Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:19:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM  (Đọc 6103 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #30 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:09:00 pm »

Sau khi tiến công giải phóng vùng Đông Bắc Campuchia, các đơn vị vũ trang Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ tiếp tục phối hợp với lực lượng cách mạng của bạn tiến công tiêu diệt nhiều căn cứ quan trọng của quân ngụy Lon Non ở Phnôm Pênh, Xiêm Riệp, Kông-pông Thơm... Trước những diễn biến nhanh của tình hình, Trung ương Cục, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ thị các đơn vị đẩy mạnh tiến công địch trên hai chiến trường cả ở nội địa và sáu tỉnh Campuchia. Trọng điểm là trên tuyến hành lang chiến lược vùng tiếp giáp biên giới Đông Bắc Campuchia. Thực hiện chỉ thị, Cục trưởng Cục Hậu cần Miền yêu cầu các đơn vị đẩy mạnh công tác tăng gia tự túc, thu mua hàng hóa, lương thực thực phẩm ở các quân khu căn cứ và tổ chức mạng lưới giao thông và hoạt vận tải của Miền trong mùa khô 1970 - 1971, nêu rõ phương thức vận tải thô sơ để vận chuyển hàng hóa, vũ khí trang bị đến các chiến trường. Cụ thể, về tổ chức mạng lưới giao thông, Đoàn hậu cần 770 đảm nhiệm tiếp nhận hàng hóa vũ khí và phải đảm bảo thông suốt tuyến vận chuyển chiến lược từ Stung Treng về Kra-chê, chuyển giao cho Đoàn hậu cần 340 đưa vào chiến trường nội địa. Đoàn hậu cần 500 và hai quân khu căn cứ C20, C40 tích cực mở các tuyến đường thồ, khai thác đường vận tải thủy để vận chuyển hàng hóa, khí cung cấp cho các đơn vị.


Từ biên giới Campuchia vào chiến trường Nam Tây Nguyên và Nam Bộ, thực hiện nghị quyết của Trung ương Cục về tổ chức hệ thống giao thông vận tải chiến trường, từ tháng 10 năm 1970, Cục Hậu cần Miền đã chỉ đạo ba tiểu đoàn 274, 276 và 739, lực lượng công binh của Miền và công binh của các đoàn hậu cần mở đường hình thành ba tuyến vận tải đường bộ theo trục ngang. Để đảm bảo cho công tác hậu cần được nhanh chóng, kịp thời, tháng 7 năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền tăng cường lực lượng cho hai đoàn hậu cần 500 và 770 làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng hóa, lương thực từ hậu phương miền Bắc, thu mua hàng quân nhu từ Campuchia cho các đơn vị Quân Giải phóng hoạt động ở Campuchia và trên chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ. Đoàn hậu cần 770 quân số tăng lên 3.377 người, tổ chức thành năm cánh vận chuyển đi năm hướng: Hướng 1 vận tải bộ từ Stung Treng đi Kra-chê; hướng 2 vận tải thủy từ Stung Treng đi theo sông Sê-rê-pốc về Nam Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ; hướng 3 vận tải thủy theo sông Mê Kông đến Stung Treng; hướng 4 từ Stung Treng đến Kra-chê; hướng 5 từ Kra-chê theo Đường số 13 về khu vực huyện Lộc Ninh (Bình Long), huyện Tân Biên (Tây Ninh).


Đến cuối năm 1970, về cơ bản mạng lưới đảm bảo hậu cần của Quân giải phóng trên chiến trường Campuchia được tổ chức lại phù hợp với điều kiện mới của chiến trường. Theo đó, chuyển các đường vận tải vào trong nội địa của Campuchia, tận dụng đường bộ đã có từ trước và các tuyến đường sông ở các tuyến đường vận tải chiến lược vận chuyển hàng hóa từ vùng biên giới ba nước vào vùng Đông Bắc Campuchia, sau đó tổ chức vận chuyển vượt biên giới Campuchia - Việt Nam về chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, về sau hoạt động vận tải quân sự của ta từ vùng biên giới ba nước vào chiến trường Nam Bộ gặp rất nhiều trở ngại do địch liên tục đánh phá, chặn cắt cả trên tuyến vận tải bộ và tuyến vận tải thủy. Bị địch ngăn chặn, phong tỏa đường vận chuyển lương thực, vũ khí từ biên giới vào nội địa, lực lượng vũ trang bám trụ chiến đấu ở chiến trường gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Đã có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, cơ sở cách mạng hy sinh trong các đợt tìm đường vận chuyển, hoặc vào "ấp chiến lược" mua lương thực tiếp tế cho các đơn vị.


Trước những khó khăn gay gắt về công tác đảm bảo hậu cần, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tăng cường lực lượng tiếp nhận, thu mua, vận chuyển lương thực, hàng hóa, vũ khí từ Campuchia vào chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tháng 12 năm 1970, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Đoàn hậu cần 340, đơn vị đứng chân tại Kra-chê, thực hiện thu mua lương thực, hàng hóa và tiếp nhận hàng hóa của Đoàn hậu cần 500. Nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí và con người từ miền Bắc vào do Đoàn hậu cần 770 thực hiện trên đất Campuchia, sau đó đưa về nước giao cho Đoàn hậu cần 200 tại Bù Gia Mập (Phước Long) và Đoàn hậu cần 220 tại Tân Biên (Tây Ninh); đồng thời, tiếp nhận thương bệnh binh từ chiến trường đưa ra bàn giao cho Đoàn hậu cần 770. Năm 1972, khi Đoàn hậu cần 770 chuyển về Môn-đôn-ki-ri, Đoàn hậu cần 340 trở thành đoàn hậu cần trung tâm tiếp nhận hàng nằm bên đất Campuchia.


Đoàn hậu cần 340 gồm lực lượng của Cánh hậu cần C300 thành lập sau ngày Lon Non làm đảo chính ở Campuchia, sáp nhập với lực lượng Cánh hậu cần C400 phụ trách các tàu sông của Đoàn hậu cần 17 (Công ty Hiệp Lợi) do đồng chí Nguyễn Quang Thu làm Đoàn trưởng và đồng chí Hoàng Bằng làm Chính ủy. Quân số của Đoàn hậu cần 340 lúc mới thành lập có 1.717 cán bộ, chiến sĩ, sau đó tăng lên 4.189 người. Đoàn tổ chức bốn cánh thu mua hàng: Cánh 1 tại Kra-chê, Cánh 2 tại Tà Bao, Cánh 3 tại Suông và Chúp, Cánh 4 ở Nam sông Cần Tút. Về lực lượng mở đường và vận tải, Đoàn có một tiểu đoàn công binh cầu đường, ba tiểu đoàn vận tải (một tiểu đoàn vận tải đường sông mang tên Trường Sơn có 40 tàu các loại, một tiểu đoàn ô tô vận tải, một tiểu đoàn xe thồ có từ 150 đến 180 xe). Về lực lượng giao liên, Đoàn tổ chức năm liên trạm nối thông từ Stung Treng về đến Kra-chê, rồi chia thành hai tuyến về Lộc Ninh (Bình Long) và Xa Mát (Tây Ninh): Liên trạm 5 phụ trách phía Đông Đường số 13 (sau chuyển bằng đường sông nên bỏ liên trạm này); Liên trạm 6 tại Kra-chê; Liên ừạm 7 phụ trách đưa đón khách theo đường sông; Liên trạm 11 đưa dẫn khách từ bến sông Sơ Lông theo Đường số 13 đến vùng biên giới tiếp giáp huyện Lộc Ninh; Liên trạm 12 từ bến sông Sơ Lông theo Đường số 13, Đường số 7 về biên giới giáp huyện Tân Biên (Tây Ninh).


Thời gian đầu, hoạt động thu mua, tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa của Đoàn hậu cần 340 gặp nhiều khó khăn, nhất là phải vượt qua các cung chặng đường sông. Nhiều chuyến tàu, thuyền chở hàng bị địch phát hiện đánh chìm. Cán bộ, chiến sĩ vận tải hy sinh, hàng hóa bị thiệt hại nặng. Nhằm tăng cường năng lực vận chuyển và tránh tổn thất lớn, cán bộ, chiến sĩ Đoàn đã xây dựng hệ thống đèn báo tín hiệu trên sông dọc theo cung chặng vận chuyển. Mỗi khi có máy bay địch thì hệ thống đèn tắt, tàu thuyền vận tải tránh, dạt vào ven bờ; khi có tín hiệu đèn lại tiếp tục chạy. Đường vận tải bộ cũng bị địch đánh phá liên tục, nhất là những nơi có cầu đi qua. Lực lượng công binh của Đoàn nêu cao quyết tâm, bắc 100 cầu các loại để đảm bảo cho vận tải hàng hóa được thông suốt. Ngoài ra, cán bộ, chiến sĩ công binh còn bắc cầu treo, cầu phà tời hàng qua sông cần Tút, sông Sơ Long để xe chở hàng có thể qua lại dễ dàng1 (Trong 2 năm 1971 - 1972, Đoàn hậu cần 340 đã thu mua được 52.431 tấn hàng (chủ yếu là lương thực); tiếp nhận, vận chuyển 88.549 tấn hàng cho 81 đoàn hậu cần 210 và 220; tiếp nhận đưa 22.104 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ; nuôi dưỡng và điều trị 11.915 thương bệnh binh).


Quyết định thành lập Đoàn hậu cần 340 thực hiện nhiệm vụ thu mua, vận chuyển, cấp phát hàng hóa cho các hướng trọng điểm của chiến trường không những đã giải quyết được những khó khăn lớn về đảm bảo hậu cần cho lực lượng vũ trang đang hoạt động trong nội địa, mà còn có ý nghĩa quan trọng là ta đã mở thông suốt tuyến hành lang chiến lược từ hậu phương miền Bắc qua vùng Đông Bắc Campuchia tiến vê các trạm cuối ở biên giới các tỉnh Đông Nam Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #31 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2026, 08:11:39 pm »

3. Đẩy mạnh hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia bảo đảm cho các chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ năm 1971

Đầu năm 1971, địch mở cuộc "Hành quân Toàn thắng 1.71" đánh vào khu vực Đông Bắc Campuchia. Để đánh bại cuộc hành quân của địch, bảo vệ kho tàng và tuyến hành lang vận chuyển của ta, Quân Giải phóng Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở Chiến dịch Đông Bắc Campuchia (4.2 - 31.5.1971). Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân gồm ba sư đoàn bộ binh 3,18 và 25, Lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3, Liên đoàn Biệt động quân 3, lực lượng đặc nhiệm hải quân ngụy Sài Gòn, 12 tiểu đoàn pháo (có 216 khẩu từ 105 - 175mm), năm thiết đoàn gồm hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp. Ngoài ra, đế quốc Mỹ còn huy động năm tiểu đoàn bộ binh quân ngụy Lon Non và một lực lượng lớn không quân chi viện. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có ba sư đoàn bộ binh (5,7,9), hai trung đoàn pháo binh 75 và 96, một trung đoàn đặc công, một trung đoàn công binh, ba đại đội độc lập 10, 20 và 30. Chỉ huy chiến dịch ban đầu do Bộ Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy, sau Đợt 1 (4.3.1971) thành lập Bộ Tư lệnh Tiền phương trực tiếp chỉ huy chiến dịch.


Để tiến hành công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch, Bộ Tư lệnh Miền xác định: Đường số 7 là tuyến đường ngắn nhất nối Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đi qua hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên, dài 181km nối với Campuchia, Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan. Đây cũng là trục đường thứ hai trong vùng Bắc Tây Nguyên đi Đường số 1A, Đường số 14 và đi Đắk Lắk tại ngã ba Chư Sê. Địa hình hoạt động hầu hết là vùng giải phóng, đường giao thông đi lại thuận lợi, nhất là đang trong mùa khô xe cơ giới tham gia vận chuyển tốt. Địa hình khu vực Tây Đầm Be, đồn điền Chúp và hướng Snuôl có cánh đồng trống xen kẽ với rừng, tiện cho việc trú quân. Riêng Đường số 22, có cánh đồng trống ở ngã ba Pra-thiet, Suông và Chúp nên mọi hoạt động về vận chuyển phải tiến hành vào ban đêm. Khu vực chiến dịch, cư dân cư trú đông đúc, nhất là ở Chúp có Việt kiều là công nhân cao su ở các làng 13, 87, Núi... Vùng giải phóng nhân dân được tuyên truyền giác ngộ cách mạng nên đã tích cực giúp đỡ bộ đội nắm tình hình, vận chuyển tiếp tế, có thể huy động nhân lực, phương tiện giúp chiến dịch, nhất là ở khu vực Đầm Be, Suông, Chúp. Chỉ riêng khu vực Snuôl dân ít, ở phân tán nên việc huy động có hạn chế. Mặt khác, thời gian tác chiến ở khu vực này vào đầu tháng 5 năm 1971 là thời điểm đầu mùa mưa nên công tác vận chuyển, bảo đảm ăn, ở cho bộ đội gặp nhiều khó khăn.


Để đảm bảo cho chiến dịch phản công thắng lợi, Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo các đoàn hậu cần 500, 770, 340 và các quân khu căn cứ tích cực thu mua lương thực thực phẩm, hàng hóa đảm bảo cho bộ đội sử dụng đủ trong 6 tháng; củng cố và giữ vững tuyến đường vận chuyển chiến lược từ Stung Treng đến Kra-chê, tiếp nhận cung cấp đảm bảo đủ vũ khí đạn và trang bị cho các đơn vị trong quá trình tiến hành chiến dịch. Từ cuối năm 1970, các tiểu đoàn công binh 274, 276, 278 và 739 của Miền đã tích cực sửa chữa cầu đường khai thông tuyến vận chuyển từ Stung Treng đến K-ra-chê và từ Stung Treng đến Binh trạm 51 của Sư đoàn khu vực 470. Để nhanh chóng thông đường phục vụ chiến dịch, các tiêu đoàn công binh cầu đường tuy chưa có phương tiện cơ giới, chỉ có dụng cụ cầm tay như dao, cưa, cuốc, xẻng nhưng đã nỗ lực cố gắng rất cao, bám đường, bám cầu đảm bảo cung đường dài gần 400km, vượt qua nhiều sông suối, đèo dốc, đêm ngày máy bay địch liên tục đánh phá. Để giải quyết những khó khăn về kỹ thuật cầu đường, các tiểu đoàn công binh vừa tổ chức làm đường vừa tổ chức cho đơn vị học tập kỹ thuật chống lầy, kỹ thuật bảo đảm nền đường cho xe tăng, xe kéo pháo lớn có thể cơ động trên đường quân sự làm gấp, kỹ thuật làm bến ghép phà, bắc cầu phao bằng thuyền, bằng bè tre nứa, bằng phuy xăng. Với tinh thần chủ động, sáng tạo, chỉ trong 1 tháng, Đại đội Kỹ thuật K15 thuộc Tiểu đoàn Công binh 739 đã tự thiết kế đóng được một chiếc phà trọng tải 20 tấn; tiếp đó, trong vòng 9 tháng, đơn vị đã đóng mới được ba chiếc phà trọng tải 30 tấn, vận chuyển người, phương tiện vượt sông Sê San. Những nỗ lực của các đơn vị công binh cầu đường đã tạo điều kiện cho lực lượng vận tải cơ giới của Miền hoàn thành kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Trong hơn 1 tháng, Tiểu đoàn Vận tải thuộc Đoàn hậu cần 340 đã tiếp nhận vận chuyển hơn 100 tấn vũ khí, lương thực xuống Nam Đường số 7 giao cho các cánh hậu cần của hai quân khu căn cứ C20 và C30. Đến cuối tháng 1 năm 1971, lực lượng vận tải cơ giới, vận tải bộ của hai đoàn hậu cần 770 và 340, hai quân khu căn cứ C20 và C30 đã vận chuyển được 2.500 tấn lương thực thực phẩm, 350 tấn đạn, hơn 30 tấn thuốc và dụng cụ cứu thương, đảm bảo đủ cho các đơn vị của Miền thực hiện đánh địch trong 3 tháng. Bộ đội trước khi vào chiến dịch được cấp bổ sung lương khô, đường, sữa, trà, kẹo từ miền Bắc chuyển vào; tuy số lượng không nhiều, nhưng món quà tinh thần đó có ý nghĩa động viên to lớn và tạo niềm tin vào thắng lợi trong cán bộ, chiến sĩ.


Phối hợp với hướng chính của chiến dịch, Sư đoàn khu vực 470 đã triển khai một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội công binh sẵn sàng chiến đấu ở khu vực biên giới ba nước; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa từ Stung Treng ngược ra vùng biên giới ba nước, cung cấp cho các đơn vị đang trực tiếp tham gia chiến dịch. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn Sư đoàn phát động phong trào thi đua đánh địch và thi đua vận chuyển vượt cung, tăng chuyến. Bằng những nỗ lực huy động các loại phương tiện tổ chức vận chuyển cả đêm ngày nên trong 1 tháng, các binh trạm 50, 51 và 37 đã hoàn thành tốt kế hoạch vận chuyển phục vụ chiến dịch. Các kho hàng của Sư đoàn ở Sê Sụ, ngã ba Phi Hà luôn đây hàng hóa, kịp thời cung cấp cho các đơn vị đang thực hiện đánh địch.


Căn cứ vào ý định phản công của Bộ Tư lệnh Miền, trong giai đoạn chuẩn bị, hậu cần chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tiến hành lập kế hoạch, chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bổ sung theo phương án đánh địch, bảo đảm hậu cần được bố trí theo khu vực căn cứ, trong mỗi khu vực có hệ thống kho dự trữ vật chất, bệnh xá... và có lượng dự trữ chiến đấu (lương phía trước trực tiếp bảo đảm cho các hướng tác chiến như: Điều chỉnh bố trí lại các cánh hậu cần của ba quân khu căn cứ C10, C20 và C30. Bảo đảm cho hướng chủ yếu khu vực các đường số 22 và 7 (Chúp, Suông, Krếch, Mi Mốt). Sử dụng bốn cánh hậu cần của Quân khu căn cứ C20 (Cánh 1 bố trí ở Cha-lãng, Bắc Đường số 7; Cánh 2 bố trí ở Đông Đầm Be, Đường số 75; Cánh 3 bố trí ở Tây Đầm Be; Cánh 4 bố trí ở khu vực Móc Câu, Nam Đường số 7) và hai cánh của Quân khu căn cứ C30 (Cánh 1 bố trí ở khu vực Kôm Chai Mia, Đường số 7, Tây Đường số 22; Cánh 2 bố trí ở khu vực Bình Cheng, Tây Đường số 15). Tại Svây Riêng còn hai cánh của Quân khu căn cứ C20 triển khai ở phía Nam và phía Bắc Đường số 1. Bảo đảm cho hướng thứ yếu ở khu vực Đường số 13 - Snuôl, sử dụng hai cánh của Quân khu căn cứ C10 (Cánh 1 ở Đông Snuôl; Cánh 2 ở Đông Bắc Snuôl). Khu vực kế cận triển khai các cánh của Đoàn hậu cần 340 ở phía Đông sông Mê Kông từ Bến Kết tới Kra-chê, phía sau hai quân khu căn cứ C20 và C10 để sẵn sàng chi viện. Hai đoàn hậu cần 500 và 770 được nối liền với tuyến 559.
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM