Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:00:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập  (Đọc 2693 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:42:28 pm »

Như vậy trong Quốc hội có 70 đại biểu của hai tổ chức chính trị đối lập trong tổng số 403 đại biểu. Đáng chú ý là trong 20 đại biểu của Việt Cách, có một số người yêu nước và cách mạng như Đinh Chương Dương, Lý Đào. Với một thành phần đại biểu như vậy, dù một số đại biểu đối lập phản động có tìm mọi cách phá hoại, nhưng tính chất của Quốc hội vẫn không thay đổi. Quốc hội vẫn là cơ quan quyền lực của nhân dân, vẫn là Quốc hội cách mạng. Trong Chính phủ lâm thời sau Cách mạng Tháng Tám, thành phần hầu hết là người của Mặt trận Việt Minh, chỉ có số ít vị là người yêu nước không đảng phái. Trong Chính phủ liên hiệp lâm thời (ngày 1 tháng 1 năm 1946) chỉ có 3 người thuộc phái đối lập. Đến Chính phủ Liên hiệp kháng chiến thì thành phần hai phía đối lập là ngang nhau. Bọn Tưởng và tay sai những tưởng rằng đây là thời cơ chúng có thể từ đó mà chiếm chính quyền không cần dùng vũ lực, hoặc ít nhất cũng không để chính quyền hoạt động theo chủ trươn đường lối của Cộng sản, của Việt Minh.


Âm mưu của kẻ thù hoàn toàn thất bại, Nguyễn Hải Thần được làm Phó Chủ tịch Chính phủ, nhưng là người không có năng lực, bọn phản động cùng bè phái cũng coi thường, chỉ do được coi là "lão thành" mà Tưởng đưa lên đứng đầu Việt Cách. Khi Nguyễn Hải Thần mới theo quân Tưởng về nước, một số tên thực dân Pháp đã đến móc nối định hợp tác chống cách mạng. Nhưng khi tiếp xúc, các đại biểu Pháp mới thấy rằng đó chỉ là một nhân vật bù nhìn đã rệu rạo và tướng Tiêu Văn đang giật dây một cách vất vả. Bản thân Nguyễn Hải Thần như vậy lại ở cương vị Phó Chủ tịch không có quyền lực cụ thể, nên trên thực tế không gây tác hại lớn cho cách mạng. Vũ Hồng Khanh, người cầm đầu Việt Quốc là một người có âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm, có uy tín trong Việt Quốc và trong tay có một số lực lượng. Với cương vị Phó Chủ tịch Quân ủy hội, Vũ Hồng Khanh định dò la tình hình lực lượng vũ trang ta, chống phá công cuộc kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang. Nhưng lúc đó, các đơn vị bộ đội đóng quân phân tán, thông tin liên lạc khó khăn, trên cơ quan thì cán bộ, nhân viên là người của cách mạng nên Vũ Hồng Khanh cũng không thể thực hiện được ý định. Với các chức vụ do Việt Quốc, Việt Cách nắm, trên thực tế hoạt động chỉ đạo các ngành rất hạn chế, chủ yếu làm sự vụ hành chính. Chủ trương thì phải thống nhất theo chủ trương của Chính phủ. Hoạt động thực tiễn thì chủ yếu ở địa phương trực tiếp làm, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể. Nguyễn Tường Tam là Bộ trưởng Ngoại giao, Chu Bá Phượng làm Bộ trưởng Cứu tế xã hội, hoạt động rất hạn chế và không phá hoại được chủ trương chính sách của ta. Bồ Xuân Luật làm Bộ trưởng Canh nông, vốn là người tốt, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm hoá và đi theo đường lối của cách mạng.


Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng do hai người không đảng phái làm Bộ trưởng. Nhưng cụ Huỳnh Thúc Kháng và ông Phan Anh là hai người yêu nước, tiến bộ, hoàn toàn tin theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên thực tế quyền chỉ huy quân đội và quốc phòng do Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái nắm. Công tác an ninh rất quan trọng do Nha Công an nắm. Nằm trong Bộ Nội vụ, nhưng Nha Công an hoạt động nghiệp vụ độc lập. Ở Nha Công an, Nguyễn Dương là người không đảng phái làm Tổng Giám đốc, nhưng chỉ một thời gian ngắn, phần lớn thời gian do đồng chí Lê Giản làm Tổng Giám đốc và cán bộ trong Nha đều là người của ta nên công tác an ninh nói chung vẫn do cách mạng nắm. Nghiêm Kế Tổ trong Việt Cách, lúc đó làm Thứ trưởng trong Chính phủ liên hiệp đã nhận xét:

"Nhìn qua Chính phủ cải tổ, hình thức hoàn toàn đoàn kết, nhưng bên trong khác hẳn. Cụ Nguyễn Hải Thần già yếu, nhu nhược giữ ghế Phó Chủ tịch làm vì. Địa vị Bộ trưởng của Nguyễn Tường Tam nào có ngoại giao gì đâu. Ngoại giao với Pháp thì đường lối chính Việt Minh đã vạch sẵn mất rồi, chỉ có ngoại giao với Trung Hoa thì cái thế "anh em nhà" của Nguyễn Ngoại trưởng với Lư Hán, Tiêu Văn lại là một điều có lợi cho Việt Minh quá"1 (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, Mai Lĩnh xuất bản, Sài Gòn. 1954, tr. 91).


Đó là trên Chính phủ Trung ương, còn ở các địa phương, từ tỉnh xuống đến xã, vẫn là chính quyền cách mạng. Báo cáo của Việt Minh đoàn Chính phủ viết:

"Bộ máy chính quyền ở Trung ương có thay đổi, nhưng ở địa phương thì vẫn y nguyên như trước. Nếu có sự thay đổi là do chủ trương của ta. Thành phần ủy viên các ủy ban hành chính các cấp hầu hết là người các đoàn thể cách mạng chân chính và những người có cảm tình với mặt trận, với chính quyền mới". Báo cáo còn khẳng định: Thời kỳ Chính phủ lâm thời, Việt Minh đoàn Chính phủ (gồm các Bộ, Thứ trưởng người của Mặt trận Việt Minh tham gia Chính phủ) có 11 trong 16 vị trong Chính phủ. Thời kỳ Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Chính phủ có 24 vị thì Việt Minh đoàn Chính phủ chỉ có 8, trung lập 8, đối lập 8 "thời kỳ này là thời kỳ Việt Minh đoàn Chính phủ phải đấu tranh gay go nhất trong Chính phủ. Tuy vậy Việt Minh đoàn Chính phủ vẫn nắm phần chủ động và vẫn giữ vững được tình thế"1 (Tài liệu tham khảo về lịch sử Đảng 1945 - 1946. Viện Lịch sử Đảng, tr. 13, 14).


Nhân nhượng của ta về vấn đề chính quyền là một nhân nhượng lớn: thành lập một Chính phủ liên hiệp nhiều thành phần, trong đó có phái phản động đối lập. Nhưng đây là một yêu cầu bắt buộc, một điều kiện tiên quyết để đạt tới hoà hoãn. Tuy điều đó có gây cho chúng ta những khó khăn nhất định trong hoạt động của Chính phủ, nhưng ta đã chuyển được sức ép nguy hiểm của các hoạt động trắng trợn điên cuồng, kể cả bằng vũ lực của quân Tưởng và tay sai thành cuộc đấu tranh hoà bình thương lượng trong Chính phủ. Rõ ràng mối đe dọa mất chính quyền, mất nền độc lập đã được giải toả một phần. Điều đáng ngại trong tình hình mới là sự đe dọa tính chất của chính quyền bị biến dạng. Thành phần trong Chính phủ là liên hiệp, nhưng đường lối chính sách của Chính phủ vẫn nhất quán, đó là chính quyền nhân dân, động viên tổ chức sức mạnh đoàn kết toàn dân để kháng chiến chống ngoại xâm, giữ vững nền độc lập tự do vừa giành được trong Cách mạng Tháng Tám và xây dựng đất nước. Chính quyền vẫn hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc triển khai thực hiện đường lối "Kháng chiến kiến quốc", thông qua các hoạt động của đảng viên, các tổ chức quần chúng và đặc biệt qua bàn tay chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tính chất của chính quyền cách mạng không thay đổi.


Tổng tuyển cử và thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến là một thành công lớn của ta, đánh một đòn nặng vào âm mưu lật đổ chính quyền của Tưởng và tay sai, cũng góp phần khoét sâu mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, giữa bọn Tưởng và tay sai, giữa bọn tay sai với nhau. Lúc đó, có người hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chúng ta như lửa, bọn chúng như nước, lửa nước xung khắc, vì sao ta cho chúng vào Quốc hội. Người giải thích: Đúng, chúng ta là lửa, chúng là nước. Lửa với nước xung khắc nhau, nhưng chúng ta biết để nước trên lửa thì nước sôi uống lành.


Mặc dù ta có những nhân nhượng lớn, trong đấu tranh chính trị, ngoại giao với quân Tưởng và tay sai rất mềm dẻo, nhưng mặt khác, ta lại đấu tranh rất kiên quyết giữ vững nguyên tắc cách mạng. Với những hành động chống phá trắng trợn, nguy hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng tài sản của nhân dân, thì ở những nơi và khi tình hình cho phép, chúng ta kiên quyết bằng pháp luật, bằng lực lượng vũ trang trừng trị, chặn bàn tay của chúng, ở Hà Đông, Sơn Tây, bọn Đại Việt Quốc gia liên minh trước đây đã bị ta trừng trị, khi quân Tưởng sang lại ngóc đầu dậy liên lạc với Việt Quốc, phục hồi cơ sở hoạt động chống lại chính quyền. Ta đưa ra toà án xét xử công khai, tuyên án tử hình bốn tên, xử tù từ 15 đến 20 tên. Số còn lại tan rã không dám hoạt động nữa. Lực lượng trinh sát cũng bắt giữ nhiều tên quan trọng của Việt Quốc hoạt động phản quốc như Hoàng Ngọc Bách, Lê Khanh, Lê Thận...


Để đạt được hoà hoãn với quân Tưởng và tay sai, chúng ta phải vừa đấu tranh vừa nhân nhượng, đấu tranh vừa kiên quyết, lại vừa mềm dẻo. Những nhân nhượng là lớn có gây ra một số khó khăn cho chính quyền và nhân dân ta, nhưng âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng của chúng không thực hiện được. Ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, giữ vững quyền làm chủ của nhân dân. Trong khi đó, việc hoà hoãn lại tạo điều kiện hạn chế đến mức thấp nhất mọi hoạt động chống phá trắng trợn của quân Tưởng và tay sai, đặc biệt là nguy cơ chúng dùng lực lượng quân sự lật đổ chính quyền ta. Tranh thủ điều kiện hòa hoãn, Đảng, chính quyền và nhân dân ta nỗ lực phát triển lực lượng mọi mặt và tập trung lực lượng chặn bàn tay xâm lược của thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:43:57 pm »

Sách lược "Hòa để tiến", hòa hoãn với Pháp.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cục diện chính trị thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, ảnh hưởng đến tình hình nước ta. Đế quốc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu. Mỹ cũng nhận ra rằng không thể kéo cách mạng Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của mình. Mỹ muốn Tưởng tập trung lực lượng đối phó với cách mạng Trung Quôc, muốn lôi kéo Anh - Pháp lập mặt trận chung bao vây Liên Xô ở phía châu Âu, muốn dùng Pháp ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cho nên Mỹ đã thoả thuận cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Mắc Lơrơ đã không cho những sĩ quan OSS - Cục nghiên cứu chiến lược Mỹ ở Nam Trung Quốc - cộng tác với ta nữa và đưa về nước những người Mỹ biểu thị cảm tình với cách mạng Việt Nam.


Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Đờ Gôn đến Oasinhtơn hội đàm với Truman, trong đó đáng chú ý nhất là Hoa Kỳ chính thức thừa nhận bằng văn bản chủ quyền của Pháp trên đất Đông Dương.

Với Anh, ngày 24 tháng 8 năm 1945, một thỏa hiệp Pháp - Anh về nguyên tắc và cách thức khôi phục chủ quyền của Pháp tại Đông Dương được ký kết.

Nhận được sự thoả thuận của Mỹ và Anh, đó là sự cổ vũ lớn với Pháp. Tiếp theo, Pháp phải tính đến trở lực là quân Tưởng hiện đang chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Cuối tháng 12 năm 1945, Xanhtơny gửi thư về Pari "Năm tháng ở Côn Minh phụ trách một vị trí quan sát đặc biệt và năm tháng ở Hà Nội từ ngày 22 tháng 8 đến nay đã cho phép tôi khẳng định rằng việc đặt Bắc Kỳ trở lại dưới quyền của nước Pháp chỉ có thể thực hiện được với thoả thuận của Trung Hoa". Xanhtơny phân tích: Nếu dùng vũ lực với những phương tiện cực kỳ lớn mạnh thì không có gì chứng tỏ có những phương tiện ấy và thấy không có quyết tâm. Nếu có làm cho Trung Hoa lùi bước thì rồi họ sẽ ủng hộ lực lượng cách mạng Việt Nam qua đường biên giới sau này. Đó là khó khăn tốn kém. Nếu dùng biện pháp ngoại giao thì dẫn đến kết quả:

1- Chúng ta sẽ đến được Bắc Kỳ mà không phải đổ máu.

2- Làm cho Bắc Kỳ trở về với chúng ta nhanh hơn cách dùng vũ lực.

3- Cho phép chúng ta ngay từ bây giờ khai khẩn lại một xứ đang hàng ngày trượt tới một trạng thái cực kỳ hỗn loạn.

4- Xây dựng bước đầu sự xê dịch tiếp cận về kinh tế với Trung Hoa.


Về phía Tưởng Giới Thạch, trước sức mạnh của cách mạng Việt Nam và sự bất lực của bọn tay sai, trước những khó khăn ở ngay trong nước và phải theo lệnh Mỹ, buộc phải rút quân khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, Tưởng còn đòi Pháp một số quyền lợi, và muốn trước khi rút quân dựng lên ở Việt Nam một chính quyền tay sai để ép Pháp và giữ được ảnh hưởng nhất định để chuẩn bị cho ý đồ bành trướng sau này khi có điều kiện. Cuộc mặc cả quyền lợi giữa Tưởng và Pháp diễn ra từ cuối tháng 8 năm 1945. Trong hồi ký của mình, Đờ Gôn-viết rằng từ tháng 10 năm 1945, ông ta đã được tướng Pếchcốp (đại diện Pháp ở Trùng Khánh) cho biết: "Tưởng Giới Thạch hứa sẽ giúp Pháp lập lại chủ quyền ở Đông Dương khi thời cơ đến". Một năm sau, thông qua Tống Tử Văn, Trùng Khánh lại khẳng định với Đờ Gôn điều đó..., bản thân Đờ Gôn đã hội đàm với T.V.Soong - Chủ tịch Viện Hành pháp Trung Hoa - vào cuối tháng 8 năm 1945 ở Oasinhtơn và giữa tháng 9 năm 1945 ở Pari. Hai bên đã đạt được những thoả thuận. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1946 thì cuộc đàm phán chính thức tại Trùng Khánh bắt đầu. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết giữa Bộ trưởng Ngoại giao Vương Thế Kiệt và Đại sứ Pháp tại Trung Hoa Giắc Maye. Những điều khoản chính của Hiệp ước là:

1- Pháp phải bỏ hết các trị ngoại pháp quyền của Pháp trên đất Trung Quốc, trao trả cho Tưởng các tô giới ở Thượng Hải, Thiên Tân, Hán Khẩu, Quảng Đông, đất thuê Quảng Châu Loan.

2- Pháp nhường cho Tưởng một khu đặc biệt ở cảng Hải Phòng. Ở đó, Tưởng được tự do nhập hàng và có quyền kiểm soát hải quan.

3- Pháp bán lại cho Tưởng đoạn đường sắt nằm trên đất Trung Quốc của con đường Hà Nội - Vân Nam.

4- Tưởng không bắt Pháp phải chịu tiền phí tổn và việc quân đội Trung Quốc đóng ở miền Bắc Đông Dương.

5- Những Hoa Kiều ở Đông Dương sẽ được hưởng nhiều quyền lợi đặc biệt hơn trước.


Hiệp ước Trùng Khánh không có điều khoản nào nói về Chính phủ Trung Hoa thuận cho quân Pháp vào thay quân đội Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Trong đàm phán, phía Tưởng chỉ hứa hẹn sẽ cho quân Pháp vào thay thế. Quá trình đàm phán sau đó mới đi đến một bản thỏa ước về quân sự giữa Bộ Tổng tham mưu Tưởng và Tổng chỉ huy quân Pháp công bố ngày 13 tháng 3 khẳng định điều này. Thoả ước quy định thời hạn quân Tưởng rút là từ ngày 15 tháng 3 đến 31 tháng 3 năm 1946.


Với Hiệp ước Hoa - Pháp, mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng tạm hòa hoãn. Nhưng những mâu thuẫn mới giữa Tưởng và Pháp lại nảy sinh Pháp muốn nhanh chóng đẩy quân Tưởng ra, đưa quân Pháp vào miền Bắc trót lọt. Tưởng lại muốn kéo dài thời hạn rút quân để đòi Pháp thêm quyền lợi. Nhất là bọn tướng lĩnh chỉ huy quân Tưởng ở Việt Nam, muốn tiếp tục ở lại để thực hiện mưu đồ cát cứ, nếu buộc phải rút cũng nấn ná vơ vét thêm của cải. Đến giữa tháng 5 quân Tưởng mới bắt đầu rút khỏi Thanh Hóa, giữa tháng 6 mới rời Hà Nội và đến tháng 9 năm 1946 quân Tưởng mới rút hết khỏi nước ta.


Tuy nhiên, Tưởng và Pháp cũng có điểm giống nhau là đều muốn dàn xếp với ta, để ta chấp nhận Hiệp ước Hoa - Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:44:57 pm »

Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là điều bất ngờ với Đảng ta. Đó chỉ là biểu hiện cụ thể của sự phát triển tình hình Đang ta đã dự kiên từ trước. Chỉ mấy ngày sau khi Hiệp ước được ký kết chính thức, ngày 3 tháng 3, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị "Tình hình và chủ trương". Bản chỉ thị phân tích âm mưu của bọn đế quốc và chỉ rõ:

"Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là chuyện riêng của Tàu Tưởng và Pháp. Nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa. Dù nhân dân Đông Dương muốn hay không muốn, nhất định chúng cũng thi hành Hiệp ước ấy". Nhưng, "Từ chỗ Hiệp ước đó được ký kết đến chỗ Hiệp ước đó được thi hành còn có dân tộc Việt Nam hiện đang chiến đấu". Vậy chủ trương của ta nên đánh hay nên hòa khi quân Pháp vào miền Bắc? Trong nhân dân ta lúc bấy giờ, tinh thần chống Pháp xâm lược rất sôi sục. Phong trào Nam tiến, luyện tập quân sự chuẩn bị sôi nổi từ thành thị đến thôn quê. Mọi tầng lớp nhân dân đều hăm hở sẵn sàng đánh Pháp. Nhưng với trọng trách trước vận mệnh đất nước, trước sự sống còn của cách mạng, Đảng phải sáng suốt, cân nhắc lợi hại của mỗi chủ trương, không thể thuận theo tình cảm bộc phát của quần chúng. Chỉ thị của Trung ương chỉ rõ:

"Vấn đề lúc này, không phải là muốn đánh hay không muốn đánh, vấn đề là biết mình, biết người, nhận một cách khách quan những điều kiện lời lãi trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng".

Hiện tại, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn. Bên trong, bọn phản động hoạt động chia rẽ. Bọn Việt Quốc, Việt Cách lúc này trước tình cảnh bị Tưởng bỏ rơi, một mặt cầu xin quân Tưởng ở lại, một mặt cố phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp. Chúng kêu gào "Không điều đình với ai hết", "Đánh đến cùng", "Thắng hay là chết". Chúng vu cáo Chính phủ ta là "Việt gian thân Pháp" và hô hào thành lập Chính phủ mới dưới sự lãnh đạo của Vĩnh Thuỵ... Chúng định lợi dụng lúc ta đánh Pháp, bọn đế quốc sẽ vu cáo ta là chống Hiệp ước của Đồng minh là phiến loạn chống lại hoà bình, cô lập ta, và lập Chính phủ bù nhìn. Bọn Tờrốtkít cũng tuyên truyền vu cáo ta là bán nước. Trong khi đó, Pháp đã mở rộng chiếm đóng và có thêm viện binh, lại được Anh, Mỹ giúp sức làm cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ gặp nhiều khó khăn. Bản huấn lệnh của Bộ Tổng chỉ huy về phương châm quân sự Nam Bộ chỉ rõ: Quân địch đã áp dụng chiến lược tốc quyết tiến công dồn dập chiếm lĩnh các đô thị và các đường giao thông quan trọng, rồi lan tràn ra khắp thôn quê. Quân ta sau một thời gian chiến đấu anh dũng tại Sài Gòn, Chợ Lớn và vùng phụ cận, trước cuộc tiến công mãnh liệt của địch, bị tan vỡ hầu khắp các mặt trận. Việc sản xuất lương thực còn nhiều khó khăn. Lực lượng vũ trang còn yếu kém về nhiều mặt, nhất là trang bị vũ khí, trình độ chỉ huy chiến đấu.


Trong tình hình ấy, nếu ta đánh Pháp khi chúng ra Bắc, lực lượng sẽ tiêu hao, chính trị bị cô lập, tạo thời cơ cho bọn phản động cướp chính quyền, bán nước cho đế quốc. Hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Chủ trương hoà cũng có điều nguy hiểm là thực dân Pháp lợi dụng để đưa quân vào miền Bắc, sau đó phát triển lực lượng và bội ước đánh ta, bọn phản động lợi dụng việc ta hoà với Pháp để vu cáo ta là bán nước"... trong hai điều phải lựa chọn một ấy, hoà hoãn với Pháp vẫn là điều đúng đắn. Hoà với Pháp, ta sẽ phá tan được dã tâm của Tưởng và tay sai, và loại bỏ được kẻ thù nguy hiểm này. Đối với Pháp, nếu cuộc chiến đấu phải nổ ra thì ta cũng dành được thời gian để chuẩn bị thêm lực lượng.


Đảng ta vạch ra những nguyên tắc căn bản cho việc đàm phán giữa ta với Pháp là độc lập và hợp tác với Pháp trên cơ sở bình đẳng.

Trong qua trình đấu tranh ngoại giao với Pháp, không bao giờ ta xa rời mục tiêu độc lập, thống nhất. Nhưng trong tình thế bất lợi và để đạt được hoà hoãn ta phải nhân nhượng mềm dẻo, có thể nhân nhượng quyền lợi kinh tế, văn hóa với Pháp, có thể nền độc lập thống nhất lúc đầu chưa được toàn vẹn. Lập trường của phía Việt Nam là mềm dẻo và thiện chí. Phía Pháp chấp nhận thì có hoà hoãn, Pháp bác bỏ, áp đặt chế độ thực dân thì hoà hoãn bế tắc và tan vỡ.


Ngày 5 tháng 3 năm 1946, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp ở làng Canh (nay thuộc xã Vân Canh, Hoai Đức Hà Nội) quyết định hoà hoãn với Pháp.

Về phía thực dân Pháp, sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình nước Pháp gặp rất nhiều khó khăn. Hơn 3 triệu người chết, bị thương và bị bắt, nửa triệu nhà cửa công trình kiến trúc bị phá hủy hoàn toàn, một triệu rưỡi công trình khác bị thiệt hại nặng, hàng triệu hécta đất bị bỏ hoang, ngân sách năm 1945 thiếu hụt 55%, đồng Frăng mất giá, 6 triệu người không có nhà ở, 40 vạn người thất nghiệp hoàn toàn. Theo báo cáo của Đờ Gôn đọc trước Quốc hội ngày 2 tháng 3 năm 1945, tổng quân số Pháp 1,2 triệu, phần lớn gồm những đơn vị mới tan rã, hầu hết là sĩ quan và binh lính mới thoát khỏi các trại tù binh của Đức vừa tập hợp, trang bị thiếu thốn.


C. Pelát, tác giả cuốn Hai mươi năm xâu xé nước Pháp nhận xét: "Sau giờ phút phấn khởi khi cuộc chiến tranh kết thúc, người dân Pháp cảm thấy lòng đầy chua xót. Không những người ta thấy rất rõ đất nước đã suy đồi mà ai nấy đều đang chứng kiến một đường lối chính trị rối ren, chẳng có gì hứa hẹn một tương lai thanh bình sáng sủa"1 (Trần Trọng Trung, Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1979, tr. 29). Thực trạng của nước Pháp như vậy đã hạn chế sức mạnh và khả năng quân Pháp ở Việt Nam, buộc chúng phải tính toán kỹ phương sách nào khả dĩ có thể thực thi trong việc chiếm lại Bắc Kỳ.


Trong lúc còn đang thương lượng với Trung Hoa Bộ Tham mưu Pháp đã vạch kế hoạch xâm nhập miền Bắc nước ta bằng quân sự: một mặt, cho quân đổ bộ Hải Phòng, đồng thời nhảy dù xuống Hà Nội phối hợp với bọn thực dân Pháp có mặt ở đây, rồi sau đó hai bên đánh thông với nhau, mặt khác, cho người liên lạc với bọn Việt gian, dùng bọn này nội ứng cho việc xâm nhập của chúng vào miền Bắc. Nhưng tướng Lơcléc, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương nhận định: Kế hoạch dùng quân sự xâm nhập vào miền Bắc không thể nào thực hiện được vì khó khăn nhất là quân số. Lơcléc thú nhận cần phải có 10 vạn quân mới "bình định" được Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong khi chúng chỉ có ba vạn rưỡi. Thế mà lại phải đánh ra miền Bắc nữa thì càng thiếu quân nghiêm trọng. Lơcléc đề đạt với Chính phủ Pháp ba mục tiêu cần đạt được:

"Thứ nhất là phải đặt chân lên một số các thành phố quan trọng để tạo cho Chính phủ Pháp một ưu thế trong việc điều đình và đặt điều kiện.

Thứ nhì tìm cách để cho các Pháp kiều kể cả quân sự lẫn dân sự được trả lại tự do.

Thứ ba tìm cách làm cho quân đội Tàu rút khỏi xứ này".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:46:23 pm »

Để đạt được những mục tiêu đó, chỉ có thể bằng con đường thương thuyết với Việt Nam. Ủy viên cộng hoà Pháp ở Đông Dương Xanhtơny cũng có cách đánh giá tình hình và chủ trương tương tự Lơcléc: Không thể đặt vấn đề đổ bộ vào Bắc Kỳ bằng vũ lực theo kiểu thực dân cũ. Vì như thế quân đội Pháp không những sẽ vấp phải cuộc kháng chiến của người Việt Nam, mà còn phải đương đầu với 24 vạn quân Trung Hoa với ý đồ bám chắc vào đất này càng lâu càng hay. Ngoài ra Pháp còn lo ngại sự chống lại của ba vạn quân đội Nhật và sự sống còn của ba mươi ngàn người Pháp đang sống ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ.


Nhưng Cao ủy Pháp tại Đông Dương Đácgiăngliơ là một phần tử hiếu chiến, lại không tán thành đàm phán thương lượng, vì đàm phán với Chính phủ Việt Nam tức là "hợp pháp hoá và công nhận" Chính phủ ấy. Chính phủ Đờ Gôn cùng quan điểm này, vẫn tiếp tục kéo dài cuộc xâm lược bằng quân sự. Chính vì thế, Chính phủ Đờ Gôn càng mất tín nhiệm trước nhân dân trong nước và thế giới. Chính phủ này đổ, trong đó có lý do không giải quyết đươc vấn đề Đông Dương. Chính phủ Phêlích Goanh lên thay. Đây là Chính phủ liên hiệp giữa ba đảng: Đảng Cộng sản Đảng Xã hội và phong trào cộng hoà bình dân. Lập trường về vấn đề thuộc địa nói chung và vấn đề Đông Dương nói riêng về căn bản không thay đổi. Nhưng do bế tắc của hoat động quân sự và trước sức ép của dư luận, Chính phủ Goanh phải chấp thuận kế hoạch đàm phán của Lơcléc.


Cuộc tiếp xúc, đàm phán giữa ta và Pháp kéo dài Phía Pháp, sau khi ký hiệp ước với Tưởng, đã huy động toàn bộ Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 9, một phần Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 3, Binh đoàn cơ động thiết giáp, nhiều máy bay theo hàng không mẫu hạm Bêác (Bearn) cùng nhiều chiến hạm tiến ra Bắc Bộ và ngày 2 tháng 3 năm 1946 tới Vịnh Hạ Long. Quân Pháp vào cảng Hải Phòng lúc 7 giờ 45 phút ngày 6 tháng 3. Pháp yêu cầu cho đổ bộ quân lên. Quân Tưởng lấy cớ không có hiệp ước Pháp - Việt, sợ để quân Pháp vào, người Việt Nam căm tức trả thù Hoa Kiều, và cũng chưa nhận được lệnh cấp trên, nên không chấp nhận. Tiêu Văn thấy tình hình căng thẳng, sợ ta đánh Pháp thì Tưởng mất mặt vì Hiệp ước Trùng Khánh mất hiệu lực và chiến tranh nổ ra, chúng sẽ mất hết của cải nên giục ta ký kết hiệp định. Với Lơcléc và Valuy - Tư lệnh quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương - thấy rằng không ký với ta thì không thể đưa quân vào Hải Phòng. 11 giờ 45 phút, Lơcléc gọi điện cho Xanhtơny đang đàm phán với Chính phủ ta, giục ký kết. Ph. Đờvile lúc đó là sĩ quan tham mưu dưới quyền Lơcléc kể lại:

"Những cuộc bàn cãi với những người Trung Hoa ở Hà Nội đều vất vả và khó khăn và không đưa đến kết quả gì. Trong đêm 4 rạng ngày 5 tháng 3, trong suốt bảy tiếng đồng hồ, tướng Xalăng, các đại tá Rơpitông và Lơcôngtơ đều vấp phải một sự từ chối lễ độ và kiên quyết của người Trung Hoa... một cảm giác bất hạnh bao trùm lấy ngày 5 tháng 3. Buổi sáng hôm ấy, Bộ tham mưu quân đội Trung Hoa ở Hà Nội sắp nhượng bộ thì nhận được điện của Hà Ứng Khâm ra lệnh phải phản đối cuộc đổ bộ của chúng ta. Thế cho nên lúc ấy nhất thiết phải đi đến một thoả thuận với ông Hồ Chí Minh".


Vào 16 giờ 30 phút ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp ước Sơ bộ Pháp - Việt được ký kết tại ngôi nhà số 38 phố Lý Thái Tổ (nay là Cung thiếu nhi Hà Nội) giữa đại diện Chính phủ cộng hoà Pháp Xanhtơny và đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà là Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặc ủy viên của Hội đồng các Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh. Hiệp định gồm 3 khoản chính và 4 phụ khoản đính theo. Cũng trong dịp này, hai bên đã ra tuyên bố chung Lơcléc - Hồ Chí Minh về việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật từ phía Bắc vĩ tuyến 16.


Những văn bản trên đây thể hiện sự nhân nhượng của hai bên: "Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ của mình, tài chính của mình và là một phần tử trong bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp".


Về việc thống nhất 3 kỳ của nước Việt Nam, Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết.

Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện tiếp đón quân đội Pháp vào thay thế quân đội Trung Hoa.

Hai Chính phủ thoả thuận lực lượng thay thế quân đội Trung Hoa gồm có:

10.000 quân Việt Nam thuộc quyền các nhà chức trách quân sự Việt Nam.

15.000 quân Pháp (kể cả số lính Pháp hiện đã đóng ở miền Bắc Việt Nam). Số quân Pháp này sẽ rút khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm, mỗi năm một phần năm quân số.

Sau đó, ngày 3 tháng 4 năm 1946, Hội nghị tham mưu họp theo quy dịnh của Phụ khoản đính theo Hiệp định Sơ bộ. Phía Việt Nam do Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh, phía Pháp do Xalăng - Phó Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương và Valuy - Tư lệnh quân đội Pháp ỏ Bắc Đông Dương dẫn đầu. Hai bên ký kết Hiệp định tạm thời quy định cụ thể những địa điểm đóng quân của các lực lượng Pháp và Việt Nam làm nhiệm vụ tiếp phòng quân Tưởng.


Các địa điểm đóng quân của Pháp:

Hà Nội (gồm cả 1.000 lính ở sân bay): 5.000 binh sĩ.

Hải Phòng: 1.750 binh sĩ.

Nam Định: 825 binh sĩ.

Đà Nẵng: 225 binh sĩ.

Hải Dương: 650 binh sĩ.

Điện Biên Phủ: 850 binh sĩ.

Các vùng biên giới: 2.775 binh sĩ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:47:53 pm »

Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ làm một số người do lòng yêu nước bồng bột mà không bằng lòng. Họ sẵn sàng hy sinh đánh Pháp, quyết không cho Pháp trở lại. Ngày 7 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói chuyện với hàng chục vạn đồng bào Thủ đô trong cuộc mít tinh nghe giải thích Hiệp định Sơ bộ. Chủ tịch kết thúc bằng những lời cảm động:

"Tôi, Hồ Chí Minh, suốt cuộc đời cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc.

Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".

Ngày 9 tháng 3 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị "Hoà để tiến" nêu rõ thắng lợi bước đầu của ta và vạch ra ta cần phải hoà với Pháp để:

"1- Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động... trong khi các lực lượng hòa bình, tự do và tiến bộ trên thế giới (như Liên Xô, phong trào cộng sản ở Pháp, cách mạng thuộc địa) chưa thể trực tiếp giúp ta được.

2- Bảo toàn thực lực giành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào.

Tóm lại để chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 49).

Chỉ thị cũng phê phán những sai lầm "tả", không muốn hòa hoãn với Pháp, khuynh hướng "hữu" chưa đánh giá thật đầy đủ bản chất phản động của đế quốc Pháp dễ lơ là mất cảnh giác. Chỉ thị vạch rõ chủ trương mới của ta Pháp là giữ thái độ bình tĩnh, nhã nhặn với binh lính Pháp, nhưng phải đấu tranh buộc Pháp thi hành Hiệp định và "phải tiếp tục chuẩn bị những việc kháng chiến lâu dài". Chỉ thị còn dự kiến diễn biến tình hình phức tạp sau Hiệp định và vạch ra những biện pháp đề phòng:

"Hiện nay bọn Nguyễn Hải Thần cùng phái Tàu trắng phản động nhất ở Việt Nam, âm mưu một cuộc phân biêt chia cắt đất nước Việt Nam hay "đảo chính". Phải đề phòng hành động của chúng và bóc trần thủ đoạn hại nước của chúng cho nhân dân hiểu.

Còn bọn Việt gian thân Pháp thì có thể nhân cơ hội ta hòa với Pháp để ngóc đầu dậy, hành động bán nước cho thực dân Pháp, ngấm ngầm giúp thực dân Pháp phá cách mạng, trì hoãn cuộc giành độc lập hoàn toàn của ta, chúng ta phải tìm cách ngăn ngừa chúng làm hại cách mạng.


Đối với các phái thân Tàu Tưởng, phải nhân lúc chúng hoang mang vì cảm thấy sắp bị Tàu Tưởng bỏ rơi và lập trường của chúng lung lay sau khi bản Hiệp định Việt - Pháp đã ký mà chia rẽ nội bộ chúng, kéo lấy những phần tử trung thực nhằm theo chúng về phe ta, chỉ cho quần chúng thấy bọn lãnh tụ "Việt Nam Quốc dân đảng" chẳng qua chỉ là một bọn cơ hội đê hèn, vì chúng chỉ biết vâng lệnh nước ngoài và đặt quyền lợi riêng lên trên quyền lợi dân tộc".


Ngày 11 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi các Chính phủ và nhân dân thế giới cùng đồng bào cả nước. Lời kêu gọi có đoạn:

"Nay vì tình hình quốc tế, vì muốn tỏ lòng tin vào nước Pháp mới và sự thành thực của những người đại diện cho Chính phủ Pháp, vì tin vào sự hoàn toàn độc lập tương lai của nước nhà, tôi cùng Chính phủ ta ký bản Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp.

Tôi cũng tha thiết kêu gọi nhân dân và chính phủ trên thế giới, nhất là nhân dân Pháp hãy ủng hộ chính nghĩa làm cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định Sơ bộ để đi đến kết quả Hoà Hảo giữa hai dân tộc và bảo vệ nền hoà bình thế giới".

Ký Hiệp định Sơ bộ, ta đuổi được quân Tưởng về nước. Bọn tay sai cũng rút chạy theo quân Tưởng và tan rã, quân Anh, quân Nhật cùng rút về nước. Bọn nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai Pháp hoang mang. Quân Pháp phải điều ra Bắc Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 9, Binh đoàn cơ động thiết giáp và một số bộ phận khác, lực lượng bị phân tán. Ở miền Nam chỉ còn Binh đoàn bộ binh thuộc địa số 3 thiếu và yếu. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân dân ta đã lợi dụng được tình thế tạm hòa hoãn và lực lượng Pháp bị dàn mỏng mà phát triển lực lượng, củng cố sự tin tưởng trong dân chúng.


Ngày 18 tháng 3, 1.200 quân Pháp được phép đến Hà Nội thay thế quân Tưởng. Khi quân Pháp vào, chúng ta thực hiện chủ trương đấu tranh bảo vệ chủ quyền của ta theo đúng Hiệp định, nhưng không khiêu khích quân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban bố một bản nghiêm lệnh: "Tuyệt đối cấm chỉ mọi sự khiêu khích đối với kiều dân và quân đội Pháp". Lần lượt 15.000 quân Pháp vào miền Bắc một cách hoà bình trước thái độ bình tĩnh cảnh giác và bất hợp tác của nhân dân ta.


Tuy buộc phải ký kết, nhưng quân Pháp vẫn khiêu khích phá hoại việc thi hành Hiệp định. Ta phải kiên trì đấu tranh để duy trì hòa hoãn. Cao ủy Đácgiăngliơ không bằng lòng với việc ký Hiệp định. Ngày 8 tháng 3, khi Valuy nhân danh tướng Lơcléc đến thông báo về bản Hiệp định Sơ bộ, Đácgiăngliơ nói: "Tôi ngạc nhiên, thực vậy tướng quân ạ! Tôi ngạc nhiên là nước Pháp có một đội quân viễn chinh đẹp dường kia mà những vị chỉ huy chỉ thích điều đình không muốn đánh", "Anh nói lại Đại tướng Lơcléc, coi chừng ông ấy đang đi tới một cuộc đầu hàng kiểu Munich"1 (Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn, 1972, tr. 22).


Tuy nhiên, theo thoả thuận trước đó của Lơcléc với ta, Đácgiăngliơ vẫn tổ chức cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vịnh Hạ Long ngày 24 tháng 3. Trong cuộc gặp này, Cao ủy bày ra nhiều việc để trì hoãn Hội nghị Pháp - Việt chính thức, như việc họp Hội nghị trù bị Đà Lạt, phái đoàn Quốc hội ta sang thăm Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ âm mưu của y, nhưng để giữ không khí hòa hoãn, tiến tới Hội nghị chính thức, Người cũng đồng ý với Pháp:

1- Vào trung tuần tháng 4, một phái đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sẽ đi Pháp để tỏ tình thân thiện của Quốc hội và nhân dân Việt Nam với Quốc hội và nhân dân Pháp.

2- Cùng trong thời gian đó, một phái đoàn gồm độ mười người từ Pháp qua Việt Nam để sửa soạn những tài liệu cần thiết.

3- Hai bên sẽ mở Hội nghị trù bị ở Đà Lạt để trao đổi ý kiến trước khi mở Hội nghị chính thức.

Sau đó, nhằm mục đích hạ thấp vị trí Hội nghị chính thức Pháp - Việt và để bưng bít dư luận, Pháp cử một phái đoàn gồm đại biểu các Bộ Kinh tế, Tài chính, Hải ngoại và Quốc phòng do Đácgiăngliơ làm trưởng đoàn sang Việt Nam đàm phán với Chính phủ ta. Ta đấu tranh đòi Hội nghị chính thức họp ở Pari. Lập trường của ta được dư luận nhân dân Pháp đồng tình. Bọn phản động bị cô lập. Cuối cùng Chính phủ Pháp phải nhận mở Hội nghị trù bị ở Đà Lạt và sau đó tiến tới mở Hội nghị chính thức ở Pari.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2026, 08:49:13 pm »

Ngày 16 tháng 4 năm 1946, phái đoàn Quốc hội ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường sang thăm nước Pháp.

Ngày 19 tháng 4, tại Trường Trung học Yécxanh ở Đà Lạt, Hội nghị trù bị cho Hội nghị Việt - Pháp chính thức khai mạc. Phái đoàn Việt Nam gồm 13 người do Nguyễn Tường Tam làm Trưởng đoàn, Võ Nguyên Giáp làm Phó Trưởng đoàn. Nhưng thực tế, phái đoàn do Võ Nguyên Giáp làm lãnh đạo. Phái đoàn Pháp gồm 12 người do Đácgiăngliơ làm Trưởng đoàn và Mác Angđrê làm Phó Trưởng đoàn. Bọn này hầu hết là những tên thực dân kỳ cựu ở Đông Dương, những tên tướng, hoặc những tên có chân trong tập đoàn tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương nên chúng quyết tâm phá Hội nghị. Hội nghị Đa Lạt với tính chất là Hội nghị trù bị nên có nhiệm vụ trao đổi ý kiến về mọi vấn đề phải giải quyết "trong cuộc đàm phán chính thức. Đó là các vấn đề: chế độ chính trị của Việt Nam, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước ngoài, vấn đề Nam Bộ, quan hệ kinh tế văn hoá giữa ta và Pháp, vấn đề quân sự..., các vấn đề trên đều diễn ra đấu tranh gay gắt trong Hội nghị.


Về chính trị, lập trường có tính nguyên tắc của ta là: nước Việt Nam là một nước tự do. Liên bang Đông Dương chỉ mang tính chất kinh tế, không được phương hại đến những quyền cơ bản của Việt Nam. Về nguyên tắc ngoại giao giữa Việt Nam với nước ngoài, ta chủ trương Việt Nam phải có quyền đặt quan hệ ngoại giao. Pháp đòi quyền ngoại giao của ta do Liên hiệp Pháp đảm nhiệm thực chất là tước quyền ngoại giao độc lập của ta.


Về kinh tế, ta chủ trương giữ vững những quyền lợi kinh tế cơ bản, bảo đảm điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển, đồng thời có những nhân nhượng nhất định đối với quyền lợi kinh tế Pháp ở Đông Dương.

Về vấn đề Nam Bộ, ta nêu rõ mục đích bỏ phiếu trưng câu ý dân không phải là để đòi chủ quyền Nam Bộ thuộc về dân, vì lãnh thổ Việt Nam gồm đủ ba kỳ. Cuộc đầu phiếu chỉ nhằm hỏi ý kiến nhân dân Nam Bộ có muốn giữ. giới hạn "Kỳ" trong khuôn khổ nước Việt Nam thống nhất hay không. Pháp chủ trương bỏ phiếu trưng cầu ý dân để hỏi chủ quyền Nam Bộ thuộc về đâu. Mục đích của Pháp là tổ chức cuộc đầu phiếu ở vùng chúng kiểm soát, chúng sẽ dùng lê, dùng súng bắt mọi người bỏ phiếu theo ý chúng, để tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam.


Các vấn đề thảo luận, chỉ riêng về quan hệ văn hoá giữa ta và Pháp là đạt được một số thoả thuận. Còn tất cả các vấn đề khác đều bất đồng và được kết luận "hãy ghi lại sự bất đồng ý ấy".

Ngày 10 tháng 5, Hội nghị thất bại.

Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp với tư cách là thượng khách của nước Pháp. Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đi dự cuộc đàm phán chính thức tại Pháp cùng đi trong chuyến này. Không khí chính trị ở nước Pháp đang nóng bỏng. Cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị đang diễn ra gay gắt. Ngày 2 tháng 6 năm 1946, trong cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến, Đảng Xã hội do không hưởng ứng lời kêu gọi liên minh của Đảng Cộng sản để chống phái hữu nên đã bị mất nhiều phiếu so với lần tuyển cử trước. Phong trào cộng hoà bình dân của các giới tư bản tài phiệt phản động giành được thêm nhiều ghế: Phong trào Cộng hoà bình dân của Đờ Gôn chiếm 166 ghế, Đảng Cộng sản 150 ghế, Đảng Xã hội 125 ghế. Ngày 24 tháng 6, Chính phủ mới dược thành lập do Biđôn, lãnh tụ phong trào cộng hoà bình dân làm Thủ tướng. Trong Chính phủ, phong trào cộng hoà bình dân chiếm 9 ghế, Đảng Cộng sản 7 ghế, Đảng Xã hội 6 ghế. Tuy Đảng Cộng sản còn giữ được vị trí trong Quốc hội và trong Chính phủ như trước, nhưng Chính phủ mới này đã ngày càng ngả sang phái hữu, tìm cách phá hoại Hiệp định Sơ bộ, phá hoại cuộc đàm phán Pháp - Việt.


Ngày 12 tháng 6 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp. Vì Chính phủ Pháp lúc này chưa thành lập nên Người còn ở tạm Biarít. Ngày 24 tháng 6, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pari, mở đầu cuộc đi thăm chính thức nước Pháp. Trong diễn văn đọc ngày 2 tháng 7 nhân buổi chiêu đãi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Biđôn nói:


"Chúng ta sẽ làm việc với nhau một cách thành thật dựa vào sự hiểu biết lẫn nhau và những lý tưởng nhân đạo. Ở đây, Khổng giáo và triết học Tây phương sẽ gặp nhau để tạo nên một quan niệm mới mẻ về những quan hệ giữa những người tự do và có liên quan với nhau trong sự theo đuổi lẽ tiến hoá của loài người".

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời:

"Người Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau, nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia xẻ được... Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây, đều tán dương một nguyên tắc đạo đức "kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân"1 (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr. 266-267).


Trước sự đấu tranh mềm dẻo, kiên quyết của ta, trước áp lực của dư luận nhân dân Pháp và dư luận quốc tế, Chính phủ Pháp buộc phải mở Hội nghị đàm phán chính thức với ta. Nhưng chúng cố tình đặt địa điểm hội nghị ở lâu đài Phôngtennơblô cách Pari 60km và cử Trưởng đoàn ở cấp thấp làm giảm tầm quan trọng của cuộc đàm phán.


Vào 10 giờ 30 phút ngày 6 tháng 7 năm 1946, Hội nghị Phôngtennơblô khai mạc. Đoàn đại biểu Việt Nam gồm 12 thành viên: Đồng chí Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn, các ông Phan Anh, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Bửu Hội, Trịnh Văn Bính, Đặng Phúc Thông, Dương Bạch Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Mạnh Hà, Chu Bá Thượng, Huỳnh Thiện Lộc. Đoàn Pháp gồm 12 thành viên do Mác Ăngđrê nguyên Phó trưởng đoàn đàm phán ở Đà Lạt làm Trưởng đoàn. Hầu hết các thành viên vẫn là các thành viên trong Hội nghị Đà Lạt như Buộcgoanh, Xalãng, Métsme, Pinhông, Đắcsi... Để hạn chế sự chỉ trích của dư luận, Chính phủ Pháp đưa vào đoàn đại biểu 3 nghị sĩ của 3 chính Đảng là Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội và phong trào cộng hoà bình dân. Đại biểu cho Đảng Xã hội là giáo sư Pôn Rivê, một người có tư tưởng tiến bộ. Nhưng Pôn Rivê sau khi dự buổi trao đổi riêng của đoàn Pháp trước hôm khai mạc Hội nghị đã rút lui. Ông nói là không muốn trở thành đồng lõa với những kẻ phản bội các điều khoản của Hiệp định ngày 6 tháng 3. Đoàn Pháp chỉ còn 11 thành viên. Việc cử Mác Ăngđrê, một người có chân trong tập đoàn tư bản tài chính của Ngân hàng Đông Dương làm Trưởng đoàn và những đoàn viên là những tên thực dân kỳ cựu ở Đông Dương, những tên tướng chỉ huy cuộc chiến tranh xâm lược, cũng đã chứng tỏ phía Pháp không có ý định đưa cuộc đàm phán đến kết quả thực sự.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:31:59 pm »

Những vấn đề đưa ra thảo luận trong Hội nghị là:

1- Vấn đề Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và những quan hệ của nó với nước ngoài.

2- Tổ chức Liên bang Đông Dương.

3- Vấn đề thống nhất 3 kỳ và trưng cầu ý dân ở Nam Bộ.

4- Các vấn đề kinh tế, quân sự, văn hoá.

5- Thảo một dự án hiệp ước.


Ngày 12 tháng 7, trong cuộc họp báo tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ 6 điểm trong lập trường đàm phán của ta như sau:

1- Việt Nam đòi quyền độc lập nhưng không phải hoàn toàn tuyệt giao với Pháp mà ở trong Liên hiệp Pháp, vì như thế, có lợi cho cả hai nước về mặt kinh tế và văn hoá, Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp.

2- Việt Nam quyết không chịu có một Chính phủ Liên bang.

3- Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không ai có quyền chia rẽ, không lực lượng nào có thể chia rẽ.

4- Việt Nam sẽ bảo hộ tài sản của người Pháp. Nhưng người Pháp phải tuân theo Luật lao động của Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ đến quốc phòng.

5- Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước.

6- Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước.


Người kết luận chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà, bình đẳng thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước.

Lập trường đúng đắn của ta được dư luận tiến bộ Pháp và các nước hoan nghênh. Trái lại, lập trường của Pháp hết sức ngoan cố phản động. Chúng vẫn chủ trương thông qua cơ cấu Liên bang Đông Dương để giữ Việt Nam trong khuôn khổ phụ thuộc vào Pháp. Chúng vẫn tách Nam Bộ khỏi nước Việt Nam thống nhất, coi Nam Bộ là đất nước của chúng. Hội nghị bế tắc, ngày 1 tháng 8, thay mặt đoàn đại biểu ta, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng tuyên bố đình chỉ cuộc họp. Trong suốt tháng 8, Hội nghị không họp lại được do lập trường hai bên không thay đổi. Các giới chính trị đại biểu quyền lợi tư bản phản động Pháp coi việc công nhận quyền độc lập thống nhất của Việt Nam là một thảm họa đối với chúng, nhưng chúng tuyên bố đánh tráo là "một thảm họa đối với nước Pháp, chúng ta sẽ làm mọi việc để tránh cho được thảm họa đó". Lợi dụng tình hình nước Pháp chưa có Chính phủ chính thức, bọn thực dân phản động Pháp thực hiện chính sách vừa đàm phán, vừa lấn dần về chính trị, quân sự ở Đông Dương. Chúng tính nước sẽ thắng trong cuộc Tổng tuyển cử ở Pháp vào cuối năm 1946 để thẳng tay thi hành chính sách phản động ở thuộc địa. Ngày 12 tháng 9 năm 1946, Hội nghị Phôngtennơblô tan vỡ. Hôm sau, phái đoàn ta rời Pháp về nước.


Cánh cửa hoà bình như đã đóng chặt. Quan hệ hai nước rất căng thẳng. Cuộc chiến tranh lớn có thể nổ ra một sớm một chiểu. Để cứu vãn tình thế, dành thêm một thời gian nữa để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sắp tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy đã hết thời hạn ở thăm nước Pháp với cương vị thượng khách, Người vẫn ở lại Pháp trong một gia đình quen biết từ trước, để tiếp tục vận động cho một số giải pháp hoà bình, dù là tạm thời và mỏng manh. Điều đó đã đạt được. Ngày 14 tháng 9 năm 1946 tại nhà riêng Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Mutê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Mutê - đại diện Chính phủ Pháp một bản Tạm ước có 11 khoản gồm một số nội dung chính sau:

Đảm bảo quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp ở Việt Nam và quyền lợi kiều dân Pháp.

Đình chỉ mọi hành động xung đột về võ lực giữa hai bên.

Phóng thích tù binh và tù nhân chính trị.

Vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam sẽ do một ủy ban chung Việt - Pháp ấn định.

Ghi nhận cuộc thương thuyết vẫn còn được tiếp tục và hiện trạng chưa bị phá vỡ hoàn toàn. Các cuộc đàm phán sẽ tiếp tục càng sớm càng hay và chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947.

Chiều 15 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp báo ở Pari, Người nói:

"Sau 3 tháng ở Pháp đã đem lại cho tôi một bản Tạm ước. Bản Tạm ước này đối với tôi có phải đã thoả mãn không? Có và không. Được rất ít nhưng có còn hơn không. Ký Tạm ước này, chúng tôi muốn tỏ cho nhân dân Pháp biết chúng tôi mong muốn một tinh thần rộng mở trong sự hoà giải. Chúng tôi sẽ thi hành Tạm ước nghiêm chỉnh và sẽ tìm ra khả năng để vượt qua những thoả thuận riêng và địa phương sau khi làm thuận lợi cho việc trở lại cuộc thương thuyết ở Hội nghị Phôngtennơblô. Chúng tôi hy vọng phía Pháp cũng thi hành nghiêm chỉnh Tạm ước đã ký như chúng tôi"1 (Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Tạp chí Thông tin lý luận, H. 1998, tr. 204).


Báo Sự thật ngày 20 tháng 9 năm 1946 viết về Tạm ước này:

"Ý chí của Hồ Chí Minh trong khi ký bản Thoả hiệp tạm thời là nhất quyết làm cho cuộc bang giao Việt - Pháp tiến bộ hơn ngày 6 tháng 3, tình giao hảo giữa hai dân tộc dân chủ thân mật hơn và để thực hiện điều khoản của bản Thoả hiệp tạm thời có thể hòa hoãn những gay go giữa Việt - Pháp và giành thêm thời gian để bồi bổ thực lực và đón lấy một tình thế tốt hơn, để tỏ cho nhân dân Pháp thấy rằng dân tộc ta rất muốn thoả thuận với nhân dân Pháp (Hội nghị Phôngtennơblô bỏ dở là lỗi tại bọn tài phiệt Ngân hàng Đông Dương và tay sai của chúng, chứ không phải tại ta) và do đó tăng thêm cảm tình của dân Pháp và các dân tộc tự do khác đôi với nước ta".


Ngày 18 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời nước Pháp, ngày 20 tháng 10, Người về đến Hà Nội. Trong lời tuyên bố với quốc dân ngày 23 tháng 10, Người nói:

"Tôi qua Pháp đáp lại thịnh tình của Chính phủ Pháp đã mời tôi, mục đích cốt để giải quyết vấn đề Việt Nam độc lập, cùng Trung Nam Bắc thống nhất. Vì hoàn cảnh hiện thời của nước Pháp mà hai vấn đề chưa giải quyết được, còn phải chờ. Nhưng không trước thì sau, tôi dám quyết rằng: Việt Nam nhất định độc lập, Trung Nam Bắc nhất định thống nhất"1 (Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp, Tạp chí Thông tin lý luận, H. 1998, tr. 204).


Rõ ràng là khi ký Hiệp định Sơ bộ ta còn đặt hai khả năng: có thể giải quyết quan hệ Pháp - Việt bằng biện pháp hòa bình, hoặc cũng có thể chiến tranh sẽ nổ ra. Nhưng khi ký Tạm ước 14 tháng 9 thì tinh thần lại khác: khả năng hoà bình hầu như không còn, đây chỉ là phương sách làm chậm nổ ra cuộc chiến tranh không tránh khỏi. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương, một mặt ta thi hành đầy đủ những điều khoản đã ký kết, tránh khiêu khích quân Pháp, kiên quyết đấu tranh chống quân Pháp vi phạm Hiệp định, mặt khác tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.


Đứng trước nhiều kẻ thù mạnh, chúng ta lại có vô vàn khó khăn, sức mạnh vật chất còn nhiều hạn chế nhưng Đảng ta đã phát huy được sức mạnh vật chất, sức mạnh chính trị tinh thần vào công cuộc kháng chiến kiến quốc cũng như trong đấu tranh ngoại giao. Đến cuối năm 1946 chỉ mới hơn một năm xây dựng lực lượng trong bối cảnh đầy rẫy khó khăn, vừa xây dựng vừa chiến đấu nhưng chúng ta đã có được lực lượng chính trị hùng hậu của toàn dân, có một chính quyền hợp pháp được củng cố từ Trung ương xuống đến làng xã, có một cơ sở kinh tế văn hoá nhất định, có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân đông đảo rộng khắp, với một Đảng Cộng sản được củng cố phát triển ngày càng trưởng thành lãnh đạo. Chúng ta lại có sự ủng hộ quốc tế ngày càng rộng rãi. Đó là sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, của dân tộc ta và của cả thời đại. Đó là "lực lượng căn bản" đưa cách mạng nước ta giành những thắng lợi to lớn trong thời kỳ 1945 - 1946 và chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:33:07 pm »

Phần thứ hai
NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP


I. NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP CỦA QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC

1. Bảo vệ ngày Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công trong cả nước, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Vừa mới ra đời trong Cách mạng Tháng Tám 1945, sở Liêm phóng Bắc Bộ (Công an nhân dân Bắc Bộ lúc đó) được vinh dự giao nhiệm vụ đặc biệt là: Bảo vệ an toàn cho ngày lễ Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945. Đồng chí Chu Đình Xương, Giám đốc sở Liêm phóng Bắc Bộ là người trực tiếp chỉ đạo vạch kế hoạch thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đôi an toàn cho lãnh tụ và các thành viên của Chính phủ, đồng thời bảo đảm an ninh trật tự cho buổi mít tinh chống sự phá hoại của kẻ thù.


Lực lượng liêm phóng và cảnh sát Bắc Bộ được bố trí bảo vệ từ vòng trong đến vòng ngoài. Bảo vệ tiếp cận và bảo vệ từ xa. Các chiến sĩ trinh sát được trang bị vũ khí đứng thành hàng rào rải suốt từ nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên của Chính phủ xuất phát đến quảng trường Ba Đình. Một số đứng bảo vệ xung quanh lễ đài. Cảnh sát còn mang súng ngắn mặc quần cộc đến đầu gôi, đội mũ cát trắng đạp xe đạp hộ tống cho đoàn xe chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên của Chính phủ tới tận quảng trường. Đồng chí Chu Đình Xương - Giám đốc sở Liêm phóng và một số trinh sát ngồi cùng xe với Bác. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ trong quá trình Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, đổng chí Chu Đình Xương đã trực tiếp đứng bên cạnh để bảo vệ Người.


Nhằm biểu dương sức mạnh công cụ chuyên chính của chính quyền nhân dân mới ra đời, lực lượng công an được bố trí thành một khối tham dự mít tinh.

Cũng trong thời gian này tại Sài Gòn, ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ cũng tổ chức mít tinh tại quảng trường Nhà thờ Đức Bà với hàng vạn đồng bào đến nghe Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập thông qua máy thu thanh. Lực lượng Quốc gia tự vệ (công an nhân dân Nam Bộ) đã bố trí phương án bảo vệ an toàn cho đoàn Chủ tịch và nhân dân dự mít tinh. Lúc này, bọn phản động núp trên lầu cao bắn lén vào đoàn người dự mít tinh. Lực lượng Quốc gia tự vệ đã kết hợp với lực lượng vũ trang kịp thời vây bắt bọn phản động, tước vũ khí của chúng bảo vệ an toàn cho cuộc mít tinh chào mừng ngày độc lập của nhân dân Sài Gòn - Gia Định.


Trước đó, lực lượng liêm phóng Bắc Bộ đã bắt một số tên phản động cách mạng nguy hiểm tay sai của Pháp, Nhật và những tên quan lại có nhiều nợ máu với nhân dân.

Ở Bắc Bộ ta bắt các tên: Nguyễn Xuân Chữ, cầm đầu bọn bù nhìn trong ủy ban chính trị của địch; Cung Đình Vận, tuần phủ Thái Nguyên; Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, thủ lĩnh Quốc dân Đảng và Đại Việt quốc gia liên minh do Nhật lập ra; Võ Văn Cầm, thủ lĩnh của tổ chức "Thanh niên ái quốc" cũng do Nhật lập ra.


Ở Trung Bộ, Sở trinh sát (lực lượng công an Trung Kỳ) bắt các tên: Trần Trọng Kim, thủ tướng bù nhìn; Trần Văn Lý, tổng đốc lâm viên; Ngô Đình Khôi, tuần phủ Quảng Nam; Tôn Thất Hối, trùm mật thám Trung Kỳ; Ngô Đình Diệm; Phan Văn Giáo; Nguyễn Tiến Lãng là những tên quan lại nguy hiểm của chính quyền Bảo Đại.


Ở Nam Bộ, Quốc gia tự vệ cuộc (lực lượng công an Nam Bộ) bắt các tên Phạm Đình Cương; Thái Phi, tay sai đắc lực của Pháp, Nhật.

Việc bắt và trừng trị những tên phản cách mạng nguy hiểm, tay sai của Pháp, Nhật đã góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, ổn định an ninh chính trị, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:35:12 pm »

2. Đập tan một âm mưu bạo động cướp chính quyền

(Theo Hồi ký của đồng chí Lê Giản, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an)

Đầu tháng 7 năm 1946, chúng tôi nhận được một tin báo quan trọng là bọn Đại Việt quốc dân đảng đã thông báo cho tổ chức "Thanh niên diệt cộng" của chúng sẵn sàng đón đợi thời cơ. Và tại trụ sở số 132 Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân), chúng tập trung nhiều phương tiện ấn loát làm việc liên tục. In tới đâu đóng gói tới đấy chuẩn bị chuyển gấp đi các tỉnh.


Tổng hợp phân tích các nguồn tin đó, chúng tôi xác định bọn phản động đang có âm mưu tổ chức bạo động lật đổ Chính phủ ta. Song cho tới lúc đó vẫn chưa khám phá ra kế hoạch hành động cụ thể của chúng. Mặc dù trong Việt Nam quốc dân đảng ta có gài được nhiều cơ sở tốt, nhưng tuyệt nhiên ta chưa phát hiện ra một âm mưu gì mới ngoài những chuyện cướp của, giết người, tống tiền, ám sát... như trước. Điều ấy chứng tỏ bọn Đại Việt quốc dân đảng giấu cả bọn Việt Nam quốc dân đảng. Bọn Đại Việt quốc dân đảng không muốn cho bọn Việt Nam quốc dân đảng dây máu ăn phần, mặc dù chúng đã sáp nhập thành một tổ chức do Trương Tử Anh cầm đầu.


Một sự kiện rất đáng lưu ý là, sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, bọn Pháp ở Hà Nội chỉ được phép đóng quân và đi lại phạm vi trong thành (chỗ cửa Đông hiện nay) và vườn hoa Canh Nông (vườn hoa chỗ góc đường Trần Phú và Điện Biên Phủ bây giờ). Nhưng càng tới ngày 14 tháng 7, ngày quốc khánh của Pháp, Xanhtơny liên tiếp đến xin phép Chính phủ ta cho quân Pháp được diễu binh quanh Hồ Gươm, nghĩa là quanh Bắc Bộ phủ, nơi cơ quan đầu não của ta làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp, bấy giờ là Bí thư Đảng, Đoàn chính quyền và cụ Huỳnh Thúc Kháng là quyền Chủ tịch nước (thay Bác Hồ đang đi thăm Pháp) kiên quyết không cho Pháp diễu binh, chỉ cho chúng duyệt binh tại chỗ.


Chúng tôi nhận định việc làm của bọn Đại Việt Quốc dân đảng và bọn Pháp nhất định có liên quan đến nhau, cùng nằm trong âm mưu bạo động cướp chính quyền. Tôi lên báo cáo anh Giáp và xin hành động tích cực để trừng trị âm mưu đó từ khi còn trứng nước. Nhưng anh Giáp không đồng ý mà yêu cầu phải tăng cường theo dõi và chỉ được trừng trị đối phương khi nào khám phá ra bằng chứng cụ thể. Quyết định đó hoàn toàn đúng. Bởi khi đi Pháp, Bác dặn ở nhà phải giữ gìn, tránh để xảy ra xung đột với các đảng phái khác sợ ảnh hưởng xấu tới kết quả Hội nghị Phôngtennơblô. Vậy bằng cách nào mà biết được kế hoạch bạo động của kẻ thù? Bằng cách nào để có những chứng cớ mà trừng trị?


Một hôm, Sở Công an Bắc Bộ báo cho chúng tôi một trường hợp rất đáng quan tâm: bà T đến báo cho công an ta biết, đêm trước hai vợ chồng V và S ở phố Đuyvinhô tới rủ con trai bà đi xem phim. Thế là anh con trai mất tích từ bữa đó tới nay vẫn chưa biết ở đâu. Lập tức chúng tôi tổ chức một mạng lưới trinh sát bí mật bao vây theo dõi nhà V và S. Vợ chồng này thỉnh thoảng có lui tới số nhà 132 Đuyvinhô. Và việc anh con trai bà T mất tích chắc có liên quan tối tổ chức phản động này. Công an ta khéo léo giữ V và S. Chúng nhận là đảng viên Quốc dân đảng, công kích đường lối chính trị của Đảng ta và không ngớt lời ca ngợi bọn Quốc dân đảng. Biết hai vợ chồng nhà này mới bị bọn phản động lừa phỉnh với các thứ triết lý về yêu nước và độc lập giả hiệu, chúng tôi tìm mọi cách giúp hai người nhận rõ bản chất bán nước phản động của bọn Quốc dân đảng. Hai vợ chồng V và S dần dần nhận thức được, biết mình bị lừa dối. Họ nhận làm việc cho ta. V và S được giao nhiệm vụ khám phá những bí mật trong ngôi nhà số 132 Đuyvinhô. Qua tin tức S cung cấp, ta xác định chắc chắn rằng tin của cơ sở báo là đúng. Tại đó địch đang gấp rút in nhiều tài liệu.


Chỉ còn ba ngày nữa là bọn Pháp kỷ niệm quốc khánh. Xanhtơny vẫn ráo riết đòi diễu binh. Tin mật báo do ta tập hợp được khẳng định chắc chắn âm mưu bạo loạn cướp chính quyền mà bọn Pháp và tay sai câu kết thực hiện là có thật. Tôi lại lên báo cáo anh Giáp và xin tấn công vũ trang trụ sở bọn Đại Việt quốc dân đảng. Anh Giáp xin ý kiến Trung ương. Chúng tôi lại được Trung ương chỉ thị: chỉ được hành động khi có bằng chứng cụ thể.


Đêm ngày 11 tháng 7 năm 1946, tôi, anh Nguyễn Tạo... ngồi quây quần quanh chiếc bàn, hội ý. Các nguồn tin được chắp nối, liên hệ với nhau để tổng hợp, phân tích. Biết bao câu hỏi, biết bao giả thiết đặt ra: có đúng kẻ địch âm mưu bạo động cướp chính quyền không? Hay đây là quỷ kế chúng lừa ta rơi vào tròng khiêu khích để phá Hội nghị Phôngtennơblô?... Tất nhiên mọi tình huống phải đặt ra và lường đoán trước tất cả như thế để có biện pháp đối phó. Song trong thâm tâm chúng tôi vẫn tin âm mưu kẻ địch chuẩn bị bạo động là có thật. Nếu vậy, không trấn áp, không bóp chết ngay âm mưu đó từ trong trứng nước, thì hậu quà sẽ vô cùng to lớn, nhất là giữa lúc chính quyền ta còn rất non trẻ, lực lượng ta có hạn, cả đối nội và đối ngoại ta đang gặp khó khăn. Nhưng nêu không tỉnh táo mắc mưu địch để nó tạo cớ cho Pháp đánh ta, hoặc phá hoại Hội nghị Phôngtennơblô thì chắc chắn không tránh khỏi bị kỷ luật. Cuối cùng, chúng tôi quyết định: chấp hành chỉ thị của Trung ương, không tấn công trụ sở của bọn Đại Việt quốc dân đảng, mà chỉ dùng một lực lượng nhỏ, bí mật đột nhập, kiểm tra ngôi nhà 132 Đuyvinhô, nơi mà chúng tôi nghi ngờ nhiều nhất, để tìm ra bằng chứng cụ thể.


2 giờ 30 phút đêm 11 rạng ngày 12 tháng 7 năm 1946, một tiểu đội công an được chọn trong số những người giỏi võ do đồng chí Lê Hữu Qua phụ trách, xuất phát. Chiếc xe Jeep dừng lại gần số nhà 132 Đuyvinhô không một tiếng động mạnh. Trong nháy mắt, các chiến sĩ ta đã vượt qua cổng sắt và hàng rào thép gai đột nhập vào nhà. Mấy tên lính gác ôm súng trong tay ngồi ngủ gà ngủ gật liền bị khóa họng, nhét giẻ vào mồm và trói chặt. Anh em xông lên gác. Trong ánh sáng mờ mờ, hơn hai chục tên Đại Việt quốc dân đảng mình trần, đang ngủ lay lắt giữa lối đi, trên sàn nhà, bên những chiếc máy in còn chưa ráo mực. Ngổn ngang xung quanh từng tập tờ rơi, biểu ngữ, bố cáo... về cuộc bạo động xếp bề bộn. Có thứ đã bó lại chuẩn bị chuyển đi, có loại vừa in xong. Các chiến sĩ ta đánh gục, trói gọn tất cả bọn chúng. Toàn bộ tài liệu được chất đầy một xe ô tô vận tải chở đi. Bọn tội phạm bị hỏi cung tại chỗ để khai thác.


Qua các tài liệu thu được và lời khai của can phạm, chúng tôi khám phá ra kế hoạch bạo động đảo chính của bọn Đại Việt quốc dân đảng, như sau: ngày 14 tháng 7, Pháp sẽ tổ chức lỗ kỷ niệm quốc khánh một cách thật rầm rộ, quân đội Pháp được trang bị vũ khí chiến đấu diễu binh trên đường phố Hà Nội, đặc biệt khu vực Bắc Bộ phủ, bọn Đại Việt quốc dân đảng sẽ cho người ném lựu đạn vào đội hình của Pháp. Trong bản thảo viết tay do Trương Tử Anh ký có ghi rõ và gạch dưới hàng chữ: "Ném vào chỗ lính da đen". Bọn Pháp sẽ vin vào đó làm cớ đổ cho Chính phủ ta cố tình khiêu khích đánh chúng. Rồi chúng sẽ huy động toàn bộ lực lượng của Pháp, của bè lũ phản cách mạng bao vây đánh úp vào các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ ta, bắt giam các lãnh tụ, đồng thời bọn Đại Việt quốc dân đảng tuyên bố đảo chính lập Chính phủ mới. Bọn phản động ở các tỉnh đã chuẩn bị trước sẽ nổi dậy hưởng ứng. Cố nhiên Hội nghị Phôngtennơblô sẽ bị phá, Bác và anh Phạm Văn Đồng cùng phái đoàn Chính phủ ta sẽ bị Pháp bắt giữ... Mưu mô của bọn Pháp và lũ Đại Việt quốc dân đảng thật là quỷ quyệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:35:52 pm »

Tôi đi ngay đến Bắc Bộ phủ báo cáo với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Lúc ấy mới độ gần 6 giờ sáng. Nghe báo cáo có tôi tới trình việc gấp, cụ Huỳnh vội dậy, ra ngay. Cụ đeo mục kỉnh lên, đọc rất nhanh mấy tờ rơi, hiệu triệu... Mắt cụ sáng long lanh đầy căm giận. Rồi bằng giọng nghiêm khắc ít thấy, cụ vừa đập đầu ba toong xuống sàn nhà, vừa ra lệnh cho tôi: "Diệt! Diệt hết lũ chúng nó. Quân bán nước. Đồ chó má". Tôi vội vã đi báo cáo anh Giáp và được phép hành động ngay: tổ chức lực lượng tấn công các trụ sở của bọn Quốc dân đảng ở Hà Nội cùng các tỉnh khác.


Bảy giờ sáng, các đơn vị vũ trang chiến đấu của ta xuất phát. Tại ba trụ sở của Quốc dân đảng ở phố Thiền Quang, cuộc chiến đấu diễn ra dữ dội. Ở đây trước có một tên võ quan Nhật làm cố vấn và lớp huấn luyện gồm hơn 70 tên. Chúng thường được tung đi rải tờ rơi, khiêu khích, tổng tiền, cướp của, giết người. Địch dùng súng bắn trả ta rất kịch liệt. Mãi tới khi ta huy động thêm hỏa lực bố trí từ trên các nhà cao tầng xung quanh áp đảo, chúng mới chịu đầu hàng.


Tại cơ sở số nhà 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), cuộc chiến đấu cũng khá gay go. Cầm đầu bọn ở đây là tên Phan Kích Nam, ủy viên trung ương của Việt Nam quốc dân đảng. Tên thật của hắn là Phan Xuân Thiện, con đỡ đầu, và là tay sai của một linh mục đạo tin lành người Mỹ. Nam thường vỗ ngực khoe khoang mình nói tiếng Ănglê như người Mỹ Niuoóc. Từ thời còn là học sinh Trường Quốc học Huế, hắn đã nổi tiếng ăn chơi bạt tử và ngổ ngáo coi trời bằng vung. Sau ngày Tổng khởi nghĩa, hắn tưởng có cơ hội làm ăn, năn nỉ tìm mọi cách xin vào làm việc tại ban chỉ huy Việt Minh thành phố Huế. Bị ta từ chối, hắn từ Huế ra Hà Nội và không bao lâu hắn đã leo tới chức ủy viên trung ương của cái đảng phản động của bọn Vũ Hồng Khanh. Nam là một trong số 70 tên mà bọn Việt Nam Quốc dân đảng đưa vào Quốc hội. Hắn được cái đảng phản cách mạng đó giao cho tổ chức và chỉ huy "đệ nhất chiến khu" gồm các tỉnh Trung Bộ mà trụ sở đóng tại số 7 Ôn Như Hầu. Nhiều tài liệu ta thu được đã xác nhận rõ hắn nhúng tay vào nhiều hành động bỉ ổi, bắt cóc, cướp của, giết người, ám sát... Khi ta đến bắt tại trụ sở phố Nguyễn Du, Phan Kích Nam giơ thẻ đại biểu Quốc hội ra kiên quyết chống lại và tố cáo công an ta vi phạm pháp luật. Ta mời hắn qua số nhà 7 Ôn Như Hầu. Hắn chịu đi. Đến đây bỗng một người dân nhận ra Nam là tên sát nhân liền xông vào tố cáo, vạch mặt định đánh. Nam giơ kiếm chống lại liền bị đồng chí Lê Hữu Qua quật ngã, trói ngay.


Nhà số 7 Ôn Như Hầu này mới vào cũng có thể nhận ra cách bố trí theo kiểu sào huyệt một ổ cướp chuyên nghiệp. "Ban nghiên cứu" là gian phòng tắm chật chội, kín mít, trong để nhiều dụng cụ tra tấn: bình điện, roi song, búa, kìm... và trên tường bê bết máu. Ngoài vườn có một bụi chuối và mấy đám cỏ xanh tốt khác thường. Các chiến sĩ ta đào lên. Mới bổ mấy nhát cuốc đã thấy một chỗ ba xác người mới bị giết. Dã man hơn, chúng chặt xác họ thành từng mảnh nhỏ bỏ dồn vào một đống. Đào tiếp ra rộng hơn lại thấy xác bốn người nữa, thịt đã bắt đầu thối, nhưng vẫn còn nhận được và có thể tìm ra tung tích. Từ khắp nơi, nhân dân nghe nói đào thấy nhiều xác chết ở số 7 Ôn Như Hầu liền kéo đến rất đông. Đồng bào vừa khóc vừa xông vào để tìm dấu vết người thân. Sự phẫn nộ bùng lên, đồng bào kêu thét, xông vào toan xé xác bọn sát nhân. Việc tìm ra vết tích những người bị giết đã vạch trần bộ mặt ghê tởm của bọn phản cách mạng Quốc dân đảng. Những bằng chứng ấy, một lần nữa làm cho các chiêu bài giả hiệu "quốc gia", "hải ngoại" của bọn Quốc dân đảng bị quần chúng vứt bỏ và phỉ nhổ.


Căn nhà số 80 phố Quán Thánh là trụ sở và cơ quan báo chí của chúng. Tại đây, suốt ngày đêm chúng bắt những chiếc loa công suất lớn ra rả rêu rao về cái "chủ nghĩa quốc gia" của mình và trâng tráo xuyên tạc cách mạng. Suốt ngày 12 tháng 7, vì chưa thấy ta tấn công, bọn đầu sỏ chuồn về tụ tập ở đây khá đông đủ. Có lẽ chúng tưởng ta sợ, vì đấy sát khu vực đóng quân của Pháp. Nhưng thật ra ta bao vây từ tám giờ sáng hôm đó. Bọn Quốc dân đảng dựa vào sự kiên cố và tường đá dày tập trung hỏa lực bắn trả ta kịch liệt và bí mật cho người đi cầu cứu quân Pháp. Cuộc chiến đấu kéo dài đến mười giờ đêm mà ta vẫn chưa vào được. Nhân cơ hội ấy bọn chúng thiêu hủy hết tài liệu. Anh em ở ngoài nhìn vào thấy lửa cháy rừng rực mà sốt gan, sốt ruột. Bỗng xung quanh chỗ ta bố trí, đạn súng máy nổ liên hồi, rồi xe tăng của Pháp lù lù tiến đến chặn hai đầu. Đoàn đại biểu của ta trong "Phái đoàn liên kiểm" lập tức tới can thiệp. Bằng lý lẽ sắc bén, ta làm cho bọn Pháp ngượng ngùng vì chúng không có cớ gì mà nhúng tay vào công việc nội bộ của ta nên đành phải rút lui. Nửa giờ sau, hỏa lực của ta được tăng cường áp đảo mạnh mẽ, và các chiến sĩ của ta dũng cảm tràn vào nhà. Toàn bộ lũ đầu sỏ Quốc dân đảng như Xuân Tùng, Phan Khôi, Đỗ Đình Đạo... bị bắt sống. Trương Tử Anh trốn thoát, nhưng sau đó mấy tháng cũng bị bắt nốt.


Tại khu vực Quán Thánh còn có một trụ sở nữa của trung ương Quốc dân đảng đóng tại trường Yên Thành, phố Đỗ Hữu Vị (nay là phố Cửa Bắc). Chúng tôi cử người tới điều tra thì mới biết, thời gian qua bọn Quốc dân đảng đã bắt nhiều người mang đến đấy giết và chôn tại đó. Ta lại đào, tìm. Ngay dưới lớp cỏ xanh, có hai xác người bị chặt làm đôi, một đàn ông, một đàn bà.
Bọn Quốc dân đảng cũng như các tổ chức phản động khác đã lộ nguyên hình là lũ côn đồ, bán nước hại dân. Những tên đầu sỏ đã bị bắt. Những tên còn lại đi tới đâu cũng bị nhân dân vạch mặt, tống ra khỏi nhà hoặc bắt giao nộp cho chính quyền trừng trị. Từ sau ngày 12 tháng 7 năm 1946, đến ngày kỷ niệm quốc khánh của Pháp, tuyệt nhiên không thấy Xanhtơny đến khẩn khoản xin diễu binh như trước nữa.


Có thể nói cuộc trấn áp ngày 12 tháng 7 năm 1946 là đòn trừng phạt sấm sét đánh gục bọn phản động Quốc dân đảng để bảo vệ chính quyền cách mạng còn rất non trẻ.

Những ngày đầy gian khổ và sóng gió của cách mạng tạm lắng xuống.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM