Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7800 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #40 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:44:57 pm »

Ban chỉ huy Pháp chỉ thị cho các binh sĩ phải cắm trại đến giờ giới nghiêm không một ai ra khỏi thành, các tiệm nhảy, nhậu có lính Pháp đến mua vui vẫn phải mở cửa, nhưng canh phòng cẩn mật, lấy lưới sắt bao kín các cửa sổ. Hơn nữa, chúng ra lệnh cho các sĩ quan dưới quyền được bắn bỏ những người nào có mang truyền đơn và vũ khí vào thành phố mà không cần xét xử.


Chỉ mãi đến đầu năm 1947, sau khi chuyển Ban chỉ huy hành quân (PC Opiniâtre) thành Ban chỉ huy miền Tây (Zone Ouest), cai quản theo lãnh thổ chúng mới ban hành lịnh thiết quân luật. Lập pháp trường để xử bắn công khai những tội danh khủng bố, những ai bị bắt có mang vũ khí, lựu đạn trong người không có giấy phép, mua bán và tàng trữ vũ khí, đạn dược, có hành vi khủng bố bị bắt tại trận, có tham gia hoạt động vũ trang, lật đổ tại thành phố.


Hồi đó ở Cần Thơ, các tư chức, công chức thích ngâm vịnh, có thành lập Hội Tao Đàn, họ tổ chức tại nhà ông chủ Bưu điện Cần Thơ, trước mặt nhà máy đèn. Họ đều là những người đứng tuổi, có gia đình nên không thể lìa bỏ gia đình tham gia kháng chiến, nhưng vẫn có lòng yêu nước, ghét Tây, tuy không ai nói ra. Tôi cũng được rủ tham gia các buổi xướng họa đó, vì họ thấy tôi thích ngâm thơ. Tôi nhỏ tuổi hơn nên vẫn xưng là đàn em, hậu bối. Thành viên chủ yếu là các nhà giáo, một số ít công chức, một nhà kỹ nghệ gia, ông chủ lò gạch Phú Hừu bên kia sông. Hôm đầu tiên có tiếng lựu đạn nổ ở Bar Kim Long, mọi người đều xôn xao bàn tán. Hôm đó không biết ai đề xướng ra thơ: "Vịnh trái lựu đạn" và thách nhau dùng vần chết (tử vận). Tôi trẻ hơn, nên cũng nghĩ nhanh hơn, ứng khẩu đọc và ngâm tám câu thơ:

   "Trái chi khi nổ lại kêu oàng
   Nhắm mắt bưng tai vội mở choàng
   Ngoài mặt đen xì trông tựa sắt
   Trong lòng đỏ rực giống như vàng
   Bày ra giữa chợ dân kêu giặc
   Liệng trúng vào đồn lính hét toang!
   Trùm kín trong chăn bừng tỉnh giấc
   Trái chi khi nổ lại kêu oàng?"


Nghe tôi ngâm xong tất cả đều khen hay, cho là đúng vần khó họa, nên không ai họa lại, cũng không ai vỗ tay, trong ánh mắt họ bên cạnh chỗ tán thưởng còn có chỗ nghi ngờ. Một bài thơ khiêu khích chăng? Không ai dám tin một thượng sĩ Phòng Nhì Pháp! Buổi tiếp xúc ban đầu với anh Vĩnh còn theo mãi tôi như một ám ảnh. Điều duy nhất làm cho tôi vững tâm là: Lương tâm! Sau này tôi được biết, hầu hết các thành viên của Hội Tao Đàn có chân trong Liên Việt, trong Hội công chức cứu quốc. Quyền yêu nước đâu phải riêng ai? Niềm tin vào sức mạnh của phong trào cách mạng ở vùng tạm bị chiếm bắt nguồn từ đó. Tôi chẳng có ý định tuyên truyền, càng không có ý định khiêu khích. Đột nhiên muốn nói lên cảm xúc của mình về chiến công của đồng đội.


Lúc này bọn lính đầu đỏ ở bót Tham Tướng hay bố ráp vùng Đầu Sấu và Rạch Bà Tồn nên văn phòng đơn vị phải di dời phía bên kia sông Cần Thơ, ở Xóm Chài, đối diện với Chợ Cá. Mỗi khi cần đưa tin qua bến đò là tới. Tháng 11/1946, tôi sang báo cáo địch tình với anh Ba Cự, chánh văn phòng. Theo lệnh của anh Quang, anh Ba Cự phải bàn cách đổi súng với các đơn vị tác chiến để lấy súng mút ngắn nòng cho tiện với cỡ đạn hiện có. Sau này tôi hỏi anh Quang, anh cho biết do đơn vị SGĐ đã làm tốt công tác binh vận trong hàng ngũ áo trắng (cảnh sát giao thông) nên mỗi lần anh em lính đi tập về, cố ý để rơi dạn ở gốc cây, dọc đường các chiến sĩ ta cứ men theo các gốc cây lượm về khá nhiều. Vì vậy anh Quang chỉ thị phải đổi súng cho thống nhất với cỡ đạn hiện có, và giao cho anh Ba Cự làm việc ấy. Ba Cự giao nhiệm vụ cho tôi sang Cái Vồn, thảo luận với đại đội anh Chín Khương (Phạm Tấn Khương), nguyên là lính tập thổi kèn (nên anh em thường gọi là Khương kèn) để đổi súng trường Anh lấy súng mút. Nếu ảnh nhất trí thì sẽ cho tiến hành sau. Cùng đi với tôi có Hai Phấn, nên tôi hiểu ngay ý đồ cấp chỉ huy là muốn giúp cho Phấn, Nghi có cơ hội gặp nhau.


Tôi nhớ rõ, hôm đó gần ngày 11/1, tức là ngày lễ đình chiến Pháp - Đức trong thế chiến thứ nhất. Nước Pháp cho là lễ chiến thắng, nên binh lính, công chức đều được nghỉ, lợi dụng có ngày chủ nhật, tôi xin phép được nghỉ ba ngày để đi góp lúa ruộng ở vùng Cái Vồn. Biết ở Cái Vồn có đồn Pháp đóng, Nogret cho phép nghỉ, nhưng dặn tôi theo thói quen nghề nghiệp: "Mày qua Cái Vồn có tin tức gì của bộ đội Việt Minh thì về cho tao biết nghe!". Tôi gật đầu như thường lệ mỗi khi được chỉ thị của cấp trên. Cô Phấn, Nhụy xuống chiếc tam bản, do anh Lân chèo từ bến Rạch Cái Khế đến cây điệp ở ngã ba đường Lộ Mới, băng qua sông Bassac (Sông Hậu) chèo ngược lên Rạch Tân Quới, bờ bắc Sông Hậu. Tôi ngồi riêng chiếc xuồng con, do cô giao liên mượn áo hôm trước, đi trước dẫn đường. Đại đội địa phương Cái Vồn đóng ở Rạch Tân Quới, kể ra cũng không phải ở ngoài tầm đại bác đồn Cái Vồn. Tôi được tiếp xúc với anh Chín Khương lần đầu, nhưng tâm tình cởi mở, thẳng thắn. Có lẽ nhờ chiếc áo nhà binh tôi gởi cho anh Ba Nghi mượn và bài thơ tôi làm tặng Ba Nghi đến nghỉ tại Cần Thơ đã giới thiệu trước con người tôi với người bạn mới quen sơ. Anh Chín Khương không chút ngần ngại dẫn tôi đi xem nơi ăn, ở, súng máy, súng trường của đơn vị và đồng ý việc đổi súng. Đơn vị anh trang bị khá tốt so với các đơn vị khác thời đó nhờ lấy được súng của địch. Làm việc xong, để hai cô Phấn, Nhụy thăm bà con, thỏa mãn tình cảm. Trước khi đi, tôi chợt nhớ lời dặn của Nogret, nên bàn với anh Chín Khương cách đối phó nếu bị nó chất vấn moi tin. Chúng tôi cũng thừa biết, là dù sao, chúng vẫn cho người theo dõi hành trình của tôi, và không thể không có kế hoạch chuẩn bị trước. Theo đề nghị của tôi, anh Khương nhất trí cho các đơn vị dời ngay chỗ đóng quân nội trong ngày, và treo một lá cờ trên nóc miếu hoang vắng ở giữa đồng ruộng, cách dân cư để nghi binh. Trước lúc chia tay, chúng tôi ôm chầm lấy nhau và anh Chín còn đứng trên bến vẫy chào mãi cho đến khi chiếc xuồng khuất dạng. Có lẽ anh Chín thông cảm hoàn cảnh hoạt động gian khổ cam go của người chiến sĩ trong lòng địch. Trong kháng chiến mọi người đều có cái ranh giới sống chết, cần phải vượt khỏi cho riêng mình, nhưng tôi vẫn thèm muốn cái không khí trong lành của môi trường tự do, công khai gọi nhau bằng đồng bào, đồng chí, trong tình nghĩa anh em. Trong 20 năm sống ở miền Bắc, tôi đã nhiều lần gặp chị Chín, một đảng viên suốt đời làm chị nuôi quân không mệt mỏi, nhưng không có dịp nào được gặp lại anh Chín, sau lần gặp gỡ đầu tiên đó. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh vẫn tiếp tục cầm súng, là một thượng tá đơn vị thông tin và đã ngã xuống trên chiến trường miền Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #41 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:45:33 pm »

Đúng như chúng tôi dự kiến, trở về Cần Thơ, đập ngay vào mắt tôi là chiếc tam bản anh Lân giữ mọi ngày, vẫn neo ở gốc cây điệp, hôm nay bị kéo lên bờ, mui bị xé nát, anh Lân hôm đưa chúng tôi qua Tân Quới, đã vội chèo tam bản không trở về Cần Thơ, nay biệt tăm. Rõ ràng có bàn tay Jacquemin, tất nhiên không phải ngoài ý muốn của Nogret. Tôi đến văn phòng trả phép và trình diện với Nogret. Nogret hỏi tôi ngay: "Bộ đội địa phương ở Cái Vồn hiện đóng ở đâu?". Nhờ chuẩn bị trước nên tôi trả lời trót lọt. Tên cáo già tình báo không để lỡ cơ hội làm bàn. Ba ngày sau, Nogret gọi tôi lên xạc một trận: "Mày đưa tin láo, ba chiếc Potez (loại máy bay bốn cánh cũ kỹ của không quân Pháp ở Đông Dương, trước thế chiến I, còn lại 26 chiếc) đã quần ba vòng bắn phá đầu rạch mày chỉ trên bản đồ, rốt cuộc không có một Việt Minh nào cả! Nguồn tin mày có giá trị bằng "dê-rô (số không)". Tôi vờ sửng sốt: "Lạ thật, theo mấy gã nhà quê chỉ, quả thật tôi có thấy cờ đỏ sao vàng ở xa trên mái ngói mà! Tôi đâu dám đến gần, có mà mất đầu!". Hắn nhún vai, nhưng không tin. Không tin chưa hẳn là khẳng định. Chỉ cần rút kinh nghiệm. Dầu sao, tôi vẫn tự hào là đã cho bọn Tây một vố hao xăng, tốn của. Cái tự hào của đứa con nít tập làm khôn? Thế là hai lần nó đã có nghi về hoạt động của tôi.


Vào khoảng tháng 12/1946, tôi đã đặt vấn đề chuyển công tác. Tôi xin ra mặt trận cầm súng chiến đấu với quân thù. Nếu cần đảm bảo, tôi hứa sẽ mang theo một cây đại liên 13,2 và kéo theo một hàng binh Pháp. Tôi có cơ sở để thực hiện vì hồi đó cạnh ngay trong ngôi nhà cụ giáo Phận, bọn Pháp có sử dụng mấy căn phòng phía sau nhà làm kho vũ khí 151è RI. Thủ kho là một viên chuẩn úy già, khoảng ngoài 45 tuổi, râu ria xồm xoàm ra vẻ tang thương. Cô Hai Phấn ở chung nhà nên thường lân la bắt chuyện bằng tiếng Pháp bập bẹ của nữ sinh lớp nhì (cours moyen), anh ta tự xưng là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Tên anh ta là David. Tôi nghe nói lại, đến gặp David, hỏi thẳng: "Anh ta đảng viên Cộng sản à? Tôi khó tin quá!". David lặng lẽ móc trong túi quần ra cái ví, lấy ra một tấm giấy bìa, màu xanh lá cây, khổ dài giống như cái giấy thuế thân, hồi thực dân trước 1946. Tôi đọc thấy dòng chữ in: Parti communiste Français Carte d'adhérant. Sau đó có họ tên tuổi, sinh quán v.v... Thấy đúng là David, tôi trả lại, nhìn thẳng vào đôi mắt hỏi: "Có tấm thẻ này, mỗi tháng anh nhận thêm phụ cấp lương bao nhiêu?". Thấy tôi hỏi ngớ ngẩn, David tròn xoe mắt nhìn tôi không đáp. David biết đâu tôi đã nảy sinh dự kiến rủ anh đào ngũ, nhưng trước hết là phải thẩm tra lại vì sợ anh ta là một agent provocateur (nhân viên khiêu khích) của Phòng Nhì. Sau đó anh ta cho biết anh có giữ lô súng gì mới lạ như ba-du-ca (Basooka), móc-chê, trọng liên 13.2 v.v... Tôi trình bày khả năng địch vận của tôi để mong được cấp chỉ huy cho chuyển công tác. Không ngờ anh Ba Quang mỉm cười lắc đầu: "Anh tưởng đưa một người vào hàng ngũ địch dễ lắm sao mà đòi rút ra? Tôi thất vọng nhưng không oán trách vì hiểu là anh có lý. Sau đó đồng chí cấp trên còn nói: "Đưa một người hoạt động trong lòng địch còn khó hơn đưa một trung đoàn vào tác chiến". Có thể là các anh muốn cho tôi yên tâm công tác?


Vào năm 1946, miền Tây được tăng viện thêm một tiểu đoàn của 151è RI (Trung đoàn lục quân của chính quốc) và 2è Peloton de Spahis (đơn vị kỵ binh thiết giáp) chuyên làm việc tuần tra các trục đường lộ chính, gồm cả lính Maroc (Bắc Phi) và Pháp, sử dụng xe nồi đồng AM (Autơ mitrailleur) loại xe chạy bánh cao su nồi đồng úp trên nóc xe và khẩu pháo "bô pho 37mm" và loại xe thiết giáp bánh xích (Half-tract).


Chúng tôi cũng không bỏ lỡ cơ hội. Tôi hiểu bọn Maroc cũng là nông dân, hầu hết vì sinh kế mà đi lính cho Pháp.

Một lần, có một anh xưng tên là Mohamed Ali Ben (cái đuôi tên dài quá, tôi không nhớ được) khoảng ngoài 30 tuổi, nói khá thạo tiếng Pháp đến phòng tôi nói chuyện chơi, chuyện trò một hồi, tôi đưa cho anh tấm truyền đơn mà tôi đang giữ trong tài liệu Việt Minh, do quân Pháp đi bố ráp bắt được. Truyền đơn viết bằng tiếng Ả Rập, phía sau có phần dịch bằng tiếng Việt, kêu gọi binh lính Phi Châu, nhận được truyền đơn này hãy trở về với hàng ngũ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ai cầm truyền đơn này đi vào vùng giải phóng sẽ được tiếp đón tử tế, mọi người phải có nhiệm vụ bảo đảm an toàn tính mạng và đưa người cầm truyền đơn này đến Ủy ban kháng chiến để được giúp đỡ. Tôi đưa truyền đơn cho Mahamed bảo: "Nhờ anh dịch giúp ra bằng tiếng Pháp cho tôi". Mohamed hỏi: "Thời gian nào phải trả lại cho ông?". "Tùy anh, cũng không gấp lắm". Bẵng đi một tháng, không thấy Mohamed trở lại. Tôi hỏi anh lính khác. Anh ta đáp: "Mohamed nó không trở lại nữa đâu. Cách đây không lâu, hắn đi tuần trên đường đi Sài Gòn, rồi đào ngũ luôn, cũng may cho hắn".


Thanh Hương và Thanh Phong cũng không chịu ngồi yên chờ làm nhiệm vụ làm liên lạc. Hai cô đã tranh thủ làm quen với bọn chỉ huy Pháp và tranh thủ chài trung úy Compadier ở bót Cái Vồn để anh ta mời đến bót chụp hình kỷ niệm. Bọn Spahis cạnh nhà do một tên Ách (thượng sĩ) Pháp chỉ huy cũng cho hai cô lên ngồi trên xe thiết giáp để chụp hình, nhưng "pô" hình đó đã kịp thời chuyển về cho văn phòng làm tư liệu cho Bộ Tư lệnh, Khu 9 nghiên cứu công sự và vũ khí của địch. Thanh Hương (Nhụy) cũng tranh thủ làm quen với Sơn, phiên dịch cho bọn Spahis, sau này cũng là đầu mối quan trọng, trong những năm đầu mới xây dựng. Cô Phấn (Thanh Phong) cũng tìm cách giao dịch với nhiều nhân vật có tai mắt ở Cần Thơ, kể cả những tên thực sự ác ôn, như tên Tài lính kín. Nhiều lần cô ta ngồi một mình ngâm nga bài "Mắng Việt gian" một cách say sưa. Nội dung cũng như âm thanh của bài hát không có gì hấp dẫn lắm. Bắt gặp nhiều lần, tôi buộc phải thành thật: "Em này (tôi đã đổi cách xưng hô thân mật hơn, từ khi cùng đứng trong một tổ chức SGĐ), bài hát này không có gì hấp dẫn đối với bọn Việt gian cả, nhứt là đối với thằng Tài em cần phải cảnh giác hơn nữa". Quả thực tôi đã có ác cảm với tên tay sai đắc lực của Jacquemin từ trước.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #42 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:46:21 pm »

Vì dư luận Cần Thơ đã nói nhiều về thành tích chống Việt Minh của hắn. Hắn khá bảnh trai, có sức cuốn hút thiếu nữ, trán khá phẳng, điểm xuyết một cái bớt tròn bằng đồng tiền ở bên trái. Nhiều khi ngồi tiếp chuyện với nó, tôi nảy ra ý nghĩ ngông cuồng: bắn một phát súng sau gáy vào cái bớt nâu ấy thì không thể nào chệch được, nhưng tôi phải tự kềm chế mình để khỏi lộ ra ánh mắt. Thanh Phong biết rõ tôi ghét Tài, nhưng lại nghĩ là tôi ghen. Tôi nghĩ không muốn mình bị hiểu lầm, một lần tôi phải nói thật: "Em à! Nói về tình thương thì anh cam đoan thương em hơn cả bản thân anh, nhưng cũng phải nói thật với em rằng, nếu em phản bội tổ quốc thì anh sẽ là người đầu tiên bắn chết em!". Sự quen biết giữa hai chúng tôi không phải sự tình cờ, tình yêu đến như cú sét đánh ở trong các trang tiểu thuyết mơ mộng. Lúc đầu, do nhu cầu tìm mối để nối lại dây liên lạc với kháng chiến, nên tôi biết rõ lai lịch cô Hai Phấn từ khi mới đến ở căn phố hai dãy 18 căn hộ mới. Tôi lui tới nhà bà giáo Phận, có ý đồ sẵn, và cũng không giấu giếm vợ tôi: "Mình ở đây tứ cố vô thân, lại làm cho nhà binh, nếu không kết thân với một gia đình có người đi kháng chiến thì khó sống được yên ổn với bà con!". Vợ tôi cũng đồng ý như vậy, nên không nghi ngại gì. Đến khi chúng tôi cùng ở trong một tổ chức SGĐ thì mối quan hệ đối phó trước đây trở thành quan hệ tình cảm thật sự. Nhứt là từ khi Thanh Phong suýt bị ở tù vì làm liên lạc đưa tin về cơ quan giúp tôi. Nhưng tình cảm anh em đồng đội dù thắm thía vẫn chưa tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng. Tôi cũng dư biết Thanh Phong vẫn còn chồng con ở Bạc Liêu, và tôi còn vợ con bên cạnh. Tuy vậy, nếu không tỏ rõ tình yêu vô vọng của mình cho Thanh Phong biết, không khéo nàng sẽ rơi vào tay dụ dỗ của tên Tài cũng nên. Để đến lúc đó thật nan giải. Do vậy, tôi đã làm một bài thơ tỏ tình đưa cho Thanh Phong, giá trị bài thơ không đáng một xu, nên tôi chỉ còn nhớ hai câu cuối:

   "Yêu nhau biết chẳng cùng nhau trọn
   Cũng cứ yêu nhau đỡ lạnh lòng..."

Đó là câu thơ duy nhất và đáng nhớ mãi đến bây giờ khi tôi không còn ở tuổi nói chuyện yêu đương, vơ vẩn nữa. Thanh Hương nhỏ hơn 13 tuổi, sau khi Thanh Phong bị tình nghi, thì Thanh Hương chỉ là người duy nhất làm liên lạc cho tôi với văn phòng Vệ thám phòng, và anh Tắng (Thanh Nguyên), dạo này nghe tin được điều đi công tác khác. Tôi một mình phải độc lập tác chiến, Thanh Hương có mở một cái quán bán cà phê và bóng bàn ở ngã ba Cái Khế, gần chỗ trước kia có treo tam bản của đội. Khách chơi bóng bàn, phần lớn là binh sĩ Pháp trẻ tuổi. Có một hạ sĩ Pháp, năng lui tới làm đối thủ của Thanh Hương, và đâm ra thầm yêu trộm nhớ, nó muốn Thanh Hương cho nó độc quyền, Thanh Hương không đồng ý, hai người cãi vã nhau, cu cậu nổi giận tát cho Hương một cái tát vào má (tát nhẹ thôi). Thế mà, cô gái 17 tuổi khóc bù lu bù loa đến tận nơi tôi làm việc mách chuyện, tưởng tôi có quyền can thiệp, bênh vực cho cô ta trước bao nhiêu con mắt kinh ngạc của bọn Pháp trong 2è B. Tôi khoát tay cô em, xin phép nói chuyện riêng với cô ta. Khi chỉ có hai người, tôi hỏi: "Vậy thằng này nó tát em ở má nào?". "Nó tát em ở má trái". Tôi cười: "Em về đi, chìa má bên mặt cho nó tát thêm một cái cho tương xứng. Kẻ thù tát ta má trái, ta đưa thêm má phải cho nó tát. Kinh Thánh dạy vậy. Em hiểu tại sao không? Đối với kẻ thù ta không khóc khi bị tát, ta phải cười để đánh nó đau hơn". Thanh Hương rút khăn tay lau mắt, mếu máo gật đầu ra về. Thế là cô bé đã hiểu, thế nào là nuốt giận làm lành vì sự nghiệp chung. Tôi thương Thanh Hương như một em gái, thật sự đáng trọng. Nhưng sự đời không đơn giản như tôi nghĩ. Nhân một buổi chiều chủ nhật nhận được tin ở văn phòng tình báo triệu tập tôi về gấp để báo cáo tình hình, Thanh Hương phải mượn xuồng chở tôi vào ngã ba Đầu Sấu. Làm việc xong phải đưa tôi trở về Cần Thơ cho kịp sáng thứ hai đi làm. Trời chưa sáng, chúng tôi phải vào nghỉ tạm ở quán cà phê của má cô ta, chờ sáng sẽ về nhà. Bất ngờ vợ tôi ập đến tru tréo ngay trước quán. Tôi giận quá vì bị vợ ghen không đúng chỗ, lại sợ cô ta làm ầm mang tai tiếng với lối xóm, nên tôi nắm tóc vợ tôi lồi hẳn về nhà, không một lời giải thích, vì chẳng biết lấy lời lẽ gì để thanh minh được. Tôi chỉ sợ làm lộ chuyện tôi đi họp đến tai bọn lính kín, nhất là đến tai Nogret. Nhưng nói rõ cho vợ tôi hiểu thì không dám. Mặt khác, nghĩ đến hoàn cảnh Thanh Hương bị hàm oan, phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi thấy mình có lỗi, nên cũng đành chịu lỗi.


Cuối năm 1946, tình hình Phật giáo Hòa Hảo trở nên phức tạp rối ren hơn. Quân lính do Năm Lửa (tên tục của Trần Văn Soái) cầm đầu, kéo nhau về Cái Vồn đầu thú với bọn Pháp. Tôi đã biết việc Năm Lửa sắp đầu Pháp, thông qua một việc xảy ra trong 2è B: Hôm đó, Nogret dẫn đến một anh mang quân hàm thượng sĩ phiên dịch viên là Văn Phú nói là ở Sài Gòn mới gởi về. Được ít hôm, thấy anh ta vắng mặt. Tôi hỏi thì trung úy Long cho biết là anh ta được đưa về Cái Vồn để làm việc với Năm Lửa. Năm Lửa đang trên đường chuyển quân từ Sa Đéc về Cái Vồn. Quân ta biết tin cũng có đánh mấy lần, nhưng không ngăn chặn được. Văn Phú sau này đóng vai thiếu tá của quân đội Hòa Hảo, gọi là lực lượng bổ túc của quân Pháp, làm tham mưu cố vấn cho Năm Lửa. Hắn là một phần tử thuộc nhóm Đệ tứ nắm Dân Xã Đảng, đảng phái chính trị lãnh đạo lực lượng Hòa Hảo (Hòa bình lập lại năm 1975, hắn được chánh quyền cách mạng tha cho sinh sống tại Thốt Nốt, Hậu Giang).


Đầu năm 1947, hôm đó buổi chiều đi làm về, bỗng thấy Thanh Hương hớt hải đến tìm tôi khóc và năn nỉ: "Anh Hai phải đi cứu chị em ngay nếu không Năm Lửa sẽ chặt đầu nội 9 giờ sáng mai!". Tôi hỏi chị nào? Thì cô ta nói rõ đó là người con gái đầu lòng của ông bác, nguyên Chủ tịch Cái Vồn, Bùi Hà Thanh, đã bị bọn Pháp rải truyền đơn treo giá 5.000 đồng cho ai chỉ điểm nơi ông ta đang ẩn náu. Cô gái ấy tên Bùi Thị Nương, làm cứu thương Việt Minh, hiện đang bị bọn Năm Lửa giam giữ. Tôi viện lý do trời sắp tối, chờ sáng sẽ hay. Nhưng Thanh Hương khóc lên nức nở. "Đến sáng thì còn gì chị em mà mong anh cứu!". Tôi dẫn Nhụy qua nhà Thanh Phong, hỏi cặn kẽ thêm rồi hội ý với Thanh Phong, Thanh Phong cũng đồng ý nên cứu cô ta, chỉ mong đợi và tin tưởng ở tôi thôi. Thấy vậy tôi quyết định đi gấp, để quân phục và nai nịt cây súng sáu vào thắt lưng to bản của Mỹ cho ra vẻ quân phong, rồi cùng Nhụy đạp xe ra cầu Bắc để sang Cái Vồn cho kịp chuyến phà cuối. Cứu người là khẩn thiết, kế hoạch phương án sẽ tùy cơ ứng biên, không thể chần chờ. Vừa đi tôi vừa hỏi đường. May chỗ Năm Lửa đóng quân ở rạch Trà Kiết, Nhụy đã quen thuộc từng rạch con, xóm nhỏ. Biết là bọn Hòa Hảo mới về đầu thú, nên nể sợ oai Tây, tôi mượn lốt oai hùm, đi đến trạm gác nào cũng xưng danh láo hiện là người ở Bộ Tham mưu Pháp, muốn vào gặp trực tiếp "ông Tổng" (Năm Lửa) để bàn việc cần. Thế là phải qua gần mười ải. Gần đến tổng hành dinh, tên lính Hòa Hảo vào thông báo, còn lại hai anh em, tôi hỏi nhỏ Nhụy: "Em biết bơi không?". Nhụy gật đầu: "Nếu có gì khác thường nếu thấy anh nhảy xuống sông thì em sẽ nhảy theo ngay nhé!". Cô gái lại gật đầu đồng ý. Tuy thế, chưa chạm trán Năm Lửa thì tôi vẫn chưa quyết định. Tôi vững tin việc tôi đang làm là chính nghĩa. Vả chăng ở tuổi 30 tràn nhựa sống thích mạo hiểm là đặc tính của lớp thanh niên.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #43 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:47:44 pm »

Tôi được dẫn vào một ngôi nhà lá nhỏ, kiểu nhà trung nông, có bộ bàn ghế nhỏ, một tấm phản rộng làm giường ngủ và nơi ngồi xếp bàn tròn nói chuyện quanh ấm trà. Người tiếp chuyện tôi không phải là Năm Lửa mà là viên đại đội trưởng Đại đội I, tự xưng là Năm Hổ. Tôi đã nghe tên anh ta, vốn là một nông dân mù chữ, nhưng tính tình khẳng khái, được Năm Lửa tin dùng, trong số 10 anh em kết nghĩa cùng Năm Lửa lúc còn là dân dao búa, đứng bến xe giành khách. Năm Hổ rót nước mời tôi, rồi hỏi tôi lý do muốn gặp "ông Tổng". Nghe tôi trả lời xong, Năm Hổ bỏ đi một lát sau trở lại hỏi: "Ngài sang đây bọn Pháp có biết không?". Tôi hiểu ngay bọn này vốn sợ Pháp nên mới ra đầu thú Pháp, liền nhanh miệng đáp ngay: "Có chứ, tôi đi đâu thì phải xin phép nhà binh trước. Ngay ở bót Cái Vồn, trung úy Compadieu cũng biết rõ tôi". Hắn lại bỏ đi, lát sau trở lại hỏi thêm: "ông trung úy đồn trưởng Cái Vồn có biết ngài vào đây không?" - "Có chứ, ông trung úy Compadieu tôi gặp có dặn tôi vào đây gặp ông Tổng thì phải về đồn ngay, ông ta bảo lính căng mùng sẵn cho tôi". Năm Hổ ngồi tiếp chuyện tôi đến gần nửa đêm, cuối cùng bảo lính đem chiếu ra dọn chỗ để chúng tôi ngủ tạm mỗi người một góc, với ngọn đèn dầu và thanh kiếm tuốt trần để trên bàn. Tôi biết không hy vọng ra về trong đêm nay, kể cả tính mạng cũng chưa biết có còn đến sáng mai không.


Nhưng tôi tin ở việc tôi làm, nhất là tin vào tính tình bộc trực khẳng khái của Năm Hổ, nếu có gì nguy hiểm, chắc thế nào anh ta cũng không thể giấu kín được trước mặt tôi được. Tôi đã chiếm được cảm tình của anh ta, đến đỗi có lúc chúng tôi trao đổi vũ khí tùy thân cho nhau xem, và tôi đã hứa cung cấp đạn 7,65 cho cây remington của Năm Hổ, vì anh ta thiếu đạn: "Mai, anh (Năm Hổ đã đổi cách xưng hô) sẽ gặp thầy kiện Dậu, tham mưu trưởng và nói chuyện với ông ta. Anh cứ ngủ cho tỉnh người đã". Tôi để nguyên áo quần, giày vớ, súng và thắt lưng to bản trong mình, nhắm mắt đánh một giác tới sáng. Có lẽ do đầu óc quá căng thẳng, nghe tiếng một, hai và huỳnh huỵch trước sân, tôi tỉnh dậy. Chừng 30 binh sĩ Hòa Hảo đang tập bồng súng chào theo kiểu Nhật Bổn. Súng mút Anh còn mới. À! Họ muốn khoe mã với quân đội Pháp đây! Tôi mỉm cười nhìn họ diễn tập. Năm Hổ đến dẫn tôi đi sang nhà bên cạnh. Trong nhà, một gã đàn ông mảnh khảnh và cao, trạc tuổi ngoài 40, đang ngồi chễm chệ sau chiếc bàn giấy. Năm Hổ chào rồi đi ra. Tôi đến gần nhìn thẳng vào mặt vị tham mưu trưởng có bộ mặt cạo giấy hơn là võ biền. Anh ta không bắt tay tôi mà bắt đầu bằng một cử chỉ đầy hăm dọa: "Anh cởi súng ra". Không nói một tiếng, tôi tháo thắt lưng, đặt cả lên bàn giấy và nói: "Tôi vào đây mang súng chỉ là thói quen của quân nhân thôi. Tôi đến đây để xin các ông làm việc nghĩa, tha chết cho một người phụ nữ, chắc các ông đã hiểu rồi, không có mục đích gì ám muội cả".

- Anh có biết đó là con gái của một chủ tịch Việt Minh không?

- Biết.

- Biết sao ông lại xin tha?

- Xin lỗi, cô ta chỉ là một nữ cứu thương. Không lẽ các ông lại giết chết một nữ cứu thương sao?

- Anh đang đêm đột nhập vào căn cứ quân sự của chúng tôi, như thế là đáng tội chết. Anh có biết việc anh làm là có tội không?

- Biết.

- Biết sao anh dám làm? Tôi cho mổ bụng để xem gan anh bao lớn nào!

- Xin lỗi, tôi nói chuyện với ông tham mưu trưởng, một đạo quân của nhà Phật. Tôi dám vào đây là vì biết rất rõ tôn chỉ mục đích của Phật giáo là: lấy từ bi làm gốc, nên không nỡ bắt tội một người đến để xin cứu mạng cho một người khác theo đúng tôn chỉ của nhà Phật. Hơn nữa ông là luật sư, ông hẳn thừa biết luật quốc tế cấm hành hình người phụ nữ, cho đó là hành động dã man.


Tên lính gác bồng súng cùng với cô Nhụy ngẩng cổ nhìn theo. Tham mưu trưởng không trả lời, chuyển sang nói với tôi bằng tiếng Pháp "Parlons français...". "Anh biết không, chúng nó là quân ô-hợp, không có kỷ luật, kỷ cương thì làm sao mà chỉ huy chúng được? Thôi, anh hãy về đi, chuyện cô Nương để chúng tôi tính lại sẽ thả về sau!".


Thế là rõ! Sợ hùm, sợ luôn cứt hùm. Tôi là cục cứt hùm, nên ông tham mưu trưởng cũng không dám động tới. Ông ta có biết đâu, về thực chất, tôi chỉ là cục cứt hùm dỏm! Miệng hùm gan sứa thôi! Không đáng mổ mà xem! Tôi ra trước cửa trao đổi với Nhụy, Nhụy đã tranh thủ gặp Nương trước, nên khăng khăng bảo tôi xin thả Nương về một lần, cho chắc chắn. Tôi thảo luận với tham mưu trưởng: "Trước sau gì các ông cũng tha cho cô ta thôi. Đã vậy thì ông nên cho cô ta về cùng một lần với chúng tôi cho an toàn và giữ được ân nghĩa về sau nữa". Dậu chấp thuận, tôi xiết tay anh ta, một trí thức biết trọng lẽ phải. Vì vậy, sau này có Văn Phú về làm tham mưu, Năm Lửa không dùng anh ta nữa. Gặp anh ta thất nghiệp ở Long Xuyên. Có người biểu tôi nên làm nhục anh ta một trận để trả thù. Tôi đã làm ngược lại, kéo anh ta vào tiệm uống cà phê, như một đôi bạn cũ. Tục ngữ có câu: "Oan gia nên cởi không nên buộc". Chắc gì còn gặp lại nhau mà mang nặng oán hờn. Thế là: thế không đặng đừng, vì thương vì muốn chuộc lỗi với cô con gái bị nghi oan, tôi đã trở thành người hiệp sĩ, cứu một phụ nữ thoát khỏi lưỡi dao của đao phủ. Về con người, tôi không có gì phải ân hận "Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã" nhưng về mặt nghiệp vụ tình báo, tôi đã phạm một sai lầm thô thiển nhất! Tự vạch áo cho kẻ thù xem lưng!


Chỉ sau chuyến đi hào hiệp kiểu "Don Quichotte" đó, tôi bị Nogret gọi về văn phòng 2è Bureau Zone Ouest (Phòng Nhì miền Tây). Lúc này tôi chuyển về Secteur Cần Thơ (khu vực Cần Thơ) tuy cùng nằm trong một thành phố Cần Thơ, nhưng có phân biệt cấp khu vực, dưới cấp miền. Đại úy Nogret chau mày nghiêm khắc chỉnh tôi một trận: "Hãy kể mọi chuyện ngay từ đầu. Ai xúi mày làm chuyện đó?". Tôi tự nhủ: "Sếp đã biết hết rồi. Tất nhiên ông ta còn có mạng lưới tình báo viên cộng với báo cáo của ban liên lạc Hòa Hảo nữa. Thế là tôi thuật lại mọi chuyện, trừ cái đầu mối chính. Tôi bắt đầu: "Có người nhà cô ả, người sắp bị Năm Lửa đem đi chặt đầu, đến năn nỉ tôi cứu giúp. Vì lòng nhân ái, tôi đã đi, không kịp báo cáo với cấp trên v.v...". Cuối báo cáo, tôi kết luận: "Tôi biết cô ta là con chủ tịch Việt Minh, nhưng vì cô ta vô tội, (tôi dùng chữ: "Innocente") nên tôi phải cứu". Nogret ngồi nghe tôi nói, không cắt lời, chừng nghe câu kết luận cuối cùng, hắn vừa gục đầu vừa cười mỉa: "Innocente, Innocente!" (Vô tội, vô tội) vẻ khá cay độc. Tôi nổi cơn tự ái, đáp lại thẳng thừng: "Nếu cứu người vô tội mà ông không muốn thì lần sau tôi sẽ phải cứu những người có tội hay sao?". Nhưng thấy mình sẵng giọng quá, tôi xuống giọng nhỏ hơn, như tự nói với mình mà cũng đủ cho Nogret nghe rõ: "Dù sao, đó là một phụ nữ và người đẹp với tôi như ông đã biết", vẻ mặt Nogret hòa dịu hẳn. Dù sao nó cũng nói thật với mình. Thoát nạn từ đó! Nhưng tôi chắc Nogret đã ghi nhận thêm một điểm nghi vấn trong hồ sơ theo dõi nhân viên. Mãi một năm sau tôi mới thấm thìa cú đòn đểu cáng của tên cáo già đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:48:32 pm »

Cuối năm, anh Quý, chồng cô Phết, về ăn Tết với gia đình bên vợ. Thanh Phong nói với tôi, biết Quý cũng là cán bộ Ban tình báo Khu 9 có biết anh Ba Quang và Hai Tắng. Qua câu chuyện gia đình, anh Quý nói cho tôi biết anh Ba Quang và mấy anh ở Khu nhận xét về tôi tốt, nhưng nhắn nhủ tôi phải xử sự như một Việt gian chính cống, được ăn hối lộ và nếu không đánh đập ai thì cũng không được cứu ai, trừ những người được mấy anh giới thiệu. Tôi ngồi nghe chỉ im lặng, nhưng sau đó trong báo cáo viết cho anh Ba Quang, tôi nói rõ: "Bảo tôi đừng cứu người thì khó, nhưng còn làm được, còn bảo tôi được ăn hối lộ thì nhất định tôi không làm trừ khi có chỉ thị cụ thể có ký tên đóng mộc hẳn hoi". Sau này, tập kết ra miền Bắc, sau chỉnh huấn, tôi nhắc việc đó cho anh Quang nhớ: "May hồi đó tôi không làm theo yêu cầu của mấy anh bằng không đến ngày nay qua chỉnh huấn, tôi tránh sao cho khỏi bị xử lý?". Có vấn đề thuộc về quan điểm, lập trường, không thể chỉ thị mệnh lệnh gò ép được.


Dù đúng hay sai, về mặt nghiệp vụ, điều an ủi lớn cho tôi là sau 40 năm xa cách, đến khi hòa bình, trở về thăm Cần Thơ thì được thấy cô Nương đã có gia đình và có 11 con đang công tác. Nương gặp tôi òa khóc, và bảo mấy con ra chào cậu Hai. Tôi được biết trong thời kỳ xa vắng, Nương có dịp ra Huế có cố gắng tìm kiếm hỏi thăm tin tức của tôi...


Cuộc đời là thế đấy!

Nương vẫn sống hạnh phúc với chồng con: trai có, gái có, đứa út cũng đang học thi vào Đại học, lúc tôi đến nhà, một biệt thự xinh xắn, ở số 1, Mậu Thân, Cần Thơ. Quả đất tròn, đất nước thống nhất, tình cảm cuộc đời, tình cảm con người đi đâu vẫn gặp nhau bất chấp mọi biến cố ngăn cách.


Cuối năm 1946, cái chính phủ bù nhìn, do Phòng Nhì Pháp dựng lên theo lịnh của Cao ủy Cố đạo D'Argenlieu lại càng suy sụp. Thủ tướng bù nhìn bác sĩ Nguyễn Văn Thinh được đặt lên ghế, không kèn không trống, ngày 1/6/1946, ngồi chưa nóng đít, thì ba tháng sau, ngày 10/11/1946, đã thành thây ma bị thắt cổ chết trong phòng ngủ, cuốn sách y học Pháp còn để dở trên bàn, đúng vào trang dạy cách cấp cứu người bị thắt cổ. Savany, thiếu tá trưởng Phòng Nhì quân lực Pháp ở miền Nam hỏi khắp quanh Sài Gòn nhưng không còn ai muốn nhảy vào cái ghế Thủ tướng bị bỏ trống đó, nên quay sang nhờ các tỉnh lẻ. Đúng vài hôm sau, Nogret ở Cần Thơ, triệu tập các phiên dịch lại hỏi ý kiến, nên giới thiệu ai vào chân Thủ tướng? Tôi cùng có mặt hôm đó. Tôi hỏi sao không kiếm ở Sài Gòn, trí thức còn dễ kiếm hơn ở Cần Thơ. Nogret bảo đã kiếm rồi, nhưng các nhà trí thức, như kỹ sư cầu công Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đình Thảo đều từ chối cả. Điểm lại ở Cần Thơ, trí thức về thành chưa có mấy người, chỉ có bác sĩ mổ mắt Lê Văn Hoạch, đã từng làm cò dưới thời Nhật, bác sĩ Sang chủ tịch Ủy ban lâm thời huyện Châu Thành mới hồi cư. Tôi và Long giới thiệu bác sĩ Sang, Nogret không đồng ý, bỗng nhìn sang tôi: "Hay là hãy đưa Trần Hiến lên ghế Thủ tướng? Bộ vó làm được đó!". Tôi giật nẩy mình: "Không được đâu! Tôi nói tiếng Huế, dân chúng Sài Gòn không nghe được đâu. Hãy chọn người khác đang sống ở Cần Thơ. Tôi và Long cùng có ý kiến. Hoạch đã từng làm cảnh sát cho bọn Nhật, sợ ông ta thân Nhật bài Pháp, không nên giới thiệu". Tên cáo già tình báo Pháp đáp: "Nó đã quen làm tay sai rồi thì dễ sai bảo hơn, còn bác sĩ Sang đã từng làm Chủ tịch cho Việt Minh thì sẽ có cảm tình với Việt Minh hơn". Thế là Lê Văn Hoạch được mời đến văn phòng 2è B. Pháp ở Cần Thơ để chuẩn bị lên Sài Gòn nhận ghế Thủ tướng, kế vị Nguyễn Văn Thinh. Ở đây không có chuyện mua quan bán tước. Chỉ là chuyện kiếm không ra con người chịu bán nước buôn dân trong lúc đất nước còn bị xâm lăng. Tôi từ chối ghê thủ tướng bù nhìn vì muốn xứng đáng là một chiến sĩ Vệ quốc đoàn, đang đánh địch trong lòng địch. Thủ tướng bù nhìn không giúp cho tôi thấy rõ địch tình hơn ở đây. Hơn nữa, từ nhỏ tôi đã ớn các chuyện quan quyền "Lợi danh mặc kệ mấy ngươi suy". Như thế là dại hay khôn? Tùy cách suy nghĩ của từng người, riêng tôi không bao giờ hối tiếc điều đó cả, trong cả lúc khó khăn nhất của cuộc đời.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #45 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2026, 08:49:50 pm »

CHƯƠNG 7
ĐOÀN TÌNH BÁO


19/12/1946, mọi cuộc đàm phán đã chấm dứt. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Giặc chiếm Thủ đô Hà Nội, Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ rút về căn cứ Việt Bắc để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Cuộc kháng chiến toàn quốc của toàn dân, toàn diện và trường kỳ bắt đầu. Ở miền Nam, thực dân Pháp tổ chức thêm quân đội bù nhìn và giáo phái, chuyển chiến thuật tấn công theo trận tuyến thành chiếm đóng theo lãnh thổ. Ở Cần Thơ, quân đội Pháp với sự đầu hàng của Năm Lửa, đã tăng thêm lực lượng bổ sung (Forces suppletives) tuy ô hợp nhưng vẫn giúp thêm chúng động lực kềm kẹp nhân dân ta, chẳng những ở đô thị mà còn mở rộng ra một số vùng cơ động xung yếu và nông thôn. Quân đội chính qui Pháp chiếm đóng miền Tây Nam Bộ có 43è RIC là quân chủ lực, còn có 3è RAC pháo binh, 2è SPAHIS thiết giáp khinh kỵ, lại vừa được tăng viện thêm 1 đơn vị của 15è REI lục quân chính quốc, chủ yếu đóng ở Vĩnh Long, Sa Đéc. Quân bù nhìn BVN (tiểu đoàn lính Việt), có Tiểu đoàn 1 đóng ở Cần Thơ, chủ yếu là ở Xóm Chài, Bình Thủy có văn phòng của Ba Gà Mổ đóng làm văn phòng giao dich của Năm Lửa ở đường Phan Đình Phùng thành phố Cần Thơ (gần Viện Kiểm sát hiện nay). Ban chỉ huy hành quân (BCC) đổi thành Zone Ouest (ZO) tức Bộ chỉ huy miền Tây Nam Bộ bao gồm cả đồng bằng sông Cửu Long (9 tỉnh miền Tây), do đại tá Cluset làm Tư lệnh với các sĩ quan thuộc hạ trung tá Rossignol, thiếu tá Berdel, đại úy Nogret. Để theo dõi lực lượng Hòa Hảo, có một văn phòng liên lạc Hòa Hảo (Bureau de liaison auprès des HH) do một thiếu tá Pháp điều khiển, đại úy Bùi Quang Tân làm phó. Lúc này Nguyễn Dũng Định, người cháu họ của tôi, cũng xin được làm phiên dịch viên ở đó. Tôi vẫn theo dõi nhưng chưa vội tổ chức, vì biết tình hình nó tuy tốt nhưng có phần nhút nhát chưa thể làm công tác tình báo được. Tôi nghĩ vậy, do kinh nghiệm bản thân. Bước vào đầu năm 1947, tôi được điều xuống Secteur Cần Thơ đóng ở ngôi nhà thuộc sở hữu của bên vợ đồng chí Châu Văn Liêm trước đây và sau này là nhà của Xã Long (hiện nay là cơ quan thương binh xã hội tỉnh Cần Thơ). Tiếng là Secteur (Quân khu) nhưng lại do một chỉ huy phó Zone Ouest, trung tá Rossignol điều khiển. Tại ngôi nhà bánh ít của Xã Long là văn phòng 2è B. và 5è B. thuộc Secteur Cần Thơ. Chỉ huy 2è B. là đại úy Fallon, một người mập tròn, dáng phúc hậu, trạc chừng chưa đến 35 tuổi, hay đi nhà thờ; chỉ huy 5è B. (phòng an ninh quân đội) là đại úy Lotte để râu mép, độ tụổi 40, dáng bề ngoài dễ mến. Fallon người tỉnh Lorraine, miền Đông nước Pháp, có vợ và hai con, còn ở Pháp. Lotte thì tôi được biết, trước khi về Cần Thơ ông ta chỉ huy một đồn ở Long Mỹ, có người con bị quân ta giết chết. Lotte đã nổi khùng đem cả anh em tù binh bị giam tại Long Mỹ treo lên xà nhà vừa uống rượu vừa cầm cây tầm vông vạt nhọn đâm vào đít từng người cho đến chết. Thủ đoạn thật man rợ. Mỗi lần nhìn râu mép với đôi mắt giễu cợt của Lotte, tôi lại nhớ đến câu chuyện do thượng sĩ Laurent kể lại: Fallon đến Cần Thơ nhận việc có đem theo một phiên dịch viên còn trẻ, chừng 19 tuổi, tên Nguyễn Văn Bình, cấp bậc trung sĩ, Bình lớn lên ở nhà trẻ mồ côi Cù Lao Giêng, thuộc các nữ tu Thiên Chúa giáo, nên có đạo và tính phục tùng cấp trên vô điều kiện, rất được Fallon tin yêu. Tôi cũng tranh thủ tình cảm của Bình. Trung úy Long cũng ở Secteur nhưng làm phiên dịch cho Nogret, có thêm một phiên dịch mới tuyển, cấp bậc trung sĩ, ghiền á phiện tên là Dung. Thế là vào đầu năm 1947, trong căn nhà bánh ít của Xã Long là toàn bộ bộ máy kềm kẹp quân sự của khu vực Cần Thơ, gồm có 2 đại úy Fallon (2è B.), đại úy Lotte (5è B.), Laurent (thượng sĩ), Zédenberg (hạ sĩ) và ba phiên dịch viên có: Trung úy Long, thượng sĩ Hiến, trung sĩ Bình. Toàn bộ đều được chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm. Và, một tấm được chuyển về văn phòng Tình báo cho anh Ba Quang làm hồ sơ để theo dõi.


Về phương tiện tình báo, vào thời kỳ đó, so với nay thật khác xa. So với ta, tất nhiên Pháp hơn hẳn. Sách vở kỹ thuật có một quyển sách "hướng dẫn sĩ quan tình báo" (guide de l'officier de renseignements), sách "thám mã" (décryptement) có sách phương pháp mật mã, thám mã và viết mực hóa học. Một số sách về du kích chiến tranh (guérilleros) kinh nghiệm của đại úy Thompson ở Mã Lai, và cả mấy thùng tài liệu không ai dùng đến. Có lần bọn Pháp lục ra thì là các mẫu về máy bay Đức, đồng minh các kiểu dùng cho trinh sát nhận dạng và ghi tên thêm vào các đặc điểm mới. Các bản đồ hình vảy cá chụp từ trên không để thám sát địa hình... chưa có máy ghi âm chỉ có các ống dòm qua cửa sổ kiểu vọng kính tàu lặn. Tính tôi vốn tò mò, nên tìm hiểu kỹ thuật tình báo một nước văn minh tiến bộ nhiều chừng nào, tôi càng thích thú phấn chấn hơn. Dù sao, thủ đoạn tình báo của địch cũng được bóc trần không có gì đáng sợ, nhưng có biết trước càng dễ tránh đòn. Đó là cách học lóm thuở còn thiếu niên, bắt chước các anh lớn đi học lóm các bài thiệu, côn, quyền của ông thầy dạy võ... Nhưng so với ta thì rõ ràng tôi đã bắt đầu vào nghề từ con số không. Học của địch để đánh địch. Bắt buộc phải thế thôi! Tuy vậy trong cách làm của tôi phải vận dụng ngược lại về phân loại, giá trị tài liệu, địch đánh số theo thứ tự giá trị A, B, C, D... hoặc giá trị nguồn tin 1, 2, 3, 4 v.v... tôi đánh dấu theo trình tự ngược lại. Đọc sách hướng dẫn thám mã, tôi thấy có câu: "Toutes les encres magiques sont révélables par la teinture d'iode" (Các mực mật đều được giải mã bằng i-ốt). Tôi vắt óc suy nghĩ: Thế thì ta tìm ra một loại mực khi nhúng teinture d'iode thì bị xóa mờ ngay có được không? Và, cứ thế mà tìm tòi, hoàn thiện công tác không mệt mỏi và tất nhiên không khoe khoang. Có lẽ nhờ vậy mà có một lần, năm 1949, cô Xuân đi liên lạc bị bọn Ba Cụt bắt, có tài liệu trong người vẫn không bị phát hiện.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:00:53 pm »

Kiểm điểm lại vào năm 1947 về mặt tổ chức, Tiểu đội Thanh được thêm một đội viên mới, lớn hơn tôi mười tuổi là chú Tư Ngà, do Tư Quý (cháu ruột chú Tư Ngà) giới thiệu. Tôi chấp nhận, giao nhiệm vụ giữ hộp thư liên lạc với văn phòng, kiêm việc đứng bến xe đò để lấy tin tức Hòa Hảo, vì tình hình mới, lực lượng Hòa Hảo có thể lộng hành nhân dịp Năm Lửa về đầu thú Pháp. Bố trí như vậy kể cũng thích hợp. Vì chú Tư Ngà vốn là bạn cũ, từng trải cơn ấm lạnh với Năm Lửa, thời còn lại chung một chiếc hủ lô cán nhựa đường. Và chú Tư vẫn tỏ ra một cách xứng đáng với nhiệm vụ được giao, trong hoàn cảnh tù đày tra tấn vẫn không khuất phục giặc. Đến nay chú đã 84 tuổi vẫn sống trọn niềm trung hiếu với Đảng với Dân. Tôi còn nhớ chú chọn bí danh bí số gì dễ ghi vào hồ sơ mật, chú bảo bí danh Việt Hà, bí số 52. Tôi tôn trọng chú, không ép chú lấy chữ Thanh làm bí danh. Chú quê ở Chắc Băng, làm "từng khạo" (tức là quản lý) cho ban biện Phú (cha Quí), và đã làm thủ lãnh TNTP hồi còn ở Chắc Băng, nên cũng biết rõ Hai Tắng. Thế là tôi yên tâm và hoàn toàn tin tưởng ở chú. Tổ công tác thì đủ bốn người: Tôi Thanh Phong, Thanh Hương và Việt Hà. Trong Tiểu đội Thanh, anh Tắng được điều đi phụ trách công tác binh vận ở Rạch Giá, anh Hai Méo cũng được điều đi công tác ở đơn vị khác, anh Lân biệt tin từ ngày chiếc tam bản bị phá lủng, nghe đâu được rút về văn phòng. Có lẽ còn nhiều anh em khác, nhưng phần tôi chỉ nắm chắc bốn người để làm tốt công tác tình báo, tôi không yêu cầu gì khác hơn, tôi biết vậy cũng yên lòng. Nhưng trong lúc đó thì có lịnh thuyên chuyển vị trí ở cấp trên. Đúng là có sự thay đổi về tổ chức. Tôi cảm nhận điều đó. Một hôm vào khoảng giữa năm 1947, tôi cùng Thanh Hương, Thanh Phong được triệu tập về văn phòng đóng ở Ngã Bát Đầu Sấu. Ở văn phòng đã có dư luận bàn tán xôn xao về một vụ hối lộ bị phát giác. Anh Cần nguyên là lính mạch-lô ở Thông báo hạm La Marne bị máy bay Mỹ ném bom đắm ở đầu Rạch Cần Thơ, sau Cách mạng tháng Tám về công tác ở Ban Tình báo Cần Thơ, được điều về làm trưởng thành Bộ Tình báo Cần Thơ mà tôi đã có lần gặp mặt lúc về văn phòng báo cáo tình hình. Anh Cần đã bị bắt về tội nhận hối lộ con buôn và đưa ra Tòa án Quân Sự tỉnh Cần Thơ chờ ngày xét xử. Anh Ba Quang lúc đó vẻ bối rối bảo tôi: "Cần bị bắt không ai điều khiển văn phòng, hay là anh về làm thay cần?". Tôi giật nảy mình. "Tôi về sao được, vả chăng khả năng tôi cùng lắm chỉ làm chạy việc chuyên môn thôi". Người Trưởng Tình báo Thành bộ phải có giao dịch tiếp xúc rộng rãi và biết lãnh đạo chung mới được, tôi chịu thôi!". Lúc đó tôi chỉ nghĩ đến số phận anh Cần, còn đâu nghĩ đến chuyện khác nữa, nghe nói tội ăn hối lộ là xử đến mức tử hình! Tôi nghĩ vừa thương vừa giận cho anh ấy. Ngồi trên chiếc xuồng chèo ban đêm đến dự phiên tòa, khoảng 10 giơ đêm, chưa đến pháp trường, đã nghe hai tiếng nổ lớn. Mọi người xôn xao cả lên. Tưởng là mọi việc đã xong! Riêng tôi vẫn chưa tin. Sau nầy tôi mới rõ: anh Cần chỉ cho về làm thường dân, mua bán máy may sinh sống ở Chắc Băng. Và nay đang ở quận 3 thành phố Hồ Chí Minh. Nghe anh Ba Quang thuật lại chuyện cũ: "Hồi đó Cần chỉ phạm có mỗi tội: Chặn chiếc tam bản của Hoa kiều lấy vài trăm bạc để mua vải cho anh em, mà bị ông Ngô Hồng Giỏi ngồi ghế Chánh án kết tội tử hình! Nghĩ mà tức cười. Muốn xóa án đâu phải chuyện dễ, phải lập mưu bắn khống hai phát đạn để kể như xử rồi!". Tôi đã có dịp tìm đến anh Cần ở thành phố Hồ Chí Minh, sau ngày hòa bình lập lại, nhắc lại chuyện cũ, anh thú thật: "Đúng là mình có bắt nó phải đưa cho mình 250đ. Lúc đó thấy anh em mình không có quần áo mặc, nên thương quá, định mua vải về sắm cho anh em mỗi người một bộ đồ, nào tôi có tư túi gì cho cam!" Cũng có thể chuyện cũ không ai nhắc tới, nhưng biết đâu lại chẳng là bài học cho những người còn sống tới hôm nay?!


Anh Cần ra đi, anh Phan Thành Miêng về thay thế. Tôi được chỉ định làm phó cho anh Miêng. Trưởng đoàn Tình báo Thành bộ Cần Thơ vẫn trực thuộc Ban Tình báo Quân khu 9. Đó là vào những tháng đầu năm 1947, Ban Tình báo Quân khu 9 từ trước đến nay vẫn do một đảng viên 40, anh Hai Hoàng (Hai A), tên thật là Nguyễn Văn Hoàng, người gốc Cờ Đỏ, phụ trách. Anh Nguyễn Văn Phấn, Phó ban được cử đi học lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo đầu tiên mở ở vùng cực Nam Trung bộ. Lớp học do đồng chí Thanh Sơn (Nguyễn Văn Tây), một đảng viên năm 1930 phụ trách. Huấn luyện viên có một đại tá người Nhật tên Quốc, đứng lớp. Tôi chỉ được cho biết đại khái là như vậy, cũng đủ thấy Đảng đã nắm công tác tình báo ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Anh Ba Phấn đi học về vào khoảng đầu năm 1947, trải qua các chặng đường mò mẫm về tổ chức. Từ Tình báo xung phong, đến Sát gian đảng, Vệ thám phòng và Đặc vụ, Mật vụ mãi đến năm 1949 mới trở lại đúng vai trò của nó là Tình Báo Quân Sự với tên gọi là Quân báo. Mò mẫm về tổ chức, mò mẫm về nghiệp vụ bao nhiêu việc cần phải vắt óc ra mà làm không thể nhờ ai làm giúp, làm thay cũng không thể tin vào may rủi. Đó là nghiệp chướng, chẳng có gì khoác lác! Nhiều lúc nhắm mắt lại nghĩ tới chuyện cũ vừa ớn lạnh, vừa thích thú, như vừa trải qua một cơn thử thách trong giấc mộng!...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:01:48 pm »

Năm 1947, cuộc chiến tranh lan rộng toàn cõi Việt Nam, thực dân Pháp vẫn bám chặt ý đồ lập lại chế độ thuộc địa ở xứ Nam Kỳ, Thủ tướng bù nhìn Nam Kỳ tự trị, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, được đặt lên ghế vừa hơn ba tháng đã thắt cổ chết. Đệ Nhị phòng ở Cần Thơ theo lịnh Sài Gòn lựa chọn được bác sĩ mổ mắt Lê Văn Hoạch đưa lên thay thế. Có còn hơn không! Mặt khác, Việt Minh sau thỏa hiệp án lại tăng cường hoạt động ngay tại nội thành, ở những nơi có binh sĩ Pháp tụ tập ăn chơi. Tình hình đó đã đẩy Bộ tư lệnh Pháp ở Nam Bộ đi đến một quyết định mới: các đơn vị quân viễn chinh Pháp, từ trước vẫn triển khai kế hoạch bố trí quân lực theo tuyên với ranh giới tiền phương và hậu cứ co giãn tùy đà tiến triển tuyến hành quân đến nay không còn thích hợp nữa, vì vậy Nam Bộ được phân chia thành ba vùng (Zone): Từ sông Tiền, sông Hậu trở xuống Cà Mau, Rạch Giá là vùng miền Tây. Từ Chợ Lớn xuống Tân An, Mỹ Tho là vùng miền Trung (Zone Centre), từ Sài Gòn trở ra là vùng miền Đông (Zone Est). Miền Tây chỉ gồm 8 tỉnh, Hà Tiên gọi là Quartier autonome (Tiểu khu tự trị), thuộc quyền chỉ huy của Hải quân Pháp. Quyền sinh sát ở từng vùng do tư lệnh vùng (Commandant de la Zone) định đoạt, cao nhất là quyền xử bắn công khai, không cần qua Tòa án xét xử. Chủ trương đó nhằm đối phó với những hoạt động táo bạo của Việt Minh mà chúng ghép vào tội "quân khủng bố" (les terroristes). Tội danh cũng đơn giản như đã nói trên. Để giao cho viên Tư lịnh vùng quyền tối thượng đó, một chế độ quân quản được ban hành, ở Cần Thơ từ khi viên tỉnh trưởng là F.Bonhomme de Montagut theo chân bọn lính viễn chinh Pháp trở về làm tỉnh trưởng dân sự, nhưng về thực chất mọi quyền định đoạt đều do giới quân sự Pháp điều khiển, đến tháng 6/1946 đại tá Cluset đã cử đại úy J.Lespenerse nguyên là chỉ huy thành phố Cần Thơ lên làm tỉnh trưởng. Đến tháng 4/1949 mới cho một tỉnh trưởng người Việt lên thay, cũng là thời kỳ chấm dứt chế độ quân quản, giao từng phần cho viên chức người Việt điêu hành, dưới sự giám sát của quân đội Pháp. Đầu năm 1947, lực lượng Hòa Hảo Năm Lửa về đầu thú làm tăng thêm lực lượng bổ sung cho quân đội Pháp để kềm kẹp đồng bào ngoại ô Châu Thành Cần Thơ. Chủ trương của Pháp là để cho Hòa Hảo đóng vùng ngoại ô để làm rào cản ngăn chặn Việt Minh tấn công xâm nhập thành phố, vì vậy, chỉ thuận cho Năm Lửa có một văn phòng đại diện tại thành phố Cần Thơ, dưới sự chỉ huy của Ba Gà Mổ, một tên ác ôn khét tiếng, nhưng Năm Lửa vẫn cho một ban ám sát hoạt động ngay trong nội thành Cần Thơ, tổ chức tống tiền và thủ tiêu những người chúng tình nghi là thân Việt Minh, làm xôn xao dư luận. Trước đó chừng một tháng, một tổn thất đã đến với chúng tôi. Anh Ba Nhì, một nhân viên Bưu điện thành phố bị bắt cóc ban đêm về Xóm Chài. Ba hôm sau, chị Ba đi dọc theo bờ sông tìm xác chồng vớt được, xác trôi tấp vào bungalô, bụng bị mổ, lá gan bị xẻo mất một miếng. Chị nhận được chồng là nhờ thấy có răng cửa bịt vàng còn nằm nguyên trong miệng. Tôi biết anh Ba Nhì là nhờ sự giới thiệu của anh Tắng, vào khoảng tháng 7/1946, nhân dịp chúng tôi kéo về văn phòng đóng tại Rạch Bà Tồn, mỗi lần vào thành Cần Thơ phải qua cái bãi trống đổ rác ở gần cầu Tham Tướng. Chúng tôi lấy nhà anh Ba Nhì làm nơi nghỉ chân, uống nước, thủ tiêu giấy tờ của Việt Minh cấp rồi trở về thành phố. Thành lệ quen, sau tôi được biết anh Ba Nhì được cài vào làm thông tín viên cho tay trung úy Bon, trưởng Phòng Nhì Vô hình của bọn Pháp ở Cần Thơ. Lúc nghe tin anh Ba Nhì bị Hòa Hảo bắt, tôi đã dẫn chị Ba đến ngay văn phòng trung úy Bon nhờ can thiệp với Ba Gà Mổ. Nhưng không kết quả.


Lúc đám tang anh Ba Nhì, tôi cũng có mặt đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Trước nấm mồ mới đắp, tôi cắm lên mộ một nhánh phượng đỏ và khấn thầm: "Tôi còn sống sẽ quyết tâm rửa hận cho anh. Mong anh yên giấc". Chẳng bao lâu sau, một hôm đại úy Fallon đưa chưa tôi xem một bản danh sách chừng vài trăm chữ ký của công chức thành phố gởi lên đại tá Cluset, kiến nghị nhà binh Pháp phải ra lịnh giải tán ban ám sát của Hòa Hảo vừa mới thành lập, chủ trương bắt cóc và tống tiền công chức, tạo nên không khí khủng bố ở thành phố Cần Thơ, ai ai cũng lo sợ. Fallon bảo tôi phải truy tầm cho được cái ban ám sát đó nội trong tuần. Tôi hỏi: "Sao ông quan năm không giao cho Jacquemin làm việc này vì đó chính là phần việc của hắn?". Fallon cười đáp: "Dĩ nhiên rồi, nhưng Jacquemin chịu bó tay không làm được?". "À, sợ Hòa Hảo!". Tôi nhận lời, nhưng cũng không tin mò ra manh mối. Tôi đem việc đó bàn với chú Tư Ngà. Chú gật đầu: "Cậu để cho tôi vài ngày". (Quả không ngờ, cho đến nay tôi cũng chưa biết hết chú Tư đã dùng cách nào mà nắm hết tình hình như vậy). Vài hôm sau chú cho biết: "Ban ám sát của Hòa hảo do Ba Dò và Sáu Hiếu cầm đầu. Hiện nay hai thằng đó đang ở phòng số 7 nhà ngủ Tây Đô". Tôi đến gặp Fallon hỏi trước: "Tình hình Jacquemin nắm tin về bọn ám sát của Hòa Hảo đã đến đâu rồi, ông biết không?". Fallon cười ruồi: "Jacquemin nói vẫn chưa tìm ra. Nó bảo bọn ám sát đó đã rút về Cái Vồn cả rồi, tao nghi là nhân viên của Jacquemin phịa chuyện, vì sợ đụng Hòa Hảo". Tôi thuật lại tình hình cho Fallon biết, và dặn đại úy đừng vội nói ngay cho Jacquemin biết. Nếu nó muốn biết thì cứ hỏi tôi, tôi sẽ có cách. Fallon gật đầu, gọi điện thoại cho Jacquemin. Chừng nửa giờ sau Jacquemin đến, Fallon chỉ Jacquemin đến hỏi tôi. Thấy vẻ mặt Jacquemin hơi tái xám, tôi biết là mấy ngày này, Cluset đang đôn đốc nó phải tìm cho ra bọn ám sát Hòa Hảo, bằng không thì "thu xếp vali cút về ngay Sài Gòn trong 3 ngày" (theo lời của Fallon nói). Tôi mỉm cười bảo nó "Ban ám sát của Năm Lửa còn ở Cần Thơ, nếu ông muốn bắt thì sai nhân viên đi cũng được, cắt tiết gà cần gì đến dao mổ trâu". Nói hỏi: "Anh cho tôi biết, nên sai ai đi?". Tôi buông thõng: "Tài! Ông cho Tài đến gặp tôi, mọi chuyện sẽ xong tức khắc". Nó mừng rỡ xiết tay tôi, lắc lắc. Mười lăm phút sau, Tài đến gặp tôi. Tôi nhìn thẳng vào cái bớt tròn trên trán hắn. Cái trán cao, phẳng lì chứng tỏ con người biết tính toán thiệt hơn, biết giấu kín những ý nghĩ đen tối của mình. Tôi mỉm cười chìa tay cho nó bắt, mời ngồi rồi thong thả buông từng tiếng một, có lựa chọn, cân nhắc kỹ hậu quả của từng lời nói: "Chúc mừng thầy sẽ thành công. Chắc ông Chánh Sở đã nói cho thầy biết thầy đến gặp tôi có chuyện gì rồi?". Nó gật đầu. "Thế là mọi chuyện có thể kết thúc ngắn gọn". Tôi nói tiếp: "Tôi chúc thầy thành công, vì đây là dịp để thầy trả lại món nợ cũ cho Ba Dò". Mặt nó tái đi, rồi tối sầm. Tôi đọc thoáng qua đôi mắt tối sầm của nó đang nghĩ: "Chà thằng cha Một Huế này ghê thật. Chuyện Ba Dò tát tai mình ba cái ở sòng bạc Nam Hưng làm sao mà cha biết được ta? Chắc là có người của 2è B. báo cáo". Để cho thấm đòn xong, tôi lại hỏi: "'Thầy biết nơi nó trốn chớ?". Tài lắc đầu. Tôi buông thõng: "Biết chỗ nó thì dễ, nhưng bắt nó không dễ đâu! Thầy dám bắt nó không?". Máu anh hùng nổi lên: "Biết chỗ thì tôi bắt nó về đây cho ông coi". "Thôi được, nó ở phòng số 7 nhà ngủ Tây Đô, chắc thầy đã biết. Hiện nó còn ở đó, nhưng nó có hai đứa, cả Ba Dò và Sáu Hiếu, trưởng, phó ban ám sát của Năm Lửa đó, bắt nó thì thầy có công to lắm đa! Nhưng coi chừng nó có súng đó!", vẻ mặt Tài tỏ ra phân vân. Đúng là nó có cây P.38 và đã từng làm cho Tài nể sợ, không dám đánh, lại khi bị tát tai. "Thôi công việc cuối cùng là do thầy liệu định. Tôi khuyên thầy nên lấy một chiếc xe con hoặc xe Jeep mà đi đừng đem theo nhiều người mà đánh động nó. Thầy đi ngang qua tiệm cơm Hải Nam, bọn Tây đang ăn nhậu tại đó, rủ vài thằng cùng đi cho nó oai, chỉ cần cho chúng vài chai "vang" là đủ". Tôi mỉm cười chìa tay chúc nó: "Mã đáo thành công". Tài làm đúng theo kế hoạch của tôi gợi ý. Không đầy một giờ sau, vào khoảng 10 giờ, tôi đang ngồi chờ ở văn phòng 2è B. thì bỗng có một chiếc xe "Traction avant" sơn màu đen xông vào ngay trước tam cấp. Mở cửa xe, Tài dẫn một người trạc chừng 30 tuổi, gầy và cao, hai tay bị còng bước lên thềm. Tôi kịp liếc nhìn lại sau, hai binh sĩ Pháp mặt đỏ gay đang từ trong xe chui ra. Thời giờ quá cấp bách, phải tranh thủ từng phút, không thể để cho bọn Ba Gà Mổ kịp đối phó, không cần thủ tục lấy khẩu cung, tôi cố nhìn người bị bắt hỏi: "Anh là Ba Dò hả?" - "Dạ phải". Thế là đủ. "Còn Sáu Hiếu đâu?". Tài trả lời thay: "Dạ hắn trốn thoát rồi!". Không nói một lời, tôi vào báo cáo với đại úy Fallon. Đại úy Fallon rạng rỡ nét mặt: "Bon, bon, très bon". Hắn cầm dây nói cho trung úy Massart ngay: "Anh có công việc làm rồi. Sẽ đem tới ngay tức khắc". Mọi sự nhà binh đã tính toán đâu vào đấy, Massart chỉ cần chờ cú dây nói là chuẩn bị ngay đội hành hình (peloton d'exécution).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:02:37 pm »

Hai giờ rưỡi chiều hôm đó, vừa đến sở làm, tôi đụng đầu ngay Năm Lửa ở ngay cửa. Vẫn bệ vệ với đôi ria mép đánh brillnatine bóng loáng, theo sau lưng có cả tham mưu trưởng Võ Thế Cường, với quân hàm thiếu tá, và đại đội trưởng Ba Gà Mổ, tên du đãng bất trị, bộ mặt rỗ chằng, đã từ chối lời can thiệp của trung úy Bon xin tha chết cho anh Ba Nhì hồi tháng trước. Fallon vẫn chưa đến làm việc, bọn Pháp trong văn phòng vẫn phớt tỉnh, không ai thèm mời chúng ngồi cả. Tôi bước vào thấy vậy, liền đến bắt tay cả bọn rồi nói: "Ông Tổng đến thăm chúng tôi, nhưng thủ trưởng chúng tôi hôm nay đến chậm. Các ngài chịu phiền chờ một lát. Nếu không có điều gì cần thì các ngài cứ về đi, tôi sẽ thông báo lại sau cũng được". Tay Ba Gà Mổ vội kéo tôi ra ngoài hè hỏi cộc lốc: "Ông có biết chúng bắt Ba Dò dẫn đi đâu không?" - "Ông đi tìm ông Tài lính kín mà hỏi". Không biết có phải vì thế mà bọn Hòa Hảo cứ theo sát Tài và sau nhiều lần chết hụt, nên cuối cùng Tài phải xin đổi về Sài Gòn vào đầu năm 1948, và cũng lại bị biệt động của ta trừng trị vào năm 1949 ngay tại giữa đường Lộ Mới, Cần Thơ. Thật quả "Ác nhân ác báo".


Nay kể lại chuyện đó, có ý kiến cho đó là một thủ đoạn, "đâm bị thóc, thọc bị gạo".

Trở về Cần Thơ năm 1976, nghe nói Sáu Hiếu còn sống, tôi không buồn hỏi thăm sức khỏe, sống hay chết, 40 năm cũng đủ cho con người rút ra kết luận rồi. Võ Thế Cường tên thật là Phạm Cự Lượng thì trở thành điên khùng, con cháu phải nhốt y vào khung củi mới cho ăn được. Bọn cơ hội, ác ôn trong Phật giáo Hòa Hảo, khét tiếng hung tàn một thuở, vẫn còn để lại vết nhơ cho Đạo khó rửa sạch ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.


Dù sao, trước nấm mồ anh Ba Nhì, tôi đã thực hiện lời hứa trả thù cho anh và cũng từ đó không còn nghe xuất hiện cái "ban ám sát Hòa Hảo", nỗi kinh hoàng của đồng bào thành phố Cần Thơ hồi 9 năm kháng chiến chống Pháp.

Nếu tôi nhớ không lầm, thì bản án hành quyết đầu tiên ban hành ở Cần Thơ cũng là bản án xử tử công khai một em bé dưới 16 tuổi tên là Trần Đổng, đó là vào khoảng tháng 6 năm 1947. Tôi được biết việc đó nhờ Zédenberg, người hạ sĩ trẻ tuổi, có hàng ria mép, thường lẩn tránh mấy cuộc tra tấn tù binh. Nói cho công bằng, từ khi Fallon chỉ huy phòng 2è B. thì những cuộc tra tấn tù binh kể như không còn nữa. Bản án đã được làm theo một thủ tục gọn nhẹ. Sở Cảnh sát đặc biệt của Jacquemin điều tra, thẩm vấn, luận tội rồi chuyển thẳng lên đại tá Cluset tư lệnh vùng. Cluset đưa cho đại úy Nogret, sĩ quan tình báo trợ lý cho Cluset xem rồi ký quyết định thi hành với một lời phê vô cùng đơn giản: "Terroriste, demain 9 heures à fusiller au marché" (khủng bố, sáng mai 9 giờ sáng đem bắn tại chợ). Văn phòng 2è B. của Secteur Cần Thơ không hề được hỏi ý kiến. Fallon buộc lòng phải phái Zédenberg sang Sở Cảnh sát đặc biệt nắm tình hình cụ thể về báo lại mới biết tin quan trọng đó. Tôi được nghe Zédenberg thuật lại, vẻ mặt còn đầy cảm phục: "Thật là Gavroche chính cống (Gavroche là tên nhân vật thiếu niên dũng cảm của quân cách mạng trong tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của nhà văn Pháp Victor Hugo). Mới 16 tuổi đầu, bị đòn, tra tấn vẫn không khai báo, nghiến răng chịu đựng, địch đưa ảnh Bác Hồ bắt bước qua, đã tránh sang một bên, cúi xuống lượm đưa cao lên trán". Thế là ngày mai đem ra xử bắn một vị thành niên. Luật pháp của quân viễn chinh Pháp là thế đấy! Sáng hôm sau, toàn thể cơ quan, kể cả hàng ngũ công chức đều được mời ra pháp trường để xem xử bắn một Việt Minh con! Tôi tránh không đi dự, giành phần trực cơ quan. Thâm tâm tôi chưa biết Trần Đổng là ai, nhưng cảm nhận nỗi buồn: không có cách nào cứu được một mạng sống, một em bé vô cùng dũng cảm. Tôi linh cảm đó là một chiến sĩ của tiểu đội Hoàng. Điều linh cảm ấy cũng ấy đúng.


Năm 1984, mồng 4 Tết, nhân ngày họp mặt truyền thống đầu năm của ban Quân khu 9 tại nhà của anh Ba Phấn, 6 Xô Viết Nghệ Tĩnh, thành phố Cần Thơ, tôi gặp anh Nguyễn Văn Hai, tự Nhâm, một đồng đội cũ của Trần Đổng, tôi được anh Nhâm kể cho biết thêm: "Sáng hôm đó vào khoảng tháng 5, tháng 6 gì đó - vì đó là mùa lập công chúc thọ Bác Hồ - Trần Đổng mà anh em thường gọi là "Đổng lù" vì nó mập ú, mặc quần xà-lỏn, ở trần, nó nhét hai trái lựu đạn vào túi quần lên đường lập công. Xuất phát từ ngọn cây da, nơi tiểu đội Hoàng trú quân, đi ngang qua đồn cây da, lính Hòa Hảo mới lập bót ở Vàm, anh ta vào quán mua thêm một đòn đánh tét, nhét vào túi quần để ăn cho chắc dạ. Rủi gặp bọn lính Hòa Hảo, anh bị chúng bắt đánh đập rồi dẫn qua bót lính Cần Thơ cho xét hỏi. Phần sau anh không thuật lại vì không biết gì hơn. Tôi hỏi: "Anh có ra tận pháp trường tiễn Đổng không?". Anh bảo: "Có, tôi có ra chứng kiến, nhưng lịnh trên không cho manh động. Quan khách đông lắm, công chức Cần Thơ cũng được địch cho nghỉ việc để đi xem xử bắn lần đầu tiên ở Cần Thơ. Một hàng lính 12 người, ta gọi là lính tập, giương súng lên, theo lịnh của một tên ách Tây. Lính xếp hàng bên phía chợ, Trần Đổng được cột vào một cọc trụ dựa theo lan can sắt của cầu lục tính. Đằng sau Đổng là vàm sông Cần Thơ liền với sông Hậu. Không có ghe thuyền qua lại. Im lặng, mọi người nín thở, hồi hộp. Bỗng Trần Đổng hơi cúi mình để cho bàn tay phải bị cột, cách xa khuỷu đàng sau vươn lên trước, tay giật mạnh mảnh khăn bịt mắt, quắc mắt thét lên: "Việt Nam độc lập muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm!". Tiếng hô to, át hẳn tiếng hô "Feu" của viên quan chỉ huy đội hành quyết. Tiếng nổ rời rạc có lẽ vì lính mới tập chưa quen bắn vào đồng bào của mình, nên kết quả chỉ có hai viên đạn trúng ngực, 10 viên khác vô tình hay cố ý bay lạc hướng. Viên quan phải kết thúc buổi hành quyết bằng một phát súng sáu ban ơn (coup de grâce). Bọn Pháp chuẩn bị trước: phía cuối đường đã có chiếc xe hồng thập tự đậu sẵn, thi hài Đổng được đem chôn ở ngã ba Tham Tướng". Bọn Pháp ở văn phòng trở về đúng 10 giờ, từ ngoài đường tôi đã nghe tranh cãi xôn xao. Cả Nogret cũng theo về cùng Fallon, Lotte, Zédenberg, Laurent nói: "Nó gan dạ đấy chứ! Gần chết mà còn hô khẩu hiệu". Số đông đều tán đồng. Riêng Nogret vẫn khư khư: "Gan dạ gì, tao thấy đến phút cuối da mặt nó xanh lên (au dernier moment, il a un visage pâle). Tôi ngước nhìn nó, gương mặt nó vốn lầm lì bỗng tái xanh lên. Tôi nhìn thẳng vào nó. Nó cúi xuống tránh ánh mắt tôi. Thế là rõ ai đã làm cho nó sợ? Một em bé Việt Minh! Câu chuyện chưa kết thúc. Trong phòng họp nổi lên cuộc tranh luận sôi nổi. Đó là viên hạ sĩ quan Zédenberg nêu lên ý kiến: "Liệu xử bắn mội vị thành niên có vi phạm luật pháp quốc tế không?". Không một ai dám trả lời cả! Sau khi Nogret về văn phòng của Zone, cuộc tranh luận đã bớt hẳn, và chuyển sang hướng khác thiết thực hơn. Liệu cấp Zone nhận hồ sơ hình sự từ Sở lính kín không qua cấp quân sự có thẩm quyền chẳng hạn Secteur, vì sự việc xảy ra trên địa bàn Secteur như vậy có đúng nguyên tắc không? Nhờ cuộc tranh luận đó mà sau này cả đại úy Fallon và đại úy Lotte tích cực kiến nghị với đại tá Cluset và được Cluset đồng ý, mọi hồ sơ xét xử phạm nhân từ nay về sau, khi trình lên Cluset phải thông qua 2è B. và 5è B. Secteur thẩm tra lại. Đó là một thắng lợi mãi về sau, tôi mới đánh giá hết và biết ơn những người có lương tri trong hàng ngũ gọi là quân thù, trước hết là hạ sĩ Zédenberg. Sẽ là bất công nếu không thấy điều đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2026, 09:03:35 pm »

Tôi còn nhớ rõ, lần đầu tiên tôi được Fallon giao cho một tập hồ sơ nghiên cứu, đã có ghi chữ duyệt bằng bút chì đỏ của Culset bên cạnh: "Chef de section de guérilleros, demain matin, 9 heures à fusiller au marché"1 (Trung đội trưởng du kích, sáng mai, 9 giờ sáng đem bắn tại chợ). Tôi lại hỏi: "Nếu đại tá đã quyết định thì xem lại có ích gì?". Fallon bảo: "Anh cứ xem lại kỹ nếu có chỗ nào có nghi vấn thì đề nghị đại tá ân xá". Tôi nhìn người tù nhân đang ngồi bó gối ủ rũ mà lòng tê tái. Hồ sơ dày cộm, làm thành ba tập biên bản, đánh máy có khẩu cung, có lời khai dấu chấm phẩy đầy đủ. Tên người hỏi cung, tên người trả lời đều viết rõ ràng, có ký tên đầy đủ sau câu viết theo đúng luật: Tôi xác nhận khai đúng sự thật, hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng chế, ép buộc cả luật và lệ!". Lướt qua lần đầu, không có gì đáng bắt bẻ về hình thức, thủ tục.


Tôi đọc kỹ lần thứ hai. Tên họ tôi nhớ chừng như Nguyễn Văn Hoàng, quê quán ở xã Thới Thạnh (Gái Răng) bị bắt tại nhà đang hội họp trung đội du kích bí mật. Sau đây là lời khai tóm tắt: Chức vụ: trung đội trưởng. Vũ khí: có đủ súng trường Anh, hai khẩu FM Bren (súng trung liên), và bản dịch bằng tiếng Pháp là: "Chef de section de guérilleros". Tôi đọc lại lời khai và hỏi người bị bắt: "Có đúng như vậy không?" - "Dạ đúng!". Thế là hết hy vọng! Trung đội trưởng du kích bí mật lại có vũ khí trang bị đủ một trung đội thì đúng vào loại tội danh khủng bố rồi! Tôi lật từng trang lần thứ ba, đến trang cuối cùng, có một tờ chứng minh có mộc đóng dấu son đỏ. Tôi đọc: anh Nguyễn Văn Hoàng là đội viên du kích dự bị xã Thới Thạnh. Lật lại bản dịch chứng minh thư: Le nommé Nguyễn Văn Hoàng chef de section de guérilleros. Tôi sợ mình hoa mắt, tôi đọc lại kỹ như lần trước. Tôi mừng như bắt được vàng. Đọc lại tờ chứng minh thấy có ghi hai điểm: có vết ruồi ở... Tôi nhìn kỹ anh chàng không có nốt ruồi ở đâu cả! Nhìn lại bản dịch bằng tiếng Pháp. Có lẽ thấy không cần thiết, nên người dịch miễn ghi câu đó vào bản dịch. Tôi chựng lại một phút để suy nghĩ, rồi cuối cùng, biểu anh phạm nhân đứng lên, thong thả tôi rót từng tiếng vào tai anh: "Anh nghe cho kỹ đây, mà trả lời thành thật với tôi. Chỉ có nói thật mới cứu được mạng sống cho anh. Tờ giấy này đâu phải của anh?". Anh thú thật là tờ giấy chứng minh thư không phải của anh ta. Một người nào đó đã giắt nó vào tàu lá chuối rồi bỏ chạy. Bọn lính kín bắt gán cho anh và bắt anh khai như nó đã viết trong lời hỏi cung. Tôi hỏi thêm: "Tại sao khi tới đây, tôi đâu có đánh đập gì anh mà anh gật đầu". - "Dạ phải! Tôi nghe chúng nói đến 2è B. gặp ông thì phải đúng như đã khai, nếu nói sai thì chết không kịp ngáp". Tôi nhìn anh thông cảm: "Thế thì anh cứ nhận đại cái tên đã ghi trong chứng minh thư như là của anh đi. Như thế có lợi cho anh hơn là khai lại tên khác".


Anh gật đầu. Tôi hớn hở cầm tập hồ sơ đến gặp Fallon, và nói gã: "Bọn lính kín làm ăn ẩu quá! Chứng minh thư ghi là đội viên du kích dự bị mà chúng dám dịch là trung đội trưởng du kích còn gán cho anh ta là cả trung đội binh sĩ có cả vũ khí nữa! Thật là quá lắm, suýt nữa đem ra pháp trường xử bắn oan một con người". Fallon chưa tin kêu trung úy Long đến để xác minh. Trung úy Long cũng thừa nhận là tôi nói đúng. Được thể tôi tươi cười với đại úy: "Lần này tôi xin cam đoan nếu dịch sai tôi chịu tội thay cho bị cáo". Fallon cũng vui vẻ, lần đầu tiên việc yêu cầu chuyển giao cho Secteur thẩm tra trước khi có quyết định cuối cùng đem lại sự thành công. Cluset đồng ý tha ngay bị cáo. Và xát xà phòng cho Jacquerin một trận nên thân. Bọn chúng giận tím mặt, nhưng không có cách nào thanh minh được tội cẩu thả trong công tác điều tra, suýt nữa bắn nhầm một người không có tội chết. Ngày nay, nếu anh thanh niên ấy còn sống cũng đã ngoài sáu mươi tuổi. "Cầu mong anh con cháu đầy đủ vui vầy. Kể chuyện đời cho con cháu nghe...".


Uy tín tôi thực sự được nâng cao dưới con mắt bọn Phòng Nhì Pháp. Mọi chuyện thẩm tra hồ sơ can phạm đều đưa qua tôi. Sau cùng chẳng nhớ rõ bao lâu, tôi lại được chuyển giao thẩm tra lại vụ mua bán đạn dược: "Trafic de munition" cũng vẫn nét chữ viết đỏ ngay bên lề hồ sơ "Trafiquant de munition, demain matin, 9 heures à fusiller au marché" (mua bán đạn dược, sáng mai, 9 giờ đem bắn tại chợ). Hình như đã thành một định hình trong đầu óc viên đại tá Cluset. Tất nhiên hồ sơ cũng được thẩm tra lại. Nếu không có gì phát hiện mới thì thi hành ngay, không cần chờ lệnh mới. Tôi giấu tên người thanh niên đó. Nhưng biết rõ nghề nghiệp là hớt tóc, có cái lều hớt tóc cùng xóm nơi tôi ở. Lý do nêu ra khá đơn giản: lính kín bắt được trong lều anh, ngay trong tủ đựng gạo chừng vài chục viên đạn súng trường. Lần này tôi yêu cầu Sở Cảnh sát đặc biệt cho cả nhân viên đến đối chứng. Tôi hỏi: "Có quả thật thầy kiếm mấy chục viên đạn này trong hũ gạo nhà nó phải không?". Anh nhân viên đáp: "Phải". Tôi quyết định kiểm tra ngay tại hiện trường. Để có nhân chứng, tôi rủ cả Laurent cùng đi. Rồi tôi, Laurent, thầy lính kín Nhàn, anh bị cáo mua đạn và một tên lính áp tải cùng đi đến nhà anh thợ hớt tóc, quả thật là một cái lều xơ xác che mưa nắng trên bờ rạch. Ngoài cái phòng nhỏ để hành nghề hớt tóc, phía sau có cái bếp, có hũ gạo. Chúng tôi cùng đi vào, mang theo mấy chục viên đạn tang vật. Tới nơi, tên Nhàn đi nhanh vào sau bếp, chỉ ngay vào hũ gạo nói: "Đây, tôi kiếm được trong hũ này". Tôi nói thêm: "Anh hãy diễn tả việc anh đã làm cho tôi rõ". Tôi dịch câu yêu cầu của tôi cho Laurent nghe. Laurent gật đầu. Nhàn đi ra cửa diễn tả lại, hắn đi thẳng xuống bếp, thọc tay ngay vào hũ gạo moi các viên đạn ra. Tôi hỏi đột ngột: "Thầy làm sao biết trong hũ gạo có đạn mà móc ra?". Hắn ngớ người lúng túng hồi lâu. Tôi dịch lại câu hỏi của tôi cho Laurent nghe, Laurent quan sát thấy thái độ Nhàn đứng ngớ người vì câu tôi hỏi. Tôi hỏi tiếpi: "Lúc anh xem hũ gạo có người nào làm chứng không?". Nhàn lắc đầu: "Không!". Tôi kết luận: "Thế là rõ. Anh cho tôi biết, cách đây mấy ngày, anh có chơi "xì-dách" với anh kia không?" - "Có" - "Được rồi, anh có mượn tiền của hắn không?", vẻ mặt Nhàn xịu xuống: "Có" - "Và hắn không cho, anh dọa trả thù phải không?". Nhàn làm thinh (Quái lạ! Chuyện cờ bạc vay mượn tiền sao ông ta cũng biết cả?) Ra về, tôi giữ Nhàn lại nhìn vào bộ mặt thầy bói bài có đôi mắt nheo nheo của nó, tôi nói nhỏ nhẹ: "Thôi anh tự viết đi. Tôi không lấy cung anh đâu, anh viết anh có nhận chơi xì-dách, bị thiếu 300 đồng. Hỏi mượn nó không cho, nên muốn cho nó biết tay một lần. Thế thôi, tôi sẽ xí xóa chuyện vu oan vá họa cho người khác đi. Bằng không, có tờ trình sẵn đây, tôi cứ phép công tôi làm đa!". Nhàn ngồi im phăng phắc, rồi cũng viết lời khai như tôi đã mớm. Tôi làm xong biên bản kiểm tra hiện trường, có Laurent chứng kiến. Kết luận đây là một vụ án không đủ chứng cớ để buộc tội kèm theo bản dịch lời khai của lính kín Nhàn gửi lên đại úy Fallon để trình đại tá Cluset xét lại vụ án. Kết quả tha bổng bị cáo.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM