Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:23:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập  (Đọc 2660 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 01 Tháng Mười, 2025, 09:13:05 am »

- Tên sách: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2010
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Tổ chức bản thảo
   CAO ĐẮC TRUNG
   NGUYỄN CÔNG HẢI


LỜI GIỚI THIỆU


Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước. Đó là điều kiện thuận lợi, căn bản nhất để bảo Vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới.

Vừa ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách nghiêm trọng, tình thế cách mạng đặt chính quyền non trẻ như "Ngàn cân treo sợi tóc". Cùng lúc, dưới danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, mấy chục vạn quân Tưởng Giới Thạch và quân Anh rải ra đóng ở hầu khắp các vị trí chiến lược quan trọng trên đất nước ta. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp núp bóng quân Anh tiến hành xâm lược nước ta lần thứ hai. Đồng thời, các tổ chức phản động, tay sai nhân cơ hội ấy, ra sức hoạt động chống phá cách mạng hòng lật đổ chính quyền của ta.


Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đánh giá tình hình, xác định mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, tìm ra đối sách đúng đắn, kịp thời với từng kẻ thù, vượt qua khó khăn, thử thách, đưa cách mạng vững bước đi lên.


Để giúp bạn đọc tìm hiểu sâu sắc hơn về lịch sử vẻ vang của quân và dân ta trong đấu tranh bảo vệ chính quyền khi mới thành lập, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách "Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập". Nội dung cuốn sách gồm 2 phần:

Phần thứ nhất: Đường lối sách lược đấu tranh của Đảng ta để bảo vệ chính quyền cách mạng ngày đầu thành lập.

Phần thứ hai: Những trận đánh bảo vệ chính quyền cách mạng ngày đầu thành lập.

Trong quá trình tổ chức bản thảo, chúng tôi có sử dụng nhiều tư liệu, các công trình nghiên cứu của cá nhân và tập thể. Xin cảm ơn sự giúp đỡ của các tác giả và ý kiến đóng góp của bạn đọc.

Xin trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí và các bạn.

NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:32:31 pm »

Phần thứ nhất
ĐƯỜNG LỐI SÁCH LƯỢC ĐẤU TRANH CỦA ĐẢNG TA ĐỂ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU KHI GIÀNH ĐƯỢC CHÍNH QUYỀN (2-9-1945)

1. Tình hình thế giới

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời trong bối cảnh tình hình thế giới có những thay đổi lớn lao mà sự kiện lịch sử nổi bật nhất, có ý nghĩa quyết định xu hướng phát triển tất yếu của toàn nhân loại và cách mạng Việt Nam là thắng lợi của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (7 tháng 11 năm 1917), với chiến công vĩ đại đã góp phần cứu loài người khỏi thảm họa phát xít; thiết lập được Nhà nước Xô Viết đầu tiên trên thế giới với chế độ kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động làm chủ, không có áp bức bóc lột, Liên Xô có uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trên vũ đài chính trị quốc tế. Hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu trở thành trụ cột cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và bảo vệ hoà bình thế giới. Thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự ra đời Nhà nước Xô Viết thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở nước Nga đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.


Phong trào giải phóng dân tộc phát triển với quy mô rộng lớn và khí thế ngày càng mạnh mẽ, làm lung lay hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc: Cùng với chiến thắng của các lực lượng đồng minh dân chủ, đứng đầu là Liên Xô, đối với chủ nghĩa phát xít thế giới và trong những điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi nước, nhân dân các dân tộc thuộc địa, đặc biệt là ở châu Á, sau những năm tháng đấu tranh gian khổ, đã giành được độc lập ở những mức độ khác nhau.


Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân làm chủ phần lớn nông thôn vùng Đông Bắc, Hoa Bắc, Hoa Đông. Còn Hoa Nam, sát với nước ta, vẫn do Tưởng kiểm soát.

Trên bán đảo Triều Tiên, cuộc kháng chiến chống phát xít Nhật của các lực lượng yêu nước đã làm suy yếu lực lượng phát xít Nhật chiếm đóng, góp phần dẫn tới thất bại của phát xít Nhật trên bán đảo Triều Tiên. Quân du kích Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, đã hoạt động mạnh mẽ ở nhiều vùng trong nước, sát cánh với Quân giải phóng Trung Quốc.


Ở các nước Đông Nam Á, đã diễn ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ chống lại sự xâm lược và âm mưu thiết lập "trật tự mới" của phát xít Nhật (thiết lập từ năm 1940) nhằm thủ tiêu hoàn toàn nền độc lập của các dân tộc. Trong cuộc đấu tranh này, các lực lượng yêu nước chống phát xít đã tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất để hòa nhập vào phong trào dần chủ chống phát xít trên thế giới. Đồng thời, các lực lượng vũ trang cũng được thành lập ở những thời điểm khác nhau và góp phần vào việc giải phóng đất nước, tiêu diệt phát xít Nhật.


Sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh là thời cơ "có một không hai", tạo ra tình thế hết sức thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á. Chớp lấy thời cơ đó, các dân tộc ở Đông Nam Á đã vùng dậy tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Tháng 8 năm 1945, cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. Ở Lào, ngày 23 tháng 8, nhân dân Lào nổi dậy thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi. Ngày 12 tháng 10 năm 1945, ở Lào, nhân dân Thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền. Ở Inđônêxia, ngay sau khi Nhật đầu hàng, ngày 17 tháng 8 năm 1945, Tuyên ngôn độc lập được công bố, nước Cộng hòa Inđônêxia được thành lập.


Những chuyển biến cách mạng dồn dập trên thế giới sau đại chiến thế giới lần thứ hai, đặc biệt là sự hùng mạnh của Liên Xô và sự ra đời của nhiều nước dân chủ nhân dân, đã thúc đẩy công nhân và quần chúng lao động trong các nước tư bản tăng cường đấu tranh với giới chủ và chính quyền tư sản đòi thực hiện dân chủ, cải thiện dân sinh, tăng lương, giảm giờ làm, chấm dứt sa thải công nhân và tệ phân biệt chủng tộc, ngăn chặn chạy đua vũ trang và gây chiến tranh xâm lược. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước tư bản đã trực tiếp làm cho nhiều nước Tây Âu thêm khó khăn về phục hồi kinh tế sau chiến tranh và kìm hãm tốc độ phát triển của chủ nghĩa tư bản nói chung, gây mất ổn định ở ngay dinh lũy của chủ nghĩa đế quốc, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc. Tại một số nước đế quốc như Pháp và Ý, Đảng Cộng sản có uy tín lớn, có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước. Các nước phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, các đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu cũ như Anh, Pháp suy yếu. Riêng Mỹ lợi dụng chiến tranh đã trở thành đế quốc lớn nhất, chi phối hệ thống đế quốc và đang trở thành sen đầm quốc tế. Trước tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ phải tìm cách dàn xếp, hòa hoãn với nhau, tập hợp lực lượng, ngăn chặn phong trào cách mạng trên thế giới. Chúng vừa có sự phối hợp hành động chung, vừa có sự phân chia quyền lợi và chia sẻ "trách nhiệm" trên từng khu vực.


Đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế giai đoạn này là ba trào lưu cách mạng thế giới: chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản ngày càng phát triển thế tiến công chiến lược toàn diện vào chủ nghĩa đế quốc, thực dân.


Sau chiến tranh thế giới thứ hai, bốn mâu thuẫn cơ bản1 (Bốn mâu thuẫn cơ bản của thế giới: mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa vô sản và tư bản; mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức và chủ nghĩa thực dân; mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau) của thế giới vẫn tồn tại. Trong đó mâu thuẫn chủ yếu diễn ra giữa một bên là các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, các lực lượng đấu tranh vì dân chủ, hoà bình với một bên là phe đế quốc và lực lượng phản cách mạng.


Cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, giữa phong trào giải phóng dân tộc chống ách thực dân, là nội dung chính của tiến trình lịch sử thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tình hình đó tác động sâu sắc đến Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám.


Về mặt quốc tế, cách mạng Việt Nam lúc đó ở vào một tình thế vừa có thuận lợi vừa có khó khăn. Thuận lợi cơ bản về sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng toàn thế giới đã đặt nước ta không bị cô lập mà giành được sự đồng tình ủng hộ. Khó khăn lớn nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực đế quốc, phản động do Mỹ đứng đầu. Việt Nam nằm trong phạm vi tiếp quản của các nước đế quốc mang danh nghĩa Đồng minh. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mới hình thành và ở xa. Cách mạng Trung Quốc chưa giành được thắng lợi hoàn toàn. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa khác xung quanh Việt Nam chưa phát triển mạnh. Đông Dương trở thành nơi tranh chấp của bọn đế quốc và các thế lực phản động.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:34:03 pm »

2. Âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động

Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập", khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ đây nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ vận mệnh của mình và đó cũng là điều kiện thuận lợi căn bản nhất để bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phải đứng trước những khó khăn chồng chất, những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Nghiêm trọng nhất là trên đất nước ta, cùng lúc có gần 30 vạn quân của nhiều nước đế quốc rải ra đóng quân ở hầu khắp các vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội, các thành phố, thị xã và các tuyến giao thông huyết mạch. Chúng lại có danh nghĩa Đồng minh vào nước ta một cách hợp pháp. Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng lúc lại có nhiều kẻ thù ngoại xâm đến như vậy. Cùng với bọn đế quốc, các tổ chức phản động tay sai nhân cơ hội ấy, cũng ra sức hoạt động chống phá cách mạng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhân chứng lịch sử lúc đó đã viết:


"Khó khăn lớn nhất lúc này là các quân đội nước ngoài từ bốn phương cùng dồn dập kéo tới. Bọn ở gần, bọn ở xa, chúng khác nhau về màu da, về tiếng nói, nhưng rất giống nhau ở một dã tâm, muốn thôn tính đất nước chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về với cuộc sống nô lệ" .


Việt Nam là một nước nằm ở địa bàn quan trọng bậc nhất Đông Nam Á, đã từng là "đoá hoa đẹp nhất" trong vườn hoa thuộc địa của đế quốc Pháp; là địa bàn chiếm đóng của phát xít Nhật và là đối tượng nhòm ngó của nhiều đế quốc khác. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Với tính chất triệt để chống đế quốc và tay sai, với vị trí đi đầu trong phong trào chống chủ nghĩa thực dân tại khu vực, lúc đó, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bằng sức mạnh của chính mình, vừa tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đã giành được chính quyền, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong khu vực, nêu cao tấm gương cho các dần tộc thuộc địa noi theo. Vì thế nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trở thành đối tượng chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc.


Đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các nước đế quốc lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa dân quốc hoặc đưa quân vào xâm lược, can thiệp, hoặc đứng ngoài gây sức ép, đều có mục tiêu chung là tiêu diệt chính quyền non trẻ của ta. Tuy nhiên, với từng tên đế quốc lại có ý đồ, mục tiêu khác nhau. Chúng mặc cả tranh giành quyền lợi, chà đạp lên quyền độc lập thống nhất của dân tộc ta. Đế quốc Mỹ để cho Pháp trở lại chiếm Đông Dương nhằm để Pháp nhường cho quyền lợi ở nơi khác; kéo Pháp, Anh cùng chống Liên Xô đồng thời cài thế hất cẳng Pháp và Anh ở Đông Dương và Đông Nam Á sau này. Đế quốc Anh tiếp tay cho Pháp chiếm lại Đông Dương để Pháp nhường cho những quyền lợi ở Trung Cận Đông và châu Phi, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực đang có nhiều thuộc địa của Anh. Chính phủ Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu là tay sai của Mỹ, khả năng có hạn lại đang bị áp lực của cách mạng trong nước, nên cố vớt vát một số quyền lợi rồi trước sau cũng phải theo lệnh Mỹ để Pháp trở lại chiếm Đông Dương. Trong số quân đội đế quốc tràn vào nước ta thì đông nhất và gây cho ta những khó khăn nghiêm trọng là quân Tàu Tưởng. Năm 1943, tại Cairô (Ai Cập - 1943), Tổng thống Mỹ - Rudơven, Thủ tướng Anh - Sớcsin, Chủ tịch Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ký hiệp định quy định về việc quân Anh sẽ thay thế quân Nhật ở Nam Đông Dương. Quân Trung Hoa sẽ thay quân Nhật ở Bắc Đông Dương. Từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945, tại Pốtxđam (Đức) diễn ra Hội nghị các vị đứng đầu ba nước Mỹ, Liên Xô, Anh: Tơruman, Xtalin Sớcsin (Atli thay Sớcsin sau ngày 28 tháng 7). Hội nghị thông qua các nghị quyết nhằm giải quyết các vấn đề kết thúc chiến tranh. Tại hội nghị, Mỹ, Anh bàn riêng với nhau về vấn đề Viễn Đông rồi ra tuyên bố, trong đó xác nhận điều khoản Hiệp định Cairô: quân Anh sẽ giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Đông Dương. Như vậy, trước sau các thế lực, các nước đế quốc dù có tranh giành, khống chế nhau, nhưng chúng đều đặt Việt Nam, Đông Dương dưới sự khống chế trực tiếp của chúng để ngăn chặn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương.


Ngày 9 tháng 8 năm 1945, Chính phủ Tưởng Giới Thạch ra tuyên bố rằng quân đội Trung Hoa chịu trách nhiệm về sự đầu hàng của Nhật Bản tại Bắc Đông Dương. Nhà cầm quyền Trung Quốc ở Trùng Khánh tuy mang nặng đầu óc bành trướng, nhưng do tình hình trong nước khó khăn và phải thực hiện chiến lược chung của chủ nghĩa đế quốc, trực tiếp theo sự điều khiển của Mỹ, nên vừa muốn can thiệp vào Đông Dương vừa muốn mặc cả với Pháp, đòi Pháp một số quyền lợi để cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Ngày 10 tháng 10 năm 1944, tại Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch đã bí mật tiếp kiến Đại sứ Pếchcôp, đại diện Chính phủ Đờ Gôn và khẳng định: "Tôi xin khẳng định lại một lần nữa với ngài rằng, đối với Đông Dương hay lãnh thổ của Đông Dương, chúng tôi đều không có bất cứ ý đồ gì. Về vấn đề này, chủ trương của tôi là không thay đổi". Nhưng đó chỉ là sự hứa hẹn, là điều kiện để Tưởng đòi Pháp nhiều quyền lợi khác. Thực tế, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa quân vào Việt Nam và Lào là muốn can thiệp vào tình hình chính trị các nước và còn muốn nhân dịp này để thanh toán những tên quân phiệt cứng đầu có xu hướng cát cứ ở Hoa Nam. Tại Hội nghị quân sự toàn quốc do Tưởng Giới Thạch triệu tập và Tổng tư lệnh lục quân Hà Ứng Khâm chủ trì ngày 20 tháng 8 năm 1945, Đại tướng Lư Hán được đề bạt làm Tư lệnh Đệ nhất phương diện quân có nhiệm vụ đưa quân đi tiếp nhận sự đầu hàng và giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương. Trung tướng Tiêu Văn - Chủ nhiệm chính trị Đệ tứ chiến khu, người đã theo dõi tình hình Việt Nam từ lâu, lại giữ vai trò chủ chốt trong cái gọi là "Việt Nam cách mạng chỉ đạo nhất" do Trương Phát Khuê lập ra, được cử sang Việt Nam làm Trưởng ban chính trị của quân đội Tưởng. Giới quân phiệt Lưỡng Quảng và Vân Nam luôn có xu hướng cát cứ, muốn phát triển thế lực ở phía nam, nhân dịp này càng muốn kéo dài thời hạn đóng quân ở Việt Nam, can thiệp sâu vào tình hình Việt Nam, tạo ra chỗ dựa chính trị và vơ vét của cải làm giàu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:35:42 pm »

Dù là ý đồ của Chính phủ Tưởng và bọn tướng lĩnh chỉ huy quân Tưởng vào Việt Nam có điểm khác nhau, nhưng mục tiêu chung của chúng vẫn là tiêu diệt cách mạng Việt Nam, tránh được mối lo nằm trong gọng kìm của hai lực lượng cộng sản phía bắc và phía nam, đồng thời gây ảnh hưởng của Trung Hoa dân quốc ở Đông Dương, tạo ra tình thế có lợi để mặc cả đòi Pháp nhường cho một số quyền lợi.


Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Hà Ứng Khâm đã thúc Lư Hán đưa quân vào Việt Nam thật nhanh. Kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" đã chuẩn bị từ lâu, giờ được thực hiện. Đầu tháng 9 năm 1945, Đại tá Sùng Kỳ dẫn đầu đoàn tiền trạm gồm 13 sĩ quan đáp máy bay đến Hà Nội. Trong vòng tháng 9 năm 1945, khoảng 20 vạn quân Tưởng do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy đã kéo vào nước ta, chúng đóng ở hầu khắp các vị trí xung yếu từ biên giới Việt - Trung đến Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 28 tháng 9 năm 1945, Lư Hán tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở Bắc Đông Dương. Trước đó, ngày 24 tháng 8 năm 1945, Tưởng Giói Thạch tuyên bố: "Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ Việt Nam", "dân tộc Việt Nam sẽ từng bước đi đến hoàn toàn độc lập đúng theo tinh thần của Hiến chương Đại Tây Dương". Nhưng kỳ thực, Tưởng Giới Thạch dùng đạo "Hoa quân nhập Việt" gần 20 vạn tên này thực hiện ba mục tiêu trực tiếp: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Bây là âm mưu rất thâm độc của Tưởng nhằm tiêu diệt lực lượng lãnh đạo, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, thủ tiêu thành quả quan trọng nhất của cách mạng, công cụ chủ yếu để tổ chức, điều hành công cuộc xây dựng xã hội mới.


Quân Tưởng vào, ban đầu không thừa nhận Chính phủ ta. Tưởng Giới Thạch ra văn bản Mười bốn nguyên tắc chiếm đóng các cơ sở quân sự và hành chính Việt Nam, trong đó, chỉ nói quan hệ với Pháp, tước vũ khí quân Nhật, không đếm xỉa đến chính quyền ta. Chúng ngang nhiên tuyên bố thời gian ở Việt Nam là không hạn định, tự khẳng định quyền giữ trật tự, trị an ở Hà Nội, cấm mọi người dân mang vũ khí, đòi ta báo cáo quân số và tổ chức quân đội. Mặt khác, chúng lại đòi ta phải cung cấp lương thực, thực phẩm, nhà ở, phương tiện vận tải, thông tin... Ngày 3 tháng 10 năm 1945, Hà Ứng Khâm tuyên bố: "Nếu không có đầy đủ những nhu cầu kể trên, quân đội Trung Hoa buộc phải thi hành những phương pháp cần thiết về việc cung cấp đó"1 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập III, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1993, tr. 240). Bọn Tưởng còn yêu sách ta mỗi tháng phải đổi cho chúng 2 tỷ đồng Đông Dương. Ta không đáp ứng được, chúng tung tiền "Quan kim", "Quốc tệ" mất giá ra, tự định giá cả để vơ vét tiền, hàng hoá, gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, tài chính, tiền tệ của nước ta. 20 vạn quân Tưởng vào chiếm đóng là một gánh nặng đối với nền kinh tế nghèo nàn của nước ta sau Cách mạng Tháng Tám.


Về chính trị, quân sự, quân Tưởng còn gây ra những khó khăn, nguy hiểm hơn nhiều, ở những nơi đóng quân, chúng thường xuyên gây sức ép để đẩy chính quyền ta ra xa, hoặc vô hiệu hoá hoạt động của chính quyền. Chúng gây ra những vụ khiêu khích, đòi triệt thoái lực lượng vũ trang ta ra khỏi các thị xã, thị trấn và dọc đường giao thông. Binh lính Tưởng thường đi cướp phá các vùng xung quanh. Nhân dân và lực lượng vũ trang ta ngăn chặn xảy ra những vụ xung đột rắc rối, thì bọn tướng lĩnh lấy cớ sinh sự, yêu sách Chính phủ ta nhiều điều ngang ngược như đòi đưa ra xét xử cán bộ, chiến sĩ ta có liên quan, đòi nắm quyền giữ gìn trật tự trị an, đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chức...


Quân Tưởng thường phối hợp lực lượng hoặc đứng sau hỗ trợ, giật dây bọn tay sai chống phá ta quyết liệt. Vào Việt Nam, quân Tưởng mang theo hai tổ chức phản động do chúng lập ra và nuôi dưỡng là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách), trong đó phần đông là bọn phản động người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc. Trên đường tiến quân vào nước ta, quân Tưởng đã giúp cho bọn Việt Quốc chiếm Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Bạch Hạc, Phúc Yên, Vĩnh Yên...; giúp bọn Việt Cách chiếm Móng Cái, Tiên Yên, Đầm Hà, Đình Lập, Quảng Yên, Hồng Gai...


Ở những nơi Việt Quốc, Việt Cách chiếm đóng, chúng dựa vào lực lượng quân Tưởng chống phá ta quyết liệt. Đặc biệt ở Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, quân sự của cả nước, nơi có Trung ương Đảng, Chính phủ, lãnh tụ Hồ Chí Minh, cũng là nơi đặt trụ sở Trung ương Việt Quốc, Việt Cách, quân Tưởng và bọn tay sai chống phá quyết liệt nhất, gây cho ta những khó khăn nghiêm trọng.


Bọn Việt Quốc, Việt Cách về bắt tay cùng bọn phản động trong nước như bọn Đại Việt thân Nhật thất thế, bọn tay sai cũ của Pháp... tập hợp trong cái gọi là: "Mặt trận quốc gia chống Pháp", dựa vào quân Tưởng, cùng nhau ra sức chống lại nhân dân, chống lại cách mạng.


Việt Cách lập trụ sở ở số 80 đường Quán Thánh, Việt Quốc lập trụ sở ở phố Đỗ Hữu Vị (nay là Cửa Bắc)... Ngoài ra, các tổ chức phản động trên còn có sào huyệt ngầm ở phố Đuyvinhô (nay là Bùi Thị Xuân), phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), phố Lò Đúc, Hàng Đẫy, Chợ Đuổi... ở những trụ sở đó, chúng treo cờ, xuất bản báo chí như tờ Việt Nam, Đồng minh, Chính nghĩa, Liên hiệp, Thiết thực..., dùng loa phóng thanh công kích Chính phủ. Chúng tổ chức in truyền đơn, bạc giả, tổ chức mít tinh, biểu tình chống Chính phủ, kích động bãi công, bãi thị, bãi khoá, lôi kéo Tổng hội sinh viên ra khỏi Mặt trận Việt Minh. Chúng lập ra các lực lượng khủng bố "Thiết huyết đoàn", "Thần lôi đoàn", "Bàn tay máu", "Đội hùm xám"... để tống tiền những nhà giàu có, bắt cóc, ám sát nhân viên chính phủ và nhiều người yêu nước tiến bộ. Liều lĩnh hơn, ngày 10 tháng 11 năm 1945, bọn phản cách mạng giả danh quân Tưởng đột nhập sở Liêm phóng Bắc Bộ giải thoát cho Nguyễn Thế Nghiệp, một trong những tên phản động đầu sỏ của Việt Quốc đang bị giam giữ. Thậm chí bọn phản động còn đòi giải tán Mặt trận Việt Minh, đòi định lại Quốc kỳ, phản đối Tổng tuyển cử, đòi Chính phủ Hồ Chí Minh từ chức để Vĩnh Thụy lập chính phủ mới. Bọn Việt Quốc còn tổ chức bảy chiến khu tính từ Phú Yên trở ra, âm mưu dùng lực lượng quân sự chống phá ta lâu dài. Ngay ở giữa Hà Nội, chúng khống chế vùng Ngũ Xã, lập thành "Khu tự trị" chống lại chính quyền.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:37:26 pm »

Trước sức mạnh của cách mạng, trước uy tín của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, uy tín của lãnh tụ Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh vừa kiên quyết, vừa kiên trì mềm dẻo của ta, quân Tưởng tự thấy không thể dùng vũ lực lật đổ chính quyền cách mạng. Chúng buộc phải chấp nhận hoà hoãn với ta. Mục đích không thay đổi nhưng chúng định dùng biện pháp khác là bằng thủ đoạn chính trị, ngoại giao làm suy yếu chính quyền ta, phát triển thế lực bọn Việt Quốc, Việt Cách, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, dựng lên chính quyền phản động tay sai cho Tưởng. Từ chỗ phản đối Tổng tuyển cử, chống Chính phủ ta, đến chỗ chấp nhận Tổng tuyển cử, nhưng đòi nhường cho chúng 70 ghế trong Quốc hội không thông qua bầu cử và đòi chia ghế trong Chính phủ liên hiệp. Âm mưu và hành động phá hoại của quân Tưởng cùng bọn tay sai ở miền Bắc Việt Nam đặt trong bối cảnh chung cả nước vào cuối năm 1945, đầu năm 1946 trước những nguy cơ nghiêm trọng. Quân Tưởng và bọn tay sai đã gây cho cách mạng nước ta, nhân dân ta những khó khăn phức tạp về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, những tổn thất về người, về của và những hậu quả lâu dài.


Ở miền Nam, quân đội Anh gồm hơn một vạn quân của Sư đoàn 20 Hoàng gia Anh đa số là người Ấn Độ vào giải giáp quân Nhật. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Phái bộ Anh đến Sài Gòn. Ngày 6 tháng 9, 2.500 quân của Lữ đoàn Gơớckha, đơn vị đầu tiên của quân Anh đến Sài Gòn. Tướng Graxây - Tư lệnh Sư đoàn 20 Hoàng gia Anh, Trưởng Phái bộ Anh, tuyên bố công khai rằng:


"Những đạo binh của quân đội Anh chỉ có mục đích duy nhất là kiểm soát các lực lượng quân đội Nhật Bản ở đây, trông nom việc quân đội Nhật Bản phải yên ổn và tuân theo lệnh tước khí giới và rút lui, và sau nữa để cho các kiều dân các nước Đồng minh bị giam trong thời kỳ chiến tranh được về xứ sở. Sau đó quân Anh sẽ rời Sài Gòn. Người Anh không có ý định gì về thời cuộc ở Đông Dương hết"1 (Nguyễn Kiên Giang, Nước Việt Nam, năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, H.1961, tr.96).


Nhưng thâm ý của Anh là muốn giúp Pháp chiếm lại Đông Dương, để ngăn chặn phong trào cách mạng thế giới nói chung và ở khu vực có nhiều thuộc địa của Anh nói riêng, để ngăn chặn âm mưu mở rộng thế lực ở Đông Nam Á của Mỹ, và để Pháp nhường cho những quyền lợi ở Trung Cận Đông và châu Phi. Vả lại, Anh không dám để bị lôi kéo vào những vấn đề quân sự tại Đông Dương, diễn biến ở Ấn Độ thu hút sự chú ý của Anh hơn. Với ý đồ trên, ngày 24 tháng 8 năm 1945, Anh đã ký một thoả hiệp với Pháp về nguyên tắc và cách thức khôi phục lại quyền hành của Pháp tại Đông Dương. Vừa đến Sài Gòn, Graxây đã ra lệnh cho quân Nhật làm nhiệm vụ canh gác trong thành phố và ra thông cáo khẳng định quyền duy trì trật tự của quân đội Anh, đòi giải giáp quân đội Việt Nam, ra lệnh cấm mọi người dân mang vũ khí, chiếm các trại giam thả những tên Pháp bị ta bắt giữ sau ngày khởi nghĩa khi chúng nhảy dù xuống Nam Bộ, thả 1.500 lính Pháp thuộc Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11eRIC) bị Nhật giam giữ, đồng thời vũ trang cho chúng. Ngày 12 tháng 9, Anh còn cho một đại đội của Pháp thuộc Binh đoàn thuộc địa thứ 5 (5eRIC) đổ bộ lên Sài Gòn làm nhiệm vụ tiền trạm. Cùng ngày hôm đó, Anh dùng vũ lực chiếm đóng trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, hạ cờ Việt Nam, treo cờ Pháp. Từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Anh dùng lực lượng của mình và sử dụng quân Nhật, hỗ trợ cho thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh ở Nam Bộ.


Nhưng cuộc chiến không tiến triển thuận lợi như Anh - Pháp dự tính ban đầu. Sợ sa lầy vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương và trước làn sóng đấu tranh của nhân dân ta và của cả nhân dân nước Anh phản đối hành động can thiệp của quân Anh vào tình hình Đông Dương, đế quốc Anh phải rút quân. Từ ngày 28 tháng 1 năm 1946, quân Anh bắt đầu rút khỏi nước ta, đến ngày 5 tháng 8 năm 1946 thì rút hết. Quân Anh trước khi rời Sài Gòn đã trao lại quyền hành, và khi rút đã để lại phần lớn vũ khí, quân nhu cho quân Pháp.


Trong số các kẻ thù xâm lược nước ta lúc này, kẻ thù nguy hiểm nhất, kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. Đông Dương mà chủ yếu là Việt Nam, vốn là thuộc địa có vị trí quan trọng bậc nhất của đế quốc Pháp. Với gần 30 triệu dân, chiếm một phần ba dân số thuộc địa và là xứ đông dân nhất trong các thuộc địa của Pháp, trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Đông Dương phải góp mười vạn lính và trong chiến tranh thế giới thứ hai cũng góp 7 vạn. Vào những năm ba mươi của thế kỷ XX, Đông Dương có nguồn xuất khẩu lớn: Năm 1936 xuất 1.711.776 tấn gạo, là một trong những nơi xuất khẩu nhiều gạo và đứng đầu thế giới về xuất khẩu cao su với 6 vạn tấn. Cũng nhờ có Đông Dương mà Pháp có một hành lang trên Thái Bình Dương. Ngoài ra, Đông Dương còn có 4 vạn người Pháp làm ăn sinh sống. Vì thế đế quốc Pháp không thể rời bỏ Đông Dương cho bất cứ một thế lực nào. Khi Nhật vào chiếm đóng Đông Dương năm 1940, Pháp tìm mọi cách để khối phục quyển thống trị của mình. Đờ Gôn đứng đầu chính phủ lâm thời lưu vong Pháp đã tuyên bố "sẽ giải phóng Đông Dương". Sau khi Nhật đảo chính, ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn ra tuyên bố về lập trường của Pháp đối với Đông Dương:


"Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng khối Liên hiệp Pháp mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện", "Đông Dương sẽ có một Chính phủ Liên bang, đứng đầu là người trọng tài gồm năm xứ. Bên cạnh viên toàn Toàn quyền, có một Hội đồng Nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất là 50% số ghế. Một Quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp"1 (Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.19).


Rõ ràng lập trường thực dân của Chính phủ Pháp không thay đổi: Đờ Gôn và giới tư bản độc quyền Pháp tìm mọi cách giành lại Đông Dương và duy trì ách thống trị cổ truyền của chúng.

Cùng lúc đó, trên đất nước ta còn khoảng sáu vạn quân Nhật vũ khí đầy đủ, sẵn sàng theo lệnh quân Anh, quân Tưởng chống lại ta, và trên thực tế, quân Nhật đã đi cùng mở đường cho quân Pháp đánh ta. Ở Nam Trung Bộ đã xảy ra xung đột giữa lực lượng vũ trang ta với quân Nhật.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:38:29 pm »

3. Tình hình đất nước

Trong khi phải chống lại kẻ thù đế quốc và các thế lực phản động đông và mạnh, với những âm mưu thủ đoạn chống phá điên cuồng như vậy thì về phía cách mạng lại đang gặp phải những khó khăn khác chồng chất. Cuộc cách mạng vừa thành công, chính quyền còn non trẻ, chưa được củng cố. Bộ máy hành chính từ Trung ương đến các làng bản còn đơn giản, hầu hết cán bộ chưa có kinh nghiệm quản lý Nhà nước. Mặt trận dân tộc thống nhất tuy phát triển rộng rãi, nhưng cũng chưa được củng cố vững chắc.


Chính quyền nhân dân non trẻ lúc này gặp khó khăn chồng chất. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được một nước nào trên thế giới công nhận, khó khăn lớn được thể hiện trên các mặt:

- Về nông nghiệp: Ngay trước khi giành được chính quyền, nạn lụt lại xảy ra làm vỡ đê nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ, 35 vạn hécta ruộng bị ngập lụt. Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50%. Sau nạn lụt lại đến hạn hán, 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang. Diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút. Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích cấy trồng lúa vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000 hécta (vụ mùa năm 1944 là 967.000 hécta). Số ruộng bị bỏ hoang không cày cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống khoảng 265.000 hécta. Vụ mùa năm 1944, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được 500.000 tấn.


- Về văn hóa giáo dục: Hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân số Việt Nam mù chữ. Số người được đi học các bậc học tiểu học, trung học và cao đẳng rất ít ỏi. Theo "Đông Dương thống kê niên giám" thì năm 1936 - 1937, cả ba kỳ bình quân 3 làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường. Đó là bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp. Bậc tiểu học, toàn quốc có 638 trường (kể cả trường tư) bình quân 34 làng và 29.239 người mới có một trường, và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc tiểu học. Bậc cao đẳng tiểu học, bình quân cứ 1.170.000 người dân mới có một trường và chỉ có 0,05 dân số đến học ở các trường này. Còn ở bậc trung học số người Việt Nam theo học chỉ chiếm tỷ lệ 0,009% so với dân số.


Chế độ cũ để lại những tệ nạn rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, mê tín dị đoan, bệnh tật gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới.

- Về kinh tế tài chính: Những khó khăn do chế độ cũ để lại đó là ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai triệu đồng bào (tức là gần 1/10 dân số nước ta) đã chết vì đói và dịch bệnh.


Công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn, ngoại thương bị đình trệ, thủ công nghiệp phá sản. Hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng vọt. Hàng vạn công nhân không có việc làm. Nền tài chính quốc gia vô cùng quẫn bách kho bạc cạn kiệt. Cách mạng thành công, ta tiếp quản kho bạc chỉ vẻn vẹn có 1.230.720 đồng tiền giấy, kể cả 586.000 đồng là tiền hào rách nát không tiêu được. Đó là chưa kể đến 564.367.522 đồng tiền nợ của chế độ cũ. Trong khi đó Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp nguồn thu ngân sách chưa có gì đáng kể.


- Về quân sự: Lực lượng vũ trang khi cách mạng mới thành công chỉ có 50.000 quân giải phóng và vài vạn tự vệ trình độ chiến thuật, kỹ thuật, kinh nghiệm chiến đấu còn non yếu, vũ khí, trang bị còn thô sơ.

Trong quan hệ quốc tế thì nước ta đang còn bị đế quốc bao vây bốn phía. Bọn đế quốc tuy nhiều mâu thuẫn, nhưng đã đạt được hoà hoãn, cùng nhau chống phá hòng tiêu diệt nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Còn Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và phong trào cách mạng thế giới chưa có điều kiện hiểu biết đầy đủ cuộc cách mạng nước ta và chưa thể trực tiếp giúp đỡ cách mạng Việt Nam.


Tình hình cách mạng Việt Nam khi mới giành được chính quyền đã phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Cuộc cách mạng nào mới thành công cũng đều gặp phải những khó khăn to lớn. Nhưng những khó khăn thử thách mà chúng ta phải đương đầu thật đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó chính quyền mới thành lập, chưa có điều kiện phát huy những thuận lợi cơ bản lâu dài, cũng chưa thể ngay một lúc khắc phục được những khó khăn chồng chất, nặng nề về mọi mặt, cùng một lúc Đảng ta, nhân dân ta phải đương đầu với ba loại giặc: "Giặc đói", "Giặc dốt", "Giặc ngoại xâm". Tương quan lực lượng bất lợi cho cách mạng Việt Nam. Sự mất còn của cách mạng, của nền độc lập thống nhất quốc gia đặt ra một cách trực tiếp. Vận mệnh của đất nước như "ngàn cân treo sợi tóc".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 08:38:14 pm »

II. ĐƯỜNG LỐI SÁCH LƯỢC ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG TA

Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt đánh giá tình hình, xác định mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, tìm ra đối sách đúng đắn, kịp thời với từng kẻ thù, vượt qua khó khăn, thử thách, đưa cách mạng vững bước đi lên. Khẩu hiệu hành động được đưa ra lúc này là: "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", phải tập trung lực lượng đối phó với kẻ thù chính, nguy hiểm nhất là thực dân Pháp xâm lược.


1. Chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc

Ngay từ trước cách mạng, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương (ngày 14, 15 tháng 8 năm 1945) đã dự báo tình hình: "Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị của chúng ở Đông Dương" và xác định "chính sách của chúng ta là phải tránh cái trường hợp: một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta"... Sau Cách mạng Tháng Tám, tình hình nước ta đúng như những nhận định cơ bản trên, nhưng diễn biến cụ thể phức tạp hơn.


Ngày 10 và 11 tháng 9, Ban Thường vụ Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị ra Nghị quyết đánh giá sâu sắc tình hình thế giới và tình hình Đông Dương, Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ chính lúc này là: "Củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũ khí cần thiết đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập.

Chuẩn bị lực lượng sẵn sàng để chống mọi sự xâm lăng".

Về vấn đề chính quyền, nghị quyết cũng xác định:

"Về mặt chính trị

1. Huy động các hạng nhân tài và chính trị phạm ra giúp việc.

2. Cấp tốc tổ chức các Ủy ban nhân dân các làng các phố, việc tổ chức các ủy ban công sở hay nhà máy của Chính phủ nên kéo hết thảy những tầng lớp ở trong đó tham gia, nên chú ý tránh sự đụng chạm đến những vấn đề chuyên môn của những người có trách nhiệm. Tổ chức các ủy ban công nhân ở các sở hay các nhà máy của tư nhân...

3. Việc thi hành chung trong chương trình Việt Minh phải cho thống nhất và do Chính phủ định đoạt... Cố giữ ngân quỹ hàng tỉnh cho thăng bằng trong khi chờ mỗi một thứ thuế công bằng và nhẹ.

4. Việc tiễu trừ Việt và Pháp gian phải căn cứ vào hành động chính trị phá hoại nền độc lập mới gọi là Việt gian và Pháp gian, còn những phần tử từ trước tới nay thường áp bức bóc lột dân chúng thì không phải Việt gian hay Pháp gian. Đối với bọn lãnh tụ Việt gian thì phải bắt và nghiêm trị, đối với bọn làm theo thì phải thuyết phục...

5. Việc tịch thu của Việt hay Pháp gian (tài sản) phải thi hành cho đúng đắn, những nhà cửa đồ đạc khi tịch thu phải niêm phong để bán đấu giá rồi bỏ tiền vào quỹ của Ủy ban nhân dân địa phương hoặc dùng vào trong công việc chung...

6. Đối với sự kiện tụng trong địa phương phải đặt một ban tư pháp xét xử những việc lặt vặt, còn những việc quan hệ thì tư lên Ủy ban nhân dân tỉnh. Hơn hết trong lúc này những việc kiện tụng nên dàn xếp cho qua đi và chú ý vào vấn đề chính quyền.


Về vấn đề quân sự

Phải đặc biệt tổ chức các đội tự vệ chiến đấu các làng.

Mỗi làng phải cử ít nhất một người lên tỉnh học trường quân sự thường thức để về huấn luyện cho đội viên tự vệ.

Mỗi phủ huyện ít nhất phải có một trung đội canh gác... Đối với bảo an binh (binh lính và sĩ quan) chọn lọc và sa thải những phần tử hủ hoại rồi sáp nhập với giải phóng quân. Và cấp tốc mở lớp huấn luyện nâng cao trình độ chính trị của họ trong một thời gian ngắn.

Các bộ đội mới, cũ đều phải có chính trị chỉ đạo viên sẽ có sách nghiên cứu về chiến thuật du kích và chiến sự trong bộ đội.

Phải xoá bỏ hàng rào chia rẽ giữa giải phóng quân và bảo an binh, giữa sĩ quan và chính trị viên.

Phải thống nhất chỉ huy quân sự đến Bắc Bộ.

Phải có ủy ban thay người trông nom việc mua và cho võ khí cũng như các đoàn thể sẽ tổ chức những đoàn đi thăm và uý lạo quân giải phóng.

Phải làm cho dân chúng và quân đội có sự liên lạc và hợp tác chặt chẽ với nhau bằng cách tổ chức những đoàn thể thâm nhập vào dân chúng, tuyên truyền và giúp đỡ dân chúng.

Thực hiện hoàn toàn khẩu hiệu quân dân nhất trí.

Phải dùng các hình thức tuyên truyền vận động để nâng cao trình độ tinh thần của quân đội về mọi phương diện. Mở lớp huấn luyện tại chỗ về quân sự và chính trị, lập câu lạc bộ cho quân đội ở mỗi tỉnh.


Vấn đề kinh tế và tài chính

... Các tỉnh phải lo lấy nền kinh tế riêng tỉnh mình nghĩa là phải tự tạo lấy một nền kinh tế độc lập tự cung... Khuyến khích sự chăn nuôi trồng trọt...


Vấn đề xã hội

Đặc biệt tổ chức cứu tế nạn lụt...

Về việc chống nạn mù chữ, mở lớp dạy chữ quốc ngữ ở các làng, các địa phương.

Vấn đề văn hoá

Lập hội văn hoá cứu quốc tỉnh...


Về vận động các giới

Mở cuộc vận động các giới thật rộng rãi, đặc biệt chú ý những giới công nhân, thanh niên, phụ nữ...


Vấn đề nội bộ

Vấn đề tuyên truyền chúng ta phải nhằm mấy khẩu hiệu chính trong lúc này là:

Thống nhất đoàn kết

Chống xâm lược Pháp

Việt Nam hoàn toàn độc lập

Ủng hộ Chính phủ Dân chủ cộng hoà...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 08:46:25 pm »

Về tổ chức

Ta phải đi vào tổ chức bề sâu của phong trào nghĩa là hệ thống ngang dọc của các hội cứu quốc, phải thật chu đáo, ăn khớp với nhau, quy luật của tổ chức phải chặt chẽ, nghĩa là phải thống nhất lên đến cơ quan toàn kỳ Việt Minh..."1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.6).


Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào về việc đối xử với những tù binh người Pháp: "... Ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.15).  Những lời căn dặn của Bác chính là tư tưởng chỉ đạo về chính sách tù, hàng binh của Đảng ta, thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam đối với kẻ thù xâm lược, làm cho thế giới trước hết là nhân dân Pháp hiểu rõ hơn về nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam là đấu tranh vì "Độc lập - Tự do", từ đó ra sức lên án những hành động xâm lược, đàn áp trắng trợn, dã man của thực dân Pháp, đồng thời ủng hộ tích cực cuộc đấu tranh chính nghĩa chống ách thực dân của nhân dân ta.


Nhằm kịp thời lãnh đạo cách mạng, củng cố giữ vững chính quyền, ổn định đời sống nhân dân, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến cứu nước chống thực dân Pháp, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Từ đánh giá sâu sắc tình hình thế giới và trong nước sau chiến tranh thế giới thứ hai, yêu cầu khách quan và mục tiêu của cách mạng, chỉ ra những mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc và âm mưu của chúng đối với cách mạng Việt Nam, Trung ương Đảng chủ trương: "Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là Cuộc cách mạng dân tộc giải phóng.


Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập.

Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong. Giai cấp vô sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là: "Dân tộc trên hết". "Tổ quốc trên hết".

Kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng.

Chiến thuật của chúng ta lúc này là lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược. Mở rộng Việt Minh cho nó bao gồm mọi tầng lớp nhân dân (chú trọng: kéo địa chủ, phong kiến và đồng bào Công giáo, v.v...).

Thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược. Kiên quyết giành độc lập - tự do - hạnh phúc dân tộc. Độc lập về chính trị, thực hiện chế độ dân chủ cộng hoà; cải thiện đời sống cho nhân dân"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.26).


Từ chủ trương trên, chỉ thị xác định nhiệm vụ chung của giai cấp vô sản thế giới là tranh đấu để thực hiện triệt để Hiến chương Liên Hợp quốc, ủng hộ Liên Xô, xây dựng hoà bình thế giới, mở rộng chế độ dân chủ nhân dân ra các nước, giải phóng các nước thuộc địa.


Nhiệm vụ "cần kíp" trong nước lúc này là "... phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân"1 (Sách đã dẫn, tr.26). Trong bốn nhiệm vụ đó, nhiệm vụ trung tâm là giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng. Chính quyền cách mạng là thành quả lớn nhất, tập trung nhất của nhân dân ta qua quá trình đấu tranh cách mạng. Chỉ có giữ vững và củng cố chính quyền mới có điều kiện để giữ vững nền độc lập thống nhất quốc gia, mới thực hiện được các nhiệm vụ cách mạng khác. Trong hoàn cảnh lúc đó, phải căn cứ vào âm mưu, thủ đoạn, lực lượng và khả năng của từng kẻ thù đế quốc phản động, cũng như phải xuất phát từ hiện trạng kinh tế - xã hội nước ta để có các chủ trương, biện pháp kháng chiến kiến quốc phù hợp. Những văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, tập trung nhất là Chỉ thị kháng chiến kiến quốc đã vạch ra các nhiệm vụ và biện pháp toàn diện, cụ thể cần thực hiện để đạt được mục tiêu cách mạng.


- Về chính trị: Lãnh đạo thành công cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội vào ngày 6 tháng 1 năm 1946. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khoá I họp kỳ đầu tiên, trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh lập Chính phủ chính thức, thành lập ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ở các địa phương trên cả nước, nhân dân đã bầu ra Hội đồng nhân dân các cấp; Ủy ban nhân dân chính thức ra đời thay thế các Ủy ban nhân dân lâm thời trước đây.


Chủ trương mở rộng khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở phát triển mạnh mẽ các đoàn thể cứu quốc trong mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc mới. Thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên Việt).

Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật nhằm "lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn", về công khai, Đảng đã tổ chức ra "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác" để tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, giữ vững và mở rộng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng.


Lãnh đạo chính quyền các cấp khắc phục những khuyết điểm trong trong bộ máy nhà nước. Chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xoá bỏ bộ máy cai trị của chính quyền cũ. Chính phủ ra sắc lệnh giải tán hai Đảng phản động "Đại Việt Quốc gia xã hội Đảng" và "Đại Việt Quốc dân Đảng"; ra sắc lệnh quản thúc an trí những phần tử nguy hiểm cho nền Dân chủ Cộng hoà Việt Nam, lập toà án quân sự để xét xử bọn phản động.


Về quân sự: "Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài; phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác triệt để" .

Chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh quân sự, động viên toàn dân tham gia bảo vệ nền độc lập. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm chiếm Nam Bộ, Đảng phát động nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thành lập các ủy ban kháng chiến, củng cố lực lượng trừ gian, xây dựng lực lượng bí mật vùng địch tạm chiếm Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh chuyển Vệ quốc đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Cùng với việc xây dựng quân đội thường trực, Đảng chủ trương xây dựng dân quân, tự vệ ở khắp nông thôn và thành phố.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 08:49:31 pm »

Về ngoại giao: giữ vững nguyên tắc "bình đẳng tương trợ" trong quan hệ ngoại giao với các nước. Những điều cần đặc biệt chú ý: Một là làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết. Cụ thể với từng đế quốc: đối với quân Nhật, giữ thái độ ôn hoà, tránh tất cả những sự xô xát vô ích, bất lợi cho cả đôi bên. Đối với Tàu Tưởng vẫn chủ trương Hoa - Việt thân thiện, coi Hoa kiều như dân tối huệ quốc. Đối với Pháp có sự đồng lõa của Anh thì chủ trương độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế. Hai là muốn ngoại giao thắng lợi phải biểu dương lực lượng, vì dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh. Công cuộc ngoại giao lúc này là một mặt trận đấu tranh quan trọng và rất phức tạp, trong tình thế nhiều kẻ thù đang trực tiếp xâm lược, can thiệp mà nước ta còn bị bao vây bốn phía, tương quan lực lượng không có lợi cho cách mạng. Vì thế phải triệt để phân hóa kẻ thù, có chính sách ngoại giao linh hoạt khôn khéo phù hợp với từng kẻ thù, từng hoàn cảnh cụ thể để cùng với các mặt đấu tranh khác giữ vững nền độc lập, thống nhất của đất nước.


Về tuyên truyền: kêu gọi sự đoàn kết, thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược nhưng chống sự thống nhất vô nguyên tắc với bọn phản quốc; khêu gợi chí căm thù đối với thực dân Pháp và đề cao sự tin tưởng của quốc dân vào thắng lợi cuối cùng; đồng thời phải làm cho đồng bào phân biệt rõ giữa bọn thực dân Pháp xâm lược với nước Pháp và nhân dân Pháp, đặt riêng bọn thực dân Pháp xâm lược ra một bên mà đánh, đừng bỏ cả Pháp, Anh, Ấn (binh lính Anh người thuộc địa Ấn Độ) vào một bị và đừng coi họ là kẻ thù ngang nhau; đừng công kích nước Pháp và dân Pháp.


Về kinh tế tài chính: Đề ra chính sách và lãnh đạo tổ chức thực hiện các chính sách ổn định và cải thiện đời sống nhân dân như: khôi phục sản xuất công nghiệp, khuyến khích các giới công thương mở hợp tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết lại đất nưởc; khuyến khích phát triển nông nghiệp, sửa chữa đê điều, tăng gia sản xuất; thực hành tiết kiệm, giúp đỡ nhau chống nạn đói, tổ chức "Tuần lễ vàng", xây dựng "Quỹ độc lập", lập Ngân hàng quốc gia, ngân quỹ và phát hành tiền Việt Nam.


Về văn hoá: tổ chức bình dân học vụ, bài trừ nạn mù chữ; mở mang giáo dục các cấp, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ; xây dựng nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá, đại chúng hoá.

Về Đảng: phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay bán công khai của Đảng, kết nạp thêm đảng viên, đặc biệt chú trọng gây cơ sở của Đảng cho thật rộng, làm cho sự phát triển của Đảng theo kịp sự phát triển của phong trào công nhân cứu quốc. Tránh cả hai khuynh hướng: chỗ thì tổ chức đảng hẹp quá, chậm quá, chưa bỏ được bệnh hẹp hòi của thời kỳ hoàn toàn bí mật; chỗ thì tổ chức đảng rộng quá, nhanh quá để cho các phần tử cơ hội, phản động lọt vào trong Đảng. Phải tổ chức ra các tổ nghiên cứu chủ nghĩa Mác, bao gồm tất cả những người có khuynh hướng cộng sản, cảm tình cộng sản do người cộng sản lãnh đạo ngăn ngừa không để đảng viên tiêm nhiễm những thói tiểu tư sản..., duy trì nghiêm chế độ sinh hoạt Đảng; tổ chức các chi bộ trong các cơ quan hành chính hay trong các hội hợp pháp, thành lập chi bộ trong quân đội; phối hợp hoạt động bí mật với công khai, đặc biệt coi trọng hoạt động bí mật, không để hai cơ quan, hai hoạt động này xung đột hay đối lập nhau; cơ quan Đảng các cấp duy trì thường xuyên chế độ thông báo, báo cáo tình hình về chủ trương chung của Đảng và chỉ thị công tác cho cấp dưới; phát hành những tài liệu tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ trương, đường lối của Đảng.


Về Mặt trận Việt Minh: ra sức phát triển các tổ chức cứu quốc sẵn có và thống nhất các tổ chức ấy trong toàn kỳ, toàn quốc, sửa lại điều lệ các đoàn thể cứu quốc cho thích hợp với hoàn cảnh mới; lập thêm những đoàn thể cứu quốc mới vào Mặt trận Việt Minh. Giúp cho "Việt Nam Dân chủ Đảng" thống nhất và phát triển để thu hút vào mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yếu nước và tiến bộ. Giúp "Việt Nam nông gia cứu quốc hội" phát triển và mở rộng ảnh hưởng. San phẳng những xung đột xích mích giữa các đoàn thể trong mặt trận, những mâu thuẫn, cạnh tranh giữa Ủy ban nhân dân và ủy ban Việt Minh. Chấn chỉnh lại Tổng bộ Việt Minh để Tổng bộ sinh hoạt đều và tăng cường chỉ đạo các đoàn thể trong mặt trận. Chỉ thị quy định những người cộng sản bắt buộc phải vào các đoàn thể cứu quốc để sinh hoạt và vận động quần chúng. Khẩn trương củng cố các đảng đoàn trong các đoàn thể mặt trận để duy trì và củng cố quyền lãnh đạo mặt trận.


Về Chính phủ: chấn chỉnh lại các bộ, cải cách chính quyền nhân dân ở địa phương, nếu vì lý do cần thiết thống nhất dân tộc và xúc tiến ngoại giao thì có thể cải tổ Chính phủ trước ngày họp Quốc hội. Chính phủ cải tổ ấy vẫn là Chính phủ lâm thời; thanh trừng những phần tử xấu trong Ủy ban nhân dân địa phương và cải tiến cách làm việc của những ủy ban ấy; ban hành những sắc lệnh mang lại ngay quyền tự do và hạnh phúc thực tế cho nhân dân trong điều kiện cụ thể và hoàn cảnh cho phép. Giải quyết một cách hợp lý vấn đề ruộng đất và thuế khoá. Trừng trị bọn phản quốc, bọn chia rẽ, bọn đầu cơ tích trữ và bọn lạm quyền nhiễu dân. Trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Trung Bộ. Cải cách chính quyền nhân dân ở địa phương, cải thiện cách làm việc của các ủy ban ấy.


Đặc biệt về việc kháng chiến, Chỉ thị kháng chiến kiến quốc nêu rất cụ thể: "Hiện nay ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, giặc Pháp chiếm được nhiều tỉnh lỵ, nhưng ta vẫn làm chủ ở thôn quê. Trái lại ở Lào, những thành phố lớn như Viên Chăn, Thà Khẹt, Sa Vẳn, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa, Sê Pôn, v.v... vẫn do quân Lào, có quân Việt Nam giúp sức làm chủ. Còn ở thôn quê, quân Pháp vẫn có thể hoành hành. Ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, quân ta bao vây quân Pháp ở các thành thị, trái lại ở Lào quân Pháp thỉnh thoảng lại bao vây quân ta ở các thành thị.


Vậy chiến thuật của ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ là cắt đứt liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong toả những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự. Còn ở Lào, thì nhiệm vụ chiến thuật là phải "tăng cường võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân Lào ở thôn quê làm cho Măt trận thống nhất kháng Pháp của Lào - Việt lan rộng và chiến tranh du kích phát triển ở thôn quê, đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng ra khỏi đất Lào. Còn ở Miên thì phải thành lập ngay liên quân Miên - Việt và làm cho chiến thuật du kích lan rộng trên đất Miên".


Phải áp dụng chiến tranh du kích đến triệt để và cổ động nhân dân thi hành chính sách ở các thành thị quân địch làm chủ và thi hành "nhà không đồng vắng" nếu quân Pháp tràn về quê. Điều cốt tử là phải giữ vững liên lạc giữa các chiến khu để thống nhất chỉ huy, nơi nào rút khỏi thành thị thì quân ta phải chiếm đóng ở những địa điểm chiến lược lợi hại tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Các vùng chiến tranh chưa lan đến cũng phải chuẩn bị đối phó khi tiến khi lui; kế hoạch tiến công cũng như kế hoạch rút lui cũng phải hết sức chu đáo (phòng đủ mọi việc, địa điểm, cán bộ, lương thực, thuốc men, quần áo, võ khí, v.v...).


Về chống nạn đói: công việc cứu đói cũng cần như việc đánh giặc, phải tích cực chống đói hiện giờ và đề phòng nạn đói thời gian tới; phải khuyến nông làm cho tá điền và địa chủ nhân nhượng nhau để tiếp tục cày cấy như thường, thực hành khẩu hiệu "không bỏ một thước đất hoang"; tổ chức tiếp tế, ngăn cấm đầu cơ tích trữ, tổ chức cứu tế, thực hành khẩu hiệu "nhường cơm sẻ áo" của Hồ Chủ tịch; nhập cảng ngũ cốc.


Về việc Tổng tuyển cử sắp tới: phải xúc tiến việc sửa soạn Tổng tuyển cử. Nguyên tắc giới thiệu ứng cử là: số đảng viên một phần ba, số người của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh một phần ba và số người ngoài mặt trận một phần ba; các ứng cử viên đều đứng trên danh nghĩa công dân. Phải đưa những người đã ở trong Ủy ban nhân dân có năng lực hành chính ra ứng cử, còn những người bất lực và thiếu tư cách thì cho nghỉ để làm việc khác. Cần giới thiệu những vị thân hào có tài, có đức ra ứng cử, và cùng đứng chung một sổ quốc gia liên hiệp với những người ứng cử của Việt Minh (chỗ nào không có lực lượng phản động tranh giành thì không cần giới thiệu sổ riêng).


Đó là những biện pháp toàn diện để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy có nhiều công việc khác nhau, những việc này có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau nhưng đều nằm trong nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến kiến quốc. Nhiệm vụ xây dựng đất nước vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là yêu cầu cơ bản lâu dài, có vị trí hết sức to lớn. Nhưng trong hoàn cảnh nước ta lúc đó mới giành được chính quyền; lại phải ổn định đời sống nhân dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang đến gần. Vì vậy vấn đề hàng đầu đặt ra lúc này là phải củng cố giữ vững chính quyền cách mạng, có giữ vững được chính quyền mới tập hợp, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối "Kháng chiến kiến quốc" của Đảng đã đề ra.


Đường lối kháng chiến kiến quốc phản ánh đúng đắn tình thế và yêu cầu của cách mạng nước ta từ cuối nàm 1945 đến cuối năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ vạch rõ mục tiêu phương hướng tiến lên của cách mạng định ra những yêu cầu cụ thể cho từng nhiệm vụ. Đây là đường lối chung của Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta vượt qua thử thách hiểm nghèo, đưa cách mạng đi tiếp con đường giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 08:57:16 pm »

2. Những biện pháp nhằm xây dựng, củng cố, giữ vũng chính quyền và những kết quả đạt được

a) Biện pháp xây dựng, củng cố chính quyền

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, một ngày sau Lễ Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra sáu việc cấp bách cần làm ngay, Người nêu rõ: "Một là, nhân dân đang đói - Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để ngàn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ.


Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó làm cho tình hình càng trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống.

Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất.

Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo.

Vấn đề thứ hai, nạn dốt - Là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ.

Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ.

Vấn đề thứ ba - Trước hết chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...


Vấn đề thứ tư - Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập.


Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính.

Vấn đề thứ năm - Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, là một lối bóc lột vô nhân đạo. Tôi đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy. Cuối cùng tôi đề nghị tuyệt đối cấm hút thuốc phiện.

Vấn đề thứ sáu - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 7-9).

Sau đó, Người đã nêu ra ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Về kinh tế - văn hóa - xã hội: Thực hiện nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, từ Trung ương đến các địa phương đã phát động chiến dịch cứu đói. Do chính sách bóc lột, vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật để phục vụ chiến tranh, cùng với thiên tai hoành hành mà chính quyền thống trị không hề chăm lo việc phòng bị, dẫn đến nạn đói khủng khiếp làm chết hơn hai triệu người vào cuối năm 1944 đến giữa năm 1945 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.


Ngay từ thời Tiền khởi nghĩa, Đảng đã quan tâm đến việc giải quyết nạn đói cho nhân dân. Mặt trận Việt Minh các địa phương đã hô hào nhân dân vùng lên phá kho thóc dự trữ của Nhật cứu đói cho dân nghèo.

Cách mạng thành công, nhiệm vụ trọng tâm số một của chính quyền cách mạng là giải quyết nạn đói. Chính quyền đã sớm thể hiện vai trò quản lý xã hội của mình bằng việc lập Bộ Cứu tế xã hội và thực hiện các biện pháp hành chính, pháp luật. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra sắc lệnh thủ tiêu những luật lệ của chính quyền cũ hạn chế việc lưu thông lương thực, giữa các vùng trong cả nước. Đồng thời tổ chức việc vận chuyển thóc gạo từ Nam Bộ ra Bắc. Chính phủ cũng nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ lương thực, thành lập ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế, Hội cứu đói các cấp...


Đồng thời Chính phủ kêu gọi đồng bào "lá lành đùm lá rách", cứu giúp lẫn nhau. Báo Cứu quốc, số 53 ngày 28 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng bài Sẻ cơm nhường áo:

"Hỡi đồng bào yêu quý,

Từ tháng Giêng đến tháng bảy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai triệu người chết đói.

Kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước:

Cứ 10 ngày, nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.

Như vậy thì người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.

Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lới đề nghị nói trên.

Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 31)
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM