Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:37:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM  (Đọc 5473 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:35:24 pm »

Theo phương hướng chú trọng củng cố, phát triển cân đối các lực lượng; đồng thời, để tăng nhanh tiềm lực quốc phòng đủ sức đối phó với tình hình Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh, Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo phải tăng cường cả về số lượng và chất lượng các loại vũ khí, trang bị, phát triển các lực lượng vũ trang; gấp rút vận chuyển số hàng viện trợ quân sự còn tồn đọng tại các cửa khẩu hoặc đang gửi Trung Quốc về nước; đề nghị các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự nhiều hơn cho Việt Nam. Tại cuộc họp ngày 03/4/1965, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương: "Thực hiện một bước cơ bản kế hoạch khôi phục lực lượng thời chiến (riêng Phòng không - Không quân phát triển gần gấp 2 kế hoạch thời chiến), nhằm đối phó có hiệu lực nhất với chiến tranh phá hoại của địch và chuẩn bị đầy đủ việc chi viện cho B - C; đồng thời, chuẩn bị đối phó với Chiến tranh cục bộ. Do đó, ngoài việc tăng cường Phòng không - Không quân, Hải quân, Thông tin, Vận tải, các đơn vị cơ động đều được tổ chức đầy đủ"1 (Quân ủy Trung ương: Tài liệu anh Văn họp Bộ Chính trị ngày 3 tháng 4 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1).


Quán triệt và nghiêm chỉnh thực hiện tinh thần chỉ đạo đó, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cùng với phát huy các nguồn lực trong nước, tiềm lực quốc phòng, quân sự của Việt Nam được tăng cường mọi mặt, đặc biệt là về vũ khí, trang bị của các lực lượng chiến đấu và bảo đảm chiến đấu. Tính tới cuốỉ năm 1965, khi ngọn lửa chiến tranh lan rộng ra cả nước, Mỹ thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, vũ khí và trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tăng lên vượt bậc như sau:


Về vũ khí nhẹ bộ binh, tổng số 235.900 khẩu súng các loại (nếu Việt Nam thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 với các nước xã hội chủ nghĩa, sẽ là 304.600 khẩu), trong đó 90% thuộc kiểu mới nhất của phe xã hội chủ nghĩa. Hầu hết các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các binh chủng của quân đội được trang bị đủ số súng bộ binh môi. Dân quân du kích được trang bị 185.000 khẩu, trung bình 30 khẩu/xã, dự trữ được 80.000 khẩu súng bộ binh kiểu cũ nhưng chất lượng còn tốt với cơ số đạn đầy đủ.


Về các loại pháo và cối mặt đất, trang bị được 5.470 khẩu với nguồn đạn dược đầy đủ từ 3 tới 5 cơ số (nếu Việt Nam thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 với Trung Quốc, trang bị sẽ lên 7.420 khẩu), trong số này, đại bộ phận là các loại pháo và cối mới do phe xã hội chủ nghĩa chế tạo. Ngoài ra, còn có hơn 400 khẩu pháo do các nước tư bản sản xuất (pháo lựu 105mm, sơn pháo 75mm, pháo chống tăng 75mm, pháo bờ biển 76,2mm và pháo 105mm loại cũ, chất lượng kém, nguồn cung cấp đạn khó khăn).


Về xe tăng và xe bọc sắt, toàn quân có tổng số 340 chiếc, với 165 chiếc T34, 87 chiếc T54, 88 chiếc lội nước, 16 pháo tự hành, 8 cao xạ 57mm tự hành, 2 chiếc tăng bắc cầu và 157 xe bọc sắt (35 xe lắp súng cao xạ 14,5mm hai nòng, số còn lại lắp súng đại liên). Số xe này hầu hết đã qua sử dụng.


Về súng máy cao xạ, tên lửa và máy bay, với số lượng đã viện trợ trước đây và nếu thực hiện xong Hiệp nghị 1964 - 1967 đã ký kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Việt Nam sẽ có được 3.700 khẩu pháo. Số pháo này đủ trang bị cho 21 trung đoàn cao xạ 57mm, 75mm và 100mm; 75 tiểu đoàn 37mm, 100 tiểu đoàn 12,7mm và 14,5mm với lượng đạn từ 6 đến 8 cơ số. Có được 190 máy bay MiG (124 chiếc MiG17, 34 MiG21, 32 MiG19) đủ trang bị cho 6 trung đoàn, 16 chiếc máy bay chiến đấu (4 chiếc IL28, 12 AN-2), 45 máy bay vận tải.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:37:42 pm »

Ngoài ra, ta xây dựng được 3 trung đoàn tên lửa phòng không với 72 bệ phóng và 449 quả đạn; rađa trinh sát và dẫn đường có tổng số 118 bộ đủ trang bị và thêm nguồn dự trữ1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược 1965 - 1969 (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5).


Báo cáo tình hình trang bị vũ khí, đạn dược của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng cho biết, về cơ bản: "Những trang bị vũ khí của Quân đội ta chủ yếu dựa vào viện trợ các nước; nền kinh tế trong nước bảo đảm cho trang bị vũ khí của quân đội không đáng kể, chủ yếu là bảo đảm về ăn, mặc, ở cho Quân đội"2 (Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 9).


Căn cứ vào nguồn viện trợ quân sự được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, bên cạnh bổ sung vũ khí, trang bị cho các đơn vị vũ trang làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chi viện các chiến trường, Việt Nam còn dành một nguồn đáng kể dự trữ chiến lược. Theo Thượng tướng Trần Sâm, nguyên Tổng tham mưu phó, cuối năm 1964, được sự giúp đỡ của Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác,ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đă tạo ra được lượng dự trữ ban đầu khá hùng hậu về kỹ thuật, trong đó có hàng vạn tấn đạn, trên 7.000 xe ôtô vận tải, 15 cơ số xăng dầu, thuôc quân y đủ bảo đảm cho trên5.000 thương, bệnh binh; dự trữ được 6 tháng lương thực, thực phẩm, 15.000 suất quân trang, xây dựng được 3 kho đạn với sức chứa 28.000 tấn, kho súng pháo rộng 11.900 mét vuông, hai kho xăng, dầu với sức chứa trên 3.200 tấn1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.231). Tổng kết Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng cho biết rõ hơn: dựa vào tiếp nhận nguồn cung cấp của hậu phương quốc gia mà chủ yếu là nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, để thực hiện dự trữ từng bước ở hậu phương chiến lược của quân đội và tại các quân khu, quân chủng, binh chủng. Nhưng, do viện trợ quốc tế chưa hoàn toàn đáp ứng về số lượng, chủng loại, thời gian theo yêu cầu của phía Việt Nam, nên đến hết năm 1963, Việt Nam mới dự trữ ở một mức độ nhất định cho một số loạivật chất kỹ thuật. Đạn các loại đạt khoảng 80% kế hoạch trọng lượng; xăng dầu cho ôtô vận tải đạt khoảng 25% nhu cầu sử dụng trong một năm; thuốc đủ bảo đảm5.000 thương binh, đáp ứng nhu cầu một chiến dịch;quân trang đạt 30% kế hoạch; ôtô vận tải đạt 28% số đầu xe ở cấp chiến lược1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.101).


Công tác xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trên các mặt tổ chức, huấn luyện, đào tạo đã được chuyên gia các nước Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ tận tình, bước đầu phát triển theo hướng chính quy, hiện đại. Đánh giá chung về các kết quả giúp đỡ trên, Báo cáo của Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận: đối với Trường Trung cao quân sự, các chuyên gia đã giúp: nghiên cứu và biên soạn các tài liệu huấn luyện trung đoàn tấn công, phòng ngự trên địa hình thông thường, rừng núi, vượt sông, công tác bảo đảm công trình; nghiên cứu và biên soạn tài liệu về sư đoàn tấn công và phòng ngự trên địa hình thông thường; với Cục Quân huấn: giúp các lớp tập huấn đại đội phòng ngự; tiểu đoàn tấn công, phòng ngự và lớp trung đoàn tấn công; nghiên cứu giúp về phương pháp, nội dung tập huấn đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn; đi nghiên cứu thao trường cho các khoa mục đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn diễn tập; biên soạn các tài liệu giảng dạy, viết tưởng định, bồi dưỡng giảng viên về lý luận nguyên tắc chiến thuật; giúp ý kiến làm kế hoạch huấn luyện toàn quân...; đối với Trường Sĩ quan Lục quân, chuyên gia giúp: hướng dẫn các giáo viên viết các giáo án về chiến thuật từ cá nhân đến tiểu đoàn, bồi dưỡng các giáo viên chiến thuât các giáo viên xạ kích, các giáo viên thể dục thể thao... Tóm lại, qua sự giúp đỡ của các chuyên gia, cán bộ các binh chủng, nhà trường đã nắm chắc hơn nguyên tắc chiến thuật, làm tốt giáo án, viết tưởng định, viết các văn kiện chiến đấu. Công tác tổ chức huấn luyện các đơn vị mẫu, tổ chức diễn tập trước đây còn lúng túng thì nay đã có thể làm bài bản, thuần thục.


Cùng với sự giúp đỡ thiết thực, hiệu quả về vốn, tài liệu khoa học kỹ thuật, chuyên gia, vật chất các loại, các nước xã hội chủ nghĩa cũng đồng tình và hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam về mặt chính trị, tinh thần.


Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 22/11/1956, Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra tuyên bố vạch trần âm mưu của Mỹ đang dùng mọi cách ngăn cản việc thống nhất Việt Nam, hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ, khẳng định lập trường quan điểm của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống việc phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, đồng thời kêu gọi các nước tham gia Hội nghị Giơnevơnăm 1954 phải có trách nhiệm ngăn chặn những hành động phá hoại của Mỹ - Diệm. Ngày 20/3/1957, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc ra tuyên bố hoàn toàn ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đòi các nước hữu quan phải làm tròn trách nhiệm của mình đối với Hiệp nghị Giơnevơ đã ký kết năm 1954, đòi Hiệp nghị phải được thi hành nghiêm chỉnh. Tương tự, ngày 06/4/1957, Chính phủ Ba Lan ra tuyên bố ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đòi các bên hữu quan phải tôn trọng và triệt để thi hành Hiệp nghị Giơnevơ. Ngày 21/01/1959, thay mặt Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức, Thủ tướng Ốttô Gơrốttơvon (Otto Grotewohl) đang ở thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng kiên quyết lên án sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam nhằm phá hoại hòa bình. Ngày 04/01/1962, Chính phủ Liên Xô tuyên bố": "Liên Xô không thể làm ngơ trước những hành động xâm lược của giới quân phiệt ở miền Nam Việt Nam, lên tiếng phản đối cùng với tất cả các nước yêu chuộng hòa bình. Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh hợp pháp của nhân dân Việt Nam đòi Mỹ lập tức đình chỉ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và rút nhân viên quân sự ra khỏi miền Nam Việt Nam... Nhân dân Liên Xô tin chắc rằng cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam cho tự do và độc lập dân tộc, thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình và dân chủ, sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn"1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983, tr.78, 71).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:38:57 pm »

Ghi nhận và đánh giá cao sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ về mặt chính trị, tinh thần của đảng, chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước chính nghĩa của dân tộc Việt Nam, trong chuyến thăm đất nước Liên Xô ngày 05/7/1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trân trọng phát biểu: "Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để hòa bình thống nhất nước nhà, mỗi thành tựu cách mạng của nhân dân Việt Nam đều gắn... với sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô và các nước anh em khác"2 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983, tr.78, 71).


Khi chính quyền hiếu chiến Mỹ quyết định và thực hiện mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước Việt Nam, phong trào nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ phát triển sôi nổi, mạnh mẽ, từ các nước xã hội chủ nghĩa đến các nước dân chủ nhân dân. Từ ngày 07 đến ngày 11/8/1964, hơn 20 triệu nhân dân Trung Quốc xuống đường tuần hành thị uy, ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, nói lên mối tình đoàn kếthữu nghị chiến đấu vĩ đại của 650 triệu nhân dân Trung Quốc với nhân dân Việt Nam. Ngày 27/11/1964 Chính phủ Liên Xô khẳng định với toàn thế giới và trước chính quyền hiếu chiến Mỹ rằng: "Liên Xô kiên quyết lên án những hành động xâm lược tiến hành bằng máy bay của Mỹ trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và đòi chấm dứt mọi hoạt động khiêu khích tương tự chống lại nước này..."1 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Sđd, tr.95). Chính phủ Liên Xô cảnh cáo: "Những kẻ đang nuôi dưỡng mưu đồ phiêu lưu ở bán đảo Đông Dương cần phải biết rằng: Liên Xô sẽ không thể làm ngơ trước vận mệnh của một nước xã hội chủ nghĩa anh em, và Liên Xô sẵn sàng giúp đỡ nước anh em đó mọi sự cần thiết"2 (Dẫn theo Bộ Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Bộ Ngoại giao Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết: Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980), Sđd, tr.95). Từ ngày 25 đến ngày 28/11/1964, Hội nghị quốc tế "Nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ hòa bình" được triệu tập, họp tại Thủ đô Hà Nội với sự tham dự của 64 đoàn đại biểu thuộc 52 quốc gia và 12 tổ chức quốc tế, thể hiện ý chí đoàn kết với nhân dân Việt Nam, đánh dấu bước đầu hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ.


Như vậy, vượt lên mọi khó khăn, trong những năm 1954 - 1964, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì và nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại đúng đắn, khôn khéo, sáng tạo và độc lập tự chủ, vì vậy đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hô và giúp đỡ thiết thực, hiệu quả cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần từ bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ phía đảng, chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây thực sự là một sự hậu thuẫn lớn, tạo niềm tin vững chắc; một trong những yếu tố quan trọng, góp phần bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi. Nguồn viện trợ quân sự quý báu mà các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam đã được chuyển hóa thành sức mạnh, cộng hưởng với những nhân tố bên trong đã tạo ra sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược có những bước biến chuyển vững chắc. Mặc dù những năm 1954 - 1964, khối lượng và trị giá của nguồn viện trợ quân sự chưa được như chúng ta mong muốn, nhưng thật sự quý giá và thiết thực. Quân và dân Việt Nam khắp các chiến trường đã chủ động khai thác, sử dụng một cách hiệu quả, góp phần bồi bổ thực lực kháng chiến, từng bước xây dựng miền Bắc và tích cực chi viện có hiệu quả cho cách mạng miền Nam đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ,dồn đẩy đối phương tiếp tục sa lầy, phải thay đổi từ chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với quy mô, cường độ ngày càng lớn và khốc liệt hơn. Đồng thời, tình thế này cũng đặt ra cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bên cạnh phát huy tối đa nội lực, tự lực cánh sinh, một yêu cầu vô cùng khẩn trương cấp bách là phải đẩy mạnh vận động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự lớn hơn nữa từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để có đủ sức mạnh cần thiết ứng phó hiệu quả với cuộc chiến tranh đang leo thang mở rộng trong khuôn khổ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" do chính quyền hiếu chiến Mỹ gây ra.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:40:52 pm »

Chương II
ĐẨY MẠNH TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ
CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NHỮNG NĂM 1965 -1975


I- BỐI CẢNH TÌNH HÌNH MỚI VÀ YÊU CẦU TIẾP TỤC TRANH THỦ NGUỒN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ TỪ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Đến cuối năm 1964, sau hơn 10 năm thế chân thực dân Pháp xâm lược miền Nam Việt Nam, mặc dù đã tổn hao nhiều trí lực, tiền bạc và sử dụng các thủ đoạn chiến lược chiến tranh khác nhau, nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn đứng trước nguy cơ bị sụp đổ. Để cứu vãn tình thế, giới cầm quyền Mỹ quyết định chuyển từ chiến lược Chiến tranh đặc biệt sang chiến lược Chiến tranh cục bộ mà tính chất nổi bật của loại hình chiến tranh này là sử dụng lực lượng quân sự áp đảo mở các cuộc phản công lớn hòng thay đổi thế bố trí chiến lược, tiên tối tiêu diệt các lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã không thể tiêu diệt được Quân Giải phóng miền Nam, đảo ngược được thế bố trí chiến lược và tình thế dẫn tới buộc phải thay đổi chiến lược chiến tranh thêm một lần nữa từ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" sang "Việt Nam hóa chiến tranh" mà bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền hiếu chiến Mỹ vẫn không hề thay đổi.


Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành điểm nóng, nơi đối đầu giữa hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa; thu hút sự quan tâm chú ý của các quốc gia và nhân dân toàn thế giới. Nhiều quốc gia và các nhân sĩ tiến bộ khắp các châu lục lo ngại nhân dân Việt Nam không thể đương đầu được với cuộc chiến do Mỹ gây ra, bởi sự chênh lệch trên tất cả các mặt giữa hai bên là quá lớn. Chiến tranh có nguy cơ lan rộng, trở thành chiến tranh thế giới mới. Một số nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có cả hai nước trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc không tin quân và dân Việt Nam chiến thắng được Mỹ và đều muốn biết Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ bằng cách nào.


Cuối năm 1964, Liên Xô có sự thay đổi trong ban lãnh đạo, do đó, chính sách đối ngoại của Đảng, Chính phủ Liên Xô đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng có sự thay đổi. Vấn đề chiến tranh Việt Nam trở thành môi quan tâm và có tầm quan trọng đặc biệt đối với Liên Xô, vì đây là vấn đề chính trị trung tâm, thu hútsự chú ý của toàn thế giới. Với tư cách nước xã hội chủ nghĩa lớn mạnh nhất và là một cường quốc, để thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản, khôi phục lợi ích và củng cố vị thế trên trường quốc tế, Liên Xô không thể không quan tâm tới vấn đề Việt Nam do đây là vấn đề đột phá mà Liên Xô cần nắm nhằm trước hết cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, kiềm chế Mỹ, nhưng mặt khác cũng hướng vào ngăn chặn, làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc. Đồng thời, nó còn góp phần ổn định nội bộ của Liên Xô, đáp ứng những đòi hỏi gay gắt từ phía nhân dân Liên Xô.


Trên cơ sở những lợi ích chiến lược đó, chính sách đốỉ ngoại của Liên Xô là dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sự giúp đỡ thiết thực có hiệu quả hơn so với thời gian trước đây. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam làm cho Mỹ ngày càng sa lầy thì càng tạo thời cơ thuận lợi cho Liên Xô tăng cường thực lực và phát triển ảnh hưởng của mình, triển khai hoạt động ra các khu vực; đẩy mạnh quan hệ buôn bán, trao đổi khoa học kỹ thuật với các nước phương Tây; thực hiện phân hóa hàng ngũ các nước đế quốc; củng cố an ninh ở châu Âu. Từ đó, Liên Xô có thể tạo ra sức mạnh ngang bằng, có mặt vượt trội Mỹ, đưa lại những ảnh hưởng to lớn đối với thế giới. Chính Mỹ cũng nhìn nhận rõ điều này. Mỹ đánhgiá về chính sách đối ngoại của Liên Xô rằng: "Đã nhiều năm, Liên Xô chơi trò chiến tranh lạnh và thách thức Hoa Kỳ qua các nước trung gian. Họ giúp Việt Nam để nguồn lực Mỹ bị tiêu hao dần ở châu Á, và nhất là để đánh lạc sự chú ý của châu Âu nơi đang diễn ra những kế hoạch tác chiến chính"1 (Dân theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205, 206). Và không chỉ Liên Xô có lợi theo Mỹ "Người Trung Quốc cũng có lợi khi người Mỹ bận việc khai thác trong khi họ hiện đại hóa công nghiệp và phát triển kho vũ khí hạt nhân"2 (Dân theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205, 206).


Đồng thời với sự giúp đỡ về vật chất, các loại vũ khí khí tài, chuyên gia, Liên Xô nêu vấn đề thống nhất hành động giữa các nước xã hội chủ nghĩa chống lại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ. Khẩu hiệu này của Liên Xô phù hợp với tinh thần quốc tế vô sản tăng cường được ảnh hưởng và uy tín của Liên Xô đốỉ với phong trào cách mạng thế giới. Từ đó, Liên Xô tìm cách từng bước nắm lấy vấn đề Việt Nam, gạt ảnh hưởng của Trung Quốc và sử dụng vấn đề Việt Nam trong việc thúc đẩy hòa hoãn với Mỹ, tranh thủ đạt được những nhân nhượng từ phía Mỹ, phục vụ cho những tính toán chiến lược của mình (vấn đề giữ nguyên trạng châu Âu, phê chuẩn Công ước lãnh sự với Mỹ, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, tăngcường buôn bán giao lưu,...). Vấn đề thống nhất hành động tuy có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, nhưng cũng có mặt tiêu cực đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải kịp thời đề ra những chủ trương và các giải pháp xử lý thỏa đáng.


Cùng với thực hiện chính sách hòa hoãn với Mỹ, các nhà lãnh đạo cấp cao Liên Xô vẫn đánh giá cao sức mạnh của Mỹ, chưa tin tưởng chiến tranh có thể hạn chế trong phạm vi miền Nam Việt Nam, nhất là chưa tin quân và dân Việt Nam có thể đánh thắng. Vì thế, một mặt Liên Xô tăng cường giúp đỡ Việt Nam, nhưng mặt khác vẫn tìm mọi cách hướng Việt Nam vào thương lượng đàm phán, đổi lấy việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc làm cơ sở để giải quyết vấn đề miền Nam. Sau những hoạt động ủng hộ triệu tập lại Hội nghị Giơnevơ về ba nước Đông Dương không thành công, Liên Xô tiếp tục thúc đẩy các hoạt động trung gian khác, nhất là khi những hoạt động ngoại giao của Việt Nam được đẩy mạnh để chấm dứt ném bom miền Bắc, phù hợp với kế hoạch Liên Xô gặp gỡ cấp cao với Mỹ ở Gòlátborơ (Glassboro, tháng 01/1967). Nhiều lần, Liên Xô gợi ý muốn làm cầu nối cho cuộc hội đàm giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Mỹ. Ngày 30/01/1967, Liên Xô gợi ý địa điểm hội đàm Việt Nam và Mỹ có thể tiến hành ở Mátxcơva. Đầu năm 1968, Liên Xô lại đề nghị nên gặp tại Vácxôvi (Ba Lan). Tháng 4/1968, Liên Xô tiếp tục đềnghị hai bên gặp nhau trên một tàu chiến của Liên Xô hoặc tại Đại sứ quán Liên Xô ở Pari (Pháp)...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2026, 09:42:30 pm »

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân Việt Nam, Liên Xô tỏ ra hết sức lo ngại chiến tranh sẽ lan rộng, do đó rất hoan nghênh sách lược "đánh, đàm" của Việt Nam, ra sức tác động để cuộc đàm phán tiến triển thuận lợi với hy vọng có thể giải quyết được cả vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc và vấn đề miền Nam Việt Nam theo công thức "có đi có lại". Phía Việt Nam và phía Mỹ ngồi vào bàn đàm phán ở Pari (Pháp) tháng 5/1968 và khi cuộc đàm phán không có bước tiến triển mới thì Liên Xô đề nghị Việt Nam nên giảm chiến sự, dù chỉ trên hình thức nhằm tạo thuận lợi để giải quyết các vấn đề sau này. Vừa đề nghị Việt Nam, Liên Xô lại vừa sử dụng tiến độ chi viện kinh tế, viện trợ quân sự để thúc ép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm đi vào giải quyết vấn đề chiến tranh bằng phương pháp hòa bình thương lượng.


Trong khi Liên Xô gấp rút thực hiện những tính toán vấn đề chiến tranh ở Việt Nam liên quan tới lợi ích quốc gia của mình thì Trung Quốc lại sử dụng vấn đề Việt Nam để chống lại ảnh hưởng của Liên Xô, thực hiện mưu đồ nước lớn. Vì thế, Trung Quốc sớm tính toán và sử dụng vấn đề Việt Nam để kiềm chế, giam chân, làm suy yếu Mỹ, ngăn chặn chiến tranh dừng lại ở bên kia biên giới phía nam Trung Quốc, đồng thời sử dụng nó như một vũkhí tuyên truyền lợi hại chống lại Liên Xô, phá thế hòa hoãn Xô - Mỹ, tạo thế hòa hoãn Mỹ - Trung.


Chuyển sang giai đoạn 1965 - 1975, Trung Quốc nỗ lực đẩy mạnh hoạt động ngoại giao hữu nghị mật thiết với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa liên tục đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ bỏ sự giúp đỡ của Liên Xô nhằm chi phối vấn đề chiến tranh ở Việt Nam.


Trong giai đoạn này, Trung Quốc thực thi chính sách:

Thứ nhất, Trung Quốc tiếp tục giúp đỡ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ khiến cho Mỹ ngày càng bị sa lầy trong chiến tranh để rảnh tay thực hiện cuộc cách mạng văn hóa và chống Liên Xô. Tuy nhiên, nhằm phục vụ cho những toan tính riêng, Trung Quốc đã gây nhiều khó khăn cho việc vận chuyển quá cảnh hàng viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam, kìm hãm Việt Nam mở những đợt hoạt động quân sự lớn với lý lẽ: "Hiện nay, căn bản vẫn là đánh du kích. Chỉ khi nào có lợi thì đánh vận động để tiêu diệt nhiều hơn, không nên quyết chiến với địch trong một hoặc hai trận. Ta nói quyết chiến, quyết thắng là nói về mặt tinh thần, chứ không phải nói trong chiến dịch"1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm giữa ta và Trung Quốc, phiên họp thứ 7 ngày 5 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 74). Chính đối phương của Việt Nam cũng thừa nhận: "Việc chuyên chở vũ khí, đạn dược trở nên không chắc chắn từ tháng 8 năm 1964 khi vì khác biệt ý tưởng, người Trung Quốc cấm người Liên Xô quá cảnh qua Trung Quốc bằng đường bộ sang Việt Nam"1 (Dẫn theo Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, tr.205). Trung Quốc cho rằng Việt Nam tổ chức tiến công dịp Tết Mậu Thân năm 1968 là để chuẩn bị đàm phán, nhưng sẽ rất nguy hiểm, dễ làm chiến tranh lan rộng. Trung Quốc phản đối Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán kéo Mỹ xuống thang, chấm dứt ném bom miền Bắc trong khi Trung Quốc chưa kịp chuẩn bị quan hệ với Mỹ, vì vậy, đã gây sức ép với Việt Nam, đe dọa cắt đứt quan hệ hai Đảng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:26:16 pm »

Thứ hai, Trung Quốc đề nghị Việt Nam không nên "đàm phán non" với chính quyền Mỹ khi chưa giành được những lợi thế; tìm cách vô hiệu hóa chính sách đoàn kết ba nước Đông Dương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; sử dụng Lonnon để thúc ép Xihanúc cản trở cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam phát triển. Đối với Lào, Trung Quốc sử dụng lực lượng vũ trang giúp làm đường, cung cấp vũ khí cho lực lượng phỉ, sử dụng Bắc Lào như một bàn đạp, lôi kéo một số lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Trung Quốc công khai thể hiện quan điểm với phía Mỹ là không gây chiến tranh ngoài biên giới trừ phi Mỹ tiến công xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc, coi sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là một bảo đảm ngăn chặn Mỹ tiến công Trung Quốc bằng vũ khí hạt nhân. Bởi Trung Quốc biết những trù liệu tính toán của Mỹ là: "Chỉ có chiến tranh nguyên tử mới giải quyết được chiến thuật biển người của Trung Cộng"1 (Dẫn theo Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Nxb. Tiếng quê hương, Virginia, USA, 2006, tr.329). Qua nhà báo Mỹ Étga Snâu (Edgar Snow) tháng 01/1965, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông gửi một thông điệp tới chính quyền hiếu chiến Mỹ rằng, nếu Mỹ không động đến Trung Quốc thì người Trung Quốc cũng sẽ không động đến Mỹ: "Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu... Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ... Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy?"2 (Dẫn theo Edgar Snow: Cuộc cách mạng lâu dài, Nxb. Hutchinson, London, 1973, tr.216). Trung Quốc cũng thực hiện toan tính chống hành động thống nhất các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô khởi xướng nhằm tạo sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa, không tập trung vào mũi nhọn chống Mỹ xâm lược Việt Nam.


Bất chấp mối bất hòa ngày càng sâu sắc và những tính toán từ hai nước Liên Xô và Trung Quốc, bất chấp mọi nỗ lực tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, qua các kênh thông tin khác nhau, nhân dân tiến bộ thế giới ngày càng nhận thức rõ hơn bộ mặt chiến tranh bẩn thỉu do chính quyền hiếu chiến Mỹ đang gây ra với nhân dân Việt Nam, thấy rằng Mỹ mới chính là kẻ thù của hòa bình thế giới. Do đó, phong trào phản đổi chiến tranh, lên án Mỹ, ủng hộ Việt Nam kháng chiến của nhân dân tiến bộ thế giới không ngừng dâng lên mạnh mẽ ở khắp nơi.


Đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, đứng trước tình thế Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh và quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam tham chiến, leo thang mở rộng chống phá miền Bắc, không chỉ uy hiếp đến độc lập, chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến an ninh, an toàn của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cân phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, khẳng định với bạn bè trên thế giới quyết tâm đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ bằng cách đánh và trí tuệ Việt Nam, sẽ đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải xuông thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán, từng bước rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Thay mặt toàn dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng địnhquyết tâm: "Trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước Á Phi, Mỹ Latinh và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1.15, tr.5, 131). Dựa vào sức mình là chính, dựa vào sự ủng hộ của thế giới, đặc biệt là từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân Việt Nam kiên quyết chống Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn. "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phô, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 1.15, tr.5, 131).


Bên cạnh phát huy cao độ tinh thần tự lực cánh sinh, sức mạnh nội lực của cả dân tộc vào cuộc trường kỳ kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục giương cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế, thiết tha kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 24/01/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tối nguyên thủ của nhiều quốc gia trên thế giới, thông báo rõ tình hình chiến sự vô cùng nghiêm trọng đang diễn ra ở Việt Nam, khẳng định đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là đoàn kết quốc tế, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đánh Mỹ đến ngày thắng lợi hoàn toàn, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Nhiệm vụ tranh thủ viện trợ quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam lúc này trở nên cấp bách và vô cùng quan trọng. Nếu không có nguồn vũ khí đạn dược, phương tiện chiến tranh của các nước xã hội chủ nghĩa chi viện, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam sẽ gặp vô vàn khó khăn khi đang trong giai đoạn cao trào và quyết liệt nhất khi mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa lên đỉnh điểm (xung đột vũ trang biên giới Xô - Trung tháng 3/1969). Đầu năm 1965, khi giao nhiệm vụ cho Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thanh Nghị - người sẽ thay mặt Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên "đi xin viện trợ" từ năm 1965 trở đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhân dân ta phải phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, tận dụng mọi khả năng, điều kiện để chiến đấu với giặc Mỹ xâm lược, nhưng nếu thiếu sự ủng hộ, viện trợ quốc tế sẽ không đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn đất nước"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, t.II, tr.194). Chính vì vậy, bên cạnh việc phải nỗ lực cao độ, tỏ rõ thiện chí hòa bình, góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mặt khác Việt Nam cũng phải hiểu rõ chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia để có phương thức và biện pháp vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ phù hợp, hiệu quả nhất từ bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Đây là một trong những nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là hết sức "tế nhị", khó khăn và phức tạp bởi quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi nước về cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam mỗi khác, lại trong hoàn cảnh nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ kinh tế, quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuyên suốt từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ liên tục 10 năm miền Bắc hòa bình, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất tiềm lực quốc phòng, nay trong bối cảnh Mỹ đã lộ rõ bản chất hiếu chiến xâm lược, khiến cho tình hình chiến tranh trỏ nên vô cùng căng thẳng, ngày càng khốc liệt, nhiệm vụ vận động tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ về mặt quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuy có nhiều thuận lợi, nhưng vì thế mà cũng gặp không ít những trở ngại, khó khăn, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải có những chủ trương, giải pháp và bước đi khéo léo, sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Hiện nay có một khó khăn lớn là giữa các nước anh em có sự bất hòa, chú cần khéo léo trong công tác, cố gắng góp phần vào việc khôi phục lại đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chú được đi đến tất cả các nước anh em, đó là một dịp tốt để bày tỏ lòng chân thành đoàn kết, thủy chung của Đảng và nhân dân ta đối với Đảng và nhân dân các nước anh em"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.180).


Trên thực tế, thực lực quốc phòng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi bước vào ứng phó với cuộc chiến tranh leo thang do Mỹ gây ra - một đối thủ mạnh hơn gấp bội, có thể thấy rất nhỏ bé. Nhu cầu mọi mặt đáp ứng cho kháng chiến cực kỳ lớn và ngày càng gia tăng theo sự phát triển của cuộc chiến tranh. Theo thống kê của Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1965), thực lực trang bị của lực lượng vũ trang Việt Nam gồm có: 703.756 khẩu súng bộ binh, 5.515 khẩu súng chống tăng, 3.132 khẩu pháo mang vác, 1.609 khẩu pháo xe kéo, 28 bộ tên lửa, 205 máy bay các loại, 64 tàu hải quân, 3.203 khẩu súng, pháo cao xạ, 370 xe máy công binh, 8 bộ cầu...2 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo kiểm điểm thực hiện kế hoạch 5 năm 1961 - 1965 về công tác bảo đảm vật chất kỹ thuật, xây dựng hậu phương quân đội, Tlđd, tờ 5). Trong khi đó, yêu cầu thực tiễn cuộcchiến đấu chống lại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và sau đó là "Việt Nam hóa chiến tranh" của quân và dân Việt Nam cần phải có nguồn cung cấp rất lớn mà khả năng tự lực, tự cường lại có hạn. Tình thế này đặt ra cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chủ động tích cực vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự nhằm nâng cao tiềm lực quân sự, quốc phòng đủ sức đánh Mỹ, thắng Mỹ đúng như phương châm mà Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định khi cả nước ta bước vào chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (năm 1965) - nỗ lực cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ: "Chúng ta cần tranh thủ đến cao độ sự đồng tình và ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd,t.26, tr.640). Theo một thống kê chưa đầy đủ, từ năm 1955 đến năm 1975, Việt Nam tranh thủ được 693.199 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc nổ, hỏa cụ từ các nước xã hội chủ nghĩa, còn mua sắm ở miền Bắc chỉ đạt 25.823 tấn, bằng 3,7% số được viện trợ quân sự; tự sản xuất được 34.768 tấn, bằng 5% số được viện trợ; thu được của địch ở miền Nam 87.672 tấn, bằng 12% số được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:30:54 pm »

II-CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI, SÁCH LƯỢC CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VỀ TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước thử thách sống còn, cùng với những yêu cầu vô cùng cấp bách về các nguồn viện trợ quân sự nhằm tăng nhanh tiềm lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kịp thời có những phân tích đánh giá đúng đắn về sức mạnh của Mỹ, về bối cảnh thời đại, về tương quan so sánh lực lượng địch - ta trên chiến trường để đi tới khẳng định quyết tâm đánh Mỹ với niềm tin: Việt Nam hoàn toàn có thể đánh thắng Mỹ bằng cách đánh của Việt Nam với sự ủng hộ của quốc tế, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trước quân và dân ta: "Cả nước ta đang tiến hành cuộc kháng chiến oanh liệt chống Mỹ để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, đồng thời để hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nhưng vẻ vang góp phần vào cách mạng thế giới. Dù khó khăn gian khổ đến mấy, chúng ta cũng có thể vượt qua. Nhân dân ta rất anh dũng, Đảng ta có đường lối đúng đắn, cuộc kháng chiến của chúng ta được các nước anh em, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và nhân dân thế giới đồng tình, ủng hộ và hết lòng giúp đỡ, cho nên chúng ta nhất địnhgiành được thắng lợi"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131). Đối với nhân dân thế giới, trong bức điện gửi tới Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh ngày 03/01/1966, Người cũng nêu rõ: "Cuộc chiến tranh xâm lược mà đế quốc Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam hiện nay là điển hình của những hành động tàn bạo dã man nhất của bọn đế quốc xâm lược. Song, nhân dân Việt Nam kiên quyết kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngày càng thu được những thắng lợi lớn. Trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ Latinh và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Dựa vào sức đoàn kết chiến đấu của mình, đồng thời dựa vào sức ủng hộ của nhân dân thế giới, nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và nhất định sẽ thu được thắng lợi hoàn toàn"2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131).


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân và dân Việt Nam kiên quyết chống Mỹ, cứu nước đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"3 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.23, 4-5, 131).


Với quyết tâm chiến đấu và khát vọng hòa bình cháy bỏng đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam chủ trương động viên quân và dân cả nước giữ vững tư tưởng chiến lược tiến công; nêu cao ý chí tự lực, tự cường; phát huy nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến chống Mỹ kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc và chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của chúng ở miền Nam. Tại Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, ngày 27/12/1965, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Cuộc cách mạng của ta là một bộ phận của cách mạng thế giới, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta có quan hệ trực tiếp tới phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, tới việc bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới. Cho nên chúng ta phải ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân thế giới, đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định thắng lợi của ta. Công tác ngoại giao của ta lúc này chủ yếu là nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của phe xã hội chủ nghĩa và của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân cả nước ta. Chúng ta cần ra sức phấn đấu để mở rộng và tăng cường mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ xâm lược và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd,t.26, tr.649).


Lý giải về căn nguyên tại sao Việt Nam cần phải tăng cường tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Nhân dân ta cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần tự lực cánh sinh để có thêm lực lượng chống Mỹ. Nhưng, khả năng của ta có hạn, cần có sự tăng thêm viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mới đủ sức chiến thắng"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.176). Đó không chỉ là đường lối, chủ trương, sách lược tranh thủ viện trợ nói chung, viện trợ quân sự nói riêng của Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi bước vào giai đoạn cao trào quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược mà còn là "con đường" đúng đắn và phù hợp với bối cảnh tình hình mới giúp cho quân và dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đối đầu với siêu cường Mỹ. Trong Thư chào mừng Đại hội lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 22/3/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa và tác dụng to lớn của sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam: "Sự ủng hộ nhiệt tình và sự giúp đỡ quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, cũng như sự đồng tình và ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới là một nhân tố quan trọng, bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.68).


Về phương châm, phương pháp để thực hiện thành công đường lối, chủ trương, chính sách đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ: "Để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi nói trên, đi đôi với đấu tranh quân sự, chúng ta cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị và ngoại giao, góp phần củng cố sự đoàn kết của phe xã hội chủ nghĩa, luôn luôn giữ thế chủ động, nắm vững và nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.641). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành nhiều tâm sức và có những căn dặn hêt sức cụ thể các cá nhân và cơ quan chức năng Việt Nam khi làm nhiệm vụ vận động, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ từ các nước anh em: "Cần xử trí linh hoạt, tế nhị, biết chờ đợi, kiên trì tranh thủ sự đồng tình của bạn. Vác rá đi xin cần khiêm tốn, nhưng phải có tinh thần tự trọng, giữ gìn danh dự, giá trị của mình"3 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.180). Để có thể tranh thủ tối đa được mọi sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa một cách có lý, có tình và thuyết phụcnhất, Người luôn luôn nhấn mạnh phương châm cốt lõi là: "Việc chính là trình bày đường lối chống Mỹ, cứu nước và chiến lược, sách lược đấu tranh của ta để bạn đồng tình ủng hộ ta, và biết xin cái gì, biết cách xin và sử dụng có hiệu quả"1 (Dẫn theo Lê Thanh Nghị: Trọn một cuộc đời, hồi ký, Sđd, t.II, tr.177).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:34:13 pm »

Bên cạnh quán triệt và nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng Việt Nam cũng sớm ý thức sâu sắc rằng để có thể tranh thủ tối đa được sự giúp đỡ ngày càng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh cuộc chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt, mâu thuẫn Xô - Trung từng bước đẩy tới đỉnh điểm, ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, đòi hỏi "Trung ương Đảng ta phải rất thận trọng, phải suy nghĩ cân nhắc nhiều mặt và phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước trong phe ta đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608). Quan điểm xuyên suốt nhất quán là: "Đảng ta, trước sau như một,vẫn chủ trương đoàn kết phong trào cộng sản quốc tế đoàn kết phe ta, đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chúng ta rất tha thiết với sự đoàn kết ấy vì chúng ta nhận định rằng cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608).


Để tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ của các đảng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể các cơ quan chức năng đối ngoại Việt Nam là: "Trong khi tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các đảng và các nước trong phe ta, cũng như của phong trào cộng sản quốc tế, chúng ta lại phải xét tới nhiệm vụ chiến lược và địa vị chính trị của từng đảng, từng nước, để đặt yêu cầu cho hợp lý và đúng mức, vì chúng ta cần nhận rõ rằng giữa các đảng và các nước trong phe ta, cũng như giữa các đảng trong phong trào cộng sản quốc tế có môi quan hệ lẫn nhau trên tinh thần quốc tế vô sản, nhưng đồng thời giữa đảng này và đảng khác, giữa nước này và nước khác lại có những mối quan hệ cụ thể khác nhau do vị trí địa lý, do quá trình lịch sử, do nhiệm vụ chiến lược giống nhau hoặc khác nhau trên thế giới, trong từng khu vực tạo nên. Nếu không hiểu rõ mối quan hệ cụ thể đó, mà lấy mình làm trung tâm để xét đoán mọi vấn đề thì chúng ta sẽ không khách quan, đồng thời chúng ta cũng sẽ không có cơ sở để hiểu đúng nhiều vấn đề quốc tế phức tạp khác trên thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.608-609).


Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho những thành công trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đảng và Chính phủ là phải tranh thủ tối đa được sự chi viện của hai nước Liên Xô, Trung Quốc, bởi đây là hai đồng minh chiến lược lớn, đã và đang có những viện trợ quân sự thiết thực, hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam; là hai trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới; có vị thế và ảnh hưởng sâu sắc trong các hoạt động quốc tế. Mà "Muốn đoàn kết được với Liên Xô và Trung Quốc, thì Đảng ta phải độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của một đảng mácxít - lêninnít đối với vận mệnh của nhân dân nước mình, của toàn dân tộc mình và đối với phong trào cộng sản quốc tế, là vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnhcủa nước mình và thực tiễn của cách mạng thế giới để đề ra đường lối chủ trương của Đảng mình. Độc lập, tự chủ tức là không rập khuôn một cách máy móc theo đường lối chủ trương của đảng khác... nó không trái với tinh thần quốc tế vô sản chân chính và chính là vi tinh thần quốc tế vô sản mà chúng ta phải giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611). Đó vừa là nguyên lý lại vừa là những nguyên tắc cơ bản của đường lốì, chủ trương chính sách đối ngoại Việt Nam suốt những năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã rất nỗ lực trong đề ra các đối sách khôn khéo và sáng tạo nhằm giải quyết thành công hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan như: quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Liên Xô, giữa Liên Xô với Trung Quốc, giữa ba nước Việt - Trung - Xô, giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa khác. "Từ trước tới nay, cũng như từ nay về sau, Đảng ta vẫn coi Đảng Cộng sản Liên Xô là Đảng của Lênin, coi Liên Xô là Tổ quốc đầu tiên của vô sản toàn thế giới; Đảng ta coi Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng có một vị trí cực kỳ quan trọng trên thế giới và ở châu Á, coi quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc là quan hệ môi răng, sống chết có nhau. Vì vậy, đường lối của Đảng ta là bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Trung Quốc, đoàn kết với Liên Xô, đoàn kết với Trung Quốc để đoàn kết và bảo vệ toàn phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Chúng ta quyết không bao giờ đi chệch khỏi đường lối ấy"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611).


Một trong các vấn đề cơ bản cần phải giải quyết đó là dàn xếp thỏa đáng mâu thuẫn Xô - Trung đã và đang bị chính quyền Mỹ triệt để lợi dụng, khai thác hòng làm giảm đi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam; gây sức ép trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh tại Việt Nam có lợi cho phía Mỹ. Do vậy, cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc giữ gìn tình đoàn kết giữa Việt Nam với Liên Xô và Việt Nam với Trung Quốc nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ của cả hai nước cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, hạn chế tới mức tối thiểu những tiêu cực do những mâu thuẫn này gây ra và làm thất bại âm mưu thâm độc của Mỹ gây khó khăn, phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc. Đảng, Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cẩn trọngphân tích một cách thấu đáo để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về quan điểm và mục đích của mỗi nước trong quan hệ với Việt Nam; xác định rõ lơi ích và chính sách của mỗi nước trong chiến tranh ở Việt Nam để tìm ra mẫu số chung là thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh xã hội chủ nghĩa. Giúp Việt Nam đánh Mỹ tức là trực tiếp hoặc gián tiếp kiềm chế Mỹ và làm cho Mỹ suy yếu, bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới, nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Kiên quyết dứt khoát thực hiện phương châm: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực". Tuy nhiên: "Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi. Chúng ta không vì muốn thỏa mãn Liên Xô mà đoàn kết với bè lũ Titô và những tổ chức tay sai của đế quốc. Không chạy theo thỏa mãn Trung Quốc mà gạt bỏ những lực lượng ít nhiều tích cực nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng mặt tiêu cực của Liên Xô"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 21).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:42:19 pm »

Bên cạnh quán triệt và nghiêm túc thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lănh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng Việt Nam cũng sớm ý thức sâu sắc rằng để có thể tranh thủ tối đa được sự giúp đỡ ngày càng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh cuộc chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt, mâu thuẫn Xô - Trung từng bước đẩy tới đỉnh điểm, ảnh hưởng lớn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới và cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, đòi hỏi "Trung ương Đảng ta phải rất thận trọng, phải suy nghĩ cân nhắc nhiều mặt và phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước trong phe ta đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608). Quan điểm xuyên suốt nhất quán là: "Đảng ta, trước sau như một,vẫn chủ trương đoàn kết phong trào cộng sản quốc tế đoàn kết phe ta, đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chúng ta rất tha thiết với sự đoàn kết ấy vì chúng ta nhận định rằng cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản toàn thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.608).


Để tranh thủ hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ của các đảng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể các cơ quan chức năng đối ngoại Việt Nam là: "Trong khi tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các đảng và các nước trong phe ta, cũng như của phong trào cộng sản quốc tế, chúng ta lại phải xét tới nhiệm vụ chiến lược và địa vị chính trị của từng đảng, từng nước, để đặt yêu cầu cho hợp lý và đúng mức, vì chúng ta cần nhận rõ rằng giữa các đảng và các nước trong phe ta, cũng như giữa các đảng trong phong trào cộng sản quốc tế có mối quan hệ lẫn nhau trên tinh thần quốc tế vô sản, nhưng đồng thời giữa đảng này và đảng khác, giữa nước này và nước khác lại có những mối quan hệ cụ thể khác nhau do vị trí địa lý, do quá trình lịch sử, do nhiệm vụ chiến lược giống nhau hoặc khác nhau trên thế giới, trong từng khu vực tạo nên. Nếu không hiểu rõ mối quan hệ cụ thể đó, mà lấy mình làm trung tâm để xét đoán mọi vấn đề thì chúng ta sẽ không khách quan, đồng thời chúng ta cũng sẽ không có cơ sở để hiểu đúng nhiều vấn đề quốc tế phức tạp khác trên thế giới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.608-609).


Trước hết, yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho những thành công trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối vận động, tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Đảng và Chính phủ là phải tranh thủ tối đa được sự chi viện của hai nước Liên Xô, Trung Quốc, bởi đây là hai đồng minh chiến lược lớn, đã và đang có những viện trợ quân sự thiết thực, hiệu quả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam; là hai trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới; có vị thế và ảnh hưởng sâu sắc trong các hoạt động quốc tế. Mà "Muốn đoàn kết được với Liên Xô và Trung Quốc, thì Đảng ta phải độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ là thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của một đảng mácxít - lêninnít đối với vận mệnh của nhân dân nước mình, của toàn dân tộc mình và đối với phong trào cộng sản quốc tế, là vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnhcủa nước mình và thực tiễn của cách mạng thế giới để đề ra đường lối chủ trương của Đảng mình. Độc lập, tự chủ tức là không rập khuôn một cách máy móc theo đường lối chủ trương của đảng khác... nó không trái với tinh thần quốc tế vô sản chân chính và chính là vi tinh thần quốc tế vô sản mà chúng ta phải giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.611). Đó vừa là nguyên lý lại vừa là những nguyên tắc cơ bản của đường lốì, chủ trương chính sách đối ngoại Việt Nam suốt những năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã rất nỗ lực trong đề ra các đối sách khôn khéo và sáng tạo nhằm giải quyết thành công hàng loạt vấn đề phức tạp liên quan như: quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Liên Xô, giữa Liên Xô với Trung Quốc, giữa ba nước Việt - Trung - Xô, giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa khác. "Từ trước tới nay, cũng như từ nay về sau, Đảng ta vẫn coi Đảng Cộng sản Liên Xô là Đảng của Lênin, coi Liên Xô là Tổ quốc đầu tiên của vô sản toàn thế giới; Đảng ta coi Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng có một vị trí cực kỳ quan trọng trên thế giới và ở châu Á, coi quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc là quan hệ môi răng, sống chết có nhau. Vì vậy, đường lối của Đảng ta là bảo vệ Liên Xô, bảo vệ Trung Quốc, đoàn kết với Liên Xô, đoàn kết với Trung Quốc để đoàn kết và bảo vệ toàn phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế. Chúng ta quyết không bao giờ đi chệch khỏi đường lối ấy"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,t.26, tr.611).


Một trong các vấn đề cơ bản cần phải giải quyết đó là dàn xếp thỏa đáng mâu thuẫn Xô - Trung đã và đang bị chính quyền Mỹ triệt để lợi dụng, khai thác hòng làm giảm đi sự ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ của hai quốc gia này đối với cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam; gây sức ép trong việc giải quyết vấn đề chiến tranh tại Việt Nam có lợi cho phía Mỹ. Do vậy, cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức cho việc giữ gìn tình đoàn kết giữa Việt Nam với Liên Xô và Việt Nam với Trung Quốc nhằm tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ của cả hai nước cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, hạn chế tới mức tối thiểu những tiêu cực do những mâu thuẫn này gây ra và làm thất bại âm mưu thâm độc của Mỹ gây khó khăn, phức tạp trong quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc. Đảng, Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cẩn trọngphân tích một cách thấu đáo để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt về quan điểm và mục đích của mỗi nước trong quan hệ với Việt Nam; xác định rõ lơi ích và chính sách của mỗi nước trong chiến tranh ở Việt Nam để tìm ra mẫu số chung là thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh xã hội chủ nghĩa. Giúp Việt Nam đánh Mỹ tức là trực tiếp hoặc gián tiếp kiềm chế Mỹ và làm cho Mỹ suy yếu, bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới, nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Kiên quyết dứt khoát thực hiện phương châm: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực". Tuy nhiên: "Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi. Chúng ta không vì muốn thỏa mãn Liên Xô mà đoàn kết với bè lũ Titô và những tổ chức tay sai của đế quốc. Không chạy theo thỏa mãn Trung Quốc mà gạt bỏ những lực lượng ít nhiều tích cực nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng mặt tiêu cực của Liên Xô"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 21).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:44:56 pm »

Việt Nam cũng đồng thời công khai và chân thành thể hiện quan điểm, chính kiến của mình với phía Trung Quốc: "Chúng tôi nói Trung Quốc giúp đỡ nhiều và với tinh thần anh em, nhưng chúng tôi cũng thừa nhận là Liên Xô có giúp đỡ, trong đó có phần giúp đỡ thật. Đó là quan điểm của chúng tôi". Và, "Chúng tôi không nói công khai những ý kiến khác nhau giữa chúng tôi với các đồng chí. Chúng tôi cho rằng Liên Xô giúp đỡ chúng tôi có phần thực. Cho nên, chúng tôi không nói Liên Xô muốn bán rẻ Việt Nam và cũng không nói Liên Xô vu khống Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ..."1 (Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm Việt - Trung (sau khi Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu từ Mátxcơva trở lại Bắc Kinh ngày 13 tháng 4 năm 1966% tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 93, 99).


Trên tinh thần độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo, Đảng Lao động và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chân thành đoàn kết với cả Liên Xô và Trung Quốc, tôn trọng lợi ích từng nước, đồng thời rất chú ý tới những quan điểm khác biệt của mỗi nước để có giải pháp xử lý khéo léo, mềm dẻo và thỏa đáng. Trong xử lý các vấn đề có ý nghĩa chiến lược và sách lược liên quan tới cách mạng Việt Nam, công việc trao đổi, hội đàm đều do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn,Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm việc thường xuyên với lãnh đạo cao nhất hai nước. Hằng năm, Đảng và Chính phủ thường cử một Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng trực tiếp làm việc về các vấn đề viện trợ ngoại giao với các nước anh em. Trong 7 năm (1965 - 1972) đã có tới 51 cuộc gặp cấp cao Việt Nam - Liên Xô (từ cấp Ủy viên Bộ Chính trị trở lên). Với Trung Quốc số lần gặp cấp cao giữa hai nước Việt - Trung cũng tương đương như vậy.


Một trong những sách lược đối ngoại của Đảng Lao động Việt Nam là thực hiện chủ trương duy trì quan hệ cân bằng với cả hai nước, không nghiêng về bên này để chống bên kia hoặc ngược lại, kiên quyết không để cho các nước lợi dụng vấn đề Việt Nam chống nhau ngay trên đất Việt Nam. Mọi điện mừng hay cảm ơn, tuyên bố phát biểu, chúng ta đều tính toán và cân nhắc kỹ tránh gây hiểu lầm giữa hai bên. Việc tiếp nhận viện trợ như thế nào, Việt Nam đều chủ động đề nghị, tính toán mà không bị bất cứ sức ép nào. Việt Nam đã hoàn toàn chủ động nhận đội ngũ chuyên gia kỹ thuật quân sự, dân sự Liên Xô giúp miền Bắc, nhưng không đặt hệ thống cố vấn bên cạnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam.


Nhưng có lẽ khó khăn nhất đối với Đảng Lao động Việt Nam là xử lý những vấn đề liên quan tới Việt Nam mà Liên Xô và Trung Quốc có quan điểm trái ngược nhau như: vấn đề họp ba đảng Việt - Trung - Xô, vấn đề ra tuyên bố chung của các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ nhân dân Việt Nam đánh Mỹ, vấn đề lập cầu hàng không Liên Xô - Việt Nam, vấn đề xây dựng căn cứ không quân Liên Xô ở Hoa Nam (Trung Quốc) để chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mặc dù Việt Nam đã cố gắng thuyết phục Trung Quốc giúp đỡ, nhưng khi Trung Quốc không đồng tình ủng hộ, kiên quyết phản đối thì Việt Nam cũng chủ động bàn với Liên Xô gác lại các vấn đề đó để tránh gây ra những căng thẳng trong quan hệ với phía Trung Quốc. Về vấn đề vận tải quá cảnh hàng viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua lãnh thổ Trung Quốc, để tránh nghi ngại, Việt Nam cũng chủ động thuyết phục Trung Quốc chấp nhận cho Việt Nam được nhận ngay tại biên giới Trung Quốc với các nước đó và khi chuyên chở qua Trung Quốc đã là hàng hóa của Việt Nam.


Bên cạnh thực hiện chủ trương, đường lối, sách lược và những bước đi phù hợp trong giải quyết các mâu thuẫn bất đồng, tranh thủ cao độ sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng hết sức chú trọng tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ. Chủ trương này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục được thể hiện rõ tại Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III (tháng 01/1967) là: "Cần làm cho các nước xã hội chủ nghĩa và các đảng anh em, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, hiểu rõ quyết tâm chiến lược, khả năng chiến thắng và việc vận dụng sách lược của ta, do đó càng đồng tình và ủng hộ ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao của ta, tích cực giúp đỡ ta về vật chất và phối hợp tốt với ta về mặt đấu tranh ngoại giao"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Sđd, t.28, tr.177).


Việt Nam không chỉ vận động tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa mà với các quốc gia bạn bè khác trên thế giới, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng khẳng định rằng: "Chúng ta cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân và Chính phủ các nước khác trên thế giới, giải thích cho họ hiểu rõ thiện chí của ta và thái độ ngoan cố của đế quốc Mỹ, do đó, vận động họ đấu tranh chống cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và ủng hộ lập trường ta"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Sđd, t.28, tr.177).


Tiếp theo đó, ngày 27/01/1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp nhấn mạnh: Đi đôi với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị trong nước, quân và dân Việt Nam cần tiến công địch về mặt ngoại giao bằng cách đẩy mạnh đấu tranh chính trị quốc tế và ngoại giao dưới mọi hình thức khác nhau.Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định: "Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân yêu chuộng hòa bình toàn thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, để tăng cường lực lượng của ta về các mặt vật chất, chính trị và tinh thần"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t-28.tr. 150) đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Sau cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 08/6/1967, Thường trực Quân ủy Trung ương tổ chức họp phiên thứ 5 để bàn bạc đi tới thống nhất thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, trong đó có vấn đề tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1968 và phương hướng những năm 1969 - 1970. Căn cứ tình hình trong nước, khu vực, trên thế giới và những trang bị hiện có, dự tính khả năng tiêu hao, Quân ủy Trung ương nhấn mạnh, nhiệm vụ tranh thủ viện trợ quân sự cần đạt được những yêu cầu cấp thiết: bổ sung máy bay, tên lửa bị tiêu hao; súng bộ binh đủ 40 vạn khẩu; súng cho dân quân du kích từ 70 đến 80 vạn khẩu; pháo cối 60mm cho các đại đội; súng B41 cho các tiểu đoàn; ca nông 122mm, pháo 130mm, tên lửa đất đối đất; thiết giáp xe tăng T54B, T55 thêm PT79; cao xạ: 57mm, 23mm, BTR40A; tên lửa đưa lên 15 trung đoàn trang bịmới; không quân tăng thêm một trung đoàn MIG21, hoặc 23, 1 trung đoàn cường kích; hải quân là các loại tàu phóng lôi, xuồng tên lửa, tên lửa bờ biển, tàu ngầm. Yêu cầu trang bị cho miền Nam đủ 25 vạn bộ đội và 50 vạn du kích; các loại súng AK, B40, B41, cối, tên lửa, vô tuyến điện phân đội nhỏ1 (Xem Quân ủy Trung ương: Biên bản họp cuộc họp Thường trực Quân ủy Trung ương lần thứ 5, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 180).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM