Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:21:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM  (Đọc 5506 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:43:55 pm »

Để có thể hoàn thành nhiệm vụ trọng đại xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc, đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Việt Nam cần phải có đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn và sáng tạo; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ tối đa của bạn bè quốc tế; phải có tiềm lực quân sự, quốc phòng đủ mạnh. Nhưng trên thực tế, sau ngày miền Bắc giải phóng, Việt Nam gặp những khó khăn lớn về nhiều mặt: cơ cấu xã hội bị phá vỡ, giao thông đình đốn, nạn dốt, nạn đói, dịch bệnh hoành hành, sản xuất bị ngưng trệ... Lực lượng vũ trang cách mạng cả nước được tập trung lại trong điều kiện thiếu thốn về vũ khí, đạn dược, trang bị; cơ cấu các quân chủng, binh chủng bất hợp lý, chủ yếu là bộ binh; trình độ chiến thuật nặng về lối đánh du kích chỉ phù hợp với địa hình rừng, núi. Trong khi đó, Mỹ - một đế quốc cực kỳ giàu mạnh tìm mọi cách chống phá quyết liệt sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam; âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành bức tường ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc lan rộng xuống khu vực Đông Nam Á; đang toan tính khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung để hạn chế tối đa sự giúp đỡ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là làm thế nào để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước đặt ra đối với quân và dân Việt Nam hết sức nặng nề. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử này, các lực lượng vũ trang Việt Nam phải được bổ sung, trang bị những loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, tiến lên xây dựng theo hướng chính quy với cơ cấu hợp lý giữa các ngành, các binh chủng, quân chủng. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Trang bị hiện đại là cơ sở vật chất của chiến thuật và kỹ thuật hiện đại, cơ sở vật chất của sức chiến đấu của quân đội hiện đại. Nếu không có trang bị hiện đại thì không thểnói đến việc xây dựng hiện đại hóa"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vắn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.18, tr.213, 203). Bởi vậy, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: "Phấn đấu để xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình thế mới, đó là một nhiệm vụ trọng đại của Đảng ta hiện nay"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.15, tr.188). Muốn đạt được những mục tiêu đặt ra đó, "Chúng ta phải căn cứ vào khả năng giúp đỡ của các nước anh em". Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam tin tưởng vững chắc rằng Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, tuy "Vấn đề xây dựng một quân đội cách mạng chính quy và hiện đại là một vấn đề mới mẻ đối với chúng ta. Nhưng chúng ta còn có kinh nghiệm phong phú về xây dựng quân đội cách mạng hiện đại, chúng ta có khoa học quân sự tiên tiến của các đảng và các quân đội anh em, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc. Sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc tạo điều kiện cho quân đội ta có thể tranh thủ thời gian trên con đường xây dựng chính quy hóa và hiện đại hoá, trong lúc bản thân chúng ta chưa có đầy đủ các điều kiện"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Vắn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.18, tr.213, 203).


Như vậy, yêu cầu về tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi bưởc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đặtra hết sức cấp bách và khẩn trương. Trong điều kiện vừa có những thuận lợi cơ bản lại vừa gặp phải nhiều khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam cần phải chủ động nắm chắc tình thế, mềm dẻo, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hoạt động cả đối nội, đối ngoại nhằm tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để tăng cường thực lực mọi mặt của cuộc kháng chiến, đủ sức đánh bại đế quốc Mỹ, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu chiến lược đề ra.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:48:09 pm »

III- ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước bối cảnh thế giới, khu vực, trong nước và yêu cầu cấp thiết về viện trợ quân sự như vậy, trên cơ sở phân tích và lượng định tình hình mọi mặt; đồng thời, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 03 đến ngày 12/3/1955, Đảng ta nhất quán khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi chống xâm lược Mỹ là: "Đẩy mạnh công tác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn và tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới... củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân; thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạt động quốc tế và trong đấu tranh ngoại giao. Giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta công nhận năm nguyên tắc chung sống hòa bình. Kiên quyết và bền bỉ dùng cách thương lượng để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp quốc tế (đồng thời ra sức củng cố quốc phòng để sẵn sàng đập tan mọi kế hoạch gây chiến của đế quốc Mỹ và phe lũ hiếu chiến)"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.208, 216).


Để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương xúc tiến chuẩn bị nhân sự, thiết lập tổ chức đại sứ hay đại biện đi các nước xã hội chủ nghĩa; chú trọng tranh thủ đặt quan hệ ngoại giao bình thường với hai Chính phủ Lào và Cao Miên láng giềng, với các nước khác ở Đông Nam Á và cả Chính phủ Pháp; xúc tiến đẩy mạnh công tác tuyên truyền quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Làm cho nhân dân thế giới nhận rõ lập trường quốc tế của Việt Nam là đứng hẳn về một phe: phe dân chủ và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo1 (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.216-217).


Chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đó tiếp tục được Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) là Việt Nam cần: "Ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, tăng cường sự đoàn kết nhất trí và củng cố tình hữu nghị không gì lay chuyển nổi giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em; phát triển quan hệ tương trợ hợp tác với các nước anh em theo những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh để bảo vệ và củng cố hòa bình; chống lại chính sách xâm lược và chính sách gây chiến của đế quốc Mỹ, thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau...


Ra sức ủng hộ phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và giành độc lập dân tộc của nhân dân các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước dân tộc chủ nghĩa, phát triển sự hợp tác kinh tế và văn hóa với các nước đó trên cơ sở năm nguyên tắc chung sông hòa bình và tinh thần Hội nghị Băngđung.


Chúng ta hoan nghênh và ủng hộ đường lối hòa bình trung lập của Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia.

Chúng ta ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Lào nhằm thực hiện đường lối hòa bình trung lập thật sự và hòa hợp dân tộc và mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị với Vương quốc Lào"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.939-940, 633).


Sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam có quan hệ mật thiết gắn bó với cách mạng thế giới, Đảng Lao động Việt Nam xác định rõ: "Thắng lợi cùa cách mạng Việt Nam gắn liền với sự phát triển của cách mạng thế giới, gắn liền với sự ủng hộ và sự giúp đỡ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, trước hết là của giai cấp công nhân và nhân dân Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.939-940, 633).


Trong Đề cương công tác đổi ngoại do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày trước Hội nghị Bộ Chính trị đầu năm 1962 cũng nêu rõ chiến lược đối ngoại củaViệt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Không ngừng củng cố và mở rộng quan hệ về mọi mặt giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để phục vụ cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cho cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam và cho sự nghiệp hòa bình thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp nghị Giơnevơ. Toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam phải xuất phát từ lợi ích của sự nghiệp cách mạng dân tộc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp ấy, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.


Hiện nay, trước tình hình Mỹ tăng cường xâm lược và gia tăng các hoạt động quân sự ở miền Nam, "hoạt động đối ngoại Việt Nam phải được đẩy mạnh nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và của nhân nhân thế giới đối với phong trào yêu nước ở miền Nam và đối với sự nghiệp hòa bình thống nhất Tổ quốc"1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.185).


Chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục được nhấn mạnh và làm rõ thêm trong Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bàytrước Hội nghị Chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964. Báo cáo đã bày tỏ lập trường quan điểm: "Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản; kiên quyết đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ; thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau; kiên quyết ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc... Tình hình thực tế những năm qua chứng tỏ chính sách đối ngoại đó là hoàn toàn đúng đắn và thu được những thắng lợi to lớn. Địa vị quốc tế của nước ta không ngừng được nâng cao. Chúng ta tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ ngày càng rộng rãi và mạnh mẽ của các nước anh em và của nhân dân toàn thế giới đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng của đồng bào miền Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân cả nước ta để thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.103-104).


Với chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn và sáng tạo đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam sớm đề cao, coi trọng tiếp tục củng cố và tăng cường phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác; chủ động cử nhiều đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, Quốc hội, quân đội, các đoàn thể đi thăm và làm việc. Mục đích là qua các hoạt động này góp phần tăng thêm hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước, giới thiệu thành quả xây dựng miền Bắc và công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam; kêu gọi sự đồng tình ủng hộ giúp đỡ Việt Nam trên mọi phương diện, trong đó, mặt quân sự sớm được coi trọng và nâng lên thành mục tiêu không thể tách rời trong các cuộc vận động quốc tế. Quyết tâm của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là: "Tăng cường lực lượng quân đội nhân dân, củng cố và bồi dưỡng ý chí chiến đấu, nâng cao trình độ tư tưởng chiến thuật và kỹ thuật của quân đội, phấn đấu để xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình thế mói, đó là một nhiệm vụ trọng đại của Đảng ta hiện nay"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.188). Mà muốn đạt được những mục tiêu đặt ra đó, "Chúng ta phải căn cứ vào khả năng giúp đỡ của các nước anh em", để nỗ lực vận động các nước giúp đỡ hiệu quả cho Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:50:58 pm »

IV- HOẠT ĐỘNG TRANH THỦ CÁC NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1954 - 1964

Quán triệt và nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại hữu nghị hợp tác, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tổ chức nhiều đoàn đại biểu cấp cao đi thăm và làm việc với các nước anh em nhằm tăng cường trao đổi, hợp tác, cùng phối hợp hành động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam. Mở đầu là chuyến thăm ba nước Trung Quốc, Liên Xô, Mông Cổ vào tháng 7/1955 của đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu. Kính trọng uy tín và vị thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm lịch sử này, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố tặng 800 triệu nhân dân tệ giúp nhân dân Việt Nam xây dựng 18 công trình công nghiệp từ năm 1958 đến năm 1961; còn Chính phủ Liên Xô viện trợ cho Chính phủ Việt Nam 400 triệu rúp để giúp nhân dân Việt Nam nâng cao mức sống, thực hiện Kế hoạch 3 năm 1955 - 1957, Kế hoạch 3 năm 1958 - 1960 khôi phục, phát triển kinh tế đất nước, trong đó gồm cả khôi phục và xây dựng 25 xí nghiệp công nghiệp và xí nghiệp phúc lợi công cộng. Ngoài ra, Chính phủ Liên Xô sẽ giúp Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đào tạo chuyên gia tại các trường kỹ thuật trung cao củaLiên Xô và tổ chức đào tạo chuyên gia tại các trường Việt Nam. Có thể đánh giá rằng, đây được xem là chuyến đi khởi đầu quan trọng vô cùng thuận lợi, có ý nghĩa đặt nền móng trong quan hệ với tất cả các quốc gia trên thế giới khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Kết quả chuyến đi này, theo như nhìn nhận của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Việc đoàn đại biểu Chính phủ ta do Hồ Chủ tịch lãnh đạo đi thăm các nước bạn Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ đã có kết quả tốt. Nó thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn; nâng cao thêm uy tín quốc tế của nước ta; phát triển sự hợp tác về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa giữa nước ta và các nước bạn. Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc hoàn toàn nhất trí với Chính phủ ta về nhận định tình hình Đông Dương và Đông Nam Á và kiên quyết ủng hộ ta trong cuộc đấu tranh chính trị để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước... Liên Xô và Trung Quốc lại giúp đỡ ta một cách vô tư và khảng khái để ta có thêm điều kiện khôi phục kinh tế và văn hóa. Tình hình ấy làm cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.589). Tiếp theo đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho đến cuối năm 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cử nhiều đoàn do các đồng chí lãnh đạo cao cấp khác làm trưởng đoàn đi thăm và làm việc với các nước anh em. Bên cạnh viện trợ về kinh tế giúp Chính phủ và nhân dân Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đất nước, các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là chính phủ hai quốc gia Liên Xô và Trung Quổc còn cam kết viện trợ quân sự không hoàn lại một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, trang bị, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ... Số trang bị, vật tư hậu cần này lần lượt được chuyển cho phía Việt Nam qua các cửa khẩu phía bắc biên giới Việt - Trung và cảng biển lớn nhất miền Bắc là Hải Phòng.


Trước yêu cầu cấp bách về xây dựng, củng cố, tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng, phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng trong tình hình mới, tháng 10/1955, Đoàn đại biểu quân sự do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm Trưởng đoàn đi thăm và làm việc với hai nước Liên Xô và Trung Quốc về vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam. Qua làm việc, lãnh đạo cấp cao của cả hai quốc gia lớn đều nhất trí với Việt Nam về nhận định đánh giá tình hình, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân, đồng ý tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam các loại vũ khí, đạn dược, lương thực,thực phẩm, thuốc men, y cụ, giúp đỡ Việt Nam tài liệu quân sự, chuyên gia, lập xưởng sửa chữa, sản xuất vũ khí tại Việt Nam. Ngày 22/6/1956, Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn tiếp tục lên đường thăm và làm việc với Liên Xô về vấn đề viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kết quả làm việc rất thuận lợi, mở đầu cho một quá trình viện trợ liên tục ngày càng tăng.


Trước đó, ngay khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam vừa kết thúc, với dự báo chiến lược Việt Nam sẽ cần một khối lượng lớn vật chất, vũ khí, trang bị các loại, phục vụ cho xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang trong tình hình mới, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy (năm 1961 đổi tên là Quân ủy Trung ương), các cơ quan chức năng tham mưu, hậu cần Việt Nam đã lập kế hoạch xin viện trợ khẩn cấp về vũ khí, trang bị quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa; xúc tiến chuẩn bị và nhanh chóng triển khai lực lượng, phương tiện tiếp nhận, bí mật vận chuyển một khối lượng lớn các loại vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... về nước an toàn trước khi Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến đưa lực lượng đến hoạt động ở các khu vực biên giới, hải cảng. Sau khi các tổ chức quốc tế đến chốt tại các điểm xuất nhập cảnh, được sự giúp đỡ của đảng bộ, nhân dân và chính quyềncác địa phương, Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục tiếp nhận, vận chuyển hàng viện trợ quân sự vào nội địa bí mật, an toàn. Theo thống kê của các cơ quan tiếp nhận và vận chuyển, chỉ tính từ tháng 7/1954 đến năm 1956, Việt Nam đã tiếp nhận và vận chuyển gần 30.000 tấn vũ khí, đạn dược và trang bị chiến đấu khác, trong đó gần 17.000 tấn được hoàn thành vào những tháng cuối năm 1954. Con số này gần bằng tổng khối lượng mà các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã chi viện cho nhân dân Việt Nam 4 năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (từ tháng 3/1950 đến tháng 6/1954). Nguồn vật chất hậu cần kỹ thuật này, theo đánh giá của cơ quan chức năng làm nhiệm vụ phân bổ, thực sự là nguồn bảo đảm rất quan trọng, giúp cho Quân đội nhân dân Việt Nam bước đầu bổ sung và đổi mới các loại vũ khí, trang bị cho các đơn vị vũ trang. Tính đến cuối năm 1954, dựa vào nguồn vật chất kỹ thuật mà Việt Nam mới tiếp nhận, vận chuyển trên, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tiến hành kế hoạch đổi mới và thống nhất trang bị cho Đại đoàn công - pháo, 6 đại đoàn và 2 trung đoàn bộ binh chủ lực1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.24).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:53:49 pm »

Ngày 11/01/1956, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam một số vấn đề về quân sự như: cải tiến trang bị quân sự, đào tạo cán bộ và bồi dưỡng giáo viên các trường quân sự, cung cấp thiết bị cho các trường quân sự, cử 26 chuyên gia sang giúp Tổng Quân ủy Việt Nam, cử đoàn quân sự sang nghiên cứu chiến trường, đặt kế hoạch tác chiến,... Tuần đầu tháng 8/1956, Việt Nam cử một đoàn cán bộ quân sự cấp cao sang làm việc với Trung Quốc (phía Trung Quốc có đại diện của Bộ Kế hoạch - Trang bị, Bộ Tài vụ, Bộ Quân khí, Bộ Tư lệnh bộ đội thiết giáp, Bộ Tư lệnh Hải quân, Không quân, Cục Đóng thuyền) về viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi trình bày những khó khăn mà quân và dân Việt Nam đang phải đối mặt, đoàn Việt Nam đề nghị phía Đảng, Chính phủ Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những vũ khí, trang bị phục vụ việc xây dựng các sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn pháo, 2 sư đoàn cao xạ dã chiến, 2 trung đoàn diệt tăng, 2 trung đoàn công binh đường sắt, 1 trung đoàn pháo tự hành, 3 đoàn vận tải,... Về cơ bản, phía Chính phủ Trung Quốc đáp ứng đầy đủ những đề nghị của quân và dân Việt Nam.


Tiếp sau đoàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là các đoàn đại biểu cấp cao do các đồng chí Trường Chinh,Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh,... làm trưởng đoàn đến thăm và làm việc với các nước anh em (ngoài đoàn do các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Văn Tiến Dũng là đoàn đại biểu quân sự, trong các đoàn đại biểu cấp cao của Đảng, Chính phủ, Quốc hội còn có Tổ quân sự đi cùng để đàm phán về vấn đề viện trợ quân sự). Các đoàn đại biểu quân sự của Việt Nam đã chủ động xin ý kiến về phương án xây dựng quân đội, yêu cầu các nước bạn giúp các loại vũ khí, trang bị để bổ sung và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, tăng cường tiềm lực quân sự. Về cơ bản, các nước bạn đều nhất trí với phương án xây dựng và phát triển quân đội của Việt Nam theo phương châm "quý hồ tinh, bất quý hồ đa", tức là coi trọng chất lượng hơn số lượng; sẵn sàng cung cấp cho Quân đội nhân dân Việt Nam nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại đáp ứng yêu cầu huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện chiến trường miền Nam.


Trước khi diễn ra cuộc hội đàm với đoàn cán bộ quân sự Trung Quốc tại Bắc Kinh vào sáng ngày 12/3/1960, đoàn cán bộ quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đã chủ động gửi trước tới đoàn quân sự Trung Quốc bản "Ý kiến sơ bộ về nhiệm vụ và phương hướng kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng từ năm 1961 đến năm 1965" của Tổng Quân ủy Việt Nam. Động thái này của đoàn quân sự Việt Nam nhận được sự đồng tình và ủng hộ cao của đoàn Trung Quốc. Đồng chí Trần Nghị, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc nói: "Chúng tôi (Trung Quốc) hoàn toàn đồng ý và thấy là rất tốt, mặc dầu các đồng chí nói là sơ bộ và trưng cầu ý kiến của chúng tôi, chúng tôi xin cảm ơn. Đó cũng là do các đồng chí khiêm tốn mà thôi"1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, t.1, tr.366). Đồng chí La Thụy Khanh, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng bày tỏ sự nhất trí cao với Kế hoạch do đoàn quân sự Việt Nam đưa ra, đồng ý cung cấp nhiều loại vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam, đưa trung đoàn xe tăng đang huấn luyện ở Trung Quốc về Việt Nam, vấn đề xây dựng sân bay quân sự, phương hướng phát triển Hải quân Việt Nam.


Tháng 8/1963, tiếp tục diễn ra một cuộc hội đàm nữa giữa hai đoàn đại biểu quân sự Trung Quốc và Việt Nam về hai văn kiện "Kế hoạch tác chiến hiệp đồng giữa quân đội hai nước Trung Quốc và Việt Nam" và "Quy hoạch Trung Quốc chi viện Việt Nam về trang bị quân sự". Để đạt được thỏa thuận này, phía Quân ủy Trung ương Việt Nam đánh giá: "Mặc dù còn một số vấn đề không hoàn toàn nhất trí với Bạn, nhưng ta đã tránh đi vào tranh luận hoặc có chỗ ta đã nhân nhượng"1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.2, tr.412). Tuy vậy, "Những vấn đề mà ta nhân nhượng không phải là những vấn đề chủ yếu... Còn những vấn đề ta tránh đi vào tranh luận thì cũng chỉ là những vấn đề thuộc về cách nhìn của mỗi bên, chứ không phải là nội dung có mâu thuẫn lớn"2 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.2, tr.412). Và trên cơ sở "Đối chiếu với các chủ trương chiến lược mà Quân ủy Trung ương ta đã bàn cũng như đề nghị Trung Quốc chi viện, nhận thấy mặc dù còn tồn tại một số ý kiến khác nhau nhưng hai bên đã đạt được sự nhất trí về cơ bản"3 (). Hai văn kiện quan trọng này được Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phê chuẩn ngày 07/9/1963, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phê chuẩn ngày 09/11/1963.


Tháng 7/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ thăm 9 nước Đông Âu, Bắc Âu, Bắc Á và một số nước dân chủ nhân dân để tranh thủ thêm sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang gian khổ tiến hành. Bên cạnh đó, quan hệ với hai nước láng giềng Lào, Campuchia và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á cũng đượcĐảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chú trọng. Là thành viên trong Hội nghị quốc tế giải quyết vấn đề Lào, Việt Nam đã làm hết sức mình để Hội nghị thành công tốt đẹp. Sau khi Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962 được ký kết và Chính phủ Liên hiệp được thành lập, ngày 05/9/1962, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với Vương quốc Lào. Tháng 3/1963, vua Lào Xri Xavang Vátthana sang thăm chính thức Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam cũng biểu thị sự ủng hộ chính sách trung lập của Chính phủ Campuchia, ra tuyên bố ủng hộ đề nghị ngày 20/8/1962 của Quốc trưởng Xihanúc về triệu tập Hội nghị quốc tế công nhận và bảo đảm nền trung lập toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia. Tháng 8/1964, Campuchia công bố kế hoạch thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính thức cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn... Bên cạnh những chủ trương và hoạt động chủ động mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân, Việt Nam cũng tích cực tham gia vào các diễn đàn quốc tế và khu vực như: Hội nghị các nước Á - Phi (tháng 5/1955), Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân thế giới (1957, 1960), Phong trào không liên kết (1961, 1963)... Tại các diễn đàn này, Việt Nam có những đóng góp quan trọng vào công việc chung của quốc tế; đồng thời, luôn biểu thị lập trường quan điểm nhất quán là ra sức đóng góp vào tăng cường bảo vệ hòa bình thế giới và duy trì đoàn kết quốc tế.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2026, 07:56:55 pm »

Các hoạt động đối ngoại phong phú trên đây góp phần vào nâng cao nhận thức, hiểu biết của Việt Nam về các nước, cũng như của các nước đối với tình hình đất nước và cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam. Điều này không những thể hiện thiện chí hòa bình, lòng mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác của Việt Nam với tất cả các nước, khẳng định tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu mà qua đó, Việt Nam còn có thêm sự đồng thuận, ủng hộ, giúp đỡ to lớn từ phía các nhà lãnh đạo và nhân dân các quốc gia đối với công cuộc củng cố, xây dựng, phát triển miền Bắc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Sự ủng hộ to lớn ấy đã góp phần ngăn chặn, răn đe kẻ địch; khuyến khích cổ vũ, động viên sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của nhân dân Việt Nam. Từ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, những cơ sở công nghiệp dân sự, công nghiệp quốc phòng đầu tiên trên miền Bắc như các nhà máy cơ khí trung quy mô, phân đạm, cao su, xà phòng, thuốc lá, đường, xi măng, xưởng sửa chữa đạn pháo, sân bay dã chiến... được xây dựng. Cơ cấu tổ chức và vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng được cải thiện, tăng cường không chỉ bởi những nỗ lực hoạt động chủ quan của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà phần lớn nhờ vào nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ.


Với chủ trương đúng đắn và sáng tạo trong quan hệ đối ngoại và quá trình vận động, tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ rất thiết thực, hiệu quả của các nước anh em. Tuy nhiên, trong quan hệ không phải lúc nào cũng bằng phẳng thuận chiều. Nhiều thời điểm quan hệ diễn ra khó khăn, đòi hỏi phía Việt Nam phải nỗ lực, khôn khéo và linh hoạt mới xoay chuyển được tình thế.


Sau ngày miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng, xu thế vận động quốc tế đi vào hòa hoãn, hai miền Triều Tiên được phân chia theo quy định của Hiệp ước Bàn Môn Điếm, Đông - Tây Đức cũng tạm thời ổn định, hai nước Liên Xô và Trung Quốc, nhất là Liên Xô chủ trương thực hiện "tạm hòa" để có điều kiện củng cố, xây dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, việc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay sai ở miền Nam khó nhận được sự đồng tình ủng hộ của các nước anh em. Biểu hiện rõ nét nhất là qua kết quả nguồn viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam. Việt Nam đã buộc phải cắt giảm, chuyển ngành một số lượng lớn bộ đội thường trực. Động thái đó đã nhận được sự đồng tình từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Bởi thế, các nước xã hội chủ nghĩa chú trọng tới viện trợ kinh tế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng miền Bắc hơn là viện trợ quân sự phục vụ cho yêu cầu cấp bách bổ sung, phát triển các lực lượng vũ trang. Trong khi nhu cầu viện trợ quân sự của Việt Nam rất lớn và vô cùng cấp thiết, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện cho Việt Nam không nhiều, rất nhỏ giọt, chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh và phương tiện huấn luyện bộ đội, thiếu vắng những loại trang bị hạng nặng, tiên tiến và hiện đại như: máy bay, tàu chiến, xe tăng, thiết giáp, tên lửa đất đối không,... Số nước có viện trợ quân sự cho Việt Nam giai đoạn này cũng không nhiều, khối lượng không lớn. Từ thực tế kết quả tiếp nhận các nguồn viện trợ, tỷ trọng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam trong 10 năm (1954 - 1964) không lớn so với viện trợ kinh tế, lại phân bổ không đồng đều. Năm 1959, khi Việt Nam chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng ở miền Nam, phát triển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng; quyết tâm mở tuyến chi viện chiến lược cho các lực lượng vũ trang miền Nam chiến đấu, yêu cầu về vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... cho các chiến trường rất lớn. Nhưng chủ trương này lại không nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ phía Liên Xô và Trung Quốc. Cả hai nước lo ngại chiến tranh ở miền Nam Việt Nam có thể gia tăng cả quy mô và cường độ, sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh chung của khu vực, trên thế giới. Phía Liên Xô lo ngại cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sẽ gây ra những trở ngại cho cục diện hòa hoãn Xô - Mỹ. Còn Chính phủ Trung Quốc lại lo ngại ảnh hưởng tới kế hoạch "Đại nhảy vọt" của mình, sợ ngọn lửa chiến tranh sẽ cháy lan tới lãnh thổ Trung Quốc. Vì thế mà cả Liên Xô và Trung Quốc đều có những tác động tới Việt Nam. Tháng 10/1959, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện góp ý với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam. Điện văn nêu rõ: "Chúng tôi đồng ý với các đồng chí về việc phân tích căn bản tình hình Việt Nam và việc quy định nhiệm vụ cách mạng cho hai miền Bắc, Nam: miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ căn bản nhất, quan trọng trước nhất và cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam; ở miền Nam là thực hiện cách mạng dân tộc, dân chủ, nhưng trước mắt chưa có thể thực hiện cải biến cách mạng, mà chỉ có thể dùng phương châm thích hợp trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ; tức là nói tiến hành cuộc đấu tranh có thể tiến hành như bảo vệ đời sống và quyền lợi,... cục diện chia cắt này của Việt Nam có thể lâu dài, chỉ khi nào tình hình châu Á và tình hình thế giới có những chuyển biến mới lớn lao,hay là khi nào bản thân Việt Nam phát sinh sự thay đổi có tính chất căn bản nào đó thì mới có sự thay đổi,... Việc quan trọng trước tiên của cách mạng là khéo biết thông qua các phương thức mà súc tích lực lượng cách mạng, đoàn kết với hết thảy mọi người có thể đoàn kết, chờ đợi thời cơ; phải khéo biết giấu giếm lực lượng, tránh mọi động kích quá trớn, tự bộc lộ mình, gây tổn thất quá lớn..."1 (Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:19:07 pm »

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình cũng có những trao đổi khá cụ thể với Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn khi đoàn đại biểu Đảng ta thăm Trung Quốc năm 1960 rằng: Trung Quốc đồng ý với phương hướng chung của Đảng Lao động Việt Nam về cách mạng miền Nam đề ra trong Nghị quyết Trung ương 15, nhưng đề nghị hoạt động vũ trang chỉ nên phát triển đến cấp đại đội và trung đội. Cùng với những góp ý cụ thể đó,trong những năm 1959 -1960, phía Trung Quốc còn gây sức ép với Việt Nam bằng cách cắt giảm nguồn viện trợ quân sự (năm 1959, Trung Quốc viện trợ quân sự cho nhân dân Việt Nam tổng khối lượng 1.672 tấn vật chất), năm 1960 giảm xuống còn 1.562 tấn vật chất, cả hai năm cộng lại chưa bằng năm 1958 là 4.410 tấn1 (Xem Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam 1954 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tờ 1). Tương tự, phía Liên Xô cũng đưa ra những khuyến nghị với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 10/1959, đồng chí Bí thư thứ ba Đại sứ quán Chính phủ Liên Xô trao đổi với đồng chí Lưu Văn Lợi, đại diện phía ngoại giao Việt Nam rằng Việt Nam "Bắt đế quốc từ bỏ xâm lược là chưa nên. Vấn đề đấu tranh vũ trang cần phải xem xét lại, thống nhất bằng vũ trang càng không nên"2 (Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Liên Xô (1958 - 1991), 1991, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 58). Trong buổi trao đổi với Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đoàn đại biểu Đảng Lao động và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang ở thăm và làm việc tại Liên Xô (tháng 11/1960), Bí thư Thường trực Đảng Cộng sản Liên Xô Cuxinen thông báo là Đảng Cộng sản Liên Xô không đồng tình với chủ trương đấu tranh vũ trang ở miền Nam đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng Lao động Việt Nam. Liên Xô cho rằng, Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng và củng cố miền Bắc vững mạnh để thông qua đó thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình. Trước đó, tháng 3/1956, đồng chí Xuxlốp (Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô) nêu ý kiến với Việt Nam: "Triển vọng của Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Càng giải quyết nhiệm vụ dân chủ một cách triệt để, càng mau tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chẳng những trong nội bộ Đảng cần nói rõ miền Bắc phải tiến lên chủ nghĩa xã hội mà trong công tác thực tế ngày càng phải làm như thế"1 (Ban Đối ngoại Trung ương: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương pháp hòa bình, 1956, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 2). Thêm một biểu hiện nữa là cả Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc đều chậm thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính của nhân dân miền Nam (Chính phủ Trung Quốc công nhận Mặt trận năm 1963 và phải tới tháng 11/1965, Chính phủ Liên Xô mới công nhận Mặt trận).


Ứng phó với tình thế đó, một mặt, Đảng Lao động Việt Nam vừa chủ động trong xây dựng và quyết định những vấn đề liên quan tới đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam; chân thành chủ động đề nghị các nước bạn góp ý kiến và hết sức tôn trọng những ý kiến của các nhà lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc. Mặt khác, để tạo thêm sự đồng tình ủng hộ hơn nữa từ phía bạn bè, Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức nhiều đoàn đại biểu các cấp, các ngành đến các nước xã hội chủ nghĩa anh em kiên trì thuyết phục, giải thích rõ rằng: Việt Nam vẫn chủ trương thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình; hoạt động đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam chỉ có tính chất tự vệ và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị. Việt Nam kiên quyết không để chiến tranh lan rộng ra khu vực và thế giới. Qua đó góp phần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa hiểu rõ hơn về quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam; chỉ ra khả năng thực tế là Việt Nam có thể đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường Việt Nam và việc Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đánh lâu dài, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn là phù hợp với bối cảnh điều kiện hiện tại. Và cũng nhằm mục đích trên, liên tiếp trong hai năm 1959 và 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh hai lần đi Trung Quốc và Liên Xô. Người chân thành bày tỏ sự mong muốn của Đảng, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác hơn nữa với Liên Xô và Trung Quốc; nêu những nhận định, đánh giá về phong trào cách mạng thế giới; thông báo tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của hai nước này đối với chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam ở miền Nam theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (1959), qua đó tăng cường viện trợ quân sự nhiều hơn cho nhân dân Việt Nam. Tháng 6/1961, Việt Nam cử đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm và làm việc tại Liên Xô. Các cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng với Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Khơrútsốp và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô Brêgiơnhép đã đưa lại những kết quả tốt đẹp, ra được thông cáo chung, cam kết tiếp tục phát triển sự hợp tác trên nhiều mặt. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam xem trọng và luôn nhấn mạnh đây là quan hệ đặc biệt, nỗ lực vận động để tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ phía bạn. Những chủ trương, kế hoạch lớn về xây dựng, mở rộng lực lượng, tác chiến, trang bị cho quân đội, Việt Nam đều cử cán bộ các cấp qua lại chân thành trao đổi ý kiến, bởi vậy mà tạo được niềm tin vổi bạn, được bạn giúp đỡ ngày càng lớn. Phát biểu tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và Đảng công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva tháng 11/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm và khẳng định: "Tình hình thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc. Để giành lấy thắng lợi, nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc phải ra sức xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng của mình, phải khéo sử dụng các hình thức đấu tranh cách mạng khác nhau, thích hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước: hoặc là đấu tranh vũ trang, hoặc là đấu tranh chính trị của quần chúng, hoặc là lấy đấu tranh chính trị của quần chúng làm chủ yếu, kết hợp một cách linh hoạt với đấu tranh vũ trang theo mức độ thích đáng ở những nơi có thể làm được... Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cũng như trước đây trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, chúng tôi được các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc được các đảng anh em trên thế giới, trước hết là Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc hết lòng ủng hộ và giúp đỡ. Sự ủng hộ và sự giúp đỡ đó tỏ rõ tinh thần quốc tế vô sản vô cùng quý báu. Nó là một trong những điều kiện chủ yếu cho chúng tôi đạt được nhiều thành tích trong mấy năm vừa qua và nhất định sẽ bảo đảm cho chúng tôi đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa trong những năm tới"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.719-720, 724).


Một trong những vấn đề quốc tế mà Đảng Lao động Việt Nam quan tâm là mâu thuẫn giữa hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc đã, đang và sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cộng sản quốc tế và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động, thể hiện rõ mong muốn Đảng, Chính phủ hai nước đoàn kết với nhau. Cũng tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva, tháng 11/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Liên Xô và Trung Quốc là hai nước to nhất trong phe xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc là hai đảng lớn nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất trong phong trào cộng sản quốc tế. Vì vậy, trong sự đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng Mác - Lênin trên thế giới, sự đoàn kết giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc có một tầm quan trọng đặc biệt"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.722-723). Tháng 02/1963, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam ra tuyên bố đề nghị các đảng anh em chấm dứt công kích nhau trên đài phát thanh, báo chí và đề nghị họp các đảng cộng sản để chấm dứt tình trạng bất hòa trong phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Những bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện từ rất sớm và nỗ lực tìm cách giải quyết. Bên cạnh việc quán triệt cho cán bộ, đảng viên, nhân dân Việt Nam cần luôn bảo vệ, giữ gìn tình đoàn kết với các nước anh em thì chính bản thân Người và Trung ương Đảng, bằng khả năng và mối quan hệ chân thành với các vị lãnh đạo hai nước đã xử lý thành công nhiều tình huống ngoại giao tế nhị và phức tạp trong quan hệ với hai nước lớn; không để xảy ra tình huống hai nước lớn lợi dụng vấn đề Việt Nam chống lại nhau trên đất nước Việt Nam; đồng thời, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của mỗi quốc gia đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc của Việt Nam; giữ vững lập trường quan điểm không nghiêng về bất cứ bên nào.


Sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, tháng 12/1963 ra đời, quan hệ giữa hai Đảng Việt Nam và Liên Xô gặp khá nhiều khó khăn. Việt Nam phải rút lưu học sinh các ngành khoa học xã hội đang học tập ở Liên Xô về nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, chúng ta đã khôn khéo giữ cho quan hệ hai nước bốt xấu thêm. Đến tháng 10/1964, Liên Xô thay đổi lãnh đạo ở cấp cao nhất, đồng thời điều chỉnh chính sách đối ngoại thì quan hệ hai nước Việt Nam - Liên Xô mới trở lại hữu nghị, tiếp tục phát triển lên tầm cao mới vào đầu năm 1965. Cùng với đó, nguồn viện trợ quân sự của Chính phủ Liên Xô dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau năm 1964 không ngừng được cải thiện, gia tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng, chủng loại.


Có thể thấy, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nỗ lực làm hết sức mình để củng cố, nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế và giành được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn từ phía các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Chẳng những Việt Nam đã thành công trong tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự mà còn góp phần quan trọng vào các hoạt động quốc tế, bảo vệ, duy trì, gìn giữ tình hữu nghị đoàn kết giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em; góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu, giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Tư, 2026, 09:26:53 pm gửi bởi vnmilitaryhistory » Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:26:29 pm »

V- KẾT QUẢ VIỆT NAM NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1964

Nhờ nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo và những sách lược, bước đi ngoại giao mềm dẻo, khéo léo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện từ phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên tất cả các mặt. Sự giúp đỡ đó đã góp phần quan trọng vào những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc; củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, quân sự những năm đầu chống Mỹ, cứu nước.


Trước hết, phải kể đến nguồn viện trợ kinh tế mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam, giúp nhândân Việt Nam hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, y tế, giáo dục... (gồm cả viện trợ không hoàn lại và các khoản vay nợ). Theo thống kê chưa đầy đủ của các cơ quan chức năng Việt Nam, những năm 1954 - 1964, tổng số tiền viện trợ lên tới trên 551.981.000 rúp mới và 1.100.000 nhân dân tệ 45 triệu zloty (tiền Ba Lan), 3.162.000 đồng (tiền Việt Nam)... Ngoài ra, Việt Nam còn nhận được các khoản viện trợ từ Cộng hòa Dân chủ Đức (13.500.000 rúp); Tiệp Khắc (7.875.000 rúp và cho vay 10.225.000 rúp cùng hợp tác thăm dò khoáng sản và trả khoản nợ nhập siêu); Rumani (3.375.000 rúp và cho vay 37.431.000 rúp để mở rộng Nhà máy xi măng Hải Phòng, hợp tác khai mỏ); Hunggari (8.000.000 rúp cũ tương đương 1,8 triệu rúp mới và cho vay 9.000.000 rúp); Ba Lan (45 triệu zloty và cho vay 20 triệu rúp cũ và 7 triệu rúp mới để xây dựng nhà máy đường Vạn Điểm, mở rộng Nhà máy xe lửa Gia Lâm); Bungari (3.162.000 đồng Việt Nam để xây dựng các xưởng rau quả, ướp lạnh, cơ khí địa phương)1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp tình hình viện trợ và vay nợ từ năm 1955 đến năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 12).


Sau chuyến đi thăm và làm việc với một số nước bạn bè của Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Chủ tịchHồ Chí Minh dẫn đầu (năm 1955), theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ: trong hai năm, Chính phủ Liên Xô giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các loại thiết bị máy móc, tài liệu khoa học kỹ thuật trị giá 306 tỉ Việt Nam đồng để Việt Nam khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp công nghiệp; Chính phủ Trung Quốc giúp Việt Nam khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu, đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy... trị giá 1.224 tỉ Việt Nam đồng trong 5 năm (1955 - 1961); Chính phủ Mông Cổ giúp 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi1 (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.55-56). Nhân chuyến thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Mông Cổ do đồng chí Tsêđenban (Tsedenbal) dẫn đầu từ ngày 30/8/1959 đến ngày 07/9/1959, Chính phủ Mông Cổ tuyên bố giúp nhân dân Việt Nam 10 vạn gia súc từ năm 1959 đến năm 1965. Tính đến cuối năm 1962, Liên Xô đã giúp Việt Nam 1.400 triệu rúp, giúp xây dựng 34 nhà máy lớn nhỏ, 19 nông trường và cải tạo 27 nông trường, một số trường đại học, một bệnh viện lớn, giúp xây dựng 21 đài khí tượng thủy văn và 156 trạm thủy văn các cấp. Ngoài ra, Liên Xô nhận 420 thực tập sinh và 1.267 sinhviên của Việt Nam vào đào tạo tại các trường kỹ thuật trung cao cấp của Liên Xô, cử 1.547 chuyên gia các ngành, các cấp sang công tác tại Việt Nam (1955 - 1960)1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), 1960, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 5). Bên cạnh đó, Chính phủ Liên Xô đã có sự chi viện quý báu, thiết thực như: tháng 7/1955, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 20.000 tấn gạo; tháng 10/1955, Liên Xô tiếp tục giúp nhân dân Việt Nam 10 vạn rúp để khắc phục hậu quả thiên tai... Giới tin tức phương Tây cũng sớm quan sát và nhận thấy: "Sinh viên các trường đại học ở Hà Nội được gửi sang Liên Xô để hoàn thành chương trình học tập và nâng cao trình độ khoa học đất nước... Cán bộ và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam được đi huấn luyện ở Liên Xô. Họ thường hành quân theo đường sắt, quá cảnh qua Trung Quốc, và học tập lái máy bay, đánh máy bay địch trên không và xuất phát từ dưới mặt đất. Dọc đường hành quân, họ thường gặp cố vấn Liên Xô sang Việt Nam"2 (Dẫn theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.205).


Trên các lĩnh vực văn hóa - giáo dục - y tế, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác luôn tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác phát triển các chương trình văn hóa, khoa học kỹ thuật giúp đào tạo cán bộ chuyên môn và cử chuyên gia sang giúp Việt Nam. Cùng với giúp các loại vật chất, tài liệu khoa học kỹ thuật, chỉ tính riêng từ đầu năm 1955 đến năm 1960, đã có tổng số 6.500 chuyên gia các cấp1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), Tlđd, tờ 5) dân sự các ngành, các cấp thuộc các nước xã hội chủ nghĩa anh em sang giúp Việt Nam. Phần lớn trong số này là lực lượng chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc.


Qua những số liệu đã dẫn trên đây, có thể thấy rằng khối lượng và trị giá viện trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa giúp nhân dân Việt Nam những năm 1954 - 1964 khá lớn. Nguồn vật chất này góp phần giúp miền Bắc Việt Nam hoàn thành thắng lợi Kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế 1955 - 1957, Kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế, văn hóa 1958 -1960, Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 - 1965; tạo ra những tiền đề vật chất và chính trị, tinh thần quan trọng, chuẩn bị vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ và gian khổ của nhân dân Việt Nam những năm tiếp theo.


Song song với viện trợ kinh tế, các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn viện trợ về quân sự giúp đỡ quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Đây là một nguồn lực vô cùng quan trọng đối với quân và dân Việt Nam trong điều kiện đất nước có chiến tranh, trong bối cảnh nền công nghiệp quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa phát triển mạnh, chưa đủ sức bảo đảm cho các lưc lượng vũ trang chiến đấu. Tất cả nguồn lực của quốc gia đều tập trung cho chiến tranh, phục vụ chiến tranh và để chiến thắng quân địch. Vì vậy, mọi chủ trương đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam đều hướng tới mục tiêu chung: huy động tối đa sự giúp đỡ cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần từ các nước xã hội chủ nghĩa, từ nhân loại yêu chuộng hòa bình, nhằm kết hợp và phát huy với mọi nguồn lực trong nước để tạo nên sức mạnh vật chất to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, đủ sức đánh bại đế quốc Mỹ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:29:09 pm »

Liên tục 10 năm, từ năm 1954 đến năm 1964, Việt Nam kiên trì và luôn chủ động vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ về mặt quân sự cho Việt Nam để Việt Nam có điều kiện bổ sung, củng cố, phát triển lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, từng bước hiện đại; tiến tới có điều kiện chi viện cho các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay sai. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đặt hàng, tiếp nhận, vận chuyển viện trợ quân sự Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1964, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam 119.790 tấn vật chất các loại, bao gồm: vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Trong đó, từ năm 1955 đến năm 1960, Việt Nam nhận được 49.585 tấn vật chất, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; từ năm 1961 đến năm 1964, Việt Nam tiếp tục nhận được 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật (trong đó Liên Xô giúp 47.223 tấn, Trung Quốc giúp 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác giúp 442 tấn)1 (Dẫn theo Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.588-601). Báo cáo của Thiếu tướng Trần Sâm, Tổng tham mưu phó với Thường trực Quân ủy Trung ương đề ngày 08/5/1967 cho biết thêm, từ năm 1956 đến cuối năm 1967, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ước tính hơn 1 tỉ rúp và 1,1 tỉ nhân dân tệ, tương đương 7 tỉ đồng Việt Nam. Cụ thể, Chính phủ Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam 949 triệu rúp (năm cao nhất 315 triệu rúp, năm 1964 bị gián đoạn). Hàng hóa do Liên Xô viện trợ chủ yếu cho các binh chủng kỹ thuật, thiết bị bảo đảm kỹ thuật, xưởng và trạm sửa chữa. Năm 1963, Chính phủ Liên Xô bắt đầu viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam, nhưng còn khá hạn chế. Chính phủ Trung Quốc viện trợ liên tục cho Viêt Nam từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chủ yếu là vũ khí bộ binh, trang bị bộ binh, máy bay chiến đấu, tàu hải quân, xưởng sửa chữa, sản xuất, vật tư hậu cần. Từ năm 1961, Trung Quốc viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang miền Nam, đáp ứng cơ bản yêu cầu của Việt Nam. Phần lớn những trang bị viện trợ quân sự của phía Trung Quốc cho Việt Nam mới sản xuất, mới cải tiến, chất lượng tốt. Ngoài ra Trung Quốc còn giúp vận chuyển vũ khí quá cảnh. Triều Tiên viện trợ quân sự cho Việt Nam chủ yếu là các loại vũ khí bộ binh, thiết bị xây dựng công trình, vật tư hậu cần. Cuba, Anbani, Mông Cổ cũng viện trợ cho Việt Nam một số vật tư hậu cần1 (Dân theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.273).


Mặt hàng chủ yếu mà các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam giai đoạn này gồm một sốloại chính: 415.584 khẩu súng bộ binh, 5.621 khẩu súng chống tăng, 2.542 khẩu súng cối, 24 khẩu pháo hỏa tiễn, 1.023 khẩu pháo mặt đất, 639 khẩu súng máy cao xạ, 1.024 khẩu pháo cao xạ, 32 máy bay chiến đấu, 46 tàu hải quân chiến đấu, 165 xe tăng, 166 xe vỏ thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 ôtô vận tải và kéo pháo, 198 ôtô chuyên dùng, 201 xe và máy công trình, 8.486 xe vàmáy vô tuyên điện, 19.134 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 8.658km dây điện thoại, 278.450 bộ quân trang, 7 bộ thiết bị toàn bộ...1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc và 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 11).


Bên cạnh viện trợ các loại vũ khí, đạn dược, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ..., các nước xã hội chủ nghĩa còn giúp Việt Nam vốn, trang thiết bị khoa học, kỹ thuật; cử các đoàn chuyên gia quân sự thường xuyên sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng. Chỉ tính riêng về công trình công nghiệp quốc phòng, từ năm 1954 đến cuối năm 1964, các nước Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Hunggari đã giúp Việt Nam xây dựng hàng loạt công trình với tổng số vốn lên tối chục triệu rúp như: Xưởng sửa chữa pháo và khí tài quang học (Z1) trị giá 700.116 rúp; Xưởng sửa chữa đạn (Z2) trị giá 418.000 rúp; sân bay quân sự Nội Bài trị giá 1.518.239 rúp, Trường Đại học Quân chính trị giá 4.500.000 rúp, Phòng Thí nghiệm cơ lý hóa vật liệu Trung ương trị giá 950.000 rúp... Bằng tinh thần khiêm tôn, cầu thị, tự học tập, tự nghiên cứu, sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp, các công binh xưởng trên miền Bắc và chiến trường miền Nam đã lần lượt được đưa vào sử dụng,khai thác hiệu quả nguồn vốn do Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ; kịp thời bổ sung, phát triển thực lực kháng chiến của Việt Nam Những kết quả thu được trong công cuộc xây dựng phát triển lực lượng vũ trang; củng cố tiềm lực quốc phòng, quân sự trên hậu phương miền Bắc và trong cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường ở miền Nam của quân và dân Việt Nam đã góp phần khẳng định tác dụng thiết thực, hiệu quả của nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa.


Báo cáo sơ bộ của Đoàn đại biểu kừứi tế Chính phủ Việt Nam trong đợt đàm phán với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa tháng 7/1965 do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu cũng cho biết, các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam: Hoàn chỉnh thêm một bước các cơ sở sửa chữa lớn trong quân đội, cộng với số cơ sở đã có sẵn, nếu Việt Nam tiếp nhận và xây dựng xong các cơ sở mới được giúp thêm thì Việt Nam có thể sửa chữa lớn được đại bộ phận các trang thiết bị kỹ thuật của quân đội trừ động cơ máy bay, động cơ xe tăng, xe xích cỡ trung và những động cơ tàu thủy có công suất cao; phát triến thêm một bước các cơ sở sản xuất quốc phòng (9 cơ sở), sản xuất được các loại vũ khí nhẹ từ cấp tiểu đoàn trở xuống; đồng thời, tăng cường thêm được một số vũ khí phòng không (khoảng 13 tiểu đoàn cao xạ từ 37mm đến 85mm, 15 tiểu đoàn 12,7mm). Hoàn chỉnh trang bị kỹthuật cho hệ thống sân bay của Việt Nam, cộng cả thiết bị hiện có, Việt Nam có thể đủ thiết bị cho các sân bay và dành được một phần cho dự bị. Về pháo mặt đất, tuy có loại không phù hợp với biên chế trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng có thể trang bị được khoảng hơn 8 sư đoàn các loại súng cối, pháo chống tăng, lựu pháo...1 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gập các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 18).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:31:10 pm »

Để có thể tiếp nhận, bảo quản, khai thác một khối lượng lớn hàng viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã tổ chức xây dựng một hệ thống bến bãi, kho tàng đảm bảo đủ sức chứa, an toàn và tuyệt đối bí mật trên khắp miền Bắc và dọc các tuyến vận tải chiến lược, cảng Hải Phòng và cửa khẩu hữu nghị quốc tế Việt - Trung (Lạng Sơn) là hai đầu mối chính, chủ yếu tiếp nhận nguồn viện trđ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài hệ thống kho, bãi chứa trong nội địa, Việt Nam còn nhờ kho, bãi khu vực ga Bằng Tường của Trung Quốc để lưu trữ các loại hàng hóa. Có thời điểm hàng viện trợ về dồn dập, bên cạnh số tồn đọng trên hàng chục toa tàu hỏa, Việt Nam còn gần 30.000 tấn vật chất phải gửi lại Bằng Tường trong điều kiện mưa, nắng không có mái che.Ga Bằng Tường Trung Quốc trở thành nơi trung chuyển lớn nhất hàng viện trợ quân sự các nước bạn bè giúp trước khi về đến lãnh thổ Việt Nam.


Sau khi tiếp nhận các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh, vật tư hậu cần - kỹ thuật, Việt Nam khẩn trương phân bổ biên chế cho các lực lượng vũ trang nhằm thống nhất trang bị đồng bộ và nâng cao sức mạnh chiến đấu. Tổng kết công tác Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam ghi nhận vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội chủ lực trên chiến trường Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ được trang bị tương đối thống nhất bằng vũ khí do các nước anh em viện trợ. Còn bộ đội các chiến trường khác được trang bị vũ khí chiến lợi phẩm. Khi hòa bình lập lại, Hậu cần đã lập phương án điều chỉnh thông qua Bộ Quốc phòng và tiến hành dồn dịch giữa các đơn vị. Sau quá trình điểu chỉnh, bộ đội chủ lực của Việt Nam được trang bị chủ yếu bằng vũ khí, phương tiện của các nước xã hội chủ nghĩa giúp1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.23, 33-34).


Bên cạnh thực hiện chủ trương dồn dịch, điều chỉnh thống nhất các loại vũ khí, trang bị bộ binh toàn quân, với nguồn viện trợ quân sự có được, Việt Nam thành lập một số binh chủng mới hiện đại như: ngày 07/5/1955, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Tổng tư lệnh, tiền thân của Quân chủng Hải quân; ngày 22/10/1963, Quân chủng Phòng không - Không quân ra đời trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Không quân; tiếp đó, ngày 03/01/1964, Bộ Tư lệnh Hải quân được thành lập...


Cùng với kịp thời bổ sung, trang bị cho các lực lượng vũ trang miền Bắc; căn cứ vào thực lực quốc phòng và yêu cầu từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam, tháng 3/1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy chủ trương chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam kháng Mỹ. Quyết tâm của Việt Nam là: "Muốn đẩy mạnh cách mạng miền Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định, cần phải kiên quyết chi viện cho miền Nam những thứ chiến tranh cần thiết và phải mở đường thực hiện sự chi viện ấy"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.106). Quyết tâm đó sớm được hiện thực hóa qua sự lớn mạnh không ngừng của hai tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn 559 và tuyến vận tải 759. Đây là hai tuyến vận tải chiến lược trọng yếu nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam, có vai trò quyết định sự thành bại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm nhiệm vụ vận chuyển đến chiến trường các loại vũ khí, trang bị, vật tư hậu cần các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự giúp Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:34:04 pm »

Về chi viện các chiến trường, trưóc hết, Trung ương Đảng quyết định: Về vật chất, chủ yếu là vũ khí, khí tài rồi đến thuốc men và các phương tiện khác. Về đường chi viện, gồm đường bộ, đường không, đường thủy trong đó đường bộ là cơ bản thường xuyên, đường bộ lại được tổ chức theo ba hướng: trong nước, đường dọc biên giới Việt - Lào và đường đi sâu vào nội địa Lào; đường thủy từ miền Bắc dùng tàu thuyền đưa hàng đến các bến bãi dọc theo bờ biển hoặc tàu thuyền các tỉnh miền Nam đưa thuyền ra Bắc lấy hàng và tiếp chuyển từ tàu ngoài Bắc; đường không lấy thả dù làm chính. Riêng vũ khí cho các lực lượng vũ trang miền Nam, Quân ủy Trung ương chủ trương tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cùng với số vũ khí chiến lợi phẩm để trang bị cho các lực lượng vũ trang miền Nam. Song trong quá trình chi viện, phải tuyệt đối giữ bí mật, không để ảnh hưởng tới quan hệ giữa Liên Xô, Trung Quốc với Mỹ và bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giữ bí mật việc xây dựng lực lượng ở miền Nam, không để lộ sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Vũ khí và hàng chi viện cho miền Nam do Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác chi viện trong thời kỳ này được xóa hết nhãn hiệu1 (Xem Quân ủy Trung ương: Biên bản cuộc họp Quân ủy Trung ương ngày 23 tháng 3 năm 1961, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-3). Mạng lưới vận chuyển không ngừng lớn mạnh, vươn xa, vươn sâu, nối liền từ hậu phương miền Bắc tới các địa bàn chiến lược miền Nam. Phương tiện vận chuyển cũng hết sức phong phú, đa dạng từ gùi thồ, tàu hỏa, tàu thủy, ôtô các loại ngày đêm vận chuyển qua đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển. Theo thống kê của các cơ quan làm nhiệm vụ vận tải quân sự, những năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược, một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men đã được chuyển cho các quân khu Trị - Thiên, 5, 6, 7, 8, 9 qua đường Hồ Chí Minh trên biển, trên bộ. Phần lớn trong số này là hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam. Tính riêng từ năm 1959, khi thực hiện chủ trương mở đường chi viện miền Nam của Bộ Chính trị, đến cuối năm 1964, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam 180.800 khẩu súng các loại; 10.000 tấn đạn dược, bom, mìn; 923 chiếc vô tuyến điện2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 9). Riênglực lượng hải quân chỉ từ tháng 02 đến tháng 12/1964 đã vận chuyển cho chiến trường Nam Bộ được 4.920 tấn và cho Khu V 171 tấn vật chất các loại1 (Dẫn theo Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tờ.570). Nguồn vũ khí, đạn dược này tạo điều kiện cho các chiến trường bổ sung kịp thời trang bị, mở nhiều trận đánh giành thắng lợi như Ấp Bắc, Đầm Dơi, Chà Là, Bình Giã..., góp phần đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ. Còn tuyến đường bộ vận chuyển được 10.136 tấn vật chất, trong đó có 2.912 tấn vũ khí, đạn dược2 (Bộ Giao thông vận tải: Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005, tr.154).


Nhờ được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự, tiềm lực quốc phòng, quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ngừng được tăng cường về mọi mặt. Nếu như năm 1954, tổng số vũ khí, trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ có: súng trường (14.089 khẩu), tiểu liên (2.930 khẩu), trung liên (1.494 khẩu), đại liên (185 khẩu), bazoka 90 (32 khẩu), DKZ 57 (78 khẩu), cối 60mm (274 khẩu), cối 82mm Trung Quốc (135 khẩu), lựu đạn (150.140 quả)3 (Bộ Quốc phòng - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011. tr.798) thì đến cuối năm 1960, tổng số vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang Việt Nam đã tăng lên đáng kể, bao gồm: súng vũ khí bộ binh có 91.806 khẩu (súng ngắn, súng trường, tiểu, trung, đại liên, trọng liên, bazoka) loại mới, đủ trang bị cho 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, trường lục quân, các quân khu theo biên chế thời chiến và 99.025 khẩu súng cũ chất lượng còn 50% tăng cường cho dân quân, tự vệ; 1.925 khẩu pháo mặt đất loại mới, 943 khẩu pháo cũ; 670 khẩu pháo cao xạ (đủ trang bị 10 tiểu đoàn cao xạ thuộc sư, lữ bộ binh, 2 trung đoàn pháo cao xạ 100mm và 57mm, 3 trung đoàn cao xạ 88mm và 90mm, 2 trung đoàn cao xạ 85mm và 37mm, 2 trung đoàn cao xạ 57mm, số 20mm còn lại trang bị cho bộ đội hải quân và lực lượng phòng thủ biển); 28 máy rađa trang bị cho 2 trung đoàn. Về thông tin, hữu tuyến điện trang bị đáp ứng 80%, vô tuyến điện trang bị đáp ứng 50% biên chế. Về phương tiện công binh, đã có 1.288m cầu vượt sông, về phương tiện phòng hóa, đã trang bị đáp ứng được 1/4 phương tiện trinh sát và 1/2 phương tiện tiêu độc, đủ phương tiện phun lửa, 6.279 ôtô và máy kéo các loại, về đạn dược, đáp ứng được 1,2 cơ số đạn con, trên dưới 2 cơ số đạn pháo mặt đất, 3 cơ số đạn pháo cao xạ. Về lực lượng không quân Việt Nam, đã có 17 máy bay vận tải, 7 máy bay thể thao, 3 máy bay liên lạc, 2 trực thăng, 8 máy bay huấn luyện, về lực lượng hải quân, đã trang bị 2 đoàn tàu tuần tiễu, 4 tàu săn ngầm, 3 trạm rađa1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 72).


Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tấc bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chỉ rõ: Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1965, số lượng nhiều loại trang bị khí tài mới tăng lên gấp rưỡi, gấp đôi. Thí dụ, vũ khí nhẹ tăng 140%, pháo tăng 205%, cao xạ tăng 247%, ra đa tăng 200%, máy chỉ huy tăng 183%, đạn tăng 227%, xe hơi tăng 122%, máy kéo xe xích tăng 150%... Đánh giá về kết quả công tác trang bị, Báo cáo khẳng định: năm 1965, hỏa lực toàn quân được tăng cường, nhất là hỏa lực pháo binh tương đối mạnh (hỏa lực pháo binh một sư đoàn bằng hỏa lực pháo binh dùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ); khả năng cơ động của bộ đội tăng lên cùng với sức đột kích (xe tăng) phát hiện được mọi hành động xâm lược của địch ở không phận và hải phận, đối phó được những hành động khiêu khích quy mô nhỏ của kẻ thù ở ngoài hải phận và bảo vệ tương đối tốt không phận một số yếu địa. Trang bị kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1965 so với quân đội hiện đại các nước công nghiệp tiên tiến thì còn ở mức thấp, nhưng so với tình hình trang bị trước đây thì đó là sự biến đổi to lớn. So với trình độ thiết bị kỹ thuật của hậu phương nhà nước thì trình độ trang bị kỹ thuật quân đội đã đi trước một bước khá dài1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, Tlđd, tờ 73).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM