Gần cuối năm 1971, trong Đại hội chiến sỹ thi đua của tỉnh Phú Yên, tôi được thay mặt đơn vị báo cáo chiến lệ và thành tích của trận đánh này.


Về qua gộp A4, chia tay đơn vị, tôi, Ái và Dậu đi điều trị vết thương ở trạm xá Y12. Đến nơi, quân y sĩ rửa vết thương tiêm thuốc tê và mổ gắp hai mảnh ở bụng, chân cho tôi, ngoài mảnh lựu đạn của địch, có cả mảnh lựu đạn của quân ta. Riêng mảnh ở bụng, phải chọc que thăm dò gần ba mươi phút mới gắp ra được. Đến lúc này tôi mới yên tâm là không bị xuyên thủng ruột. Còn Ái, vết thương phần mềm ở vai trái, mất một miếng thịt to bằng lòng bàn tay, tuy không chạm xương nhưng phải nằm điều trị hàng tháng trời mới khỏi. Do bị thương nhiều lần, do cơ thể có sức đề kháng cao, mặc dù bị thương ngâm trong bùn đất, nhưng tôi không bị nhiễm trùng, vết thương cũng mau lành.


Nhằm đối phó với các hoạt động quân sự của ta, sáng ngày 26 tháng 2 năm 1971, địch dùng máy bay trực thăng đổ bộ một tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên xuống núi Ông La, xã Sơn Long, huyện Sơn Hòa. Ngay trong đêm hôm sau, đồng chí Chính - Tiểu đoàn 96, chỉ huy đơn vị đánh tập kích vào sở chỉ huy của tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên. Anh em đã mật tập, luồn qua được bọn gác bên ngoài, áp sát lều bạt của bọn chỉ huy, bất ngờ dùng lựu đạn, thủ pháo đánh phủ đầu tiêu diệt được 45 tên, trong đó có toàn bộ ban chỉ huy tiểu đoàn đang ngủ, phá hủy toàn bộ điện đài, thu hai súng ngắn.


Đêm 29 tháng 02 năm 1971, Đại đội 3, thuộc Tiểu đoàn 96, lại tập kích diệt gọn một trung đội lính Nam Triều Tiên ở eo Gió, phía Tây xã Hòa Định, rồi cũng tiểu đoàn này lại đánh thiệt hại nặng một đại đội quân Nam Triều Tiên ở cao điểm 509.

Trong khi đó còn một bộ phận của lính Nam Triều Tiên đi lùng sục đã gặp Đại đội 202 ở gộp A4. Hai bên nổ súng quyết liệt, lực lượng đại đội đặc công ít hơn địch nhiều lần, lại không quen đánh bộ binh, ta hy sinh đồng chí Khôi - Chính trị viên, đồng chí Hát - Trung đội phó. Sau trận này khoảng một tuần, tôi và Dậu khỏi vết thương. Từ trạm xá Y12 tôi trở về tìm đơn vị ở gộp A4, nhưng đơn vị đã rút về căn cứ hòn Đác. Trên đường tới hòn Đác, tôi phát hiện anh Hát hy sinh, nằm ngửa giữa hai gộp đá, cơ thể đang bị phân hủy mạnh. Tôi và Dậu đành lấy tăng nilon phủ lên người anh và dùng xẻng xúc đất đổ lên làm ngôi mộ nổi cho anh.


Theo anh em kể lại, sau trận đánh núi Sam, đơn vị chưa kịp rút thì gặp trận càn, tuy ta hy sinh hai nhưng đơn vị cũng diệt được năm tên địch. Sau trận này địch thu quân kết thúc cuộc càn quét.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:10:50 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:54:33 pm »

4.8. Đại đội đi trinh sát tại Hòn Sặt, Tuy Hòa I bị nổ mìn

Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1971, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên chỉ đạo chuẩn bị chiến trường để mở chiến dịch mùa Hè.

Lực lượng vũ trang của tỉnh hầu hết hành quân sang huyện Tuy Hòa I.

Đại đội đặc công 202 cùng hành quân với các đơn vị bạn. Chờ cho trời gần tối, chúng tôi vượt qua sông Ba (sông Đà Rằng), mùa này nước sông cạn không cần dùng thuyền mà lội bộ.

Tuy Hòa I, có những dãy núi rất cao, như núi đá Bia (núi mẹ bồng con - tức hòn Vọng phu) trông ra biển Đông.

Trên đường hành quân tôi ngồi nghỉ dưới một cây trám cổ thụ rất cao và to, hai người ôm không hết. Quả trám xanh, rụng đầy gốc cây, loại này đem kho cá ăn rất ngon lại hạn chế được mùi vị tanh của cá.

Đơn vị chúng tôi đóng quân ở khu vực có nhiều gộp đá, lúc di chuyển phải nhảy từ mỏm này sang mỏm kia, nếu trượt chân rơi xuống khe không vỡ đầu cũng gãy chân Đại đội tiến hành chỉnh huấn, lúc học tập còn đề cập cả việc cải cách ruộng đất, chia ruộng cho nông dân, ôn nghèo kể khổ...


Được vài ngày, Đại đội 202 nhận lệnh đi chuẩn bị chiến trường trinh sát Hòn Sặt thuộc xã Hòa Phong, huyện Tuy Hòa I. Cứ điểm này nẳm sát sông Ba, trước đây do quân Nam Triều Tiên đóng giữ, bây giờ giao lại cho một đại đội bảo an phòng thủ. Trong cứ điểm có hầm ngầm, các lô cốt xung quanh chủ yếu xây dựng bằng các bao cát nửa nổi nửa chìm, nối liền với hệ thống giao thông hào. Địch bố trí 14 lớp rào các loại rất kiên cố, đặc biệt là mìn dày đặc. Trong hàng rào, cây xấu hổ mọc kín, cao đến ngực, vì vậy khi tiến hành đột nhập trinh sát rất khó khăn.


Đi trinh sát lần này đơn vị tôi tổ chức làm ba mũi: Mũi 1 gồm có tôi (Mũi phó) đi cùng anh Thâu (Đại đội trưởng); Mũi 2 gồm anh Ngọc (Đại đội phó) và anh Hải (tổ trưởng ba người); Mũi 3 anh Nghiêm (Mũi trưởng) và anh Hải (liên lạc cũ) nay là Mũi phó. Ba mũi đột nhập theo ba hướng, tôi và anh Thâu đi mũi đột nhập vào giữa cứ điểm, mũi anh Ngọc phía bên trái, mũi anh Nghiêm đi bên phải.


Tôi và anh Thâu vừa tiếp cận hàng rào đầu tiên thì phía anh Ngọc nghe một tiếng nổ "bép", tôi vội nằm ẹp xuống. Địch ở trên đồi nhốn nháo chạy ra giao thông hào, một tên chắc là chỉ huy hỏi: "Cái gì đấy tụi bay?" Mấy thằng lính chiếu đèn pin chỉ trỏ, nói có tiếng nổ nhỏ ở phía ngoài rào. Riêng tôi, biết ngay các anh đã giẫm đúng mìn cóc, những nó chỉ nổ kíp, may mắn làm sao mìn không phát nổ. Địch vẫn yên lặng theo dõi, không có phản ứng, một lúc sau, lại tiếng của thằng chỉ huy nói: "Chắc là con nai đi ăn đêm vướng phải mìn thôi".


Tôi và anh Thâu nín thở lo lắng. Một lúc sau, địch lại đâu về đấy. Chúng tôi lại tiếp tục chui vào, cây xấu hổ nhiều quá, gai đâm vào người bị gãy nằm trong thịt đau nhói, tôi phải nghiến răng chịu đựng. Trên đường chui vào, gặp ngay quả mìn cóc vướng nổ, sợi dây thép từ chốt kéo căng buộc vào cọc dây thép gai. Tôi bình tĩnh chốt kim băng để vô hiệu hóa nó, rồi đánh dấu khi bò ra không chạm vào mìn, mìn cóc ở đây rất nhiều, xen lẫn với mìn pháo sáng, chỉ sơ sẩy là nổ ngay.


Khi đến hàng rào thứ bẩy, tôi đang chui sau anh Thâu thì "uỳnh", một tiếng nổ rất to, lửa bùng lên phía mũi anh Ngọc. Một quả mìn cóc đã phát nổ, sau đó là tiếng rên nghe rất rõ. Toàn cứ điểm báo động, địch chạy rầm rầm ra lô cốt và giao thông hào, đại liên và các loại súng chĩa thẳng vào hàng rào xả đạn; riêng chỗ anh Ngọc, chúng bắn xối xả. Tiếng cối cá nhân "cóc - bùm", cối 60 ly, 81 ly địch dựng nòng rót thẳng vào hàng rào ầm ầm, chóp lóe lên to như cái nia, thôi thì đỏ trời đỏ đất, đinh tai nhức óc. Pháo sáng các loại thi nhau bắn lên trời, sáng lực như ban ngày.


Tôi và anh Thâu dúi đầu sau cái cọc dây thép gai nhỏ bé tránh đạn. Trên đầu đạn đại liên chiu chiu liên hồi không dứt, chỉ cần ngóc đầu lên là trúng đạn ngay. Cứ nằm bất động như thế, lên không được, rút ra cũng không xong. Nhưng nếu không ra được, đến sáng địch ra lùng sục, chắc sẽ bị bắt sống. Tôi đã nghĩ đến phương án cuối cùng hai anh em với hai khẩu súng ngắn, hai quả lựu đạn thì chiến đấu được bao lâu, phải dành mỗi người một viên vào thái dương, hoặc nổ lựu đạn hy sinh cùng bọn địch. Nằm dưới mưa đạn không lúc nào ngừng, đồng hồ dạ quang đã chỉ gần 4 giờ sáng. Hai anh em bàn nhau mỗi lần đại liên thay băng đạn, với khoảnh khắc quý báu đó, phải liều chết bò dần ra, dù có phải hy sinh.


Lúc ra lại phải hết sức bình tĩnh, nếu không sẽ lại vướng mìn. Đạn vẫn bắn trên đầu, chúng tôi dán người xuống đất mà nhích dần ra, đến được hàng rào cuối cùng không ra được nữa vì đại liên bắn rát quá, trước mặt tôi là khu mồ mả của dân, nhưng mộ rất thấp, lại không có mộ xây. Hai anh em bảo nhau, đại liên ngớt bắn phải liều chạy ra vì lúc này trời đang sáng dần.


Chờ chúng thay băng đạn, chúng tôi lao nhanh về phía trước, vừa kịp dí đầu vào ngôi mộ đất, đại liên lại quét trên đầu, chúng chỉ hạ thấp nòng một chút là chúng tôi vỡ sọ. Sông Ba rất gần, chỉ cách không đầy năm mét, phải tụt được xuống sông thì mới thoát, lại phải liều vậy.


Nằm chờ hết loạt đạn, chúng tôi nhổm dậy chạy thục mạng lao nhanh về phía sông và cắm đầu nhảy bừa xuống. Ùm! Nước bắn tung tóe, thế là thoát chết. Đại liên địch lại quét qua khu mả, lúc này hai anh em đã ở dưới bờ sông, đạn bắn thẳng không thể trúng được nữa. Tranh thủ, hai anh em hè nhau chạy ngược xa cứ điểm, rồi lợi dụng địa hình che chắn chạy vào bìa rừng.


Trời bắt đầu sáng rõ mặt người, tôi trèo lên một cây cao quan sát về cứ điểm, địch đứng lố nhố ngoài giao thông hào chỉ trỏ xuống hàng rào. Mũi anh Nghiêm và anh Hải thấp nên cũng may mắn thoát được; còn anh Ngọc với anh Hải cao hy sinh tại chỗ trong hàng rào, không thể lấy xác ra được.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:10:58 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 07:57:22 pm »

Tôi muốn kể thêm chi tiết này. Buổi chiều, chúng tôi đi trinh sát, trên đường có gặp một con rắn bò qua trước mặt. Sau về Bắc, đọc được một số sách tâm linh họ viết rằng đó là "xà cản", nghĩa là đi đâu gặp phải kiểu này thường không gặp may, dễ gặp xui xẻo. Trong chiến tranh, đôi khi có những điều ngẫu nhiên đã xảy ra và người ta đôi khi ngộ nhận!


Mấy hôm sau, địch treo giải thưởng, một tên lính liều mạng bò vào lấy được một khẩu súng ngắn, một khẩu AK ra. Xác hai anh vẫn ở trong hàng rào, địch dùng trực thăng tưới xăng xuống và hỏa thiêu ngay trong hàng rào.

Chúng tôi lặng lẽ trở về đơn vị với nỗi buồn nặng trĩu vì thương nhớ hai anh. Mới hôm qua chúng tôi còn ngồi ăn cơm với nhau, cười đùa, mà hôm nay đã phải xa nhau vĩnh viễn.

Sau ngày giải phóng miền Nam, em anh Ngọc có viết thư hỏi tôi về trường hợp hy sinh của anh. Tôi tả lại chi tiết quá trình đi trinh sát và sự hy sinh của hai người. Tôi gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình anh cũng như bao gia đình khác phải chịu nỗi đau âm ỉ, nỗi đau mất mát của chiến tranh, mỗi lần nhắc lại nước mắt tôi lại rưng rưng muốn trào ra, nhớ các anh quá!


Sau khi chúng tôi đi trinh sát Hòn Sặt huyện Tuy Hòa I bị nổ mìn hy sinh hai đồng chí, Tỉnh đội cử Trưởng ban Tác chiến là anh Cầu xuống đơn vị làm công tác chính trị tư tưởng, ổn định tình hình đơn vị, nghiên cứu kiện toàn chỉ huy, giao nhiệm vụ cho đại đội trong thời gian tới.


Lúc này, Trung đoàn 28 "Bạch Mã" của quân Nam Triều Tiên đóng tại Đông Tác cùng với Trung đoàn 47 quân Ngụy đổ quân nống ra càn quét vùng núi Tuy Hòa I để thăm dò, ngăn chặn quân ta tấn công.

Đơn vị giao cho tôi và anh Mẹo - thuộc Ban Trinh sát của Tỉnh đội Phú Yên - phối thuộc đi nắm tình hình địch. Mẹo là người dân tộc ở Cao Bằng, rất giỏi đi trong rừng núi. Người anh cao, gầy nhưng rất nhanh nhẹn. Trước khi đi, mỗi người nhận hai nắm cơm vắt và muối rang đủ cho ăn hai ngày. Vũ khí mỗi người đem theo AK, mỗi khẩu AK có ba băng đạn và hai quả lựu đạn.


Sau khi xem bản đồ, dùng la bàn định hướng, chúng tôi cắt rừng Xiên Sơn, tiếp tục tìm đường xuống cứ điểm Hòn Sặt. Cứ đi một đoạn khoảng mười mét, lại bẻ một cành lá nhỏ để đánh dấu đường về. Chúng tôi cắt rừng mà đi, mắt căng ra phía trước, cảnh giác đề phòng gặp địch. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm đường mới cho đơn vị, vì vậy phải giữ được bí mật, an toàn để trở về đơn vị.


Hai anh em lầm lũi đi, chúng tôi bỗng giật mình nghe hai tiếng nổ ầm ầm của mìn Claymore dội vào vách núi. Cả hai nhanh như sóc ngồi thụp xuống nghe ngóng, có tiếng tiểu liên cực nhanh AR15 nổ choang choác, đạn bay qua đầu chúng tôi. Tiếng lựu đạn US nổ ầm vang, không hiểu địch chạm trán với đơn vị nào.


Sau này tôi được biết, hôm đó, quân Nam Triều tiên phục kích ở một con dốc, gần nương sắn của dân vùng giải phóng. Chúng đã nổ mìn giết chết hai dân thường. Bọn Nam Triều Tiên rất hay dùng chiến thuật phục kích, gài mìn định hướng Claymore nên rất nguy hiểm cho ai lọt vào trận địa của chúng.


Nghe ngóng không thấy chiến sự nổ ra, hai chúng tôi lại thận trọng bước đi, dỏng tai nghe ngóng, tăng cường quan sát.

Hôm thứ nhất trời gần tối, chúng tôi quyết định dừng lại không đi nữa. Tối nay đành ngủ lại giữa rừng, có võng nhưng để cơ động trong mọi tình huống chúng tôi trải võng ngủ trên mặt đất. Mỗi người gác hai tiếng. Giữa rừng đêm âm u, tiếng con chim "Bắt cô trói cột" cất lên đều đều, não nuột, tiếng cộc cộc của con chim gõ kiến mổ vào thân cây đều đặn như ru ngủ, cùng tiếng côn trùng rả rích giữa rừng khuya làm cho không gian xung quanh càng trở nên hoang vắng. Dù đã trải qua ngủ rừng qua đêm rất nhiều lần, nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy có gì rờn rợn, khi cả cánh rừng rộng lớn này chỉ có hai anh em.


Trời dần sáng, tôi gọi Mẹo dậy. Kế hoạch hôm nay là tiếp tục đi vạch tuyến như dự kiến. Chúng tôi ăn nửa nắm cơm, còn một nửa để dự trữ. Buổi sớm, sương rừng vẫn chưa tan hết, chúng tôi lầm lũi cất bước. Mỗi người cách nhau khoảng trên dưới mười mét. Bất ngờ, chúng tôi ngửi thấy thấy mùi thuốc lá thơm. Mẹo đi trước, tôi chỉ kịp nhận ra Mẹo ngồi thụp xuống rất nhanh sau gốc cây. Liền sau đó là hàng loạt súng AR15 bắn tới tấp. Sau có cả tiếng trung liên, lá rừng trúng đạn rơi lả tả xuống đầu tôi. Rồi tiếng cối cá nhân M79 "cóc, đoành", mảnh văng rào rào. Mẹo đi trước đã chạm trán địch. Lúc này chúng tôi nằm im cố gắng giữ bí mật, không bắn trả, để địch không biết chúng tôi nhiều hay ít. Chúng chia hai mũi bao vây chúng tôi. Không còn cách nào khác, đã bị lộ rồi, Mẹo nổ súng trước diệt được hai tên địch. Chúng lại nằm xuống tiếp tục bắn vãi đạn về phía chúng tôi. Tôi thấy mấy tên hung hăng lợi dụng các gốc cây tiến đánh về phía tôi. Nhân lúc ba tên lính Nam Triều Tiên vừa rời gốc cây di chuyển, tôi quất một loạt AK, đạn nổ đanh, hai tên bật ngửa ngã đè lên nhau, tên thứ ba trúng đạn vào chân không chạy được phải bò lui trở lại. Tôi và Mẹo chớp thời cơ chạy tháo lui về phía sau. Trong đầu chỉ còn suy nghĩ duy nhất chạy càng nhanh càng tốt. Nếu không nhanh chắc chắn sẽ bị địch bao vây. Đúng vậy, lúc này cả khu rừng trước mặt đều có tiếng súng, địch tràn quân lên. Tôi nghe rõ cả tiếng quân Nam Triều Tiên hô, vì không biết tiếng nên không hiểu chúng hô gì.


Chúng tôi khom người chạy, đạn đuổi theo trên đầu chiu chiu, cắm vào thân cây phầm phập. Chạy được một đoạn, đã quá mệt, chúng tôi chạy chậm lại, mồm mũi thi nhau thờ. Tôi và Mẹo thống nhất nhận định phía trước toàn là địch, không thể đi tiếp đành quay về đơn vị báo cáo. Cả hai nửa nắm cơm không dám ăn hết buổi sáng để dành cho bữa trưa đã bị rơi mất từ lúc nào không biết. Đành uống nước cho no cái bụng vậy, uống nước xong chúng tôi lần theo đường cũ đã đánh dấu để về.


Đến sườn một con dốc, nghe tiếng cành cây lay động rào rào. Trời ơi! Cả một đàn khỉ rất đông đang di chuyển. Mẹo giương súng AK lên, tôi không kịp ngăn thì đoàng, đoàng hai phát AK nổ vang, hai con khi từ trên cây rơi bịch xuống đất. Tôi chửi tên Mẹo, nó nhăn răng ra cười trừ. Trong lúc địch đang ở bổn phía mà nó nổ súng thì có khác gì "lậy ông tôi ở bụi này". Mẹo là người dân tộc có khác, nó bắn rất giỏi, cứ một phát súng là rụng một con khỉ, nếu không ngăn cản, chắc nó còn bắn nữa, đến hôm nay tôi vẫn nhớ nó, vừa giận lại vừa phục tài thiên xạ của nó.


Nó nài tôi đem một con, nó một con mang về đơn vị làm thức ăn. Con khỉ to và nặng quá, tôi đành túm đuôi kéo lê trên đất từng đoạn lại ngồi nghỉ. Vừa đói, vừa mệt, lại vừa tức thằng Mẹo, may mà xung quanh vẫn bình yên. Phải gần hai giờ chiều hai đứa mới về đến đơn vị. Vứt hai con khỉ xuống đất, chưa kịp báo cáo, chúng tôi tìm anh nuôi xin cái ăn, chẳng còn gì để ăn, đành ngồi cạo vỏ mấy củ sắn tươi, ăn sống cho đỡ đói vậy.


Chúng tôi báo cáo lại tình hình địch với chỉ huy đại đội và cán bộ Ban Tác chiến Tỉnh đội đang chờ ở nhà để nắm tình hình. Chúng tôi báo cáo bị địch phục kích và sự đánh trả của chúng tôi. Đại đội trưởng nghe xong cho chúng tôi trở về trung đội nghỉ.

Do trinh sát Hòn Sặt bị lộ, Tỉnh đội Phú Yên điều đơn vị tôi trở về căn cứ để nhận nhiệm vụ khác. Trên đường trở về hậu cứ, chúng tôi gặp các đơn vị bạn vẫn hành quân đi ngược chiều, họ không hiểu vì sao đơn vị tôi lại không tham gia chiến dịch nữa, mà quay trở về.


Đơn vị lại vượt sông Ba, sang bên kia rồi nghỉ lại. Buổi chiều, chúng tôi ra sông đánh cá, chọn chỗ nước xoáy ném thủ pháo xuống. Sau tiếng nổ ục, cá nổi lên trăng xóa. Cá sông Ba ngày ấy nhiều lắm, chỉ một quả thủ pháo vớt lên gần hai tạ, chủ yếu là cá gáy (cá chép) đang mùa cá đẻ, con cá cái nào cũng có trứng. Chúng tôi luộc cá, luộc trứng cá chấm muối ăn. Do ăn quá nhiều, ăn liền hai ngày, nên cả đơn vị bị đi kiết đau bụng, thật tai vạ, mọi người đi liên tục. Anh Văn quân y sĩ bảo kệ nó, không ăn nữa, cứ đi hết sẽ khỏi, mà khỏi thật. Âu cũng là bài học, một kỷ niệm của đời lính chiến trường.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:06 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:00:07 pm »

4.9. Tập kích Hòn Ngang, Củng Sơn (lần thứ hai)

Đầu tháng 5 năm 1971, thực hiện chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên, tập trung lực lượng tiến công giải phóng quận lỵ Củng Sơn. Lực lượng tham gia có Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 96, Đại đội đặc công 202 của chúng tôi và Đại đội đặc công 25.


Đại đội 202 tổ chức đi chuẩn bị chiến trường gồm anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Phước - Chính trị viên, tôi (Chí) - Mũi phó, anh Dẩm - Mũi phó, anh Cư - Mũi phó, anh An - Mũi phó, anh Hải "thấp" - Tổ trưởng.

Đến Huyện đội Sơn Hòa liên hệ công tác phối hợp, Huyện đội vẫn cử anh Diễm cán bộ, anh Y Nghệ dẫn đường. Đánh Hòn Ngang lần trước cũng do Y Nghệ đưa đường, nên chúng tôi đã quen nhau. (Sau giải phóng, Y Nghệ còn sống, tôi có vào thăm anh, dân làng bầu anh làm Trưởng bản, nhà ở Trại Cau, huyện Sông Hinh). Trong quá trình trinh sát, mũi của tôi và anh Thâu vẫn đột nhập theo đường cũ, nơi anh Tảo hy sinh ở hàng rào lần trước, nên ít nhiều tư tưởng của tôi cũng có suy nghĩ. Nhưng nhiệm vụ là nhiệm vụ, chúng tôi phải hoàn thành, về cơ bản ba mũi đột kích trinh sát đều vào được hàng rào cuối cùng.


Như thế bước đầu là thuận lợi, chúng tôi trở về đơn vị. Buổi sáng sớm, trên đường về, đi qua một trảng tranh, chúng tôi nhìn thấy từ xa sau mô đất có mấy chú gà rừng lông rất đẹp đang bới đất tìm mồi. Tôi ra hiệu cho mọi người lùi lại, mở chốt an toàn khẩu AK, vận dụng kỹ thuật đi khom, từ từ tiến lại rất nhẹ nhàng, mấy con gà vẫn chưa phát hiện ra tôi. Từ bên này mô đất, tôi nhảy vọt lên cao, chúc mũi súng bóp cò bắn một loạn đạn tằng tằng tàng, một con lăn quay tại chỗ giãy đành đạch, mấy con còn lại bay vọt lên các ngọn cây trong rừng. Tôi vội chạy đến nhặt con gà trống lên, vạch lông tìm mãi không thấy vết đạn, thì ra nó chết... vì quá hoảng loạn! Bữa trưa hôm ấy, chúng tôi được một bữa thịt gà rừng rang muối, thịt dai hơn gà nhà, nhưng ngon tuyệt vời. Đúng là đặc sản gà rừng.


Để giữ được bí mật kết quả đi trinh sát, khi gần về đơn vị, dù có gặp khó khăn hay thuận lợi, chúng tôi bảo nhau cứ nói chuyện thật to, nét mặt phải tươi cười, anh em theo dõi phán đoán là thuận lợi thì tư tưởng yên tâm, có lợi cho ý chí quyết tâm khi bước vào trận đánh. Đây đúng là một liệu pháp tâm lý trong chiến đấu.


Chuẩn bị đi trinh sát Hòn Ngang lần thứ hai thì cơn sốt rét ập đến quật ngã, tôi nằm liệt trên võng không đi cùng anh em được. Phải mất mười ngày uống thuốc cùng tiêm vào hai mông tôi mới cắt được cơn sốt.

Hôm tôi ra rẫy của đơn vị nhổ sắn về cho anh nuôi, bộ phận cán bộ trinh sát cũng vừa về. Trông mặt ai cũng buôn, các anh thông báo bị địch phục kích, Hải "thấp" đã hy sinh. Nhà Hải chỉ có một mình là con trai, trong chiến đấu không hiểu vì sao, cứ con độc đinh lại rất dễ bị hy sinh. Hải "thấp" quê Nam Hà, nhà theo đạo Thiên chúa, có bộ mặt đẹp trai rất đặc trưng. Mấy lần bị thương với tôi đi trạm xá, đi lấy gạo có rất nhiều em thích. Tình yêu của người lính trong chiến tranh rất hiếm hoi, nó thoảng qua vì không đủ thời gian để đọng lại. Tôi nghĩ nếu mình còn sống sau chiến tranh vẫn ở trên đất Phú Yên chắc cũng lấy vợ Phú Yên. Con gái Phú Yên có nước da trắng và rất xinh xắn. Trong cuộc chiến đấu cam go và ác liệt cái chết đến nhanh và nhẹ tựa lông hồng, ai cũng có thể bị hy sinh. Vì vậy, suốt thời gian ở chiến trường tôi không viết thư về nhà, tôi cứ nghĩ thư chưa về đến nhà có thể mình đã hy sinh rồi. Do không nhận được thư tôi gửi từ chiến trường ra, mẹ tôi ở nhà luôn sống trong tâm trạng khắc khoải chờ mong con.


Ngày 12 tháng 6 năm 1971, sáng sớm trời còn mù sương, đại đội tôi hành quân vượt qua núi Ông Đác sang tập kết tại gộp Hòa Nguyên. Đơn vị đắp sa bàn, thảo luận rất sôi nổi, nhiều tình huống được nêu ra, vì trận đánh này đại đội được ưu tiên nổ súng trước, do có nhiều đơn vị cùng tham gia chiến dịch. Ban Chỉ huy Tỉnh đội Phú Yên cử anh Tường - Trợ lý Tiểu đoàn 13 làm phái viên tăng cường cho Ban Chỉ huy Đại đội 202. Anh người cao, thanh mảnh, đẹp trai. Anh đi cùng với tôi - Mũi phó; còn anh Lênh Mũi trưởng - quê ở Nghĩa Hưng, Nam Định. Sau giải phóng, tôi được biết anh Tường còn sống và đã lấy vợ tên là Xuân, người tỉnh Phú Yên.


Hòn Ngang, Củng Sơn là một cứ điểm phòng ngự có chiều sâu mà chúng tôi đã đánh tiêu diệt lần thứ nhất (đêm ngày 3 tháng 10 năm 1970). Địch đóng quân ở đây có một trung đội thông tin, một đại đội bảo an, một trung đội thám báo, Ban Chỉ huy Liên đội bảo an 252, một trung đội hai khẩu pháo 105 ly, cối 106 ly, 81 lỵ, 61 lỵ. Sau lần bị quân ta tập kích lần trước, địch đã củng cố hệ thống hầm ngầm, giao thông hào, lô cốt ngang dọc chằng chịt. Giữa các lớp rào phía Đông, địch bố trí một trung đội để chặn quân ta khi bị tấn công, trước khi vào sở chỉ huy trung tâm, chúng bố trí ba lớp rào dây thép gai vây quanh, sau hàng rào là hệ thống giao thông hào, các lô cốt cỏ một lô cốt xây bằng đá xanh cao hơn mười mét, để tạo ra cử điểm phòng ngự có chiều sâu. Đánh giá tổng quát đây là một cứ điểm mạnh, cứng và rắn.


Ta muốn giải phóng quận lỵ Củng Sơn thì đầu tiên phải đánh chiếm được cứ điểm này. Cả bốn mũi của đại đội tôi gồm 40 cán bộ, chiến sĩ vừa tiếp cận vào chân hàng rào thứ nhất, địch báo động bắn đại liên ra hàng rào ngoài cùng. Hồi này, đêm tối sợ đặc công ta đánh nên chúng thường xuyên báo động, kể cả xả súng bắn vào hàng rào canh chừng, chứ không phải do ta bị lộ. Vì vậy, việc đánh các cứ điểm của địch ngày càng trở nên khó hơn rất nhiều. Bầu trời bỗng nhiên mây đen kéo đến, sấm chớp ầm ầm, trời mưa như trút nước, vô cùng thuận lợi cho việc cắt hàng rào không sợ tiếng động, chỉ cần cẩn thận, khắc phục mìn gài của địch. Lúc này mới 8 giờ tối, bỗng nhiên bên kia Hòn Ngang chớp lửa nổi lên ầm ầm. Tiểu đoàn 13 có nhiệm vụ đánh vào Chi khu Củng Sơn bị địch phát hiện phải nổ súng trước, yếu tố ưu tiên nổ súng trước của đơn vị tôi đã không còn. Tai hại nhất, nguy hiểm nhất đối với cách đánh đặc công là yếu tố bí mật bất ngờ đã mất.


Cả cứ điểm Hòn Ngang báo động, địch chạy ra công sự vào các lô cốt. Chúng xả súng các loại bắn ra hàng rào, tiếng ầm vang của đạn cối, đùng đoàng của súng chống tăng M72, của súng M79, tiếng rít réo của các khẩu đại liên, dàn đồng ca chết người này kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Sau khi Tiểu đoàn 13 tạm rút ra, địch không thấy ta nổ súng tấn công, chúng ngỡ là du kích quấy rối, nên tạm ngưng bẳn, nhưng địch vẫn thường trực chiến đấu cảnh giác sợ ta đánh tiếp.


Tất cả bốn mũi nằm im ở sườn đồi, lực lượng ta chưa ai thương vong, cứ thế nằm yên tại chỗ chờ đợi thời cơ, không mũi nào rút lui.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:13 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:02:12 pm »

Đồng hồ chỉ 3 giờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1971, địch lúc này tin rằng ta không đánh nữa nên có phần bớt cảnh giác hơn. Mưa lúc đó cũng đã tạnh. Chúng tôi dầm mình trong mưa ướt như chuột lội, nhưng không ai cảm thấy lạnh, thần kinh lúc này tập trung hết về phía địch.


Đến cách hàng rào cuối cùng khoảng bốn mét, mặt đất ở đây bằng phẳng, địch cạo sạch cỏ trống lốc. Anh Tường bảo tôi vào kiểm tra, tôi để khẩu AK lại, chui người vào cho dễ, tôi đã sờ thấy mìn định hướng Claymore, dịch ra hai bên phải trái đều có mìn, chúng bố phòng khoảng cách hai mét một quả. Tôi nhanh chóng dùng răng cắn đứt dây của cả ba quả mìn, quá nguy hiểm, nếu không vô hiệu hóa được chỉ cần địch điểm hỏa thì cả phân đội chúng tôi bị hất văng xác xuống chân đồi. Tôi bò ra báo cáo cho anh Tường và anh Lênh biết, mọi người thở phào nhẹ nhõm.


Địch đã vào các nhà lính nằm nghi, chỉ còn lại bọn lính canh gác. Một tên lính gác vừa đi khuất sau dãy nhà lính, chúng tôi nhanh chóng chui qua lớp rào cuối cùng, tụt ngay xuống giao thông hào. Các lô cốt vòng ngoài đã ở phía sau, trước mặt là các dãy nhà lính ở, có tên còn nghêu ngao cất tiếng ca vọng cổ, có tiếng đài vọng ra.


Còn thời gian, chúng tôi chia nhau áp sát các lô cốt, ụ súng, các nhà lính. Đột ngột, tiếng đùng đoảng, quả đạn B40 của mũi anh Minh - Chính trị viên phó, ở phía Tây Nam phát hỏa mở màn cho trận đánh. Toàn phân đội áp dụng lối đánh phủ đầu, đánh lướt làm cho chúng hoảng loạn, cả vòng trong và vòng ngoài bị bất ngờ.


Bị đòn tập kích phủ đầu bất ngờ, địch hoàn toàn bị choáng váng. Một tên địch đội một tấm tôn lên người ngụy trang bò ở trong sân như con rùa. Bằng một loạt AK, anh Lênh đã bắn găm xuyên qua tấm tôn, tên địch chết ngay tại chỗ. Cả mũi thực hiện ngay lối đánh truyền thống của đơn vị đánh thọc sâu vào sở chỉ huy. Lợi dụng có ba lớp rào bao bọc, địch điên cuồng chống trả, đại liên trong trung tâm bắn ra mãnh liệt, một tên sĩ quan mặc áo sơ mi trắng đứng trên nóc lô cốt đá xanh, vừa ném lựu đạn US xuống, vừa kêu gọi bọn lính chống trả.


Lúc này, tôi đã đánh đến sở chỉ huy, anh Lênh đánh một quả thủ pháo vào một nhà tôn nổ rầm, lửa phụt ra cửa, một quả lựu đạn US nổ, anh Lênh ngã vật xuống, máu từ bụng trào ra, hai tay anh ôm bụng. Anh Khương y tá chạy lại băng bó cho anh Lênh. Phải giải quyết cái lô cốt đá xanh và ụ đại liên phía trái cách tôi chừng mười lăm mét. Tôi lại trèo qua ba lớp rào ra lấy khẩu B40 kiễng chân chúc xuống bắn găm vào khẩu đại liên, ụ đại liên im bặt. Xoay người lại, tôi nhắm lô cốt đá xanh, nó nằm sau một nhà lợp tôn rất khó bẳn. Tôi đứng bắn, đùng, quả đạn bay qua mái nhà, chui qua chóp che của lô cốt vọt đi, tên sĩ quan thụt đầu chạy xuống không dám ném lựu đạn xuống nữa. Tôi lắp tiếp quả đạn thứ ba tiếp tục nhằm vào lô cốt đá xanh bắn tiếp, nghe tiếng cách của kim hỏa, quả đạn không bay ra, chỉ nghe tiếng xè xè trong súng. Do liều phóng ẩm, nó đã không nổ được để đẩy quả đạn đi. Tôi giữ nguyên hướng khẩu B40, lắp tiếp quả đạn khác, rồi bóp cò. Đùng, đoàng, quả đạn bay ra cắm vào nóc nhà tôn phát nổ, từng mảng tôn bay tứ tung. Khi bắn B40 tôi quên di chuyển, một thằng địch đứng ờ góc lô cốt bắn một loạt AR15, một viên đạn xuyên vào vai trái, khẩu B40 rời khỏi tay tôi rơi bịch xuống đất, máu tuôn ra ướt đẫm một bên người, tôi không thể tự băng bó được, vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi kết thúc trận đánh.


Mũi hai và ba sau khi bấm hai dàn mìn định hướng DH10, Đạt xạ thủ B40 bắn liên tiếp hai quả, hạ hai lô cốt đầu cầu và tất cả các mũi xung phong. Anh Luật - Mũi phó, người quê Hà Bắc, đánh thọc sâu vào sở chỉ huy căn cứ. Khi đang trèo trên hàng rào vào trong bị trúng một loạt đạn tiểu liên cực nhanh, anh hy sinh, người nằm vắt ngang hàng rào. Một kho đạn cối trúng thủ pháo phát nổ rền vang, lửa phụt lên cao, mảnh bay xa ra đến tận hàng rào ở chân đồi.


Khi đánh vào sở chỉ huy liên đội, anh Tường - Phái viên của Tỉnh đội - bị một quả lựu đạn US nổ gần người, một mảnh găm vào làm mù một mắt, một mảnh lựu đạn làm bay ngón tay cái, bay ốp báng khẩu súng ngắn K54 súng văng ra xa; anh Lâm, người Hà Tây bị trúng mảnh lựu đạn vào bụng, ruột lòi ra ngoài, anh lấy hai tay ôm bụng tự chui rào ra ngoài.


Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, nhất là trong sở chỉ huy địch, ta và địch giành giật nhau từng ụ súng, từng hầm ngầm.

Riêng mũi thứ tư, các anh đã dùng B40, M79 thủ pháo diệt gọn một trung đội địch đóng giữa hàng rào phía Đông cứ điểm.

Sau 30 phút chiến đấu với ý chí quyết tâm rất cao. Đại đội 202 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tuy đơn vị bạn bị lộ nổ súng trước, nhưng đại đội vẫn kiên trì chờ đợi thời cơ, thực hiện lối đánh thọc sâu truyền thống, nhanh chóng diệt gọn ban chỉ huy liên đội địch. Tiêu diệt một đại đội địch, một trung đội pháo 2 khẩu 105 ly, một trung đội thám báo, một trung đội thông tin, phá hủy một kho đạn, xác địch nằm ngổn ngang, trận đánh kết thúc.


Đại đội trưởng Thâu bảo tôi ra cắt mở rộng hàng rào, để cho Đại đội 3, Tiểu đoàn 96 bộ binh lên chốt giữ. Hôm sau, đơn vị bạn tiếp tục tiêu diệt nốt những tên còn sống sót trong các hầm ngầm. Anh Lênh - Mũi trưởng của tôi, được anh em khênh về trạm trung phẫu, khi mổ thấy gan anh đã đập nát, anh hy sinh và được chôn tại khu gộp Hòa Nguyên.


Tôi dẫn anh Lâm bị thương lòi ruột về đội phẫu. Lúc ấy không có gì úp vào để băng, tôi động viên anh cố gắng. Trời đã sáng, chiếc máy bay trinh sát L19 bay rất thấp, nó lượn đi lượn lại tìm quân ta. Tôi phải dẫn anh Lâm ẩn tránh đi qua được bãi tranh vào rừng, cối 106 ly ở chi khu bắn đuổi theo nổ inh tai, lửa bùng to như cái nong. Tôi đi lạc đường phải mất gần một tiếng đồng hồ mới tìm thấy đội trung phẫu đóng quân bên bờ suối. Tôi mừng quá bàn giao anh Lâm cho quân y cấp cứu. Thật thần kỳ, bị thương lòi cả ruột mà anh Lâm vẫn đi được. Anh Lâm được cứu sống và sau đó trở về miền Bắc. Còn vết thương bả vai trái của tôi máu không chảy nữa, tôi nhận một nắm cơm anh nuôi phát cho tự đi về trạm xá Sơn Hòa điều trị. Cho đến nay viên đạn tiểu liên cực nhanh vẫn nằm ở vai trái tôi, tôi để đấy vẫn chưa mổ lấy ra.


Sáng hôm sau, Đại đội 3, Tiểu đoàn 96 chốt giữ Hòn Ngang liên tục bị địch pháo kích, ném bom, các đụn khói bốc lên. Ai đã từng giữ chốt mới thấy nó ác liệt như thế nào.

Tiểu đoàn 13 tiếp tục phối hợp với một trung đội công an vũ trang tỉnh đánh địch ở sân bay và thôn Bắc Lý. Trận đánh ác liệt kéo dài cả ngày hôm sau. Ta đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an, nhưng không làm chủ được trận địa, mục tiêu sân bay dã chiến giao cho Đại đội đặc công 25 đánh. Nhưng do nước sông Ba dâng cao, đại đội không vượt được sông, nên không tiêu diệt được mục tiêu này.


Ngày 19 tháng 6 năm 1971, Tiểu đoàn 13, Đại đội 3 của Tiểu đoàn 96 đánh địch phản kích giữa ban ngày. Nhờ có pháo chi viện, địch chiếm lại cứ điểm Hòn Ngang.

Ta rút khỏi Củng Sơn, kế hoạch giải phóng quận lỵ Củng Sơn không thực hiện được.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:20 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:04:40 pm »

Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, Đại đội 202 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, tôi và nhiều anh em được tặng Bằng khen và danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng.

Sau trận Hòn Ngang, đại đội rút về căn cứ để tập huấn chỉnh quân, bổ sung thêm một số anh em ở đồng bằng lên, trong số đó có Châu ở xã An Ninh, anh Cảnh ở huyện Sông Cầu, một số anh em ở Đại đội vận tải 23.

Đơn vị lại tổ chức đi lấy gạo, đánh địch vùng ven thị xã.

Sau khi anh Lênh - Trung đội trưởng, hy sinh, đại đội phân công tôi thay anh phụ trách trung đội và bầu chọn tôi đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua tỉnh Phú Yên cùng anh Thâu - Đại đội trưởng - địa điểm là khu rừng phía Bắc xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa ở phía Phú Yên. Cả tỉnh có 79 đại biểu, tôi vinh dự được thay mặt Đại đội đặc công 202 báo cáo điển hình và trình bày chi tiết trận tập kích núi Sầm để các đơn vị tham khảo, học tập rút kinh nghiệm. Đại hội đang điễn ra thì tên Thất (Thất đen), Bí thư Huyện ủy Sông Cầu là gián điệp của CIA bị ta phát hiện. Chưa kịp bắt nó đã bỏ chạy, được trực thăng của địch đón về thị xã Tuy Hòa.


Với cương vị là Bí thư Huyện ủy, nó nắm được rất nhiều bí mật của ta, vì vậy Tiểu đoàn bộ binh 9 đóng ở huyện Sông Cầu nhiều lần đi chiến đấu thì không ít lần bị tổn thất.

Một vinh dự to lớn đối với các lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Phú Yên là ngày 20 tháng 9 năm 1971, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ký quyết định tuyên dương và tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam cho Đại đội đặc công 202, đồng chí Lương Tấn Thịnh - Đại đội trưởng - cũng vinh dự được nhận danh hiệu cao quý này.


Đại đội đặc công 202 từ ngày thành lập tháng 2 năm 1964 đến tháng 9 năm 1971, đã đánh 191 trận, tiêu diệt 22 đại đội địch (có hai đại đội Mỹ, một đại đội Nam Triều Tiên), 38 trung đội, một chi khu, ba liên đội bảo an, loại khỏi vòng chiến đấu 4.474 tên địch (cỏ 927 lính Mỹ, 284 lính Nam Triều Tiên, 10 lính Úc), thu được 505 súng các loại (có 15 đại liên, 12 súng cối 60 ly), phá hủy 31 xe quân sự, hai máy bay và nhiều kho tàng các loại.


Đại đội được khen thưởng:

- 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba

- 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất

- 6 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì

- 4 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba

- Được tặng danh hiệu Đại đội dũng sĩ diệt Mỹ

- 2 cờ Thành đồng quyết thắng

- 2 cờ Dũng mãnh kiên cường đánh mạnh diệt gọn

- 1 cờ 10 năm chiến thắng vẻ vang

- 1 cờ Đời đời nhớ ơn Bác

- 1 cờ mang tên Đồng Phước Huyến

- 1 cờ luân lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.


Đến lúc này, về cá nhân có 2 đồng chí được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng:

- Liệt sĩ, Đại đội trưởng Lê Trung Kiên quê Hòa Hiệp, tỉnh Phú Yên.

- Đại đội trưởng Lương Tấn Thịnh quê Hòa Hiệp, tỉnh Phú Yên (sau được điều động lên Quân khu 5 công tác và đã hy sinh trong một trận đánh ở tỉnh Quảng Nam).

Hôm nhận quyết định phong Anh hùng, Tỉnh đội Phú Yên thưởng cho đơn vị tôi một đài National, mỗi người một bộ quần áo y phong, cho một con lợn để liên hoan.

Trong thành tích chung của đơn vị, tôi cũng tự hào là đã tham gia chiến đấu, chiến thắng nhiều trận đánh oanh liệt, góp phần tô thắm lá cờ của Binh chủng Đặc công anh hùng!

Cảm phục trước những chiến công anh hùng của Đại đội 202, một nhạc sĩ của tỉnh Phú Yên đã sáng tác một bài hát để ca ngợi đơn vị, tôi đã thuộc lòng bài hát này, với những ca từ:

   Hát mừng chiến sĩ 202:
   Phú Yên lại hát mừng chiến sĩ đơn vị 202
   Chiến công anh hùng lừng lẫy cho đất nước thêm hùng vĩ
   Xuất quân là thắng vinh quang, trên 5.000 giặc đã tan thây
   Đường đi đánh Mỹ đêm ngày dù gian khổ anh đâu ngại gì
   Non sông reo vui đơn vị anh hùng đất Phú
   Ôi vinh quang thay đơn vị anh hùng 202
   Ngàn năm Nhạn - Tháp sông Ba còn vang mãi khúc ca chào mừng.

Bài hát vang lên là hồi kèn xung trận cổ vũ đơn vị 202 và các lực lượng vũ trang Phú Yên anh dũng tiến lên giết giặc lập công.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:27 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:05:58 pm »

Tổng tiến công chiến lược năm 1972

Từ tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã họp và đề ra nhiệm vụ của quân và dân ta là "kịp thời nắm bắt lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tấn công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên toàn Đông Dương, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua.."


Ngày 27 tháng 3 năm 1972, Ban Cán sự Đảng, Ban Chỉ huy Tinh đội Phú Yên họp kiểm tra tình hình chuân bị Chiến dịch Hè, những điểm chính trong phương án Chiến dịch Hè năm 1972 của tinh Phú Yên là:

- Dùng Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 9, ba đại đội đặc công (202 25 và 201), hai đại đội trợ chiến (167 và 2), haị đại đội công binh (19 và 50), cùng bộ đội du kích hai huyện Đồng Xuân và Tuy An, kiên quyết tiêu diệt được 2/3 lực lượng địch tại chỗ, ngăn chặn đánh bại lực lượng giải tỏaa chi khu, giải phóng đại bộ phận nông thôn gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy An.


Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ huy Tỉnh đội, Đại đội 202 có nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường tại huyện Đồng Xuân, mục tiêu là Trung tâm Huấn luyện biệt kích Xuân Phước.

Đại đội thành lập tổ trinh sát, gồm có anh Thâu - Đại đội trưởng, anh Phước - Chính trị viên, tôi - Mũi trưởng, anh Oanh người Thái Bình - Mũi phó của tôi, anh Hải - Đại đội phó, anh Chất - Chính trị viên phó. Cứ điểm này đại đội tôi đã đánh một lần (ngày 28 tháng 8 năm 1970), nên địch rất cảnh giác. Cứ khi trời tối là chúng bắn tiểu liên cực nhanh, cối cá nhân M79 vào hàng rào để chống đặc công ta đột nhập. Vì vậy, anh em chúng tôi thường nói với nhau mỗi lần chui rào vào trinh sát là như một lần đi vào cửa tử.


Trong tháng 1 năm 1972, tổ trinh sát liên tục đi trinh sát, có lần qua sông Kỳ Lộ, nước dâng cao, khi tôi bơi qua sông bị nước cuốn đẩy vào bụi tre gai, gỡ mãi mới bơi ra được.

Do địch đề phòng cảnh giác rất cao, đèn pha các loại dày đặc quét ra hàng rào, nên rất khó đánh theo lối mật tập luồn sâu. Đại đội lên phương án vừa mật tập vừa cường tập, sau đó dùng lối đánh truyền thống thọc sâu chia cắt địch để tiêu diệt, khi cách hai lớp rào đến giao thông hào sẽ đặt một dàn mìn định hướng DH10, 6 quả để phá đứt rào.


Đầu tháng 4 năm 1972, đại đội hành quân đi chiến đấu. Buổi trưa bộ đội đang nằm nghỉ ven một con suối cạn, trên bầu trời xuất hiện một chiếc máy bay trinh sát OV10 bay khá cao, bỗng nó chúi xuống phóng một quả rocket khói vào đội hình đơn vị tôi đang nghỉ chân, hai chiếc phản lực F105 đang lượn vòng tròn nhanh chóng chúc xuống cắt bom. Bom rơi xuống đúng vào đội hình đơn vị, chúng tôi chỉ kịp nhảy xuống hầm trú ẩn. Ở đây từng có đơn vị bạn trú quân nên đã có nhiều hầm hố trú ẩn.


Bom nổ ầm ầm, chưa kịp ra khỏi hầm để chạy thì chiếc thứ hai lại rít lên cắt bom tiếp. Sức ép của bom làm tôi tức ngực, khó thở như cá thiếu oxy, nếu không liều chạy đi thì quả bom sau có thể trúng hầm, nên tiếng bom vừa dứt chúng tôi vọt ra khỏi hầm cứ theo con suối cạn mà chạy. Khi nghe tiếng rít xoèn xoẹt máy bay lao xuống thì lại nằm úp mặt vào đất, bom nổ mảnh bay văng vào đá tóe lửa, lại vùng lên chạy.


Khi những chiếc phản lực hết bom mang theo, chúng bắn pháo 20 ly theo dọc con suối cạn, đạn nổ hai lần choang choác. Khoảng ba mươi phút, trận oanh tạc kết thúc, chúng tôi nhanh chóng trở lại hầm trú ẩn để lấy ba lô, thì một cảnh tan hoang hiện ra trước mắt, nhiều chiếc võng bị mảnh bom phá nát, chiếc đài ấp chiến lược vỡ tan, một hố bom đánh trúng căn hầm chúng tôi trú ấn, chỉ chậm và không quyết đoán ra khỏi căn hầm này thì bây giờ mấy anh em phân đội tôi đã không còn ai nữa.


Đêm 09 tháng 4 năm 1972, tổ trinh sát đi kiểm tra cứ điểm lần cuối trước khi nổ súng, cũng như những lần đột nhập trước, tôi lại bò qua các lớp rào. Anh Oanh cầm khẩu AK bò theo sau, lúc này khoảng 9 giờ tối, điện trong căn cứ sáng choang, đèn pha địch bố trí trên các lô cốt quét đi quét lại đan chéo nhau.


Bọn lính gác ngoài giao thông hào, trong lỗ châu mai thỉnh thoảng lại bắn ra hàng rào, cối cá nhân M79 cũng bắn vào chỗ mà chúng nghi ngờ, hễ trúng vào ai trong chúng tôi là người đó chết. Có thể nói mỗi lần đi trinh sát ví như một lần đánh trận. Anh em so sánh, cứ một đêm chui rào người già đi bằng ba năm thời gian sống ngoài Bắc.


Tôi nghiêng người chui qua một lớp rào bùng nhùng, bỗng ầm, mặt mũi tôi tối sầm, một quả mìn phát nổ khi tôi chống tay trái xuống đất, quả mìn dip gài từ hồi bọn Mỹ đóng ở đây, lâu ngày cỏ đã mọc phủ lên, tôi đã kiểm tra rất kỹ nhưng không phát hiện được. Tay trái đeo chiếc đồng hồ Seiko mượn của anh Vĩ bay mất, tay phải tôi sờ thấy hai xương cổ tay trái nhô ra, đứt động mạch, máu phun ra xối xả. Tôi nghĩ chắc chắn sau tiếng mìn nổ, sẽ là một trận mưa đạn trong căn cứ trút vào nơi tôi nằm. Nhưng lạ thay, không gian vẫn yên lặng, địch trong căn cứ vẫn không có động tĩnh gì, chẳc chúng nghĩ đây là tiếng nổ của quả M79, do bọn chúng bắn ra hàng rào. Đối với tôi, đó là một may mắn hy hữu trong cuộc đời chinh chiến mà đôi khi chúng ta không thể giải thích được vì sao..


Anh Oanh bò lên, xé băng cá nhân buộc ga rô cho tôi. Thời gian cũng không biết mất mấy phút, nhưng lúc này đầu óc tôi vẫn thấy tỉnh táo, mắt trái không mở được, má trái bị sức ép mìn nổ gần phá ra một vệt dài, lúc này cũng hết băng, nên kệ cho máu chảy tự do. Không thấy địch phản ứng gì, tôi quyết định chui ra, lúc này đang ở hàng rào thứ bẩy, chỉ còn một tay phải khi chui rào rất khó khăn. Anh Oanh vướng rào không thể hỗ trợ tôi được. Như có sức mạnh vô hình giúp sức, cuối cùng tôi cũng chui ra được hàng rào ngoài cùng. Ngồi nghỉ một lát, do mất nhiều máu, người tôi rét run, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Ngồi chờ đến 3 giờ sáng, các anh ở hai mũi kia mới về đến chỗ chúng tôi.


Bây giờ phải vượt qua sân bay dã chiến, tôi lại không thể bò được vì một bàn tay đã bay mất. Đành liều vậy, phải đứng lên đi khom thôi. Nhờ ánh sáng đèn pha từ căn cứ quét ra, tôi tự đi qua sân bay, lúc này các anh mới thay nhau cõng tôi về bìa thổ.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:40 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:06:37 pm »

Trời bắt đầu sáng. Các anh trong tổ trinh sát lúc này mới kiểm tra ga rô tay tôi. May mắn thay, trong điều kiện trời tối, trong hàng rào mà anh Oanh ga rô cầm máu cho tôi rất chính xác, nếu không tôi đã tắt thở ngay trong hàng rào rồi. Tôi mang ơn anh suốt đời. Khi tôi đi bệnh xá Đồng Xuân điều trị, anh cùng đơn vị đánh cứ điểm này và anh đã anh dũng hy sinh. Tôi chỉ biết láng máng quê anh ở Thái Bình, nhưng không biết huyện và xã nên không có dịp về thăm quê anh được.


Sau khi tôi bị thương, anh Đón lên thay chỉ huy mũi. Đêm 12 tháng 4 năm 1972, Đại đội 202 tiến công cứ điểm Trung tâm Huấn luyện biệt kích Xuân Phước lần thứ hai. Trận đánh diễn ra ác liệt. Anh Hải - Đại đội phó, lên kiểm tra mìn định hướng, bò về sau chưa đủ khoảng cách an toàn, các mũi bạn đã nổ súng. Anh Đón điểm hỏa dàn mìn định hướng nổ, quét sạch hai hàng rào, nhưng anh Hải người Hải Phòng bị sức ép mù cả hai mắt.


Tuy phải đánh một phần cường tập, nhưng Đại đội 202 đã dũng cảm đánh thọc sâu thẳng vào ban chỉ huy liên đội. Sau 40 phút chiến đấu rất ác liệt, đại đội đã làm chủ trận địa diệt gọn Ban chỉ huy Liên đội 254 cùng một đại đội địch, một trung đội pháo 105 ly, một trung đội thám báo, một trung đội thông tin, nhưng ta cũng bị tổn thất nhiều, anh Phước - Chính trị viên, anh Oanh - Mũi phó, anh Khương - y tá hy sinh.


Cùng đêm, Đại đội đặc công 25 tập kích cứ điểm Hòn Bứa và quận lỵ Đồng Xuân, diệt gọn một đại đội bảo an của Liên đội 227, Đại đội đặc công 207 của huyện Đồng Xuân tập kích địch ở thôn Long Bình, xã Xuân Long. Đại đội 381 của huyện tập kích địch ở thôn Phước Hòa, xã Xuân Phước gây cho địch nhiều tổn thất.


Ở huyện Tuy An, cùng đêm 12 tháng 4, Đại đội đặc công 205 của huyện tập kích địch đóng ở cầu Nam Ngân diệt 50 tên; Đại đội 379 tập kích cứ điểm núi Một (An Mỹ) diệt một trung đội nghĩa quân, diệt 17 tên thu bốn súng AR15, một cối M79.

Sáng 13 tháng 4, ta chiếm giữ Hòn Bứa và quận lỵ La Hai, đánh địch phản kích. Địch huy động nhiều đại đội Ngụy, quân Nam Triều Tiên đến phản kích, có máy bay phản lực và trực thăng vũ trang yểm trợ. Tiểu đoàn 9 do đồng chí Thuận làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Tâm làm Chính trị viên, đã dũng cảm chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, diệt một trung đội lính Ngụy và 30 tên lính Nam Triều Tiên.


Đêm 15 tháng 4, một đại đội của Tiểu đoàn 13 tập kích chốt điểm núi Đất (xã Xuân Sơn), diệt một trung đội dân vệ. Cùng đêm đó, Đại đội 379 của huyện Tuy An tiếp tục tập kích cứ điểm núi Một (An Mỹ) diệt một trung đội cùng ban chỉ huy đại đội bảo an.

Như vậy sau ba ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang ta đã thực hiện được kế hoạch của chiến dịch, tiêu diệt được các mục tiêu then chốt, đánh thiệt hại nặng nhiều cánh quân địch đến giải tỏa, nhưng lực lượng địch tại chỗ vẫn còn nhiều...

Đêm 6 tháng 5, Đại đội đặc công nước 24 sử dụng một tổ bốn đồng chí do đồng chí Các - Đại đội phó - chỉ huy dùng thuốc nổ mạnh đánh cầu Ngân Sơn. Đồng chí Lưu Văn Liêu cùng Đại đội phó đẩy khối thuốc nổ 200kg, còn cách cầu khoảng trên dưới mười mét thì bị địch phát hiện. Chúng nổ súng báo động, một trung đội địch chạy tới định vây bắt đồng chí Liêu và Các. Chúng quát tháo kêu gọi hai anh đầu hàng. Anh Liêu nói với anh Các mau lặn ra khỏi khu vực nguy hiểm, sau đó anh dùng hết sức đẩy nhanh khối thuốc nổ ép vào trụ cầu, giật nụ xòe cho nổ trực tiếp, một ánh chớp lóe mắt bùng lên kèm theo một tiếng nổ dữ dội đánh sập hai nhịp cầu Ngân Sơn, cả trung đội địch đang trên cầu tan xác chìm xuống dòng sông. Anh Liêu đã dũng cảm hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ.


Với chiến công xuất sắc và hành động anh hùng, đồng chí Lưu Văn Liêu đã được Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.


Với cách đánh dũng cảm, mưu trí, quyết đoán, sẵn sàng xả thân vì đất nước, nhiều cán bộ, chiến sỹ đặc công đã hoàn thành những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Mỗi khi anh em xuất quân, các đơn vị đều tiến hành nghi lễ tổ chức làm lễ truy điệu sống để tiễn đưa.


Học tập, noi gương hành động anh hùng của Lưu Văn Liêu, các lực lượng vũ trang trong tỉnh Phú Yên sôi nổi thi đua giết giặc lập công. Tiểu đoàn 13, sau khi tập kích diệt một đại đội bảo an ờ cầu Tây Cam, từ ngày 7 đến 14 tháng 05 năm 1972, liên tiếp đập tan các cuộc hành quân phản kích của địch vào Phong Niên (xã An Định) diệt hơn 100 tên địch, thu hàng chục súng các loại. Tiểu đoàn 9, sau khi tập kích tiêu diệt một trung đội địch ở cầu Bến Nhác và cầu 12, đã tổ chức đánh địch ở Tam Giang, Hòa Lương, Hòa Lễ, ấp Gành diệt 185 tên địch, diệt gọn một đại đội bảo an.


Trong trận chiến đấu này có chiến công xuất sắc của khẩu đội cối 82 ly do đồng chí Bùi Xuân Bang chỉ huy, khẩu đội bố trí trên sườn núi Đá Do, chi viện cho Tiểu đoàn 9 chiến đấu. Với hai quả đạn cối đầu tiên, đã tiêu diệt một khẩu đội cối 81 ly của địch, địch cho máy bay trực thăng đến tấn công vào khâu đội côi của Bang. Hỏa lực 12 ly 8 đã bắn bị thương một chiếc, chúng phải hạ cánh xuông bãi cát đầu cầu Ngân Sơn. Lập tức bị khẩu cối của Bang bắn bồi tiếp hai quả cối 82 ly, trực thăng trúng đạn bốc cháy nổ tan xác. Các trận địa pháo 105 ly của địch tập trung bắn dồn đập vào khẩu đội cối của đồng chí Bang hòng tiêu diệt. Sau đó, địch dùng trực thăng đổ bộ quân gần chiếc trực thăng bị bắn cháy, một chiếc vừa hạ xuống lập tức trúng đạn cối, cả chiếc trực thăng và toàn bộ bọn lính trong máy bay bị nổ tung xác văng tung tóe ra ngoài.


Mặc dù bị máy bay L19 bắn rocket, máy bay phản lực ném bom, khẩu đội cối 82 ly của đồng chí Bang vẫn bám trụ, bình tĩnh rót liên tiếp những quả đạn chính xác diệt thêm hàng chục tên địch, buộc chúng phải tháo chạy. Sau đó, Bang cho chuyển làn bắn dồn dập vào ban chỉ huy liên đội bảo an, đạn cối trùm lên nóc nhà chỉ huy sở của địch, phá sập các lô cốt, ụ súng xây bằng bao cát, chi viện đắc lực cho Tiểu đoàn 9 tiêu diệt địch.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:12:02 pm gửi bởi ptlinh » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:07:44 pm »

4.10.   Điều trị vết thương, trở lại miền Bắc

Trong khi cuộc Tổng tấn công chiến lược năm 1972 của tỉnh Phú Yên đang diễn ra quyết liệt, thì tôi bị thương rất nặng trong lần đi trinh sát kể trên, không cùng anh em tiếp tục chiến đấu được nữa.

Tôi được anh em dân công đưa về trạm xá Đồng Xuân, đồng chí quân y sĩ đã phẫu thuật cắt tay cho tôi. Điện không có, phải đốt đuốc để lấy ánh sáng, không có thuốc mê, chỉ gây tê cục bộ. Vết thương bên má trái chỉ vào phần mềm, may không gãy cái răng nào. Một may mắn nữa là mắt trái không bị mù, vết thương chỉ nhích lên khoảng một phân nữa là hỏng con mắt.


Ca phẫu thuật cho tôi xong, thì em Thương - ỵ tá của trạm phẫu - lấy các loại thuốc kháng sinh tiêm để chống nhiễm trùng và bảo tôi: "Thôi thế là anh sắp về Bắc với gia đình quê hương rồi".

Tôi nhớ, trong quá trình mổ tôi vẫn tỉnh táo.

Hai hôm sau tôi chia tay trạm xá Đồng Xuân để đi trạm quân y Hồ Tây điều trị tiếp. Khi đến nơi vết thương bị nhiễm trùng sưng rất to. Bác sĩ Đạt phụ trách bệnh xá lại tiến hành phẫu thuật cắt tay cho tôi lần thứ hai, cũng chỉ có thuốc tê. Trong cơn mê sảng, tôi nghe rõ tiếng của sắt và tiếng keng của mẩu xương tay cắt rời ném xuống chậu tôn.


Sau mổ tỉnh lại, mọi người bảo tưởng tôi không qua khỏi. Sau khi mổ lại cánh tay bị thương xong, anh Thêm quân y sĩ tiếp tục mổ hai chân cho tôi để lấy nốt mảnh inox mắt xích dây đồng hồ găm sâu vào cả hai đùi. Đến bây giờ, do mổ chưa lấy hết, mảnh đùi phải của tôi vẫn còn một mắt xích dây đồng hồ, khi trở gió lại đau nhức.


Khi tôi nằm điều trị ở bệnh xá Hồ Tây, sau trận đánh, thì gặp anh Hải - Đại đội phó của đơn vị tôi bị mìn định hướng mù hai mắt. Tội cho anh quá, anh còn trẻ, mắt bị cháy hết giác mạc, không nhìn thấy gì. Sau này, anh trở về miền Bắc lấy vợ, rồi lại bị tai nạn xe và mất tại quê nhà.


Tôi nằm điều trị từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1972, vết thương tạm ổn, trong thời gian điều trị, có lúc hết gạo phải ăn toàn đỗ nhỏ, rất khó ăn nhưng biết làm sao được. Trạm xá làm thủ tục cho tôi trở về đơn vị, tôi chia tay anh Hải, hẹn gặp lại anh ở miền Bắc.


Về tới đơn vị ở chân Hòn Đác, anh em rất mừng. Tưởng tôi đã hy sinh. Anh em kể lại cho tôi nghe diễn biến trận đánh mà tôi không được tham gia. Tôi ngậm ngùi tiếc thương cho các anh em đã hy sinh, trong đó có anh Khương y tá người huyện Đồng Xuân, người đã đứng lên giới thiệu tôi vào Đảng và anh Oanh - Trung đội phó - người đã rất bình tĩnh xử lý ga rô chính xác cho tôi. Cho đến hôm nay, tôi vẫn không bao giờ quên các anh, cầu chúc cho các anh an nghỉ nơi vĩnh hàng trong sự siêu thoát.


Tháng 9 năm 1972, tôi nhận quyết định để trở lại miền Bắc. Anh Thâu - Đại đội trưởng - tặng tôi một đôi tất chân. Anh ôm tôi, cứ tiếc mãi nếu tôi không bị thương ở lại sẽ lên đảm nhiệm cương vị Đại đội phó. Chia tay với má Chín, má khóc. Tôi ăn bữa cơm trộn sắn cuối cùng ở đơn vị để nhớ mãi những tháng ngày gian khổ, đầy tình đồng đội, sống chết bên nhau.


Nhớ khi đại đội đặc công của tôi hành quân đi Nam chiến đấu, có 90 người, sau ngày giải phóng chỉ còn lại 5 người. Ai cũng thương tích đầy mình, mỗi người mỗi số phận, đi theo các lối rẽ khác nhau của cuộc đời.

Thế rồi, tôi lại vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc, lại gặp những cơn mưa rừng, vắt cắn, sốt rét... Có điều, lúc vào thì sức khỏe còn trai tráng, khi ra thì mất một cánh tay, sức khỏe giảm sút rất nhiều. Nhưng có một số điều khác biệt trong cuộc hành trình "mã hồi" này mà tôi vẫn còn mãi lưu giữ.


Ngay hôm đầu tiên, đoàn anh em ra Bắc khoảng 10 người đều là lính chiến đấu của các đơn vị ở chiến trường Phú Yên. Mọi người đi qua suối Ché, đến đầu bãi tranh Tân Sơn, bỗng thấy tiếng động rất mạnh, cỏ tranh xô dạt ra, mọi người tưởng hổ, đều rút lựu đạn ra cầm sẵn ở tay. Khi đó, chúng tôi không có súng, anh em bảo cứ ném lựu đạn vào chỗ gây ra tiếng động, sau tiếng nổ của lựu đạn, nghe tiếng giãy đạp một lúc rồi im bặt.


Chúng tôi thận trọng rẽ cỏ tranh tiến lại, thì trước mắt là một con nai rừng còn non khoảng 80kg, trúng mảnh lựu đạn nằm chết tại chỗ. Mọi người mừng rỡ, đang thiếu thức ăn. Thế là cả đoàn nghỉ lại tại suối làm thịt con nai, chế biến thịt trộn muối vào làm ruốc để ăn dần. Trên đường đi, chúng tôi mở đài nghe tin tức và các bài hát của Đài tiếng nói Việt Nam cho đỡ mỏi mệt.


Một hôm gần trưa, đang ngồi nghỉ bên đường giao liên, tôi bất ngờ gặp lại anh An cùng Đại đội 202 với tôi, anh ra quân khu chữa bệnh đang trở về đơn vị ở Phú Yên. Tôi xẻ cho anh ít thịt nai, rồi hai anh em chia tay, lúc đó nghĩ không biết bao giờ gặp lại. Sau ngày kết thúc chiến tranh, anh còn sống và cũng bị thương. Rồi chúng tôi lại được hội ngộ ở Đoàn an dưỡng 253, Nam Sách, Hải Dương, anh là thương binh hạng 1/4.


Ngày 17 tháng 1 năm 1973, đoàn ra của chúng tôi đi gần thị xã Salavan nước bạn Lào, thì bị B52 Mỹ rải thảm bom, nổ như sấm rền. Rất may, vệt bom chúng rải chỉ cách chỗ chúng tôi khoảng gần một cây số. Đến trưa, xe ô tô chở đoàn chúng tôi bị tắc đường, lúc đang ngồi chờ bên xe thì bọn phản lực F4 đến ném bom. Chúng rải bom bi, nghe tiếng nổ như đàn ong vỡ tổ, một số xe tải trúng bom bốc cháy dữ dội. Chúng tôi bỏ ba lô chạy xa đoàn xe, khi hết đợt oanh tạc, quay trờ lại có một số anh em lái xe hy sinh và bị thương, phải chờ đến gần tối mới thông đường.


Một hôm chiếc xe vận tải chở chúng tôi đang ì ạch leo dốc. Không hiểu vì sao, lái xe cài số lùi, cứ thế chiếc xe trôi tụt xuống dốc. Rầm một tiếng, đuôi xe bị một cây to chặn lại, sau nó là vực sâu thăm thẳm. Mọi người được một phen kinh hoàng, không có cái cây chắn đó, tất cả chúng tôi và xe đã lăn xuống vực, chắc không một ai có thể sống sót. Lần này, may mắn lại mỉm cười với chúng tôi, cũng không hiếm trường hợp thoát chết ở chiến trường nhưng trên đường về hậu phương lại hy sinh vì tai nạn và bom đạn đánh dọc đường.


Tháng 12 năm 1972, Mỹ mở chiến dịch tập kích đường không vào Hà Nội, Hải Phòng. Khi mở Đài tiếng nói Việt Nam chúng tôi vô cùng lo lắng: "Nhà mình ở ngoại thành Hà Nội không biết có sao không?" Mỹ tuyên bố cho Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Tôi cứ tưởng tượng, khi về đến Hà Nội sẽ nhìn thấy một Hà Nội tan hoang, đổ nát.


Tết năm 1973, chúng tôi đón xuân trên đường Trường Sơn, hai người được phát một cái bánh chưng con, một bao thuốc lá Tam Đảo, bao bạc. Hương vị Tết miền Bắc đã tràn vào tận Trường Sơn. Lâu lắm rồi mới được hút một điếu thuốc Tam Đảo, được ăn một miếng bánh chưng mang đậm hương vị quê hương, cái cảm giác lúc đó thật khó tả. Ô tô đưa chúng tôi ra khỏi cửa rừng bon bon chạy trên con đường 10, con đường mà tháng 9 năm 1969, đưa đại đội đặc công chúng tôi tiến vào làng Ho, Quảng Bình, mở đầu cuộc hành quân gian khả vượt Trường Sơn ra trận.


Tài sản tôi đem về miền Bắc là chiếc đài Nhật National hai băng, một tấm vải dù hoa (chiến lợi phẩm) với chiếc ba lô con cóc đã cũ được phát từ hồi vào Nam. Hành trang người lính thật đơn sơ!

Mồng 5 Tết năm 1973, tôi về đến Binh trạm Thường Tín, Hà Nội. Đến đây, cuộc hành quân từ Phú Yên vượt Trường Sơn trở về miền Bắc đã kết thúc.

Được sống trong không khí hòa bình, không còn cảnh bom đạn của chiến tranh nữa. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc và chạnh lòng nhớ tới những người bạn cùng nhập ngũ và đi chiến đấu với tôi, giờ vẫn đang ở trong chiến trường, chẳng biết sống chết ra sao!
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười Hai, 2025, 08:11:49 pm gửi bởi ptlinh » Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM