Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:14:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước XHCN trong cuộc KCCM  (Đọc 5490 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #50 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:36:56 pm »

2. Luôn giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong suốt quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng gian khổ, oanh liệt của dân tộc Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp và bị tác động từ nhiều nhân tố. Các nước lớn đi vào hòa hoãn và thỏa hiệp với nhau trên nhiều vấn đề quan trọng, không có lợi đối với các nước nhỏ, trong đó có Việt Nam. Hệ thống xã hội chủ nghĩa bị phân liệt sâu sắc bởi những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích quốc gia, về tư tưởng, đường lối. Nổi bật nhất là mâu thuẫn giữa hai nước trụ cột của phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt, ảnh hưởng lớn tới phong trào cộng sản và công nhân thế giới; tới cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Việt Nam. Với một số nước xã hội chủ nghĩa, hoặc ngả về phía Trung Quốc hoặc đi theo tư tưởng nước lớn Liên Xô, cũng có nước đóng vai trò trung gian. Mặc dù có nhiều mâu thuẫn và bất đồng với nhau, nhưng các nước lớn đều muốn tranh thủ Việt Nam. Do đó, Việt Nam cần phải có đường lối đối nội và đối ngoại độc lập, tự chủ, tránh được áp lực và sức ép từ phía các nước xã hội chủ nghĩa. Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo, đã luôn nêu cao thiện chí hòa bình, tỏ rõ thái độ chân thành và kiên trì nhất quán thực hiện đường lối đoàn kết quốc tế với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, không đứng về bên này để chống lại bên kia. Bởi vậy, về cơ bản, Việt Nam luôn tạo được niềm tin, sự đồng tình và tranh thủ được sự giúp dỡ thiết thực, hiệu quả về vật chất, kinh nghiệm của mỗi nước, tăng cường mạnh mẽ tiềm lực quân sự, quốc phòng,thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược quan trọng của mình. Các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc thực hiện khá đầy đủ những cam kết và thỏa thuận, liên tục viện trợ quân sự không hoàn lại các loại vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh tiên tiến, hiện đại; giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xây dựng thành công các cơ sở công nghiệp quốc phòng non trẻ trong bối cảnh chiến tranh diễn ra ngày thêm khốc liệt. Từ cơ sở đó, miền Bắc Việt Nam với vai trò là hậu phương chiến lược trực tiếp của cả nước có điều kiện vững mạnh về nhân tài, vật lực, liên tục chi viện hiệu quả cho cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta ở miền Nam và đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.


Việc tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã để lại bài học kinh nghiệm quý cho chính sách đối ngoại quốc phòng Việt Nam hiện nay. Bởi viện trợ quân sự là vấn đề khá nhạy cảm, luôn gắn bó chặt chẽ tới đường lối đối nội và đối ngoại của các nước xã hội chủ nghĩa. Nó không bất biến mà luôn có sự thay đổi qua từng thời kỳ, dưới ảnh hưởng của từng nguyên thủ quốc gia. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa băn khoăn, lo ngại cuộc chiến tranh ở Việt Nam có thể ngày càng lan rộng, vượt ra ngoài tầm kiểm soát, trực tiếp ảnh hưởng tới hòa bình và an ninh khu vực, trên thế giới. Liên Xô sợ sẽ gây ra những trở ngạicho hòa hoãn Xô - Mỹ. Liên Xô khuyên Việt Nam: "Triển vọng của Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chẳng những trong nội bộ Đảng cần nói rõ miền Bắc phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, mà trong công tác thực tế hàng ngày phải làm như thế. Nhưng nên làm nhiều hơn là nói"1 (Ban Đối ngoại Trung ướng: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương phấp hòa bình, Tlđd, tờ 1). Tương tự, Trung Quốc lo ngại ảnh hưởng tối kế hoạch "Đại nhảy vọi", "Cách mạng văn hóa" và ngọn lửa chiến tranh sẽ lan sang lãnh thổ Trung Quốc, thổi bùng một cuộc chiến tranh quy mô thế giới. Một số nước xã hội chủ nghĩa khác lại tích cực làm cầu nối, trung gian hòa giải. Từ đó, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều có những tác động nhất định, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tới Việt Nam. Tháng 10/1959, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện góp ý với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam nêu rõ quan điểm: đồng ý với Việt Nam về việc phân tích căn bản tình hình Việt Nam và việc quy định nhiệm vụ cách mạng cho hai miền Bắc, Nam: miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là nhiệm vụ căn bản nhất, quan trọng trước nhất và cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam; miền Nam thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng: "Trước mắt chưa có thể thực hiện cải biến cách mạng, mà chỉ có thể dùng phương châm thích hợp trường kỳ mai phục, súc tích lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ..."1 (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331, 331-332). Việc quan trọng nhất của Việt Nam trong thời điểm này là phải: "Khéo biết thông qua các phương thức mà xúc tích lực lượng cách mạng, đoàn kết với hết thảy mọi người có thể đoàn kết, chờ đợi thời cơ; phải khéo biết giấu giếm lực lượng, tránh mọi động kích quá trớn, tự bộc lộ mình, gây tổn thất quá lớn..."2 (Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: Biên niên sự kiện Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Sđd, t.1, tr.331, 331-332).


Cùng với việc chưa đồng ý phương hướng đường lối cách mạng của Việt Nam đã đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (năm 1959), những năm 1959, 1960, Trung Quốc còn gây sức ép với Việt Nam bằng cách cắt giảm viện trợ quân sự (năm 1959, Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam 1.672 tấn vật chất, năm 1960 là 1.562 tấn vật chất. Cả 2 năm cộng lại chưa bằng năm 1958 là 4.410 tấn)3 (Xem Bộ Quốc phòng: Nội dung ý kiến của các đồng chí lãnh đạo các nước anh em với đồng chí Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị 1968, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 12). Trong buổi hội đàm với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khi đang ở thăm và làm việc tại Liên Xô (năm 1960), Bí thư Thường trực Đảng Cộng sản Liên Xô Cuxinen thông báo là Đảng Cộng sản Liên Xô không đồng tình với chủ trương đấu tranh vũ trang ở miền Nam đã nêu trong Nghị quyết Trung ương 15 của Đảng Lao động Việt Nam. Đảng và Chính phủ Liên Xô cho rằng Việt Nam cần tiếp tục xây dựng và củng cố miền Bắc vững mạnh để làm mẫu mực, thông qua đó thực hiện thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #51 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:37:43 pm »

Trước những sức ép lớn từ phía các nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn độc lập, tự chủ xây dựng và quyết định những vấn đề đối nội quan trọng của đất nước, mặt khác, chủ động tăng cường quan hệ với các nước anh em, đề nghị các nước xã hội chủ nghĩa đóng góp ý kiến và trân trọng, đánh giá cao những ý kiến của lãnh đạo cấp cao các nước. Đồng thời, tổ chức cử nhiều đoàn đại biểu cấp cao đi thăm và làm việc với các nước anh em, kiên trì thuyết phục, giải thích rõ rằng Việt Nam vẫn chủ trương thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình; hoạt động đấu tranh vũ trang ở miền Nam chỉ có tính chất tự vệ và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, kiên quyết không để chiến tranh lan rộng. Bằng cách làm này, đã thiết thực góp phần giải tỏa những băn khoăn vướng mắc của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủnghĩa khác, giúp họ thấy rõ hơn quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam; thấy rõ khả năng thực tế là quân và dân Việt Nam hoàn toàn có thể đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường Việt Nam và việc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn là phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Và cũng nhằm mục đích này, liên tiếp trong hai năm 1959 - 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh (sau đó là đoàn của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng) đã 6 lần đi thăm Trung Quốc và Liên Xô để bày tỏ thiện chí tăng cường quan hệ hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc; thông báo tình hình cách mạng Việt Nam và Đông Dương; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của hai nước này đối với sự chuyển hướng đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng ở miền Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 15. Những năm 1965 - 1968, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục thuyết phục Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác chấp nhận chủ trương "đánh, đàm" của Việt Nam. Chủ trương này của Việt Nam lúc đầu gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía một sốnước bạn bè. Họ cảnh báo Việt Nam đừng mắc mưu của Mỹ, "đàm phán non" sẽ không giải quyết được vấn đề. Thực tế đã chứng minh chủ trương này của Đảng, Chính phủ Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Chính Mỹ cũng phải cay đắng thừa nhận: "Cho đến những ngày, tháng cuối cùng của Chính phủ Giônxơn, phía Cộng sản Bắc Việt mới quyết định gặp Hoa Kỳ ở Ba Lê để đàm luận, tìm kiếm hòa bình". Phía Mỹ cho rằng: "Cộng sản Bắc Việt ngồi vào bàn hội nghị không phải có thiện chí giải quyết cuộc chiến qua sự hòa giải, hòa hợp nào… Nhưng họ đi đến hội nghị để kéo dài cuộc chiến qua một chiến thuật rất cũ - nhưng rất hiệu nghiệm - và vừa đánh vừa đàm"1 ().


Từ góc độ quốc tế, trong khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương thực hiện đường lối "chung sống hòa bình", hòa hoãn với Mỹ để phát triển thì Đảng và Nhà nước Việt Nam lại kiên định và giữ vững nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam; độc lập, tự chủ suốt quá trình vận động, tranh thủ viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Sự sáng tạo này thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, làm chủ tình thế, nắm vững tình hình hình, đề ra được đường lối kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, ngoại giao, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Việt Nam đã không vì mục tiêu tranh thủ viện trợ quân sự mà chấp nhận nhân nhượng những vấn đề thuộc về nguyên tắc trong quá trình đàm phán, vận động tranh thủ. Các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự cho Việt Nam nhưng không thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Và trên thực tế, Việt Nam giữ vững được đường lối "độc lập, tự chủ" suốt quá trình vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự của các nước anh em. Nếu Việt Nam không có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ được đường lối "độc lập, tự chủ" ngay từ khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng, bị các nước lớn chi phối, tác động thì chắc chắn cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sẽ rẽ ngoặt theo một hướng khác. Chính bởi vậy, giữ vững được đường lối, nguyên tắc "độc lập, tự chủ" trong mọi vấn đề, đặc biệt đối với lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bất biến không thể phủ nhận, luôn mang đậm tính thời sự sâu sắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #52 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:41:48 pm »

3.Tranh thủ tối đa gắn với khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa

Nhờ chủ động mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa; thực hiện sáng tạo, linh hoạt đường lối, chủ trương, chính sách đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam; nhất quán thực hiện tranh thủ tối đa nguồn viện trợ quân sự từ phía Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác phục vụ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, nên Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn về vật chất và chính trị, tinh thần. Với trí tuệ của người Việt Nam, các nguồn viện trợ quân sự mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ đã được khai thác và sử dụng hiệu quả, không ngừng phát huy tính năng, tác dụng to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự cùng với khai thác và sử dụng hiệu quả đã trở thành bài học kinh nghiệm quý và có giá trị sâu sắc không chỉ đối với quân và dân Việt Nam.


Từ đó cho thấy, nguồn viện trợ quân sự các nước xã hội chủ nghĩa dành giúp đỡ nhân dân Việt Nam suốt những năm tháng quân và dân Việt Nam gian khổ, kiên cường chống Mỹ, cứu nước là vô cùng to lớn trong bối cảnh miền Bắc vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Nam còn tạm bị chiếm đang trên chặng đường tiếp tục sự nghiệp chiến đấu lâu dài nhằm giành độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất đất nước. Các nước xã hội chủ nghĩa đã viện trợ quân sự cho Việt Nam hàng triệu tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, thuốc men, y cụ..., cử các đoàn cố vấn, chuyên gia quân sự giỏi (từ năm 1965 đến năm 1975, có 8.088 chuyên gia quân sự các nước xã hội chủ nghĩa) sang Việt Nam giúp đỡ1 (Xem Bộ Quốc phòng, Cục Đối ngoại: 45 năm Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng (1964 - 2009), Sđd, tr.140), chuyển giao một khối lượng lớn trang thiết bị, tài liệu khoa học kỹ thuật cho Việt Nam...


Với nguồn vũ khí, trang bị được các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, Việt Nam nhanh chóng tăng cường tiềm lực quân sự, quốc phòng mọi mặt; duy trì và không ngừng phát triển cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ chống Mỹ tới ngày giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu không có các nguồn viện trợ quân sự này, chắc chắn, sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sẽ gặp vô vàn khó khăn, tổn thất hy sinh cũng sẽ lớn hơn nhiều. Theo những thống kê của các cơ quan chức năng, trong 10 năm đầu từ năm 1954 đến năm 1964, nhân dân Việt Nam nhận được tổng khối lượng vật chất lên tới hàng chục vạn tấn, bao gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ... Những năm tiếp theo (1965 - 1975), khi cả nước Việt Nam chống chiến lược "Chiến tranhcục bộ", sau đó chuyển sang chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ thì toàn bộ 12 nước xã hội chủ nghĩa đều chi viện ở những mức độ khác nhau cho quân và dân Việt Nam chiến đấu. Toàn bộ khối lượng vật chất trong 10 năm sau (1965 - 1975) lớn gấp gần 17 lần so với 10 năm trước (1954 - 1964), bao gồm vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ1 (Xem Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của cấc nước xã hội chủ nghĩa anh em từ năm 1965 - 1975, Tlđd, tờ 119).


Về cơ bản, các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh mà Việt Nam đã sử dụng để nâng cao sức mạnh chiến đấu và đánh thắng quân thù trong những năm chống Mỹ là do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện. Các nước viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên, liên tục cho đến ngày toàn thắng tháng 4/1975. Trong số vũ khí, trang thiết bị mà các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam, nhiều loại trang bị thuộc loại tiên tiến hiện đại lúc bấy giờ có uy lực mạnh, tính sát thương cao như: tên lửa, máy bay tàu chiến, xe tăng thiết giáp, pháo cao xạ, đại bác, pháo chống tăng, thủy lôi...


Các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ giúp Việt Nam những loại vũ khí, phương tiện hiện đại, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ, mà còn cử đội ngũ chuyên gia quân sự gần 9.000 người giàu kinh nghiệm và hàng vạn lượt người sang cùng với quân và dân Việt Nam sát cánh chiến đấu, lao động, sản xuất. Nhiều người trong số này đã anh dũng hy sinh trên đất nước Việt Nam khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế.


Nét đặc sắc, nổi trội riêng có của Việt Nam là biết gắn tranh thủ tối đa với khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự do các nước xã hội chủ nghĩa giúp, chuyển hóa thành sức mạnh nội lực hoàn thành thắng lợi trọn vẹn các mục tiêu chiến lược đề ra: "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Một so sánh khá thuyết phục đã được các chính trị gia trong và ngoài nước và nhiều công trình đề cập đó là sự giúp đỡ của hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được các nước Xã hội chủ nghĩa giúp nhiều, nhưng không lớn so với việc Mỹ và đồng minh đã giúp Việt Nam Cộng hòa. Nhưng kết cục, chính quyền Sài Gòn đã bị sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30/4/1975.


Vấn đề khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự của Việt Nam đã được chứng minh bằng thực tiễn sinh động. Tư duy quân sự của người Việt Nam trong chống Mỹ xâm lược đã khiến ngay cả bạn bè cũng khó hiểu và thán phục. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi sang Liên Xô năm 1971 để vận động Liên Xô có sự giúp đỡ đặc biệt cho Việt Nam trước cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Tại cuộc họp với các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng chí Côsưghin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết Việt Nam có bao nhiêu sư đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng..., các đồng chí có bao nhiêu và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết". Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: "Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi với Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xôviết là như vậy. Học thuyết quân sự Xôviết là hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng, tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi được hai tiếng đồng hồ.Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.997).


Sau ngày chiến thắng 30/4/1975 lịch sử của dân tộc Việt Nam, có dịp gặp lại, đồng chí Côsưghin nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Việt Nam thắng to quá, như thế tốt quá, xin chúc mừng các đồng chí".

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài gian khổ và khốc liệt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam luôn luôn quán triệt và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Phương châm tự lực cánh sinh là chính, việc các nước giúp, như thêm vốn, phải khéo dùng vốn ấy để bồi bổ lực lượng, phát triển khả năng. Quân và dân Việt Nam ngay từ khởi đầu bước vào cuộc chiến tranh đã khéo "Sử dụng có kết quả tốt số hàng các nước bạn viện trợ. sử dụng hợp lý, kịp thời, không lãng phí... Viện trợ quý nhất của các nưởc bạn cho ta là viện trợ kỹ thuật. Chuyên gia các nước bạn sang giúp ta, ta phải cộng tác chặt chẽ với các chuyên gia ấy và ra sức học hỏi những kinh nghiệm tiên tiến của các nước bạn"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.16, tr.507). Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã kết luận: Trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến do Đảng ta đề ra và lãnh đạo tổ chức thực hiện là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế.


Quán triệt chủ trương, phương châm đó, song song với tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ quân sự, quân và dân Việt Nam đã nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, không ngại khó khăn, gian khổ, ra sức học tập khoa học kỹ thuật và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo; sử dụng tiêt kiệm, hiệu quả, sáng tạo nguồn viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em chi viện để thực hiện thắng lợi đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Việc làm chủ các loại vũ khí, trang bị tiên tiến hiện đại đánh thắng một siêu cường thế giới mạnh hơn gấp nhiều lần là một minh chứng hùng hồn khẳng định tư chất thông minh, sáng tạo, khéo khai thác và biết sử dụng hợp lý mọi nguồn lực chi viện quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #53 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:43:29 pm »

4.Tranh thủ viện trợ quân sự đi đôi với không ngừng tăng cường thực lực mọi mặt

Mục đích cao nhất của hoạt động tranh thủ các nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa là tăng cường thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến, đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam tới thắng lợi hoàn toàn. Từ kết quả viện trợ quân sự những năm 1954 - 1975 cho thấy, các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn và quý báu, mặc dù không đồng đều giữa mỗi giai đoạn và từng thời điểm cụ thể. Tuy nhiên, mỗi bước phát triển của cuộc kháng chiến đều có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với thái độ chính trị và viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là thực tế không thể phủ nhận. Bởi tiềm lực quân sự và quan điểm chính trị của mỗi quốc gia luôn là một trong những căn cứ, cơ sở cho việc hoạch định đường lối tiến hành chiến tranh. Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương ra sức tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em để tăng cường tiềm lực quân sự. Với đường lối đối ngoại sáng tạo, linh hoạt, khéo léo, Việt Nam đã nhận được nguồn viện trợ quân sự to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa.


Khi tiếp nhận được nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã động viên toàn dân, toàn quân chú trọng khai thác, sử dụng có hiệu quả phục vụ đắc lực sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Sau khi tiềm lực quân sự đã được củng cố và tăng cường nhờ được bổ sung trang bị các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh do các nước xã hội chủ nghĩa chi viện, xuất phát từ tình hình thực tiễn và yêu cầu của cuộc kháng chiến, Việt Nam từng bước chuyển hướng chỉ đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam (Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 khóa II), quyết tâm mở các tuyến vận tải chiến lược 559, 759 chi viện cho các lực lượng vũ trang miền Nam đánh Mỹ. Một khối lượng lớn các loại vũ khí, đạn dược, trang bị, vật tư hậu cần qua các ngả đường, bằng nhiều loại phương tiện và hình thức đã được chuyển vào chiến trường miền Nam, chi viện cho cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Những thắng lợi liên tiếp về mặt quân sự của Việt Nam khắp hai miền Bắc - Nam, cùng với cường độ tiêu hao một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh đã đặt ra vấn đề cấp bách là cần phải tăng cường viện trợ quân sự để bồi bổ thực lực kháng chiến, quay trở lại phục vụ cuộc chiến tranh. Chính bởi lẽ đó, bên cạnh yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự những loại vũ khí thông thường, Việt Nam còn yêu cầu giúp đỡ nhiều loại vũ khí tiên tiến hiện đại khác như máy bay chiến đấu có tốc độ trên cả âm thanh, các loại tàu chiến tên lửa đất đối không, đất đối biển,... để kịp thời ứng phó với cuộc chiến tranh ngày càng leo thang của Mỹ.


Từ năm 1965 trở đi, Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh ra cả nước Việt Nam. Trên chiến trường miền Nam, Mỹ đưa quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến, gấp rút phát triển lực lượng quân đội Sài Gòn. Đối với miền Bắc, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân lần thứ nhất (1965 - 1968), rồi lần thứ hai năm 1972. Cuộc chiến tranh tại Việt Nam diễn ra vô cùng khẩn trương và khốc liệt. Việt Nam kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, hỗ trợ để kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 12 nước xã hội chủ nghĩa đều chi viện cho Việt Nam dưới những hình thức khác nhau, đặc biệt là về viện trợ quân sự. Trên 1,5 triệu tấn vũ khí trang bị, đạn dược, vật tư hậu cần của các nước xã hội chủ nghĩa hỗ trợ ngày, đêm trên nhiều ngả đường (đường thủy, đường bộ, đường không), phương tiện (tàu thủy, tàu hỏa, ỗtô, đường ống xăng dầu), hình thức (công khai, bán công khai, bí mật) được vận chuyển vào miền Bắc Việt Nam, tỏa đi khắp các hướng chiến trường. Tỷ trọng và trị giá viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam lớn nhất là từ năm 1965 đến năm 1972; sau đó, cắt giảm dần vào những năm cuối của cuộc kháng chiến.


Với nguồn lực viện trợ quân sự đó, Việt Nam kịp thời bổ sung vũ khí trang bị hao hụt trong quá trình chiến đấu gấp rút phát triển các lực lượng vũ trang trên 1 triệu người, đẩy mạnh chi viện cho chiến trường miền Nam, cách mạng Lào và Campuchia; đưa vào dự trữ chiến lược. Nhờ vậy, tiềm lực quân sự của Việt Nam không ngừng được cải thiện, tăng cường, đủ sức giáng trả đích đáng mọi âm mưu và thủ đoạn chiến lược chiến tranh của Mỹ. Việt Nam không chỉ yêu cầu viện trợ quân sự tác chiến quy mô nhỏ cấp tiểu, trung, sư đoàn mà còn đề nghị trang bị quy mô lớn cấp quân đoàn. Bên cạnh chủ động đề nghị viện trợ những loại vũ khí, trang bị, đạn dược có thể sử dụng trước mắt, phù hợp với khả năng và đặc điểm chiến trường Việt Nam, Việt Nam cũng sớm yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ xây dựng những cơ sở công nghiệp quốc phòng quy mô vừa và nhỏ. Những công trình này đã vận hành sản xuất, giúp ngành quân giới Việt Nam tự chủ sản xuất được nhiều loại bom, mìn, súng, đạn trực tiếp phục vụ kháng chiến; nhiều công trình lắp ráp, sửa chữa, trung đại tu tăng thiết giáp, các loại súng pháo, cối, máy bay, tàu chiến, rađa các loại cũng được gấp rút xây dựng, đưa vào vận hành hoạt động có hiệu quả.


Thực tiễn đã chỉ ra, trên cơ sở thực lực kháng chiến ngày càng được tăng cường về mọi mặt, với thế trận chiến tranh nhân dân nhiều tầng nhiều lớp, Việt Nam đã duy trì và bảo đảm cho một cuộc chiến tranh quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại cho tới ngày giành được toàn thắng.


Từ đó có thể thấy, mục tiêu tranh thủ tối đa nguồn viện trợ quân sự và không ngừng tăng cường thực lực mọi mặt có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Bởi lẽ, tranh thủ được tối đa mọi nguồn viện trợ quân sự mới có điều kiện để bồi bổ thực lực cuộc kháng chiến. Thực lực có vững mạnh mới có cơ sở, tiền đề, nền tảng vững chắc để tổ chức và thực hiện kháng chiến giành thắng lợi. Ngược lại, đáp ứng yêu cầu cần phải tăng cường thực lực mọi mặt đặt ra cho hoạt động tranh thủ viện trợ quân sự cần phải biết tranh thủ cái gì, số lượng bao nhiêu... Đây thực sự là một bài học kinh nghiệm quý có giá trị và ý nghĩa thời sự sâu sắc cần phải được nghiên cứu nghiêm túc. Bởi hiện nay, nền kinh tế thị trường là phổ quát, bối cảnh tình hình đã khác xa thời nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, hoạt động tranh thủ sự giúp đỡ gắn với củng cố, tăng cường thực lực quân sự, quốc phòng đòi hỏi phải được hiểu và vận dụng một cách vô cùng sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo mới đạt được các mục tiêu chiến lược đặt ra.
Suốt 21 năm liên tục kiên trì vận động và tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa, bằng nhiều phương thức linh hoạt, sáng tạo và trên nền tảng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được 12 nước xã hội chủ nghĩa viện trợ quân sự một khối lượng lớn cácloại vũ khí, đạn dược, trang bị, lương thực, thực phẩm... Sự giúp đỡ to lớn, thiết thực này đã góp phần thay đổi mạnh mẽ tương quan so sánh lực lượng và xoay chuyển cục diện chiến tranh, làm nên chiến thắng oanh liệt và vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đầy hào hùng, sôi động. Từ thực tiễn quá trình vận động và tranh thủ viện trợ quân sự, từ kết quả viện trợ quân sự đã để lại một số bài học lịch sử quý giá, giúp cho các thế hệ kế tiếp có cơ sở khoa học vận dụng vào điều kiện mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #54 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2026, 08:45:19 pm »

KẾT LUẬN


Với những nỗ lực cao độ thể hiện qua đường lối, chủ trương, giải pháp đối ngoại và các hoạt động ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, sáng tạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu và Chủ tịch Hồ Chí Minh những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ giúp đỡ to lớn về cả chính trị, tinh thần lẫn vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhờ sự giúp đỡ to lớn đó, Việt Nam kịp thời khắc phục được nhiều khó khăn lớn về vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ. Trong quá trình vận động, tranh thủ viện trợ nói chung và viện trợ quân sự nói riêng, mặc dù có nhiều mâu thuẫn bất đồng lớn giữa các nước, thậm chí từng xảy ra đụng độ vũ trang (1969), nhưng trước nghĩa vụ quốc tế đối với một đồng minh là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ chi viện nhiều loại vũ khí, đạn dược tiên tiến hiện đại; gửi nhiều đoàn cố vấn, chuyên gia quân sự trên nhiều lĩnh vực, giúp đào tạo nhân lực kỹ thuật, mà còn cử cả lực lượng vũ trang (Trung Quốc, Triều Tiên) sang sát cánh chiến đấu cùng quân và dân Việt Nam chống cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ. Nhân dân Cuba sẵn sàng "hiến máu" vì thắng lợi của nhân dân Việt Nam.


Sự giúp đỡ to lớn về chính trị, tinh thần và vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã tạo ra những điều kiện thuận lợi căn bản cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của quân và dân Việt Nam; góp phần bồi bổ mạnh mẽ thực lực mọi mặt, tạo thế và lực, tạo đà vững chắc để sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, vượt qua những thử thách cam go khốc liệt trên con đường đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến lên đánh bại hoàn toàn ý chí và quyết tâm xâm lược của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Nhưng để tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ to lớn của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, chuyển hóa được lực lượng quốc tế, từng bước xoay chuyển quan điểm và thái độ, hành động ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác theo chiều hướng ngày càng có lợi hơn đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam; Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra, từng bước hoàn chỉnh và nỗ lực nhất quán thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại "độc lập, tự chủ", làm chủ vận mệnh quốc gia - dân tộc trong mỗi bước ngoặt chiến tranh; kiên trì ngoại giao vận động, tranh thủ viện trợ quân sự chủ động, tích cực, với nhiều bước đi, sách lược hết sức linh hoạt và sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm, phát huy được mặt mạnh tích cực của từng nước, khắc phục hạn chế và tiêu cực do những mâu thuẫn bất đồng gây ra cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Nỗ lực không ngừng đó, vừa nêu cao được tinh thần đoàn kết quốc tế, biểu hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng Lao động Việt Nam, vừa thu được những kết quả cụ thể, to lớn, có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.


Việt Nam đã tổ chức tiếp nhận, khai thác và sử dụng, phát huy hiệu quả các nguồn viện trợ quân sự vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; từng bước chuyển hóa thành nội lực, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ trên chiến trường Việt Nam, đặc biệt là đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" - nỗ lực cao nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh của Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, từng bước rút quân khỏi miền Nam ngồi vào bàn đàm phán, thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên bình diện thế giới, Việt Nam cũng đã đánh bại mưu đồ thâm độc lợi dụng những mâu thuẫn, bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc, hòng cô lập và làm suy yếu sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt và vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vì vậy gắn chặt với sự ủng hộ, giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam nêu cao đạo lý "uống nước nhớ nguồn", luôn tri ân sự đóng góp quý báu đó.


Thực tiễn quá trình vận động, tranh thủ nguồn viện trợ quân sự từ các nước xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm chống Mỹ, cứu nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Các bài học kinh nghiệm đó giúp các thế hệ người Việt Nam vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong bối cảnh tình hình mới; góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, phát triển quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; củng cố và tăng cường mạnh mẽ tiềm lực quân sự, quốc phòng của quốc gia, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #55 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2026, 09:50:19 pm »

PHỤ LỤC

Phụ lục 1
Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa
cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1954 - 1964)



Nguồn: Về viện trợ quân sự - giá trị hàng hóa - khối lượng hàng của các nước viện trợ, Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, TK-4586.


Phụ lục 2
Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa
cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1965 -1975)


Nguồn: Về viện trợ quân sự - giá trị hàng hóa - khối lượng hàng của các nước viện trợ, Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, TK-4586.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #56 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2026, 09:52:27 pm »

Phụ lục 3
Một số mặt hàng viện trợ quân sự chủ yếu
của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1955 -1975)



Nguồn: Bộ Tổng tham mưu: Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Cuba, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, tờ 3.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #57 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2026, 09:53:55 pm »

Phụ lục 4
Khối lượng mặt hàng viện trợ quân sự của
các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1955 - 1975)



Nguồn: Bộ Tổng tham mưu: tình hình các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ quân sự trong 5 năm qua (1965 - 1969), tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #58 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2026, 09:55:10 pm »

Phụ lục 5
Một số số liệu nhập các nguồn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1954 -1964)



Nguồn: Một số số liệu nhập các nguồn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954 - 1964), tài liệu lưu trữ tại Bộ Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng


Phụ lục 6
Tổng hợp nhập vật tư, trang bị hậu cần, kỹ thuật chủ yếu
cho Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(giai đoạn 1965 -1975)



Nguồn: Tổng hợp nhập vật tư - trang bị hậu cần - kỹ thuật chủ yếu cho Quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1965 - 1975), tài liệu lưu trữ tại Bộ Tham mưu, Tông cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng.


Phụ lục 7
Viện trợ quốc tế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1955 -1975)


Nguồn: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Sđd, tr.604.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #59 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2026, 09:59:48 pm »

TÀI LIỆU THAM KHẢO


I- Tiếng Việt

1. Archimedes L.A. Patti:Tại sao Việt Nam?,Nxb. Đà Nẵng, 2007.

2. Ban Đối ngoại Trung ương: Ý kiến của đồng chí Xuxlốp về đường lối tiến lên của miền Bắc Việt Nam và chủ trương thống nhất Việt Nam bằng phương phấp hòa bình, 1956, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

3. Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ Việt Nam và Liên Xô từ ngày hòa bình lập lại (1954 - 1960), 1960, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

4. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam - Mồng Cổ, 1954 - 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

5. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam và Rumani, 1960, 1967, 1968, 1969, 1974, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

6. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước Cộng hòa Dân chủ Đức, 1961, 1963, 1966, 1967, 1971, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

7. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan hệ Việt Nam và Cuba, 1964, 1966, 1967, 1968, 1974, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

8. Ban Đối ngoại Trung ương: Những nét lớn về tình hình Tiệp Khắc và quan hệ Việt Nam - Tiệp Khắc, 1969 - 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

9. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo đặc biệt của sứ quán Liên Xô và một số quan hệ không bình thường của Liên Xô đối với ta, 1964, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

10. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo về quan hệ Việt - Xô năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

11. Ban Đối ngoại Trung ương: Báo cáo về quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

12. Ban Đối ngoại Trung ương: Quan điểm của Trung Quốc và Việt Nam về cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

13. Ban Đối ngoại Trung ương: Một số tình hình quan hệ Việt - Trung từ sau khi Khơrútsốp đổ, 1966, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

14. Ban Đối ngoại Trung ương: Sự kiện, số liệu về quan hệ Việt Nam - Hunggari, 1975, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

15. Ban Đối ngoại Trung ương: Tóm tắt quan hệ Anbani - Việt Nam từ 1950 - 1976, 1976, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

16. Ban Đối ngoại Trung ương: Tình hình quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam - Liên Xô (1958 - 1991), 1991, tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.

17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Thư của Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 28 tháng 12 năm 1965, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

18. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.

19. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.

20. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tập 2.

21. Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

22. Đỗ Thanh Bình: "Sự ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam", in trong Việt Nam trong tiến trình thống nhất đất nước và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

23. Biên niên Văn phòng Chính phủ 1945 - 2005, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tập 2.

24. Bộ Giao thông vận tải: Lịch sử Giao thông vận tải Việt Nam, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 2005.

25. Bộ Quốc phòng: Ý kiến của Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức về việc Trung Quốc gây khó khăn trong việc chuyên chở hàng viện trợ của Cộng hòa Dân chủ Đức gửi giúp Việt Nam, 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

26. Bộ Quốc phòng: Báo cáo về việc gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước 9 nước xã hội chủ nghĩa năm 1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

27. Bộ Quốc phòng: Báo cấo tổng kết hoạt động đối ngoại của Mặt trận từ đầu năm 1966 đến nay, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

28. Bộ Quốc phòng: Báo cáo kết quả đàm phán về viện trợ kinh tế gửi Bác và các anh trong Bộ Chính trị, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

29. Bộ Quốc phòng: Báo cáo tổng kết đàm phán viện trợ kinh tế năm 1968 với các nước xã hội chủ nghĩa, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

30. Bộ Quốc phòng: Lược ghi các lời phát biểu của đồng chí Kim Nhật Thành trong buổi tiếp kiến đoàn đại biểu Quốc hội ta sáng ngày 29/7/1965, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

31. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm Việt - Trung (sau khi Đoàn đại biểu Đảng ta do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu từ Mátxcơva trở lại Bắc Kinh ngày 13 tháng 4 năm 1966), tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

32. Bộ Quốc phòng: Bảo cáo kết quả công tác của đoàn đi đàm phán về viện trợ quân sự năm 1966 với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

33. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm giữa ta và Trung Quốc, phiên họp thứ 7 ngày 5 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

34. Bộ Quốc phòng: Biên bản hội đàm phiên họp thứ 8 ngày 7 tháng 11 năm 1966, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.

35. Bộ Quốc phòng: Một số ý kiến của các đồng chí X qua các buổi hội đàm, 1968, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM