Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:26:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập  (Đọc 2723 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:00:04 pm »

Biện pháp cơ bản lâu dài giải quyết nạn đói là phải tăng gia sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!".

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và mặt trận Việt Minh, đồng bào cả nước ra sức sản xuất, tiết kiệm lương thực, cứu giúp lẫn nhau. Bác Hồ cũng gương mẫu thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa, lấy gạo giúp dân nghèo. Nhiều cơ quan đoàn thể cũng thực hiện theo Người. Nhiều làng, nhiều gia đình tự nguyện bỏ hủ tục ăn uống lãng phí, tạm ngừng sản xuất cốm, bánh ngọt để tiết kiệm thóc gạo, giúp đỡ người nghèo. Nhiều gia đình giàu có tự nguyện ủng hộ hàng chục tấn thóc để cứu đói. Phong trào cứu đói đã lan rộng khắp cả nước. Cả phạm nhân trong nhà tù, có nơi cũng tự nguyện xin nhịn ăn 10 ngày 1 bữa để cứu người đói. Hoa kiều, Ấn kiều cũng góp tiền, gạo giúp dân nghèo Việt Nam.


Phong trào tăng gia sản xuất, "tấc đất tấc vàng" cũng được thực hiện sôi nổi. Các vị quan chức Chính phủ, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, học sinh, sinh viên và toàn dân, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh đều góp phần sản xuất ra lương thực. Nhà nước còn thành lập ban khuyến nông từ Trung ương đến địa phương, chăm lo tu bổ đê điều...


Những biện pháp tích cực, kịp thời trên đã đem lại kết quả to lớn. Đến cuối năm 1945, đầu năm 1946, nạn đói đã bị đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được khối phục. Vụ mùa năm 1946 lại được mùa lớn, diện tích trồng cấy và sản lượng lương thực đều vượt chỉ số của năm 1939 là năm kinh tế phát triển nhất trước chiến tranh.


Thắng lợi trên mặt trận cứu đói có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng bảo vệ chế độ mới, củng cố được lực lượng của cách mạng, xây dựng được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, vào tính ưu việt của chế độ mới và càng gắn bó mật thiết với cách mạng.


Cùng với việc giải quyết nạn đói, Chính phủ cũng dựa vào dân, phát động lòng yêu nước, tinh thần làm chủ xã hội mới để giải quyết nạn kiệt quệ nền tài chính quốc gia do chế độ cũ để lại. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Chính phủ ra sắc lệnh xây dựng Quỹ độc lập và từ 17 đến 24 tháng 9 tổ chức Tuần lễ vàng, động viên nhân dân ủng hộ tiền, vàng phục vụ việc quốc phòng bảo vệ nền độc lập. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã góp được 370kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương. Ngoài ra nhân dân còn đóng góp hàng chục triệu đồng đảm phụ quốc phòng. Ngày 23 tháng 11 năm 1946, Quốc hội cho lưu hành tiền Việt Nam trong toàn quốc thay thế tiền Ngân hàng Đông Dương.


Được nhân dân ủng hộ và việc quản lý tài chính chặt chẽ, tiết kiệm chi tiêu, nền tài chính quốc gia đã được cải thiện rõ rệt. Thắng lợi trên mặt trận tài chính góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ mới.

Một nhiệm, vụ cấp bách khác của chính quyền cách mạng là chống giặc dốt. Chính quyền thực dân phong kiến thực hiện chính sách ngu dân, để lại hậu quả nặng nề là hơn 90% số dân Việt Nam bị mù chữ. Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong một luận điểm nổi tiếng: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Ngay sau cách mạng thành công, Người nói:
   "Muốn giữ vững nền độc lập,
   Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,
   Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ"
1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 36).


Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch chống nạn mù chữ. Ngay 8 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh "Bắt buộc học chữ quốc ngữ và không mất tiền". Cùng ngày, Nha bình dân học vụ được thành lập để phụ trách việc chống nạn mù chữ. Toàn dân tham gia chiến dịch bình dân học vụ. Người chưa biết chữ thì đi học, bất kể già trẻ, trai gái, người biết chữ thì làm "chiến sĩ diệt giặc dốt", dạy người mù chữ... Chỉ sau một năm đã có khoảng 2 triệu rưỡi người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển với nội dung và phương pháp tiến bộ.


Ngày 10 tháng 8 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh, quy định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới: "Nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ"1 (Việt Nam Dân quốc Công báo, số ra ngày 24 tháng 8 năm 1946. Lưu Trung tâm Lưu trữ quốc gia III). Chính phủ cũng quy định tất cả các cấp học đều dùng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức.


Chỉ mới là năm học đầu tiên của chế độ mới nhưng các trường, lớp học các cấp đã được mở lại và tăng thêm. Trừ Nam Bộ đang còn chiến tranh, riêng Bắc Bộ và Trung Bộ đã mở được 5.654 trường tiểu học với trên 20 vạn học sinh; bậc trung học mở được 25 trường, với 7.514 học sinh. Ngày 15 tháng 11 năm 1945, trường Đại học Việt Nam khai giảng.


Nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên chế độ Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho "các em học sinh". Người viết: "Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà... từ giờ phút này giở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam... Ngày nay các em được may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em... Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần ở công học tập của các em"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 32-33, 56).


Thắng lợi của mặt trận chống giặc dốt có ý nghĩa lớn đông đảo nhân dân phấn khởi, tự hào thoát khỏi cảnh u mê về tri thức, bắt đầu ý thức được vai trò chủ nhân chân chính của chế độ mới.

Cùng với nhiệm vụ chống giặc dốt, cuộc vận động đời sống mới, giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái, xây đạo đức mới "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", bài trừ thói hư tật xấu, phong tục tập quán lạc hậu cũng được đẩy mạnh. Bình đẳng giàu nghèo, bình quyền nam nữ, tự do hôn nhân, tiết kiệm giản dị trong cưới xin, ma chay, xoá bỏ nạn cờ bạc, nghiện hút, đĩ điếm... đó là những nét nổi bật trong đời sống văn hoá mới.


Công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, vệ sinh phòng bệnh cũng được chính quyền quan tâm và nhân dân hưởng ứng.

Những nhiệm vụ về kinh tế, văn hoá, xã hội trên vừa là những vấn đề cấp bách vừa là những vấn đề cở bản, lâu dài của cách mạng. Đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr. 32-33, 56). Những thành tựu đó là cơ sở vững chắc để cách mạng xây dựng những thành tố của hệ thống chính trị mới, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất và xây dựng lực lượng vũ trang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:02:06 pm »

Về nhiệm vụ xây dựng Đảng

Đảng là người đề xướng đường lối chủ trương cách mạng, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng, trong đó cán bộ đảng viên, các tổ chức đảng lại là những chiến sĩ tiên phong. Xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.


Chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công. Bước sang lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc là một công việc hoàn toàn mới mẻ, lại gặp lúc khó khăn chồng chất, kẻ thù chống phá quyết liệt, nhiệm vụ xây dựng Đảng thật là phức tạp. Trung ương Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, sắc sảo, ứng phó với mọi tình huống, tiếp tục củng cố, phát triển Đảng, tiếp tục lãnh đạo cách mạng vượt qua thác ghềnh, vững bước đi lên.


Để tránh "sự tuyên truyền xuyên tạc và sức ép của kẻ thù", để vẫn tiếp tục tồn tại và lãnh đạo cách mạng một cách kín đáo, ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán:

"1- Căn cứ điều kiện lịch sử, tình hình thế giới và hoàn cảnh trong nước, nhận rằng lúc này chính là cơ hội nghìn năm có một cho nước Việt Nam giành quyền hoàn toàn độc lập;

2- Xét rằng, muốn hoàn thành nhiệm vụ dân tộc giải phóng vĩ đại ấy, sự đoàn kết nhất trí của toàn dân không phân biệt giai cấp, đảng phái là một điều kiện cốt yếu;

3- Để tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiên phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tuỵ vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc;

4- Để phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ngày 11 tháng 11 năm 1945 ra nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương".


Những tín đồ của chủ nghĩa cộng sản muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa sẽ gia nhập "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương"1 (). Thực sự, Đảng vẫn giữ vững hệ thống tổ chức của Đảng và chuyển vào hoạt động bí mật. Đảng tổ chức ra "Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương" là hình thức công khai của Đảng để tuyên truyền đường lối chính sách, giữ vững và mở rộng mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng.


Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương Đảng ngày 25 tháng 11 năm 1945 đã đánh giá đúng đắn tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai và tình hình trong nước sau Cách mạng Tháng Tám; đánh giá âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam; xác định tính chất nhiệm vụ cách mạng Việt Nam; vạch ra nhiệm vụ cơ bản, nhiệm vụ trước mắt và từng mặt của cách mạng; và khẳng định "muốn thực hành những nhiệm vụ trên đây, Đảng và Mặt trận Việt Minh phải được củng cố và phát triển". Đặc biệt, chỉ thị nêu những nhiệm vụ chính để củng cố Đảng trong tình hình mới: Duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay bán công khai của Đảng; phát triển đảng viên, phát triển tổ chức đảng trong các cơ quan hành chính, các hội hợp pháp, chú trọng trong các xí nghiệp, thành lập chi bộ trong quân đội; giữ vững sinh hoạt Đảng; phối hợp hoạt động bí mật và công khai, coi công tác bí mật là gốc; tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa Mác cho quần chúng; chống những khuynh hướng sai lầm trong Đảng.


Chỉ thị "Tình hình và chủ trương" ngày 3 tháng 3 năm 1946, "Hoà để tiến" ngày 9 tháng 3 năm 1946 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng là chủ trương đường lối cụ thể trong tình hình biến chuyển mới, vào lúc Hiệp định Sơ bộ được ký kết.

Từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1946 Hôi nghị cán bộ Trung ương họp ra nghị quyết về tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng và củng cố phát triển Đảng, để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới.

Khả năng chiến tranh đến gần, tháng 10 năm 1946 Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng ra nghị quyết về lãnh đạo quân sự. Khi khả năng hoà hoãn không còn, thực dân Pháp áp đặt cuộc chiến tranh cho chúng ta, Trung ương Đảng kịp thời phát động cuộc kháng chiến.


Những nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời kêu gọi của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, của những người mácxít Đông Dương, những bài báo của các đồng chí lãnh đạo của Đảng đăng trên báo Sự thật... thể hiện sự lãnh đạo của Đảng thông qua chủ trương đường lối trên các mặt hoạt động và trong mọi tình thế của cách mạng.


Trong hoàn cảnh đất nước gặp muôn vàn khó khăn, kẻ thù chống phá quyết liệt, đường lối chính sách của Đảng, Chính phủ không thể một lúc được tất cả mọi người thông hiểu. Một số đảng viên, cán bộ và nhân dân có những diễn biến tư tưởng phức tạp. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong Đảng và trong quần chúng để đạt tới thống nhất nhận thức, nhất là về sách lược nhân nhượng hoà hoãn với kẻ thù, không đơn giản. Có xu hướng đòi thẳng tay trừng trị mọi hành động khiêu khích phá hoại của quân Tưởng, đòi đánh Pháp ngay, không cho chúng ra miền Bắc. Xu hướng này có thể xuất phát từ lòng yêu nước, nhưng dễ dẫn đến hành động vô nguyên tắc, làm khó dễ cho công cuộc ngoại giao của Chính phủ. Có xu hướng cho rằng Hiệp định Sơ bộ chẳng có kết quả gì, "ta ký với Pháp là vì không đủ điều kiện đánh nên phải hàng Pháp", dẫn đến bi quan, giảm sút lòng tin vào Đảng và Chính phủ. Trái lại có xu hướng ngây thơ tưởng rằng Hiệp định Sơ bộ được ký kết, cuộc xung đột Pháp - Việt đã được giải quyết xong xuôi, dẫn đến chủ quan không chăm lo chuẩn bị lực lượng chống Pháp. Đảng chủ trương một mặt cương quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng sai lầm trên, mặt khác kịp thời thay đổi những khẩu hiệu tuyên truyền cổ động phục vụ cho việc thực hiện sách lược hoà hoãn, thay đổi hình thức và tổ chức đấu tranh cho phù hợp.


Cùng với việc xây dựng củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức nội bộ Đảng cũng được coi trọng. Ban Chấp hành Trung ương được bổ sung và kiện toàn, sự lãnh đạo chỉ đạo của Trung ương với các địa phương có lúc do chiến tranh, bị gián đoạn, đã được chắp nối lại và duy trì chặt chẽ. Đặc biệt trong hoàn cảnh phức tạp khẩn trương lúc đó, nhiều quyết sách quan trọng phải nhanh chóng kịp thời thì sự tập trung thống nhất lãnh đạo vào Ban Chấp hành Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương, vào lãnh tụ Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết. Đó chính là một bài học về xây dựng Đảng thời kỳ này. Các tổ chức Đảng được củng cố bảo đảm nội bộ thống nhất, trong sạch Đảng bộ Nam Bộ được cải tổ lại, chấm dứt hiện tượng chia rẽ, bè phái của một số đảng viên; xây dựng tổ chức đảng trong quân đội từ Trung ương Quân ủy đến các chi bộ và hệ thống cơ quan chính trị trong các đơn vị quân đội; mở rộng sự hoạt động của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương để tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa cộng sản cho quần chúng. Công tác phát triển Đảng được đặc biệt coi trọng. Đến cuối năm 1946, số đảng viên đã lên tới trên 20.000. Những khuyết điểm trong nội bộ Đảng như hẹp hòi, tả khuynh, bè phái, kỷ luật không nghiêm... dần dần được khắc phục. Trung ương Đảng còn chỉ thị đấu tranh chống ảnh hưởng của "Chủ nghĩa Các Mác cải lương" và chủ nghĩa cơ hội. Các đảng viên cộng sản tuy số lượng còn ít, trình độ lý luận, kinh nghiệm công tác trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền còn hạn chế, nhưng đều thể hiện vai trò tiền phong gương mẫu, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng. Nhiều đồng chí tự nguyện rút khỏi cương vị trong chính quyền Nhà nước, nhường cho những người đối lập để thực hiện sách lược hoà hoãn của Đảng.


Tuy không hoạt động công khai và trong nhiệm vụ lãnh đạo mới đầy khó khăn gian khổ, nhưng Đảng ta đã xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc, hoàn thành nhiệm vụ chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh thời kỳ 1945 - 1946.


Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về sự kiện này: "Việc Đảng tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào bí mật... Và dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.22).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:03:51 pm »

Về xây dựng chính quyền

Giành chính quyền là vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất của cách mạng. Lênin đã dạy: "Vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng, giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả"2 (Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr.269).


Từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh liên tục qua ba cao trào cách mạng, nhằm mục tiêu cao nhất là giành chính quyền. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Vấn đề xây dựng chính quyền mới được đặt ra cấp bách, là vấn đề trung tâm của công cuộc xây dựng chế độ mới.


Sau khi chính quyền thực dân phong kiến bị giải thể, chính quyền cách mạng được thành lập từ Trung ương đến các làng bản. Ủy ban dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Các thành viên Chính phủ phần lớn là các chiến sĩ cách mạng, có bổ sung thêm một số nhà yêu nước và một ít người cần tranh thủ. Ví dụ: cụ Nguyễn Văn Tố là một trí thức yêu nước, được cử làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, ông Nguyễn Mạnh Hà, một tư sản dân tộc được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế, Cựu hoàng Bảo Đại được cử làm Cố vấn cho Chủ tịch Chính phủ. Ở các địa phương, chính quyền chủ yếu là người của Mặt trận Việt Minh, cũng có mở rộng đưa một số người tuy không tham gia cách mạng trước đây, nhưng có tinh thần chống đế quốc, phong kiến, có uy tín với nhân dân vào chính quyền.


Tuy chính quyền còn non trẻ, bộ máy tổ chức chưa hoàn chỉnh, cán bộ chưa có kinh nghiệm, điều kiện hoạt động vô cùng hạn chế, nhưng với tinh thần cách mạng, ý thức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chính quyền lâm thời dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh được Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc ủng hộ đã hoạt động khẩn trương, tích cực có hiệu quả, thể hiện sức thanh xuân của chế độ mới.


Để có một bộ máy nhà nước chính thức, hợp pháp, quan hệ quốc tế thuận lợi hơn và dễ dàng huy động sức mạnh toàn dân tộc vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, dù bận trăm công ngàn việc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tích cực chuẩn bị để Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời đã ban hành các sắc lệnh về lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử, định rõ ngày Tổng tuyển cử, thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.


Ngày 6 tháng 1 năm 1946, công dân cả nước đã nồng nhiệt tham cuộc Tổng tuyển cử tự do, bình đẳng. Mặc dù các thế lực phản động ra sức chống phá, kể cả dùng vũ lực, nhưng nhân dân ta với tinh thần làm chủ đất nước, được lực lượng vũ trang hỗ trợ đã đánh bại mọi âm mưu hành động của địch, cuộc bầu cử giành thắng lợi lớn. Tỷ lệ cử tri cả nước đi bầu cử là 85%. Kết quả đã bầu được 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên. Thành phần trong Quốc hội đã chứng tỏ đây là cơ quan quyền lực đại biểu cho toàn dân, người các đảng phái 57%, không đảng phái 43%, trí thức 61%, nông dân 22%, công nhân 6%, thương gia 5%1 (Báo Cứu quốc ngày 6 tháng 3 năm 1946).


Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà họp kỳ thứ nhất. Quốc hội đã tuyên dương công lao của Chính phủ lâm thời trong những ngày đầu xây dựng và bảo vệ đất nước. Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh lập Chính phủ chính thức. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu thành phần Chính phủ chính thức, Quốc hội đã nhất trí thông qua. Quốc hội đã cử ra Ban Thường vụ Quốc hội, cử Cố vấn đoàn và kháng chiến ủy viên hội. Trong kỳ họp này, Quốc hội còn truy nhận 70 đại biểu của Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử. Quốc hội đã quyết định thủ tiêu mọi chế độ lập pháp cũ và thành lập ủy ban dự thảo hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban.


Kỳ họp thứ hai của Quốc hội từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, đã thông qua bản Hiến pháp chính thức của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.

Do điều kiện chiến tranh và bộ máy chính quyền nhà nước chưa hoàn chỉnh, quy chế hành chính còn sơ sài, hệ thống pháp luật mối xây dựng bước đầu nên vai trò của Quốc hội còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, đó đã thực sự là Quốc hội của nhân dân. Trừ một số ít đại biểụ Việt Quốc, Việt Cách vì quyền lợi riêng của đảng phái và cá nhân chỉ hoạt động phá hoại, còn đại đa số đại biểu Quốc hội đã đem hết sức lực và tài năng thực hiện lời căn dặn Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì lợi nước, quên lợi nhà, vì lợi chung, quên lợi riêng". Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được Quốc hội thông qua ngày 2 tháng 3 năm 1946 lấy tên là Chính phủ liên hiệp kháng chiến.


Trong phiên họp đầu tiên ngày 4 tháng 3 năm 1940 Chính phủ đã quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại:

"Về nội trị:

1- Các đảng phải đoàn kết chặt chẽ, ngôn luận hành động phải nhất trí để phụng sự quốc gia.

2- Sinh mệnh và tài sản của tất cả nông dân Việt Nam và kiều dân ngoại quốc được hoàn toàn bảo đảm.

3- Hành chính và quân đội phải thống nhất về tài chính, kinh tế tập trung.

4- Mọi lực lượng của quốc dân được huy động để dùng trong việc kháng chiến kiến quốc và toàn thể nhân dân, nhất là những người làm việc công phải tuân theo kỷ luật.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:04:55 pm »

Về ngoại giao:

1- Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa.

2- Đối với các nước nhược tiểu đang đấu tranh giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình.

3- Đối với nhân dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn, song cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc: "Dân tộc tự quyết" của Hiến chương Đại Tây Dương"1 (Báo Cứu quốc, ngày 5 tháng 3 năm 1946).


Chính phủ Liên hiệp kháng chiến tồn tại đến tháng 11 năm 1946. Các thành viên Chính phủ thuộc Việt Quốc và Việt Cách không những không lo công việc của Chính phủ, trái lại còn hoạt động phá hoại chính sách của Chính phủ. Họ bị nhân dân chán ghét và phải chạy ra nước ngoài. Thực tế, Chính phủ vẫn do những đại biểu Việt Minh làm nòng cốt và ra sức hoạt động vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Đúng như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

"Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no mặc đủ.

Chúng ta phải thực hiện ngay:

1- Làm cho dân có ăn.

2- Làm cho dân có mặc.

3- Làm cho dân có chỗ ở.
   
4- Làm cho dân có học hành.

Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do, độc lập và giúp sức được cho độc lập"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr.152).

Đó là việc xây dựng chính quyền Nhà nước ở Trung ương, ở các địa phương, chính quyền cũng được thành lập ngay sau Cách mạng Tháng Tám nhưng cơ cấu tổ chúc và chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan và ở các địa phương chưa thống nhất.

Cuối năm 1945, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh quy định thống nhất về cơ cấu tổ chức, chức năng quyền hạn, cách thức tổ chức chính quyền các địa phương.

Hội đồng nhân dân chỉ tổ chức ở câp tỉnh, thành phố xã và thị xã, do phổ thông đầu phiếu và trực tiếp bầu ra Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Hội đồng nhân dân bầu ra ủy ban hành chính.

Ủy ban hành chính được tổ chức ở tất cả các cấp từ kỳ đến xã: ủy ban hành chính ở cấp nào do Hội đồng nhân dân cấp đó bầu ra. Cấp nào không tổ chức Hội đồng nhân dân thì do các ủy viên Hội đồng nhân dân cấp dưới kề cấp đó bầu ra. Người ứng cử vào ủy ban hành chính cấp nào phải là ủy viên Hội đồng nhân dân cấp đó. Nếu cấp nào không có Hội đồng nhân dân thì tất cả cử tri đều có quyền ứng cử. Đến cuối năm 1946, hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã bầu được Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính từ cấp xã đến cấp tỉnh.


Để củng cố và giữ vững chính quyền những ngày mới thành lập, ngoài việc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và bọn phản động, tay sai, tổ chức bộ máy chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất coi trọng tới việc xây dựng bản chất, giữ vững sự trong sạch của bộ máy chính quyền nhân dân. Đó là chính quyền của dân, phục vụ nhân dân. Trong "Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng", tháng 10 năm 1945, Bác đã căn dặn:

"... Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... chứ không phải để đè đầu dân...

Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.17).

Người còn nêu ra những biểu hiện tiêu cực của một số cá nhân trong bộ máy chính quyền của ta là: "Trái phép: vì tư thù tư oán mà bắt bố và tịch thu làm cho dân oán thán", "Cậy thế: cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng... không nghĩ đến dân", "Hủ hoá: lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức", "Tư túng: kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ", "Chia rẽ: bênh vực lớp này, chồng lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau", "Kiêu ngạo: tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian". Từ đó Người yêu cầu mỗi người phải giữ vững sự trong sạch về phẩm chất, đạo đức, lối sống, tích cực tu dưỡng rèn luyện tiến bộ; trong công tác phải "công bình, chính trực", tránh phạm sai lầm, những người đã phạm lỗi trên thì phải thắng thắn nhận ra và ra sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì "Chính phủ sẽ không khoan dung".


Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến, chỉ hơn một năm, trong tình thế hết sức khó khăn, chính quyền cách mạng đã được xây dựng và hoạt động có hiệu quả. Những tư liệu còn lưu giữ được đến nay như các biên bản họp Quốc hội, Chính phủ, các sắc lệnh, nghị định của Chính phủ, của các Bộ... cho thấy Hội đồng chính phủ và các Bộ hoạt động khá bài bản, nền nếp. Chính quyền địa phương tuy còn những lúng túng, bất cập, có những sai sót, nhưng tinh thần phục vụ nhân dân là rất tốt và chỉ đạo thực tiễn có kết quả.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:06:42 pm »

Xây dựng lực lượng vũ trang

Công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập, thống nhất dân tộc đòi hỏi đất nước phải có lực lượng quân sự ngày càng mạnh, làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến toàn dân, Đảng ta hết sức coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Ngay từ Hội nghị toàn quốc của Đảng giữa tháng 8 năm 1945, Đảng đã nêu chủ trương "vũ trang toàn dân", "mở rộng Quân giải phóng Việt Nam". Sau Cách mạng Tháng Tám, phong trào vũ trang toàn dân hết sức sôi nổi. Già trẻ, gái trai các làng xã đều tự sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự hàng ngày. Các đoàn thể cứu quốc đều quân sự hoá. Các đội tự vệ, vốn là lực lượng xung kích cùng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, nay được củng cố, phát triển, trở thành Tự vệ cứu quốc. Đến cuối năm 1945, hầu hết các thôn xã, đường phố, nhà máy trên cả nước đều có tổ chức tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ từ vài vạn lúc Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1946 đã phát triển tới gần một triệu.


Cùng với phong trào vũ trang toàn dân và sự phát triển các đội tự vệ, bộ đội tập trung cũng được củng cố và phát triển vượt bậc. Tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị phải nhanh chóng chấn chỉnh, mở rộng giải phóng quân và đổi tên là Vệ quốc đoàn. Tuy còn mang tên là Vệ quốc đoàn để che giấu lực lượng với quân Tưởng, nhưng thực sự, từ đây Vệ quốc đoàn đã trở thành quân đội của Nhà nước ta. Đến ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra sắc lệnh 71/SL, Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội Quốc gia, biên chế chính thức theo từng trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội. Ở các tỉnh có chi đội (tiểu đoàn) Vệ quốc quân, các huyện có chi đội hay phân đội (đại đội) Vệ quốc quân. Cuối năm 1946, bộ đội chủ lực lên đến 8 vạn. Hình thức tổ chức lực lượng vũ trang ba thứ quân đã hình thành. Một số binh chủng hoả lực, kỹ thuật cũng ra đời cùng với sự phát triển của bộ đội tập trung. Ngày 29 tháng 6 năm 1946, đơn vị pháo binh đầu tiên ra đời tại Hà Nội. Tháng 9 năm 1946, đơn vị thông tin quân sự đầu tiên được thành lập.


Đi đôi với sự phát triển về số lượng, chất lượng lực lượng vũ trang được coi trọng và không ngừng nâng cao. Việc huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang được tiến hành khẩn trương. Các trường huấn luyện, đào tạo cán bộ chỉ huy quân đội được thành lập. Trường Quân chính kháng Nhật trước, nay được mở rộng và đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam, cấp tốc đào tạo cán bộ cho quân đội. Tháng 3 năm 1946, Trung ương Đảng mở Trường Quân chính Bắc Sơn. Tháng 5 năm 1946, Bộ Quốc phòng khai giảng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Các địa phương cũng mở nhiều trường quân sự đào tạo cán bộ cho bộ đội địa phương và tự vệ. Tính đến cuối năm 1946, hàng nghìn cán bộ quân sự được đào tạo, kịp thời đáp ứng nhu cầu về cán bộ chỉ huy cho các đơn vị. Nhiều cán bộ của Đảng đã rèn luyện qua các thời kỳ cách mạng được cử vào phụ trách quân đội, nhiều cán bộ Việt Minh được đưa sang là cán bộ quân sự. Hệ thống tổ chức Đảng trong quân sự ngày càng được kiện toàn. Tháng 1 năm 1946, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng trong quân đội (gồm 7 đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng, Lê Liêm, Hoàng Văn Thái, Chu Văn Tấn, Nguyễn Sơn. Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư đồng chí Trần Tử Bình làm Phó Bí thư) có nhiệm vụ: Giúp Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp nắm hoạt động của lực lượng vũ trang, xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, bảo đảm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân trong mọi thử thách quyết liệt. Cơ quan giúp việc Trung ương Quân ủy có ủy ban quân sự, ủy ban chính trị, ủy ban Đảng vụ. Kể từ đó hệ thống tổ chức đảng trong quân đội được hình thành ở các cấp, xuống tới đơn vị cơ sở là chi bộ. Chế độ lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với quân đội ra đời từ đây. Chế độ chính trị viên cùng đội trưởng phụ trách đơn vị được thực hiện trong toàn quốc. Sau khi thành lập Chính phủ Liên hiệp quốc dân thay cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, tháng 11 năm 1946, Kháng chiến ủy viên hội (hay Quân sự ủy viên hội) thống nhất với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng để tập trung lãnh đạo, chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc.


Để thống nhất lãnh đạo, chỉ huy đối với Quân đội Quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận đề xuất của Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất (19 tháng 10 năm 1946) và ngày 30 tháng 11 năm 1946, ra sắc lệnh số 230/SL, bổ nhiệm đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy quân đội.


Từ tháng 1 năm 1946 là thời điểm thành lập, đến cuối năm 1946, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự phối hợp của các đảng bộ các địa phương, được đồng bào cả nước thương yêu chăm sóc, Trung ương Quân ủy và các tổ chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội đã lãnh đạo, tổ chức toàn quân vừa chiến đấu, công tác, vừa trưởng thành vượt bậc, cùng với toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các lực lượng đế quốc và tay sai, giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng được "lực lượng căn bản" để chủ động bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc.


Cùng với việc xây dựng lực lượng quân sự, lực lượng công an cũng được xây dựng, mở đầu từ cuộc khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Ngày 21 tháng 2 năm 1946, Chính phủ ban hành sắc lệnh lập "Việt Nam Công an vụ". Ngày 18 tháng 4 năm 1946, Bộ Nội vụ ra nghị định quy định cơ cấu tổ chức, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan công an từ cấp Trung ương đến các tỉnh và sự liên lạc giữa các cơ quan công an với các cơ quan của ủy ban hành chính. Tuy mới thành lập, số lượng chưa nhiều, trình độ nghiệp vụ và phương tiện kỹ thuật còn hạn chế, nhưng lực lượng công an đã có đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền, bảo vệ trật tự trị an, trừng trị bọn phản cách mạng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Ba, 2026, 09:08:06 pm »

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

Trước những hành động xâm lược và phá hoại của tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh - mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo, các hội cứu quốc trong mặt trận như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu quốc... phát triển mạnh mẽ. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận được phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân được tổ chức chặt chẽ, là lực lượng chính trị hùng hậu phát triển rộng khắp trong và sau ngày Tổng khởi nghĩa.


Lực lượng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân hình thành phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phương kháng chiến.


Nhân dân chỉ có thể phát huy sức mạnh to lớn của mình khi được tổ chức và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Nhiều cán bộ của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, của các đoàn thể cứu quốc được cử đến những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh ở Tây Bắc, Tây Nguyên để làm công tác tuyên truyền vận động và tổ chức nhân dân. Các đoàn thể cứu quốc được xây dựng rộng khắp: hội công nhân cứu quốc ở các nhà máy, công xưởng; các hội nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng cứu quốc ở khu phố thôn xã; hội học sinh, sinh viên cứu quốc ở trường học; hội viên chức cứu quốc ở các công sở. Trong các tôn giáo có Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Công giáo cứu quốc. Để mở rộng hơn nữa mặt trận dân tộc thống nhất do giai cấp công nhân lãnh đạo, Đảng ta đã chú ý tranh thủ những nhân sĩ yêu nước thuộc tầng lớp trên. Đảng còn cố gắng lôi kéo tranh thủ cả những người cầm đầu tầng lớp thống trị cũ (trong đó có Bảo Đại), những người có ảnh hưởng lớn trong các dân tộc, các tôn giáo (như vua Mông là Vương Chí Sình, linh mục Thiên chúa giáo là Lê Hữu Từ...). Mặc dù một số nhũng người này đi theo cách mạng chỉ là một cử chỉ có tính chất cơ hội nhằm tránh đòn trừng phạt của nhân dân, nhưng điều đó càng nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi của Đảng vì quyền lợi chung của Tổ quốc, đồng thời có tác dụng cô lập triệt để bọn đế quốc xâm lược, ngăn chặn hạn chế các hoạt động chia rẽ, phá hoại của bọn phản cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tạo sự ổn định vững chắc về chính trị, chuẩn bị hậu phương cho sự nghiệp kháng chiến.


Với tư cách người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước còn yêu cầu chính quyền các cấp và nhân dân toàn quốc phát hiện, tiến cử những người tài đức, không phân biệt tuổi tác và thành phần giai cấp ra giúp dân giúp nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Khối đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác ta thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Đồng thời tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực rộng Đảng Xã hội Việt Nam nhằm đoàn kết rộng rãi những người trí thức yêu nước, đập tan âm mưu của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai định lập lại chi nhánh đảng xã hội Pháp ở Việt Nam hòng lôi kéo trí thức và công chức chống lại Việt Minh. Ngày 20 tháng 10 năm 1946 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời đoàn kết các tầng lớp phụ nữ yêu nước, ủng hộ chính, quân, nhân dân, chống thực dân Pháp xâm lược.


Đặc biệt, ngày 19 tháng 4 năm 1946, Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam được triệu tập ở Plây Cu ngày 3 tháng 12 năm 1946, Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở Hà Nội, nhằm đoàn kết các dân tộc trong nước, chống âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp.


Nhiệm vụ chính trị của giai đoạn mới là chống âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân Pháp và xây dựng đất nước, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới, nó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Đồng thời tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực, mở rộng đoàn kết với hai dân tộc Lào và Campuchia, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hòa bình dân chủ trên thế giới, củng cố chế độ cộng hòa dân chủ.


Mặt trận Việt Minh được mở rộng với sự phát triển của các đoàn thể cứu quốc sẵn có và tổ chức thêm các đoàn thể cứu quốc mới. Tổng số hội viên của Việt Minh đã có khoảng 5 triệu người. Đảng Dân chủ càng được Mặt trận Việt Minh giúp đỡ phát triển, thu hút tầng lớp tư sản, địa chủ yếu nước, tiến bộ. Mặt trận Việt Minh, tuy là mặt trận thống nhất rộng rãi, có uy tín lớn, song, thành phần tham gia chủ yếu là các tầng lớp cơ bản của xã hội, đa số là công nhân và nông dân. Trong tình hình mới, có những nhân sĩ, trí thức, những điền chủ và công thương gia, những chức sắc tôn giáo, nhiều tổ chức và cá nhân có xu hướng chính trị khác nhau chưa tham gia Việt Minh, nay họ muốn tham gia một tổ chức mặt trận thích hợp để có điều kiện phấn đấu cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường. Đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam.


Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) thành lập ngày 29 tháng 5 năm 1946. Cụ Hồ Chí Minh được cử làm Hội trưởng danh dự. Cụ Huỳnh Thúc Kháng - một nhân sĩ trí thức được cử làm Hội trưởng. Chương trình của Hội Liên Việt nêu rõ: "Mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường"1 (Đảng Cộng sản, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr.69).


Như thế thành phần của Hội Liên Việt rộng rãi hơn ngoài Việt Minh là một thành viên tích cực, còn có nhiều tổ chức và cá nhân khác, kể cả người của Việt Quốc, Viêt Cách. Đây chính là thực hiện phương châm "thêm bạn, bớt thù" để mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ta Sau đó, Đảng Xã hội Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Báo chí Việt Nam cũng được thành lập và gia nhập Hội Liên Việt.


Chủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ này là sự sáng tao đặc sắc, phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của tình hình mới, một thời kỳ vô cùng khó khăn, phức tạp. Nhờ chủ trương đúng đắn đó mà Mặt trận dân tộc thống nhất có bước phát triển mới, bạn ngày càng đông, thù ngày càng ít, khối đại đoàn kết dân tộc được mở rộng ra và được củng cố chưa từng có.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:35:48 pm »

b) Sách lược hoà hoãn với kẻ thù để giữ vững chính quyền

Ở miền Bắc, Tưởng Giới Thạch đưa gần 20 vạn quân cùng bọn tay sai vào nước ta không phải chỉ để tước vũ khí ba vạn binh lính Nhật, mà còn có ý định ngay lập tức "diệt Cộng cầm Hồ", lập Chính phủ bù nhìn tay sai, thực hiện một lúc nhiều mục tiêu: tiêu diệt một Chính phủ cộng sản ở phía Nam, trong khi đang bị cách mạng Trung Quốc uy hiếp từ phía Bắc; xác lập ảnh hưởng của Trung Hoa Dân quốc càng lớn càng tốt để thực hiện dã tâm bành trướng sau này; gây sức ép mặc cả quyền lợi với Pháp. Từ khi thấy Pháp nổ súng đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, Tưởng Giới Thạch càng muốn nhanh chóng thực hiện ý đồ trên, trước khi Pháp có thể mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta. Nhưng quân Tưởng sang Việt Nam, thấy chính quyền ta đã được thành lập từ Trung ương xuống các địa phương và được toàn dân ủng hộ, khí thế của cách mạng rất lốn mạnh. Trong khi đó, bọn tay sai không có lực lượng và sự ủng hộ nào đáng kể như chúng báo cáo trước đây. Quân Tưởng nhất là các quân đoàn Vân Nam vốn là đạo quân ô hợp, đói rách (bao gồm cả gia đình binh sĩ đi theo), rất khó khăn về tiếp tế, hậu cần, nên buộc phải giao thiệp với Chính phủ ta, trước hết là lấy cái ăn, chốn ở, sau là thăm dò tình hình, tìm một phương sách thích hợp chống phá ta.


Hà Ứng Khâm cùng Mắc Lơrơ - Tư lệnh lục quân Mỹ ở Trung Quốc sang nước ta kiểm tra tình hình và quyết định hành động của quân Tưởng. Sau khi nắm tình hình, ngày 3 tháng 10 Hà Ứng Khâm tuyên bố lời lẽ cứng rắn, đe dọa ta rằng: Quân đội Trung Hoa ngoài việc giải giáp quân đội Nhật, "còn giữ gìn không xảy ra những việc gì có hại cho trị an và trật tự ở đó. Nếu kẻ nào làm rối trị an và trật tự sẽ bị ngăn ngừa, trừng trị một cách rất công bằng không có thiên lệch, dù đối với người nào hay về phương diện nào cũng vậy"1 (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tr.240) nhưng thực tế Hà Ứng Khâm và Mắc Lơrơ đã phải ra lệnh cho bọn tướng lĩnh dưới quyền không được dùng vũ lực lật đổ chính quyền ta, mà phải chống phá bằng các thủ đoạn chính trị, ngoại giao, có sự răn đe, hậu thuẫn của lực lượng quân sự. Thủ đoạn mới của quân Tưởng là yêu sách ta nhiều điều ngang ngược, gây khó khăn cho ta, dùng bọn tay sai xâm nhập chính quyền cách mạng để chống phá mọi chính sách của Chính phủ làm suy yếu tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, thay thế bằng chính quyền tay sai. Như thế không dùng hành động vũ lực phiêu lưu, nhưng vẫn đạt được mục đích. Tuy nhiên, nếu điều kiện cho phép, chúng cũng không loại trừ khả năng dùng vũ lực. Mặt khác, Tưởng cũng muốn để ta đánh Pháp, ngăn chặn Pháp đánh chiếm cả nước. Hòa hoãn với ta, Tưởng coi ta như một lực lượng Đồng minh tạo thế trong cuộc mặc cả với Pháp.


Xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, vừa phải chống thực dân Pháp xâm lược, vừa phải nỗ lực từng bước xây dựng đất nước, mặc dù biết rõ âm mưu thủ đoạn của quân Tưởng, Đảng ta vẫn chủ trương hoà hoãn với quân Tưởng. Lúc này với giặc ngoại xâm ta chưa đủ sức dùng lực lượng quân sự chống cả hai kẻ thù cùng một lúc. Nếu không biết lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, phân hoá chúng, hoà hoãn với một kẻ thù, thì nước ta sẽ rơi vào một hoàn cảnh Pháp đánh trong Nam, Tưởng dùng vũ lực lật đổ chính quyền ngoài Bắc. Tình thế ấy, chúng ta khó có thể chống đỡ nổi. Thông cáo ngoại giao của Chính phủ lâm thời ngày 4 tháng 10 năm 1945 viết:

"Nước Việt Nam còn đương ở giai đoạn đấu tranh kịch liệt, các chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy được thắng lợi bằng một phương pháp êm dịu hay cương quyết tuỳ theo thái độ của các liệt quốc". Trong các liệt quốc ấy, Đảng ta xác định: "Kẻ thù chính của ta hiện nay là thực dân Pháp xâm lược. Kẻ thù phụ của chúng ta hiện nay là những lực lượng giúp thực dân Pháp đặt lại quyền thống trị trên đất nước ta. Cố nhiên bọn Việt gian thân Pháp là một trong những lực lượng phản động ấy. Phải chĩa tất cả các mũi nhọn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào kẻ thù chính; đồng thời phải cô lập những kẻ thù phụ"1 (Báo Sự thật, ngày 30 tháng 12 năm 1945).


Để thực hiện chủ trương lợi dụng mâu thuẫn giữa hai phe Đồng minh Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, tập trung ngọn lửa đấu tranh vào thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta thực hiện sách lược "Hoa - Việt thân thiện", hoà hoãn với quân Tưởng để hạn chế sự chống phá trắng trợn điên cuồng của chúng, giữ vững chính quyền, tập trung lực lượng kháng chiến chống pháp. Đương nhiên, hoà hoãn với quân Tưởng, ta phải chấp nhận những khó khăn phức tạp. Tất cả những âm mưu thủ đoạn của quân Tưởng và bọn tay sai không phải chúng ta không đánh giá hết. Những hành động chống phá của chúng không phải không gây ra những khó khăn nghiêm trọng cho ta. Tuy nhiên, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cân nhắc kỹ lợi hại, chọn giải pháp ít nguy hại hơn. Những khó khăn do quân Tưởng gây ra trong hoà hoãn, chúng ta có thể đối phó và vượt qua.


Quân Tưởng phải hoà hoãn với ta, nhưng chúng đòi những điều kiện nhất định. Để đạt được hoà hoãn, chúng ta phải mềm dẻo và nhân nhượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định phương châm đối phó với quân Tưởng:

"Chính sách của ta hiện nay phải là chính sách Câu Tiễn. Nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục"2 (Nguyễn Lương Bằng, Bác Hồ, Nxb Văn hóa, H. 1960, tr. 78).

Trong cuộc họp với các Bí thư Tỉnh ủy cuối năm 1945, Người phân tích:

"Quân đội Tưởng Giới Thạch sang đây không phải để chúng giúp ta độc lập, chúng có mưu đồ riêng của chúng. Nhưng về sách lược bên ngoài ta vẫn phải nói cám ơn ta phải dùng sách lược của Việt Vương Câu Tiễn mới được Phải "dĩ nhu chế cương"1 (Hồi kỳ của đồng chí Đặng Việt Châu, TL ban nghiên cứu lịch sử Đảng Vĩnh Phú, tr. 9).

Sách lược nhân nhượng, hoà hoãn được Đảng, Chủ tích Hồ Chí Minh và nhân dân ta thực hiện trên nhiều lĩnh vực: ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự...

Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rất rõ Mỹ là kẻ quyết định chính sách của Tưởng. Từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1946, Người đã gửi nhiều bức thư tranh thủ Tổng thống và các quan chức ngoại giao Mỹ và tranh thủ những sĩ quan Mỹ ở Hà Nội lúc đó, như thiếu tá Tômát, thiếu tá Pátti...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:37:26 pm »

Với Tưởng Giới Thạch và bọn tướng lĩnh Hoa Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức tạo ra mối quan hệ giao hảo, ngăn chặn, hạn chế những mặt xấu của họ. Trong thư chúc tết đồng bào, chiến sĩ cả nước nhân dịp Tết Bính Tuất (1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Nhờ có anh em Trung Hoa mà miền Bắc nước ta tránh được họa binh đao, đồng bào ta được làm ăn yên ổn, do đó mà có thể giúp đỡ đồng bào miền Nam, tinh thần thân thiện đó, chúng ta phải biết và phải nhớ luôn luôn.

Vậy nên nhân dịp tết này, tôi kính thay mặt toàn quốc đồng bào mà chào mừng toàn thể anh em Trung Hoa ở đây và ở Trung Quốc muốn sự tốt lành.

   Chúng ta cùng hô to:
   Năm mới Hoa - Việt thân thiện muôn năm,
   Việt Nam kháng chiến thắng lợi!
   Việt Nam độc lập muôn năm!"1 (Báo Cứu quốc, số Tết Bính Tuất).

Ngày 16 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái đoàn Chính phủ do Cố vấn Vĩnh Thuỵ dẫn đầu đáp máy bay đi Trùng Khánh thăm Tưởng Giới Thạch.

Với Lư Hán, ngày 11 tháng 9 năm 1945 đến Hà Nội, thì hôm sau Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm, nói rõ chủ trương Hoa - Việt thân thiện của ta. Với Tiêu Văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều lần để thuyết phục giải quyết những sự việc rắc rối do quân Tưởng gây ra. Với cả đạo quân Tưởng đông đảo và ô hợp, chính quyền và nhân dân Việt Nam đã phải đón tiếp chúng một cách hữu nghị như những người cùng trong phe Đồng minh. Ta bảo đảm cung cấp những nhu cầu sinh hoạt như nhà ở, lương thực, thực phẩm, nhận cho lưu hành đồng tiền mất giá Quan kim và Quốc tệ. Trước những hành động quấy phá, khiêu khích của chúng, ta chủ trương dùng đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý dàn xếp cho ổn thỏa, tránh đối đầu về quân sự.


Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ:

"Phải hết sức tránh khiêu khích, không để xảy ra xung đột với quân Tưởng. Nếu đã xảy ra xung đột thì phải biến xung đột lớn thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không xung đột"1 (Võ Nguyên Giáp, Những chặn đường lịch sử, Nxb Văn hóa, H. 1977, tr. 299).

Ở nhiều nơi như Hà Nội, Vĩnh Yên, Phú Thọ ta rút hoặc giãn lực lượng vũ trang ra ngoài để bớt không khí đối đầu căng thẳng và tránh va chạm. Nhiều nơi khác, ta tạm rút cơ quan chính quyền ra ngoài thị xã, thị trấn chỉ để lai bộ phận nhỏ thường trực để tránh quân Tưởng và bọn tay sai gây rối loạn có thể bất ngờ tiến công cơ quan chính quyền ta. Ở Thái Nguyên, cơ quan chính quyền đoàn thể tạm rút về Phú Lương, cơ quan tỉnh Phú Thọ rút về Hưng Hoá, cơ quan tỉnh Thái Nguyên rút về Đạm Xuyên cơ quan thị trấn Việt Trì rút về làng An Lão... Ta thoả thuân với quân Tưởng thành lập Ban liên lạc Trung - Việt ở Hà Nội, Ban liên kiểm ở thị xã Phúc Yên, Biện sự sứ ở thị xã Phú Thọ... gồm đại diện chính quyền ta, đại diện quân đội Tưởng và có nơi, gồm cả đại diện Việt Quốc, để giao thiệp hàng ngày và giải quyết những vụ rắc rối giữa hai bên.


Chúng ta vừa nhân nhượng, vừa đấu tranh, và trong tương quan lực lượng cụ thể, Tưởng phải hòa hoãn với ta. Nhưng trước ý đồ lật đổ chính quyền nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, âm mưu của chúng vẫn không thay đổi, chỉ có cách thức tiến hành thì có sự điều chỉnh. Nếu như ý định lúc đầu của chúng là dùng vũ lực trực tiếp lật đổ chính quyền cách mạng nhưng không thực hiện được, thì nay chúng giật dây và phối hợp cùng bọn Việt Quốc, Việt Cách gây sức ép, đưa bọn tay sai xâm nhập vào bộ máy chính quyền, chia xẻ quyền lãnh đạo, phá hoại từ bên trong, làm suy yếu thế lực cách mạng, tiến tới lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền bù nhìn tay sai. Ph. Gioay, tác giả cuốn Trung Quốc và việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất có nhận xét rất đúng rằng:

"Ngày 24 tháng 8 năm 1945, Tưởng Giới Thạch nhắc lại: "Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ Việt Nam".

Nhưng mối nguy cơ lớn là ở chỗ quân đội Trung Hoa áp đặt ở Hà Nội một Chính phủ của Việt Nam Quốc dân đảng - Đồng minh hội là những tổ chức trung thành với họ"1 (Ph. Gioay - Trung Quốc và việc giải quyết chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận, H. 1981, tr. 70).


Những nhân nhượng về kinh tế, tài chính, về quan hệ ngoại giao... cũng là những nhân nhượng lớn và có gây cho ta nhiều khó khăn. Nhưng nhân nhượng quan trọng hơn là những nhân nhượng về chính trị. Đó là việc Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán và việc chấp nhận bọn Việt Quốc, Việt Cách vào Quốc hội và Chính phủ Liên hiệp.


Lúc bấy giờ, một vấn đề chính trị rất gay go là bọn đế quốc và tay sai lấy cớ Chủ tịch Hồ Chí Minh là Cộng sản, Việt Minh là Cộng sản, Cộng sản giữ chính quyền, đàn áp các đảng phái khác... để đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh phải từ chức, đòi loại các Bộ trưởng Cộng sản khỏi Chính phủ, đòi để cho Việt Quốc, Việt Cách nắm chính quyền... tình thế rất bức bách. Xem xét tình hình chung và chủ động giải quyết vấn đề chính trị phức tạp này, ngày 11 tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dưởng ra thông cáo Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán. Bản thông cáo nêu rõ: "Lúc này chính là cơ hội nghìn năm có một cho nước Việt Nam giành quyền hoàn toàn độc lập". Để tăng cường sự đoàn kết nhất trí của toàn dân không phân biệt giai cấp, đảng phái vì nhiệm vụ giải phóng dân tộc, để chứng tỏ những đảng viên Cộng sản là những chiến sĩ tiên phong đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi riêng của đảng phái, để phá tan những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra "Nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương".


Báo Cứu quốc ngày 13 tháng 11 năm 1945 bình luận về sự kiện này: "Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán có thể đánh tan những sự hiểu lầm trước công chúng và làm cứng họng những kẻ vu cáo hèn nhát, có thể làm cho Mặt trận kết nạp thêm được lực lượng toàn dân kháng chiến ủng hộ Chính phủ lăm thời mau chóng tranh thủ nền độc lập hoàn toàn của dân tộc".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:39:05 pm »

Như vậy Đảng Cộng sản Đông Dương ra thông cáo tự động giải tán do hoàn cảnh thế giới và trong nước đang có nhiều khó khăn, bất lợi cho sự sống còn của Đảng, cho sự tồn tại của chính quyền cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong đó trực tiếp và nguy hiểm nhất là sức ép của kẻ thù. Đối với quân Tưởng, đây là một nhân nhượng lớn của ta. Nhiều đồng chí và đồng bào không hiểu rõ nên hoang mang thắc mắc. Đảng phải rút vào hoạt động bí mật cũng gặp nhiều trở ngại, hạn chế việc lãnh đạo các cơ quan chính quyền đoàn thể và việc củng cố tổ chức Đảng, phát triển đảng viên. Nhưng thực sự đây là một sách lược nhân nhượng mềm dẻo, nhằm đạt được mục tiêu căn bản của cách mạng là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững chính quyền để đi tới giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về chủ trương này:

"Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời giờ củng cố dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.

Lúc đó, Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết. Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp - dù là những phương pháp đau đớn - để cứu vãn tình thế"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 21).


Nhân nhượng lớn thứ hai và cũng là điểm nút đạt tới hòa hoãn là việc ta chấp nhận Việt Quốc, Việt Cách tham gia Quốc hội và Chính phủ Liên hiệp. Cuộc đấu tranh với quân Tưởng và bọn tay sai để đi tới hòa hoãn cũng trải qua một quá trình phức tạp. Chính quyền Tưởng Giới Thạch và bọn chỉ huy quân Tưởng ở Việt Nam do phải theo lệnh Mỹ, do những khó khăn hạn chế của chúng và do đấu tranh của ta, buộc phải hòa hoãn. Nhưng bọn tay sai, do bản chất và ý đồ phản động, lại không muốn hòa hoãn với ta. Chúng muốn thông qua mũi súng quân Tưởng để lật đổ chính quyền cách mạng, thỏa mãn tham vọng từ lâu là giành lấy chính quyền. Hòa hoãn với ta chúng sẽ thất thế vì không có lực lượng bản thân, không có cơ sở chính trị, người cầm đầu không có uy tín. Chúng tự biết không xứng đáng là đối thủ của Đảng ta, của Mặt trân Việt Minh. Đó cũng là mâu thuẫn giữa bọn tay sai với quan thầy của chúng. Ta chủ trương hòa hoãn cũng là lơi dụng mâu thuẫn ấy. Dù sao bọn tay sai cũng phải theo lệnh Tưởng thương lượng hòa hoãn với ta. Mục đích của chúng là dùng thủ đoạn chính trị chống phá ta. Chúng ta nêu khẩu hiệu đoàn kết các đảng phái, đoàn kết toàn dân để chống pháp xâm lược. Với khẩu hiệu này, ta buộc chúng dù không muốn cũng không thể công khai phản đối buộc chúng không được trắng trợn phá hoại các chính sách kháng chiến kiến quốc của Chính phủ.


Việt Cách là một tổ chức phản động tay sai của Tưởng nhưng trong Hội có sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau, nên có những xu hướng chính trị khác nhau, trong đó có nhiều người yêu nước, cảm tình và đi theo cách mạng. Thế lực của Việt Cách lại yếu, thường bị Việt Quốc coi thường, chèn ép, nên có mâu thuẫn nhất định với Việt Quốc và sự chống phá cách mạng không nguy hiểm bằng Việt Quốc. Qua nhiều cuộc trao đổi trực tiếp và qua báo chí, Việt Minh và Việt Cách đã ra được bản Tuyên ngôn đoàn kết, trong đó kêu gọi đoàn kết, thừa nhận và ủng hộ Chính phủ lâm thời, nguyện cùng nhau đem hết lực lượng chống thực dân Pháp, giữ vững nền tự do độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà.


Việt Quốc là tổ chức phản động tay sai đắc lực của quân Tưởng, phần lớn đảng viên là những phần tử phản động. Đặc biệt, bọn cầm đầu là những tên ngoan cố, có thủ đoạn thâm độc. So với Việt Cách, Việt Quốc có tổ chức chặt chẽ hơn và có lực lượng vì sáp nhập cùng Đại Việt, nên chống phá ta nguy hiểm hơn. Ngay từ ngày 18 tháng 9 năm 1945, Trung ương Đảng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng đã gửi Mặt trận Việt Minh một bản đề nghị, trong đó có nhiều lời lẽ bịp bợm, nhưng không che giấu được những yêu cầu ngang ngược như đòi giải tán Việt Minh, thay đổi Chính phủ, định lại Quốc kỳ, Việt Quốc đứng làm trung tâm điều đình đoàn kết các đảng phái chính trị... Sau đó, báo Việt Nam của Việt Quốc đăng bài "Các đảng phái hãy đoàn kết", công khai trước dư luận những đòi hỏi cho cuộc thương lượng: các tổ chức Cứu quốc bỏ danh từ Mặt trận Việt Minh, Việt Minh gia nhập Mặt trận Quốc gia chống pháp do chúng lập ra. Mặt trận Quốc gia chống Pháp thành lập Chính phủ, định lại Quốc kỳ, đặt lại Quốc ca, đình hoãn Tổng tuyển cử...


Ngày 12 tháng 12 năm 1945, Việt Minh ra lời kêu gọi Việt Quốc chấm dứt mọi hành động chia rẽ phá hoại cùng nhau hợp tác.

Báo Sự thật ngày 5 tháng 12 năm 1945 đăng Bức thư ngỏ cùng anh em Việt Nam Quốc dẫn Đảng trong nhóm Việt Nam của những người mácxít Đông Dương, về tình hình cấp bách của đất nước, bức thư nêu:

"Thực dân Pháp tiến công Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chúng lăm le đem quân vào Bắc Bộ. Tổ quốc lâm nguy. Toàn dân phải đoàn kết, ngăn cản quân xâm lược. Chia rẽ là chết, đoàn kết thì sống. Những câu ấy chúng ta nhắc đi nhắc lại đã nhiều rồi. Giờ đây phải làm cho nó thành sự thật...".


Ba nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước do những người mácxít Đông Dương để ra là:

"1. Đoàn kết, hợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc.

2. Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung.

3. Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến".


Với những lãnh tụ các đảng đối lập ta thường một mặt tranh thủ, mặt khác hạn chế tối đa hành động phá hoại của họ.

Tình thế chung buộc kẻ thù phải chấp nhận hoà hoãn. Sau Tuyên ngôn đoàn kết của Hội nghị Liên tịch Việt Minh, Việt Cách, ngày 19 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ký văn bản Nguyên tắc chung tối cao của cuộc hợp tác giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, Việt Nam Quốc dân Đảng gồm bảy điểm, quy định thế thức thành lập Chính phủ đoàn kết rộng rãi, thống nhất Quân đội Quốc gia chống Pháp, ngày 24 tháng 11 lại ký văn bản Chân thành đoàn kết. Ở một số địa phương cũng có những cuộc thương lượng hoà giải giữa chính quyền ta với các lực lượng đối lập như ở Vĩnh Yên, Phú Thọ...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:40:16 pm »

Cuộc đấu tranh giữa ta với quân Tưởng và tay sai về Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và lập Chính phủ Liên hiệp là vấn đề phức tạp nổi bật. Bọn phản động biết rằng chúng không có một chút hy vọng trúng cử trong cuộc bầu cử bình đẳng, dân chủ sắp tới, nên lúc đầu Việt Quốc, Việt Cách phản đối Tổng tuyển cử và lập Chính phủ Liên hiệp. Do ta đấu tranh, do sức ép của dư luận, cuối cùng chúng phải đồng ý Tổng tuyển cử và lập Chính phủ Liên hiệp. Nhưng Việt Quốc đòi:

Một phần ba đại biểu Quốc hội là của Việt Quốc.

Một phần ba là những người không thuộc đảng phái nào.

Trong Chính phủ Liên hiệp, chúng đòi nắm bảy Bộ trưởng: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Giáo dục, Kinh tế, Thanh niên, Kiều vụ và hai chức vụ Tổng lý nội các, Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia. Sau nhiều cuộc điều đình, ngày 23 tháng 12 năm 1945, đại diện Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cùng ký văn bản Biện pháp hợp tác gồm mười bốn điều khoản chính và phụ khoản bốn điều, thoả thuận về việc lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời và tổ chức thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cải tổ Chính phủ lâm thời trước khi bầu cử Quốc hội để đưa người của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ và chấp nhận dành cho Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử.


Ngày 24 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ký tiếp văn bản đoàn kết gồm ba điều quy định dùng biện pháp thương lượng hoà bình để giải quyết những mắc mớ, xung khắc giữa các đảng phái và đã thoả thuận những điều kiện hợp tác:

- Bắt đầu từ ngày 25 tháng 12 năm 1945, hai bên không công kích nhau trên mặt báo nữa.

- Chính phủ sẽ đặt thêm hai chức Bộ trưởng để nhường cho Việt Nam Quốc dân Đảng.

- Ông Nguyễn Hải Thần sẽ làm Phó Chủ tịch.
   
- Hôm 1 tháng 1 năm 1946, ông Nguyễn Hải Thần và hai ông Bộ trưởng mới sẽ tuyên thệ nhậm chức.

- Chính phủ sẽ mời 50 người Việt Quốc và 20 người trong Việt Cách vào Quốc hội.


Ngày 25 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Truyền đại diện Mặt trận Việt Minh, Đỗ Đức Dục, Hoàng Văn Đức đại biểu Đảng Dân chủ, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thức đại biểu Việt Nam cách mạng Đồng minh hội, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đại biểu Việt Nam Quốc dân Đảng ký văn bản quy định thể thức thành lập Chính phủ chính thức sau khi bầu cử Quốc hội.


Ngày 1 tháng 1 năm 1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra mắt và ra Tuyên ngôn đối nội và đối ngoại. Trong Chính phủ lâm thời lập sau Cách mạng Tháng Tám, ta đã đưa một số người không phải là đảng viên cộng sản vào, như cụ Nguyễn Văn Tố là nhân sĩ không đảng phái, Vũ Đình Hoè đảng viên Đảng Dân chủ, Nguyễn Mạnh Hà một nhân sĩ công giáo. Ngày 10 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Vĩnh Thuỵ làm Cố vấn Chính phủ. Người còn đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban Cố vấn cho Chủ tịch gồm: Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, Giám mục Lê Hữu Từ, các ông Bùi Bằng Đoàn, Ngô Tử Hạ, Bùi Kỷ... Trong Chính phủ liên hiệp lâm thời lập ngày 1 tháng 1 năm 1946, ta đã đưa vào ba thành viên của phái đối lập là Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, Nguyễn Tường Long - Bộ trưởng Quốc dân kinh tế và Trương Đình Tri - Bộ trưởng Y tế. Nhiệm vụ của Chính phủ mới là tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi Quốc hội cử Chính phủ chính thức.


Mặc dù có sự thoả thuận như vậy, nhưng bọn Tưởng và tay sai vẫn hoạt động phá hoại Tổng tuyển cử. Chúng tuyên truyền nói xấu các đại biểu được Mặt trận Việt Minh giới thiệu, ngăn chặn cử tri đi bầu cử, có nơi chúng còn gây rối ngay nơi bầu cử... Nhưng cuộc Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 đã thành công tốt đẹp. Các đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều thắng cử với số phiếu cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Thủ đô Hà Nội đã trúng cử với 98,4% số phiếu. Một số người thuộc tổ chức Việt Cách cũng được giới thiệu ứng cử và đã trúng cử. Trương Trung Phục trúng cử ở Hải Phòng, Bồ Xuân Luật trúng cử ở Hưng Yên. Vĩnh Thuỵ tức Cựu hoàng Bảo Đại được giới thiệu ứng cử ở Thanh Hoá và đã trúng cử.


Ngày 25 tháng 2 năm 1946, Hội nghị liên tịch các chính đảng ra nghị quyết thành lập chính phủ liên hiệp kháng chiến.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khoá I nước Viêt Nam Dân chủ cộng hoà họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đề nghi Quốc hội mở rộng thêm 50 đại biểu do Việt Quốc và 20 đại biểu do Việt Cách chỉ định. Quốc hội nhất trí đề nghị này Quốc hội trịnh trọng cảm ơn "Chính phủ lâm thời đã làm được nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc trong tình thế nghiêm trọng của nước nhà" và tuyên bố Chủ tịch Hồ Chí Minh "xứng đáng với Tổ quốc". Quốc hội đã bầu Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ và giao cho Chủ tịch, Phó Chủ tịch thành lập Chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, cố vấn đoàn và Kháng chiến ủy viên hội để Quốc hội công nhận.


Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập theo nguyên tắc đã được thoả thuận trước gồm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần và mười Bộ. Trong đó ngươi của Việt Minh và Đảng Dân chủ làm Bộ trưởng bốn Bộ: Tài chính, Giáo dục, Tư pháp và Giao thông công chính. Người của Việt Quốc, Việt Cách làm Bộ trưởng bốn Bộ: Ngoại giao, Kinh tế, Cứu tế xã hội và Canh nông. Bộ Nội vụ do cụ Huỳnh Thúc Kháng và Bộ Quốc phòng do ông Phan Anh là hai người không đảng phái làm Bộ trưởng.


Cố vấn đoàn do Vĩnh Thuỵ đứng đầu.

Kháng chiến ủy viên hội (sau đổi thành Quân sự ủy viên hội, thường gọi tắt là Quân ủy hội) gồm chín người, có trách nhiệm thống nhất quân đội, điều khiển kháng chiến, do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch. Các Bộ và các cơ quan cử người của Việt Minh và Đảng Dân chủ làm trưởng thì người của Việt Quốc, Việt Cách làm phó và ngược lại.


Quốc hội bầu Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, trong đó có Cung Đình Quỳ là Phó trưởng ban và các ủy viên Dương Văn Dư, Đàm Quang Thiện, Trịnh Quốc Quang là người phía đối lập.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM