vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 11:00:02 pm » |
|
Sớm phát hiện ra vấn đề mấu chốt của cuộc chiến tranh là vận chuyển, bởi vậy Mỹ luôn tìm mọi cách ngăn chặn và phá hủy hệ thống kho tàng, tuyến giao thông huyết mạch của Việt Nam nhằm chặn đứng mọi sự chi viện từ quốc tế vào hậu phương miền Bắc, từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam và đi các chiến trường. Chúng xây dựng và thực thi ráo riết những kế hoạch ném bom phá hoại, phong tỏa hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, các hải cảng lớn ở miền Bắc bằng các loại vũ khí tinh vi,hiện đại. Tài liệu của đối phương cho biết: "Từ tháng 9 năm 1966, Mắc Namara đã đề nghị một hệ thống ngăn chặn xâm nhập, trong kế hoạch đó, Mắc Namara đề nghị sử dụng 20 triệu mìn bi, 25 triệu bom bươm bướm, và 10 ngàn bom CBU-26B một tháng, để rải trên hệ thống đường xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào Nam và lãnh thổ Lào"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945- 1975, Sdd, tr.298). Chính giới tướng lĩnh quân sự Mỹ phải thừa nhận rằng: "Vùng bán kính chung quanh Hà Nội 30.000 hải lý và 10.000 hải lý xung quanh Hải Phòng... và cả những cảng Bắc Việt Nam (trở thành nơi) người Việt Nam có thể tập trung cao mật độ quân sự về người cũng như vật chất kỹ thuật ở đó và rõ ràng quyết định không thả mìn (của tổng thông Mỹ) ở cảng cho phép đưa 67% viện trợ vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa vào miền Nam Việt Nam theo đường thủy"2 (Peter MacDonald: Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch, Sđd, tr.203). Và cũng từ năm 1965, một bộ giao thông vận tải mới của Việt Nam (Đoàn 559 được nâng cấp) được thành lập để bảo đảm việc vận chuyển không ngừng các loại vật chất kỹ thuật vào miền Nam, phần lớn theo đường bộ, ngoài ra còn có cả đường biển và đường sông. Điều đó không chỉ cho thấy quyết tâmkháng chiến cao độ của nhân dân Việt Nam mà trên thực tế, Việt Nam đã thiết lập một hệ thống giao thông thủy, các cảng làm công tác tiếp nhận vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là viện trợ quân sự hết sức hữu hiệu, khiến Mỹ khiếp sợ tìm mọi cách ngăn chặn và phá hoại. Nhưng mọi nỗ lực của Mỹ gần như bị vô hiệu hóa trước ý chí chiến đấu, khát vọng độc lập, tự do hòa bình, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Tuy bị thua đau trên tất cả các mặt trận: quân sự chính trị, ngoại giao, buộc phải ngồi đàm phán, nhưng ngay từ những ngày đầu nhậm chức Tổng thống Níchxơn đã cho phép giới quân sự dùng mọi kế hoạch, kể cả những kế hoạch quân sự phạm luật để chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Níchxơn ra lệnh cho MACV sư dụng tất cả không lực tấn công miền Bắc trước đó để đánh vào chiến trường Lào và những căn cứ hậu cần cua Cộng sản Bắc Việt (theo cách gọi của Mỹ) dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. Năm 1968, không lực Mỹ bay 3.377 phi vụ trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, năm 1969 số phi vụ tăng lên 5.567 với khoảng 160.000 tấn bom thả xuống Hạ Lào. Từ tháng 3/1969 đến tháng 4/1970, Níchxơn ra lệnh cho không quân chiến lược bay 3.630 phi vụ, ném 110.000 tấn bom xuống các căn cứ hậu cần và binh trạm của Cộng sản Bắc Việt nằm trong lãnh thổ Campuchia từ vùng ngã ba biên giới ở Pleiku đến Mỏ Vịt ở Tây Ninh. Sau khi Quân giải phóngmiền Nam rút sâu vào nội địa Campuchia, Níchxơn tiếp tục ra lệnh tấn công sâu vào lãnh thổ Campuchia trong vòng bán kính 30km. Mỹ và quân đội Sài Gòn đã chiếm giữ: "Một số quân trang quân dụng, vũ khí, lương thực đủ trang bị cho tất cả các đơn vị cộng sản ở miền Nam hơn một năm"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.390).
Trong quá trình tiếp nhận, vận chuyển các loại vũ khí, trang bị, vật tư hậu cần do các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ, nhiều cơ quan chức năng, cá nhân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có sáng kiến, cách làm hay, hiệu quả. Đặc biệt, trong hai cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất và lần thứ hai chống phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân Mỹ, chúng đánh phá quyết liệt toàn bộ hệ thống giao thông miền Bắc, Chính phủ Việt Nam chủ động thương lượng với Đảng, Chính phủ Trung Quốc cho phép Việt Nam sử dụng sân bay Tường Vân làm nơi cất giấu máy bay chiến đấu, cho phép Trường Không quân Việt Nam được đứng chân trên đất Trung Quốc; sử dụng kho bãi ga Mãn Châu Lý, Bằng Tường làm nơi tạm thời cất chứa, bảo quản hàng viện trợ quân sự (có thời điểm lưu giữ trên 200.000 tấn hàng và hàng trăm toa tàu hỏa tại Mãn Châu Lý); sử dụng cảng Phòng Thành và Trạm Giang (Quảng Đông) làm nơi trung chuyển bốc dỡ hàng viện trợ, chuyển tiếp vào Việt Nam qua tuyến đường sắt Lạng Sơn tới các ga đầu mối khu vực sông Hồng. Trên hướng Quảng Tây, Trung Quốc điều động 3 trung đoàn ôtô đi theo 3 tuyến từ Sùng Tả, Ninh Minh, Bằng Tường vận chuyển vật tư cho Việt Nam. Về vận tải biển, Việt Nam cũng nhận được 50 tàu VS, 8 sà lan, 4 tàu kéo của Trung Quốc, mở tuyến hàng hải bí mật Trung - Việt, sử dụng cảng Hậu Thủy trên đảo Hải Nam trung chuyển hàng hóa chi viện cho các chiến trường miền Nam1 (Xem Nguyễn Thị Mai Hoa: Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.314-315); giúp đỡ xây dựng hai tuyến đường ống dẫn dầu dã chiến quan trọng từ lãnh thổ nước bạn về Việt Nam dài hàng nghìn kilômét.
Ngoài nguồn vũ khí, trang bị chi viện trực tiếp từ miền Bắc vào các chiến trường miền Nam, dựa vào nguồn ngoại tệ do Trung ương chi viện (phần lớn số ngoại tệ này do các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ), Hậu cần cách mạng miền Nam còn sử dụng các biện pháp ngoại giao khôn khéo công khai, hợp pháp tổ chức thu mua được một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, xăng dầu... từ thị trường nội địa Campuchia, vận chuyển tiếp tế cho các lực lượng vũ trang cách mạng khu vực đồng bằng sông Cửu Long,Sài Gòn - Gia Định, nam Tây Nguyên. Qua con đường ngoại giao thân thiện, Chính phủ Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của chính quyền Vương quốc Campuchia đồng ý cho các lực lượng vận tải của Việt Nam tổ chức vận chuyển bằng tàu biển đưa các loại hàng viện trợ quân sự từ hậu phương miền Bắc, kể cả một số nơi khác vào cảng Xihanúcvin, rồi tiếp tục vận chuyển sâu vào Nam Bộ. Các loại tàu vận tải của Việt Nam, thậm chí cả tàu vận tải của nước bạn giúp vận chuyển cho Việt Nam thường xuyên vào ra cảng này những năm trước 1970. Tổng kết Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh giá: "Bằng cách trả tiền quá cảnh cho mỗi tấn hàng và tiền cước vận chuyển, Việt Nam sử dụng lực lượng và phương tiện của quân đội Vương quốc trong việc tiếp nhận, lưu giữ, vận chuyển, hộ tống hàng viện trợ quân sự từ cảng Xihanúcvin về Phnôm Pênh, rồi tỏa đi các căn cứ hậu cần của ta"1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr.216). Đây là một thành công lớn trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp góp phần vào những chiến thắng quân sự quan trọng trên chiến trường miền Nam Việt Nam giai đoạn Việt Nam chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ đã được thực tiễn minh chứng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 11:01:48 pm » |
|
Tính riêng từ năm 1966 đến cuối năm 1969, Việt Nam tổ chức thực hiện thành công 10 chuyến tàu biển quốc tế đưa vào cảng Xihanúcvin với tổng cộng 90.870 tấn hàng quân sự các loại chi viện các chiến trường miền Nam; trong đó có 60.380 tấn cho Nam Bộ, 30.490 tấn cho Tây Nguyên. Riêng về vũ khí, đạn, Việt Nam quá cảnh cảng Xihanúcvin 21.473 tấn; trong đó, vận chuyển về chiến trường miền Nam 18.703 tấn, trích trả cho Campuchia 385 tấn, còn lại 2.412 tấn bị lực lượng Lonnon chiếm trong cuộc đảo chính tháng 3/19701 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.217). Khối lượng này là rất lớn đối với tiền tuyến miền Nam trong những năm khốc liệt nhất của cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược.
Theo tài liệu của đối phương (tin tình báo quân sự của MACV, Mỹ) ghi nhận: Từ năm 1964 đến năm 1968, nếu không nói trước đó, "Đất Căm Bốt là cửa ngõ nhận hàng quân nhu, quân dụng của Trung cộng tiếp tế cho Cộng sản Bắc Việt. Hàng được tàu Trung cộng hay các nước Đông Âu chuyên chở bằng đường biển đến hải cảng Shihanoukville" và từ đó, "Theo đường bộ chuyển về các trạm hậu cần của Cộng sản Bắc Việt thiết lập dọc theo biên giới Việt Nam - Căm Bốt. Số lượng quân nhu, quândụng cung cấp cho Cộng sản Bắc Việt qua hải cảng Shihanoukville nhiều hơn số lượng di chuyển bằng đường bộ qua hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh trong thời gian đó"1 (Nguyễn Kỳ Phong: Vùng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945- 1975, Sđd, tr.424). Một nguồn tin khác, khá tin cậy và chính xác của đối phương cho chúng ta biết thêm: Hoàng thân Shihanouk, với sự đồng ý của Chu Ân Lai, lấy 10% tổng số hàng nhập vào hải cảng Shihanoukville. Từ Shihanoukville, quân đội Căm Bốt dùng quân xa chuyển hàng giao đến tay Cộng sản Bắc Việt và tính thêm tiền chuyên chở...
Cũng theo một thông tin từ phía chính quyền Sài Gòn, kết quả từ chiến dịch Toàn Thắng (tháng 5/1970) do liên quân Mỹ - quân đội Sài Gòn thực hiện nhằm mưu đồ mở rộng chiến tranh sang Campuchia cho biết, đã có tới 75% trong số 23.000 khẩu súng cá nhân, 2.500 súng cộng đồng, hơn 16 triệu viên đạn súng cá nhân, 143.000 viên đạn cối, hỏa tiễn, đại pháo, 200.000 viên đạn súng phòng không, 7.000 tấn gạo có nguồn gốc từ Trung Quốc2 (Xem Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.428) rơi vào tay chúng.
Và cũng nhờ được các nước xã hội chủ nghĩa tăng cường viện trợ quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam có điều kiện kịp thời bổ sung liên tục những loại vũ khí, trang thiết bị chiến tranh phù hợp bị hao hụt. Theo tính toán của các cơ quan chức năng Việt Nam, đến thời điểm tháng 6/1969, lực lượng vũ trangmiền Nam: Từ chỗ chủ yếu được trang bị các loại vũ khí chiến lợi phẩm bộ binh, nay (1969) bộ đội tập trung đã được trang bị đủ vũ khí bộ binh loại tốt nhất như: súng trường bán tự động, súng tiểu liên, trung liên hệ K56 cùng một loại đạn nên tiếp tế đạn dược đỡ khó khăn phức tạp. Các đại đội bộ binh đều được trang bị cối 60mm, súng chống tăng B40, B41 (nhiều hơn miền Bẳc). Ngoài ra, còn được tăng cường thêm nhiều súng bắn máy bay tầm thấp, cối, ĐKZ các loại cho các cấp từ tiểu đoàn trở lên; cấp quân khu được trang bị loại pháo hỏa tiễn mang vác với loại đạn nhiều mảnh (3.600 mảnh) nên sức sát thương rất lớn. Từ cấp tiểu đoàn trở lên được trang bị máy vô tuyến điện. Đối với lực lượng dân quân du kích đều được trang bị súng bộ binh K44, K50 (hiện có khoảng hơn 150.000 khẩu), súng chống tăng, cối và súng bắn máy bay tầm thấp. Riêng ở Nam Bộ được trang bị súng bộ binh K56 và tỷ lệ hỏa lực mang vác cũng nhiều hơn. Đạn chiến đấu bao đam được từ 1 đến 2 năm. Đối với lực lượng vũ trang miền Bắc: các loại vũ khí, trang bị đã được tăng cường về số lượng và cải tiến về chất lượng. Với khả năng hiện có, miền Bắc có thể trang bị đầy đủ cho hơn 450.000 quân tập trung bằng loại súng K56, ngoài ra còn khoảng từ 65 đến 70 vạn khẩu trang bị cho lực lượng dân quân tự vệ bằng loại súng K44 và K50. Lực lượng phòng không được trang bị tương đối mạnh, tổ chức thành một mạng lưới phòng không có tầm thấp (ba thứ quân), tầm trung bình, tầm cao có pháo cao xạ được trang bị khí tài chiến đấu trong mọi thời tiết ngày, đêm chiếm 35% tổng số pháo, tên lửa phòng không và máy bay chiến đấu có tốc độ trên tốc độ tiếng động đang được cải tiến (MiG-21). Rađa trinh sát và rađa dẫn đường cho máy bay số lượng tăng nhiều và chất lượng cũng được cải tiến (P12, P35) đủ bảo đảm mạng lưới trên không tương đối vững chắc. Pháo mặt đất cũng được tăng cường thêm các loại pháo có tầm bắn xa, uy lực mạnh, tiện cơ động, sử dụng thích hợp với địa hình Việt Nam (122mm, 130mm)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), Tlđd, tờ 6).
Báo cáo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: Chỉ trong khoảng thời gian ngắn 4 năm, từ năm 1965 đến năm 1969 (so sánh với năm 1964), vũ khí bộ binh của các lực lượng vũ trang Việt Nam đã tăng gấp 4 lần, súng máy cao xạ tăng 8 lần pháo cao xạ (có xe kéo) tăng 4 lần, máy bay chiến đấu tăng 8 lần, pháo có xe kéo tăng 2 lần, sức kéo tăng 3 lần,tên lửa từ con số không nhanh chóng tăng lên 74 tiểu đoàn, xe tăng tăng 2 lần, bom và đạn tăng 9 lần, cầu phà tăng 4 lần, máy vô tuyến điện tăng 3 lần, dây điện thoại tăng 5 lần, lực lượng dân quân tự vệ của Việt Nam được trang bị hơn 30 vạn khẩu súng bộ binh kiểu K44 và K501 (Xem Quân ủy Trung ương: Số liệu tình hình về ta (tài liệu họp Quân ủy Trung ương tháng 01/1970), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 1) do các nước anh em chi viện.
Tổng kết ngành Hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng đưa ra nhiều số liệu so sánh, đánh giá về số lượng, chất lượng, tỷ trọng khối lượng hàng hóa viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam. Công trình Tổng kết Hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) khẳng định: bởi đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam, nên Việt Nam tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Tổng số hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa dành cho quân và dân Việt Nam trong 4 năm (1965 - 1968) tăng gấp 7,1 lần về giá trị trong chi ngân sách quốc phòng và gấp 7,3 lần về khối lượng mặt hàng so với thời gian 10 năm (1955 - 1964) trước đó, và chiếm tới 79,7% tổng chi ngân sách quốc phòng của Việt Nam trong 4 năm. "Sự giúp đỡ to lớn của các nước anh em đã tăng cường mạnh mẽ nâng cao rõ rệt sức mạnh chiến đấu và bảo đảm chiến đấu của lực lượng vũ trang Việt Nam"1 (Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.424).
Là cơ quan tham mưu và tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự toàn quân, Báo cáo về tình hình vũ khí, đạn dược, khi tài và phương tiện của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1972 thêm một lần nữa khẳng định: "Nhu cầu vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam rất lớn, nhưng bởi Đảng Lao động Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, nên Việt Nam đã tranh thủ được sự viện trợ rất lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em và với sự cố gắng lớn trong nước, chúng ta đã tạo được một số khối lượng vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu to lớn, có nhiều loại chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện chiến đấu của Việt Nam, đã phát huy thắng lợi trên chiến trường Đông Dương"2 (Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 2).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 11:07:42 pm » |
|
Về số lượng so với năm 1964 (sau 8 năm, tính tối năm 1972), Báo cáo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, mức độ tăng trung bình về số lượng đạt mức từ 5 đến 10 lần; thậm chí có loại tăng vọt từ 12 đến 22 lần như súng máy cao xạ, máy bay chiến đấu, cầu phà công binh; có loại trước năm 1964 hầu như không có, nhưng đến năm 1972 có nhiều như: tên lửa phòng không, tên lửa chống tăng, tàu chiến mang tên lửa...
Trình độ trang bị của các lực lượng vũ trang Việt Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Súng bộ binh bắn tự động ngày càng nhiều, pháo nòng dài có tầm bắn xa và chính xác như 130mm, Đ74mm; xe tăng có tốc độ tấn công cao, vỏ thép dày như T54B, T59; pháo cao xạ có sơ tốc nhanh như 23mm, có khả năng chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết như pháo cao xạ 57mm; tên lửa phòng không có A-72, S-125, SA-75M; tàu chiến mang tên lửa của hải quân; máy bay MiG 21/96. Vũ khí, khí tài dùng bằng điện, điện tử ngày càng phổ biến. Khí tài chỉ huy của pháo cao xạ và tên lửa được cải tiến hơn. Phương tiện vận tải, làm đường, vượt sông ngày càng được cơ giới hóa... Mặc dù vậy, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình khai thác và sử dụng do tiếp nhận được nhiều chủng loại vũ khí, trang bị có nguồn gốc từ nhiều nước sản xuất như: tên lửa có 3 loại, trên 15 loại máy bay, 120 loại ôtô, 241 loại nguồn điện, 20 loại rađa, 186 loại vô tuyến điện,... có chủng loại, phụ tùng thay thế rất ít hoặc gần như không có nguồn thay thế như: xe tăng T34, T59, xe ôtô, xe xích, MiG-17F, pháo cao xạ 85mm và pháo 100mm1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Tinh hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới, Tlđd, tờ 13).
Cũng nhờ các nguồn viện trợ quân sự, tiềm lực quốc phòng miền Bắc có điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh chóng, đặc biệt là về nhân lực (đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực miền Bắc tăng từ 195.000 người lên 400.000 người). Các quân, binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân phát triển vượt bậc, không chỉ có pháo phòng không mà còn có các binh chủng tên lửa đất đối không, rađa cảnh giới, không quân tiêm kích. Nếu như năm 1964, lực lượng Phòng không miền Bắc chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn không quân tiêm kích, 2 trung đoàn rađa, thì cuối năm 1967, lực lượng Phòng không miền Bắc đã phát triển lên 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn pháo cao xạ, 10 trung đoàn tên lửa đất đối không, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn rađa. Lực lượng Phòng không miền Bắc được bố trí thành thế trận liên hoàn có thể đánh địch ở những độ cao khác nhau, vừa bảo đảm tác chiến rộng khắp, vừa có thể tập trung lực lượng bảo vệ những trọng điểm giao thông những khu yếu địa của quốc gia. Bên cạnh bộ đội phòng không chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ các tỉnh, thành phố cũng phát triển nhanh chóng, những năm 1966 - 1967 được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn và đại đội pháo phòng không, được trang bị từ súng máy 12,7mm, 14,5mm đến pháo cao xạ 37mm, 100mm. Riêng lực lượng dân quân, tự vệ đã tổ chức được 2.000 đơn vị trực chiến trên toàn miền Bắc, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với bộ đội...
Toàn bộ lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển trên miền Bắc được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân sẵn sàng tác chiến tiêu diệt địch mọi nơi, mọi lúc và sáng tạo ra nhiều cách đánh mưu trí, sáng tạo, táo bạo, hiệu quả cao, vô hiệu hóa được nhiều âm mưu, thủ đoạn đánh phá khốc liệt, nhiều loại vũ khí và khí tài hiện đại tối tân của Mỹ trên vùng trời, vùng biên miền Bắc.
Với thế trận chiến tranh nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, lại được sự hậu thuẫn chi viện to lớn và liên tục về vũ khí, đạn dược, trang bị từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, quân và dân Việt Nam trên hậu phương miền Bắc vững tin kiên quyết đánh bại các bước leo thang chiến tranh của Mỹ. Tại những địa bàn trọng điểm, quy mô lực lượng phòng không từ trung đoàn phát triển thành sư đoàn với thực tế hỏa lực vũ khí, trang bị chủ yếu là pháo cao xạ các cỡ và tên lửa đất đối không do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện (từ năm 1965 đến năm 1968, Việt Nam được các nước anh em viện trợ quân sự 17 trung đoàn tên lửa phòng không và hơn 3.000 khẩu pháo cao xạ các cỡ).
Bên cạnh bổ sung các loại vũ khí, trang bị, góp phần tăng cường thực lực kháng chiến của cả nước, với quyết tâm tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, công tác chi viện lực lượng và vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam được Đảng, Chính phủ và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng hết sức quan tâm. Phần lớn số vũ khí, trang bị viện trợ quân sự được Việt Nam vận chuyển vào các chiến trường miền Nam trên nhiều hướng và bằng nhiều tuyến đường khác nhau. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, trong 4 năm (từ năm 1965 đến giữa năm 1969), miền Bắc đã vận chuyển vào chiến trường miền Nam 266.122 khẩu súng trường, 34.812 khẩu súng ngắn các loại, 271.249 khẩu tiểu liên, 17.261 khẩu trung liên, 1.729 khẩu đại liên, 2.025 khẩu trọng liên 12,7mm, 1.632 khẩu ĐKZ các loại, 3.999 khẩu cối từ 60mm đến 160mm, 9.666 khẩu B40, B41, P27, 108 khẩu pháo nòng dài từ 76mm đến 152mm, 28 khẩu pháo hỏa tiễn H12 và BM14, 38 khẩu pháo chiến lợiphẩm 24 trọng liên 14,5mm, 36 pháo cao xạ 23mm, 108 pháo cao xạ 37mm một nòng...1 (Xem Quân ủy Trung ương: Tổng hợp số liệu về tình hình số lượng và chất lượng đạn dược 1965 - 1969 (tài liệu họp Quân ủy Trung ương), Tlđd, tờ 119-120). Tổng khối lượng vật chất miền Bắc chi viện miền Nam giai đoạn này lớn gấp 10 lần so với những năm 1961 - 1964. Và đây cũng là giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh khi nhân dân Việt Nam phải đối chọi với hơn 50 vạn quân viễn chinh, đồng minh của Mỹ cùng trên 1 triệu quân đội Sài Gòn; cùng với đó, là việc thực thi các âm mưu, thủ đoạn chiến tranh thâm độc, dã man tàn bạo.
Không chỉ ra sức chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ, Việt Nam còn sử dụng nguồn viện trợ quân sự của mình để giúp đỡ cho cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Viện trợ của Việt Nam cho cách mạng Lào trong giai đoạn này rất lớn, gồm chủ yếu là kinh phí, vật tư và nhân lực phục vụ xây dựng các công trình cầu, đường, bảo đảm một số mặt hậu cần cho lực lượng vũ trang chiến đấu. Tính riêng trong 4 năm 1969 - 1972, Việt Nam viện trợ cho cách mạng Lào 183.687.306 đồng; đồng thời, giúp cách mạng Lào tiếp nhận và vận chuyển hàng viện trợ cả kinh tế lẫn quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa trên dưới 20.000 tấn. Phần lớn trong số này là các loại vũ khí,xăng dầu, trang bị và vật tư kỹ thuật, quân trang, quân dụng và những năm về sau còn có thêm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thiết bị y tế. Theo những thống kê chưa đầy đủ, riêng hàng viện trợ quân sự, từ năm 1969 đến năm 1972, Việt Nam giúp cách mạng Lào tiếp nhận 18.833 tấn hàng viện trợ quân sự và nhiều xe cơ giới (bình quân trên 4.500 tấn/năm). Việt Nam giúp tiếp nhận ở cửa khẩu biên giới Việt Nam, vận chuyển về kho chứa tại Việt Nam, tiếp sau phân loại, bảo quản, vận chuyển từ Việt Nam tỏa đi các chiến trường Lào. Tính cả hàng quân sự và kinh tế, bình quân mỗi năm Việt Nam giúp vận chuyển 16.000 tấn trên 7 tuyến đường, chuyển giao cho bạn từ Bắc đến Nam Lào. Qua đây cho chúng ta thấy rằng, trong khoảng thời gian cao trào và khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Việt Nam đã chủ động nỗ lực cao độ trong vận động tranh thủ mọi nguồn lực viện trợ quần sự từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đường lối, chủ trương, sách lược vận động và cả những hoạt động tranh thủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hết sức linh hoạt, mềm dẻo, phong phú và đa dạng, đã giúp cho quân và dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, phức tạp để đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ chiến lược lớn lao của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mặc dù còn rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng và cả những khókhăn nội tại, nhưng trên hết là tinh thần bạn bè quốc tế vô sản đã có những giúp đỡ kịp thời, hiệu quả về quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế... cho nhân dân Việt Nam kháng chiến và kháng chiến đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn. Nguồn lực viện trợ quân sự nói chung và mọi sự giúp đỡ khác nói riêng do các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ đã được quân và dân Việt Nam khai thác, sử dụng sáng tạo, phát huy tác dụng to lớn, góp phần quan trọng trực tiếp đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, hoàn thành thắng lợi vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ vô cùng oanh liệt, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến lên thống nhất đất nước. Từ thực tiễn quá trình vận động tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa qua 21 năm gian khổ chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên thực tế đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm thành công và quý báu có thể nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay và mai sau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 11:09:43 pm » |
|
Chương III NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I-NHẬN XÉTThứ nhất, tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa là đường lối, chủ trương, sách lược nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sống còn của cuộc kháng chiến. Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là dân tộc Việt Nam phải đương đầu chống lại một kẻ địch mạnh hơn gấp nhiều lần, trong khi thực lực mọi mặt lại rất nhỏ bé và hạn chế; quá trình chiến đấu phải tiêu hao một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh... Do vậy, hơn bao giờ hết, nhân dân Việt Nam rất cần sự giúp đỡ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao của bạn bè quốc tế, đặc biệt là nguồn viện trợ quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Sớm ý thức sâu sắc về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nguồn viện trợ quân sự, nên trong suốt 21 năm kiên cường, bền bỉ chống Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại là tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó được phản ánh rõ nét tại nhiều hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đường lối, chủ trương chung xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là: "Tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự của các nước anh em tối mức cao nhất, trên cơ sở có lợi cho công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tăng cường đoàn kết quốc tế trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.26, tr.112). Ngay khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, năm 1955, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định chủ trương cần phải tăng cường tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em để xây dựng quân đội chính quy, hiện đại làm cơ sở thực hiện các nhiệm vụ quan trọng khác. Hội nghị Trung ương lần thứ 20 khóa III, năm 1972, Đảng và Nhà nước ta một lần nữa khẳng định: "tăng cường đoàn kết hữu nghị và ra sức tranh thủ sự viện trợ của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa" 1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.33, tr.42)... Thực tiễn đã chứng tỏ chủ trương, đường lối, chính sách này của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Báo cáo về tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1972 đã khẳng định: "Nhu cầu vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn nhưng do đường lối đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã tranh thủ được sự viện trợ rất lớn của phía các nước xã hội chủ nghĩa anh em" 2 (Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 3). Toàn bộ chặng đường kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, Việt Nam đã nhận được sự chi viện hết sức to lớn, thiết thực và hiệu quả. Tổng khối lượng viện trợ quân sự lên tới trên 2 triệu tấn vật chất, ước trị giá gần 7 tỉ rúp. Nguồn vật chất này đã được quân và dân Việt Nam khai thác và sử dụng hiệu quả, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giành thắng lợi trọn vẹn. Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", nhân dân Việt Nam sẽ mãi tri ân sự giúp đỡ quý báu đó. Đáp lại yêu cầu giúp đỡ của Việt Nam về vũ khí, đạn phương tiện chiến tranh, các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã sẵn sàng ủng hộ theo khả năng của mình. Trung Quốc hỗ trợ Việt Nam chủ yếu là các loại vũ khí, hàng chục triệu viên đạn lớn, nhỏ cho các cỡ súng, các loại phương tiện phục vụ bộ binh và một khối lượng lớn vật tư hậu cần như: lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ, quân trang, quân cụ các loại. Các loại súng bộ binh do Chính phủ Trung Quốc viện trợ như tiểu liên AK56, trung, đại liên,... chủ yếu là loại mới sản xuất lên tới hàng triệu khẩu. Liên Xô chủ yếu hỗ trợ Việt Nam các loại vũ khí, trang thiết bị hạng nặng, tiên tiến, hiện đại như: máy bay chiến đấu MIG-17, MIG-21, tàu chiến, pháo cỡ lớn, tên lửa phòng không SAM-2, SAM-3, xe tăng T54, T59,... Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Triều Tiên, Cuba cũng tùy theo khả năng của mình mà tận lực hỗ trợ nhân dân Việt Nam nhiều loại vũ khí, trang thiết bị. Những loại vũ khí, trang thiết bị chiến tranh, đạn dược do các nước xa họi chủ nghĩa hô trợ đã được Việt Nam biên chế cho các lực lượng vũ trang, chi viện chiến trường hoặc bổ sung vào nguồn dự trữ chiến lược. Theo đánh giá của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa giúp Quân đội nhan dân Việt Nam bình quân chiếm tới hơn 200%ngân sách quốc phòng của Nhà nước dành cho quân đội. "Các trang bị khí tài các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, nhìn chung có chất lượng tốt đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, đã tăng cường sức chiến đấu cho quân đội; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng Chiến tranh cục bộ ở miền Nam; góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng" 1 (Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965- 1975, Tlđd, tờ 10-20). Bên cạnh nỗ lực giúp đỡ quân và dân Việt Nam các loại vũ khí, đạn, trang thiết bị chiến tranh, thuốc men, y cụ..., các nước xã hội chủ nghĩa còn giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng thành công ngành công nghiệp Quốc phòng non trẻ trong bối cảnh đất nước chiến tranh khốc liệt. Suốt 21 năm ròng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nước xã hội chủ nghĩa giúp vốn, tài liệu khoa học kỹ thuật, cử đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm sang Việt Nam giúp khảo sát, thiết kế, thi công 71 công trình công nghiệp quốc phòng, ước tính trị giá hàng chục triệu rúp quy đổi 2 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 1-5). Phần lớn những công trình này đãvận hành sản xuất, phát huy tác dụng to lớn đối với cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2026, 11:12:00 pm » |
|
Không chỉ tích cực chi viện cho Việt Nam các loại súng, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng, các nước xã hội chủ nghĩa còn nhận đào tạo tại hệ thống trường quân sự của mình hàng chục nghìn cán bộ, học sinh, sinh viên, thực tập sinh Việt Nam. Đội ngũ nhân lực này vô cùng quý, sau quá trình học tập nghiên cứu đã nhanh chóng trở về Tổ quốc để bổ sung cho các ngành, các cấp. Đặc biệt, trên lĩnh vực quân sự, đội ngũ sĩ quan chỉ huy, tham mưu, kỹ sư, công nhân lành nghề phục vụ trong các nhà máy, xí nghiệp, xưởng sửa chữa, trung đại tu các loại vũ khí, khí tài, đạn dược... được gấp rút tăng cường. Ngoài ra, cùng công tác, phôi hợp chiến đấu với quân và dân Việt Nam suốt những năm chống Mỹ xâm lược là đội ngũ chuyên gia các cấp, các ngành của nhiều quốc gia như: Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari, Triều Tiên, Tiệp Khắc...; trong đó, không thể không kể tới sự có mặt của hàng vạn lượt bộ đội hậu cần Trung Quốc sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình phòng thủ tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, các đảo vùng Đông bắc, bảo vệ một số tuyên đường sắt các tỉnh phía bắc từ năm 1965 đến năm 1969. Trung Quốc không chỉ giúp Việt Nam các loại vũ khí, trang bị khí tài, vật tư hậu cần, cử đội ngũ cố vấn, chuyên gia và bộ đội hậu cần mà còn giúp vận chuyển quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc hàng chục vạn tấn vật chất viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa khác chi viện Việt Nam; giúp bảo quản, lưu trữ an toàn hàng chục nghìn tấn vật chất; cho phép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng một số cảng biển như Trạm Giang, Phòng Thành, Thủy Khẩu làm nơi trung chuyển các loại vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men... chi viện các chiến trường miền Nam kháng chiến.
Những chiến thắng quân sự nối tiếp nhau trên khắp các chiến trường Bắc - Nam như: Ấp Bắc, Ba Gia, Bình Giã, Đồng Xoài, Plâyme, trong hai cuộc phản công mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, Mậu Thân năm 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971, trong chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội cuối năm 1972, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã khẳng định vai trò, tác dụng to lớn của các nguồn viện trợ quân sự.
Các nước xã hội chủ nghĩa khác hỗ trợ Việt Nam khá liên tục, không đứt đoạn, tùy theo khả năng, điều kiện của từng nước. Các loại vũ khí, trang bị các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Triều Tiên viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là loại cũ, đã qua sử dụng, được rút từ lực lượng vũ trang của họ, phần nhiều cũng bởi nền công nghiệp quốc phòng của họ chưa phát triển mạnh. Tuy viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam có khối lượng và trị giá vật chất các loại không lớn, nhưng đã trực tiếp góp phần thổi bùng lên phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ trên thế giới. Sức mạnh vật chất cộng hưởng với sức mạnh tinh thần từ bạn bè quốc tế đã giúp quân và dân Việt Nam có thêm ý chí, niềm tin, nhân lên thành sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù trong cuộc đọ sức quyết liệt trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc ta.
Đánh giá tổng thể về sự giúp đỡ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Việt Nam suốt 21 năm gian khổ chống Mỹ, cứu nước là rất to lớn, thiết thực và hiệu quả. Tuy nhiên, so sánh với sự giúp đỡ của chính quyền Mỹ đối với chính quyền và quân đội Sài Gòn lại chiếm tỷ trọng và trị giá nhỏ hơn nhiều lần. Theo một số thống kê và so sánh chưa đầy đủ, sự giúp đỡ của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn lớn hơn gấp nhiều lần nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam Dân chu Cộng hòa. Trong 21 năm, Mỹ đã viện trợ cho chính quyền Sài Gòn 24,955 tỉ đôla, còn các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là 4,014 tỉ đôla, gấp hơn 6 lần (622%)1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, Tlđd, tờ 3). Trong hai công trình nghiên cứu: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước, Thắng lợi và bài học và Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị cũng đưa ra một so sánh, cho rằng phần Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ viện trợ cho chính quyền Sài Gòn lớn hơn gấp nhiều lần phần các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Viện trợ quốc tế (viện trợ quân sự - TG) cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là 2.362.682 tấn vật chất, trị giá hơn 7 tỉ rúp1 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.317) (quy đổi tại thời giá thời điểm đó tương đương 7 tỉ đôla). Trong khi đó, viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn là 17 tỉ 939,1 đôla2 (Xem Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sdd, tr.500-501, 600-601).
Tuy nhận được khối lượng viện trợ quân sự lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhưng quân và dân Việt Nam luôn thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.56-57), luôn nỗ lực tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, triệt để khai thác, phát huy tối đa tính năng, tác dụng các loại vũ khí, trang bị do các nước xã hội chủ nghĩa giúp để đánh thắng quân thù. Một sử gia người Pháp cũng từng đánh giá rằng: "Về mặt tài chính, cái giá của chiến tranh Việt Nam thật đồ sộ đối với Hoa Kỳ nhưng nhỏ nhoi với Bắc Việt Nam. Vì người Liên Xô và người Trung Quốc thanh toán phần lớn hóa đơn. Đến cuối cùng, người Mỹ tốn mỗi năm 30 tỉ đôla; Liên Xô và Trung Quốc mỗi nước khoảng 1 tỉ đôla"2 (Nguyễn Kỳ Phong: Vũng lầy của Bạch Ốc, người Mỹ và chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, Sđd, tr.365).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:25:50 pm » |
|
Trong quá trình nỗ lực vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sớm nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại hết sức linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ", không bị chi phối, áp lực từ bên ngoài. Nhiều chủ trương và kế hoạch xây dựng, phát triển quân đội, phương án tác chiến của các lực lượng vũ trang được Việt Nam đưa ra công khai bàn bạc, tranh thủ ý kiến của các nước bạn như: Kế hoạch xây dựng quân đội 5 năm lần thứ nhất, Kế hoạch trang bị, Kế hoạch phòng thủ miền Bắc, Kế hoạch phối hợp hiệp đồng tác chiến giữa quân đội Việt Nam và quân đội Trung Quốc nếu chiến tranh xâm lược mở rộng ra miền Bắc; chủ trương chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam năm 1959,... cũng như những thắng lợi quân sự của quân và dân Việt Nam trên các chiến trường đã được Việt Nam kịp thời thông báo cho các nước xã hội chủ nghĩa biết để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ. Trên tinh thần đoàn kết quốc tế, chân thành ủng hộ lẫn nhau, Việt Nam đã tranh thủ tối đa được sự đồng tình, giúp đỡ về mặt chính trị, tinh thần trên các diễn đàn trong nước, khu vực và quốc tế; sự chi viện thiết thực, hiệu quả về vật chất, nhất là các loại vũ khí, đạn dược, trang thiết bị trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Nếu như Việt Nam không nhất quán thực hiện một chủ trương, đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, đúng đắn và sáng tạo thì rất khó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ to lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Mặt trận nhân dân thế giới phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ khởi đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa, ngày càng lan rộng thành phong trào, thành động lực thôi thúc, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ. Thực tiễn cuộc chiến đấu khốc liệt đã gây tổn hao lớn mọi nguồn lực của quốc gia, nên bên cạnh ý chí, quyết tâm chiến đấu kiên cường, bất khuất của quân và dân cả nước Việt Nam không thể không dựa vào sự giúp đỡ tích cực từ các nước xã hội chủ nghĩa để bồi bổ thực lực kháng chiến. Sự thay đổi trong so sánh tương quan lực lương từ yếu sang mạnh, thực hiện mưu lược "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều" từng bước xoay chuyển cục diện chiến tranh, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, đây là phương châm, truyền thống đánh giặc lâu đời của dân tộc Việt Nam.
Mặc dù Việt Nam khá nhất quán trong thực hiện đường lối, chủ trương, sách lược tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa và đã thu được những kết quả to lớn, tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, tại nhiều thời điểm khác nhau, thậm chí là khá nhạy cảm về chính trị, do đoán định tình hình chưa thực sự sát đúng, nên kết quả ủng hộ về quân sự chúng ta thu được chưa cao như mong muốn.
Thứ hai, trên tinh thần "độc lập, tự chủ", Việt Nam luôn nỗ lực tranh thủ viện trợ quân sự từ cấc nước xã hội chủ nghĩa ở mức cao nhất.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu luôn ý thức sâu sắc đây là sự nghiệp hoàn toàn chính nghĩa. Việt Nam chống Mỹ, cứu nước chẳng những vì lợi ích thiết thân của dân tộc mình mà còn góp phần bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới. Trong bối cảnh này, lợi ích quốcgia - dân tộc của các nước xã hội chủ nghĩa trùng hợp với lợi ích từ việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Mỹ, khẳng định ý thức hệ về hệ thống là một nguồn lực tinh thần mạnh mẽ, gắn kết các nước với nhau. Ngược lại, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là xâm lược một quốc gia có chủ quyền, một thành viên trong phe xã hội chủ nghĩa, đe dọa an ninh, an toàn và thách thức hệ thống xã hội chủ nghĩa, uy hiếp trực tiếp đến phong trào giải phóng dân tộc và hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Kết quả cuộc chiến tranh tại Việt Nam vì vậy có liên quan tới nhiều nước, nhiều dân tộc.
Quân và dân Việt Nam luôn chiến đấu với niềm tin tưởng son sắt rằng thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về dân tộc Việt Nam. "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do,... Nhân dân Việt Nam nhất định thắng!"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.131, 133).
Với niềm tin có căn cứ và cơ sở khoa học vững chắc, Việt Nam kiên quyết thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp đối ngoại khéo léo, mềm dẻo, từng bước tạo cho mình một hậu phương quốc tế tin cậy, trong đó giữ vai trò nòng cốt là các nước xã hộichủ nghĩa. Từ các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào phản đối chiến tranh, ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược trên thế giới ngày càng lan rộng, trở thành một động lực tinh thần to lớn đối với Việt Nam; góp phần phân hóa, cô lập, thu hẹp hậu phương địch. Ngoài sự động viên khích lệ to lớn về chính trị, tinh thần, các nước xã hội chủ nghĩa còn viện trợ quân sự liên tục cho quân và dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ các loại vũ khí tiên tiến và hiện đại, nguồn đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... với khối lượng lên tới trên 2.362.682 tấn, trị giá gần 7 tỉ rúp quy đổi. Có thể nói, sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất và chính trị, tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ là hết sức thiết thực, hiệu quả. Nó từng bước chuyển hóa thành nội lực, nhân thêm gấp bội, tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy cam go thử thách và khốc liệt.
Trên mỗi chặng đường gian khổ chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, sự chi viện về quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không đồng đều, nhưng kịp thời, liên tục, không hề bị đứt đoạn. Nếu như 10 năm đầu (1954 - 1964), miền Bắc Việt Nam xây dựng, phát triển trong hòa bình,do quan niệm và cách nhìn khác nhau về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam mà các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho nhân dân Việt Nam chủ yếu thiên về viện trợ kinh tế, bởi thế mà khối lượng về quân sự không lớn. Chẳng hạn, Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ kinh tế cho Việt Nam ước đạt 1 tỉ nhân dân tệ, trong khi đó, viện trợ quân sự ước đạt 320 triệu nhân dân tệ, chiếm chưa tới 1/3. Tỷ trọng và trị giá các loại hàng hóa thuộc nguồn viện trợ quân sự khá khiêm tốn so với viện trợ kinh tế. Phần lớn là các loại súng, đạn, vật tư hậu cần trang bị cho lực lượng bộ binh mà thiếu vắng nhiều những loại vũ khí tiên tiến hiện đại, rất khó khăn cho việc cơ cấu phát triển hợp lý các quân, binh chủng, đơn vị trong quân đội. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong tái cơ cấu, phát triển một quân đội cân đối, hợp lý giữa các quân, binh chủng, các ngành, nhưng vớisố vốn thiết thực, tài liệu khoa học và cả những kinh nghiệm do các nước xã hội chủ nghĩa chuyển giao, giúp đỡ thời kỳ đầu đã đặt cơ sở nền tảng đầu tiên, vững chắc cho Quân đội nhân dân Việt Nam thống nhất về vũ khí, trang bị hiện đại, tập trung huấn luyện theo hướng chính quy. Trên 90% súng bộ binh bộ đội chủ lực Việt Nam là loại mới sản xuất của phe xã hội chủ nghĩa viện trợ. Tiền đề của nhiều quân chủng mới hiện đại như Hải quân,Phòng không, Không quân, Rađa, Tên lửa... ra đời, từng bước phát triển đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc chiến tranh. Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng ghi nhận: những năm sau kháng chiến chống thực dân Pháp, viện trợ quân sự của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy khối lượng không lớn hơn so với những năm còn chiến tranh (những năm 1956 - 1960 về số lượng chỉ bằng 120% những năm 1950 - 1955), nhưng có giá trị lớn - bằng 320%, do vũ khí trang bị kỹ thuật chiếm tỷ lệ 92% (trong số hàng tiếp nhận từ năm 1955 đến năm 1960 là 49.585 tấn thì có tới 45.480 tấn hàng hóa thuộc trang bị kỹ thuật). Đây là nguồn cung cấp chủ yếu về trang bị kỹ thuật để Việt Nam tổ chức bảo đảm cho xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại1 (Xem Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hậu cần: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sđd, tr.39).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:28:04 pm » |
|
Khác với 10 năm đầu, từ năm 1965 đến năm 1972,khi Mỹ leo thang và mở rộng quy mô chiến tranh, đồng thời trước những khó khăn lớn của phía Việt Nam, nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng. Cơ bản các loại vũ khí, trang bị, đặc biệt là các loại vũ khí, trang bị tiên tiến, hiện đại như: xe tăng T54, máy bay chiến đấu MIG-17, MIG-19, MIG-21, tàu chiến, tên lửa phòng không SAM-2, SAM-3, các loại pháo,... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều do các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp. Nguồn vật chất này khá dồi dào, không chỉ kịp thời bổ sung trang bị cho các lực lượng vũ trang, bù đổi trong quá trình chiến đấu mà còn tăng nguồn dự trữ chiến lược lâu dài. Theo báo cáo của Quân ủy Trung ương, tính tới thời điểm cuối năm 1972: "Nhờ sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em mà trang bị khí tài của quân đội ta đã được tăng cường về số lượng và cải tiến về chất lượng, do đó đã đưa trình độ hiện đại của quân đội Việt Nam lên một bước mới, đã bảo đảm các nhiệm vụ chiến đấu trước mắt mà còn tăng thêm lượng dự trữ, đồng thời giúp Việt Nam bước đầu xây dựng các cơ sở sản xuất quốc phòng, sửa chữa, đào tạo cán bộ và nghiên cứu kỹ thuật"1 (Quân ủy Trung ương: Bảo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10).
Báo cáo cũng ghi nhận, Quân đội nhân dân Việt Nam từ một quân đội chủ yếu chỉ có bộ binh, nay (năm 1972) đã có các quân chủng, binh chủng tươngđối hiện đại như: tên lửa phòng không loại có xe kéo bắn ở tầm cao và loại mang vác bắn địch ở tầm thấp; máy bay chiến đấu có tốc độ trên tốc độ tiếng động; pháo cao xạ bắn bằng khí tài; các loại rađa trinh sát và dẫn đường bay; các loại pháo có uy lực sát thương lớn tầm bắn xa và cơ động như pháo hỏa tiễn mang vác, pháo nòng dài 130mm và 122mm D-74; các loại súng chống tăng uy lực mạnh như: B40, B41 và từ năm 1971 trở đi có thêm loại tên lửa chống tăng; vũ khí bộ binh cũng ngày càng được cải tiến về chất lượng, đến năm 1972, hầu hết các sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam đều được trang bi súng tự động, cùng một cỡ đạn ở đại đội; có sức đột kích mạnh bằng các loại xe tăng T34, T54, xe tăng lội nước, xe bọc sắt lội nước, có thêm lực lượng vận tải cơ giới làm nhiệm vụ vận tải tiếp tế tới các chiến trường. Các trang bị khí tài các nước xã họi chủ nghĩa viện trợ nhìn chung có chất lượng tốt, đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, tăng cường mạnh mẽ sức chiến đấu cho quân đội; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn. Trang bị viện trợ quân sự của các nước anh em cho Việt Nam có đủ để bổ sung tiêu hao hằng năm và tăng dần lượng dự trữkhoảng từ 2 đến 3 năm (trừ ôtô, một số loại đạn, một số khí tài trước mắt)1 (Xem Quân ủy Trung ương: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 đến năm 1972 và dự kiến khả năng viện trợ sắp đến, Tlđd, tờ 10-20).
Quân và dân Việt Nam kiên cường chiến đấu chống Mỹ xâm lược trong tâm thế hoàn toàn chủ động, tự tin vì biết chắc rằng phía sau mình có một hậu phương quốc tế vững chắc, luôn khích lệ, động viên giúp đỡ. Trên thực tế, một mặt trận nhân dân thế giới do các nước xã hội chủ nghĩa làm nòng cốt đã hình thành và phát triển mạnh mẽ như tiếp thêm sức mạnh chính trị, tinh thần cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Việt Nam nhận được những gói quà hết sức ý nghĩa, từ bao gạo, cân đường, hộp sữa, viên thuốc chữa bệnh, quần áo cho đến những loại vũ khí tối tân, hiện đại.
Tuy nhiên, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam không đều nhau, phụ thuộc rất lớn vào tình hình các mặt và chính sách đối ngoại của mỗi nước qua từng giai đoạn, thời điểm nhất định, phụ thuộc cả vào đường lối đối ngoại và các hoạt động ngoại giao của phía Việt Nam. Mỗi nước giúp nhân dân Việt Nam kháng Mỹ, bên cạnh tình nghĩa quốc tế vô sản còn tínhtoán đến cả lợi ích quốc gia, dân tộc, đến cả đường lối đối nội và đối ngoại.
Trên cơ sở lường định và từ những phân tích khoa học bối cảnh tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tich Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng Việt Nam từng bước đề ra những giải pháp và bước đi sáng tạo trong quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô và Trung Quốc. Bởi vậy, Việt Nam vừa giữ vững và bảo vệ đường lối tiến hành chiến tranh cách mạng, nhưng cũng đồng thời tranh thủ tối đa được sự đồng tình ủng hộ từ các nước xã hội chủ nghĩa cả về vật chất lẫn chính trị, tinh thần. Việt Nam luôn kiên định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của mình; luôn cân nhắc tới lợi ích của dân tộc với lợi ích quốc tế, vừa hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc lại vừa góp phần bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới. Luôn vận động, tranh thủ tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng kiên quyết không để vấn đề giúp đỡ Việt Nam bị lợi dụng, gây mất đoàn kết giữa các nước anh em. Từ đó, ngày càng tranh thủ được nhiều nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn Xô - Trung lên tới đỉnh điểm (xung đột biên giới tháng 3/1969), nhưng hai nước vẫn tiếp tục viện trợ cả quân sự và kinh tế ở mức cao cho Việt Nam. Những năm 1965 - 1972 là giai đoạn các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cao nhất trong toàn bộ cuộc kháng chiến. Trong những năm này, các nước đã viện trợ quân sự với một số lượng lớn vũ khí, trang bị khí tài tương đối hiện đại. Việt Nam có thêm tên lửa phòng không loại có xe kéo và loại mang vác, tên lửa chống tăng loại mang vác, máy bay MIG-21, rađa, tàu phóng tên lửa, pháo mặt đất 122mm, D-74, 130mm, xe tăng T54B, xe vỏ thép các loại, ông dẫn dầu...
Nhận được sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả đó của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có điều kiện thuận lợi để xây dựng, củng cố hậu phương miền Bắc về mọi mặt, biến miền Bắc trở thành hậu phương, chỗ dựa vững chắc đối với toàn bộ cuộc kháng chiến; là cơ sở để đẩy mạnh chi viện sức người, sức của cho miền Nam từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đúng như đánh giá của Đảng và Nhà nước Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976): "Thắng lợi của chúng ta là thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình trên thế giới đã ủng hộ nhân dân ta đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược... bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện, to lớn và quý báu"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.983).
Tuy nhiên có một thực tế là do việc nắm bắt tình hình mọi mặt các nước xã hội chủ nghĩa chưa sát, nên trong xây dựng kế hoạch đặt vấn đề viện trợ quân sự có nhiều chủng loại không phù hợp cho quá trình khai thác và sử dụng của bộ đội hoặc nguồn bảo đảm không thể đáp ứng được vì công nghệ sản xuất lạc hậu, các nước đã ngừng sản xuất. Trong tính toán tiếp nhận, vận chuyển hàng hóa các loại, các cơ quan chức năng Việt Nam cũng xây dựng kế hoạch có nhiều thời điểm chưa sát dẫn tới tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các ga Bằng Tường, Mãn Châu Lý (Trung Quốc), Hải Phòng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:30:06 pm » |
|
Thứ ba, Việt Nam luôn gắn tranh thủ viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa với nỗ lực đoàn kết quốc tế.
Trong quá trình nỗ lực vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam luôn cân nhắc, tính toán cẩn trọng không để vì đạt được mục tiêu mà ảnh hưởng tới tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Đoàn kết và đấu tranh phải trên cơ sở bảo đảm có lý, có tình. Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: "Từ trước đến nay và từ nay về sau, Đảng ta luôn luôn đem hết sức mình để tăng cường đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam và Đảng Lao động Việt Nam với nhân dân Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên Xô... Đảng ta đã và sẽ luôn luôn đem hết sức mình để góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trung tâm, giữa tất cả các đảng cộng sản và công nhân, trên cơ sở cua chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản"1 (Đảng Cộng sẵn Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.22, tr.607-608). Trung ương Đảng ta phải làm hết sức mình để tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả nhất của các nước anh em, đồng thời cố gắng tránh những ảnh hưởng xấu nhất đối với công cuộc chống Mỹ, cứu nước. Việt Nam vừa phải kiên trì đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ lại vừa phải tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam chân thành cảm ơn những gợi ý của Trung Quốc về đặt vấn đề viện trợ quân sự một số loại vũ khí, trang bị hạng nặng với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Nhưng khi thấy mâu thuẫn Xô - Trung bị rạn nứt, bất đồng ngày càng gia tăng, kê từ sau năm 1958 Liên Xô rút chuyên gia, cắt giảm hàng loạt dự án đối với Trung Quốc Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông không tuyên truyền, phổ biếnvề việc đó vìcó thể sẽ gây bất hòa thêm giữa hai nước. Thậm chí, Việt Nam còn kiên trì yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa chấm dứt tranh luận, công kích lẫn nhau trên các phương tiện thông tin đại chúng, gây ảnh hưởng lớn tới phong trào đấu tranh chung trên thế giới. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chân thành bày tỏ quan điểm với các nước xã hội chủ nghĩa về nhiều vấn đề bất đồng đang tồn tại giữa các nước anh em. Đảng Lao động Việt Nam nhất quán khẳng định: "Chúng ta không tham gia tranh luận về các vấn đề đang chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế... Chúng ta kiên trì thuyết phục, đấu tranh có lý, có tình nhằm hạn chế mặt tiêu cực... Chúng ta chống cả hai xu hướng không phù hợp với sách lược đoàn kết quốc tế của Đảng: xu hướng đoàn kết vô nguyên tắc và xu hướng cô độc hẹp hòi"1 (Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, Tlđd, tờ 21).
Những năm đầu khi bước vào kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đứng trước chủ trương, xu thế hòa hoãn của Liên Xô (tam hòa) và lời khuyên "Trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng" của Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nhiều và đồng đều giữa các năm, chủ yếu là các loại vũ khí, phương tiện cho bộ binh, mặc dù yêu cầu về viện trợ quân sự của các lực lượng vũ trang rất lớn, nhưng không phải vì thế mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nóng vội trong vận động các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ. Một mặt, Việt Nam cẩn trọng, từng bước chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam (Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng 01/1959)), mặt khác, cử những đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước có uy tín quốc tế (Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần bí mật đi Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 1959, 1960, 1961, 1962) thăm và làm việc với các nước bạn, chân thành giải thích, nỗ lực vận động tranh thủ sự đồng tình của bạn với đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam, cam kết không để chiến tranh lan rộng thành chiến tranh thế giới. Do đó, các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc đã có những hiểu biết chính xác hơn, cảm thông hơn về nội tình cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Khi bị các nước xã hội chủ nghĩa cắt giảm các nguồn viện trợ quân sự, Việt Nam vẫn kiên trì quan điểm, thái độ đoàn kết quốc tế; ghi nhận và biết ơn, đánh giá cao sự giúp đỡ chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam; khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, gắn bó chặt chẽ với cách mạng thế giới. Nhân dân Việt Nam chiến đấu không chỉ vì lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam mà còn góp phần bảo vệ hòa bình thế giới, bảo vệ an ninh, an toàn của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cơ sở, nền tảng chân chính có sức thuyết phục mạnh mẽ để Việt Nam liên tục kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa ra sức viện trợ quân sự cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ. Cao điểm là sau khi Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị Trung ương 9 khóa III, Liên Xô không chi cắt giảm viện trợ quân sự tới mức tối thiểu, thậm chí còn đưa một số lượng lớn học sinh Việt Nam về nước, chậm công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cho dù nhu cầu vũ khí, đạn dược và trang bị cho cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam đang trên đà thắng lợi là rất lớn và vô cùng cấp bách, các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cắt giảm viện trợ quân sự, nhưng cũng không vì thế mà Việt Nam làm xấu thêm tình hình. Việt Nam vẫn kiên trì, liên tục cử các đoàn đại biểu cấp cao tới thăm Liên Xô để vận động, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô. Do nỗ lực chủ quan vận động của phía Việt Nam, các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục duy trì viện trợ quân sự cho Việt Nam, bức tranh quan hệ giữa Việt Nam với các nước không bị mờ nhạt. Mặc dù có một số bất đồng, song các nước xã hội chủ nghĩa đều tìm được tiếng nóichung trong chống chủ nghĩa đế quốc và ủng hộ giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc.
Từ năm 1965 đến năm 1972, bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi to lớn. Đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Nhu cầu viện trợ về quân sự của Việt Nam đột ngột tăng cao. Các nước xã hội chủ nghĩa khuyên Việt Nam sớm đi vào thương lượng, giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh theo những điều kiện của phía Mỹ đưa ra. Mặc dù lúc này, yêu cầu về viện trợ quân sự đặt ra rất cấp bách, đặc biệt là các loại máy bay chiến đấu, tên lửa đất đối không, pháo cao xạ, tàu chiến hiện đại,... để chống trả các cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, lần thứ hai của đế quốc Mỹ và tổ chức các hoạt động quân sự lớn trên chiến trường miền Nam, nhưng không vì thế mà Việt Nam từ bỏ chủ trương "đánh, đàm" của mình, "đàm phán non" với chính quyền Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh hai lần đi Trung Quốc trong các năm 1965, 1966, bày tỏ cảm ơn sự giúp đỡ của Trung Quốc; vận động Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc tăng cường hỗ trợ Việt Nam chống Mỹ. Đồng thời, cử một số đoàn cấp cao do Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu sang Trung Quốc hội đàm và tranh thủ viện trợ; cử các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng đi Liên Xô cảm ơn và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô,... Các đoàn Việt Nam đã kiên trì giải thích với các nước bạn vềđường lối chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam, cam kết không để chiến tranh mở rộng vượt khỏi phạm vi Việt Nam, đồng thời, chủ động mở những đợt hoạt động quân sự lớn, liên tiếp, dồn dập trên khắp các chiến trường giành được thắng lợi như đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, cuộc tiến công chiến lược năm 1972; kịp thời thông báo những thắng lợi quân sự đó tới các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thuyết phục các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ bằng lời nói mà còn chứng minh bằng các kết quả thực tiễn chiến đấu trên các chiến trường hai miền Nam - Bắc. Từ đó, ngày càng tranh thủ được các nguồn viện trợ quân sự. Các nước xã hội chủ nghĩa đều đoàn kết viện trợ quân sự cho quân và dân Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ. Mâu thuẫn Xô - Trung ngày càng tăng nhưng hai nước vẫn viện trợ quân sự ở mức cao cho Việt Nam. Việt Nam đã nỗ lực xử lý thành công nhiều tình huống ngoại giao phức tạp, tế nhị liên quan tới viện trợ quân sự. Có lúc phải công khai quan điểm, chân thành thể hiện chính kiến; có thời điểm gặp riêng từng nước, từng đồng chí lãnh đạo cấp cao để vận động, giải thích, tranh thủ. Qua vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam, các nước xã hội chủ nghĩa thêm đoàn kết với nhau trong mặt trận chống đế quốc xâm lược, giành độc lập, bảo vệ hòa bình.
Bước vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh (1973 - 1975), trên cơ sở phân tích và dự báo các nước xã hội chủ nghĩa sẽ cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bởi quan niệm của họ về cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam đã kết thúc, nhưng theo tính toán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta vẫn có những lý do chính đáng để tiếp tục tranh thủ viện trợ quân sự hoàn thành thắng lợi mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mặt khác, để bảo đảm giành thắng lợi những mục tiêu tiếp theo, chúng ta cũng rất cần được các nước anh em viện trợ quân sự cho ta. Do đó, từ đầu năm 1973, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã cử đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Nguyễn Đôn dẫn đầu đi thăm và đàm phán viện trợ các mặt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Kết quả, về cơ bản, các nước xã hội chủ nghĩa đều nhất trí với nhận định tình hình chiến sự của Việt Nam, tiếp tục có những viện trợ quân sự cho Việt Nam, thậm chí có nước tăng vọt về khối lượng, trị giá, nhưng nhìn chung không nhiều bằng những năm trước đây.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan là có một số thời điểm chủ trương vận động, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em của chúng ta chưa kịp thời, chưa thực sự sát, hiệu quả chưa phân tích kỹ những bất đồng, tính toán về lợi ích của các nước nên đã gây khó khăn trong việc vận chuyển hàng viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:32:37 pm » |
|
II- MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, ca nước chung sức đồng lòng kháng chiến chống Mỹ xâm lược, quá trình vận động, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa về mặt quân sự của Việt Nam đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.
1. Nắm bắt và bám sát tình hình một cách toàn diện trong tiến hành tranh, thủ viện trợ quân sự
Suốt quá trình tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến năm 1975, Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực cao độ, chủ động nắm bắt và bám sát tình hình một cách toàn diện để kịp thời đề ra những đường lối, chủ trương, yêu cầu viện trợ quân sự sát, đúng với điều kiện hoàn cảnh từng nước trong từng thời điểm thích hợp. Điều này được thể hiện rõ ngay sau khi miền Bắc vừa giải phóng, trong xu thế hòa bình, hòa hoãn của thế giới; đồng thời với việc phải giải quyết nhiều công việc quan trọng cấp thiết khác, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra và thực thi nhiều chủ trương, giải pháp đối ngoại linh hoạt, sáng tạo nhằm tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc - hai nước xã hội chủ nghĩa lớn, chỗ dựa vững chắc và chủ yếu của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trung Quốc vừa là quốc gia láng giềng kề cận lại vừa là hậu phương lớn của Việt Nam từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Liên Xô là đồng Chủ tịch của Hội nghị Giơnevơ, Ba Lan là thành viên của Ủy ban Kiểm soát và Giám sát quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các quốc gia sớm đặt đại sứ quán tại Thủ đô Hà Nội. Ngược lại, Đảng, Chính phủ Việt Nam cũng chỉ đạo ngành ngoại giao khẩn trương xúc tiến đặt đại sứ quán Việt Nam tại các nước và chủ động cử nhiều đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân đội, Công đoàn,... đi thăm, làm việc với các nước như: chuyến thăm Trung Quốc, Liên Xô và Mông Cổ (tháng 7/1955) của đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu - chuyến đi có ý nghĩa đặt nền móng, mở ra một trang sử mới trong quan hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; chuyến đi thăm 9 nước ở Bắc Âu, Bắc Á (tháng 7/1957) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, có các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, Quốc hội do các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,... dẫn đầu đến thăm và làm việc với nhiều nước khác nhau. Xen kẽ là những đoàn đại biểu quân sự cấp cao do các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng dẫn đầu sang thăm và làm việc với Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam luôn được đề cập trong các chương trình nghị sự, đàm phán, ký kết. Kết quả, Trung Quốc cam kết viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam một cách liên tục. Đối với Liên Xô, từ năm 1957 chính thức công khai viện trợ quân sự cho Việt Nam, năm 1964 bị ngắt quãng. Các nước xã hội chủ nghĩa khác công khai viện trợ quân sự từ năm 1965 trở đi (trước đó, một số nước anh em đã viện trợ quân sự, nhưng chưa công khai, khối lượng và trị giá cũng không lớn).
Tuy nhu cầu về viện trợ quân sự rất lớn và cấp thiết, nhưng những năm đầu chống Mỹ, cứu nước, trước xu thế vận động chung của thế giới là hòa bình, hòa hoãn, kể cả trong nhận thức và ứng xử của hai nước lớn Liên Xô và Trung Quốc, Đảng, Chính phủ Việt Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đã hết sức mềm dẻo, linh hoạt trong đặt vấn đề giúp đỡ có chừng mực. Các loại vũ khí bộ binh, lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men, y cụ, kinh nghiệm, tài liệu khoa học, nguồn vốn xây dựng,chuyên gia quân sự các ngành, các cấp phục vụ cho xây dựng quân đội chính quy, hiện đại; tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng đã được các nước xã hội chủ nghĩa cung cấp cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Quy mô, tỷ trọng, trị giá viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa dành cho Việt Nam những năm 1954 - 1964, trên thực tế không lớn so với viện trợ kinh tế.
Bước sang những năm Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược (1965 - 1972), khi bối cảnh thế giới có nhiều biến chuyển thuận lợi đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam như: Liên Xô điều chỉnh đường lối đối ngoại, tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam; phong trào phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược dâng cao trên thế giới. Việt Nam chủ động nắm bắt tình hình, sớm lượng định, tính toán, tranh thủ đặt vấn đề viện trợ quân sự trên quy mô lớn với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, từ việc hoàn thành "Kế hoạch tác chiến hiệp đồng giữa quân đội hai nước Trung Quốc và Việt Nam", "Quy hoạch Trung Quốc chi viện Việt Nam về trang bị quân sự và vật tư hậu cần chủ yếu" từ năm 1964 đến năm 1967 cho mấy chục vạn quân trong thời chiến đến gấp rút thực hiện các thỏa thuận với Chính phủ Liên Xô đưa các trung đoàn khung tên lửa phòng không, không quân của Việt Nam sang Liên Xô huấn luyện và tiếp nhận trang bị khí tài do Liên Xô chi viện để chuẩn bị ứng phó có hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của Mỹ; khẩn trương ký kết, vận chuyển hết số hàng hóa viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu còn tồn đọng tại các kho bãi, cửa khẩu về nước. Khối lượng hàng viện trợ quân sự các nước giúp đỡ theo yêu cầu của Việt Nam, nhiều thời điểm về dồn dập, gây ùn, ứ đọng ở nước ngoài hàng chục vạn tấn. Trong quá trình tính toán, tổng hợp nhu cầu viện trợ quân sự, có những chủng loại hàng hóa không phù hợp với điều kiện chiến trường Việt Nam, khó khăn cho công tác bảo đảm, Việt Nam mạnh dạn đề nghị chuyển đổi sang những loại thích hợp hơn,... Hoặc khi nghiên cứu tìm hiểu thấy thế mạnh sản xuất công nghiệp quốc phòng của từng nước, Việt Nam cũng chủ động đề xuất giúp Việt Nam về thế mạnh đó. Đối với Liên Xô là quốc gia có thế mạnh về vũ khí hạng nặng như các loại tên lửa đất đối không, máy bay chiến đấu, tàu chiến, các loại pháo cao xạ..., Việt Nam yêu cầu Liên Xô viện trợ các loại này cho Việt Nam. Trong khi đó yêu cầu Trung Quốc viện trợ quân sự gồm các loại vũ khí bộ binh, vật tư hậu cần, các loại ôtô, thiết bị thông tin,... vì đó là thế mạnh của Trung Quốc. Đốỉ với Mông Cổ, Việt Nam yêu cầu bạn giúp các loại hàng hóa vật tư hậu cần như: lông, da cừu, giông gia súc, cây trồng chứ không phải vũ khí, đạn dược các loại, vì đây không phải là thế mạnh của Mông Cổ... Thực tế kết quả viện trợ quân sự của các nước anh em trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chứng minh đây là một biện pháp hoàn toàn sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả của Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2826
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:33:27 pm » |
|
Chẳng những Việt Nam đã chủ động vận động các nước xã hội chủ nghĩa giúp các loại vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ,... phù hợp với đặc điểm tác chiến, đáp ứng cho cuộc chiến đấu trước mắt mà còn khéo thuyết phục bằng cách cử các đoàn đại biểu từ chiến trường miền Nam đi thăm, thông báo tình hình chiến sự, kết quả chiến đấu oanh liệt góp phần giúp các nước thấy rõ những giá trị mà họ đã hỗ trợ; đồng thời, nhằm gia tăng hiệu quả trong vận động các nước chi viện cho cuộc chiến đấu cấp bách trước mắt nói chung và tạo ra nguồn dự trữ chiến lược lâu dài nói riêng. Nhờ những giải pháp đúng đắn và các bước đi sáng tạo, linh hoạt đó, Việt Nam đã giải quyết thành công bài toán về vũ khí trang bị không chỉ đối với cuộc chiến đấu khốc liệt trước mắt mà ngay cả sau ngày Hiệp nghị Pari được ký kết và có hiệu lực, do quan điểm nhìn nhận khác nhau, các nước xã hội chủ nghĩa cắt giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam, lúc này Việt Nam đã có một khối lượng vũ khí, đạn dược theo tính toán của phương Tây là đủ sử dụng tới hàng chục năm. Tính tới thời điểm nửa đầu năm 1975, thời điểm kết thúc chiến tranh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn dự trữ được hàng nghìn quả tên lửa SAM-2, SAM-3, hàng trăm máy bay chiến đấu hiện đại các loại, hàng trăm tàu chiến...
Trước mỗi thời điểm bước ngoặt chiến tranh, Việt Nam chủ động kêu gọi sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó thể hiện Việt Nam làm chủ hoàn toàn tình thế trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chiến tranh và đối với các hoạt động tranh thủ viện trợ quân sự. Trước ngày Hiệp nghị Giơnevơ có hiệu lực, Việt Nam gấp rút thực hiện Kế hoạch Z, khẩn trương tiếp nhận toàn bộ số vũ khí, đạn dược của các nước xã hội chủ nghĩa giúp trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi cao trào Đồng khởi toàn miền Nam nổ ra năm 1960, Việt Nam kiên trì vận động, thuyết phục Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ và giúp vũ khí, trang bị để thực hiện đường lối đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Năm 1965, khi Mỹ leo thang và mở rộng chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới hơn 20 nguyên thủ quốc gia trên thế giới vạch trần âm mưu, thủ đoạn xâm lược dã man của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Việt Nam thiết tha kêu gọi sự ủng hộ và giúp đỡ của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. 12 nước xã hội chủ nghĩa đã hưởng ứng yêu cầu viện trợ của Việt Nam. Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, ngay từ năm 1967, Việt Nam gấp rút yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự lớn gấp hai lần so với năm 1966. Trong hai năm 1971 và 1972, bên cạnh yêu cầu các nước anh em viện trợ các loại vũ khí thông thường, Việt Nam còn đề nghị giúp khẩn cấp các loại vũ khí hạng nặng như: máy bay, tên lửa phòng không, các loại pháo cao xạ,... sẵn sàng đương đầu đập tan cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
Qua các hoạt động thăm hỏi, trao đổi giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước anh em đã thực sự góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết của Việt Nam về các nước, ngược lại các nước cũng thêm hiểu biết nhiều về con người và cuộc chiến đấu ác liệt mà dân tộc Việt Nam đang tiến hành. Điều đó chẳng những nêu cao được thiện chí khát vọng hòa bình, lòng mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, khẳng định tình đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu mà qua đó, Việt Nam tạo được sự đồng thuận, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, tinh thần lẫn vật chất từ phía các nhà lãnh đạo và nhân dân các nước đối với công cuộc củng cố, phát triển miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sự ủng hộ về chính trị dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng của lãnh đạo và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần ngăn chặn, răn đe đối với kẻ địch, khích lệ, động viên tinh thần chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt Nam.Nguồn vật chất các loại góp phần bồi bổ mạnh mẽ thực lực cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ, gian khổ; bổ sung, cải thiện, cải tiến, cơ cấu lại Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng chính quy, hiện đại, đủ sức chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn trong bối cảnh điều kiện mới.
Như vậy, trên cơ sở chủ động nắm bắt và bám sát tình hình một cách chặt chẽ, toàn diện, với những phân tích khoa học, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã lường định cả thuận lợi cùng những thách thức, khó khăn để chủ động vận động, tranh thủ sự giúp đỡ tối đa về quân sự từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, từng bước đạt được các mục tiêu chiến lược ở mức cao nhất. Đây không chỉ biểu hiện tinh thần chủ động, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc thời cơ, bám sát sự biến chuyển tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới của Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, mà còn là bài học kinh nghiệm quý báu có giá trị lớn cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại trong giai đoạn hiện nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|