vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:37:04 pm » |
|
3. Hải Phòng những ngày đầu kháng chiến
Ngay sau khi Pháp đổ quân vào Hải Phòng, Đảng ta và nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt đều có chung phán đoán: Chiến tranh xâm lược của Pháp với ta sẽ xảy ra, thực dân Pháp sẽ trở lại xâm chiếm; khả năng giữ được hoà bình trong một thời gian dài là rất khó.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong cả nước, Bộ Quốc phòng có cử đồng chí Lê Quang Hòa với tư cách đặc phái viên chính trị của Bộ về Chiến khu 3 nhận bàn giao công việc của đồng chí Nguyễn Bình, để đồng chí Bình vào Nam nhận nhiệm vụ mới. Tháng 9 năm 1945, đồng chí Hoàng Minh Thảo nhận nhiệm vụ làm chiến khu trưởng Chiến khu 3. Tận mắt chứng kiến cảnh quân Pháp tìm cách gây hấn với ta từ nhỏ, lẻ đến quy mô lớn, tiến công vào lực lượng hải quan, rồi cảnh sát của ta, với cách nhìn chiến lược, dự kiến trước được tình hình đó, ngay sau khi tổng khởi nghĩa ở Hải Phòng kết thúc, Đảng bộ Hải Phòng, Bộ chỉ huy quân sự Hải Phòng cùng Bộ chỉ huy Chiến khu 3 kịp thời đặt ra kế hoạch tác chiến, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là tích cực mua sắm vũ khí.
Lúc đó Hải Phòng hỗn hợp lực lượng, quân Pháp, Tưởng, Nhật đều có mặt nên vũ khí không hiếm, hơn thế anh em cũng tích cực tìm kiếm của bọn Pháp, Nhật, Tưởng khá nhiều. Hải Phòng thật sự là chợ trời vũ khí. Nhiều đến nỗi đạn còn được bày bán cả mẹt như bán ốc ăn. Không chỉ người ở Hải Phòng mà dân các tỉnh xung quanh đồng bằng sông Hồng cũng đổ xô về đây mua vũ khí. Sau Hà Nội, Hải Phòng là khu công nghiệp lớn. Do đó lực lượng vũ trang Hải Phòng (bộ đội, tự vệ, công an nhân dân) đều có điều kiện mua sắm vũ khí trang bị cho mình. Mặt khác, để khắc phục một phần tương quan lực lượng địch - ta, chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ta chủ trương tạo được càng nhiều vũ khí càng tốt. Bộ chỉ huy Chiến khu 3 khi tiếp quản đệ tứ chiến khu của đồng chí Nguyễn Bình, ta đã gặp cha cố cũ tên là Nguyễn Công Lý, ông được đồng chí Bình và đệ tứ chiến khu thu phục về phía cách mạng. Do có kiến thức về quân khí, ông được tham gia xưởng quân giới Khu 3. Hải Phòng khi chuẩn bị chiến tranh, so với một số tỉnh khác có thể mạnh hơn vì đây là khu công nghiệp có nhiều máy móc. Chuẩn bị cho chiến tranh, một số máy móc đã kịp thời được chuyển về vùng nông thôn ngoại vi Kiến An, Đông Triều, Thủy Nguyên để sản xuất bom, mìn... Anh em quân giới ta lặn lội ra tận Cát Bà, Đồ Sơn - nơi có pháo đài cũ của Pháp để lấy đầu đạn cũ loại 138,6 ly mang về sản xuất thành bom chống xe cơ giới địch. Nhờ mọi nỗ lực tìm tòi sáng tạo mà bộ đội, dân quân tự vệ, công an vũ trang Hải Phòng có được số lượng vũ khí tương đối khá, trong đó có cả súng máy lấy được của địch.
Những ngày cuối tháng 11 năm 1946, sau hàng loạt sự kiện gây hấn, tức nước vỡ bờ, trước sức ép của thực dân Pháp, nhân dân Hải Phòng do có sự chuẩn bị trước, nơi hội tụ của giai cấp công nhân, có lực lượng tự vệ hùng hậu cùng với lực lượng tự vệ khu phố, công an vũ trang và bộ đội rất tích cực tiến công địch ngay từ những ngày đầu. Miền Bắc vừa được giải phóng, từ người dân nô lệ nước thuộc địa mới được đổi đời thành người tự do; nền độc lập tự do giành được bằng xương máu nay bị Pháp chà đạp, tạo nên bầu không khí kháng chiến với quyết tâm và khí thế ngút trời của người dân Hải Phòng, cả ba lực lượng: bộ đội, tự vệ, công an nhân dân chiến đấu rất dũng cảm. Nổi tiếng dũng cảm là đội vũ trang tuyên truyền của Chiến khu 3 chiến đấu ở Nhà hát thành phố hàng mấy ngày. Tự vệ khu phố, công an vũ trang chiến đấu ở các ngõ ngách, khu vực toàn thành phố cũng rất anh dũng kiên cường làm cho quân Pháp không thể chiếm ngay được Hải Phòng dễ dàng như chúng tưởng mà phải kéo dài hàng tuần lễ.
Cuộc chiến đấu trong thành phố địch mạnh hơn ta rất nhiều. Ngoài vũ khí bộ binh, xe tăng, pháo binh, chúng còn có không quân, hải quân hỗ trợ đắc lực, đặc biệt là hải quân. Pháp đưa các tàu pháo hạm vào bến Bính để bắn vào bờ, dùng không quân, hải quân bắn phá cả Kiến An, địch hoàn toàn làm chủ hướng biển vì ta không bao vây đường biển được. Tuy thế, quân giới ta tích cực dùng mấy khẩu pháo 75 ly thu được của Pháp cho bộ đội chuyển lên núi Đèo bắn vào tàu địch ở bến Bính cũng hạn chế được đôi chút hỏa lực của chúng. Các nơi khác trong thành phố quân Pháp đều dùng không quân, lục quân, pháo binh, xe tăng đánh ta rất mạnh. Ta xác định mục tiêu chiến đấu là kéo dài, giam chân địch càng nhiều càng tốt đồng thời chuẩn bị di chuyển lực lượng về Kiến An. Một mặt ta bố trí ở các khu phố lực lượng tự vệ, công an và bộ đội liên tục quấy rối địch, phần lớn lực lượng bộ đội thì tổ chức phòng ngự khu Trại Cau - An Dương (thuộc quận Lê Chân) để bảo đảm an toàn hành lang từ Hải Phòng đi Kiến An và ở ven sông Cầu Niệm ta cũng bố trí công sự chiến đấu. Phía trong thành phố ta vẫn bố trí lực lượng chốt chặn tổ chức đào công sự chiến đấu. Khi thấy khó đủ sức kìm giữ, lực lượng ta (gồm cơ quan, nhân dân) rút về Kiến An khá thuận lợi an toàn, có tổ chức một cách chủ động. Nhờ đó, từ Cầu Niệm, Cầu Rào ta lại tổ chức được những đợt đánh sang Hải Phòng như sân bay Cát Bi, các khu phố nội thành. Hiệu quả của các tuyến phòng thủ trên đã không cho phép quân Pháp đánh sang Kiến An như ý định mà phải tận tháng 3 năm 1947 kết hợp với đường sông chúng mới đánh sang được.
Địa bàn thứ hai, nơi cũng liên tục diễn ra những trận đánh ác liệt là đường số 5. Bộ đội chủ lực đã tận dụng triệt để đầu đạn 138 ly cải tiến thành mìn đã tiêu diệt và đánh hỏng một số xe cơ giới của địch.
Điều đáng nói là, với nhiều cách đánh sáng tạo, táo bạo quân và dân Hải Phòng đã thực hiện khá thành công kế hoạch làm chậm bước tiến quân của địch từ Hải Phòng lên Hải Dương và hành lang an toàn An Dương - cầu Niệm. Trong quá trình chiến đấu ở Hải Phòng, ta đã phân công đồng chí Nguyễn Khang, Xứ ủy viên sang theo dõi và chỉ đạo cuộc chiến đấu ở nội thành Hải Phòng.
Rõ ràng với cách đánh giàu thông minh tài trí, ta đã phát huy triệt để sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân làm cho địch không sớm tiến sang Kiến An cũng như lên Hải Dương. Tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vô cùng dũng cảm, mọi vũ khí, dù còn thô sơ đều được sử dụng triệt để. Ngay khi thiếu vũ khí đánh cơ giới địch, ta đã tổ chức đào đường cản địch, làm mìn, địa lôi giả, chúng không dám đi hoặc cơ động cũng phải thận trọng, chậm chạp.
Bên cạnh mặt thành công, phải thừa nhận công tác chỉ huy lúc ấy còn nhiều hạn chế. Đáng lẽ ta phải tổ chức tiến công mạnh vào sau lưng địch nhiều hơn nữa, hoặc bộ đội chủ lực phải tích cực chi viện cho dân quân tự vệ, công an vũ trang nhiều hơn thì việc chiến đấu ở thành phố có thể kéo dài hơn nữa...
Hải Phòng - địa bàn chiến lược quan trọng của miền Bắc, cửa ngõ quan trọng của vùng Bắc Bộ đã khẳng định truyền thống đánh giặc anh dũng, kiên cường, là nơi luôn phải sớm đương đầu với sự xâm lược của thực dân Pháp. Bài học thành công và hạn chế của nghệ thuật chỉ đạo và tiến hành kháng chiến của thành phố cảng đã cung cấp những kinh nghiệm cũng như thời gian để Hà Nội nói riêng và toàn quốc chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến tự tin và giành thắng lợi to lớn hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:37:45 pm » |
|
4. Trận đánh "Trường con gái"
Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp đã thiết lập 5 vị trí đồn trú kiên cố tại thành phố Hải Dương, trong đó có vị trí "Trường con gái" (nay là Trường phổ thông cơ sở Võ Thị Sáu). Tại đây, địch thường xuyên có 1 trung đội lính lê dương, với đầy đủ trang bị vũ khí hiện đại. Để kiểm soát chặt chẽ đoạn đường số 5 từ Ngã Sáu đến vườn hoa Bảo Đại, địch cho xây dựng 4 ụ súng nửa chìm nửa nổi. Ngoài ra còn có 1 ụ súng máy nhô lên nhằm bảo vệ vành đai. Từ ụ súng này, chúng đào giao thông hào dích dắc với các ụ súng khác, thông với các phòng học. Hàng rào kẽm gai, cột bê tông, tấm tôn dày mọc ra tua tủa. Xung quanh lại được nguỵ trang bởi những tàu lá gồi, thoáng nhìn vào không ai nghi bên trong "Trường con gái" là một ổ vũ khí giết người.
Ngay đêm toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946, lực lượng của ta gồm cảnh vệ chiến đấu, tự vệ thành và công an xung phong tổ chức đánh chiếm "Trường con gái". Ta áp sát vị trí địch, ném lựu đạn, hô xung phong đến khản cả cổ nhưng chỉ làm chúng hoang mang, dao động, chứ chưa thể áp đảo. Bởi ta chưa có hỏa lực mạnh tiêu diệt, trong khi súng địch bắn xối xả từ khẩu trung liên. Chưa chiếm được mục tiêu đành phải rút ra. Ngay đêm đó ta đã được bổ sung thêm lựu đạn, chân chỉnh lại công tác tổ chức trận đánh.
Khoảng 8 giờ tối ngày 20 tháng 12, lực lượng ta lại áp sát mục tiêu, chờ hiệu lệnh. Sau 20 phát đạn nổ từ khẩu ca-nông, ta đồng loạt nổ súng, ném lựu dạn vào ụ trung liên của địch rồi tiến hành xung phong. Có đồng chí tiến lại gần vạch lá gồi, chui vào trong nhưng không sao vào nổi lại phải rút ra. Ta lại một lần nữa không chiếm được mục tiêu. Vấn đề đặt ra lúc này là phải tiêu diệt được ụ trung liên của địch.
Sau một thời gian suy nghĩ, trăn trở, đồng chí Lê Chấn đã nảy ra một sáng kiến: liên kết các miếng nổ nhỏ thành một khối thuốc lớn, rồi làm cho thuốc đen của dây cháy chậm bén lửa chuyển xuống kíp, chỉ cần một miếng thuốc sẽ kích thích cả khối thuôc lớn nổ. Khối thuổc nổ như vậy có thể đánh sập bất kỳ loại công sự kiên cố nào. Công việc chế biến khối thuốc được tiến hành ngay! Khoảng 22 giờ đêm ngày 21 tháng 12, ta triển khai đội hình chiến đấu. Một đồng chí của ta ôm khối thuốc nổ vượt qua khu bãi hoang, nhẹ nhàng bò dần, tiếp cận đặt khối thuốc vào ụ trung liên của địch. Sau ánh lửa diêm loé sáng, một tiếng nổ long trời từ khối thuốc lớn phát ra. Ụ súng của địch mới kịp xối loạt đạn đầu đã câm bặt. Tiếng hô xung phong vang dội, ta đồng loạt xông lên, chia thành từng tổ 3 người lần lượt chiếm các ụ súng; ta đánh dọc hiên, thọc vào các phòng. Lúc này địch phải co cụm tại hai phòng kiên cố, có tôn dày và bao cát vây quanh. Ta nã đạn nhưng không sao xuyên nổi. Cuối cùng ta đồng loạt hô to câu gọi hàng bằng tiếng Pháp "Soldas Erancals Rendezvous vouserez bien trai tre" (Hỡi binh lính Pháp, hãy ra hàng các anh sẽ được đối xử tử tế). Ít phút sau, cửa phòng số 1 mở, một tên "Tây trắng" giơ cao chiếc khăn trắng bước ra. Trận đánh địch ở "Trường con gái" đã kết thúc thắng lợi, ta đã tiêu diệt và bắt sông 28 tên địch, giải tỏa được đường số 5, tạo điều kiện cho bộ đội xung kích đánh thắng địch ở nhiều vị trí quan trọng trong thành phố.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:38:19 pm » |
|
5. Bảy ngày giữ vững thành phố Hải Phòng
Sang tháng 11 năm 1946, quân Pháp ráo riết thực hiện các kế hoạch cụ thể, tìm cớ để đánh chiếm lại Hải Phòng. Sáng ngày 20 tháng 11, Valuy - Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, ra lệnh cho Moóclie: "Thiết lập quyền kiểm soát hải quan tại cảng Hải Phòng". 8 giờ sáng cùng ngày, quân Pháp cho ca-nô của hải quân đến bến Tam Kỳ định bắt chiếc tàu chở dầu của người Hoa chúng đã khám xét hôm trước. Công an và thuế quan ta can thiệp. Quân Pháp xả súng liên thanh bắn chết một chiến sĩ công an ta và hai dân thường. Lập tức tự vệ và nhân dân ở hai bờ sông Lấp đổ ra nổ súng để tự vệ và đả đảo hành động giết người của quân Pháp. Chiếc ca-nô Pháp bỏ chạy. Lực lượng tự vệ Khu 5 xông vào nhà máy Ca-rông, bắt gọn 5 tên Pháp, thu tất cả vũ khí. 9 giờ, tự vệ ta ở chợ Sắt nổ súng bắn bị thương hai pháo thủ Pháp, bắt giữ một xe vận tải quân sự. Sự kiềm chế của quân dân Hải Phòng đã đến ranh giới tận cùng. Không thể dừng được nữa, Ủy ban bảo vệ thành phố phát lệnh: chuẩn bị tác chiến. "Sự kiện Hải Phòng" bùng nổ. Bảy ngày đêm chiến đấu kiên cường, bất khuất của quân dân Hải Phòng diễn ra mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ 9 năm của thành phố Cảng và các vùng duyên hải Bắc Bộ.
Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 11 năm 1946, quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu quyết liệt. Tại phố Cầu Đất, tất cả các cụ già, thanh niên, phụ nũ, cùng các chiến sĩ cảnh vệ, tự vệ khẩn trương dựng hàng rào chiến luỹ bằng các thứ có thể huy động dược, các thứ dược chất cao ngang tầng hai các nhà quyết chốt ngã tư quan trọng này để chặn đứng hướng tấn công chủ yếu của địch. Ở phố Phan Bội Châu, đồng bào và anh em tự vệ khuân đổ ra đường hàng trăm tấn sắt thép. Nhân dân còn căng xích sắt, đóng cọc làm chướng ngại vật ngăn xe tăng từ hiệu Tam Hoàn đến cuối phố, giữ vững một cửa ngõ đi vào khu vực người Hoa. Ở đầu phố Ba Ty, giáp cầu Hạ Lý, các chiến sĩ công an xung phong, tự vệ và thanh, niên vót các bè gỗ dưới sông Hạ Lý chôn thành nhiều hàng cọc để chống chiến xa, vít chặt hai đầu phố. Chiến sĩ tự vệ ngành xe lửa phối hợp với tự vệ Khu 5, Khu 6 lái đầu máy xe lửa kết hợp với vật cản chặn ngang đường ỏ phố Cầu Đất, ngã tư An Dương, Cầu Quay, chặn địch từ Thượng Lý không cho chúng tiến sang. Các đơn vị bộ đội triển khai đội hình chiến đấu.
Các trận chiến đấu với quân Pháp đã diễn ra tại nhà hát thành phố, ngã tư Cầu Đất, nhà ga Hải Phòng, trụ sở đoàn công an xung phong, khu vực phố Ba Ty, sân bay Cát Bi, mật trận Khu 3, Khu 5, Khu 10 Cửa Cấm Khu 11 Đông Khê, Khu 12 Lạc Viên, trại bảo an binh...
Trong các trận đánh bảo vệ Hải Phòng trận đánh quyết liệt nhất giữa ta và địch đã diễn ra ở khu vực Nhà Hát Lớn thành phố. Đây là trung tâm văn hóa, chính trị của thành phố, đồng thời là cứ điểm án ngữ ngã ba đường đi vào ba khu phố người Âu, người Hoa và người Việt. Địch huy động một tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp tiến công khu vực nhà hát. Về phía ta, bảo vệ nhà hát có 17 chiến sĩ thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 41, vũ khí có một tiểu liên tôm-sơn, 16 súng trường mút-cơ-tông, lựu đạn và chai cháy. Phối hợp chiến đấu có 22 chiến sĩ đội tuyên truyền văn hoá Chiến khu 3, không có vũ khí. Lực lượng không cân sức nhưng ý chí bảo vệ độc lập tự do cùng với sự mưu trí, dũng cảm, các chiến sĩ ở dây đã trụ vững hơn một ngày đêm, diệt được 50 tên lính Pháp, phá hủy 2 xe thiết giáp, làm nhiều tên khác bị thương. Khi quân Pháp ập vào, các chiến sĩ ta đã chiến đấu đến người cuối cùng. Trận đánh này, ta hy sinh 13 chiến sĩ. Trong lịch sử chiến đấu của thành phố Cảng, các chiến sĩ Nhà hát thành phố đã trở thành bất tử.
Ngày 26 tháng 11, địch huy động các lực lượng tiến công, đánh phá các khu phố Lý Thường Kiệt, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Cầu Đất, nhằm đánh vào sở chỉ huy Trung đoàn 41. Các lực lượng vũ trang ta dựa vào công sự, đánh lui các đợt tiến công, bắn cháy xe tăng địch, buộc chúng phải co lại. Trong ngày này, Thành ủy Hải Phòng cử đại biểu sang bàn với Tỉnh ủy Kiến An phối hợp chiến đấu.
Bảy ngày đêm chiến đấu chống lại hàng nghìn quân vào loại tinh nhuệ của thực dân Pháp được trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, có cả hải, lục, không quân là một thử thách lớn trong những ngày đầu trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ của quân và dân Hải Phòng. Giặc Pháp cậy có quân đông, hỏa lực và sức đột kích mạnh, có thể "đánh nhanh, thắng nhanh" chiếm ngay thành phố, nhưng chúng đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân thành phố cảng. Lúc đó, trong phạm vi cả nước, quân đội ta chưa có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, đặc biệt là kinh nghiệm chiến đấu trong thành phố. Quân và dân Hải Phòng giữ vững thành phố trong bảy ngày đêm là một kỳ tích lớn. Kẻ địch bị bất ngờ, bị thiệt hại nặng vì đã phải đương đầu với sức mạnh của toàn dân, một sức mạnh "cả thành phố một lòng, quân dân cùng chiến đấu". Bảy ngày đêm giữ vững Hải Phòng tuy không dài nhưng đã để lại những bài học lớn. Đảng ta, quân đội ta đã kịp thời rút kinh nghiệm cuộc chiến đấu ở Hải Phòng để bình tĩnh tự tin bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:39:14 pm » |
|
6. Những chiến sĩ bất từ của đội vũ trang tuyên truyền ngày ấy
Có một sự kiện đầy ý nghĩa - ngày Trung đoàn 42 Trung dũng vừa tròn một tuổi (20-11-1945 - 20-11-1946) là ngày mở đầu trận đánh ác liệt nhất, xuất sắc nhất của trung đoàn - trận chiến đấu bảo vệ Nhà Hát Lớn thành phố Cảng.
Sau sự kiện ở bến Tam Bạc, Hải Phòng, đêm 19 tháng 11, buổi hòa nhạc để cổ động cho tối biểu diễn 20 tháng 11, lấy tiền góp "Quỹ mùa đông binh sĩ" vừa xong, các nghệ sĩ, chiến sĩ của ta đã cấp tốc đào công sự, tổ chức các ổ đề kháng bằng ụ đất, bao cát, ghế gỗ, để sẵn sàng chiến đấu với lực lượng quân Pháp gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiêu đoàn xe tăng đang bao vây Nhà Hát Lớn.
Lúc này, lực lượng chiến đấu của ta ở trong Nhà Hát Lớn có một trung đội chiến đấu và đội vũ trang tuyên truyền. Sau cuộc họp ngắn của chỉ huy các đội, công tác tổ chức chiến đấu được phân công: Trung đội chiến đấu ngăn chặn đánh địch ở cửa chính không cho quân Pháp đột nhập vào Nhà Hát Lớn. Đội vũ trang tuyên truyền bố trí ở tầng gác dùng súng trường, tiểu liên bắn xuống, trường hợp quân Pháp tràn được vào Nhà Hát Lớn thì giữ vững thang gác, không cho quân Pháp tràn lên tầng trên. Một bộ phận của Đội vũ trang tuyên truyền đàn và hát vang những ca khúc cách mạng.
Khoảng trưa ngày 20 tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp nổ súng tấn công, lực lượng chiến đấu của ta chiến đấu rất quyết liệt và dũng cảm, đã đẩy lùi nhiều đợt xung phong của quân Pháp, lấy súng trường, lựu đạn để chống trả lại xe tăng, súng máy 13,2 ly trên xe bọc thép với quân lính lê dương được trang bị đầy đủ từ đầu đến chân. Nhiều đợt xung phong của quân Pháp bị đẩy lùi, nhưng đạn và lựu đạn của ta cũng cạn dần. Quân tiếp viện thì chưa tới. Đến khoảng 17 giờ ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp đã đột nhập được vào Nhà Hát Lớn. Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn, giữ và giành giật từng lô ghế trong nhà hát. Cùng lúc đó chúng tràn lên gác. Từng đợt lựu đạn quăng xuống đổ giữ thang gác không cho chúng tràn lên. Đến sẩm tối, quân Pháp tràn lên gác. Lúc này lực lượng của đội vũ trang tuyên truyền đã phải dùng súng trường, kể cả đàn và kèn để đánh giáp lá cà với quân Pháp; dùng tay không để vật lộn với lưỡi lê, tiểu liên của lính lê dương.
Khi trời tối hẳn, số còn lại của đội vũ trang tuyên truyền lùi dần và giữ từng căn buồng. Lùi đến căn buồng cuối cùng thì lực lượng còn lại của lực lượng vũ trang tuyên truyền đành cố thủ tại đó. Quân Pháp cũng không dám xông đến nữa. Ngày hôm đó, gần 50 lính Pháp bị tiêu diệt nằm ngổn ngang trước quảng trường nhà hát, trong đó có tên thiếu tá Camoan, trưởng ban liên kiểm Pháp.
Sau 5 ngày đêm liên tục chiến đấu, chịu đói, nhịn khát, bị thương không có thuốc cấp cứu, số đông các chiến sĩ bảo vệ nhà hát đã anh dũng hy sinh. Giặc chiếm được nhà hát, nhưng tinh thần bất khuất, cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh của những người anh hùng còn ghi lại đậm nét trong lòng người dân đất cảng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:40:39 pm » |
|
7. Đánh bại đội quân ngầm của thực dân Pháp
Vào những tháng cuối năm 1946, quân Pháp ở Hà Nội lợi dụng Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng 3 và chờ quân tăng viện, chúng tích cực đẩy mạnh âm mưu chuẩn bị gây chiến, từng bước xúc tiến các hoạt động để thực hiện âm mưu trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Một trong những thủ đoạn của chúng là khẩn trương tổ chức, xây dựng các nhóm vũ trang bí mật cài cắm trong vùng dân cư Pháp, Việt. Các nhóm vũ trang bí mật đó (ta gọi là các "ổ tác chiến") đặt trong thế cài răng lược, hoặc ở trong các gia đình, thân nhân ở Hà Nội, bản thân thông thuộc đường lối, hiểu biết dân tình, hoặc có quan hệ mật thiết với người Việt để tổ chức cơ sở trú náu bí mật. Bọn này được biên chế thêm một số binh sĩ mới ở Pháp sang, thành từng tổ (3-5 tên), từng đội (15-20 tên).
Chúng không chỉ lợi dụng kiều dân Pháp, một số người Việt thân Pháp để tổ chức lực lượng mà còn hết sức chú ý sử dụng dám binh sĩ Trung Hoa dân quốc đào rã ngũ, bọn đặc vụ đội lốt Hoa kiều theo kế hoạch hậu chiến của Tưởng Giới Thạch để chống phá lâu dài cách mạng Việt Nam. Với bọn này, nếu ta thiếu cảnh giác không chú ý, tới khi nổ súng, chúng gây cho ta không ít phiền phức, khó khăn, thậm chí cho cả đến nhiều năm và sau này. Hồi đó ta gọi chúng là bọn "thổ phỉ".
Địch có nhiều thủ đoạn che giấu bí mật rất quỷ quyệt, hành động không thành quy luật. Các tổ, đội sớm, tối chúng đưa đến bất chừng, rồi vào trưa, chiều, tối hay đêm chúng đưa đi. Xe đến, xe đi lúc bịt kín, khi mui trần, lúc xe nặng, lúc xe nhẹ... rất khó lường. Nhất là vào những ngày đầu tháng 12 năm 1946 trở đi, thủ đoạn nghi binh che giấu của chúng rất phức tạp, khiến việc theo dõi của trinh sát, quân báo của ta rất căng thẳng. Để nắm chắc tình hình của địch, ta đã gây cơ sở trong số bà con làm thuê cho người Pháp và số Pháp kiều tiến bộ để họ phát hiện và thông tin kịp thời cho ta.
Nhờ nắm chắc được sớm âm mưu này của địch, các ngành, các lực lượng chức năng (tình báo, quân báo, công an, các đơn vị chiến đấu...) đều tiến hành tổ chức điều tra. Cho tới trước ngày nổ súng, trong toàn khu vực Hà Nội, ta phát hiện nhiều tổ, đội thuộc đội quân ngầm của địch, phần lớn nằm trong khu dân cư người Pháp. Ta có kế hoạch bám sát, từng bước tiếp cận bao vây, nếu các tổ, đội địch nằm trong khu người Pháp thì tổ chức bao vây phong tỏa từ xa các ngả đường tiếp cận của địch tới các tổ, đội của chúng. Nhờ vậy, ngay từ đêm nổ súng (19-12), toàn bộ đội quân ngầm của địch trong liên khu, đặc biệt bộ phận nằm trong khu vực người Việt, hầu như bị cô lập. Ngay trong cụm tổ, đội cũng không liên lạc được với nhau.
Bước vào triển khai tổ chức, thực hiện chiến đấu đối với ta có nhiều mới lạ, bỡ ngỡ. Đối tượng địch chỉ đáng đưa lực lượng tới là 10 người, nhưng do tinh thần hăng hái, ta lại kéo 20, 30 người. Có mục tiêu giả, địch tạo dựng lên để nghi binh, ngày thường khi đi trinh sát chúng đến thì biết nhưng lúc chúng rút lại không hay; hai, ba đơn vị (tự vệ) cùng điều tra không biết nhau, tới lúc chiến đấu cùng đưa lực lượng đến chỉ có xác nhà không (số 4 phố Ngô Văn Sở, 77 Thi Sách...). Có mục tiêu ngày thường không đơn vị nào phát hiện ra lại bỏ quên gần hai ngày sau (sáng 21-12) mới giải quyết (số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm). Tuy có bỡ ngõ ban đầu, nhưng rồi đội quân ngầm của địch công phu tạo dựng đều bị tiêu diệt gọn trong đêm 21 tháng 12 (trừ một bộ phận nằm trong khu phố Pháp kiều). Ta bắt sống nhiều tù binh, thu nhiều vũ khí, thực phẩm.
Thắng lợi đánh bại đội quân ngầm của quân dân Liên khu 2 (Hà Nội) không chỉ đơn thuần ở kết quả tiêu diệt được bộ phận sinh lực địch (bắt được tù binh, thu được nhiều vũ khí) mà ý nghĩa quan trọng là đã vô hiệu hóa âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp với tham vọng mù quáng buộc quân dân Thủ đô phải hạ vũ khí trong một tuần, và góp phần xứng đáng trong cuộc chiến đấu chung bảo vệ, giữ vững Thủ đô 60 ngày đêm lịch sử.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2026, 08:41:39 pm » |
|
8. Pháo lệnh tiến công
Từ trung tuần tháng 12 năm 1946, tình hình Thủ đô Hà Nội trở nên hết sức căng thẳng, lính Pháp tỏ ra rất hung hăng, chúng trắng trợn khiêu khích ở nhiều nơi trong thành phố; đập phá một số cửa hàng cửa hiệu, cướp đi một số tài sản của đồng bào ta; chúng còn cho xe xích, xe bọc thép tới san ủi các chiến hào, chiến luỹ, các ụ súng của ta ở phố Hàng Bát, Hàng Chiếu, Ô Chợ Dừa... Máy bay trinh sát của chúng bay lượn trên bầu trời Thủ đô.
Rất nghiêm trọng là ngày 17 tháng 12, xe nhà binh Pháp đã đổ xuống phố Hàng Bún và sau đó là phố Yên Ninh những tên lê dương mũ đỏ hung hãn, chúng xông vào nhà dân, bắn giết dã man phụ nữ, trẻ em. Lính Pháp còn vô cớ xả súng bắn chết một 1 chiến sĩ Vệ quốc đoàn cùng gác chung ở nhà máy điện Yên Phụ. Tiếp theo ngày 18 đến 19 tháng 12, Bộ chỉ huy quân đội Pháp liên tục gửi tối hậu thư, đòi ta phải dỡ bỏ chướng ngại, chiến luỹ, công sự trên đường phố, tước vũ khí của lực lượng tự vệ Hà Nội; đòi trao cho quân Pháp quyền đảm bảo an ninh...
Đây là cái cớ, để chúng mở rộng cuộc tiến công xâm lược ra cả nước. Cuộc chiến tranh mà bọn thực dân Pháp cố ý phát động là không tránh khỏi.
Từng tốp tự vệ sao vuông, súng trường, súng ngắn, dao găm, mã tấu, lựu đạn giắt lưng sát cánh cùng các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trong các công sự, trên đường phố. Quân dân Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh với một niềm tin phấn chấn.
Ngày 19 tháng 12, chỉ huy trưởng mặt trận tiếp tục đi thị sát các trận địa pháo ven đô: Các pháo đài Xuân Canh, Xuân Tảo, Thổ Khối đã vào tư thế sẵn sàng chiến đấu; các ụ pháo được đắp thêm các bao cát; đạn được dỡ ra khỏi hòm, xếp từng khối trong công sự; các pháo thủ trang phục chỉnh tề, hứa với chỉ huy trưởng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ khi vào trận.
Lúc 19 giờ 30 phút, đã có hai khẩu ca nông ma-ri-a 75 ly, được lắp đặt trên các bệ bê tông xoay tròn, có hào giao thông từ hầm pháo thủ ra bệ pháo. Trên nóc hầm là một công sự bằng bê tông có nắp, bao cát xếp quanh làm đài quan sát. Không khí pháo đài thật hào hùng, các pháo thủ cũng đã vào vị trí sẵn sàng.
Chỉ huy trưởng vào hầm tác chiến, nghe và kiểm tra các cán bộ chỉ huy pháo binh báo cáo về công tác chuẩn bị pháo kích: mục tiêu được giao, cơ số đạn cho mỗi đợt, biện pháp đề phòng địch phản pháo; việc thu dỡ, di chuyển sau khi hoàn hành nhiệm vụ.
Chỉ huy trưởng không chỉ thị gì thêm, đồng chí xem đồng hồ rồi từ từ đứng dậy, căn hầm lặng đi... như chỉ còn đâu đây, vang vọng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
... "Hỡi đồng bào toàn quốc. Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...
Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên...
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ dân quân... giờ cứu nước đã đến...".
Mọi người theo chỉ huy trưởng lên đài quan sát. Giờ phút lịch sử trọng đại đang đến gần, kim đồng hồ nhích dần, nhích dần và đã chỉ vào con số 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Chỉ huy trưởng phát lệnh: "Khai hỏa".
Khẩu đội trưởng hô giật giọng: "Bắn!". Khẩu pháo gầm lên toé lửa; khẩu thứ 2 cũng đồng thời nổ theo. Xa xa về phía đông bắc, những ánh chớp giật liên hồi của các pháo đài: Xuân Canh, Xuân Tảo, Thổ Khối, cái quầng sáng của đèn thành phố cũng vụt tắt trong tiếng nổ ầm ầm của đạn pháo.
Lệnh tiến công đã phát. Cả Hà Nội, cả nước bừng bừng sục sôi khí thế căm thù xông lên, tràn lên như nước vỡ bờ, lao vào các vị trí đóng quân của địch. Lửa, lửa bùng lên từ các kho tàng, kho đạn, từ các căn cứ, đồn trại của quân Pháp. Tiếng nổ cứ thế vang vọng, vang vọng mãi kéo theo các đám cháy. Cái quầng sáng lại hiện dần, hiện dần, nhưng lần này nó đỏ rực, sáng rực trên bầu trời Hà Nội...
Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:05:47 pm » |
|
9. Hiệu lệnh nổ súng là đèn điện tắt
Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn điện tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên. Chúng ta cần bóng tối trợ lực khi khởi sự. Làm được việc này không dễ. Trung tâm phát điện là Nhà máy điện Yên Phụ do một lực lượng hỗn hợp Việt, Pháp cùng canh gác. Cần bí mật đưa vào nhà máy một lượng thuốc nổ đặt vào nơi cần thiết sát giờ nổ súng. Nếu địch phát hiện, quân Pháp có cơ hội chiếm ngay nhà máy và tiến công trước vào bộ đội ta trên toàn thành phố.
20 giờ. Đèn điện Hà Nội vụt tắt. Đại bác từ pháo đài Láng gầm lên. Công nhân Nhà máy điện Yên Phụ đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt vời! Ngay sau đó, cả Hà Nội rền vang tiếng súng. Địch lập tức đối phó, phần lớn những tiếng súng lúc này là của địch. Các chiến sĩ ta được lệnh tiết kiệm đạn ngay từ khi khởi đầu tiến công.
Sau nửa giờ nổ súng, từ trong thành, quân Pháp đã chia thành mấy cánh quân đánh ra. Một cánh từ Cửa Bắc tiến theo đường Hàng Đậu. Một cánh từ Cửa Nam theo đường Tràng Thi, đã chiếm được bốt công an Hàng Trống và tiếp tục đi về hướng Nhà Hát Lớn.
Ở ngã ba Hồng Phúc, Hàng Đậu, Vệ quốc quân và tự vệ chiến đấu tổ chức phục kích, giật bom phá xe tăng rồi xung phong diệt hàng chục tên địch. Như vậy, ngay giữa thành phố ta vẫn có thể tổ chức phục kích! Đây là một chiến công do quần chúng sáng tạo.
Nhìn chung, ta đã giành được lợi thế trong những giờ giao chiến đầu tiên.
Sáng sớm ngày 20, rất đông quân Pháp, với xe tăng mở đường, tiến công vào Nhà Hát Lớn, Bắc Bộ phủ và Nhà bưu điện. Được lệnh bắn, nhưng pháo binh ta không chỉ rõ mục tiêu, vì tất cả mục tiêu trên đều được đo đạc tính sẵn phần tử từ trước. Nếu ngay lúc đó chỉ thị một mục tiêu mới, đạn có thể rơi vào bộ đội hoặc đồng bào ta. Mọi người đang phải làm một nhiệm vụ vươt quá xa sức mình.
Lúc này người dân nghèo hay giàu, đều bỏ lại tài sản ra đi. Giữa những loạt súng nổ ran, vẫn nghe tiếng hát của chiến sĩ ta, những người bảo vệ đã chiến đấu tới viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng trong tiếng hát và tiếng đàn măng-đô-lin.
Kinh nghiệm cần phổ biến qua trận đánh là tự vệ đường Tràng Thi từ trên mái nhà ném lựu đạn, bắn súng xuống, học kinh nghiệm phục kích ở ngã ba Hồng Phúc tối hôm trước.
Qua trận đánh cho thấy lực lượng bộ đội ta quá mỏng nhưng tinh thần chiến đấu rất cao. Cả khu 11 chỉ có 5 tiểu đoàn. Bộ Tổng chỉ huy không có lực lượng dự bị nào.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:06:33 pm » |
|
10. Có một sự tích ở cầu Long Biên
Trong đêm 19 tháng 12 năm 1946, tại đoạn cầu Long Biên đi qua địa phận đặc khu Phúc Xá đã diễn ra một sự kiện mà cho đến nay còn ít người biết đến.
Hiệu lệnh nổ súng của quân và dân Hà Nội mở đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp thường được nói đến là ánh đèn điện thành phố vụt tắt và tiếng pháo của quân ta khai hỏa từ pháo đài Láng. Nhưng còn một tiếng nổ nữa được lãnh đạo thành phố lúc đó quy định là tiếng nổ trái bom phá cầu Long Biên của quân và dân đặc khu Phúc Xá.
Đoạn cầu Long Biên đi qua địa phận Phúc Xá có 2 trụ cầu ta có thể đặt bom phá là trụ số 10 và trụ số 15. Trụ số 15 ở dưới lòng sông. Khi quân Nhật chuẩn bị xâm lược Đông Dương, quân Pháp ở Hà Nội đã cho khoét rỗng chân trụ cầu số 15, sẵn sàng đánh sập cầu nếu quân Nhật tấn công vào Hà Nội. Nhật vào thực hiện sách lược "Pháp Nhật đề huề", nên quân Pháp không đánh sập cầu nữa. Trụ cầu số 10 nằm trên Bãi Giữa cách trụ sở Vệ quốc đoàn đặc khu khoảng 10 mét. Chập tối ngày 18 tháng 12 năm 1946, một quả bom nặng 100kg được chuyển đến Phúc Xá từ nhà máy chế tạo bom mìn "tương lai" (nhà máy này chuyên sản xuất các loại vũ khí tự tạo phục vụ các đơn vị chiến đấu của ta đặt ở số nhà 1 phố Hàng Đậu). Lệnh của thành phố: Việc đánh bom thực hiện vào hôm sau, lúc 20 giờ.
Tối 19 tháng 12, trái bom được chuyển tới khu vực chân cầu. Lực lượng của ta bí mật bò lên mặt cầu tìm đường chuyển bom vào "lỗ hổng" ở trụ cầu số 15. Bị địch phát hiện, đuổi bắt, các anh phải chạy xuống Bãi Giữa. Trận đánh có thể bị lộ và thời gian còn quá ít, cuối cùng anh em tự vệ quyết định đặt bom ở trụ cầu số 10. Đúng 20 giờ, một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả đặc khu Phúc Xá và các vùng lân cận. Trụ cầu số 10 bị sạt một góc, mặt đường trên cầu bị phá hỏng một đoạn. Một xe jeep chở lính Pháp từ phía Gia Lâm lao đến ứng cứu. Quân ta nổ súng tấn công, bọn giặc phải bỏ xe tháo chạy. Ta lên kiểm tra xe thu được một khẩu súng ngắn.
Mục đích đánh sập cầu không đạt được vì trái bom nhỏ và không đặt đúng vị trí muốn đặt. Nhưng trái bom nổ ở trụ cầu Long Biên đêm ấy có một ý nghĩa lịch sử lớn lao báo hiệu cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân ta chống lại bọn thực dân Pháp xâm lược bắt đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:07:18 pm » |
|
11. Thế trận Hà Nội ngày đầu toàn quốc kháng chiến
Sau khi địch chiếm thành phố Hải Phòng, ngày 23 tháng 11 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: Nhất định địch sẽ gây hấn ở Thủ đô, chiến tranh trên cả nước là không thể tránh khỏi. Để kịp thời đối phó với tình hình, Hà Nội khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Bộ tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo Bộ chỉ huy Chiến khu 11 (còn gọi là Mặt trận Hà Nội).
Căn cứ vào ý định tác chiến, Hà Nội được chia thành 3 liên khu (Liên khu 1, Liên khu 2, Liên khu 3). Liên khu 1 nằm kề đại bản doanh của Bộ chỉ huy Pháp giữa lòng Hà Nội; là khu chiến đấu hạt nhân vừa tiêu diệt, tiêu hao địch, vừa thu hút lực lượng chúng, tạo thế trong đánh ra. Liên khu 2 và Liên khu 3 là vỏ bọc kẹp quân địch ở bên trong, cùng Liên khu 1 hình thành thế trận trong đánh ngoài vây, trong ngoài cùng đánh phối hợp, hỗ trợ chi viện cho nhau. Bộ chỉ huy xác định nhiệm vụ cho từng liên khu.
Kế hoạch chiến đấu được các khu phố thực hiện rất khẩn trương. Thanh niên hăng hái tham gia xây dựng chiến luỹ. Tự vệ tiến hành ngả cây, cột đèn, khoét lỗ ở những thân cây chuẩn bị đặt mìn. Đêm đêm Hà Nội ầm ầm tiếng búa đục tường, thông nhà nọ sang nhà kia để bảo đảm sự cơ động lực lượng của ta.
Quân Pháp hơn hẳn ta tuyệt đối về trang bị, vũ khí trong đó đáng chú ý là xe tăng và cơ giới. Vấn đề chính trong kế hoạch tác chiến của Hà Nội là đánh xe tăng và xe cơ giới của địch và ta xác định, tốt nhất là dùng con người dám lao vào xe tăng và cơ giới địch, vì vậy các đội Quyết tử quân được thành lập; vũ khí gồm bom ba càng, bom "bảo toàn" và chai xăng cờ-rếp để đánh xe tăng và xe bọc thép của địch.
Quân Pháp ra lệnh cho ta, ngày 20 tháng 12 năm 1946 phải nộp vũ khí đầu hàng, thì Bộ Tổng chỉ huy quyết định nổ súng lúc 20 giờ ngày 19. Hà Nội đứng lên, trút căm hờn lên đầu bọn thực dân. Lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công địch. Hà Nội hình thành thế trận mỗi nhà là một pháo đài, mỗi phố là một chiến tuyến.
Tới ngày 14 tháng 2 năm 1947, Trung đoàn Thủ Đô báo cáo đạn chỉ còn trung bình mỗi khẩu 8 viên. Lương thực ăn dè sẻn 5 ngày.
Đêm 14 tháng 2, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp: tổ chức cho Trung đoàn Thủ Đô rút ra vào đêm 17 tháng 2 năm 1947. Mặt trận Hà Nội đã tổ chức cho Trung đoàn Thủ Đô một cuộc rút lui thần kỳ, vượt qua vòng vây dầy đặc của quân địch. Vào 9 giờ ngày 18 tháng 2 năm 1947, Trung đoàn Thủ Đô đã rút ra an toàn. Như vậy, Trung đoàn Thủ Đô đã anh dũng chiến đấu trụ lại giữa thành phố 2 tháng, vượt mấy lần dự kiến ban đầu.
Trận đánh ở Hà Nội tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước, thôi thúc quân và dân cả nước anh dũng chiến đấu, mở đầu toàn quốc kháng chiến.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:09:34 pm » |
|
12. Cả làng, xã chuẩn bị kháng chiến
Khi có lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì cả làng, xã ở huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng sôi sục ngày đêm chuẩn bị cho cuộc chiến đấu.
Làng kháng chiến ở Tiên Lãng bắt đầu được xây dựng từ sau Cách mạng Tháng Tám trong phong trào vũ trang toàn dân, quân sự hoá toàn dân. Song chính thức trở thành phong trào sôi nổi trong toàn huyện thì phải từ sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Lúc ấy, trước yêu cầu bảo vệ địa bàn xây dựng Tiên Lãng thành khu căn cứ của các cơ quan quân dân, chính Đảng của liên tỉnh Hải - Kiến (Hải Phòng, Kiến An), Huyện ủy triệu tập cán bộ chủ chốt các xã phát động phong trào và chọn xã Hùng Thắng cùng xã Khởi Nghĩa xây dựng thí điểm. Mỗi xã chọn một làng xây dựng trước cho toàn huyện rút kinh nghiệm. Hai làng Chử Khê (xã Hùng Thắng), An Tử (xã Khởi nghĩa) được chỉ đạo tập trung xây dựng đầu tiên.
Sau khi được huyện chỉ đạo làm điểm, trước hết các xã tổ chức họp chi bộ, ủy ban hành chính kháng chiến, Ban chỉ huy xã đội để quán triệt, sau đó mới chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc mở hội nghị bàn biện pháp tổ chức thực hiện. Chủ trương của trên được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Suốt hai tháng trời ròng rã, hàng vạn ngày công đã được huy động đào đắp, xây dựng làng chiến đấu; xung quanh các thôn được bao bọc bởi các hào luỹ. Hào rộng từ 2 đến 3 mét, sâu 1,2 mét. Các đoạn xung yếu đều được cắm chông. Đất đào hào được đắp lên thành luỹ cao 2 mét, chân luỹ rộng 3 đôn 4 mét, mặt luỹ rộng 1 mét. Mặt ngoài luỹ được trồng hàng ngàn khóm mây hoặc tre gai. Cả thôn chỉ mở 2 công ra vào được xây dựng kiên cố, có dân quân du kích canh gác ngày đêm. Từ cổng vào các xóm ngõ và hệ thống giao thông hào chằng chịt dài trên 3.000 mét. Dọc theo các con đương đọc đạo cua mỗi xóm ngõ là các bức Tưởng đất cao 1,8 đến 2 mét. Mỗi gia đình chỉ mở một ngõ ra đường có cổng rào kín đáo. Giữa các gia đình cũng được ngăn cách bởi các bức tường đất có lối đi bí mật, tiện cho dân quân du kích luồn từ nhà này sang nhà khác, xóm này sang xóm khác. Hàng trăm hầm bí mật cho người và hầm cất giấu tài sản, lương thực được xây dựng.
Việc tổ chức báo động tập dượt cho nhân dân lo trang bị, mua sắm vũ khí cho dân quân du kích chiến đấu bảo vệ làng xóm cũng được cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể quần chúng hết sức quan tâm bằng cách vận động nhân dân đóng góp. Chỉ trong thời gian ngắn, nhân dân trong xã đã góp được 10.800 đồng Đông Dương, mua được 6 khẩu súng trường, 210 quả lựu đạn. Đặc biệt, để thể hiện quyết tâm chiến đấu, Hội phụ lão cứu quốc thôn Chử Khê đã tìm mua gỗ tốt để đóng sẵn 31 cỗ hậu sự dành cho các chiến sĩ hy sinh trong chiến đấu. Việc sử dụng các cỗ hậu sự được thông báo cho toàn thể nhân dân và do hội phụ nữ cứu quốc quản lý.
Có thể nói phong trào "Dựng làng chiến đấu, rèn khí giới, sắm áo quan" là hình ảnh tiêu biểu, điển hình đầy chất anh hùng ca của Tiên Lãng kháng chiến.
Chính nhờ chủ động chuẩn bị, nhờ quyết tâm cao, với lòng yêu nước nồng nàn trong cuộc chiến tranh chống pháp, quân dân trong huyện đã xây dựng Tiên Lãng thành khu du kích nổi tiếng khắp vùng tả ngạn sông Hồng và toàn quốc. Dựa vào làng chiến đấu, quân dân trong huyện đã tổ chức đánh địch được 1.342 trận, tiêu diệt và bắt sống 5.561 tên địch. Trên 4.000 thanh niên xung phong vào bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Đây cũng là bàn đạp cho các đơn vị bộ đội địa phương luồn sâu đánh hiểm vào các vị trí trọng yếu có ý nghĩa chiến lược của địch như thị xã Kiến An, Sở Dầu, sân bay Cát Bi, sân bay Đồ Sơn... trong suốt cuộc chiến chống thực dân Pháp.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|