vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:11:39 pm » |
|
3. Đẩy mạnh hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia bảo đảm cho các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ năm 1971
Đầu năm 1971, địch mở cuộc "Hành quân Toàn thắng 1.71" đánh vào khu vực Đông Bắc Campuchia. Để đánh bại cuộc hành quân của địch, bảo vệ kho tàng và tuyến hành lang vận chuyển của ta, Quân Giải phóng Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (4.2 - 31.5.1971). Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân gồm ba sư đoàn bộ binh 3,18 và 25, Lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3, Liên đoàn Biệt động quân 3, lực lượng đặc nhiệm hải quân ngụy Sài Gòn, 12 tiểu đoàn pháo (có 216 khẩu từ 105 - 175mm), năm thiết đoàn gồm hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp. Ngoài ra, đế quốc Mỹ còn huy động năm tiểu đoàn bộ binh quân ngụy Lon Non và một lực lượng lớn không quân chi viện. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có ba sư đoàn bộ binh (5,7,9), hai trung đoàn pháo binh 75 và 96, một trung đoàn đặc công, một trung đoàn công binh, ba đại đội độc lập 10, 20 và 30. Chỉ huy chiến dịch ban đầu do Bộ Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy, sau Đợt 1 (4.3.1971) thành lập Bộ Tư lệnh Tiền phương trực tiếp chỉ huy chiến dịch.
Để tiến hành công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh Miền xác định: Đường số 7 là tuyến đường ngắn nhất nối Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đi qua hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên, dài 181km nối với Campuchia, Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan. Đây cũng là trục đường thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên đi Đường số 1A, Đường số 14 và đi Đắk Lắk tại ngã ba Chư Sê. Địa hình hoạt động hầu hết là vùng giải phóng, đường giao thông đi lại thuận lợi, nhất là đang trong mùa khô xe cơ giới tham gia vận chuyển tốt. Địa hình khu vực Tây Đầm Be, đồn điền Chúp và hướng Snuôl có cánh đồng trống xen kẽ với rừng, tiện cho việc trú quân. Riêng Đường số 22, có cánh đồng trống ở ngã ba Pra-thiet, Suông và Chúp nên mọi hoạt động về vận chuyển phải tiến hành vào ban đêm. Khu vực chiến dịch, cư dân cư trú đông đúc, nhất là ở Chúp có Việt kiều là công nhân cao su ở các làng 13, 87, Núi... Vùng giải phóng nhân dân được tuyên truyền giác ngộ cách mạng nên đã tích cực giúp đỡ bộ đội nắm tình hình, vận chuyển tiếp tế, có thể huy động nhân lực, phương tiện giúp chiến dịch, nhất là ở khu vực Đầm Be, Suông, Chúp. Chỉ riêng khu vực Snuôl dân ít, ở phân tán nên việc huy động có hạn chế. Mặt khác, thời gian tác chiến ở khu vực này vào đầu tháng 5 năm 1971 là thời điểm đầu mùa mưa nên công tác vận chuyển, bảo đảm ăn, ở cho bộ đội gặp nhiều khó khăn.
Để đảm bảo cho chiến dịch phản công thắng lợi, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo các đoàn hậu cần 500, 770, 340 và các quân khu căn cứ tích cực thu mua lương thực thực phẩm, hàng hóa đảm bảo cho bộ đội sử dụng đủ trong 6 tháng; củng cố và giữ vững tuyến đường vận chuyển chiến lược từ Stung Treng đến Kra-chê, tiếp nhận cung cấp đảm bảo đủ vũ khí đạn và trang bị cho các đơn vị trong quá trình tiến hành chiến dịch. Từ cuối năm 1970, các tiểu đoàn công binh 274, 276, 278 và 739 của Miền đã tích cực sửa chữa cầu đường khai thông tuyến vận chuyển từ Stung Treng đến K-ra-chê và từ Stung Treng đến Binh trạm 51 của Sư đoàn khu vực 470. Để nhanh chóng thông đường phục vụ chiến dịch, các tiêu đoàn công binh cầu đường tuy chưa có phương tiện cơ giới, chỉ có dụng cụ cầm tay như dao, cưa, cuốc, xẻng nhưng đã nỗ lực cố gắng rất cao, bám đường, bám cầu đảm bảo cung đường dài gần 400km, vượt qua nhiều sông suối, đèo dốc, đêm ngày máy bay địch liên tục đánh phá. Để giải quyết những khó khăn về kỹ thuật cầu đường, các tiểu đoàn công binh vừa tổ chức làm đường vừa tổ chức cho đơn vị học tập kỹ thuật chống lầy, kỹ thuật bảo đảm nền đường cho xe tăng, xe kéo pháo lớn có thể cơ động trên đường quân sự làm gấp, kỹ thuật làm bến ghép phà, bắc cầu phao bằng thuyền, bằng bè tre nứa, bằng phuy xăng. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, chỉ trong 1 tháng, Đại đội Kỹ thuật K15 thuộc Tiểu đoàn Công binh 739 đã tự thiết kế đóng được một chiếc phà trọng tải 20 tấn; tiếp đó, trong vòng 9 tháng, đơn vị đã đóng mới được ba chiếc phà trọng tải 30 tấn, vận chuyển người, phương tiện vượt sông Sê San. Những nỗ lực của các đơn vị công binh cầu đường đã tạo điều kiện cho lực lượng vận tải cơ giới của Miền hoàn thành kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Trong hơn 1 tháng, Tiểu đoàn Vận tải thuộc Đoàn hậu cần 340 đã tiếp nhận vận chuyển hơn 100 tấn vũ khí, lương thực xuống Nam Đường số 7 giao cho các cánh hậu cần của hai quân khu căn cứ C20 và C30. Đến cuối tháng 1 năm 1971, lực lượng vận tải cơ giới, vận tải bộ của hai đoàn hậu cần 770 và 340, hai quân khu căn cứ C20 và C30 đã vận chuyển được 2.500 tấn lương thực thực phẩm, 350 tấn đạn, hơn 30 tấn thuốc và dụng cụ cứu thương, đảm bảo đủ cho các đơn vị của Miền thực hiện đánh địch trong 3 tháng. Bộ đội trước khi vào chiến dịch được cấp bổ sung lương khô, đường, sữa, trà, kẹo từ miền Bắc chuyển vào; tuy số lượng không nhiều, nhưng món quà tinh thần đó có ý nghĩa động viên to lớn và tạo niềm tin vào thắng lợi trong cán bộ, chiến sĩ.
Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, Sư đoàn khu vực 470 đã triển khai một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh sẵn sàng chiến đấu ở khu vực biên giới ba nước; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa từ Stung Treng ngược ra vùng biên giới ba nước, cung cấp cho các đơn vị đang trực tiếp tham gia chiến dịch. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn Sư đoàn phát động phong trào thi đua đánh địch và thi đua vận chuyển vượt cung, tăng chuyến. Bằng những nỗ lực huy động các loại phương tiện tổ chức vận chuyển cả đêm ngày nên trong 1 tháng, các binh trạm 50, 51 và 37 đã hoàn thành tốt kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Các kho hàng của Sư đoàn ở Sê Sụ, ngã ba Phi Hà luôn đây hàng hóa, kịp thời cung cấp cho các đơn vị đang thực hiện đánh địch.
Căn cứ vào ý định phản công của Bộ Tư lệnh Miền, trong giai đoạn chuẩn bị, hậu cần chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tiến hành lập kế hoạch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bổ sung theo phương án đánh địch, bảo đảm hậu cần được bố trí theo khu vực căn cứ, trong mỗi khu vực có hệ thống kho dự trữ vật chất, bệnh xá... và có lượng dự trữ chiến đấu (lương phía trước trực tiếp bảo đảm cho các hướng tác chiến như: Điều chỉnh bố trí lại các cánh hậu cần của ba quân khu căn cứ C10, C20 và C30. Bảo đảm cho hướng chủ yếu khu vực các đường số 22 và 7 (Chúp, Suông, Krếch, Mi Mốt). Sử dụng bốn cánh hậu cần của Quân khu căn cứ C20 (Cánh 1 bố trí ở Cha-lãng, Bắc Đường số 7; Cánh 2 bố trí ở Đông Đầm Be, Đường số 75; Cánh 3 bố trí ở Tây Đầm Be; Cánh 4 bố trí ở khu vực Móc Câu, Nam Đường số 7) và hai cánh của Quân khu căn cứ C30 (Cánh 1 bố trí ở khu vực Kôm Chai Mia, Đường số 7, Tây Đường số 22; Cánh 2 bố trí ở khu vực Bình Cheng, Tây Đường số 15). Tại Svây Riêng còn hai cánh của Quân khu căn cứ C20 triển khai ở phía Nam và phía Bắc Đường số 1. Bảo đảm cho hướng thứ yếu ở khu vực Đường số 13 - Snuôl, sử dụng hai cánh của Quân khu căn cứ C10 (Cánh 1 ở Đông Snuôl; Cánh 2 ở Đông Bắc Snuôl). Khu vực kế cận triển khai các cánh của Đoàn hậu cần 340 ở phía Đông sông Mê Kông từ Bến Kết tới Kra-chê, phía sau hai quân khu căn cứ C20 và C10 để sẵn sàng chi viện. Hai đoàn hậu cần 500 và 770 được nối liền với tuyến 559.
|