Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:47:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM  (Đọc 5554 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:46:31 pm »

Ngày 27/6/1970, Thường trực Quân ủy Trung ương họp hội nghị ra Nghị quyết về Phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971. Sau khi cân nhắc, tính toán kỹ từ nhiều chiều cạnh khác nhau của vấn đề, Quân ủy Trung ương yêu cầu các cơ quan chức năng của Việt Nam khi vận động, tranh thủ viện trợ quân sự năm 1971 phải nhằm giúp cho Việt Nam đạt được mục tiêu vừa có thêm điều kiện vật chất kỹ thuật để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trước mắt ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, lại vừa có thể tạo thêm cơ sở cho việc xây dựng lâu dài; vừa có phương tiện để đánh giặc hiện nay, lại có một số dự trữ cần thiết để duy trì chiến đấu trên các chiến trường và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Cụ thể là: bổ sung và tăng cường trang bị khí tài và vật chất cho các lực lượng vũ trang Việt Nam ở chiến trường miền Nam,Lào và Campuchia; đặc biệt, tăng cường vũ khí đánh xe cơ giới, máy bay, công sự vững chắc, căn cứ...; tiếp đến là bổ sung và tăng cường các loại phương tiện, vũ khí, khí tài cho tuyến vận tải chiến lược; bổ sung và tăng cường trang bị khí tài để nâng cao hiệu suất chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội miền Bắc, nhất là để đánh địch có hiệu quả hơn nữa trong trường hợp chúng gây lại chiến tranh phá hoại miền Bắc; chú trọng tăng cường năng lực dự trữ và cải tiến chất lượng trang bị cho bộ đội miền Bắc1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết về phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-3).


Đầu năm 1971, nhằm gấp rút chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự đi thăm và làm việc với các nước xã hội chủ nghĩa; một mặt, vừa khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn của quân và dân Việt Nam, mặt khác vận động các nước có sự giúp đỡ đặc biệt cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đoàn đại biểu Việt Nam đã nhận được sự đón tiếp trọng thị và được các nước khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự.


Ngày 10/7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp hội nghị và ra Nghị quyết về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam năm 1973. Trên cơ sở tính toán, Quân ủy Trung ương chỉ đạo trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự của các nước anh em năm 1973 cần phải đạt được: bảo đảm các nhu cầu chiến đấu, công tác và xây dựng trước mắt của các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam, miền Bắc, Campuchia, Lào và trên tuyến hậu cần chiến lược, đồng thời bảo đảm có một lượng dự trữ cần thiết; giải quyết một bước tình trạng không cân đối về trang bị giữa các quân chủng, binh chủng, không cân đôì giữa tổ chức biên chế với trang bị, giữa các loại trang bị và giữa trình độ trang bị với khả năng bảo đảm kỹ thuật, đồng thời cố gắng hiện đại hóa một bước các quân chủng, binh chủng kỹ thuật; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xây dựng về lâu dài, nâng cao khả năng tự cung cấp nhu cầu vật tư kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cụ thể là: bảo đảm bổ sung tiêu hao từ 1 đến 2 năm; tăng cường sức đột kích bằng hỏa lực và cơ giới cho các lực lượng bộ binh; tăng số lượng, chất lượng trang bị, khí tài các quân chủng, binh chủng kỹ thuật và thay thế dần trang bị, khí tài giảm chất lượng hoặc không có nguồn bổ sung, hoặc lạc hậu; tăng cường trang bị cho dân quân tự vệ cả ở miền Nam và miền Bắc; tăng thêm phương tiện kỹ thuật cho các tuyến vận tải: ngoài việctăng thêm máy móc công trình để làm và sửa đường, còn phải tăng thêm phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy, thiết bị bốc dỡ, khí tài rà phá thủy lôi, bom mìn từ trường; tăng cường mạng đường ông dẫn dầu...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-2).


Tháng 5/1973, Quân ủy Trung ương họp phân tích đánh giá tình hình sau ngày Hiệp nghị Pari được ký kết và có hiệu lực, biết rõ việc tranh thủ viện trợ quân sự sẽ gặp rất nhiều khó khăn bởi các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho rằng chiến tranh đã kết thúc từ khi quân viễn chinh và chư hầu Mỹ rút quân khỏi miền Nam, nhưng đứng trước yêu cầu rất lớn về vũ khí, đạn dược, phương tiện khí tài, trên cơ sở căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, căn cứ vào khả năng vũ khí, trang bị hiện có Quân ủy Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng cần phải đẩy mạnh vận động, tranh thủ viện trợ quân sự để cải thiện trang bị, tăng lượng dự trữ chiến lược cho quốc gia. Theo tính toán của Quân ủy Trung ương Việt Nam: "Trong năm 1974, ta vẫn có cơ hội và có lý do để tranh thủ các nước giúp ta với mức xấp xỉ với năm bình thường trong chiến tranh". Đồng thời, đề ra phươnghướng tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1974 cần phải đạt tới mục tiêu: "Bảo đảm duy trì lực lượng hiện nay, giữ vững sức chiến đấu cho bộ đội ở cả hai miền Nam - Bắc và trên tuyến vận tải chiến lược, bảo đảm cho bộ đội làm nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời tranh thủ tăng cường và cải tiến thêm một bước chất lượng trang bị và tăng thêm một mức lượng dự trữ"1 (Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1974, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 180).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:49:12 pm »

III- ĐẨY MẠNH TRANH THỦ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trên cơ sở đường lối, chủ trương, sách lược đối ngoại đã được quán triệt, từ các đồng chí lãnh đạo cao nhất cho đến các cơ quan chức năng của Việt Nam đã nỗ lực cao độ trong vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Ngày 01/6/1965, ý thức trước những diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình khi chiến tranh leo thang và ngày càng trở nên khốc liệt, nhu cầu các mặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn; đặc biệt, yêu cầu về nguồn viện trợ quân sự đặt ra vô cùng cấp bách cần phải được các nước anh em tăng cường giúp đỡ hơn nữa, đồng thời để tập trung thống nhất công tác vận động, tranh thủ các nguồn viện trợ giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Ban Thống nhất quản lý viện trợ (Quyết định số 87/CP) do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị trực tiếp làm Trưởng ban. Đoàn đại biểu quân sự của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ghép chung với đoàn đại biểu của Chính phủ, không thành lập đoàn riêng. Tới đây, từ năm 1965 cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, hằng năm, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thành lập đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng hoặc một Phó Thủ tướng dẫn đầu sang Liên Xô, Trung Quốc và đi các nước xã hội chủ nghĩa khác vận động, tranh thủ viện trợ cả về kinh tế và quân sự.


Sau khi thành lập, Ban Thống nhất quản lý viện trợ kịp thời tổng hợp mọi nhu cầu, tham mưu đề xuất thành phần đoàn đàm phán. Được sự nhất trí của Hội đồng Chính phủ, đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt, từ nghiên cứu phong tục, tập quán đến tổng hợp nhu cầu đặt viện trợ các loại hàng hóa với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Hoạt động của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại các nước gặp khá nhiều thuận lợi bởi những ảnh hưởng lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Dồn dập ngay từ những tháng đầu năm 1965, trên cơ sở sự đồng tình và ủng hộ tích cực của lãnh đạo và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tranh thủ ký kết thành công hàng loạt các hiệp định với Liên Xô và Trung Quốc về viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiệp định với Liên Xô ngày 17/4/1965, với Trung Quốc ngày 06/6/1965)...


Trên đà tăng cường tranh thủ những thuận lợi lớn do tình hình quốc tế đem lại, đầu tháng 7/1965, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu tiếp tục lên đường đi đàm phán với các nước Trung Quốc, Liên Xô, Triều Tiên, Mông Cổ, Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Rumani, Anbani... đặt vấn đề tăng cường viện trợ giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Đến quốc gia nào, đoàn Việt Nam cũng tranh thủ thời gian, tìm mọi cơ hội và điều kiện để bày tỏ chủ trương, đường lốì kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trình bày rõ những khó khăn của Việt Nam, thông báo các thắng lợi quân sự trên các chiến trường; kêu gọi sự giúp đỡ của nhân dân và chính phủ các nước. Kết quả, Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, cảm thông và chia sẻ sâu sắc của lãnh đạo và nhân dân các nước anh em; liên tiếp ký kết được hiệp định về viện trợ quân sự với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa anh em.


Từ ngày 12/12/1965 đến ngày 12/02/1966, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu tiếp tục lên đường đi đàm phán với các nước Hunggari, Ba Lan, Tiệp Khăc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Bungari, Rumani về viện trợ quân sự cho Việt Nam trong năm 1966. Theo đánh giá của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam: "Qua tiếp xúc, thấy các nước bạn đều thực tâm, nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thấy được nhiệm vụ quốc tế của mình, do đó, trừ Tiệp Khắc viện trợ ít hơn năm 1965, còn các nước khác đều cố gắng nhất là Hunggari và Ba Lan thì nhiệt tình và cố gắng hơn". Và, "Toàn bộ viện trợ quân sự năm 1966 của các nước nói trên đạt trị giá khoảng từ 42 đến 43,5 triệu rúp: Hunggari từ 19 đến 20 triệu rúp; Rumani giúp 3,5 triệu rúp; Bungari giúp 2 triệu rúp; Tiệp Khắc giúp 3 triệu rúp; Ba Lan giúp 10 triệu rúp; Đông Đức giúp 5 triệu rúp"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo kết quả công tác của đoàn đi đàm phán về viện trợ quân sự năm 1966 với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1-7).


Bước sang năm 1967, tình hình chiến sự cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam tiếp tục diễn biến vô cùng khốc liệt bởi Mỹ leo thang chiến tranh. Trên chiến trường miền Bắc, cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của quân và dân ta đối với lực lượng không quân và hải quân Mỹ đang trong giai đoạn cao trào; ở miền Nam, cuộc phản công mùa khô của Quân giải phóng miền Nam cũng thu được những thắng lợi lớn. Nhu cầu về viện trợ quân sự cho cuộc chiến đấu tiếp tục đặt ra vô cùng cấp thiết. Từ ngày 04 đến ngày 07/01/1967, dưới sự chủ trì của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cùng với việc họp bàn về Kế hoạch chiến lược bảo vệ miền Bắc, Thường trực Quân ủy Trung ương đã tiếp tục đề ra phương hướng chỉ đạo chung đối với cuộc kháng chiến là: "Toàn dân, toàn diện, đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ viện trợ của các nước anh em"1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm: Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269). Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cũng báo cáo Hội đồng Chính phủ xin chủ trương, đề nghị Chính phủ Cộng hòa Liên bang Xôviết chi viện gấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số vũ khí, khí tài viện trợ quân sự trong năm 1967. Đặc biệt, hết sức cấp thiết là các loại máy bay chiến đấu MiG21, F13, MiG17F, số tên lửa SAM-2 bổ sung tiêu hao chiến đấu, đạn pháo cao xạ, tên lửa bảo vệ bờ biển, các khí tài chống nhiễu, các trạm rađa SNAR6, các khí tài bổ sung những thiệt hại trong chiến đấu và trang bị các trung đoàn tên lửa phòng không. Cụ thể: Việt Nam cần 1 trung đoàn MiG17F gồm 32 máy bay chiến đấu, 10 cơ số đạn, 5 cơ số bom; 1 trung đoàn MiG21 và F13 gồm 24 máy bay chiến đấu, 2 máy bay huấn luyện, 10 cơ số đạn, 480 quả đạn tên lửa, 5 cơ số bom; 12 MiG17F tiêu hao; 1.500 quả đạn tên lửa B750B; 75 quả tên lửa CA65M; 288 quả đạn tên lửa CA75A; hai bộ điều khiển tên lửa PCHA-75M; 7 bệ phóng tên lửa, 1trạm trùng tu khí tài tên lửa phòng không SA75M, 150.000 viên đạn 57mm, 2,5 triệu viên đạn 12,7mm, 1,5 triệu viên đạn 14,5mm, 3 triệu viên đạn 37mm, 2 rađa pháo mặt đất1 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm; Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269, 278-279).


Đáp lại những đề nghị khẩn thiết của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 04/5/1967, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Xôviết gửi thư thông báo cho phía Việt Nam biết với nội dung sẽ bổ sung những khoản viện trợ quân sự trong thời gian trước mắt nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của các lực lượng phòng không và tăng cường bảo vệ bờ biển Việt Nam. Ngoài ra, phía Liên Xô cũng quyết định giúp đỡ thêm lương thực, thực phẩm và cho biết những biện pháp ủng hộ mạnh mẽ về chính trị, tinh thần đã và đang được tiến hành2 (Dẫn theo Thượng tướng Trần Sâm; Năm tháng cuộc đời, Sđd, tr.269, 278-279).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:51:21 pm »

Để tập trung cao độ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân Việt Nam,ngày 08/7/1967, Thường trực Quân ủy Trung ương tổ chức họp, xác định trọng tâm là cần gấp rút yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phương hướng chung đối với yêu cầu viện trợ quân sự trong năm 1968 do Quân ủy Trung ương đề ra là: đối với miền Bắc của ta, cần đề nghị các nước bạn tăng cường giúp các loại vũ khí phòng không, khí tài phòng thủ bờ biển và chống phong tỏa cảng Hải Phòng; nhưng đối với chiến trường miền Nam, Việt Nam cần các nước xã hội chủ nghĩa chi viện các loại vũ khí và trang bị với khả năng cao nhất, chú trọng hơn đến vũ khí phòng không tầm thấp, ĐKZB, vũ khí chống tăng, bọc thép, đặc công, thông tin, phòng hóa...


Theo đó, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu cùng một số đoàn cấp cao khác đã chủ động lên đường đàm phán với các nước xã hội chủ nghĩa. Với vị thế, uy tín và những thắng lợi quân sự liên tiếp trên khắp các chiến trường hai miền Bắc - Nam, đặc biệt là thắng lợi về quân sự trong năm 1968 ở miền Nam và trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của quân và dân miền Bắc đã thuyết phục các nước anh em viện trợ quân sự cho nhân dân Việt Nam vượt mức đề ra. Thay mặt nhân dân Liên Xô, Tổng Bí thư Brêgiơnhép phát biểu trong buổi tiếp đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu: "Các đồng chí Việt Nam có thể tin cậy là chúng tôi thành tâm giúp đỡ, không ngừng giúp đỡ nhân dân Việt Nam, không ngừng đấu tranh chống đế quốc Mỹ về mặt chính trị và ngoại giao". Phát biểu cảm nhận về sự giúp đỡ của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo cáo kết quả đàm phán kinh tế của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu đánh giá: "Các đồng chí đã chí tình giúp đỡ ta, quan tâm giải quyết đầy đủ các yêu cầu ta đề ra... Các đồng chí đã có một sự cố gắng lớn, khắc phục những khó khăn để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của ta... Đặc biệt lần này, chính đồng chí Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp bàn bạc và giải quyết các vấn đề cụ thể với đoàn ta"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, Tlđd, tờ 18).


Hoạt động tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự của các cơ quan chức năng trong nước cũng diễn ra thường xuyên, liên tục. Ngày 27/6/1970, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp hội nghị, ra Nghị quyết về phương hướng, nội dung, yêu cầu các nước anh em viện trợ quân sự năm 1971. Đầu năm 1971, để chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn đầu Đoàn đại biểu quân sự đi các nước xã hội chủ nghĩa, một mặt khẳng định quyết tâm đánh Mỹ xâm lược đến thắng lợi hoàn toàn của quân và dân Việt Nam, mặt khác vận động các nước có sự giúp đỡ đặc biệt đối với Việt Nam Đoàn đã nhận được đón tiếp trọng thị và được các nước cam kết tăng cường viện trợ quân sự.


Tiếp theo đó, ngày 10/7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự cho Việt Nam năm 1973. Trên cơ sở tính toán khoa học, Quân ủy Trung ương chỉ đạo trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1973 cần đạt được: Bảo đảm các nhu cầu chiến đấu công tác và xây dựng trước mắt của các lực lượng vũ trang ở miền Nam, miền Bắc, Campuchia, Lào và trên tuyến hậu cần chiến lược, đồng thời có một lượng dự trữ cần thiết...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, Tlđd, tờ 1-2).


Không chỉ mật độ dày đặc các hoạt động tranh thủ viện trợ của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ,Quốc hội, Cơ quan chức năng dân sự mà đối với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cũng tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thành lập và cử 82 đoàn cán bộ các cấp đi nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các nước anh em; đồng thời, trọng thị đón 175 đoàn quân sự nước ngoài1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Cục Đối ngoại: 45 năm Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng (1964 - 2009), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 138), chủ yếu là đoàn các nước xã hội chủ nghĩa đến Việt Nam thăm và làm việc, nghiên cứu tình hình chiến sự và kinh nghiệm đánh Mỹ của quân và dân Việt Nam. Qua các hoạt động đối ngoại quân sự tích cực của Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần giúp cho bạn bè hiểu thêm về cuộc kháng chiến chính nghĩa đầy gian khổ và hy sinh lớn lao của nhân dân Việt Nam mà tích cực viện trợ vật chất, ủng hộ về chính trị, tinh thần đối với cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam đang tiến hành.


Đi vào những hoạt động vận động, tranh thủ cụ thể đối với từng nước, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nêu cao tính chủ động, làm chủ tình thế, tích cực hoạt động và thu được những kết quả tốt. Đối với Triều Tiên, Chính phủ và nhân dân Triều Tiên ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954 - 1964 không nhiều, bởi phía Triều Tiên chưa hiểu rõ về tình hình đất nước và đường lối cách mạng của Việt Nam. Triều Tiên cho rằng đường lối hòa bình trung lập do Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đề ra ở miền Nam làm hạn chế đến thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp; công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam rất chậm, lại thiếu tính độc lập, dựa dẫm vào nước ngoài quá nhiều. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ động mời các đoàn Triều Tiên tới thăm và làm việc với Việt Nam, tích cực giới thiệu và tuyên truyền sâu, rộng hơn về đường lối cách mạng của Việt Nam với bạn, giúp cho bạn thấy rõ đường lối chống Mỹ xâm lược của Đảng Lao động Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với đường lối, chủ trương cách mạng của Triều Tiên. Vì vậy, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày càng to lớn cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần (33,5 triệu rúp tính riêng trong những năm 1965 - 1968, chưa kể viện trợ quân sự, đây là thời kỳ Chính phủ và nhân dân Triều Tiên giúp Việt Nam cao nhất trong 21 năm quân và dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Triều Tiên cử lực lượng bộ đội phòng không, bộ đội công binh sang giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến đấu, cũng một phần mong muốn học tập kinh nghiệm chiến đấu của quân và dân Việt Nam, rèn luyện bộ đội).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:54:11 pm »

Trong quá trình vận động, tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Bungari cho Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng gặp không ít khó khăn. Từ năm 1964 trở về trước, Bungari ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam ở mức độ hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của bạn (cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần so với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác). Khi xảy ra sự kiện vịnh Băc Bộ ngày 05/8/1964 ở Việt Nam, Chính phủ Bungari chỉ ra tuyên bố trên Thông tấn xã, không tổ chức hoạt động mít tinh phản đối, các cơ quan chức năng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vận động biểu tình ủng hộ, nhưng phía Bungari từ chối khéo, ít nhắc tới Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì vận động, tranh thủ Bungari bằng nhiều hình thức khác nhau, từ mời các đoàn bạn sang thăm Việt Nam, chủ động tuyên truyền giới thiệu những thắng lợi về quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, thế chính nghĩa của sự nghiệp kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành là giành độc lập dân tộc, bảo vệ an ninh, an toàn, hòa bình thế giới, bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa anh em. Do đó, quan điểm và hành động cụ thể ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Bungari chuyển biến khác hẳn những giai đoạn trước đó. Mặt khác, Chính phủ Bungari ngày càng nhận thức rõ hơn về nguy cơ của chủ nghĩa đế quốc qua thảo luận tại diễn đàn Hội nghị Vácxôvi (tháng 3/1965) và thấy rõ vai trò, vị trí cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đối với hòa bình thế giới và an ninh của phe xã hội chủ nghĩa cũng như nghĩa vụ quốc tế của mình, để từ đó Bungari ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mạnh mẽ hơn, chủ động lên án chính quyền Mỹ, tăng cường giúp vật chất nhiều hơn trước trong vòng 10 năm (1954 - 1964), Chính phủ Bungari giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 17 triệu rúp cũ và 10.000 lêva, nhưng chỉ trong khoảng thời gian 4 năm sau, từ 1965 đến 1968 tăng lên 21,5 triệu rúp mới)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5)...


Chưa tin tưởng rằng quân và dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khả năng đánh thắng được Mỹ cũng tác động nhiều đến quan điểm và hành động ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Ba Lan đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, gây nhiều khó khăn cho các hoạt động ngoại giao của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước tình thế đó, Việt Nam kiên trì giải thích cho Chính phủ và nhân dân Ba Lan hiểu rõ khả năng thắng Mỹ bằng sức mạnh Việt Nam trên phạm vi miền Nam Việt Nam, kiên quyết không để chiến tranh lan rộng; kịp thời cung cấp thông tin về những chiến thắng quân sự cho phía bạn, tạo sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam và Ba Lan. Chính bởi vậy, Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ khá lớn về vật chất và chính trị, tinh thần từ phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Ba Lan. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ tiếp nhận viện trợ quân sự Việt Nam, Ba Lan chỉ đứng sau hai quốc gia Liên Xô và Trung Quốc có những viện trợ quân sự mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.


Trong quá trình Việt Nam vận động, tranh thủ Rumani cũng gặp không ít những khó khăn. Chính phủ Rumani tích cực giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cả về kinh tế lẫn viện trợ quân sự, nhưng quan điểm chính trị và hoạt động cụ thể của phía Rumani về vấn đề Việt Nam mang nhiều nhân tố chưa thuận chiều. Rumani xem việc kéo dài chiến tranh ở Việt Nam gây ra những trở ngại lớn cho nỗ lực cải thiện quan hệ ngoại giao với chính quyền Mỹ của Chính phủ Rumani, do đó nhiều lần Rumani đã thúc ép Việt Nam đi vào thương lượng với Mỹ và sẵn sàng đứng ra làm trung gian trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc Rumani chủ động và tích cực viện trợ vật chất cho Việt Nam không hẳn là do sự nhận thức về nghĩa vụ quốc tế của một nước xã hội chủ nghĩa đối với một nước xã hội chủ nghĩa khác mà còn do nhiều yếu tố khác chi phối tác động. Rumani muốn thông qua sự viện trợ này làm gia tăng sức thuyết phục đối với đường lối đối ngoại của Rumani trước dư luận quốc tế, đồng thời cũng để đáp ứng đòi hỏi bức thiết của quần chúng trong nước. Hiểu rõ điều đó, Việt Nam luôn biểu thị tinh thần đoàn kết hữu nghị với Rumani, kiên trì chủ động tranh thủ vận động sự ủng hộ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Rumani đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam, nhất là về chính trị, tinh thần. Việt Nam luôn đánh giá cao sự giúp đỡ về cả quân sự lẫn kinh tế của Chính phủ và nhân dân Rumani cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân Việt Nam nên đã nhận được sự giúp đỡ lớn từ phía bạn.


Đối với Mông Cổ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn ra sức tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghị hợp tác với Chính phủ và nhân dân Mông Cổ trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênịn và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ từ phía Mông Cổ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Do vậy, mặc dù quan điểm của Mông Cổ có những điểm còn khác với Việt Nam, nhưng quan hệ hai nước vẫn được giữ gìn và phát triển tốt đẹp. Mông Cổ tỏ rõ sự đồng tình nhất trí và có nhiều giúp đỡ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Từ năm 1954 đến tháng 7/1965, Mông Cổ ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam với mức độ không lớn, lên án Mỹ chung chung, chưa có trọng tâm, trọng điểm. Bám sát và kịp thời nắm bắt tình hình đó, Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cử nhiều đoàn tới thăm và làm việc với phía Mông Cổ, kiên trì giải thích cho bạn hiểu rõ hơn về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành; kịp thời thông báo những thắng lợi quân sự trên khắp chiến trường hai miền Nam - Bắc. Từ đó, (tháng 8/1965) cho đến kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, bị thuyết phục bởi những thắng lợi trên tất cả các mặt của quân và dân Việt Nam, đặc biệt là trên mặt trận quân sự, Đảng, Chính phủ và nhân dân Mông Cổ ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu mạnh mẽ hơn. Các phương tiện thông tin đại chúng của Mông Cổ tuyên truyền nhiều về đường lối kháng chiến của Việt Nam, quần chúng mít tinh ủng hộ cuộc đấu tranh của Việt Nam ngày càng sôi nổi và rộng rãi.


Anbani là nước nhất quán quan điểm chống ngoại xâm phải đánh đến cùng, chỉ có đấu tranh vũ trang, không có thương lượng và thỏa hiệp. Với quan điểm cứng rắn đó, Chính phủ Anbani ủng hộ Việt Nam có mức độ, tuỳ từng thời điểm, trên từng vấn đề riêng phùhợp với mong muốn của phía bạn. Khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa chính thức tuyên bố đàm phán năm 1968, Anbani tỏ ra chưa thực sự tin vào đường lối kháng chiến của Việt Nam sẽ giành được thắng lợi, nhưng vẫn tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ (từ năm 1965 đến năm 1968, viện trợ kinh tế của Chính phủ Anbani cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trung bình 1,5 triệu rúp/năm). Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam năm 1968 của Việt Nam được Đảng, Chính phủ và nhân dân Anbani nhiệt liệt ca ngợi. Các địa phương trong cả nước tổ chức mít tinh, chào mừng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2026, 09:56:15 pm »

Nhưng, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố mở cục diện đàm phán với chính quyền Mỹ, Anbani không ủng hộ các tuyên bố của Việt Nam liên quan tới hòa bình thương lượng, chỉ đăng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhấn mạnh quan điểm đánh đến cùng của phía Anbani. Do bất đồng về cách nhìn và cách giải quyết vấn đề, Anbani giảm đột ngột sự giúp đỡ về vật chất đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Yêu cầu viện trợ kinh tế và quân sự của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1969 chuyển cho phía Anbani từ tháng 4/1968 nhưng phía bạn chậm trả lời.


Trước tình hình đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì giải thích chủ trương "vừa đánh, vừa đàm" của phía Việt Nam là một sách lược hay và hiệu quả, sáng tạo phù hợp với tình thế để bạn hiểu rõ hơn mà tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ. Cho dù quan hệ giữa Anbani với Liên Xô có những bất đồng, nhưng Đảng Lao động Việt Nam nhất quán quan điểm: "Anbani vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Lao động Anbani lãnh đạo... cho nên chúng ta vẫn nên giữ quan hệ bình thường với Đảng Lao động Anbani và nước Cộng hòa nhân dân Anbani"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.598). Với chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và một "Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm cuối năm 1972 trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, tiếp sau năm 1973, quân và dân Việt Nam kiên quyết đánh mạnh và thắng to về quân sự trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là đối với chiến thắng ngày 30/4/1975 của dân tộc Việt Nam, phía Anbani tổ chức một cuộc mít tinh rất lớn với gần 30 vạn người tham dự chiều ngày 30/4/1975. Liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/1975, các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, trường học trên khắp 26 tỉnh, thành phố của Anbani tổ chức mít tinh mừng nhân dân Việt Nam chiến thắng; gửi 156 bức thư điện chúc mừng tới Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, Đảng và Chính phủ Anbani quyết định viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1.833.000 rúp (tăng gấp hai lần so với viện trợ năm 1974). Từ năm 1969 đếnnăm 1974, trung bình 1 triệu rúp/năm; năm 1975, ngoài viện trợ thường xuyên 900.000 rúp, Anbani còn viện trợ khẩn 1.833.000 rúp. Trong 10 năm 1965 - 1975, Anbani viện trợ kinh tế không hoàn lại 14.180.000 rúp1 (Xem Ban Đối ngoại Trung ương: Tóm tắt quan hệ Anbani - Việt Nam từ 1950 - 1976, 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, tờ 23), một con số không hề nhỏ đối với một quốc gia có dân số trên 1,6 triệu người thời điểm lúc bấy giờ (năm 1975).


Đối với Liên Xô, Liên Xô muốn kéo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để làm suy giảm ảnh hưởng của Trung Quốc; muốn Việt Nam gắn bó lâu dài với Liên Xô, làm con bài mặc cả trong hòa hoãn với Mỹ. Bởi vậy, Liên Xô tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam cả vật chất lẫn chính trị, tinh thần. Sự giúp đỡ của Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Xôviết gia tăng dần từ năm 1965 đến năm 1972. Đến cuối năm 1967, sự giúp đỡ của Liên Xô chiếm tới gần 50% tổng giá trị giúp đỡ của toàn bộ các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong đó, viện trợ quân sự chiếm tới khoảng trên 2/3 tổng giá trị giúp đỡ và đạt con số 873 triệu rúp. Năm 1968, Liên Xô dẫn đầu phe xã hội chủ nghĩa trong việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tổng giá trị cả viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế lên tới 460 triệu rúp. Ngoài ra, Liên Xô còn cử gần 3.000 chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1965 - 19681 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 5). Nguyên nhân của những điều chỉnh này, trước hết là do chính quyền hiếu chiến Mỹ mở rộng chiến tranh, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Liên Xô, sau đó là sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đại hội lần thứ XXIII tháng 3/1966, Đảng Cộng sản Liên Xô không xác định chung sống hòa bình là đường lối chung bao trùm của Liên Xô nữa mà đưa nhiệm vụ ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc lên hàng thứ hai và nêu thêm nhiệm vụ giáng trả các thế lực xâm lược của chủ nghĩa đế quốc). Nhưng có lẽ nguyên nhân quan trọng và sâu xa nhất chính là bởi phía Liên Xô thay đổi cách nhìn về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, coi Việt Nam là vấn đề trung tâm trong nền chính trị quốc tế, liên quan trực tiếp đến đối thủ của Liên Xô là Mỹ và đối thủ chính của Liên Xô trong phong trào cách mạng thế giớilà Trung Quốc.


Trong khi đó, Trung Quốc lại có nhiều toan tính phức tạp nhằm làm giảm những ảnh hưởng của Liên Xô đối với Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Suốt những năm quân và dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược, cả Trung Quốc và Liên Xô đều sử dụng vấn đề viện trợ để tác động tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vấn đề viện trợ và vận chuyển quá cảnh hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để gây sức ép với phía Việt Nam. Chẳng hạn, khi Việt Nam bước vào chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, các nước xã hội chủ nghĩa tích cực giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng vì chống Liên Xô, Trung Quốc gây nhiều khó khăn cho Việt Nam trong vấn đề vận chuyển quá cảnh viện trợ quân sự của các nước qua lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra quan ngại về việc Chính phủ Trung Quốc gây khó khăn trong vấn đề vận chuyển, trong đó có Cộng hòa Dân chủ Đức. Tại một công hàm gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức nêu: "Chính phủ và nhân dân nước Cộng hòa Dân chủ Đức rất lo lắng và lấy làm tiếc phải nhận định rằng, Chính phủ hoặc các cơ quan hữu quan của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã gây ra nhiều khó khăn cho việc thực hiện vận chuyển những hàng hóa đã được thỏa thuận giữa chính phủ hai nước chúng ta nhằm nâng cao sức phòng thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đòi trước hết phải ký một nghị định thư vận chuyển hàng hóa ở cấp cao cũng như những điều kiện phân biệt do Trung Quốc đặt ra"1 (Bộ Quốc phòng: Ý kiến của Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức về việc Trung Quốc gây khó khăn trong việc chuyên chở hàng viện trợ của Cộng hỏa Dân chủ Đức gửi giúp Việt Nam, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 63-64).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #35 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 10:34:21 pm »

Suốt những năm 1968 - 1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Mỹ, để động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường viện trợ các mặt cho Việt Nam. Nhưng bước sang giai đoạn kết thúc chiến tranh (1973 - 1975), phía Trung Quốc lại cắt giảm phần lớn các nguồn viện trợ, đặc biệt là nguồn viện trợ quân sự (năm 1973 là 141 triệu nhân dân tệ, năm 1974 tụt xuống 45 triệu nhân dân tệ, đến năm 1975 chỉ còn 19 triệu nhân dân tệ); lợi dụng những khó khăn của chính quyền Sài Gòn sau khi Mỹ rút quân viễn chinh, Trung Quốc đưa lực lượng vũ trang đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (1974)2 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, t.VTII, tr.80).


Từ những luận điểm, luận chứng trên đây, có thể thấy rằng, bằng nhiều hoạt động ngoại giao tích cực,chủ động, linh hoạt và sáng tạo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động quốc tế; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết và sự đồng tình ủng hộ của mình với những đường lối, chủ trương, hoạt động đấu tranh đúng đắn của các nước xã hội chủ nghĩa.


Đối với Cộng hòa Dân chủ Đức, Việt Nam không chỉ tích cực ủng hộ mà còn luôn đề cao vai trò, vị thế của Cộng hòa Dân chủ Đức trên trường quốc tế (khi Đại sứ quán Việt Nam ở Béclin thông báo cho Cộng hòa Dân chủ Đức chủ trương này, phía bạn rất cảm động trước thiện chí của phía Việt Nam, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam đến ngày thắng lợi hoàn toàn).


Đối với Cuba, Việt Nam luôn nhiệt tình và kiên quyết ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba anh em, phản đối quyết liệt chính sách bao vây cấm vận của chính quyền Mỹ đối với nhân dân Cuba, ủng hộ mạnh mẽ và triệt để 5 điểm của Chủ tịch Phiđen, sẵn sàng trao đổi kinh nghiệm chiến đấu khi bạn yêu cầu, tăng cường giao lưu buôn bán giữa hai nước.


Đối với Hunggari, Việt Nam tổ chức hàng loạt các đoàn đại biểu đi thăm; chỉ đạo các cơ quan truyền thông Việt Nam tổ chức hoạt động tuyên truyền giới thiệu những thành tích của Chính phủ và nhân dân Hunggari trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố chính quyền nhân dân, đề cao uy tín Chính phủ công nông cách mạng và Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, tiếp đón chân thành và chu đáo các đoàn Hunggari tới thăm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; kịp thời giới thiệu với bạn những thành tựu trong công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh chống Mỹ xâm lược của quân và dân Việt Nam; ra sức vận động Chính phủ và nhân dân Hunggari ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên các diễn đàn quốc tế và tăng cường chi viện hơn nữa, đặc biệt là viện trợ quân sự. Qua trao đổi hội đàm và nhiều kênh thông tin khác nhau, Chính phủ và nhân dân Hunggari luôn bày tỏ sự thông cảm sâu sắc với những khó khăn của phía Việt Nam, khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất của quân và dân Việt Nam; khẳng định tiếp tục ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam tới ngày thắng lợi hoàn toàn.


Trước dư luận tiến bộ quốc tế, Việt Nam luôn khẳng định thế mạnh chính nghĩa của sự nghiệp chống Mỹ; thúc đẩy phong trào nhân dân thế giới ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam đấu tranh. Trong giai đoạn 1954 - 1964, Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã hình thành, nhưng hoạt động chưa thực sự sôi nổi, mạnh mẽ. Đến giai đoạn 1965 - 1975 cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng nhận được sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần của nhân dân toàn thế giới, đặc biệt là từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với sự nghiệp cách mạng chân chính của mình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #36 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 10:36:31 pm »

IV-NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của mình, Việt Nam không ngừng nêu cao tinh thần và hành động đoàn kết quốc tế, tranh thủ tối đa sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn vể vốn, khoa học kỹ thuật từ các nước xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp kháng chiến; thúc đẩy quá trình mở rộng, phát triển Mặt trận thống nhất nhân dân thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng Việt Nam nỗ lực thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp hợp tình, thỏa đáng trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa nên nhận được sự chi viện hết sức to lớn, toàn diện, trong đó, không thể không kể tới nguồn viện trợ quân sự không hoàn lại. Tổng khối lượng viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1965 đến năm 1975 lên tới 2.309.653 tấn vật chất các loại; ước trị giá 2.795,323 triệu rúp và 5.548 triệu nhân dân tệ, 6 triệu đôla Mỹ; 71 công trình công nghiệp quân sự1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Bảo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-3). Mặc dù còn có những số liệu khác nhau về tổng khối lượng vật chất mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.601), song tựu trung, kết quả là rất to lớn và vô cùng quý báu đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.


Về viện trợ kinh tế, chỉ riêng từ năm 1965 đến năm 1968, tổng số viện trợ và cho Việt Nam vay nợ của 12 nước xã hội chủ nghĩa lên tới 852,280 triệu rúp và 1.345 triệu nhân dân tệ. Trong số này, Chính phủ Liên Xô là 405,9 triệu rúp, Chính phủ Trung Quốc là 1.345 triệu nhân dân tệ và 85 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức là 91 triệu rúp, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc là 41,38 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên là 33,5 triệu rúp, Anbani là 6,1 triệu rúp, Ba Lan là 65,8 triệu rúp, Hunggari là 38,8 triệu rúp, Rumani là 52,35 triệu rúp, Bungari là 21,5 triệu rúp, Mông Cổ là 4,5 triệu rúp, Cuba là 13,40 triệu rúp. Nguồn viện trợ kinh tế này đã được Việt Nam khai thác và sử dụng hiệu quả, bổ sung thực lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước1 (Xem Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ kinh tế trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5, 9-13). Từ năm 1969 đến năm 1975, viện trợ kinh tế các nước anh em chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt trên 3 tỉ rúp và hàng tỉ nhân dân tệ.


Riêng năm 1968, quân và dân Việt Nam quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, các nước xã hội chủ nghĩa kịp thời chi viện cho Việt Nam 495 triệu rúp và 175 triệu nhân dân tệ. Trong đó, Liên Xô 160 triệu rúp, Trung Quốc 175 triệu nhân dân tệ, Triều Tiên 13,4 triệu rúp, Mông Cổ 1,3 triệu rúp, Cộng hòa Dân chủ Đức 43 triệu rúp, Ba Lan 31 triệu rúp, Hunggari 17,5 triệu rúp, Rumani 22,6 triệu rúp, Tiệp Khắc 16,5 triệu rúp, Bungari 10,2 triệu rúp, Anbani 2,4 triệu rúp, Cuba 8,7 triệu rúp2 (Xem Bộ Quốc phòng: Yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩaanh em viện trợ kinh tế trong năm 1969, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 5, 9-13).


Trước những khó khăn lớn mà Việt Nam gặp phải sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và theo yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh các thỏa thuận đã ký kết, các nước xã hội chủ nghĩa đồng ý viện trợ bổ sung ngay cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 37,8 triệu rúp vật tư hậu cần các loại. Trong số này, Chính phủ Liên Xô viện trợ 18 triệu rúp, Chính phủ Trung Quốc viện trợ 15 triệu rúp, Chính phủCộng hòa Dân chủ Đức viện trợ 2,6 triệu rúp, Chính phủ Tiệp Khắc viện trợ 510.000 rúp, Chính phủ Ba Lan viện trợ 800.000 rúp, Chính phủ Hunggari viện trợ 570.000 rúp Chính phủ Rumani viện trợ 290.000 rúp. Các mặt hàng chủ yếu bao gồm: 30.000 tấn gạo; 70.000 tấn ngô;100.000 tấn bột mì; 55.000 tấn xăng dầu; 33.000 tấn dầu diezen; 5.000 tấn dầu mỡ máy; 1.230 tấn thịt, cá, rau hộp; 50 tấn mì chính; 400 tấn rau muối và bột đậu phụ; 100 tấn sữa bột các loại. Thuốc men và dụng cụ y khoa gồm: tân dược, 26 triệu viên đa sinh tố; 50.000 ống đôlagăng; 150.000 tuýp phinơgăng; 1.000 lọ huyết thanh;15.000 lọ ete; 50.000 viên brêmít; 100.000 ống moócphin; 80 bộ đồ phẫu thuật các loại; 30 bộ kính hiển vi xách tay; 3 bộ máy X-quang xách tay, 3.000 bộ truyền máu. Hàng tiêu dùng gồm: 5.100.000m vải bông, 1.730.000m vải bạt và nhựa, 400.000 đôi giầy dép. Phương tiện vận tải gồm: 575 ôtô vận tải các loại, 20 máy kéo, 20 xe sửa chữa lưu động, 80 máy thi công làm đường sắt, 200 chiếc búa khoan đá, 10 máy nén khí, 22.000 bộ săm lốp ôtô, 10 ôtô cứu thương, 15 ôtô cần trục, 52 ô tô công tennơ, 2.050.000 rúp phụ tùng ôtô1 (Xem Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, Tlđd, tờ 66).


Ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực và kết quả của sự giúp đỡ kịp thời, to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị khẳng định: "Kết quả cuộc đàm phán kinh tế lần này, khối lượng thiết bị, vật tư đã ký kết tăng 24% so với năm 1967... đây là một thắng lợi lớn, các nước anh em tiếp tục giúp đỡ Việt Nam tăng cường tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng,... Giữa cho vay và viện trợ không hoàn lại... Các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Rumani, Cuba, Anbani vẫn nhiệt tình viện trợ không hoàn lại toàn bộ khối lượng cung cấp cho Việt Nam. Liên Xô nói chung cho Việt Nam vay toàn bộ, không chủ trương viện trợ không hoàn lại về kinh tế..."1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết đàm phán viện trợ kinh tế năm 1968 với các nước xã hội chủ nghĩa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 17).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #37 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 10:49:15 pm »

Về viện trợ quân sự, từ năm 1965 đến năm 1975 - khoảng gần 10 năm liên tục, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được tổng cộng 2.309.653 tấn vật chất các loại, gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ các loại. Tổng trị giá lên tối 2.795,323 triệu rúp và 5.548 triệu nhân dân tệ, 6 triệu đôla2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 5). Cụ thể, chung loại vũ khí và trang bị các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm một số loại chính như sau: súng bộ binh hơn 3 triệu khẩu, sung chống tăng B40 và B41 khoảng hơn 60.000 khẩu, súng cối 25.427 khẩu, pháo hỏa tiễn 2.143 khẩu, pháo mặt đất 1.385 khẩu, súng máy cao xạ 15.794 khẩu, pháo cao xạ 6.150 khẩu, 10.169 quả đạn tên lửa chống tăng 3.075 đạn tên lửa phòng không vác vai, tên lửa phòng không SA-75M 23 trung đoàn với hơn 8.000 quả đạn V-750V, tên lửa Hồng Kỳ 1 trung đoàn với 180 quả đạn, tên lửa S-125 2 trung đoàn với 480 quả đạnV-601P, 486 máy bay chiến đấu các loại, 36 tàu hải quân chiến đấu, 1.084 xe tăng các loại, 795 xe vỏ thép, 1.870 xe xích kéo pháo, 26.493 xe vận tải và kéo pháo, 70.085 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 217.844km dây điện thoại dã chiến, 56 bộ đường ống dẫn dầu, 12 triệu bộ quân trang, 139.199 tấn lương thực, thực phẩm1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 5).


Theo những số liệu từ các báo cáo của cơ quan chức năng Việt Nam đánh giá, Trung Quốc viện trợ quân sự chủ yếu gồm các loại vũ khí, trang bị, khí tài để trang bị cho bộ binh và một phần cho phòng không - không quân (phần lớn phục vụ các lực lượng vũ trang miền Nam)..., còn Liên Xô chủ yếu viện trợ quân sự cho các lực lượng vũ trang miền Bắc, trong đó phần lớn là những vũ khí, trang bị, khí tài cho lực lượng phòng không - không quân; pháo mặt đất; khí tài vượt sông; một số khí tài thông tin. Đối với lực lượng vũ trang miền Nam, phía Liên Xô còn giúp sản xuất loại pháo hỏa tiễn mang vác, B41, một số súng bộ binh. Những trang bị của phía Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam có một số loại đã qua sử dụng, sửa chữa lại. Năm 1965, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam ước tính thành tiền chiếm 1/3 tổng số tiền viện trợ quân sự cho Việt Nam và từng bước giảm dần. Năm 1969, số trang bị cũ, đã qua sử dụng chỉ còn chiếm 5 triệu trên tổng số 210 triệu rúp trang bị khí tài chi viện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình trang bị của quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, Tlđd, tờ 3).


Nhìn tổng thể từ năm 1965 đến năm 1975, khối lượng và trị giá hàng viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa đã chi viện cho Việt Nam rất lớn so với 10 năm trước đó, nhưng không đồng đều, đặc biệt vào những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Không chỉ có hai quốc gia Liên Xô và Trung Quốc cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam mà một sốnước xãhội chủ nghĩa khác cũng cắt giảm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: "Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.16). Cho tới những năm 1974 - 1975 thì nguồn viện trợ quân sự của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gần như không đáng kể. Nếu năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 sụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 còn lại 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Chính phủ Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng sụt giảm, năm 1973, tổng trị giá 1.415 triệu nhân dân tệ nhưng năm 1974 chỉ còn 452 triệu nhân dân tệ và năm 1975 là 196 triệu nhân dân tệ. Tính riêng về khối lượng vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ của hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm chỉ bằng 11% so với năm 19722 (Xem Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.VIII, tr.22-23).


Ngoài nguồn vật chất chi viện kể trên, các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nguồn vốn, các trang thiết bị khoa học, kỹ thuật; cử các đoàn chuyên gia dân sự, quân sự thường xuyên giúp xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng, dân sinh. Chỉ riêng công trình quân sự, đến cuối năm 1968 các nước Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Đức Hunggari đã giúp Việt Nam 22 công trình, với lượng vốn lên tới hàng trăm triệu rúp (xưởng sửa chữa kỹ thuật tên lửa lưu động trị giá 8.900.000 rúp; xưởng sửa chữa máy bay cánh quạt trị giá 3.300.000 rúp; xưởng sửa chữa pháo cao xạ trị giá 1.803.000 rúp; xưởng đại tu xe tăng, xe xích trị giá 4.600.000 rúp; xưởng sửa chữa máy tàu hải quân trị giá 321.200 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa khí tài hải quân trị giá 681.200 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa khí tài dưới nước trị giá 1.050.000 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa vỏ tàu phóng lôi trị giá 1.955.240 nhân dân tệ; xưởng sửa chữa máy bay phản lực trị giá 2.964.000 nhân dân tệ; xưởng gia công nhồi đạn cối trị giá 2.636.100 nhân dân tệ; xưởng sản xuất vỏ đạn cối trị giá 355.260 nhân dân tệ; xưởng sản xuất đạn B40 và lựu chống tăng trị giá 1.059.800 nhân dân tệ; xưởng in quân đội trị giá 444.600 nhân dân tệ; xưởng chế tạo ống nổ trị giá 1.333.000 nhân dân tệ; xưởng chế tạo ngòi nổ trị giá 1.300.000 nhân dân tệ; nhà máy Z1 mở rộng trị giá 4.315.140 nhân dân tệ; nhà máy Z2 mở rộng trị giá 4.315.140 nhân dân tệ; xưởng chế tạo súng máy trị giá 2.964.000 nhân dân tệ; thiết bị sân bay dã chiến, sân bay Yên Bái trị giá 2.280.000 nhân dân tệ; phòng thí nghiệm chất đốt tên lửa trị giá 500.000 rúp,...)1 (Xem Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam 1954 - 1975, Tlđd, tờ 5).
   Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 cho biết rõ hơn: Các trang bị, khí tài của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam, nhìn chung có chất lượng tốt, đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, tăng cường mạnh mẽ sức chiến đấu cho Quân đội nhân dân Việt Nam; góp phần giúp quân và dân Việt Nam đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam; góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng,... Các trang bị viện trợ quân sự có đủ để bổ sung lượng tiêu hao hằng năm và tăng dần lượng dự trữ khoảng từ 2 đến 3 năm (trừ ôtô, một số loại đạn, một số khí tài trước mắt). Đi đôi với tăng cường về số lượng, chất lượng trang bị, khí tài chiến đấu, bước đầu Việt Nam xây dựng được các cơ sở sản xuất Quốc phòng; có các thiết bị, trạm sửa chữa để sửa chữa hầu hết các trang bị khí tài; tăng cường thêm các thiết bị giảng dạy trong các trường quân sự và các thiết bị nghiên cứu phục vụ việc sử dụng các trang bị, khí tài và một phần công tác bảo quản, sản xuất, cải tiến1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10-20).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #38 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 10:51:58 pm »

Qua đây, có thể thấy rằng, nguồn các loại vũ khí, trang bị mà các lực lượng vũ trang Việt Nam có được chủ yếu là do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện. Nguồn sản xuất, cung cấp trong nước do điều kiện và nhiều nguyên nhân, mặc dù Việt Nam đã phát huy tối đa tinh thần tự lực cánh sinh, nhưng kết quả rất hạn chế. Tính từ năm 1957 đến năm 1968, kết quả sản xuất vũ khí, đạn dược, phụ tùng xe máy các loại của bộ đội ở miền Bắc và các chiến trường được tổng cộng: 15.411 tấn vũ khí đạn dược (miền Bắc), 6.519 tấn vũ khí đạn dược (chiến trường), 1.979 tấn phụ tùng xe máy2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.599); trong khi đó, tổng khối lượng vật chất các loại (chủ yếu là vũ khí, phương tiện chiến tranh) các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1968 (không kể phần viện trợ kinh tể) là 668.347 tấn, gấp trên dưới 30 lần3 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-5).


Không chỉ giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các loại vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh, các nước xã hội chủ nghĩa còn cử sang Việt Nam đội ngũ cố vấn, chuyên gia quân sự công tác ở các cấp, các ngành, tại các học viện, nhà trường quân đội. Từ tháng 4/1965 đến tháng 5/1966, 2.266 chuyên gia phòng không, không quân Liên Xô đã có mặt tại Việt Nam, giúp đào tạo tại chỗ 10 trung đoàn tên lửa phòng không, 3 trung đoàn kỹ thuật vô tuyến, 2 trung đoàn không quân tiêm kích1 (Xem Thượng tướng, TS. Nguyễn Huy Hiệu: Một số vấn đề về công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr.300); từ tháng 6/1965 đến tháng 5/1967, Liên Xô gửi sang Việt Nam 6 trung tâm huấn luyện tên lửa phòng không đảm nhiệm huấn luyện 6 trung đoàn tên lửa của Việt Nam từ cuối năm 1966 đến tháng 5/1968, Liên Xô cử sang Việt Nam ba nhóm chuyên gia khoa học quân sự: nhóm chuyên gia tên lửa, nhóm chuyên gia công nghiệp quốc phòng gồm 85 người, nhóm gây nhiễu và tác chiến điện tử với nhiệm vụ nghiên cứu và cải tiến hệ thống tên lửa phòng không S-75, cải tiến bộ khí tài tên lửa, tìm ra phương thức chống nhiễu hiệu quả nhất. Từ ngày 11/7/1965 đến ngày 31/12/1974, đã có 6.359 sĩ quan và 4.500 binh sĩ, hạ sĩ quan, chiến sĩ Liên Xô tham gia chiến đấu tại Việt Nam, 13 chuyên gia quân sự đã hy sinh, 2.190 người được tặng thưởng huân, huy chương các loại1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr.308).


Bên cạnh cử đội ngũ chuyên gia sang giúp Việt Nam (từ năm 1965 đến năm 1968, 346 chuyên gia sang giúp Việt Nam), từ cuối tháng 6/1965, Trung Quốc cử 4 sư đoàn gồm 100.000 người, tổ chức thành 22 trung đoàn, với 310.011 lượt bộ đội hậu cần sang giúp nâng cấp và mở rộng một số đường cơ giới, xây dựng các công trình phòng thủ quốc phòng, chiến đấu bảo vệ một số tuyến đường sắt các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Sau hơn hai năm giúp Việt Nam, các đơn vị Trung Quốc đã hoàn thành và nâng cấp 271km đường sắt và công trình phụ trợ, xây dựng mới và sửa 7 tuyến đường bộ ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam có tổng chiều dài 1.200km. Chỉ riêng Sư đoàn 1 bộ đội hậu cần Trung Quốc giúp xây dựng đường sắt với quân số 32.180 người trong hai năm đã hoàn thành 45km đường mới đoạn Kép đi Khúc Rồng cải tạo và mở rộng 226km từ Hữu Nghị Quan - Yên Viên - Đông Anh - Lưu Xá - Khúc Rồng, hai xưởng đầu máy toa xe ở Đồng Mô và Lương Sơn, một số công trình phụ trợ như nhà ga, cấp nước, thông tin...; sửa chữa, bảo đảm giao thông hai tuyến Hà Nội - Lào Cai Hà Nội -Hữu Nghị Quan với tổng chiều dài 425km. Tháng 8/1973, các đơn vị lực lượng vũ trang Giải phóng quân Trung Quốc sang giúp Việt Nam rút hết về nước1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.312-313). Không chỉ có bộ đội hậu cần Trung Quốc, ngày 30/9/1966, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên ký thỏa thuận đưa một bộ phận bộ đội không quân Triều Tiên sang chiến trường Việt Nam rèn luyện, chiến đấu. Theo đó, 384 sĩ quan, chiến sĩ và 1 trung đoàn máy bay MiG đã có mặt tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công tác suốt cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965 - 1968). Ngày 04/12/1968, Thường trực Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định đưa số bộ đội hậu cần và chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa đang công tác tại Việt Nam về nước (từ năm 1965 đến năm 1968, tổng cộng có 3.019 chuyên gia quân sự Liên Xô sang giúp Việt Nam và đầu năm 1969, số này lần lượt rút về nước. Tháng 4/1970, Liên Xô cử tiếp 310 chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam. Năm 1971, Liên Xô tiếp tục cử sang một số lượng chuyên gia nữa. Cuối năm 1974, Quy chế chuyên gia quân sự Liên Xô được thay thế bằng Quy chế cố vấn quân sự, Trưởng đoàn chuyên gia quân sự thay thế bằng Trưởng đoàn cố vấn quân sự bên cạnh Bộ Quốc phòng). Số bộ đội hậu cần Trung Quốc và bộ đội không quân Triều Tiên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế và rút hết khỏi lãnh thổ Việt Nam vào cuối năm 1969.


Ngoài trực tiếp chi viện vũ khí, khí tài, phương tiện chiến tranh, cử đội ngũ chuyên gia quân sự, Đảng và Chính phủ Liên Xô còn giúp đào tạo cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một nguồn nhân lực lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Số nhân lực này rất quý, bổ sung ngay vào phần thiếu hụt cán bộ của Việt Nam. Theo một thống kê, riêng trong lĩnh vực quân sự, từ năm 1955 đến năm 1975, các trường quân sự của Liên Xô đã đào tạo giúp Việt Nam 13.500 quân nhân. Riêng năm 1966, đã có tổng cộng 2.600 cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam được đào tạo ngành Phòng không - Không quân. Trong hai năm 1966 và 1967, có hơn 3.000 quân nhân Việt Nam hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo tại các trường quân sự Xôviết, được gấp rút điều động về nước bổ sung cho các ngành, các cấp tham gia lao động và chiến đấu1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.307).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #39 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 10:54:52 pm »

Ngoài những nguồn viện trợ quân sự trên đây, Chính phủ Liên Xô trong kế hoạch viện trợ hai năm 1965 - 1966 giúp thêm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1 bệnh viện dã chiến 100 giường, 6.527,233 tấn ray, 400 tấn dầm thép ghép sẵn, 1.626 tấn dầm sắt số 47 dài 6 x 20m, 58.650 tấn thiết bị bán tự động dùng cho đường dây 40km 2 cần trục cẩu cho tàu cứu chữa, 40 đài vô tuyến điện 22 thiết bị morse, 12 công trình xa sửa chữa ôtô, 2 máy đặt ray, 2 cần trục canh CPK 30/40, 1 bộ máy sửa chữa cung cấp nước, 615 tấn cáp dân điện, 382 tấn dây cáp, 7 máy kéo C.100, 26 ôtô cần trục K 61, 200 ôtô Zin 157 và 555, 100 ôtô Maz 205 và 200, 5 kiểu công trình xa sửa chữa máy lưu động dùng trong xây dựng đường bộ, 55 tấn dây lưỡng kim. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc giúp 12.716 tấn gạo, 707.650m vải bạt, 100 chiếc tăng, 500km dây điện thoại, 2.710,415 tấn kim loại đen, 57,676 tấn kim loại màu, 126 tấn que hàn, 120 bình ô xy, 1.000 tấn thuốc nổ, 17 đồng hồ vạn năng, 10 thiết bị lăn, 74 tổ máy phát điện, 40.000 vỏ phuy, 8 xe ôtô cần trục, 3 xe ôtô cứu thương, 70 xe ôtô ben, 709 ôtô giải phóng, 111 tấn phụ tùng ôtô, 30 đầu máy xe lửa, 148 toa tàu, 18 tàu lu lăn đường. Chính phủ Ba Lan ủng hộ 75 xe ôtô Star 66 và 25 hòm phụ tùng, 53.325kg thuốc chữa bệnh, 86 tấn vải kaki, 20 tấn bánh các loại. Chính phủ Cuba ủng hộ 15.000 tấn đường. Chủ tịch Kim Nhật Thành của Triều Tiên tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh 20 máy kéo, 20 bộ lưỡi cày hai lưỡi, 20 bơm ly tâm, 20 rơmóc, 20 bừa đất, 5 xe ôtô vận tải, 2 máy đào đất vàphụ tùng. Chính phủ Anbani tặng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 8.100 tấn nhựa đường, 1,5 triệu mét vải bêzê 500.000m vải kaki, 200.000m vải nhung, 500 chăn bông, 150 tấn thuốc lá, 500 tấn đường, 100 tấn mỡ lợn 25.000 áo lót, 25.000 bít tất, 30.000 khăn bông.


Hàng viện trợ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam gồm: hàng giao Bộ Y tế có 15.506kg và 37 hòm thuốc, dụng cụ y tế của Cộng hòa Dân chủ Đức, 11.792kg và 199 hòm thuốc men dụng cụ y tê của Liên Xô, 11.128kg thuốc, dụng cụ y tế của Rumani, 19 kiện thuốc, dụng cụ y tế của Hunggari, của Italia là 5 va ly thuốc; hàng giao Bộ Nội thương ước trị giá 6,5 triệu đồng Việt Nam, trong đó có 4 tấn sữa bột, 32,500 tấn sữa đặc, 30,423 tấn cá hộp, 7,898 tấn bò hộp, 570 tấn đường, 10 tấn bột mì, 96 chiếc xe môtô Sim sơn, 150 chiếc xe đạp mi pha, 105 chiếc xe đạp Liên Xô, 7 máy chiếu phim, 20máy ảnh, 120 ống nhòm, 24.000m vải bạt, 50.000m vải nhựa, 8.124 quyển vở học sinh, 7.357 chăn bông, 102.789m vải lụa, 1.435m vải kiện, 7.764 cái và 226 kiện quần áo, 199.000 chiếc khăn bông1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình hàng viện trợ đến ngày 19 tháng 8 năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 20).


Các loại hàng hóa mà nhân dân các nước anh em viện trợ riêng cho nhân dân miền Nam Việt Nam ướctrị giá 3.171.354 đồng, trong số đó, nhân dân các nước: Trung Quốc 1.668.480 đồng; Triều Tiên 895.396 đồng; Liên Xô 302.761 đồng; Bungari 105.359 đồng; Cộng hòa Dân chủ Đức 65.600 đồng; Rumani 12.318 đồng; Ba Lan 28.600 đồng; Hunggari 34.450 đồng; Tiệp Khắc 22.994 đồng; Mông Cổ 13.780 đồng; Anbani 10.516 đồng1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình hàng viện trợ đến ngày 19 tháng 8 năm 1965, Tlđd, tờ 20).


Song song còn có các hoạt động của nhân dân và các tổ chức đoàn thể quần chúng như mít tinh, biểu tình, tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. Tại một số nước có phong trào "Đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất vì Việt Nam như: ở Tiệp Khắc, công nhân xí nghiệp quốc doanh BắcBúckem trích 1% lương ủng hộ Việt Nam, công nhân đường sắt nhà ga Xiắcan góp 2% ủng hộ Việt Nam, công nhân xí nghiệp quốc doanh Mốttécna Borơ quyết định làm thêm ngày thứ Bảy lấy tiền tặng Việt Nam; ở Hunggari có phong trào hiến máu, phong trào tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam (từ năm 1965 đến năm 1971, quyên góp được 15 triệu rúp); ở Bungari có hàng trăm cuộc mít tinh lớn nhỏ của quần chúng ủng hộ Việt Nam (nhiều nhất lên tới 10.000 người), tổ chức "Tuần lễ 3 châu ủng hộ Việt Nam", tuyên bố sẵn sàng cử quân tình nguyện nếu Việt Nam yêu cầu. Cuba có sáng kiến xúc động "Vì Việt Nam nhân dân Cuba sẵn sàng hiến máu"; Chính phủ Cuba sẵn sàng cử quân tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu. Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam kết hợp với Ủy ban ba châu đoàn kết với nhân dân Việt Nam liên tiếp tổ chức nhiều tuần lễ và tháng ủng hộ Việt Nam, tổ chức mít tinh, triển lãm, chiếu phim, thảo luận học tập gương chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam khắp cả nước.


Với nguồn chi viện về quân sự liên tục tăng theo nhịp độ phát triển của cuộc chiến tranh, bước vào giai đoạn 1965 - 1975, việc tổ chức tiếp nhận, vận chuyển hàng viện trợ quân sự của Việt Nam hoạt động tương đối khoa học và hiệu quả. Từ khâu đàm phán, ký kết, ký nhận đầy đủ, chi tiết, cụ thể; chủ yếu được chuyển giao qua hai đường thủy và bộ. Đường bộ, hàng hóa Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Triều Tiên chuyển giao tại biên giới Trung - Triều, quá cảnh Trung Quốc về Việt Nam qua cửa khẩu biên giới Lạng Sơn, hoặc từ một số cảng như Trạm Giang, Phòng Thành (Trung Quốc) theo đường biển chuyển vào miền Nam. Hải Phòng là cảng biển lớn nhất miền Bắc Việt Nam tiếp nhận hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài hai đường trên, với các loại hàng hóa quân sự đặc thù lại có phương thức tiếp nhận, chuyển giao khác như: các loại máy bay chiến đấu, Liên Xô vàcác nước giao cho Việt Nam tại một số sân bay miền Bắc; tàu chiến các loại, Việt Nam cử cán bộ, chiến sĩ sang huấn luyện, tiếp nhận ngay tại nước viện trợ;ngoại tệ, Việt Nam nhận tại Bắc Kinh.


Bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều cách thức vận chuyển phong phú, sáng tạo, nguồn nhân lực gồm hàng vạn người của Việt Nam ngày đêm tiếp nhận, vận chuyển hàng triệu tấn vật chất viện trợ quân sự do các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ từ khắp nơi đổ về hậu phương miền Bắc, chuyển ra tiền tuyến miền Nam, sang chiến trường hai nước Lào, Campuchia giúp bạn. Một hệ thống kho tàng, bãi chứa trong và ngoài nước, miền Bắc và miền Nam, dọc tuyến đường vận tải chiến lược Hồ Chí Minh được thiết lập vững chắc, liên hoàn, đủ sức cung ứng kịp thời vật chất hậu cần các loại chocác lực lượng vũ trang chiến đấu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM