Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:20:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM  (Đọc 5470 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 29 Tháng Mười, 2025, 09:10:40 pm »

- Tên sách: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM cứu nước 1954-1975
- Tác giả: Nguyễn Văn Quyền
- Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Sự thật
- Năm xuất bản: 2022
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Kết hợp hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một trong những bài học lớn và xuyên suốt nhất của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế là một trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta. Quan điểm về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm mácxít về giải quyết mâu thuẫn dựa trên vai trò quyết định của yếu tố bên trong và tác động, ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài, cũng như từ tính chất của cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại. Ba mươi năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này.


Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là từ những năm 1948 - 1949, bối cảnh tình hình thế giới đã có những biến chuyển hết sức sâu sắc. Cục diện thế giới hai cực Xô - Mỹ bắt đầu hình thành; Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, hệ thống xã hội chủ nghĩa dần hình thành, mở rộng hoạt động từ châu Âu sang châu Á. Đảng ta đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ, gắn chặt hơn nữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, tranh thủ được sự đồng tình và công nhận của khối xã hội chủ nghĩa với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và nhận được nguồn chi viện quốc tế to lớn phục vụ công cuộc kháng chiến trong nước. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thành công của Đảng là đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ hòa nhập dòng chảy chính của những biến đổi cách mạng toàn cầu, đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại, vì hòa bình, dân sinh, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, nhờ vậy sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.


Để giúp bạn đọc có những hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của TS. Nguyễn Văn Quyền.


Đi từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, cuốn sách tập trung trình bày đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua hai giai đoạn: 1954 - 1964, 1965 - 1975; kết quả viện trợ và cách thức sử dụng hiệu quả của Việt Nam, từ đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm quý có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc quan tâm về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam, thiết thực kỷ niệm 47 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2022).

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 4 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2026, 08:42:14 pm »

LỜI NÓI ĐẦU


Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954 - 1975) oanh liệt và vẻ vang của mình,nhân dân Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ phía bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự giúp đỡ đó có ý nghĩa rất quan trọng, trực tiếp góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của một dân tộc vốn đất không rộng, người không đông, nhưng giàu lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, yêu chuộng độc lập, tự do, hòa bình, đúng như Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định: "vì đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, t.26, tr.640).


Tư tưởng tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế cho Việt Nam, gắn sự nghiệp cách mạng Việt Nam với sự nghiệp cách mạng thế giới, coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, kết hợp và phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ địch đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm khẳng định. Tư tưởng này từng bước được hiện thực hóa, trở thành đường lối, chủ trương chiến lược xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 21 năm chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975); thành phương châm xử thế của Việt Nam và thu được nhiều kết quả, đặc biệt là các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa; góp phần giúp dân tộc Việt Nam giành toàn thắng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Theo những thống kê, tổng hợp, tổng kết của các cơ quan chức năng: đối ngoại, tiếp nhận, vận chuyển, khai thác và sử dụng viện trợ quân sự của Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên 2 triệu tấn vật chất các loại, ước trị giá gần 7 tỉ rúp. Nguồn chi viện đó được quân và dân Việt Nam tiếp nhận, khai thác, sử dụng hiệu quả, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến; góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và hiển hách trong cuộc đối đầu với Mỹ suốt hơn 20 năm nửa cuối thế kỷ XX. Mỗi thắng lợi của cuộc kháng chiến đều không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa.


Tuy nhiên, để tạo đồng thuận và tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự ngày càng lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã nỗ lực vận động, dành nhiều trí lực, kịp thời đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo; đồng thời, quán triệt và tích cực tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao phong phú nhằm mở rộng quan hệ, thực hiện đoàn kết quốc tế, tranh thủ tối đa sự giúp đỡ của họ đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam vì mục tiêu chung: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Đến nay, gần tròn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt, nhưng nhiều vấn đề mới chỉ dừng ở những ẩn số, chưa được giải mã và làm sáng tỏ hoặc quan điểm giữa các bên còn khác nhau. Trong số này, nỗ lực vận động tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả sự giúp đỡ đó vẫn luôn thu hút sự quan tâm của không chỉ các học giả trong và ngoài nước, mà còn của các nhà chính trị và đông đảo nhân dân thế giới.


Trên cơ sở tiếp cận nhiều tài liệu mới, đặc biệt là những tài liệu gốc từ các trung tâm lưu trữ quốc gia, so sánh, đối chiếu với những tài liệu liên quan, cập nhật nhiều quan điểm và thành tựu nghiên cứu mới, tác giảmong muốn bước đầu phục dựng lại bức tranh về quá trình vận động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như tác dụng, ảnh hưởng to lớn của nó đối với những thắng lợi quân sự, chính trị, ngoại giao của Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua đó, góp phần làm phong phú thêm một mảng trong lịch sử đấu tranh vẻ vang toàn diện của nhân dân Việt Nam - đối ngoại, ngoại giao quân sự thời kỳ 1954 - 1975; làm sáng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; những nỗ lực trong hoạch định, tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trước bối cảnh thế giới, khu vực và cuộc chiến đấu chống Mỹ diễn ra vô cùng phức tạp và ngày càng khốc liệt. Đồng thời, tỏ rõ lòng tri ân sâu sắc của dân tộc Việt Nam đối với sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, nêu cao đạo lý và truyền thống của dân tộc "Uống nước nhớ nguồn".


Tuy phạm vi nghiên cứu về thời gian của cuốn sáchgiới hạn từ năm 1954 đến năm 1975, song để thấy căn nguyên cả quá trình ủng hộ, giúp đỡ được xuyên suốt, liền mạch, tác giả đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, mặc dầu còn khá sơ lược đề cập các nỗ lực vận động của Viẹt Nam Dân chủ Cộng hòa và kết quả giúp đỡ của các nươc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp. Cuốn sách tập trung mô tả, góp phần vào làm sáng tỏ những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả, những ảnh hưởng và tác dụng của viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa dành cho nhân dân Việt Nam (1954 - 1975) trên phông nền bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến hết sức phức tạp, khó lường định, đặc biệt là mâu thuẫn, bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa diễn ra ngày càng gay gắt.


Do mục tiêu của cuốn sách là góp thêm một cách nhìn khách quan, chân thực, đầy đủ hơn về những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vì vậy: một mặt, có nhiều sự kiện, vấn đề lịch sử gián tiếp liên quan, nhưng tác giả không lược bỏ hoặc vo tròn mà vẫn mạnh dạn trình bày, trên cơ sở đó, các chiều cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu chắc chắn sẽ được nhận thức đầy đủ và rõ hơn; mặt khác, bởi chế định của khuôn khổ cuốn sách và nhiều lý do khác nhau, còn khá nhiều vấn đề chưa thể có điều kiện công bố, cung cấp đầy đủ những thông tin và làm rõ.


Trên tinh thần khách quan nhất, tác giả cố gắng dành nhiều tâm sức khai thác các nguồn tài liệu hiện có hoặc liên quan, hoặc thuộc về phạm vi chủ đề nhằm làmrõ những nỗ lực vận động ngoại giao quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như kết quả của sự giúp đỡ về quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa đã dành cho nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, bởi nhiều lý do khác nhau, nên việc đạt được những mục tiêu đặt ra là hết sức khó khăn và chắc chắn các sự kiện, số liệu lịch sử được mô tả, đề cập chưa thật đầy đủ và trọn vẹn. Với tinh thần khiêm tốn, cầu thị và học hỏi, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến góp ý của bạn đọc để công trình ngày càng hoàn thiện hơn.


Trân trọng cảm ơn!


Hà Nội, tháng 4 năm 2022
TÁC GIẢ
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2026, 08:48:12 pm »

Chương I
VIỆT NAM TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHỮNG NĂM 1954 -1964


I-NỖ LỰC TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM KIÊN CƯỜNG CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 - 1954)

Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), nước ta trong hoàn cảnh bị bao vây, chưa được bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận về mặt ngoại giao. Bên cạnh phát huy tinh thần tự lực, tự cường là chủ yếu và có ý nghĩa quyết định, Việt Nam nỗ lực vận động tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần sớm đưa công cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Đầu tiên phải kể tới thực hiện chủ trương mở đột phá phía tây nam, thiết lập các mối liên hệ trực tiếp với một số nước Đông Nam Á, từ đó mở rộng tiếp xúc, tuyên truyền tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Theo định hướng đó, Thái Lan được chọn làm địa bàn hoạt động ngoại giao đặc biệt và là cửa ngõ duy nhất của Việt Nam tiêp xúc và liên lạc với thế giới trong quyết tâm nỗ lực phá thế bao vây của kẻ thù. Ngay khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ tiến bộ Thái Lan do Thủ tướng Priđi Banômiông đứng đầu đã đưa ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt kiều như: tạo việc làm, thả tù chính trị, cho phép xây dựng chiến khu ở vùng biên giới, lập các xưởng chế tạo và thu, mua vũ khí, mở các trại huấn luyện bộ đội đưa về Nam Bộ chiến đấu, cho phép đặt Phái viên quán là cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam tại Thủ đô Băng Cốc vào tháng 8/1946. Trên thực tế, Thái Lan còn là cửa ngõ liên lạc và là nơi trung chuyển tài liệu, cán bộ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam; nơi thu mua và tiếp nhận vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men chuyên chở về nước phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nơi tuyên truyền chủ trương, đường lối kháng chiến của Việt Nam (phát hành bản tin Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh gửi cho Việt kiều và các nước Nhật Bản, Mỹ, Anh, Miến Điện (Mianma), Pháp, Ấn Độ). Đường dây liên lạc này được giữ vững suốt những năm 1946 - 1949, theo lịch trình Nam Bộ - Cao Miên (Campuchia) - Thái Lan - Lào - Khu IV Việt Nam, có tác dụng rất lớn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương. Băng Cốc đã trở thành đầu mối quốc tế để mở rộng hoạt động của Việt Nam ở hải ngoại. Từ Phái viên quán ở Băng Cốc, Thứ trưởng Chủ tịch phủ, Phái viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã tới Nam Dương quần đảo (Inđônêxia) để tham dự Hội nghị liên Á (tháng 4/1947). Sau Hội nghị này, Thủ tướng Nam Dương gửi điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ của Inđônêxia đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam và yêu cầu trao đổi đại diện giữa hai nước.


Sau này Cục Thông tin quốc tế thành lập vào tháng 9/1947 thay thế cho Quốc tế Cộng sản giải tán từ năm 1943, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đẩy mạnh ngoại giao nhằm gia tăng ảnh hưởng và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước, trong đó có cả Liên Xô và Trung Quốc. Nhiều phái đoàn thuộc các tổ chức đoàn thể nhân dân Việt Nam được mời ra nước ngoài tham dự các diễn đàn quốc tế. Trong đó, đáng chú ý là Đại hội Thanh niên Đông Nam Á ở Ấn Độ (tháng 02/1948); Hội nghị Hội đồng Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương tại Thái Lan (tháng 01/1949); Hội nghị Nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình tại Pháp (tháng 4/1949); Hội nghị Thanh niên thế giới ở Tiệp Khắc (1949); Hội nghị Công đoàn Á - Úc tại Trung Quốc (tháng 12/1949)...


Tiếp sau chiến thắng quân sự Thu - Đông trên chiến trường Việt Bắc năm 1947 của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Tháng 01/1948, Chính phủ Việt Nam cử Thứ trưởng Chủ tịch phủ là đồng chí Phạm Ngọc Thạch làm Đặc phái viên sang dự lễ độc lập của Miến Điện, kết hợp thăm Thái Lan và Ấn Độ.


Đáp lại chuyến thăm của Đặc phái viên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Phạm Ngọc Thạch, một đoàn đại biểu Miến Điện gồm thành viên cao cấp của Chính phủ và đại diện các đoàn thế đã sang thăm vùng tự do Liên khu IV và được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chào mừng. Tháng 02/1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử cán bộ tới Yangon lập cơ quan đại diện dưới sự giúp đỡ tích cực của Chính phủ Miến Điện về cơ sở vật chất và quy chế ngoại giao. Tại đây, Việt Nam lập được Phòng Thông tin, có điện đài liên hệ với Việt Bắc để cung cấp kịp thời tin tức quốc tế cho Chính phủ. Ngoài việc đài thọ mọi chi phí hoạt động, Chính phủ Miến Điện còn quyết định giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 500 khẩu súng các loại.


Như vậy, trong hoàn cảnh tổ chức toàn dân kháng chiến, bị kẻ thù bao vây mọi mặt, Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực vượt bậc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại rộng mở đa phương, tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao phong phú với tất cả các nước có thể quan hệ được, nhằm đưa cuộc đấu tranh chính nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam ra trước dư luận thế giới, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế, phá thế bao vây cô lập của kẻ thù, phân hóa kẻ địch, duy trì và thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp kháng chiến trường kỳ và gian khổ, từng bước tạo sự thay đổi trong tương quan so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho phía cách mạng.


Tiếp tục quán triệt và thực hiện chủ trương, phương châm đối ngoại đúng đắn đó, những năm 1950 - 1954, cách mạng Việt Nam không ngừng nhận được sự đồng tình và giúp đỡ của bạn bè thế giới, đặc biệt không thể không kể tới sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả của Đảng, Chính phủ, nhân dân hai nước Trung Quốc và Liên Xô. Ngược lại, ngay từ những năm 1948 - 1949, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng theo yêu cầu của phía cách mạng Trung Quốc, Việt Nam đã chủ động giúp lương thực, thực phẩm và súng đạn cho Biên khu Điền Quế, Vân Nam, Quảng Tây (từ tháng 01/1948 đến cuối năm 1948; mỗi tháng Việt Nam gửi giúp riêng quân và dân Biên khu Điền Quế 50 tấn muối, một số lượng đáng kể đạn cối 81mm, máy ngắm của súng cối 81mm, đạn AT...); đưa lực lượng vũ trang lên hướng Biên khu Điền Quế gồm: Tiểu đoàn 73 thuộc Trung đoàn 74 Liên khu I; Tiểu đoàn 35 thuộc Trung đoàn 308 chủ lực Bộ Tổng tư lệnh; Đại đội 506 sơn pháo; 1 đại đội trợ chiến, bộ phận thông tin và quân y, 2 đại đội địa phương huyện Văn Uyên và Thoát Lãng; hướng Biên khu Việt Quế gồm: Tiểu đoàn 426 thuộc Trung đoàn 59; Tiểu đoàn 1 Trung đoàn độc lập Hải Ninh; Đại đội độc lập 1448 phối hợp với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc củng cố và mở rộng khu giải phóng Biên khu Điền Quế và Việt Quế (Quảng Đông, Quảng Tây).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2026, 08:50:19 pm »

Những nghĩa cử cao đẹp nói trên của quân và dân Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đánh giá cao. Ngày 05/01/1950, tại buổi tiếp xúc với đại diện Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thủ tướng Quốc vụ Viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai xúc động nói: "Trong lúc Việt Nam vừa nghèo, vừa phải gian khổ kháng chiến, lẽ ra phải được Trung Quốc giúp đỡ, thế mà các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ Trung Quốc"1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản cuộc tiếp xúc giữa đồng chí Chu Ân Lai với đại diện Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tư liệu nghiên cứu về quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam từ 1948 - 1979, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 20). Đồng thời, nghĩa cử cao đẹp này cũng góp phần đặt nền móng vững chắc cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước Việt - Trung trong lịch sử cách mạng mỗi nước.


Sau ngày cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời (tháng 10/1949), hậu phương kháng chiến của Việt Nam được mở rộng và nối thông với thế giới qua Trung Quốc; bối cảnh tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có nhiều chuyển biến thuận lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công tác ngoại giao nhằm làm cho nhân dân thế giới, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngày càng hiểu rõ, ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam toàn diện hơn. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đối ngoại của Việt Nam đầu năm 1950 dưới sư chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là:"Kháng chiến (của Việt Nam) đang chuyển qua một khúc ngoặt mới. Ta cần thông báo với phong trào về tình hình cách mạng Đông Dương trong những năm qua cùng những chuyển biến mới, để tranh thủ sự đồng tình và sự giúp đỡ, phối hợp"1 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr.408).


Đối với Liên Xô, sau tuyên bố chính thức của đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Thái Lan và các cuộc gặp giữa đại diện Chính phủ Liên Xôvới đồng chí Trần Văn Giàu tại Băng Cốc và Niu Đêli (Ấn Độ), hai bên cam kết sẽ có cuộc gặp kín tại châu Âu Tháng 9/1947, Chính phủ Việt Nam đã cử Thứ trưởng Chủ tịch phủ Phạm Ngọc Thạch dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam đến Thụy Sĩ để hội đàm với phái viên Chính phủ Liên Xô, chuyển thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Xtalin kêu gọi viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tài chính, quân sự và đưa vấn đề xung đột Việt - Pháp ra Liên hợp quốc. Cuộc hội đàm đã không đạt kết quả cụ thể nào. Tuy nhiên, năm 1948, Liên Xô cũng giúp Việt Nam chuẩn bị mở các cơ sở thông tin tại Ba Lan và Tiệp Khắc. Đến giữa năm 1949, Đảng Cộng sản Liên Xô thống nhất với Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương giúp nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Tháng 12/1949, tại Hội nghị Công đoàn Á - Úc tại Bắc Kinh, Trung Quốc công khai tuyên bố sẽ tích cực trợ giúp cho phong trào cách mạng Đông Dương, trong đó có sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam.


Ngày 20/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng bí mật đi thăm và làm việc với Đảng, Chính phủ Trung Quốc qua đường biên giới Cao Bằng. Cùng đi với Người trong chuyến công tác đặc biệt này có đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách công tác hậu cần quân đội.Khi tới Thủ đô Bắc Kinh, đoàn Việt Nam mới biết Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai đang ở Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc giúp Người đi Liên Xô gặp Nguyên soái Xtalin và hai vị lãnh đạo Trung Quốc để trao đổi ý kiến nhằm tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa giúp nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Được sự giúp đỡ hiệu quả của phía Trung Quốc và Đại sứ quán Liên Xô tại Thủ đô Bắc Kinh, tối 09/02/1950, Đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Mátxcơva an toàn. Tại các buổi làm việc, Nguyên soái Xtalin cùng với Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai khẳng định giúp Việt Nam: "Trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam"1 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.15). Rời khỏi đất nước Liên Xô vào chiều ngày 17/02/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh quay trở lại Bắc Kinh để bàn thảo với lãnh đạo Đảng, Chính phủ Trung Quốc cụ thể hơn về viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đánh giá về kết quả chuyến làm việc của phái đoàn Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Nhờ chuyến đi này, các lãnh tụ của hai Đảng bạn hiểu ta hơn, và đều hứa sẽ chi viện cho kháng chiến Việt Nam"1 (Dẫn theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Sdd, tr.411).


Theo những thỏa thuận giữa các nhà lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hết, Chính phủ Liên Xô trang bị cho Việt Nam 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm, một số xe vận tải Môlôtôva và thuốc quân y; Chính phủ Trung Quốc trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và 1 đơn vị pháo binh, đồng thời đảm nhận vận chuyển hàng viện trợ của Chính phủ Liên Xô cho Việt Nam. Trung Quốc sẽ cử một đoàn cố vấn quân sự sang giúp Việt Nam và đồng ý cho Việt Nam đưa Trường Sĩ quan Lục quân sang Vân Nam. Từ đây, Trung Quốc trở thành cầu nối giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, đảm nhiệm vai trò chính là nước viện trợ chủ yếu cho quân và dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Nguồn chi viện quốc tế qua con đường Trung Quốc thực sự góp phần quan trọng vào quá trình thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam. Chính Archimedes L.A. Patti, một nhà quan sát của Mỹ cũng đã từng nhận xét rằng: "Đến 1950, Mao đã ở trong thế có thể giúp đỡ ông Hồ qua đường biên giới phía Bắc Việt Nam. Ông Hồ không còn bị cô lập như trước, ông đã có rất nhiều đồng minh, trước hết là Trung Quốc và sau đólà Liên Xô. Một cuộc đấu bóng mới đã bắt đầu"1 (Dẫn theo Archimedes L.A. Patti: Tại sao Việt Nam?, Nxb. Đà Nẵng, 2007, tr.643). Đây là một nhận xét khách quan với chiều hướng vận động quốc tế từ góc nhìn của một học giả nước ngoài. Từ đó, nhân dân Việt Nam liên tục nhận được sự ủng hộ giúp đỡ thiết thực, hiệu quả từ bên ngoài, chấm dứt thời kỳ "chiến đấu trong vòng vây".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2026, 08:53:36 pm »

Những hoạt động tích cực của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần làm tăng hiểu biết của các nước anh em về sự nghiệp kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành, thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu, tranh thủ sự đồng tình và chi viện quốc tế, tạo nhiều thuận lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ của Việt Nam. Ngày 15/01/1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Sau đó, ngày 18/01/1950, Chính phủ Trung Quốc và ngày 30/01/1950, Chính phủ Liên Xô công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đến, các nước dân chủ nhân dân khác lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam như: Cộng hòa Dân chủ Đức (ngày 23/01/1950), Tiệp Khắc (ngày 02/02/1950), Hunggari (ngày 05/02/1950), Anbani (ngày 11/02/1950)... Những thắng lợi ngoại giao to lớn và có ý nghĩa này đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã khẳng định, đây thực sự: "Là một đại thắng lợi về chính trị của ta và cũng là một việc rất trọng yếu trong lịch sử nước ta. Nó ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến hiện thời. Với sự thừa nhận của các nước bạn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bắt đầu có địa vị trên trường quốc tế. Từ nay chúng ta công nhiên đứng vào hàng ngũ các nước dân chủ thế giới do Liên Xô lãnh đạo chống bọn đế quốc gây chiến do Mỹ cầm đầu. Nước ta là một nước tiền đồn trong phòng tuyến dân chủ chống đế quốc ở Đông Nam châu Á, chúng ta được sự ủng hộ nhiệt liệt của Liên Xô, Trung Hoa, các nước dân chủ khác và của nhân dân toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.11, tr.225). Phát biểu về thắng lợi chính trị này, ngày 22/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: "Việc Liên Xô, nước Trung Hoa mới và các nước dân chủ công nhận Chính phủ Cộng hòa Việt Nam đã nâng lên đến mức cao nhất niềm phấn khởi của nhân dân Việt Nam dũng cảm mà tinh thần thì rất cao và lòng can đảm thì không gì thắng nổi. Đối với Việt Nam, đó là một thắng lợi lớn về chính trị"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.6, tr.338-339).


Thực hiện thỏa thuận giữa hai nước Việt - Trung, bắt đầu từ tháng 4/1950, Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức đưa Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 36), Trung đoàn 174, Trung đoàn 209, Trung đoàn sơn pháo, 2 tiểu đoàn công binh và Trường Sĩ quan Lục quân sang học tập và huấn luyện quân sự, tiếp nhận các loại vũ khí và trang bị tại Trung Quốc (gần biên giới Việt - Trung). Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng cho chuyên chở vũ khí sang Cao Bằng trang bị tiếp cho hai trung đoàn khác của Việt Nam đang phải ứng phó với địch trên chiến trường. Để bảo đảm công tác hậu cần cho bộ đội Việt Nam trên đất Trung Quốc và tăng cường chi viện cho Việt Nam, ngày 06/8/1950, Tổng cục Hậu cần Quân Giải phóng Trung Quốc đã thành lập một văn phòng ở Nam Ninh. Những đơn vị bộ đội Việt Nam sang Trung Quốc học tập và công tác, ngoài việc được cung cấp cơ bản đầy đủ các loại vũ khí, trang bị còn được bạn giúp huấn luyện về chiến thuật. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "Các chiến sĩ quân đội Việt Nam huấn luyện ở Trung Quốc chỉ trong thời gian 3 tháng, được bắn đạn thật, nên tiến bộ rất nhanh"1 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr.16, 17).


Kể từ đây, các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của quân đội Việt Nam liên tục được bổ sung và từng bước được cải thiện đáng kể, vì: "Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn dược cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của Trung đoàn bộ binh ta đã hoàn toàn thay đổi so với trước"2 (Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Đường tới Điện Biên Phủ,Sđd, tr.16, 17). Tính đến tháng 6/1950, các trường quân sự của Trung Quốc đã giúp quân đội Việt Nam đào tạo, bồi dưỡng được 3.100 cán bộ các cấp (trong đó có 650 cán bộ trình độ trung, sơ cấp 1.200 cán bộ chỉ huy bộ binh sơ cấp, số còn lại thuộc về các binh chủng công binh, pháo binh)3 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, t.1, tr.451).


Có thể nhận thấy rõ rằng, trên thực tế từ khi đường biên giới phía bắc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai thông, theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng Việt Nam, đến hết năm 1950, phía Trung Quốc đã chi viện 3.983 tấn hàng hóa các loại, trong đó có 1.020 tấn vũ khí (kể cả số súng, đạn trang bị cho các đơn vị Việt Nam sang huấn luyện được mang về nước tham gia chiến đấu), 161 tấn quân trang, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 71 tấn hàng quân giới, 30 xe vận tải Môlôtôva, 2.634 tấn gạo1 (Dẫn theo Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr.21). Nguồn chi viện lương thực, vũ khí, đạn dược, xăng dầu đó đã góp phần quan trọng làm gia tăng sức mạnh chiến đấu của quân và dân Việt Nam, góp phần trực tiếp vào chiến thắng quân sự của Việt Nam trong chiến dịch Biên giới năm 1950. Với thắng lợi này, hậu phương kháng chiến của Việt Nam trực tiếp nối liền với Trung Quốc, qua đó nối liền với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.


Tuy nhiên, viện trợ quân sự của hai nước Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn khá hạn chế và nhỏ giọt (chưa chuyển giao pháo cao xạ 37mm và lựu pháo 105mm như đã cam kết) bởi tồn tại một số nghi ngại trong nhận thức, về ngoại giao, với phía Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ đặt đoàn đại biểu thay vì đặt đại sứ; với phía Liên Xô, Việt Nam phải quan hệ qua Trung Quốc (đại sứ Trung Quốc đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 06:42:28 pm »

Sau năm 1950, để tranh thủ thêm sự giúp đỡ của hai nước Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam tiếp tục nỗ lực đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao như lập các tổ chức hữu nghị Việt - Xô, Việt - Trung; khẳng định lập trường vô sản;Đảng Cộng sản Đông Dương ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam (1951); tích cực tuyên truyền chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt - Trung được nâng lên cấp đại sứ (tháng 4/1951) và quan hệ Việt - Xô cũng nâng lên cấp đại sứ (tháng 4/1952). Từ năm 1951, cả Liên Xô và Trung Quốc đều giúp đỡ Việt Nam xây dựng chính sách tài chính, kinh tế, đào tạo nhân lực. Tháng 7/1951, Chính phủ Trung Quốc nhận giúp xây dựng cho Việt Nam Trung đoàn lựu pháo 105mm và tiếp nhận số pháo cao xạ 37mm và cối 120mm do Chính phủ Liên Xô viện trợ (1952). Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Trung Quốc về lương thực, vũ khí, phương tiện chiến tranh được duy trì thường xuyên hơn trong những năm 1951 -1952.   Thống kê của Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, kết quả viện trợ quân sự của các nước anh em cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong ba năm 1950 - 1952 gồm: 2.402 tấn vũ khí, đạn dược; 570 tấn nguyên liệu quân giới; 1.056 tấn xăng dầu; 6.995 tấn lương thực, thực phẩm; 633 tấn quân trang, quân dụng; 105 tấn quân y; 14 tấn thông tin; 290 ô tô các loại1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.163). Bên cạnh đẩy mạnh các hoạt động vận động ngoại giao, Việt Nam nỗ lực mở các chiến dịch quân sự lớn nhằm tiếp tục khai thông toàn bộ tuyến biên giới Việt - Trung, bảo đảm sự thuận lợi trong giao lưu với quốc tế. Sau thắng lợi trong chiến dịch Biên giới năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cơ bản mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước anh em, nhưng con đường từ tiền tuyến Việt Nam với hậu phương quốc tế chưa khai thông hoàn toàn. Thực dân Pháp còn chiếm đóng các thị xã Lai Châu, Lào Cai, Móng Cái và nhiều địa bàn trọng yếu, tuyến giao thông huyết mạch. Phía ta đã mở nhiều chiến dịch quân sự liên tiếp như: Long Châu Hà 1 (10/1950), Bến Cát 2 (10 - 11/1950), Trần Hưng Đạo (12/1950 - 01/1951), Long Châu Hà 2 (2 - 3/1951), Hoàng Hoa Thám (3 - 4/1951), Sóc Trăng 2 (5 - 6/1951), Hà Nam Ninh (5 - 6/1951), Lý Thường Kiệt (9 - 10/1951), Hòa Bình (12/1951 - 02/1952), Quảng Nam (7 - 9/1952), nhưng không giải quyết dứt điểm được sự lúng túng về chiến lược. Vì vậy, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Tây Bắc là địa bàn địch yếu và có nhiều sơ hở lại là sở trường, thế mạnh tác chiến của quân đội ta.


Mặc dù Việt Nam có nhiều nỗ lực vận động, nhưng khối lượng chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Việt Nam kháng chiến còn rất hạn chế. Tính tới cuối năm 1952, số lượng súng, pháo các nước anh em đã cam kết giúp đỡ về tối Việt Nam chưa nhiều (24 khẩu súng cối 120mm, 4 khẩu pháo cao xạ 37mm); trong khi đó, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã ngưng chiến, đi vào hòa hoãn, còn phía Đảng, Chính phủ Trung Quốc chủ trương tập trung mọi nguồn lực cho việc thực hiện kếhoạch phát triển 5 năm lần thứ nhất. Những chuyển động đó gây bất lợi đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam. Ứng phó với tình hình đó, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba, tháng 4/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ lập trường, quan điểm của quân và dân Việt Nam: "Chúng ta cần phải hiểu rõ: Vô luận cuộc kháng chiến Triều Tiên sẽ phát triển thế nào, kết quả thế nào, chúng ta vẫn phải ra sức chuẩn bị lực lượng của ta cho đầy đủ lấy tự lực cánh sinh làm gốc để ứng phó với mọi phát triển của tình hình; dù tình hình ấy thuận lợi hay gay go thì ta vẫn chủ động"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.384-385). Đồng thời, Việt Nam đẩy mạnh chỉnh Đảng, chỉnh quân; thực hiện cải cách ruộng đất; khích lệ tinh thần tự lực cánh sinh, quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp. Tháng 9/1952, trong chuyến thăm và làm việc với Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo chủ trương cải cách ruộng đất của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và sẵn sàng tiếp nhận toàn bộ số cố vấn Trung Quốc sang giúp lĩnh vực công tác này. Ngày 19/12/1952, trong Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 6 năm toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định quyết tâm: "Sang năm, Chính phủ, Đảng và Mặt trận sẽ kiên quyết phát động nông dân thực hiện triệt để chính sách giảm tô, giảm tức để đảm bảo quyền lợi chính đáng của nông dân"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.519). Tháng 01/1953, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thống nhất thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất: "Chính sách ruộng đất của ta không phải cố định, trái lại phải thay đổi, biến hóa tùy theo điều kiện trong nước và ngoài nước, mỗi lúc một khác, tùy theo điều kiện của phong trào cách mạng tiến triển mà quyết định"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.11, tr.233). Chủ trương này của Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân cả nước vào tiền đồ cách mạng, vào chế độ mới.


Trước những bước đi quyết liệt, mạnh mẽ của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quan điểm và hành động ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam của Chính phủ hai nước Liên Xô, Trung Quốc đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, thuận lợi hơn. Năm 1953, hai quốc gia lớn này cùng cam kết tăng cường viện trợ các loại vũ khí, nhất là vũ khí hạng nặng cho các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đánh đuổi quân đội thực dân Pháp (viện trợ thêm 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm, 1 trung đoàn cối 107mm, 100 khẩu trọng liên 12,7mm)3 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về nhu cầu viện trợ quân sự năm 1953, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 39). Nửa đầu năm 1953,phần lớn những cam kết của Chính phủ hai nước Liên Xô và Trung Quốc được thực hiện khá hiệu quả. Liên Xô giúp trang bị cho Việt Nam xây dựng Trung đoàn pháo cao xạ 37mm. Trung đoàn pháo binh 45 hạng nặng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam do Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp huấn luyện ở Mông Tự, Vân Nam (từ tháng 7/1952 đến tháng 01/1953) và Trung đoàn pháo cao xạ 367 (thành lập ngày 01/4/1953) sau 6 tháng huấn luyện ở Tân Dương (Quảng Tây Trung Quốc) trang bị toàn bộ vũ khí do Chính phủ Liên Xô chi viện đã được Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điều quay trở về nước tham gia chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cuối năm 1953, sức mạnh phòng không - pháo binh của quân đội Việt Nam cũng tăng lên đáng kể khi có thêm 5 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm1 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Bộ Quốc phòng biên niên sự kiện 1945 - 2000 Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.143), 1 trung đoàn pháo cao xạ 37mm 1 trung đoàn lựu pháo 105mm...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 06:44:48 pm »

Khi thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ vào nửa đầu năm 1954 - một chiến dịch với quy mô lớn nhất những năm 1945 - 1954, quyết định số mệnh chính trị của quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương, Việt Nam đã được Chính phủ Trung Quốc trực tiếp chi viện 3.600 viên đạn pháo 105mm, đi theo 24 khẩu pháo giúp chuyển về nước từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch này1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.284). Sau khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc, nghĩa vụ quốc tế viện Triều kháng Mỹ của Giải phóng quân Trung Quốc giành được thắng lợi, nhưng tiêu hao vật chất cũng khá lớn, trong đó các loại đạn pháo trở nên khan hiếm, nhưng trước yêu cầu cấp thiết của chiến trường Điện Biên Phủ ở Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc quyết định chi viện thêm 7.400 viên đạn pháo 105mm, sau do công tác vận chuyển chậm nên không về kịp phục vụ chiến dịch. Và cũng trong những ngày cuối của chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp trang bị cho Việt Nam 1 tiểu đoàn ĐKZ 75mm và 12 dàn hỏa tiễn Cachiusa 6 nòng2 (Xem Tổng cục Hậu cần: Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.309).


Viện trợ về lương thực của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc cũng góp phần giải quyết đáng kể những khó khăn cấp bách đối với quân, dân Việt Nam. Những năm 1949 - 1950, nhân dân Trung Quốc đã nuôi dưỡng hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam, chi viện cho Việt Nam 2.634 tấn gạo. Từ năm 1951 đến năm 1954, nguồn lương thực, thực phẩm của quân đội Việt Nam chủ yếu được huy động từ nhân dân, Trung Quốc đã hỗ trợ thêm 1.700 tấn gạo trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chiếm 6,52% tổng nhu cầu của bộ đội ta1 (Xem Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.1, tr.137).


Ngoài trang bị vũ khí, giúp huấn luyện quân sự, chi viện lương thực, thực phẩm, Chính phủ Trung Quốc còn cử đoàn cố vấn quân sự và chính trị sang giúp cách mạng Việt Nam. Đoàn cố vấn quân sự gồm 79 người với bí danh là Đoàn công tác Hoa Nam do đồng chí Vi Quốc Thanh làm Trưởng đoàn đã có mặt tại Quảng Uyên (Cao Bằng) ngày 12/8/1950 theo đúng kế hoạch. Ngoài ra, Đảng và Chính phủ Trung Quốc còn cử đồng chí Trần Canh (nguyên Phó Tư lệnh phương diện quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự giàu kinh nghiệm, trực tiếp làm cố vấn cho Việt Nam trong chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950. Các đồng chí cố vấn luôn sát cánh cùng chiến đấu; tham mưu giúp quân đội Việt Nam xây dựng lực lượng, xây dựng kế hoạch tác chiến, làm công tác chuẩn bị chiến trường, công tác hậu cần, giúp huấn luyện kỹ chiến thuật, truyền đạt kinh nghiệm chiến đấu. Mặc dùkhông tránh khỏi một số hạn chế nhất định, nhưng đội ngũ cố vấn Trung Quốc thực sự có những đóng góp quan trọng đối với thắng lợi quân sự của Việt Nam trên chiến trường. Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của đoàn cố vấn, ngày 02/9/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn cán bộ cao cấp Việt Nam đến nơi ở của Đoàn cố vấn Trung Quốc trao Huân chương Hồ Chí Minh cao quý cho các đồng chí La Quý Ba và Vi Quốc Thanh, nhiệt liệt biểu dương tinh thần quốc tế vô sản của các đồng chí cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ nghĩa tình của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc dành cho nhân dân Việt Nam.


Theo những kết quả thống kê của ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, viện trợ quốc tế cho Việt Nam về vũ khi, nguyên liệu quân giới, vận tải, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân y, phương tiện thông tin, công binh từ năm 1950 đến năm 1954 lên tới 21.517 tấn, trị giá khoảng 136 triệu nhân dân tệ (tương đương 34 triệu rúp). Gồm một số trang bị chính: 715 ôtô vận tải; 24 khẩu sơn pháo 105mm với 11.000 viên đạn; 48 khẩu sơn pháo 75mm với 32.484 viên đạn; 76 khẩu cao xạ 37mm với 51.620 viên đạn1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 (1944 - 1954), Sđd, tr.309). Trong số vũ khí kể trên, ngoài số ôtô vận tải, pháo cao xạ, hỏa tiễn 6 nòng, tiểu liên K50 là do Chính phủ Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu chi viện, còn lại các loại vũ khí bộ binh, pháo 105mm, 75mm, lương thực, thực phẩm là do Chính phủ Trung Quốc viện trợ.


Qua đó, có thể thấy rằng, tuy khối lượng không lớn (chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng vật chất mà bộ đội chủ lực Việt Nam đã sử dụng trên chiến trường Bắc Bộ những năm 1950 - 1954), song nguồn viện trợ quốc tế từ năm 1950 đến năm 1954 là hết sức quý giá, đã phát huy tác dụng tích cực, trực tiếp góp phần giúp quân và dân Việt Nam làm nên thắng lợi vẻ vang trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngoài viện trợ về quân sự cho nhân dân Việt Nam kháng chiến, Trung Quốc còn cử nhiều đoàn cố vấn về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất sang giúp đỡ Việt Nam; giúp Việt Nam xây dựng Khu học xá Quế Lâm (Quế Lâm dục tài học hiệu), đào tạo hàng ngàn thiếu niên Việt Nam trở thành những cán bộ có đức, có tài, có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng.


Để có được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là từ phía hai nước Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực hoạt động không mệt mỏi, kể cả phải thực hiện những điều chỉnh cầnthiết trong chính sách đối nội và đối ngoại cho phù hợp hơn nhằm tranh thủ tối đa được mọi nguồn lực phục vụ cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do và hòa bình của mình. Kinh nghiệm quan hệ đối ngoại và các hoạt động vận động, tranh thủ viện trợ quốc tế của Việt Nam trong 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp, vì thế cũng thực sự trở thành tài sản quý báu đối với chính chúng ta khi bước vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt sau này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 06:49:26 pm »

II- VIỆT NAM BƯỚC VÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC CÙNG NHỮNG YÊU CẦU CẤP THIẾT VỀ CÁC NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ

Thắng lợi vĩ đại của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp nghị Giơnevơ (tháng 7/1954) công nhận nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; rút hết lực lượng quân đội viễn chinh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; mở ra thời kỳ phát triển mới, với cả những thuận lợi căn bản và không ít những trở ngại, thách thức, khó khăn, phức tạp đối với sự nghiệp cách mạng những năm tiếp theo.


Về thuận lợi, Việt Nam với nửa nước là miền Bắc đã giành được độc lập hoàn toàn, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương lớn vững chắc của cả nước; trở thành "nền tảng" đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà; có Quân đội nhân dân hùng mạnh; có hệ thống chính quyền vững chắc được thiết lập từ Trung ương xuống các địa phương; có Mặt trận Tổ quốc - nơi tập hợp lực lượng yêu nước rộng rãi đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu; có một chính đảng mácxít vững mạnh, giàu kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng với đội ngũ đảng viên và đoàn viên hơn triệu người. Toàn thể dân tộc Việt Nam một lòng hướng về, đoàn kết xung quanh Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự nghiệp cách mạng chân chính của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực, hiệu quả từ các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, từ nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, công lý trên khắp năm châu khích lệ, động viên, cổ vũ mạnh mẽ.


Theo các điều khoản pháp lý của Hiệp nghị Giơnevơ, vĩ tuyến 17 được xác định là giới tuyến quân sự tạm thời, sau hai năm, Việt Nam sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, nhưng bởi đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, nên đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Cuộc đấu tranh nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc phải trải qua muôn vàn khó khăn, gian nan, tổn thất hy sinh với nhiều hình thức và phương pháp khác nhau mới trở thành hiện thực. Miền Bắc tuy đã sạch bóng quân thù, nhưng sau chín năm trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, những hậu quả do chiến tranh để lại hết sức nặng nề: 1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 số ruộng đất không có nước tưới tiêu, 1/4 số trâu bò bị giết, nạn đói hoành hành đe dọa khắp nơi. Bên cạnh công nghiệp và nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bị đình đốn do thiếu trầm trọng nguyên liệu sản xuất, hệ thống giao thông, bưu điện bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng, lực lượng khoa học thiếu thốn... Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội diễn biến hết sức phức tạp bởi các thế lực phản động gây ra cộng với những xáo trộn về tổ chức và sai lầm trong cải cách ruộng đất những năm 1956 - 1957 khiến cho các mặt chính trị, kinh tế... của Việt Nam càng thêm nhiều khó khăn.


Trong khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn thì miền Nam Việt Nam còn tạm bị địch chiếm, nằm dưới ách thống trị hà khắc của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ chỗ lực lượng cách mạng miền Nam có chính quyền, có quân đội và vùng giải phóng, giờ đây, phần lớn cán bộ, chiến sĩ theo quy định của Hiệp nghị Giơnevơ phải lên đường tập kết ra miền Bắc. Toàn bộ hoạt động kháng chiến ở miền Nam cũng buộc phải thay đổi theo phương thức mới: vừa hợp pháp, vừa không hợp pháp, vừa công khai lại vừa bí mật, tạo ra những đảo lộn lớn, gây nên sự xáo trộn và các tác động mạnh mẽ khác nhau tới tâm tư, tình cảm của đồng bào đồng chí miền Nam ruột thịt.


Âm mưu xâm lược miền Nam của chính quyền Mỹ có từ rất sớm. Hiệp nghị Giơnevơ vừa được ký kết và có hiệu lực thì Mỹ đã gấp rút lập nên Khối quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam nằm trong "khu vực bảo hộ" của Khối này, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của chúng - một tiền đồn ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á chia cắt lâu dài lãnh thổ Việt Nam. Một mặt, chính quyền Mỹ công khai đưa cô" vấn quân sự cùng các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh, tiền bạc vào miền Nam ngày càng tăng. Số lượng cố vấn quân sự từ 200 người năm 1954 nhanh chóng tăng lên 3.500 người vào năm 1961. Mặt khác, Chính phủ Mỹ gấp rút tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Sài Gòn những năm 1955 - 1961 lên tới con số hàng tỉ đôla, giúp xây dựng các đơn vị quân đội, bộ máy cảnh sát, mật vụ. Mỹ cũng đồng thời hốỉ thúc chính quyền Ngô Đình Diệm phá hoại tổng tuyển cử, thực hiện chiến lược "Chiến tranh một phía" chống lại nhân dân miền Nam. Chúng thi hành hàng loạt chính sách độc tài phát xít dã man, tàn bạo như quốc sách "tố cộng", "diệt cộng", lập khu trù mật, khu dinh điền, lập ấp chiến lược; tiến hành hàng trăm chiến dịch càn quét, hàng ngàn vụ thảm sát đẫm máu, bắt giam cầm và giết hại hàng chục vạn đồng bào và đảng viên, chiến sĩ cách mạng miền Nam. Vì thế, cách mạng miền Nam nước ta bị tổn thất nặng nề về tổ chức và lực lượng.


Con đường giải phóng đất nước của nhân dân Việt Nam mới đi được một nửa. Cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, hòa bình dân tộc, thống nhất Tổ quốc chưa hoàn thành. Chúng ta phải đi tiếp chặng đường đấu tranh mới với nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong cuộc đấu tranh khốc liệt này, cách mạng Việt Nam phải đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, cùng một lúc giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việt Nam thực sự trở thành ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và là một tiền đồn của phe chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Á. Lịch sử đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam trên cả hai miền đất nước những vấn đề hết sức mới mẻ, nhưng cực kỳ phức tạp, cần phải được giải quyết thỏa đáng nhằm đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên. Điều đó đặt ra và đòi hỏiĐảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng; sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh của Đảng cần đúng đắn, chủ động, nhạy bén, linh hoạt và sáng tạo... Toàn thể quân và dân Việt Nam từ Bắc tới Nam, từ đồng bằng lên miền núi phải nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, kiên cường chiến đấu chống Mỹ, cứu nước dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 06:51:03 pm »

Trên bình diện thế giới, nửa cuối những năm 50 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, làm tan rã từng mảng lớn thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện cho nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc về kinh tế. Từ năm 1955 đến năm 1965, đã có tổng cộng 39 quốc gia giành được độc lập hoàn toàn; chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ hoàn toàn trên thế giới.


Tháng 4/1955, tại Băngđung (Inđônêxia), đại diện của 29 quốc gia châu Á, châu Phi đã nhóm họp cùng nhau ra tuyên bố chung với 5 nguyên tắc hòa bình, trung lập. Đây là một đóng góp quan trọng và có ý nghĩa rất lớn vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc; củng cố độc lập dân tộc các nước Á, Phi và bảo vệ hòa bình thế giới.


Tháng 9/1961, Hội nghị cấp cao các nước Á, Phi họp tại Nam Tư chính thức đánh dấu sự ra đời của Phong trào không liên kết. Sự ra đời của Phong trào không liên kết trong bối cảnh cao trào giải phóng dân tộc và Chiến tranh lạnh có nguy cơ dẫn tới chiến tranh thế giới mới đã khích lệ, cổ vũ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trên thế giới, trong đó có cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam. Như thế để thấy rằng, phong trào giải phóng dân tộc và Phong trào không liên kết là những nhân tố quốc tế quan trọng, tích cực, ra đời và không ngừng phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, có những tác động và ảnh hưởng không nhỏ tới chiều hướng chuyển động của thế giới, mà chính cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng không nằm ngoài lề.


Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc là sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa - đồng minh và là hậu phương quốc tế vững chắc của nhân dân Việt Nam những năm chống Mỹ xâm lược, một trong những nhân tố quốc tế trực tiếp tác động thuận lợi đến cách mạng Việt Nam. Việt Nam quyết tâm đánh và đánh thắng Mỹ chủ yếu là bởi sức mạnh nội lực của chính dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó, cần kể đến sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mà trước hết là hai nước lớn đồng minh Liên Xô và Trung Quốc.


Kể từ sau Cách mạng Tháng Mười thắng lợi (năm 1917) đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945), Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất trên thế giới đương đầu với hệ thống các nước đế quốc để tồn tại và phát triển. Tiếp đó, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nam Tư lập nên nền dân chủ mới vào năm 1946. Mùa Xuân năm 1947, trước nguy cơ uy hiếp của khối phương Tây do Mỹ đứng đầu với kế hoạch Mácsan (Marshall) Liên Xô góp sức thúc đẩy một loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thành lập chính quyền dân chủ nhân dân, góp phần củng cố vành đai phía tây của mình như: Tiệp Khắc, Rumani, Bungari, Hunggari, Ba Lan, Anbani. Năm 1948, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên được thành lập. Tháng 9/1947, thành lập Cục Thông tin quốc tế thay thế Quốc tế Cộng sản giải tán từ năm 1943. Tháng 10/1949, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Hệ thống xã hội chủ nghĩa nối liền một dải từ Trung Âu đến Viễn Đông. Từ đây, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết trở thành trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ngày 07/10/1949, Liên Xô tiếp tục thúc đẩy thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Đức (RDA) trên phần lãnh thổ ở phía đông nước Đức do Liên Xô kiểm soát. Năm 1959, nhà nước Cuba ra đời, đánh dấu sự có mặt của các nước xã hội chủ nghĩa trên cả ba châu lục với gần 1 tỉ dân.
Từ một nước phát triển thành một hệ thống, liên tục trong mấy thập niên, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung xây dựng và phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân hằng năm đạt 7,8%), ngoại trừ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thập niên 60 của thế kỷ XX, tổng sản lượng các nước xã hội chủ nghĩa chiếm gần 20% GDP và gần 10% sản lượng công nghiệp của thế giới. Các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô đạt được nhiều thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, đặc biệt là năng lượng hạt nhân và chinh phục vũ trụ. Đây là thời kỳ hệ thống xã hội chủ nghĩa có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại.


Nhìn một cách tổng quát, thực tế khó có thể phủ nhận rằng, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã phát triển và có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn nhân loại. Nhân dân thế giới đều nhận thấy đây là một hệ thống thống nhất trải dài từ châu Âu sang châu Á, cả Mỹ Latinh, sở hữu trong tay một lực lượng kinh tế, khoa học, kỹ thuật và quân sự hùng mạnh, cả vũ khí hạt nhân, lại có thêm một lực lượng đồng minh tự nhiên là các nước không liên kết và phong trào giải phóng dân tộc. Tất cả tạo ra một lực lượng đối trọng, cân bằng với các lực lượng đế quốc, góp phần ngăn chặn, răn đe các thế 1 lực hiếu chiến, bảo đảm liên tiếp trong nhiều thập niên 1 không xảy ra chiến tranh thế giới, trực tiếp hỗ trợ tích cực cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển.


Đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, sức mạnh và chính sách của các nước xã hội chủ nghĩa thực sự là một nhân tố quốc tế có tác động mạnh mẽ. Trước hết, các nước xã hội chủ nghĩa - đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc mặc nhiên hình thành hậu phương quốc tế trực tiếp của Việt Nam kháng chiến chống Mỹ. Đứng trước hành động xâm lược của chính quyền Mỹ, mỗi tính toán chiến lược, hạ quyết tâm đánh và tự tin đánh thắng, Việt Nam đều hết sức lưu tâm lượng sức mình, đồng thời xem xét tới hậu phương quốc tế. Mỗi khi chính quyền hiếu chiến Mỹ có hành động phiêu lưu mạo hiểm, hậu phương quốc tế góp phần giúp quân và dân Việt Nam giữ vững, nâng cao niềm tin chiến đấu, chiến thắng. Từ các nước xã hội chủ nghĩa làm hạt nhân, Việt Nam mở rộng đoàn kết, tiến tới hình thành mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam và ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam đánh Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:42:01 pm »

Đặc điểm lớn nhất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam là Mỹ là kẻ xâm lược rất giàu mạnh, ngân sách quân sự lớn, vũ khí, trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại, ngược lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia nghèo, ngoài số ít xí nghiệp công nghiệp nhẹ và sửa chữa, công nghiệp nặng hầu như chưa có. Trong bối cảnh và điều kiện bất lợi như vậy, các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp quân và dân Việt Nam từ máy bay, tên lửa, xe tăng, các loại pháo, xe vận tải, xăng dầu đến lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, thuốc y tế... để duy trì, phát triển cuộc chiến đấu. Bên cạnh sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả về vật chất, Việt Nam còn được sự ủng hộ, cổ vũ quý báu về chính trị, tinh thần từ Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước anh em. Từng chiến sĩ và cả các đoàn quân tiến ra tiền tuyến với niềm tin mạnh mẽ vào hậu phương lớn miền Bắc; tin vào hậu phương lớn các nước xã hội chủ nghĩa với hàng trăm triệu anh em, bạn bè sát cánh... Mỗi bước leo thang của Mỹ đều vấp phải những cuộc mít tinh, biểu tình của hàng trăm ngàn, thậm chí hàng chục triệu người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những tuyên bố mạnh mẽ của chính phủ các nước là những lời cảnh cáo kẻ thù, đồng thời cũng là những lời động viên, cổ vũ, khích lệ tinh thần quân và dân Việt Nam đang chiến đấu trên chiến trường.


Một sự ủng hộ có tác dụng rất lớn đối với cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam là ở sự lớn mạnh và ủng hộ kiên quyết của hệ thống xã hội chủ nghĩa có một sức mạnh răn đe, kiềm chế hiệu quả đối với bè lũ xâm lược. Giải thích tại sao Mỹ phải sử dụng cách đánh leo thang Tổng thống Mỹ Giônxơn cho rằng làm như vậy để tránh khả năng Liên Xô, Trung Quốc can thiệp. Suốt cuộc chiến tranh dài hàng chục năm ròng, nhóm tướng lĩnh hiếu chiến Mỹ muốn mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc, nhưng chính quyền Giônxơn đều bác bỏ vì lo ngại phản ứng quyết liệt từ phía hai nước Liên Xô và Trung Quốc. Nhiều trường hợp, các tướng lĩnh Mỹ tính toán các bước phiêu lưu nhưng đều bị gạt bỏ. Mắc Namara thuật lại: "Các Tham mưu trưởng liên quân chủ trương tấn công các kho xăng dầu thuộc Hà Nội và Hải Phòng, giáng cho Bắc Việt Nam một đòn chí tử. Tổng thống và tôi ngần ngại..., một tàu Liên Xô ở gần đó có thể vô tình bị trúng bom, dẫn đến nguy cơ về cuộc đối đầu giữa hai siêu cường hạt nhân"1 (Dẫn theo Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.245).
Tuy nhiên, những mâu thuẫn, bất đồng giữa các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn Xô - Trung cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Liên Xô nhiều lần tác động, hướng Việt Nam đi theo đường lối thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, tập trung xây dựng miền Bắcđể tác động và nêu gương cho miền Nam. Nhằm giữ ổn định tình hình mọi mặt, Liên Xô đề nghị cả hai miền của Việt Nam cùng vào Liên hợp quốc. Trong khi đó, Trung Quốc muốn Việt Nam giữ nguyên trạng lâu dài, "trường kỳ mai phục", che giấu lực lượng, chờ đợi thời cơ. Bởi vậy, năm 1959, khi Việt Nam chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam thì cả Liên Xô và Trung Quốc đều không đồng tình với chủ trương này, thể hiện trước hết ở việc chậm công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.


Cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc Việt Nam ngày càng phát triển mạnh thì quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc cũng xuất hiện những rạn nứt, bất đồng ngày càng sâu sắc, dẫn tới chiến tranh Biên giới năm 1969. Trên các diễn đàn, hai nước công kích nhau gay gắt, dẫn tới tình trạng phân liệt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gây ra những hậu quả bất lợi đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Các nước xã hội chủ nghĩa đã không ra được tuyên bố chung ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh Mỹ; sự chi viện, nhất là về viện trợ quân sự có nơi, có thời điểm thất thường. Bất lợi lớn nhất đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam là thiếu một khối đồng minh hùng mạnh, đoàn kết để tạo thành một đối trọng có khả năng kiềm chế, ngăn chặn có hiệu quả các chính sách và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ. Mắc Namara bày tỏ: "Tôi quyết tâm làm giảm nguy cơ do hành động quân sự của Mỹ ở Đông Dương sẽ đẩy các lực lượng không quân và mặt đất của Trung Quốc và Liên Xô vào thế đối đầu với Mỹ dù với lực lượng thông thường hay hạt nhân. Tổng thống Giônxơn cũng có quan điểm như vậy"1 (Dẫn theo Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam, Sdd, tr.120).


Tác động trực tiếp và rõ rệt nhất là mâu thuẫn Xô - Trung trong vấn đề Việt Nam. Việc vận chuyển vũ khí của Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quá cảnh lãnh thổ Trung Quốc về tới Việt Nam không phải lúc nào cũng thuận lợi. Việc đặt một căn cứ không quân Liên Xô ở Hoa Nam đã đạt được thỏa thuận rất có lợi cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng cuối cùng không thực hiện được. Đặc biệt, Việt Nam gặp khó khăn khi thực hiện phương châm "đánh, đàm", bởi mâu thuẫn Xô - Trung tác động dữ dội. Liên Xô tác động Việt Nam theo chiều hướng sớm hòa bình thương lượng giải quyết vấn đề, còn Trung Quốc phản đối quyết liệt việc Việt Nam chấp nhận đàm phán với Mỹ, mà cho rằng chỉ có đánh mới giải quyết dứt điểm được vấn đề.
Các nước xã hội chủ nghĩa tuy cùng chung ý thức hệ, nhưng vị trí địa lý, chính trị khác nhau nên có những suy tính khác nhau về chiến lược và chính sách trong vấn đề Việt Nam. Việt Nam đã nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng chính sách của từng nước, tìm ra các điểm còn khác nhau và những điểm tương đồng với mẫu số chung lớn nhất là chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình thế giới, làm nghĩa vụ quốc tế với đồng minh. Từ đó, Việt Nam nỗ lực vận dụng linh hoạt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế, tạm gác các mâu thuẫn, bất đồng, nắm chắc và phát huy mẫu số chung của tình đoàn kết. Nhờ vậy, Việt Nam khắc phục và vượt qua được các tác động không thuận chiều, giữ vững được sự đoàn kết gắn bó với cả hai nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác để đi tới giành thắng lợi cuối cùng.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM