Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:08:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm sóng gió cuộc đời  (Đọc 7849 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #60 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:42:18 pm »

Tháng 4/1948, được tin một đơn vị 3è RAC (trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3) sắp kéo một pháo 105 ly về bố trí ở đồn Rạch Gòi. Nghiên cứu tài liệu, tôi biết đây là loại pháo mới nhất được sử dụng ở chiến trường Đông Dương. Toàn bộ có 4 khẩu, ưu tiên ở chiến trường miền Tây hai khẩu: một khẩu đặt ở Bình Thủy còn một sẽ đặt ở Rạch Gòi. Từ trước đến nay ở Việt Nam, quân Pháp chỉ sử dụng pháo dã chiến 75 ly, có từ thế chiến I, pháo 75 ly chỉ có bán kính hoạt động 4 km trở lại. Còn 105 ly có thể pháo kích trong phạm vi 15 km, uy lực gấp 4 lần. Ban chỉ huy Zone Ouest bố trí pháo vị trí cố định để phòng thủ Cần Thơ từ xa, không cho các trung đoàn chủ lực Việt Minh hoạt động gần thành phố. Tôi tự đem tin đến vì cơ quan tình báo của ta dời văn phòng về Xóm Chài, chỉ cách thành phố Cần Thơ một bến đò ngang. Tôi tìm đến văn phòng, trước sân hai chú thanh niên đang tranh nhau trèo lên cây trộm nhìn sang chợ Cần Thơ cho đỡ nhớ thành phố. Tôi gặp anh Lân, thơ ký đánh máy, nghe tôi đọc bản tin về địch điều động một pháo 105 ly về Rạch Gòi, anh sửng sốt nói: "Ủa! Tuần trước trinh sát đã báo cáo địch điều hai khẩu đại bác về hướng Bạc Liêu, đã báo cáo về Khu rồi mà! Tôi nhớ gần đây địch không có lần nào điều pháo đi Bạc Liêu mà chỉ có hai xe "hủ-lô" ủi đường đi xuống làm con lộ Sóc Trăng - Bạc Liêu thôi, có lẽ trinh sát từ xa lầm là khẩu pháo, nên mới khẳng định phải cải chính lại". Cuối cùng thống nhất với nhau: "Báo cáo với Khu là hai khẩu đại bác tuần trước đã điều động về Cần Thơ, và một pháo 105 ly sắp đưa về bố trí ở Rạch Gòi. Chuẩn bị đối phó". Trước khi trở về Cần Thơ, mấy anh hỏi lại tôi: "Thế viên đại tá chỉ huy trưởng Zone Ouest tên là gì nhì?" - "Tôi đã báo cáo rồi: chỉ huy trưởng là đại tá Cluset, nay mai sẽ có đại tá St.James về thay (St.James viết như ở chai rượu Rhum St.James vuông cạnh đó) là một đại tá tình báo chuyên nghiệp". Mấy anh bất giác cười và hỏi lại tôi: "Thế không phải là Colonel de Mély sao?". Thì ra đó là thủ đoạn của cánh Quân báo. Xuất xứ chuyện ấy là: Nhân có lần trong đại hội báo cáo tình hình đồng chí tư lệnh Quân khu 9 hỏi: "Chỉ huy Zone Ouest là ai?" - "Dạ, một Colonel". "Nhưng Colonel đó tên gì? Các anh phải biết chớ". Cánh quân báo mới hội ý với nhau, thôi thì cứ cho đại nó cái tên "Mê-ly" đi có thêm chữ "đờ" càng tốt. Liền đó cánh Quân báo trả lời: "Báo cáo thủ trưởng nó tên là Colonel de Mély ạ". Thế là anh em Quân báo thoát nạn cấp trên phỏng vấn. Câu chuyện đó trở thành giai thoại cho ngành Quân báo! Dù sao tin tức đưa về Quân khu 9 cũng có tác dụng tốt, ngay trong tuần sau. Đoàn xe của 3è RAC kéo pháo 105 ly của Mỹ, lần đầu tiên đến chiến trường Đông Dương đã bị quân ta phục kích ở Tầm Vu. Khẩu 105 ly thu được đem về Bảo tàng quân đội dưới chân cột cờ Hà Nội, như một kỳ công của quân dân Nam Bộ anh hùng.


Sau này, về nghỉ hưu, cùng sinh hoạt Chi bộ P.11 (nay là P.6 quận 3), tôi đã được gặp các đồng chí tham gia đánh tháng 4/1948 ở Tầm Vu. Đồng chí Trần Văn Hoài, quê ở xã An Thới, huyện Ô Môn (Hậu Giang) nguyên là trưởng ban công binh Khu 9 cho biết theo tin của Ban Quân báo Khu 9 có một đoàn xe kéo đại bác trên đường Cần Thơ về hướng Rạch Gòi, toàn ban công binh Khu 9 gồm 7 đồng chí đều chuẩn bị ra trận, mỗi người mang theo một trái lựu đạn, cũng vác theo 4 trái đạn mortier 81 ly để làm mìn. Chúng tôi phục kích gần lộ xe ở chỗ rạch Tầm Vu, từ sáng sớm, chôn 3 trái mìn 81 ly. Bộ đội của Liên trung đoàn 122 - 123 phục kích dài khoảng 2km, dọc theo lộ để chờ đoàn xe. Đến 8 giờ, một đoàn xe khoảng 40 chiếc rầm rộ kéo đến. Chúng tôi cho nổ mìn trúng ngay chiếc xe thứ 6 có kéo theo một khẩu pháo lớn đằng sau. Chiếc xe lật ngang, một số xe khác lật xuống ruộng. Các đơn vị phục kích hai đầu đều nhất loạt hô "xung phong" tràn lên chiếm mặt đường, thu chiến lợi phẩm. Số xe đầu chạy thẳng về phía Rạch Gòi. Số sau quay đầu chạy trở về Cần Thơ. Chúng tôi tháo đại bác ra khỏi xe, hô nhau đẩy khẩu pháo qua mương. Không ngờ mương phủ lục bình sình lún sâu. Chúng tôi chạy vào nhà đồng bào mượn ván để lót và hai con trâu để kéo pháo lên. Mương dốc đứng, kéo được pháo lên thì một con đã đứt ruột chết. Ruộng đã gặt xong còn sình lầy, pháo lún ngập nửa bánh. Chúng tôi lót rơm rạ cho bánh xe lăn, dùng sức 40 người để kéo pháo đi. Đến gần Ba Mít (Trường Thành), mượn một ghe lườn 300 giạ cho nước vào ghe để chiếc ghe thấp xuống, đặt ván kéo pháo lên ghe rồi tát nước ra khỏi cho ghe nổi lên. Đến 4 giờ sáng hôm sau ra sông lớn. Đồng bào ở hai bên bờ sông chạy ra để xem khẩu pháo chưa hề thấy mà bộ đội ta đánh bắt được. Đến 5 giờ sáng, chúng tôi mua 10 chiếc đệm, chiếu để che kín pháo không cho máy bay trông thấy. Đi hai ngày hai đêm đem pháo về căn cứ an toàn. Mặc dầu đồng chí Trương Văn Giàu, lúc đó thay thế đồng chí Huỳnh Phan Hộ, khu bộ trưởng hy sinh trước đó ở Kế Sách, đã dặn nhỏ vào tai tôi: "Nếu khó quá thì phá hủy nó đi đừng để vào tay giặc".


Đó là khẩu pháo Mỹ đầu tiên quân dân ta đã đánh chiếm được trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khi nó mới đặt chân lên đất Cần Thơ. Vì vậy bộ chỉ huy Pháp hết sức lo lắng. Một mặt chúng cho điệp viên sục tìm cho ra các nơi cất giấu pháo và mặt khác chúng cho thay đổi hẳn các loại pháo. Chúng đã cho điều khẩu pháo 105 ly còn lại ở Bình Thủy về Sài Gòn. Thay thế vào đó, chúng cho đổi khẩu pháo 88 ly của Anh để phòng thủ ở trận địa Khu 9, như: Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Long Xuyên, Sóc Xoài (Rạch Giá). Chúng lo ngại nhất là bộ đội Việt Minh có pháo 105 ly dùng để bắn vào các đồn bót chúng từ xa, nên chỉ thị nghiêm ngặt quản lý các đạn pháo. Trên thực tế, quân ta có pháo nhưng không có đạn, dù có đạn cũng không có người biết sử dụng, nên pháo vẫn nằm yên cho đến ngày tập kết.


Các trận đánh vào thành phố, vào các cứ điểm của địch vẫn được tiến hành bằng cách khác. Năm 1947, hoạt động của ban hành động đoàn tình báo Cần Thơ, chủ yếu được tiến hành bằng những cuộc ném lựu đạn lẻ tẻ ban ngày không có kết quả mấy. Năm 1948, hoạt động tấn công vào thành phố, vào đồn bót do các đơn vị bộ đội mới bắt đầu. Ngoài trận đột nhập bệnh viện Cần Thơ còn có trận đánh bót Rạch Ngỗng, bót này có một trung đội lính đầu đỏ, do Ách Phẩm chỉ huy, gác ở đầu cầu sắt, anh em du kích của thị đội lợi dụng lúc 4 giờ sáng, đẩy xe thùng (xe chở đầy thùng sắt để đi dọn vệ sinh các cầu tiêu trong thành phố) qua cầu sắt như thường ngày rồi xông thẳng vào bót gác, bắn chết Ách Phẩm (tên thượng sĩ lính đầu đỏ ác ôn, tay sai của trung úy Massart). Bọn lính đã dựa vào công sự phản kích bắn chết một số chiến sĩ du kích ta, thả xác xuống rạch Cái Khế. Những xác ấy trôi đến trước bót thầy Phận, vướng cầu tàu. Bọn lính ở trong đồn thuộc đội Giang thuyền số 2, hỏi ý kiến tôi, vì nhà tôi ở sát nách bót. Tôi bảo: "Thì vớt xác lên chôn cất tử tế!" - "Bà con họ tới xin xác đem về?" - "Thì cho họ đem về chôn cũng nhẹ gánh cho các anh chớ sao!". Tuy không làm tang lễ rùm beng, nhưng ít nhất cũng được bà con chôn cất tử tế. Tất cả sáu cái hòm. Tôi lặng lẽ nhìn, không tiễn đưa, chắc bà con thông cảm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #61 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:43:42 pm »

Không lâu sau, một buổi sáng, đến làm việc, trưởng phòng 2è B. là Lacroix gọi tôi vào: "Monsieur Trần Hiến (anh ta vẫn quen gọi lễ phép như vậy) Vous avez du travail" (anh có việc làm rồi đây). Lacroix đưa cho tôi một bản báo cáo mỏng tường thuật trận Việt Minh tấn công vào bót Tham Tướng đêm qua. Một chiến sĩ bị thương bị bắt đang nằm tại bệnh viện Cần Thơ: "Hãy cầm lấy báo cáo này, anh hãy cùng với trung sĩ Joseph đến bệnh viện để lấy khẩu cung tên tù binh này cho kịp, trước khi nó chết". Joseph là một trung sĩ còn trẻ mới ở Pháp sang thay thế cho Zédenberg đã mãn hạn trở về Pháp. Chúng tôi lên xe Jeep phóng thẳng tới bệnh viện Đa khoa, nó có một phòng dành riêng cho tù binh. Xe dừng lại trước căn phòng có lính áo trắng gác cửa. Chúng tôi bước vào, một mùi không khí lẫn lộn mùi i-ốt và mùi máu mủ tanh hôi làm cho chúng tôi ngột ngạt. Joseph lấy khăn bịt mũi đứng sau tôi. Phòng có 4 giường, một giường còn trống. Hai giường khác đặt sát vách đã có người nằm. Thấy có nhà binh vào, họ nhổm dậy trố mắt nhìn chúng tôi, không có vẻ thiện cảm lắm. Trong đó có chàng thanh niên chân quấn băng. Tôi nhìn vào hồ sơ hỏi: "Trong mấy anh, ai mới bị bắt hồi hôm?". Chàng thanh niên chỉ vào cái giường đặt nằm ngay chính giữa phòng, không nói gì hết. Tôi quay lại chiếc giường cá nhân, một cái xác nằm bất động, quấn băng trắng toát từ đầu đến chân. Không nó còn sống, đôi mắt đen sì nó đảo nhìn theo tôi, quan sát từng cử chỉ của tôi, liếc nhìn lên cầu vai của tôi, có hai cái galon như con đỉa vàng có sợi chỉ đỏ ở giữa. Chả là sau những thành tích bàn giấy của tôi, từ Ách tôi được thăng lên Ách xếp, một hạ sĩ quan nhưng thường được cấp dưới quyền tâng bốc lên quan một, cả lính tây cũng như lính ta. Tôi nhìn kỹ hơn người nằm trên giường: trừ đôi mắt khá linh hoạt, toàn thân đều bất động. Thận trọng, tôi dò xét:

- Anh còn nói được không?

Thay câu trả lời, một cái gật đầu nhẹ.

- Anh họ tên gì? Thanh niên tiền phong hay dân quân tự vệ?

Tôi cố chọn những chức vụ nhỏ nhất trong hàng ngũ Việt Minh để "mớn" cung.

Người bịnh bắt đầu lên tiếng nhỏ nhẹ, chậm rãi, vừa đủ ý, không phí sức:

- Nguyễn Văn Đang, lính Hòa Hảo.

Bị bất ngờ, tôi dịch lại, Joseph cũng không kém. Mặt người bị thương vẫn kín đáo một cách lạ thường. Bịnh nhân nhìn tôi không chớp mắt:

- Anh đuổi thằng Tây ra ngoài đi, tôi mới nói.

Một sự thận trọng quá ngây thơ. Thằng Tây không biết tiếng ta.

- Nó biết khỉ khô gì. Anh cứ nói đại đi, đừng sợ.

Cái đầu băng bó vẫn bướng bỉnh, đôi mắt trâng tráo, đôi môi mấp máy một cách ương bướng:

- Anh đuổi nó đi đã.
   
Cái cố chấp của con người gần chết làm cho tôi tỉnh ngộ. Tôi vội rút khăn lau miệng, nhăn mặt, quay sang viên đội Pháp:

- Không khí phòng này khó thở quá. Tên hấp hối này là lính Hòa Hảo. Nguồn tin không đáng giá là bao, tội gì cả hai chúng mình ngồi đây hít vi trùng cho đầy phổi! Thôi, tao định thế này. Mầy cứ lấy xe về, đi dạo mát. Chiều sẽ gặp nhau. Tao sẽ có bản khẩu cung cho mày ký tên nạp cho sếp!

"D’accord" Joseph trả lời:

- Thế anh về bằng xe gì?

- Tao đi xe lôi.

Joseph mừng rơn, bắt tay cảm ơn, vội vã chuồn ra khỏi cửa, như một tên quỷ sứ vừa thoát cảnh địa ngục.

Câu chuyện có thể kéo dài, tôi kéo chiếc ghê ngồi hỏi chuyện. Trên khuôn mặt đã in sâu dấu ấn tử thần, một ánh dương thoáng qua trên vùng trán phẳng, trong đôi mắt sâu thẳm, như một tia nắng sưởi ấm lòng người.

Đang bắt đầu kể, giọng thân mật trìu mến:

- Em biết anh.... Em là em nuôi con Chín Khương đây, Khương "kèn" ấy mà. Lần anh đi họp ở Tân Quới, em chèo tam bản cho anh đó. Lần anh vào Đầu Sấu họp với anh Tám Miêng cũng có em. Nhưng em không khai anh đâu. Anh cứ yên tâm công tác.

Cổ tôi tự nhiên nghẹn lại, cố nén xúc cảm. Tôi đổi cách xưng hô:

- Thế em đã khai báo sao rồi?

- Em khai với tụi nó: em là lính Hòa Hảo của đại đội Hai Đen, đóng tại Bình Thủy, Hai Đen oán Ách Kiệt, nên sai em đánh bót Tham Tướng để trả thù. Em khai như vậy, để chúng nó đánh nhau cho đã!

Một nụ cười láu lỉnh, thông minh làm rạng lên gương mặt đã tái nhợt. Nụ cười chiến thắng của người chiến sĩ vô danh trong cuộc đấu trí với quân thù, cũng sanh tử không kém gì cuộc đấu súng. Không phải để chiến thắng hôm nay mà cho ngày mai, ngày sắp đến. Nụ cười kín đáo ấy vang dội tận đáy lòng tôi cả về trí tuệ và tình cảm... Đang đã vượt hơn tôi xa. Bản khẩu cung đến với tôi ngoài dự kiến. Ước gì không có ai, tôi sẽ ôm hôn người đồng đội dũng cảm ấy cho thỏa lòng.

Lặng người qua mấy phút, tôi hỏi tiếp:

- Tại sao em bị nặng vậy?

Một đám mây thoáng qua trên nét mặt đầy cương nghị:

- Tại lựu đạn anh Hai à! Em được phân công đánh ở đầu cầu Tham Tướng, núp dưới cầu, em đã liệng một trái, còn một trái đã mở chốt em chúi xuống đống bùn, tưởng như vậy là an toàn, chẳng may lựu đạn nổ, em bị hết nửa người. Em chết giấc. Tỉnh dậy chúng đã khiêng em vô bót, tay chân bên mặt nát bét.

Liếc nhìn qua những cuộn băng bó quanh người, nơi thấm máu, nơi khuyết lõm để ước lượng những mất mát anh ấy phải chịu, tôi muốn chia sớt nỗi niềm đau đớn:

- Em muốn giúp đỡ gì không?

Đang suy nghĩ hơi lâu, cân nhắc khả năng sống chết, rồi bình thản trả lời:

- Nhờ anh Hai báo cáo lại với mấy ảnh là em đã làm xong phận sự.

- Ăn uống được không em?

- Dạ em húp cháo lỏng được nhưng không có đường. Anh Hai cho em ít tiền để mua đường.

- Em nhờ ai mua?

- Có chú Cửu, em của Ba Cự bị giam chung đấy. Nó bị nhẹ, em nhờ được.

Tôi rút ví ra, gần cuối tháng còn đúng 9 đồng, chừa lại một đồng để trả tiền xe, tôi đưa cả cho Đang.

- Anh Hai nhét dưới chiếu cho em.

Tôi lật mí chiếu nhét tiền vào trong lúc mắt tôi đảo quanh một vòng sợ có người thấy với cử chỉ thân thiện khó giải thích được.

Nhìn vào đồng hồ đeo tay, chiếc Zénit hình chữ nhật, chiến lợi phẩm của anh Tắng đánh tàu lấy được năm trước cho tôi đeo làm kỷ niệm. Hai kim đã chồng lên nhau.

- Thôi anh về, thứ hai tới anh lại vào thăm em.

Đang gật đầu, vẻ còn lưu luyến. Bốn mắt nhìn nhau, chia tay không có được cái bắt tay, chỉ gởi gắm tất cả niềm tin yêu qua ánh mắt.

Trên chiếc xe lôi trở về nhà, tôi ôn lại cuộc gặp gỡ: những câu nói như trối trăn, như dặn dò còn đọng lại: "Em đã làm xong phận sự, em không khai anh đâu! Anh yên tâm công tác, anh đuổi thằng Tây đi". Còn bài học nào thấm thìa bằng!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #62 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:44:33 pm »

Bất giác, tôi khẽ hát lên bài "Tình đồng chí", ức chế tình cảm, ức chế âm thanh, không cho lọt vào tai anh đạp xe lôi ngồi phía trước. Xe dừng lại trước dãy phố 18 căn, tôi nhảy xuống móc túi lấy đồng bạc duy nhất còn lại trả tiền xe. Anh xe lôi lắc đầu nhất định đòi 2 đồng, giá cả đột ngột tăng lên gấp đôi, khác hẳn mọi khi. Túi cạn, nhà vắng tôi nói dứt khoát không cho y cãi:

- Mọi ngày giá một cuốc trả một đồng, nay cũng vậy thôi. Muốn lấy thêm ra bót cảnh sát mà coi niêm yết giá cả.

Anh xe lôi bực dọc cầm đồng bạc đút vào túi, gác chân qua yên xe mà nhấn bàn đạp, vừa quay đầu lại buông một câu, âm thanh vừa đủ mình tôi nghe rõ: - Đ.M! Đồ Việt gian mà còn làm phách!

Như bị một cái tát, mắt đổ đom đóm, tai nóng bừng, tôi ấn chặt bàn tay nắm tay trong túi quần, cố ghìm lại sự phản ứng. Bỗng nhiên tự cảm thấy buồn cười: đã trót mang lốt Việt gian, tất nhiên còn phải nghe nhiều tiếng chửi từ nhiều phía: đồng bào, đồng đội có khi cả đồng chí, người thân cũng không biết, đáng giận hay đáng mừng? Nên cười hay nên khóc? Dù sao với một đồng đội kiên cường, dũng cảm như anh Đang, với một đồng bào dám chửi Việt gian ngay vào mặt như anh chàng xe lôi này, khí phách anh hùng bất khuất trên mảnh đất Cần Thơ này cũng khá rõ nét. Tôi ngồi bệt xuống nền nhà, thong thả cởi đôi giày lính "sơn đá" đã làm tội hai bàn chân suốt buổi sáng. Đôi gót trần chạm vào mặt đất mát lạnh, tôi cảm thấy mát lòng, mặt đất đã truyền thêm sức sống. Như trong thần thoại Hy Lạp: Mẹ đất đã truyền sức mạnh cho con trẻ An-tên (An-thée).


Lật chiếc nón lá đậy phần cơm đặt trên bộ ván tạp, món ăn đạm bạc hàng ngày đã nguội ngắt: đĩa rau muống luộc đã ngả sang màu tím sẫm, mấy con cá chốt kho tiêu già lửa sạm đen, chén nước cơm thường lệ chắt sẵn dành cho tôi thay canh đã đóng váng. Theo thói quen từ nhỏ, tôi đập hai bàn chân vào nhau để phủi đất, ngồi xổm lên ván. Theo thói quen hằng bữa, tôi bưng chén nước cơm húp một nửa, còn một nửa để dành, gọi là để tráng miệng sau, thật ra là để dành viết báo cáo mật. Chưa bao giờ tôi thấy ăn ngon miệng như bữa cơm hôm ấy. Lòng thanh thản lạ, mọi tính toán cá nhân như biến mất, mọi lo âu trong cuộc sống hàng này như lắng xuống. Cái gì đó ở bên ngoài tôi, ở trên tôi còn đẹp đẽ hơn, lớn lao hơn, có thể nói là vô giá! Xưa nay có ai đánh giá được sự hy sinh của người chiến sĩ vô danh?


Sáng thứ hai, đúng hẹn, tôi đến bịnh viện thăm Đang, vừa đặt chân vào phòng giam, tôi dội ngược, tưởng lầm phòng. Trên chiếc giường Đang nằm hôm trước chỉ còn trơ cái vạt trống không. Một vài vệt đỏ nâu còn loang lổ. Không biết tôi đã đứng lặng bao lâu, một tù binh trẻ tuổi đùi quấn băng đến gần nhìn tôi; không chờ tôi hỏi, anh cho biết Đang chết hôm thứ 7 và đã chôn rồi. Thế là hết. Trái tim tôi như có ai bóp nhẹ. Lấy lại bình tĩnh, tôi hỏi:

- Anh có đi đưa?

- Dạ có.

- Anh nhớ kỹ phần mộ?

- Dạ nhớ.

Tôi chuyển sang câu chuyện khác, cố che giấu niềm thương cảm. Hỏi kỹ trường hợp từng người, ghi vào sổ tay để có cơ hội mà can thiệp. Tôi bắt tay từng người trước khi ra về. Những cặp mắt đã theo dõi tôi nay có phần thông cảm. Khoảng cách được rút ngắn. Một biến chuyển nào đem cái chết của Đang đã xích chúng tôi lại gần nhau. Cữu, người thanh niên bị thương ở đùi, được thả ngay, sau khi vết thương lành miệng là em của Ba Cự, tôi tin là anh đã báo cáo lại trường hợp Đang đã hy sinh với cơ quan và chỉ phần mộ của anh cho gia đình biết. Người ta đã chôn anh ở bãi nhị tỳ, sau bệnh viện Cần Thơ. Cũng ở nhị tỳ đó, anh Ba Nhì đã được chôn năm trước. Thân xác đã bị bọn Ba Dò Hòa Hảo mổ ruột, moi gan, và năm 1951, Hai Ngọc bị bọn "Com măng đô" bắn đổ ruột, cũng đã được chôn nơi ấy. Có lẽ còn nhiều chiến sĩ cách mạng khác nữa.


Đất nước thống nhất, tôi đến Cần Thơ, bệnh viện xưa vẫn còn đó, nay là bệnh viện Đa khoa của tỉnh Hậu Giang. Bãi nhị tỳ xưa là một bãi phế thải ngổn ngang sắt thép của Mỹ ngụy, như một sự phỉ báng hiện hình, đến nay đã được dọn sạch trở thành một đường phố quang đãng. Ước gì có một tấm bia kỷ niệm nơi đó, để ghi ơn những người chiến sĩ vô danh. Thăm hỏi bạn bè xưa, không ai còn nhớ rõ họ tên quê quán anh ấy ở đâu. Hỏi chị Lang vợ anh Tám Miêng, chị cho biết là anh ấy ở văn phòng tên là Lân, hình như quê ở Cờ Đỏ, chưa lập gia đình. Người chiến sĩ vô danh nào cũng thường thay đổi họ, tên, mang nhiều bí danh, bí số. Còn biết tên nào là tên để cúng cơm? Để xin giấy liệt sĩ? Sống vô danh, chết cũng vô danh. Cuộc sống như vậy phải chăng là có nghĩa? Tự kiểm mình để thấy rõ mình hơn!


Anh ấy là một thanh niên, một đội viên tiểu đội Thanh trong đoàn tình báo của Thành bộ Cần Thơ đã hy sinh như thế đó. Nhưng trong những năm 1947-1948 còn nhiều gương chiến đấu dũng cảm ở lứa tuổi thiếu niên trong tiểu đội Hoàng, Trần Đổng là người thiếu niên đầu tiên hy sinh trên pháp trường vào đầu năm 1947. Kế tiếp đó là Hoàng Thám, tiểu đội phó đã chia đôi trái lựu đạn với bọn lính kín, khi chúng đón bắt em ở chợ Cá, bên cạnh gốc dừa. Để trả thù cho Hoàng Thám, tiểu đội trưởng đã cùng một đội viên khác, cầm lựu đạn giữa ban ngày, đột nhập vào căn cứ Cao Đài (hiện nay là sân vận động Cửu Long) ném lựu đạn và cũng hy sinh vì lựu đạn ném ra để giải vây. Cùng trong năm 1948, một thiếu niên khác cũng trong tiểu đội Hoàng đã được phân công ném lựu đạn vào bọn lính ở chợ Cái Ráng, ném xong, trong đám người đông nhớn nhác, em lẩn ra ngoài bến sông, cởi áo nhảy xuống tắm. Đó là em Đặng.


Kết quả trận đánh ở căn cứ Cao Đài là hơn 20 người, hầu hết là gia đình binh sĩ Cao Đài bị thương và chết, chở vào bệnh viện Cần Thơ cùng với xác Hoàng Thanh. Căn cứ đó do một thiếu tướng Cao Đài chỉ huy: Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành. Chính sách của bọn Pháp hồi đó là sử dụng lực lượng Cao Đài Tây Ninh (thuộc phái Phạm Công Tắc) làm đối tượng cho lực lượng Hòa Hảo. Năm Lửa ở Cần Thơ. Vì vậy, từ nửa năm cuối 1947, bọn Pháp cho phép Năm Lửa đặt văn phòng liên lạc ở Cần Thơ do đại úy Ba Gà Mổ cầm đầu, thì cũng cho phép Cao Đài đặt căn cứ ngay tại sân banh do Nguyễn Văn Thành chỉ huy toàn bộ lực lượng Hòa Hảo ở miền Tây Nam Bộ. Tuy không mạnh bằng lực lượng Hòa Hảo, nhưng do được bọn Pháp bố trí và chi trả lương, nên khắp các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu và dọc theo kinh Vĩnh Tế, Tịnh Biên, Nhà Bàn.... Muốn thị sát các đồn bót Cao Đài, Nguyễn Văn Thành đều phải nhờ Pháp cho mượn phương tiện giao thông. Hôm đó, tôi được Lacroix ủy nhiệm đi theo thiếu tướng Nguyễn Văn Thành để tìm hiểu hoạt động của đồn bót Cao Đài ở Long Xuyên và Châu Đốc. Tôi đến căn cứ Cao Đài trình ủy nhiệm thư lên cho viên tư lịnh Cao Đài, Nguyễn Văn Thành nhận tờ giấy không đọc, hỏi tôi muốn gì? Sau đó, chúng tôi cùng lên một chiếc Sà-lúp (chạy bằng hơi nước đun củi) là phương tiện giao thông duy nhất giữa Châu Đốc và Cần Thơ. Con đường bộ bị phá hoại từ năm 1945 vẫn chưa được sửa chữa. Đi theo Thành có một trung đội lính Cao Đài hộ tống. Dọc sông Cần Thơ lên Long Xuyên không gặp phục kích. Chỉ từ Long Xuyên lên Châu Đốc có một loạt súng mút từ bờ bắc bắn sang. Tôi ở sau buồng lái với viên trung sĩ Pháp thích thú theo dõi thái độ của viên tướng Cao Đài trước các loạt súng phục kích. Anh ta lăn bò ra sàn ngay từ loạt đầu, rồi liếc thấy chúng tôi đang cười, anh ta lăn từng vòng đến từng binh sĩ Cao Đài đang ôm súng ở tư thế nằm bắn, sờ tim từng người ra vẻ quan tâm lo lắng. Trong chuyến du hành thị sát chung với viên tư lệnh Cao Đài ở miền Tây Nam Bộ, qua trò chuyện với binh sĩ Cào Đài, tôi phát hiện ra thêm Nguyễn Văn Thành không biết chữ, còn thua Năm Lửa tư lệnh Hòa Hảo, thiếu tướng một sao, cũng không biết chữ, nhưng còn biết vẽ được chữ Soái khi cần ký tên. Đó cũng là hai viên tướng vô học cầm đầu hai đạo binh giáo phái đầu tiên mở đầu cho việc xây dựng lực lượng bổ sung (Forces Supplétives) của quân đội viễn chinh Pháp ở miền Tây Nam Bộ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #63 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:45:13 pm »

Giữa năm 1946, thực dân Pháp cũng đã có chủ trương xây dựng lực lượng quân đội bản xứ cho chánh phủ bù nhìn Nam kỳ tự trị gọi là các tiểu đoàn lính Việt Nam (Bataillon Vietnamien) và tôi cũng được nghe nói Trường Sĩ quan Đà Lạt đã mở cửa tuyển sinh khóa đầu tiên vào học. Hôm đó tôi được tiếp xúc với 5 sĩ quan trong số 17 sĩ quan ra trường đầu tiên, cậu em trai kế cận Lâm Thị Phấn là Lâm Văn Phát, về nhà thăm mẹ và chị dẫn theo mấy bạn cùng học chung một khóa. Phát giới thiệu từng người một: Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Viết Thanh, Huỳnh Văn Tồn. Tôi chỉ ghế mời ngồi, nhưng trong lòng cứ phân vân: không biết cậu Ba Phát làm cách nào mà vào Trường Sĩ quan Đà Lạt một cách trót lọt như thế, trong lúc cậu đã cùng đi kháng chiến với ông già ở Cần Thơ rồi rút về vùng giải phóng? Tháng 6/1946, khi gia đình hồi cư ở Cần Thơ, tôi chỉ thấy bà cụ và hai cô con gái, không thấy bóng dáng cậu Phát ở Cần Thơ. Vì lẽ đó, khi có Phấn báo tôi ghi tên cậu Ba vào tổ chức Đoàn tình báo Cần Thơ thời kháng chiến chống Pháp thì tôi từ chối, viện lẽ là sĩ quan bù nhìn đã chẳng đóng góp gì cho kháng chiến lúc bấy giờ. Sau này, cả 5 sĩ quan ngụy ấy đều lên cấp tướng. Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Huỳnh Văn Tồn hiện đang di tản ra nước ngoài. Nguyễn Viết Thanh chết ở miền Tây trước ngày giải phóng. 30 năm chiến tranh, đất nước đã chứng kiến bao sự đổi thay trong một con người. Lâm Văn Phát năm ấy mới 27 tuổi là người cao tuổi nhất trong bọn sĩ quan đó, đã từng là sĩ quan "Hai hô" (Heiho) của Nhật năm 1945, đến Cách mạng tháng Tám thành công, tham gia QGTVC Cần Thơ rồi theo cha vào vùng giải phóng. Khi kháng chiến bùng nổ, chưa vợ, chỉ biết thờ cúng ông bà. Đẹp trai, cao trên 1m70, người cân đối, tác phong quân phiệt, hay đánh đập sĩ quan dưới quyền. Vì lý do nào không rõ, mấy tháng sau, tôi lại được tin Phát đã cùng nửa tá bạn bè kia rủ nhau qua Khu 8 xin đi kháng chiến, nhưng Tư lệnh Khu 8 Trần Văn Trà phân công ở trường huấn luyện bộ đội, nên đều bỏ hàng ngũ kháng chiến trở lại với quân đội bù nhìn. Chỉ riêng ở một mình anh Quang tức Khánh ở lại, lúc tập kết ra Bắc chuyển ngành làm HTX tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nội.


Trần Thiện Khiêm bổ nhiệm làm sĩ quan tình báo của Tiểu đoàn 3 BVN đóng tại Rạch Giá đến năm 1952, sau này lên đại tướng, Thủ tướng Chính phủ Thiệu, cùng gia đình kịp thời di tản trước ngày 30/4/1975, Nguyễn Khánh lên trung tướng, năm 1965, có thời kỳ làm Thủ tướng. Hiện đang là chủ tiệm cơm giữa Paris, thủ đô Pháp, Nguyễn Viết Thanh, em bà con với Tư Quí thời kỳ Mỹ ngụy, lên thiếu tướng, chết vì tai nạn máy bay trước ngày giải phóng. Huỳnh Văn Tồn trước là tỉnh trưởng Gia Định đã kịp thời cùng gia đình di tản sang Pháp trước ngày 30/4. Ai công hầu? Ai khanh tướng? Lịch sử 30 năm đất nước chống ngoại xâm đã có sự sàng lọc và phê phán. Để "thành nhân chi mỹ", như ông cha ta đã nói, người thanh niên cần phải chọn đúng hướng đi và kiên trì theo đúng hướng ngay từ thuở ban đầu.


Năm 1948, kháng chiến mới 3 năm, nhưng đã có người tỏ ra mệt mỏi, trở về đầu thú: tôi nôi đến trường hợp Lâm Quang Phòng, con một đại điền chủ tại Rạch Giá. Phòng tham gia kháng chiến năm 1945, được chỉ huy Chi đội 24 ở Rạch Giá. Năm 1948, tổ chức biên chế thành Liên trung 124-126, Phòng bị ra rìa nên bất mãn trở về đầu thú tại 2è Bureau Cần Thơ. Phòng biết tiếng Pháp nên vào trực tiếp gặp Lacroix, trung úy chỉ huy để trình bày lý do, nguyện vọng. Biết Phòng có quen với Quí, nên tôi mời Phòng về nhà ở, để khai thác những điều hắn đã khai với Lacroix. Phòng hỏi tôi: "Làm với bọn Pháp lương bổng có khá không?". Tôi trả lời: "Khá hơn bọn lính đầu đỏ, nhưng chỉ bằng 1/10 bọn lính Pháp cấp bậc tương đương". Phòng lại hỏi: "Làm với Trần Văn Hữu có khá hơn không?". Tôi đáp: "Cũng vậy thôi, vì Trần Văn Hữu dưới quyền của Pháp". Sau đó, tôi chào hắn để cho Tư Quí tiếp hắn. Trước đó tôi có trao đổi với Quí: "Chuyện Phòng ra đầu thú là chuyện đã rồi, ta chỉ cần hắn hạn chế tác hại về sau thôi". Đến thời kỳ Mỹ - Diệm, Lâm Quang Phòng lại chạy chọt lên chức quận trưởng Vĩnh Thuận, lại trở về đàn áp nông dân ở quê hương hắn. Đến ngày 30/4/1975, hắn đã lên chức đại tá, làm trong phái đoàn tiếp quản quân ngụy ở Mỹ. Nhưng cũng có một trường hợp đầu thú khác: bọn Pháp có treo giải thưởng 300 đồng cho binh sĩ Việt Minh nào ra đầu thú có mang theo vũ khí. Hôm đó có một thanh niên ra đầu thú ở Phòng Nhì Secteur Cần Thơ. Anh ta tên Võ Văn Danh, tự xưng nhân viên công an xã Phú Thứ (Cần Thơ) 23 tuổi, có mang theo một cây tiểu liên Steen. Vóc dáng nhỏ con, lông mày có xoáy ngược, miệng móm. Trần Huy được Lacroix phân công hỏi cung tên này. Tôi đến hỏi thêm: "Anh nói anh là công an, vậy anh có biết Phạm Hùng không?" - "Biết chớ" - Ông ta người như thế nào?" -   "Ốm nhom, cao gầy, đen" - "Người Nam hay Bắc?" - "Người Bắc kỳ". Tôi mỉm cười, bỏ đi. Suy nghĩ: "Phạm Hùng là người miền Nam sao lại nói miền Bắc?". Tôi cho hắn là một tên "ba xạo" không đáng tin, hoặc là đầu thú "giả". Cũng may, Danh chỉ đến lần đó thôi, không trở lại lần nào nữa. Kiểm tra lại cây súng Steen, Huy phát hiện cây súng giả, rạn nứt nòng, nên Danh không trở lại đòi tiền thưởng 300 đồng. Năm sau, 1949, tôi đổi về Long Xuyên, tôi gặp lại Danh trong đoàn công tác biệt động của Việt Dũng, nên càng tin chắc vào giả thuyết Danh là đầu thú giả, và đã tìm cách giúp cho đoàn thoát sự bao vây của địch. Danh trở thành đảng viên, hoạt động trong tổ điệp báo của tôi, cho đến ngày tôi đi tập kết, Danh được phân công ở lại, tiếp tục hoạt động cho đến ngày hoàn toàn giải phóng, Danh đã làm xong nhiệm vụ, vì lý do sức khỏe, xin nghỉ việc cơ quan về làm ruộng ở Cây Dà trên mảnh đất ông bà để lại và mất tại đó ngày 12/11/1987, thọ 62 tuổi. Một cuộc đời cách mạng đầy gian truân khổ ải. Danh mới học tới lớp 5, thành phần bần nông, tham gia cách mạng tháng 8/1945, không được học một lớp chuyên môn chính trị nào, trong lúc tôi được đi tập kết Danh ở lại mang nặng vết thương, 3 cục u nổi lên ở phổi bên trái, phía trên xương sườn bị gãy, ho khạc ra máu và chết vì ung thư ở phổi! Tôi đã đến thăm Danh ở Cây Da lúc còn sống, vào năm 1985. Tuy Danh Tất yếu, nhưng vẫn chống gậy đi cùng tôi ra thăm mộ một chiến sĩ trong đơn vị đã chết từ năm 1946 và an táng sau vườn nhà Danh. Tuy yếu nhưng Danh vẫn nhận làm tập đoàn trưởng để hướng dẫn nông dân canh tác. Tôi đã rút ra một kết luận, trong hàng ngũ đầu giặc, cũng cần phân biệt ai đầu thú thật, ai đầu thú giả, không phải chỉ bằng lời khai mà còn phải xét lại hoàn cảnh và động cơ nào hành động như thế. Còn người phải tìm lại con người thật hay giả trong các ngóc ngách tâm hồn của họ, khơi dậy cho bằng được đốm lửa của lương tâm nếu chưa phải đã tắt hết. Không phải tôi suy luận mà nhờ ở đâu đó trong truyền đơn Việt Minh, tôi đã đọc được lời dạy của Hồ Chủ Tịch: "Người Việt Nam ai ai cũng có lòng yêu nước. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn"... đã in sâu vào tâm khảm của tôi, lấy đó làm phương châm xử thế cho mãi đến bây giờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #64 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:46:47 pm »

Trung úy Lacroix vừa lên thay đại úy Fallon đã nảy sinh một sáng kiến mới: cho ra một tờ báo cho quân khu Cần Thơ bằng tiếng Việt, tờ báo giao cho Nguyễn Tư Long chủ trì, bài vở phải viết bằng tiếng Pháp, thông qua Lacroix rồi cho dịch để in ở nhà in Bắc Hà, đường Cây Bả Đậu thành phố Cần Thơ. Lacroix họp đại úy Long, thiếu úy Huy và tôi quyết định đặt tên báo. Tôi suy nghĩ trong đầu óc: "Đây là tờ báo lá cải, hạng bét trong những tờ báo lá cải, độc giả chắc chỉ là bọn lính dây đỏ và đầu đỏ đọc thôi, đối với đồng bào Cần Thơ có cho cũng không lấy". Vì vậy tôi buộc miệng thốt ra: "Lấy tên "Dây đỏ"!". Không ngờ Long và Huy đều tán thành lấy tên đó là tên báo. Bởi vì 43è RIC là đơn vị lục quân thuộc địa chỉ lực của Secteur Cần Thơ, vốn đã được thưởng Bắc đẩu bội tinh, nên binh sĩ đều được quàng thêm chiếc dây đỏ quanh vai, đồng bào lấy đó mà phân biệt với các đơn vị khác. Từ đó tôi được thêm nhiệm vụ mới: biên tập viên cho tờ báo kiêm bán báo, ngồi gần cửa ra vào, tôi còn nhớ mãi kỷ niệm "văn chương lính tẩy" lần đầu trong quân đội viễn chinh Pháp. Tờ báo số 1 Dây đỏ ra đời cần có thơ. Lacroix lục đâu trong tờ báo Pháp một bài thơ bằng tiếng Pháp, bắt tôi dịch để đăng. Một là vì thơ tiếng Pháp khó nhớ nên tôi cũng chẳng quan tâm đến nội dung cũng như tên tác giả chỉ nhớ nhan đề là "Phở Bắc"

   Phở Bắc
   Kẽo kẹt gánh hàng rong
   Tiền theo đốm lửa hồng
   Như ma trơi nhảy múa
   Như có và như không"

Dịch xong, tôi đưa cho Lacroix, Lacroix họp Long và Huy hỏi ý kiến. Long gật đầu khen dịch sát nghĩa. Huy lại tán thêm vào. Thế là cho đăng lên báo. Không ngờ tuần sau, tôi gặp đồng chí Tuệ - tên là Thiều Quang Thế - thị đội trưởng Cần Thơ, đồng chí ấy bắt tay tôi và khen bài thơ có lập trường giai cấp! Tôi muốn tặng lại lời khen đó cho tác giả người Pháp là trung úy Lacroix (hiện nay nghe đâu là thiếu tướng tình báo) người chủ tờ báo "Dây đỏ". Phần tôi khỏi mang tội bồi bút là may! Được thể, Lacroix lần khác cao hứng bảo tôi dịch thành thơ để in làm phụ trương cho tờ "Dây đỏ". Đó là bài ca truyền thống của quân đội thực dân Pháp nguyên thế kỷ 18 được gọi là binh đoàn thủy quân lục chiến (Infanterie de la marine) của nền đế chế Pháp. Bài ca có phổ nhạc hùng tráng (les gars de la marine). Tôi cũng cố gắng dịch bằng thể lục bát, nhưng dài thượt lủng ca lủng củng, càng đỡ ít người hiểu thì càng hay. Tôi thầm nghĩ để tự động viên mình. Nhưng đến khi dịch đoạn điệp khúc:

   "Mourir pour la France
   Ma mère Patrie
   Hélas! Je n'ai qu'une seule vie à lui offrir!"

Dòng máu dân tộc trong người tôi sôi sục bốc cháy. Tôi dịch luôn không ngần ngại:
   "Chết vì mẫu quốc lang-sa
   Đời tôi chỉ vậy, tức là không hai".

Lần này Lacroix đưa bản dịch cho Trần Huy góp ý. Trần Huy đọc đến hai câu đó, phấn khởi bắt tay tôi khen lấy khen để. Huy nói với Lacroix: "C’est parfait! En certains points, meilleur que l'original" (Hoàn hảo! Có chỗ còn hay hơn cả nguyên tác!).

Cảm ơn Huy. Nói làm sao hết tấm lòng tri kỷ!

Về cộng tác tuyên truyền, chủ trương của thực dân Pháp đến thời kỳ đó cũng đã cho phép sử dụng tuyên truyền tâm lý chiến, ví dụ làm những truyền đơn giả là của kháng chiến, nhưng nội dung có những đoạn xuyên tạc kháng chiến để gây chia rẽ trong hàng ngũ kháng chiến và cho tung vào vùng giải phóng. Cũng may, Secteur Cần Thơ không dùng thủ đoạn đó. Nhưng trong bất cứ thủ đoạn xuyên tạc vào Bộ Tư lệnh viễn chinh Pháp cũng có chỉ thị tuyệt đối không được động đến cá nhân Hồ Chí Minh, rõ ràng là đạo đức, tác phong Hồ Chủ Tịch không thể bị xuyên tạc. Đó là một chân lý mà kẻ thù cũng phải thừa nhận, về công tác chiến dịch, nhân dịp đầu năm 1949 đi chúc tết (hồi đó tôi đã đổi lên Long Xuyên, về Cần Thơ ăn tết, và tổng kết công tác điệp báo năm 1948 của chúng tôi), tôi đã phát hiện nhiều điều lý thú từ miệng của đại tá St.James.


Mồng một tết, tôi vào văn phòng 2è B. Cần Thơ, lúc đó đã dời về ở C.E.M, chiếm một phòng học của trường Collège Cần Thơ. Trần Huy nghỉ tết, Lacroix bèn rủ tôi đi cùng Saint James đi chúc tết các thân hữu Cần Thơ. Lựa chọn nhà cô giáo Sang, hiệu trưởng trường trung học Cần Thơ. Ngồi trên xe cho xe đảo vòng thành phố Cần Thơ dạo mát, Saint James cáo hứng muốn khoe kiến thức với cấp dưới.... ông ta quay lại hỏi Lacroix: "Anh có biết danh từ Ordre de bataille (trật tự chiến trận) xuất xứ từ đâu ra không?". Lacroix mỉm cười thú nhận là không biết. Ông ta giải thích: Đó là xuất xứ từ quân đội Pháp còn đánh giặc theo lối dàn hàng ngang. Tướng đứng trước, cấp tá đứng sau, cấp úy đứng sau cấp tá.v.v... binh sĩ đứng hàng sau cùng. Từ đó trong quân đội Pháp dùng từ ngữ đó để báo cáo và tổ chức biên chế của đơn vị thành thói quen lâu đời. Ông nói tiếp: "Thế anh có biết từ khi chúng ta tổ chức thành Zone Ouest chúng ta đã áp dụng chiến thuật gì khác trước không?". Lacroix có lẽ vì thói quen phục tùng thượng cấp nên vẫn mỉm cười: "Non, mon Colonel!". Thế là Saint James lại lên lớp: "Trước kia quân ta đổ bộ cốt chiếm các điểm đầu cầu và triển khai quân lực theo tuyến dọc tìm diệt lực lượng đối phương, chiếm lĩnh trận tuyến. Ngày nay đã tổ chức thành quân khu, thì mục tiêu chiến thuật khác trước, chúng ta chia cắt địa bàn thành từng ô vuông để đánh địch, đó gọi là "tactique de compartimentage" (chiến thuật ngăn từng ô để đánh). Tôi cố ghi nhận và sàng lọc thuật những thông tin ấy nhét kỹ vào đầu óc, không bỏ qua những kiến thức của bản thân về tình báo Pháp mà tôi được học lóm. Xe ngừng lại trước một căn phố ngói. Chúng tôi bước vào nhà chúc tết cô giáo Sang. Cô rót trà đãi khách có lễ độ nhưng có khoảng cách xã giao khá lạnh nhạt, qua thái độ đó, tôi yên tâm. Cô không phải loại H.C. (honorable correspondant) tức là không phải loại có liên hệ với bọn 2è B. Trên đường về nhà, tôi đối chiếu bài học trên xe. Năm 1948, tôi đã được chúng bảo đi trong hai cuộc hành binh càn quét. Một cuộc hành binh vùng Long Mỹ. Một cuộc hành binh vùng Ngã Năm (Sóc Trăng). Đúng là những cuộc hành binh rầm rộ trọn 3 ngày. Lực lượng bộ binh tham dự cỡ trung đoàn. Có một toán 3 chiếc máy bay "cổ cò" yểm trợ, hải quân có 2 chiếc LCM và một số giang thuyền (vedette) tham chiến. Rốt cuộc chẳng bắt được ai cả. Cuộc hành binh ở Ngã Năm, tôi đã cho Tư Quí biết trước, vì hồi đó Tư Quí có cất nhà ở Kinh Xáng Ngã Năm. Cuộc hành binh ở Long Mỹ, chúng bắt được một thầy giáo đem về 2è B. Lacroix biểu tôi hỏi cung. Tôi đưa một tờ giấy trắng cho thầy giáo viết lời khai. Tôi đọc qua lời khai thấy ổn. Thấy chỗ nghề nghiệp thầy viết là giáo viên "dạy I-tờ", tôi nhắc thầy "dạy a-b-c" đừng để dạy "I-tờ" vì đó là cải cách giáo dục vùng giải phóng. Thầy sửa lại như tôi gợi ý. Tôi dịch lại lời khai đưa lên trung úy Lacroix. Thế là được thả. Chỉ sửa lại một chữ thôi mà thầy giáo còn nhớ mãi, cho đến lúc tôi trở về vùng giải phóng, thầy còn kéo tôi về nhà đãi một bữa cháo vịt. Và đến lúc về hưu, ở P.11 - Q.3 TP.HCM, đồng chí Huê, cán bộ hưu trí gặp tôi còn kể lại nghĩa cử "sửa một chữ" như vừa nói trên do thầy giáo thuật lại cho đồng chí ấy nghe với thầm ý cảm ơn tôi. Còn tôi, thật là vô tình, đến cái tên của thầy giáo tôi cũng không còn nhớ nữa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #65 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2026, 08:47:34 pm »

Bọn lính kín vẫn đón bắt liên lạc nội thành của ta. Hôm đó, chúng bắt giải qua 2è B. một thanh niên làm nghề kéo xe lôi, anh ta khai là làm giao liên cho Việt Minh. Bị bắt vì khi bọn lính kín xét trong vành nón có tài liệu Việt Minh. Anh Tám Miêng đã cho người dặn tôi, tìm cách làm nhẹ tội cho anh ấy. Tôi thấy anh ta mệt quá, vì vừa qua một trận đòn ở sở lính kín xong, nên hỏi anh ta, bây giờ anh muốn gì? Anh lắc đầu: "Tôi mệt quá, muốn ngủ thôi". Tôi liền cho anh ta trở về khám để ngủ. Sau đó, xét lại hồ sơ, cho vào loại tù binh loại 2, đưa về trại tù binh với bản án nhẹ nhất: 2 năm. Năm 1949, anh được thả về, tiếp tục làm trưởng trạm liên lạc số 2 của Chi 50 đóng tại Ô Môn, đó là đồng chí Tư Đót. Năm 1957, làm binh vận bị bắt, rồi năm 1962 bị đày ra Côn Đảo. Trải qua hơn 15 năm chịu tù đày, đến khi giải phóng đất nước, mới được gặp mặt vợ con. Chị Đót vẫn âm thầm nuôi ba đứa con dại, chờ chồng. Anh đã được tỉnh phân công làm Giám đốc Công ty Vận tải đường bộ của thành phố Cần Thơ, và hiện nay đã nghỉ hưu.


Năm 1948, quân Pháp ở miền Tây có chủ trương tu sửa lại các đường giao thông quốc lộ số 4, nối liền các tỉnh Cần Thơ - Sóc Trăng và Bạc Liêu. Riêng con đường tỉnh lộ Cần Thơ - Long Xuyên vẫn bị cắt đứt, liên lạc đường bộ chỉ lên đến Thốt Nốt mà thôi. Đi đôi với việc sửa sang đường sá, chúng cho tổ chức xe đò và vận tải tư nhân tháp tùng theo xe quân sự có xe nồi đồng và lính hộ tống, chúng gọi là đoàn "công voa", mỗi chiếc xe tháp tùng phải có giấy phép của 2è B. tôi được lịnh của Lacroix: muốn có giấy phép lái xe phải mua 5 tờ "Giấy đỏ", mỗi tờ 1 đồng. Tiền thu được trung úy bỏ vào quỹ riêng, về mặt kinh tế, Pháp chủ trương cấm vận vào vùng giải phóng các loại súng đạn, thuốc tây, văn phòng phẩm, vải lụa và cấm lúa gạo từ vùng giải phóng ra. Trong lúc đó, ở vùng giải phóng năm đó cũng có chủ trương cấm chở lúa gạo ra thành phố. Một số ghe chài chở lúa gạo ra bị ông Tửu, Chủ tịch huyện Châu Thành ra lịnh đánh chìm làm cản ngăn tàu giặc ở Phong Điền. Tôi được tin rất bất mãn, nhưng tất nhiên không dám nói ra. Hôm đó có thương lái Hoa kiều đi chiếc xe Citroen sơn đen bóng loáng đến xin giấy phép vận chuyển của 2è B. để chở gạo ra. Nó gợi ý với tôi: "Ông nên cho tôi cái giấy phép chở lúa, tôi sẽ cho ông cái xe đó xài". Tôi cười: "Ông hãy xin giấy ông Tửu cho chở ra, tôi sẽ xin giấy cho ông nhập thị". Ông ta lặng lẽ rút trong túi áo ra tờ giấy phép của Việt Minh cho phép chở gạo ra thành phố, có mộc đỏ hẳn hoi. Tôi thầm nghĩ: "Một tay tiếp liệu cho kháng chiến". Và thế là giấy phép hẳn được ký tên. Tất nhiên, tôi không nhận chiếc xe biếu để cho nhẹ người.


Hồi đó Chiến Khu 9 và Chiến Khu 8 lấy sông Hậu Giang (Bassas) làm ranh giới, Zone Ouest (quân khu miền Tây) của quân đội Pháp bao gồm cả 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Rạch Giá, Bạc Liêu, Châu Đốc, Long Xuyên, Sóc Trang). Bộ Tư lệnh Khu 8 do đồng chí Trần Văn Trà là tư lịnh có chủ trương mở chiến dịch Cầu Kè (Trà Vinh). Một chiến dịch có quy mô lớn lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ. Quân ta bao vây bót Pắc-Sa-Ma (Zone Ouest). Đi mấy ngày về, Trần Huy được Lacroix đề nghị khen thưởng Bội tinh "Croix de guerre". Trần Huy thổ lộ với tôi: "Mình tức quá. Việt Minh đã bao vây đồn, quân trong đồn đã bắn hết cả đạn, mình chờ quân ta tới xung phong, chờ mãi không thấy ai xông vào cả. Thật là uổng". Với nhận xét ấy, tôi thấy cũng đáng thưởng huân chương. Nhưng thiết thực hơn, tôi đã đề nghị thưởng 400 đồng. Không phải vì nhận xét đó mà vì những thành tích nổi lên trong năm, Trần Huy tính tình hiền hậu, nhưng có thói xấu: mê cờ bạc. Tuy không nói ra, cố giấu tôi vì sĩ diện, nhưng tôi vẫn ngờ ngợ. Một lần anh ta hỏi tôi mượn 400 đồng... Số tiền bằng nửa số lương của tôi, làm gì tôi có sẵn. Tôi đành phải tạm vay đại úy Nguyễn Tư Long, hẹn cuối năm sẽ trả. Long mở ngăn kéo ra đưa tiền cho tôi, rồi mỉm cười: "Có phải mày vay cho Huy phải không?". Tôi gật đầu, Long nói: "Huy có hỏi mượn tao, nhưng tao không cho vì nó hay chơi tài - xỉu, chắc là để trả nợ cờ bạc đó". Tôi nghĩ lại, lần đầu Huy đã vì thụt két phải bỏ xứ vào Nam. Bạn bè muốn khuyên nhau bỏ thói xấu cũng phải từ từ. Hiện nay, cần giúp Huy trả nợ trước hết. Tôi đưa tiền cho Huy mà không nói rõ xuất xứ. Vì vậy, đến cuối năm, khi cơ quan hỏi tôi muốn được khen thưởng gì tôi báo cáo rõ với anh Tám Miêng: Tôi cần khen thưởng bằng tiền mặt, cụ thể là 400 đồng, và người được nhận thưởng là V45 Thanh Hà. Với số tiền đó, Huy đã vui vẻ nhận và trả nợ sòng phẳng cho tôi, để tôi trao lại đúng kỳ hẹn với đại úy Long.


Chúng tôi đã phân công cho chú Tư Ngà trực tiếp nắm Huy, nhưng vì có tôi ở gần, mỗi khi có tin tức gì mới, Huy được phép nói với tôi, hoặc rủ tôi ra tiệm cà phê uống bia bốc. Hễ mỗi lần Huy rủ tôi đi uống bia là có tin tức mới. Một lần, Huy rủ tôi đi ăn hủ tíu, đến tiệm, Huy giới thiệu tôi với ông già Triệu, người gốc Hàng Đào (Hà Nội), ông cụ người nhỏ con, trạc ngoài 50, là chủ sự nhà dây thép gió (VTĐ), cứ mỗi lần đi ăn hủ tíu đều rủ Huy cùng đi (lúc ấy ở Cần Thơ, ngành bưu điện chưa phục hồi các đường dây liên tỉnh, nên muốn đánh điện lên Sài Gòn phải dùng VTĐ). Ông cụ đi ăn hủ tíu mỗi lần đều móc trong túi lấy ra ve dầu Nhị Thiên Đường có đựng bột cà cuống để làm gia vị. Lần đầu được tôi làm quen với hương vị cà cuống miền Bắc, và một ông già miền Bắc rất lý thú. Tôi nghĩ ngay đến các đài VTĐ của cơ quan Tình báo Cần Thơ: một cái đài do lượm lặt từng linh kiện cũ, sử dụng bằng pin đèn bấm tay lắp ráp lại, do anh Phổ ở Khu làm ra. Nếu sử dụng được đài Cần Thơ đưa tin về Khu thì tiện biết mấy! Tôi gợi ý ấy cho Trần Huy, Trần Huy nhận lời. Tôi báo cáo về cơ quan để kỹ thuật viên tiếp tục công tác với ông Triệu. Tôi không theo dõi nữa vì thuộc ngoài chuyên môn của tôi. Có một lần tôi hỏi thăm Huy về vấn đề đó. Huy cho biết là không bắt được tần số. Nhưng sau này, tôi tập kết ra Bắc tôi gặp được anh Ban, con ông Triệu, thì mới hay Ban đã vào Khu tham gia kháng chiến, và hỏi thêm Quỳnh xụi mới biết là: hồi đó cơ quan vẫn sử dụng đài VTĐ của Bưu điện Cần Thơ. Nhưng vì lý do bảo mật nên không cho tôi biết. Để chỉ đạo công tác đặc biệt của cấp trên đã giao nhiệm vụ cho đội Chẳng, bí số V100, bí danh Thanh Đạm, nắm đầu mối đó. Một lần khác, vào khoảng giữa năm 1948, về chiều, ở trong phòng đánh máy tài liệu ra, Trần Huy đến trước bàn tôi rủ tôi đi uống bia. Tôi biết ý, móc vội 10 đồng trong ngăn kéo, cắp tay Huy đi ra khỏi cơ quan, thẳng đến hiệu quen thuộc. Vừa kêu hai cốc xong, Huy rút trong túi quần ra một xấp giấy dày cộm chuyển sang cho tôi, tôi vội cầm lấy nhét vào túi quần. Uống xong ly bia, chúng tôi chia tay. Về nhà rút tập giấy ra, mới biết là một tổng kết về phong trào Phật giáo Hòa Hảo, đi từ nguồn gốc giáo chủ Huỳnh Phú Sổ đến lúc Năm Lửa về đầu thú Pháp, tham gia vào lực lượng bổ túc (Forces Supplétives) của quân viễn chinh Pháp, dày gần 100 trang do Lacroix bỏ công sưu tầm nghiên cứu viết trong 3 tháng đầu về Cần Thơ và do Trần Huy trực tiếp đánh máy. Tôi thầm nghĩ: về mặt địch, đây là một tài liệu nghiên cứu có tầm cỡ chiến lược khá công phu của trung úy Lacroix, về mặt ta đây là một thủ đoạn điệp báo khá táo bạo đầu tiên của người Quân báo Khu 9, do Thanh Hà, V45 thực hiện. Tôi lập tức đến nhà V18 (Thanh Hương) trực tiếp giao cho cô ta đưa ngay về cơ quan Tình báo Cần Thơ, lúc bấy giờ đóng tại Miễu Ông, Bình Thủy... Cô Nhụy (V18) chuẩn bị đi ngay. Tôi vẫn chưa yên tâm: "Thế em làm cách nào đem tài liệu đi? Bởi vì, trên đường đi phải ngang bót Bình Thủy, lục xét rất kỹ, tài liệu hơn 100 trang đánh máy cũng khá dầy". Nhụy mỉm cười: "Anh cứ tin em, làm cách nào đem được thì thôi". Tôi vẫn lo ngại: "Thì em cứ cho anh biết đi". Nhụy vào phòng sau lấy cái khố bọc vệ sinh (băng) của đàn bà ra đưa tôi xem và nói: "Em sẽ nhét tài liệu vào đó, lấy thuốc đỏ bôi ngoài đưa vào chỗ kín, ai bắt được?". Tôi thầm nghĩ: "Phụ nữ có nhiều sáng kiến hơn nam giới là đúng thôi". Nhưng tôi vẫn dặn dò thêm: "Em vào lò heo xin ít huyết bầm bôi vào bên ngoài. Nghi trang vậy tốt hơn". Ngẫm nghĩ một lát, tôi dặn thêm: "Em nhớ, nếu bọn lính có đứa nào muốn làm ẩu thì cứ khai là em của anh, cứ điện về hỏi anh thì biết". Tài liệu được đưa qua trót lọt. Nhưng cũng không biết về Khu làm thế nào mà để lọt một bản vào tay bọn Tình báo vô hình, đóng tại Vĩnh Long vào khoảng 12/1948. Một cuộc điều tra xác minh được tiến hành ngay ở 2è B. Cần Thơ, nơi xuất xứ của tài liệu. Đại úy Long được tham dự cuộc hội ý trong hàng ngũ sĩ quan tham mưu Pháp ở Z.O. gặp riêng tôi dặn nhỏ: "Mầy coi chừng, không biết sao mà tài liệu mật của 2è B. Cần Thơ lại lọt vào tay 2è B. vô hình ở Vĩnh Long, cuộc họp sĩ quan đã rà xét lại tư cách từng người trong tham mưu, nhất là những người Việt Nam" - "Chúng có tình nghi ai không?" - "Chưa kết luận được. Còn tiếp tục theo dõi". Tôi nằm gác tay lên trán suy nghĩ đến mọi tình huống xấu có thể xảỹ ra. Tất nhiên Trần Huy lo lắng nhất. Mấy hôm sau đó, Lacroix gọi tôi vào phòng riêng bảo: "Anh Trần Hiến, hiện nay ở Secteur Long Xuyên đang cần một phiên dịch viên có năng lực, tôi định đổi anh lên đó, anh nghĩ sao?". Thấy tôi chưa trả lời, trung úy nói tiếp vẫn giọng nhỏ nhẹ: "Kể ra anh đi thì tôi phải mất một người cộng tác đắc lực, nhưng biết làm thế nào, ở đây thừa biên chế, nếu anh không đi thì tôi phải cử Trần Huy đi thôi". Tôi hẹn lại vài hôm sau trả lời. Tôi vào văn phòng gọi anh Tám Miêng báo cáo lại tình hình và xin ý kiến cơ quan: "Vấn đề đã rõ: quân Pháp tình nghi tôi, tôi có nên ở lại hay rút lui?". Anh Tám Miêng nói: "Ở lại hay rút lui về tùy anh quyết định, nhưng phải làm sao đừng để chúng biết được. Vấn đề Lacroix đổi anh lên Long Xuyên là một cách chúng đối phó để theo dõi. Tốt hơn hết là anh nên nghỉ công tác trong 6 tháng, cho lắng dịu đi, sẽ tiếp tục sau...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #66 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 08:47:55 pm »

Trên đường về, đầu óc tôi xoay quanh 3 câu hỏi: "Ở hay rút? Long Xuyên hay Cần Thơ? Tạm nghỉ hay tiếp tục? Về câu hỏi thứ nhất, tôi đã dứt khoát: ở, vì nếu còn ở mức độ tình nghi thì chúng chưa bắt, cao lắm là tìm cách thủ tiêu lén. Về câu hỏi thứ hai: tôi chọn Long Xuyên, vì là địa bàn mới, nếu Huy lên đó thì phải bắt đầu tổ chức lại, mà về mặt tổ chức bí mật rõ ràng tôi có kinh nghiệm hơn. Về câu hỏi thứ ba: không nghỉ việc dù là trong thời gian ngắn. Một lý do đơn giản: ta nghỉ việc, kẻ thù của ta có ngừng khủng bố ngày nào không? Vấn đề đặt ra là phải tìm cách đánh địch, vừa đánh địch vừa bảo vệ mình, mà chính đó là phương thức bảo vệ mình hoàn hảo nhất. Suy nghĩ trở thành phương châm của mọi hành động của tôi. Tôi bắt đầu phân công theo khu vực: Cần Thơ sẽ là vùng A: mọi hoạt động điệp báo ở A sẽ do Trần Huy chịu trách nhiệm, giao tài liệu trực tiếp cho chú Tư Ngà để chuyển về cơ quan. Tổ công tác Sơn, giao tài liệu trực tiếp ra cho Thanh Đạm, chỉ đạo, báo cáo gởi về chú Tư Ngà chuyển về cơ quan. Riêng Thanh Tùng (đại úy Long) tôi vẫn phải trực tiếp nắm vì anh ta chẳng chịu viết báo cáo và cũng chẳng chịu tiếp xúc với ai, ngoài tôi ra. Anh ta từng lý luận với tôi: "Tao tin mầy mới nói cho mầy biết dùng được thì dùng, không dùng được thì thôi. Tao có hỏi mầy làm gì đâu? Mầy đưa người khác tao không chịu đâu! Tao tin mầy không phải là thằng lừa thầy phản bạn nên tao mới nói ra, còn người khác nếu họ bán đứng tao thì sao? Ở đời này dễ gì phân biệt được vàng thau mầy?". Thế là tôi chịu.


Hôm sau, tôi báo lại cho Lacroix biết: là tôi đã thu xếp xong gia đình đồng ý lên Long Xuyên công tác. Một chân trời mới mở ra trước mắt. Cần Thơ với Long Xuyên chưa có liên lạc đường bộ. Tôi chưa từng bước chân tới vùng đất ấy của miền Tây Nam Bộ. Tôi đặt tên vùng đất mới là B. Thật ra theo sự phân chia địa giới quân sự hồi đó: Long Xuyên là một khu vực quân sự dưới quyền của quân khu Cần Thơ (Z.O), tôi chỉ biết là vùng đất mà 80% dân số theo đạo Hòa Hảo. Qua bản báo cáo tổng kết của trung úy Lacroix: "Đó là vùng đất của đạo Hòa Hảo là sân sau dạo mát an toàn của quân đội viễn chinh Pháp".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #67 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 08:49:19 pm »

CHƯƠNG 9
VÙNG ĐẤT MỚI


1949 - 1950

Con đường liên tỉnh Cần Thơ - Long Xuyên - Châu Đốc bị dân quân ba tỉnh bầm nát, từ cuối 1945 vẫn chưa được khôi phục. Quân đội Viễn chinh Pháp chiếm đóng ở ba tỉnh trên, chỉ tiếp tế liên lạc với nhau bằng đường thủy dọc theo sông Bassac (Hậu Giang). Đầu năm 1949, công binh vừa bắc xong cầu ván dã chiến, liền tổ chức một đoàn "công-voa" mở đường nối liền Cần Thơ với Long Xuyên. Tôi tháp tùng ngồi lên chiếc xe quân bưu, bên cạnh một chú cai còn trẻ tuổi cầm lái, tôi thấy chú có sức vóc khỏe mạnh, khá bảnh trai, liền bắt chuyện. Chú tên là Tiên người Cần Thơ, trước khi vào lính đóng lon Cai, đã làm thợ máy sửa chữa cơ khí ở 63è CR, lái xe cần cẩu, hiện giờ chú được chuyển sang CEM để lái xe quân bưu lên xuống Cần Thơ, Long Xuyên. Khi ấy, trong đầu óc tôi lóe lên một ý nghĩ: Tại sao ta không lợi dụng chiếc xe nầy đế làm liên lạc cho ta? Tôi liếc nhìn Tiên, một chàng trai duyên dáng, có nghề nghiệp dễ bắt chuyện. Một con bài dự trữ giữa A và B!

- Anh Tiên nè, mình có mấy thằng bạn ở 2è B. ở Cần Thơ, tụi mình hay đổi sách cho nhau xem, muốn nhờ Tiên đem giùm được không?

- Được, em sẽ đem đi cho. Cứ mỗi tuần thứ bảy xe về Cần Thơ, thứ hai lại lên Long Xuyên, anh cứ đưa cho em. À, mà anh thứ mấy?

- Thứ Hai, cứ gọi tôi là Hiến, tôi cũng ở Cần Thơ như anh vậy mà.

Thế là khâu giao liên kể như đã giải quyết ngay trên chiếc xe quân bưu của Zone Ouest. Nhưng về vùng đất mới này, tôi chỉ biết trên giấy tờ báo cáo mà thôi, ngoài ra tôi mù tịt.

Tôi cố ôn lại những gì tôi đã đọc được từ vùng đất mới nầy. Secteur Long Xuyên cũng nằm trong Z.O., bao gồm lãnh thổ của bốn tỉnh nhập lại: Long Xuyên - Châu Đốc - Sa Đéc - Rạch Giá. Tỉnh Long Xuyên được Pháp đánh giá là an toàn nhất, trong toàn miền Tây Nam Bộ. Dân cư 80% theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo, còn lai là Cao Đài, Thiên Chúa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, v.v... kể như không có Việt minh, cũng vì lẽ đó Bộ chỉ huy Pháp đóng tại thị xã Long Xuyên. Chỉ huy trưởng là Đại tá Duque, Phó là Trung tá Soreau, Tham mưu trưởng là Thiếu tá Masson. Trưởng phòng nhì là Trung úy Michot. Cùng đóng chung ở thị xã Long Xuyên có Ban chỉ huy Phân khu Long Xuyên (Sous Secteur) do Thiếu tá Malylte chỉ huy. Secteur Long Xuyên gồm có 4 S/Secteurs: Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Sa Đéc. Ngoại trừ S/Secteur Rạch Giá do 3è BVN (3è Bataillon Vietnamien) đóng, chỉ huy trưởng là Thiếu tá Bùi Văn Hai, sĩ quan tình báo là Trung úy Trần Thiện Khiêm (sau này là Thủ tướng Chánh phủ Thiệu), còn 3 S/Secteuiskia đều do quân đội Pháp đóng mà nòng cốt là lính của 43è RIC để khống chế các lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Háo, gọi chung là lực lượng bổ túc.


Văn phòng 2è B. Long Xuyên nằm chung với văn phòng Ban chỉ huy Secteur. Tôi bắt đầu làm quen với những đồng nghiệp mới. Trung úy Michot, người nhỏ thó, đeo kính cận, trông vẻ giống một thầy dòng phá giới. Tôi chưa kịp tìm hiểu về ông quan thầy mới của mình, chỉ biết y ít nói, chỉ mỉm cười, kín đáo khi cấp dưới gợi chuyện. Dưới quyền Michot, một trung sĩ phiên dịch, mấy tháng sau được nâng cấp lên thiếu úy, tên là Michel Đức, dân có đạo Công giáo, nguyên là một thầy Dòng. Tên nầy lớn hơn tôi 10 tuổi, rất mực tin Chúa vì ông rất đố kỵ Việt minh và Hòa Hảo. Năm đó tôi cũng được nâng cấp chuẩn úy.


Trước khi đổi lên Long Xuyên, bước đầu đặt nền móng cho liên lạc giữa A và B. Tôi chuẩn bị trong đầu vấn đề tổ chức cơ sở nội thành. Nhưng tôi phải loại ngay Michel Đức. Trong 2è B. có một thơ ký dân sự làm công tác đánh máy, anh ta tên là Sanh, người Long Xuyên. Anh ta là người được trung úy Michot giao cho giữ hồ sơ của các phiên dịch viên. Lần đầu tiên, tôi gặp anh ta trong văn phòng, ngồi một mình đang đánh máy các bản nhận xét của thủ trưởng cơ quan đối với phiên dịch viên.


Anh ta đưa hồ sơ của tôi cho tôi xem. Nhận xét cấp trên đối với tôi khá tốt, phiên dịch viên có giá trị, nghiêm túc, thanh liêm (Interprète de valeur, sérieux, intègre), tôi chưa kịp mừng, chợt nhìn lén góc trên hồ sơ có kẹp một miếng giấy nhỏ với nét chữ to viết bằng bút chì, nét chữ Michot ghi rõ: "Son beau père est Président du front Liên Việt de Cần Thơ" (Bố vợ của hắn là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Cần Thơ). Tôi nhìn vào mắt Sanh, Sanh liếc về phía bàn của thiếu úy Michel Đức đang bỏ trống. Tôi hiểu ngay cái giá của chiếc lon thiếu úy, và nhún vai, có lẽ Sanh đã có cảm tình cá nhân với tôi, hay cũng có thể vì lý do khác. Tôi đã cho điều tra thêm, và biết Sanh là tay nghiện thuốc phiện và vì vậy không chê những phần hối lộ kín đáo. Tuy vậy qua mấy lần nằm chung mâm đèn với Sanh, tôi hiểu Sanh có quen biết anh Nguyễn Thượng Đài viết thư móc nối ít nhất là cũng gây được một người có cảm tình với kháng chiến, nhưng tôi vẫn thận trọng không tổ chức Sanh vào công tác điệp báo. Dần dần Secteur Long Xuyên được bổ sung thêm đội sếp phiên dịch tên Tài, con một điền chủ Rạch Giá và một đội sếp người dân tộc Khmer tên Sơn Nam. Tài chỉ có biết tài nịnh bợ cấp trên, đón trước ý muốn của quan thầy để thỏa mãn quan thầy, hống hách với cấp dưới. Còn Sơn Nam thì chơn chất thật thà, vui thú với vợ con nên không nằm trong tiêu chuẩn lựa chọn. Trong Phòng nhì còn có một binh nhì người Pháp Ấn, tên là Amadou. Ít nói chỉ biết phục tùng máy móc mọi mệnh lệnh của cấp trên, nhưng không hay mách lẻo. Đến cuối tuần, tôi gởi một cuốn tiểu thuyết dày về cho Trần Huy, nhờ Tiên chuyển giúp. Sách vẫn còn mới, bao bằng giấy trắng, để thử đường giây liên lạc. Thứ hai tuần sau trở lên Long Xuyên. Tiên lại chuyển cho tôi một cuốn tiểu thuyết khác của Trần Huy gởi cho tôi để đọc cho đỡ buồn. Thế là Ổn!


Tuy nhiên tôi vẫn còn lắm nỗi lo: cho dù đường liên lạc có thể hình thành, thông suốt không sợ ai ngăn chặn, nhưng phải làm thế nào để có lượng tin lấy được đưa về trên thường xuyên? Tôi đọc trong hồ sơ của 2è B. Long Xuyên, từ năm 1946 đến nay, những người bị bắt hầu hết là Hòa Hảo, chỉ có một vụ năm 1947, bọn mật thám đã phát hiện trên tầng nhà lầu đúc duy nhất ở Bình Đức có một ổ Tình báo Việt minh: một người bị bắt giam mấy tháng, sau đó được thả về, và hiện đang ở tại rạch Cái Sơn, anh ta là anh Ba Bô, kháng chiến ở Long Châu Hà, nhưng có giấy tờ của 2è B. Vô hình ở Cần Thơ, xác nhận là nhân viên phòng nhì. Anh ấy đã đến gặp tôi, báo cáo cho biết là tên Giáo Tỷ có lén tổ chức Kermesse (hình thức hội chợ để thu tiền quyên góp) tại chợ Long Xuyên và bán giấy "Đảm phụ Quốc phòng" đã thu góp hơn hai chục ngàn đồng của đồng bào, có kê khai danh sách. Thay vì báo cáo lại cho 2è B. Long Xuyên, tôi báo cáo về cơ quan của ta, bổ túc hồ sơ của tên nhị trùng gián điệp đó. Tuy vậy tôi vẫn chưa tin chắc vào nguồn tin đó. Sau này, vụ án giáo Tỷ được thông báo tôi mới rõ giá trị của nguồn tin và người cung cấp tin.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #68 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:00:15 pm »

Một buổi sáng mát trời, tôi vừa đến Sở làm thì bỗng thấy Trung úy Jacques Trưởng phòng 3 (Phòng tác chiến) từ trên thang lầu bước xuống, tay cầm bức điện tín đưa lên vẩy vẩy, nói với Trung úy Michot:

- Đây còn thêm sáng kiến của Trung úy Jacquemin nữa đây, rồi lấy giọng oang oang đọc to lên: "Đề nghị Secteur Long Xuyên, trưa nay cho lực lượng bắt giữ và khám xét chiếc tàu đò Tân-Nam-Khai từ Châu Đốc về Long Xuyên. Trong hành khách có một bọn Việt minh vũ trang âm mưu tấn công tàu. Đây là công việc của 2è B. Lịnh cấp tốc điều động hai trung đội lính Âu-Phi, đến ngay bến tàu trước chợ để làm nhiệm vụ".

Tôi chán nản rảo bước đến gần chợ để xem, cảm thấy bất lực trước tai họa sắp xảy ra trước mắt mà không ngăn cản được. Bỗng tôi sửng sốt: đi ngược lại phía tôi, có hai thanh niên bận bà ba đen đang đi vội vã. Tôi đưa tay ngăn lại:

- Ủa Hai Méo, mầy đi đâu biệt tăm mấy năm nay vậy?

Hai Méo gặp tôi cũng sửng sốt và hơi hốt hoảng (Hai Méo là một đội viên của Tiểu đội Thanh từ thời kỳ là Sát Gian Đảng. Tôi cứ nghĩ là hắn đã theo Hai Tắng chuyển về Rạch Giá, không ngờ lại gặp anh ta tại chợ Long Xuyên này!). Hai Méo chỉ người đi cạnh anh ta và trả lời luôn:

- Chúng tôi cũng phải buôn bán làm ăn chút đỉnh mà sống chớ, anh Hai.

Tôi liếc sang người bên cạnh. Đúng là Danh, tên đầu thú với khẩu súng nứt nòng, đến trình diện một lần rồi mất dạng luôn. Mối liên hệ tạm thời hình thành ngay trong đầu óc tôi, giữa kỳ ngộ này với bức điện sáng nay ở Sở. Tôi hiểu ngay và chậm rãi nói:

- Tụi bây lên đây ở đâu? Ăn sáng chưa?

Tôi dẫn liền hai người về khách sạn Đông Thành ở bờ sông, gần bến đò chợ, nơi tôi ở, thì ra đó cũng là nơi hai anh ở và mướn phòng ngủ đêm, chỉ khác là hai anh ở tầng trệt, còn tôi ở tầng 3. Tôi bước vào phòng hai anh mướn, nhìn quanh không có va-ly hay hàng hóa gì cả. Ngồi xuống mép giường, tôi đột ngột hỏi ngay:

- Là anh em, tụi bây biết tao quá rồi, bây giờ tao hỏi tụi bây. Tụi bây định đánh tàu Tân-Nam-Khai phải không, nói thiệt đi?

Cả hai anh xanh mặt đành năn nỉ:

- Làm sao cứu tụi em anh Hai? Hôm qua Biệt động đội của Việt Dũng đã phái một toán vũ trang 3 súng ngắn xuống tàu ở Cần Thơ lên Châu Đốc, rồi định lúc trở về ghé Long Xuyên đón Hai Méo và Năm Danh sẽ đánh cướp tàu trên đoạn đường từ Long Xuyên về Cần Thơ để dắt về vùng Giải phóng. Không ngờ bọn lính kín đã theo dõi và bắt một người tại Cần Thơ, nên mới có bức điện đến sáng nay. Trưa nay, đúng 12 giờ tàu Tân-Nam-Khai sẽ cập bến Long Xuyên, còn 3 súng ngắn giấu trong đống củi để dưới tàu.

- Tụi bây đi dưới tàu có giấy tờ hợp pháp không?

Danh đáp:

- Có cả, ngặt cái là 3 khẩu súng nếu lộ ra thì bị bắt hết. Anh có cách nào giúp tụi em không?

Đầu óc tôi quay cuồng trong mấy câu hỏi: "Giúp thế nào? Có sai nguyên tắc bí mật không? Có thể nhờ ai? Dù sao cũng phải vì lợi ích cách mạng mà cứu người, cứu vũ khí trước hết. Trên có khiển trách mình ráng chịu. Từ ý nghĩ liều mạng đó, tôi quyết định nhanh. Hai Méo và Danh theo tôi lên tầng ba khách sạn. Phòng tôi do nhà binh Pháp mướn cho tôi ở. Mật thám không lên khách sạn được để khám xét. Trước cửa phòng có tấm danh thiếp "Aspirant Trần Hiến" như một lá chắn trước con mắt tò mò. Tôi vặn khóa bước vào, nói để trấn tĩnh hai người khách mới:

- Ở đây là tầng cuối, bọn một thám không bao giờ dám đặt chơn lên tầng nầy. Phòng hơi nóng, nhưng yên tịnh. Hai Méo mầy xuống trả phòng rồi lên đây thủ phòng. Tao với Danh đi lo công chuyện. Nên nhớ: Ai kêu mở cửa cũng đừng mở, khi nào gõ ba tiếng cách khoảng nhau mới được mở.

Dặn dò xong, tôi để chìa khóa phòng cho Hai Méo, còn tôi quơ một đống áo quần nhà binh, lấy giấy báo bọc lại vuông vức rồi bảo Danh ôm theo. Tôi hỏi Danh có đủ bỏ ba khẩu súng vào bao giấy không? Danh gật đầu. Tôi dặn:

- Nếu có ai hỏi thì áo quần nhà binh mang theo cho tôi, nghe không?

Danh gật đầu. Xong mọi việc. Chúng tôi như hai thầy trò, kẻ trước người sau, nhìn lại thấy Danh ôm bọc quần áo theo tôi như tiểu đồng lẽo đẽo theo thầy không rời tôi nửa bước. Ra khỏi cầu tàu, đã có hai hàng lính Âu-Phi sắp hàng hai bên đường. Một tên thượng sĩ người Âu chỉ huy chung. Tôi đến tàu bắt tay thượng sĩ và khen lấy lòng, chúng tôi đàng hoàng đi ngay giữa hàng lính Âu-Phi ra thẳng tới cầu tàu, chiếc Tân-Nam-Khai vẫn lù lù đỗ ở bến. Tôi nói to để mọi người dưới tàu nghe rõ:

- Mầy xuống hỏi dưới tàu trên Châu Đốc có gởi đồ của tao chưa nghe mậy?

Danh dạ ran rồi bước xuống tàu, lát sau, thấy Danh bước ra khỏi khoang đưa một gói đồ cho tôi. Tôi đưa tay ôm gói đồ khá nặng vào nách rồi cùng Danh đủng đỉnh bước ra hai hàng lính. Tôi vẫn không quên chào viên thượng sĩ Pháp mỉm cười. Viên thượng sì hỏi tôi:

- Ông khám xét tàu à?

Tôi đáp:

- Thôi để công việc bẩn thỉu đó cho bọn cảnh sát làm.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #69 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2026, 09:04:25 pm »

Về tới phòng, Danh mở gói cho tôi xem. Trong lớp quần áo cũ của tôi: 3 khẩu súng ngắn, có đầy đủ băng đạn: 1 P.38, 1 revolver hiệu Colt, 1 remington 7,65. Hai chàng thanh niên lộ vẻ hồ hởi vì vừa thoát hiểm. Riêng tôi công việc mới bắt đầu: "Làm thế nào để đưa hai chàng trai và 3 khẩu súng về vùng kháng chiến?". Công việc không dễ. Tất cả xe đò xuống Cần Thơ đều bị chận xét ở hai đầu rất kỹ. Xung quanh thị xã Long Xuyên, trong phạm vi 20km là vùng Hòa Hảo kiểm soát gắt gao, làm sao đi qua lọt? Tôi tự nhủ mình: "Ách giữa đàng phải mang vào cổ" Thôi! Phải tìm cách tháo ra chứ! Chợt nhớ đến anh chàng đã cho mình tin giáo Tỷ, nhà ở Cái Sơn. Hắn đã ở trong tổ Tình báo Long Xuyên, chắc hắn có mối liên hệ với Việt minh ở Long Xuyên, không sợ lầm phải Hòa Hảo. Tôi giữ ý nghĩ trong đầu, tôi dặn kỹ hai chàng ở trong phòng khóa cửa chờ tôi về gõ đúng 3 tiếng cách quãng nhau mới được mở. Tôi chạy ngay xuống cầu thang, xách xe đạp xuống Cái Sơn. Anh chàng thông tín viên của 2è B. Vô hình, ở trong một căn nhà 3 gian lợp tranh nhưng rộng mát, trong một cái vườn rộng 3 công khá sầm uất. Anh ta đón tôi vui vẻ, nhưng hơi ngạc nhiên, vì đây là lần đầu tiên tôi đến tận nhà. Để bắt đầu câu chuyện, tôi báo cho anh biết là Giáo Tỷ hình như Việt minh đã mời về khu rồi, ở luôn trong ấy. Tôi liếc nhìn anh ta có vẻ thản nhiên, đôi mắt còn lộ tia sáng hoan hỉ. Qua kinh nghiệm tiêp xúc, tôi biết anh ta không có liên quan gì với Giáo Tỷ và yên tâm. Tôi bắt đầu đi thẳng vào vấn đề:

- Như vậy chứng tỏ anh cho biết về Giáo Tỷ là đúng. Tôi tin anh. Bây giờ tôi còn nhờ anh một việc nữa, nên phải đến tại đây. Anh có giúp tôi không?

- Ông cứ cho biết, nếu được tôi không từ nan.

Tôi tiếp:

- Tôi muốn đưa một người ra vùng giải phóng, anh giúp được chứ? Anh ta chớp mắt đôi lần rồi hỏi lại tôi:

- Vùng nào, ông cho biết cụ thể?

- Long Châu Hậu được không?

- Long Châu Hậu tôi không quen ai cả? Long Châu Tiền họa may.

Tôi thấy anh ta tỏ ra thật tình muốn giúp, nên tôi dặn thêm:

- Anh phải đảm bảo an toàn người và của cho người đó nhé!

Anh ta gật đầu, tôi xiết chặt tay anh. Trong vòng vây của quân thù, mọi bàn tay nhân ái đều vô cùng quí giá. Trở về khách sạn Đông Thành, tôi nhảy 3 bậc lên tầng ba, gõ 3 tiếng, cánh cửa mở ra, tôi thấy vẻ mặt hai chàng biệt động thành Cần Thơ có vẻ bẽn lẽn. Hai Méo đang lật mí chiếu nhét khẩu Colt vào. Thì ra chúng vẫn chưa tin là tôi thật tâm muốn cứu chúng, tưởng tôi lừa chúng đem Tây đến bắt chúng trọn ổ. Khi nghe chân bước trên cầu thang, chúng nhìn lén qua ổ khóa, thấy tôi vẫn đi một mình nên vội vàng giấu súng đi. Hú vía, thiếu chút nữa tôi đã ăn đạn Việt minh! Tôi nói lại cho hai chàng chiến sĩ biết tình hình, rồi để cho hai chàng tự chọn cách đưa vũ khí về đơn vị. Cuối cùng quyết định: Danh sẽ theo xe Thành Long trở về Cần Thơ, báo cáo tình hình cho Việt Dũng biết. Hai Méo theo tôi về ở nhà ông bạn ở Cái Sơn, mang theo 3 khẩu súng trở về vùng kháng chiến, qua ngả Long Châu Tiền (theo đường dây của ông bạn Cái Sơn)...


Chiều hôm đó, đến cơ quan, tôi ôm bụng nhăn nhó. Thiếu úy Michel Đức hỏi: tôi nói đau bụng, anh ta bảo tôi đi về nằm nghỉ. Tôi xin phép Michel cho về phòng nằm cho đỡ đau. Tôi ra về lại cuộn 3 khẩu súng vào bộ đồ quần áo nhà binh dầy cộm, đặt sau porte-bagage xe đạp, gặp Michel Đức đứng ngay cửa hỏi tôi đi đâu? Tôi bảo đem áo quần bỏ tiệm giặt. May mà nó không ngăn lại. Lát sau Hai Méo xuống, tôi chở Hai Méo thẳng về Cái Sơn với 3 khẩu súng. Ba hôm sau, anh chàng tốt bụng cho tôi biết là: Hai Méo đã đi vào vùng kháng chiến tỉnh Long Châu Tiền rồi. Tôi yên tâm, một tháng sau, Năm Danh ở Cần Thơ, quá giang xe Năm Nghinh lên Long Xuyên. Anh Năm Nghinh là lái xe Thành Long, ở cái chòi tranh gần bến xe, đầu ngõ đi vào thị xã. Danh cho tôi biết Hai Méo và toàn bộ vũ khí đã về đến đơn vị an toàn. Sau nầy cùng công tác chung ở Chi 50, chung một tổ, Năm Danh cho biết thêm. Đúng vào hôm đó anh vẫn đinh ninh là tôi đã âm mưu thủ tiêu Hai Méo, để chiếm đoạt 3 khẩu súng, nên đã mài sẵn chiếc dũa tròn, thủ ở túi quần sau, định lụi tôi để trả hận, thì may sao, nhận được thư tay của Việt Dũng cho biết Hai Méo đã mang đu 3 súng trở về đơn vị. Tôi giật mình, thì ra nguy hiểm đến với tôi, vẫn có thể xảy ra từ nhiều phía khó lường được.


Tôi hỏi thăm về Hai Méo, người thanh niên đen như cục than hầm, miệng méo xẹo về phía má bên phải rất xấu trai, nhỏ con, ít nói nhưng rất gan dạ mà tôi đã biết trong Tiểu đội Thanh, luôn luôn theo sát bên cạnh Hai Tắng. Danh cho biết: Hai Méo về đến Long Châu Tiền cũng khá gian truân. Công an huyện Lấp Vò định giữ anh ta lại vì ham ba khẩu súng ngắn. May nhờ có anh Phan Trọng Điền, Trưởng tiểu ban Quân báo tỉnh Sa Đéc khu 8 bảo lãnh mới được trở về Cần Thơ. Từ ngày chia tay nhau ở Cái Sơn, tôi chưa hề gặp lại Hai Méo. Tập kết trở về Nam, tôi hỏi thăm Hai Tắng, thì Hai Méo đã hy sinh trong một trận tấn công đồn ở Phụng Hiệp. Người chiến sĩ vô danh ấy đã chết trước ngày Hiệp định Genève không bao lâu. Hình ảnh của anh ấy còn đậm nét trong trái tim tôi: Một chiến sĩ rất tốt, tuy có phần xấu xí vẻ bên ngoài...


 Việc giải cứu cho bộ phận Việt Dũng (Biệt động), chỉ là một dịp tình cờ, không nằm trong kế hoạch. Tôi vẫn chưa tìm được đầu mối trên đất Long Xuyên. Điểm danh sách người Việt làm cho quân đội Pháp ở Secteur Long Xuyên thấy không còn ai. Chỉ còn ở S/Secteur Long Xuyên có một trung sĩ phiên dịch: Phan Ngọc An, anh ta tuy có gia đình nhưng còn trẻ, quê ở Cần Thơ, thế là tôi nảy ra sáng kiến, mời anh em đồng hương về nhà, đãi bún bì, uống bia, sau khi hội ý với nữ đồng chí Phấn, lúc này đương nhiên là vợ tôi, tuy chưa có giá thú, vì đồng chí Phấn chưa ly hôn. Món bún bì là món sở trường của người phụ nữ Cần Thơ. Để cho xôm tiệc, tuy dọn ăn giữa sàn nhà trải chiếu, chúng tôi rước từ Cần Thơ lên hai chị em cô Xuân và Lệ lên chơi, gọi là bà con bên ngoại. Khách mời chỉ có Cai Tiên và Đội An (một là lái xe, một là phiên dịch). Bữa bún bì với bia thành công tốt đẹp. Cô Xuân, được cơ quan phân công làm liên lạc giữa hai Tổ A và B, hai chị em đều là người có nhan sắc, một điều kiện thuận lợi, để lọt qua các đồn bót dễ dàng, nếu biết chút giao thiệp. Những tuần đầu, chúng tôi vẫn trao đổi về tình cảm, qua đó tìm hiểu về tâm tư, khuynh hướng của từng người, gắn bó với nhau trong sinh hoạt, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Và, chúng tôi coi nhau như anh em ruột thịt trong một gia đình, và Tiên, An cũng không phụ lòng tin yêu của chúng tôi. Tôi còn nhớ, một lần Thanh Phong thuật lại, nghe nói tay phán Diêu làm việc ở dinh Tỉnh trưởng có nhận xét là đôi vú bà Một Hiến to như đèn pha. Tôi chỉ cười, coi đó là chuyện bình thường, nhưng Tiên nóng nảy cho đó là một nhận xét vô lễ, và đòi sẽ đánh cho nó biết để chừa không được động đến chị Hai. Tôi tưởng chú ấy nói chơi, không ngờ, chiều hôm đó Tiên gặp phán Diêu và cho anh ta một cái tát nên thân. Diêu không dám đánh lại vì Tiên khỏe hơn, nên chạy đến Sở tôi làm, báo cáo với tôi. Qua đó thấy rõ tính cách bộc trực, một người dám sống chết vì người thân, một con người tình nghĩa, sẵn sàng nhận nhiệm vụ được giao. Trong 3 năm hoạt động tại Long Xuyên, Tiên là người áp tải quân bưu cho Secteur Long Xuyên lại là được liên lạc chính giữa A và B thông qua hộp thư 52 mà không bao giờ hỏi đến nội dung công tác hay tổ chức công tác. Thế mà lại hay, đến năm 1952, tổ chức bị lộ, Xuân bị cơ quan phản gián Pháp điều tra, Tiên khỏi bị liên can. Hòa bình lập lại, tôi gặp lại Tiên ở Cần Thơ, chú ấy đã già, chú ấy vẫn là thợ máy. Chú Tư Ngà đã xác nhận công lao của Tiên trong 9 năm và theo nguyện vọng của chú muốn xin vào làm thợ máy cho xí nghiệp Vận Tải Cần Thơ do Tư Đót làm Giám đốc. Tư Đót đồng ý, nhưng chẳng kịp vào xí nghiệp thì đã từ trần. Tiên là con người trọng nghĩa tình. Phần tôi rất tiếc là chưa kịp làm tròn nghĩa vụ người anh đối với chú cũng như với bao người khác!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM