Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:13:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972  (Đọc 3972 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:11:53 am »

TÀU Ô - XÓM RUỘNG
TRẬN TÁC CHIẾN PHÒNG NGỰ SÁNG TẠO

Đại tá, PGS, TS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Viện trưởng Viện Lịch sử Quản sự Việt Nam


Không phải ngẫu nhiên mà suốt gần 150 ngày đêm năm 1972, những địa danh Tàu Ô, Xóm Ruộng, Tân Khai... lại thường xuyên lởn vởn trong đầu tướng Prít Wây-oen, người được Ri-sớt Ních-Xơn chỉ định thay tướng Oét-mo-len thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của ông ta ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Sài Gòn, cái xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh", nên những địa danh trên cũng thâm nhập vào từng bữa ăn, giấc ngủ của tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu. Còn đối với các tướng tá ngụy, thì đây lại là một sự thách đố trớ trêu, một nỗi cay đắng ngày đêm giày vò họ. Đây cũng là điều mà cả Phủ Tổng thống cùng Bộ Quốc phòng Mỹ và "Lầu Năm góc phương Đông" đều không giải thích nổi, chỉ một đoạn đường gần hai chục cây số từ Bình Dương đến Chơn Thành, nơi mà nước Mỹ không thiếu bom đạn, xe tăng, máy bay và đã thi thố đủ các thủ đoạn tàn ác, xảo quyệt, liên tục đánh phá, cày đi, xới lại mà "Việt cộng" vẫn sống ở đó đế rồi bất thần trồi lên tiến đánh và chặn đứng các cuộc tiến công của nhiều sư đoàn quân ngụy lên ứng chiến cho An Lộc.


Như đã biết, do vị trí tự nhiên đặc biệt quan trọng nên Tàu Ô - Xóm Ruộng trở thành chiến lũy án ngữ đoạn đường 13, đây là bàn đạp hết sức lợi hại để ta phát triển xuống vùng trung tuyến hoặc địch tiến ra vùng giải phóng. Chính vì vậy mà nơi đây trở thành một trọng điểm giành giật giữa ta và địch trong trận chiến giữa năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ; nơi ta chọn để thực hiện một hướng tiến công quan trọng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 - nơi tiến hành chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc áo vải Nguyễn Huệ.


Trong quá trình chiến dịch, nếu giữ được Tàu Ô - Xóm Ruộng, ta sẽ chặn được lực lượng cơ động chiến lược của địch ứng chiến cho đồng bọn ở Lộc Ninh, An Lộc. Nếu để mất Tàu Ô - Xóm Ruộng, ta sẽ mất luôn cả lợi thế chiến dịch. Địch lấy được Tàu Ô - Xóm Ruộng chúng sẽ tập trung lực lượng của quân đoàn 3 và quân đoàn 4 tràn lên phía bắc, đẩy Sư đoàn 7 của ta khỏi đường 13, tiếp đó đẩy luôn cả Sư đoàn 9 ra khỏi An Lộc. Từ đây, chúng sẽ tập trung mọi nỗ lực lấy lại Lộc Ninh, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long; khôi phục lại thế trận trước khi ta mở chiến dịch. Do vị trí và tầm quan trọng đặc biệt của nó với khu vực và với chiến dịch mà trên địa bàn Tàu Ô - Xóm Ruộng đã diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa ta và địch. Trong cuộc đối chiến quyết liệt đó, cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 anh hùng đã cùng với lực lượng vũ trang địa phương vượt lên trên ác liệt, gian khổ và hy sinh để giành chiến thắng. Và để có chiến thắng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7 đã giải quyết thành công nhiều nội dung về nghệ thuật tác chiến phòng ngự, có thể nêu một số nội dung lớn sau đây:

Một là: Kết hợp giữa chốt giữ và chủ động cơ động đánh địch ngoài trận địa, một sáng tạo độc đáo trong phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng.

Nét độc đáo khi Sư đoàn 7 tổ chức phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng là không sử dụng toàn bộ lực lượng của sư đoàn vào giữ các điểm tựa mà chỉ bố trí một lực lượng thích hợp giữ chốt, còn một bộ phận quan trọng bố trí ngoài khu vực phòng ngự làm lực lượng cơ động để khi thì đánh vào bên sườn, sau lưng địch; lúc thì tập kích vào quân địch tạm dừng, phục kích địch trên đường cơ động tiến công ta; khi lại bao vây, chặn địch làm chậm bước tiến của chúng. Đây là điều mà các trận chiến đấu phòng ngự trước đó của quân đội ta chưa làm, đặc biệt là ở quy mô cấp sư đoàn.


Sau những ngày mở đầu chiến dịch, tuyến phòng thủ đường 13 bảo vệ bắc An Lộc của địch bị vỡ, Mỹ- ngụy, thấy rõ một cuộc tiến công lớn của ta vào An Lộc đang đến gần. Để bảo vệ An Lộc, một vị trí yết hầu của quân đội Sài Gòn ở miền Đông, ngày 10 tháng 4, địch đổ lữ đoàn dù số 1 xuống Chơn Thành, nơi chúng biết rõ ta đã cài sẵn Trung đoàn 165 ở Ngọc Lầu để đón chúng. Bị các chốt của ta đánh quyết liệt, thấy không thể vượt qua được tướng Lê Quang Lưỡng, sư đoàn trưởng sư đoàn 5 ngụy cho quân trở lại Chơn Thành, nhưng vẫn để lại tiểu đoàn 5 giữ ngã ba Ngọc Lầu. Ngay đêm 11, các đơn vị của Trung đoàn 165 chuyển sang bao vây, tiến công quân địch. Mặc dù được tiểu đoàn 8, trung đoàn 5 và xe tăng, xe bọc thép cùng phi pháo chi viện đắc lực, nhưng tiểu đoàn 5 vẫn bị đánh thiệt hại nặng, phải bỏ cả xe pháo tháo chạy về Chơn Thành. Trong khi Trung đoàn 165 chặn đánh địch quyết liệt ở Ngọc Lầu - Xóm Ruộng thì sư đoàn sử dụng Trung đoàn 209 từ bắc Bình Long nhanh chóng triển khai đội hình tiến công cắt đôi đội hình của sư đoàn 21 ngụy, buộc chúng phải cụm lại 20 ngày, làm cho các chiến đoàn 3, 31 chẳng những không lên được Chơn Thành mà còn phải chuyển hướng đối phó về phía sau...


Khi kế hoạch giải tỏa đường 13 bằng tiến công chính diện không hành, bộ tổng tham mưu ngụy phải đưa lữ đoàn dù số 3 từ Tây Nguyên về Tân Khai, thực hiện chiến thuật "Cóc nhảy" để hiệp đồng với sư đoàn 21 tiến công, gây sức ép tối đa khu vực phòng ngự của Trung đoàn 165 từ hai hướng. Kiên quyết chặn địch, Sư đoàn 7 sử dụng Trung đoàn 165 (thiếu một tiểu đoàn) chặn địch ở hướng chính, lực lượng còn lại cùng Trung đoàn 141 vây đánh lữ đoàn dù số 3.


Được lữ dù số 3 hỗ trợ, Nguyễn Vĩnh Nghi liền đưa chiến đoàn 31 và chi đoàn 1 trung đoàn thiết giáp số 9 lên bắc Chơn Thành đánh vào trận địa ta. Với hệ thống công sự vững chắc, bí mật, bộ đội linh hoạt chiến đấu; các đơn vị của Trung đoàn 165 đã bẻ gẫy các cuộc tiến công của sư đoàn 21, ý đồ giải tỏa đường 13 lại một lần nữa tan vỡ.


Cay cú trước những thất bại liến tiếp, Nguyễn Vĩnh Nghi tung chiến đoàn 32 và chi đoàn 2, trung đoàn 9 thiết giáp xuống phía đông đường, cụm lại ở ngã ba Xóm Ruộng, tổ chức thành mũi vu hồi từ bắc xuống, phối hợp với chiến đoàn 31 đánh từ phía nam lên, quyết nhổ bằng được các cụm chốt của ta để mở đường tiến lên giải tỏa cho An Lộc. Mặc dù được đủ các loại bom đạn đánh phá ngày đêm, nhưng các cuộc tiến công của địch vào khu vực phòng ngự của Trung đoàn 165 đều bị bẻ gẫy, lực lượng địch bị tiêu hao nặng, chúng phải lui về Chơn Thánh củng cố.


Cứ như vậy, cuộc chiến đấu càng diễn ra ác liệt thì hiệu quả của sự kết hợp giữa chốt giữ và chủ động cơ động lực lượng đánh địch ngoài trận địa phòng ngự càng thể hiện rõ tính sáng tạo của nó và trở thành một trong những yếu tố quyết định thắng lợi đợt hoạt động tác chiến phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:13:00 am »

Hai là: Tìm mọi biện pháp đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự, một thành công nổi bật của Sư đoàn 7 ở Tàu Ô - Xóm Ruộng.

Gần năm tháng phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng, các đơn vị Sư đoàn 7 đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu để liên tục đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự của mình.

Sau khi tập trung lực lượng, liên tục tiến công, liên tục đột phá từ nhiều hướng, nhiều mũi không thành; địch giãn lực lượng, tổ chức từng cụm giã ngoại bố trí xen kẽ rất gần với các chốt của ta từ Xóm Ruộng đến Tàu Ô. Cậy có quân Mỹ ở phía sau nên chúng cho đây là "thượng sách" để cắt đường vận chuyển tiếp tế đạn dược, lương thực từ phía sau lên phía trước của ta; vây chặt ta lại, không có đạn, gạo, nước uống ta sẽ "mềm" ra, lúc đó chúng không đánh cũng thắng. Nhưng chính Mỹ-ngụy, cũng không hiểu được rằng: cụm lại xen kẽ với ta, chúng cũng không tiếp tế được bằng máy bay lên thẳng mà phải gùi từ phía sau ra phía trước bằng đi bộ theo các đường mòn vào những thời gian nhất định. Nắm được quy luật hoạt động của địch, quyết không để chúng chặn các tổ vận tải cung cấp đạn, gạo của ta; đồng thời phá tiếp tế của địch, ta tổ chức từng bộ phận nhỏ, ban đêm rời chốt luồn ra phía sau đội hình địch, mai phục trên những đường mòn, tiêu diệt từng toán và cắt tiếp tế từ phía sau lên phía trước của chúng, thu thêm đạn gạo bổ sung cho ta.


Đêm đầu địch tiếp tế được, nhưng đến đêm thứ hai thì chính hành động trên lại là cái bẫy giăng ra đối với chúng. Khi những tốp địch đi lấy đạn, gạo trở về lọt vào các ổ phục kích của ta, một số chết, số còn lại vứt cả đồ đoàn để chạy tháo thân; thế là, tưởng cắt được dạ dày của ta thì kết quả lại ngược lại, các tốp vận tải của địch đã "hỗ trợ" cho ta bớt khó khăn. Cuối cùng, thủ đoạn của địch lập thế da báo để cắt tiếp tế của ta cũng thất bại, đường vận tải của ta được khai thông...


Không nhổ được các chốt của ta bằng thủ đoạn chốt xen kẽ, cắt tiếp tế; địch chuyển sang gây căng thẳng cho ta suốt ngày đêm để không đủ sức chống chọi với chúng. Ban ngày, chúng dùng phi pháo đánh phá ác liệt và liên tục cho các mũi đột kích vào trận địa. Ban đêm, chúng cho các bộ phận nhỏ bí mật luồn đến từng hầm của ta thả lựu đạn vào. Đáp lại thủ đoạn nham hiểm của địch, ta tổ chức các tổ rời chốt ra mai phục đón chúng trước trận địa, đợi khi địch vào gần bị lực lượng chốt đánh trả, buộc chúng phải lùi ra thì các tổ mai phục phía trước đánh ngay vào lưng, làm cho chúng không còn đường thoát.


Tiến công bằng bộ binh không thành, địch dùng phi pháo (kể cả B52) đánh phá ác liệt vào chốt của ta; tiếp đó, chúng cho xe tăng vào cách ta chừng 300 - 400m (ngoài tầm bắn của B41), dùng bộ binh ngồi sau tháp pháo quan sát trực tiếp, chỉ điểm cho xe tăng tập trung hỏa lực đánh bật từng công sự, ụ súng của ta. Với cách đánh này của địch, chỉ trong một ngày Đại đội 11 chỉ còn 5 tay súng; Đại đội 6 còn 4 tay súng; Trung đoàn 209 phải đưa Đại đội 13 vào thay phiên, nhưng cũng chỉ được một ngày đại đội chỉ còn 4 tay súng.


Không bó tay trước những thủ đoạn xảo quyệt của địch, cán bộ chiến sĩ Đại đội 8 suy nghĩ, tìm tòi đã dùng mũ sắt của Mỹ, đặt trên đầu gậy, lấp ló sau những ụ đất; ngay lập tức những tên địch chỉ mục tiêu cho pháo trên xe tăng bắn tới tấp vào nơi có mũ sắt; cùng lúc đó, các chiến sĩ đánh tỉa của ta từ các vị trí bí mật nổ súng diệt những tên địch chỉ điểm, mất người chỉ mục tiêu, hiệu quả hỏa lực của xe tăng địch giảm hẳn. Ngay sau đó, sáng kiến của Đại đội 8 đã được phổ biến khắp các trận địa và được vận dụng ngay, không chỉ các chiến sĩ giữ tiểu liên, trung liên tham gia bắn tỉa diệt địch mà cả các chiến sĩ giữ B41 cũng bí mật mai phục đánh xe tăng. Ngày hôm sau, một số xe tăng vào gần bị diệt, buộc chúng phải lùi ra xa và thủ đoạn dùng hỏa lực của xe tăng đánh phá các công sự của ta lại bị thất bại.


Nhờ phát huy trí sáng tạo của mọi cán bộ chiến sĩ và vận dụng khôn khéo, linh hoạt các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu mà ta đã liên tục đánh bại các thủ đoạn tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự. Đây là một trong những thành công xuất sắc của Sư đoàn 7 khi phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng.


Ba là: Tổ chức thay phiên lực lượng chốt chặn, một sáng tạo trong phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng.

Quá trình phòng ngự ở Tàu Ô - Xóm Ruộng, các đơn vị của Sư đoàn 7 luôn phải lấy ít địch nhiều lấy yếu chặn mạnh; bằng tinh thần chiến đấu ngoan cường, các lực lượng giữ chốt đã băng qua tất cả hiểm nguy, vượt qua tất cả mưa bom bão đạn dài ngày của địch, để chống trả thắng lợi các cuộc tiến công liên tục của các sư đoàn 5, 9, 21, 25 quân ngụy luân phiên đánh chiếm khu vực phòng ngự của ta nhằm mở thông con đường huyết mạch nối Chơn Thành với Lộc Ninh, giải tỏa cho An Lộc.


Liên tục chống chọi với những thủ đoạn xảo quyệt và tàn ác; đương đầu với đủ các loại bom đạn của máy bay, pháo binh, pháo trên tăng... trong cuộc chiến đấu ác liệt ấy, không một công sự, đoạn hào nào là không bị bom đạn địch cày xới, lật đi, bới lại để tìm xem ở đâu đó vẫn giấu những chiến binh mà mỗi khi quân ngụy tiến vào là bộ binh, xe tăng lại bị tiêu diệt. Và trong cuộc chiến đấu quyết liệt ấy, việc bổ sung lực lượng, phương tiện vật chất và đạn dược cho Trung đoàn 165 vô cùng khó khăn; nhiều trường hợp thương binh cũng phải ở lai trận địa chiến đấu. Các đơn vị hỏa lực, các cán bộ chỉ huy, có khi cả thương binh ở trạm quân y cũng phải trưc tiếp cầm súng đánh xe tăng, diệt bộ binh địch để giữ vững trận địa đến cùng.


Tác chiến liên tục nên không có điều kiện để củng cố đơn vị, việc luân chuyển lực lượng của các đơn vị giữ chốt cũng không đáp ứng được yêu cầu chiến đấu dài ngày. Trong khó khăn ác liệt thường có những quyết sách sáng tạo. Chỉ huy Sư đoàn 7 đã quyết định đưa Trung đoàn 209 vào thay phiên cho Trung đoàn 165. Đây là một quyết định táo bạo, chưa có tiền lệ trong tác chiến phòng ngự của Quân đoàn ta. Đưa đơn vị cơ động tác chiến vào thay phiên cho đơn vị giữ chốt, để đơn vị giữ chốt về phía sau, củng cố một thời gian lại tiếp tục đánh địch, giữ vững khu vực phòng ngự. Phát kiến tổ chức thay phiên trong phòng ngự đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật tác chiến phòng ngự của lực lượng vũ trang ta. Nó vừa đáp ứng được yêu cầu tác chiến dài ngày, vừa duy trì được sức mạnh để đánh bại được các đợt tiến công liên tiếp của nhiều thê đội địch, thay nhau liên tục tiến công vào trận địa của ta, với sự chi viện tối đa củá phi pháo và xe tăng.


Đã 30 năm qua đi, thời gian như người thợ đã mài viên ngọc chiến công ở Tàu Ô - Xóm Ruộng ngày càng sáng hơn, càng sáng mãi tinh thần còn người còn trận địa; sáng mãi trí tuệ Việt Nam, trí tuệ của cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 và nhân dân Tàu Ô - Xóm Ruộng đã làm nên bản hùng ca đầy sáng tạo trong tác chiến phòng ngự trên mảnh đất miền Đông gian lao và anh dũng.

T.V.H
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:14:38 am »

QUÂN VÀ DÂN BÌNH PHƯỚC VỚI CUỘC CHIẾN ĐẤU TIẾN CÔNG
VÂY ÉP BÌNH LONG VÀ CHỐT CHẶN TÀU Ô
TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972

NGUYỄN HỮU LUẬT
UVBCH TƯ Đảng - Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước


Trong năm 1971, cho tới trước khi bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ tháng 4 năm 1972, quân dân Bình Phước đã loại khỏi vòng chiến đấu 2.780 tên địch, trong đó có nhiều binh lính, sĩ quan Mỹ (không kể các trận tiến công của quân chủ lực Miền) thu giữ và phá hoại hàng ngàn phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy. Cùng với mũi tiến công quân sự, mũi tiến công chính trị cũng phát triển mạnh, nhất là phong trào đấu tranh của công nhân cao su Bình Long, Lộc Ninh; phong trào đấu tranh của học sinh ở Bình Long chống quân sự hóa học đường, đòi giảm học phí; các phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc, đồng bào Kinh ở các đồn điền đã nhanh chóng trở thành một phong trào rộng lớn và mạnh mẽ đến các ruộng vườn và nương rẫy. Ở Bình Long, quần chúng đã giành quyền làm chủ 47 ấp trong số 104 ấp chiến lược, các phong trào này đã mang sắc thái nổi dậy của quần chúng.


Về tổ chức chiến trường: đối với địch, Bình Long là một tỉnh, còn đối với ta vào thời điểm năm 1972, Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước (bao gồm cả Bình Long và Phước Long).

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã vạch kế hoạch tiến công Xuân - Hè năm 1972 cho tất cả các hướng chiến lược toàn Miền, trong đó quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ ở Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu là đường 13, khu vực quyết chiến là Bình Long và Lộc Ninh nhằm tiêu diệt phần lớn quân chủ lực ngụy, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn lực lượng bảo an dân vệ; bộ máy kềm kẹp của địch, phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới ở bắc Sài Gòn, giải phóng những khu vực quan trọng, tạo bàn đạp tiến công vững chắc, uy hiếp Sài Gòn và các hướng thứ yếu nghi binh, thu hút cầm chân địch ở các chiến trường Tây Nguyên, Tây Ninh, Long An, Biên Hòa...


Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, tháng 11 năm 1971, Đảng bộ Bình Phước tổ chức hội nghị kiểm điểm việc triển khai tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của trên, vạch kế hoạch hành động cho toàn Đảng bộ trong thời gian tới. Nghị quyết nêu rõ "toàn Đảng bộ ra sức nắm lấy thời cơ thuận lợi trước mắt... quyết tâm đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, quyết tâm giành thắng lợi lớn nhất". Nghị quyết đề ra nhiệm vụ cho từng vùng, từng đơn vị trực thuộc, nhấn mạnh phương châm vừa cùng quân chủ lực đánh tiêu diệt địch, vừa hỗ trợ quần chúng phá ấp, phá kềm làm tan rã, sụp đổ lực lượng kềm kẹp và hệ thống phòng thủ của địch; mở rộng vùng giải phóng tạo thế và lực cho ta; huy động lực lượng địa phương vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược về nơi tập kết theo kế hoạch; bố trí lực lượng vũ trang địa phương hiệp đồng với quân chủ lực tiến công địch.


Cuối tháng 3 năm 1972, ta đánh lớn ở Quảng Trị, Tây Nguyên. Trên chiến trường Đông Nam Bộ, đêm 31 tháng 3 rạng 1 tháng 4 năm 1972 quân ta tiến công cứ điểm Xa Mát (đường 22 - Tây Ninh) để nghi binh thu hút địch. Trong đó, tại Lộc Ninh, Bình Long các đơn vị chủ lực Miền, lực lượng vũ trang tỉnh, các đại đội của huyện, du kích xã đã áp sát mục tiêu được giao, hình thành thế bao vây quân địch, các đội tiến công bố trí các mũi chuẩn bị kết hợp với quần chúng nổi dậy phá các ấp chiến lược.


Đúng 5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, quân chủ lực Miền mở đầu cuộc tiến công vào cụm cứ điểm Lộc Ninh. Phối hợp với chiến trường Lộc Ninh, các lực lượng vũ trang và du kích Bình Long cùng với quân chủ lực tấn công và làm tan rã hoàn toàn các cứ điểm xung yêu của địch trên đường 13. Sư đoàn 7 triển khai chiếm lĩnh dọc đường 13 từ ngã ba Đồng Tâm đến thị trấn Chơn Thành, kết hợp với huyện đội Chơn Thành, Hớn Quản gỡ một số đồn bót ngoại vi thị xã An Lộc. Ở phía bắc thị xã, Sư đoàn 9 cùng với du kích và bộ đội tỉnh, huyện tiến công vào căn cứ Téc Ních và cứ điểm Phú Lố. Trong nội ô thị xã ta liên tiếp pháo kích, giam chân địch trong các đồn bót. Trước sự tấn công mãnh liệt của quân ta, lại không được tăng viện, địch buộc phải bỏ Lộc Ninh để dồn sức phòng thủ Bình Long. Ngày 7 tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh được hoàn toàn giải phóng.


Mất Lộc Ninh, thị xã Bình Long bị bao vây, Mỹ ngụy dồn lực lượng cả vùng 3 chiến thuật và phần lớn quân chủ lực ngụy ở Nam Bộ để đối phó với ta trên vùng đông bắc Sài Gòn, giữ lấy thị xã Bình Long. Các hoạt động đó của địch đã gây cho quân ta nhiều khó khăn trong việc cơ động lực lượng, chuyển binh khí kỹ thuật, song Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn quyết tâm giải phóng bằng được thị xã Bình Long.


Ngày 13 tháng 4 năm 1972, trong khi cánh quân chủ lực bí mật đánh vào thị xã Bình Long, lực lượng vũ trang tỉnh, các đội công tác huyện và du kích các xã tập trung đánh diệt trung đội bảo an đóng ở ấp chiến lược Xa-cô-xuýt, truy bắt bọn tề điệp, phá rã bộ máy kềm kẹp của địch, đánh chiếm và dứt điểm đồn Xa-cô-đơn do 1 đại đội bảo an đóng giữ. Một bộ phận vũ trang huyện Hớn Quản và du kích Phước An hỗ trợ cho trung đội dân vệ ấp chiến lược Tông Cui (ta nắm được từ năm 1971) đứng lên khởi nghĩa giành thắng lợi, phá tan ấp chiến lược Tông Cui.


Khi các đơn vị tiến công vào thị xã, Tiểu đoàn 368 của tỉnh và lực lượng vũ trang của huyện Hớn Quản tiến công đồn bảo an ở Phú Miêng, bót cảnh sát Quản Lợi, bót dân vệ Phú Lạt, bao vây đánh chiếm diệt các ban tề ngụy, kêu gọi lính dân vệ, bảo an ra hàng. Tại Sóc Gòn, chặn đánh quyết liệt một tiểu đoàn biệt động quân ngụy, diệt 40 tên khi chúng định khôi phục lại thế trận. Ta liên tiếp đánh địch ra phản kích, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu ở ngoại vi và kìm chân địch để lực lượng chủ lực đánh sâu vào các vị trí trong nội ô, sau đó lực lượng địa phương được lệnh chuyển sang phối hợp với quân chủ lực Miền đánh chiếm Núi Gió và điểm cao 169, diệt phần lớn tiểu đoàn dù ngụy và ban chỉ huy lữ đoàn dù.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:15:23 am »

Ở vùng ven thị xã, các mũi tiến công cùng du kích phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá tề, gọi binh sĩ ra hàng. Ở Xa Cam, Xa Cát, Văn Hiến... hàng chục lính phòng vệ bỏ súng về với cách mạng, một số cơ sở mật tại Xa Cát đã vận động thuyết phục 29 phòng vệ dân sự trở về với cách mạng.


Trong 32 ngày, đêm (đợt 1) trên chiến trường Bình Long, đường 13 diễn ra những trận đánh vô cùng quyết liệt, vòng vây của quân ta ngày càng xiết chặt các căn cứ, đơn vị địch trong thị xã. Nhiều trận đánh diễn ra ác liệt trong nội ô thị xã ở các đại lộ Hoàng Hôn, khu nhà thờ, chợ thị xã... Ta và địch giành đi, giật lại từng bức tường, từng căn nhà. Địch tập trung hỏa lực đánh phá nội ô thị xã để ngăn chặn bước tiến quân của ta. Thời gian này địch đã giết hại hàng ngàn đồng bào ta, phần lớn nhà cửa, tài sản của nhân dân bị tiêu hủy hoàn toàn.


Nhân khi địch đang bị thu hút ở chiến trường chính trên địa bàn thị xã, tại Chơn Thành, lực lượng vũ trang huyện cùng với du kích phát động nhân dân các xã Minh Hòa, Minh Thạnh, Sóc 5 nổi dậy giải phóng hoàn toàn các xã này. Tại thị trấn Chơn Thành, quân địch tập trung đông, nhưng do chúng đang thu hút vào mục tiêu giải tỏa đường 13, tiếp ứng cho thị xã Bình Long, nên phong trào quần chúng vẫn được duy trì. Các chi bộ Đảng vận động nhân dân một mặt cung cấp cho cách mạng lương thực, thuốc men và đưa con em tham gia lực lượng chiến đấu, mặt khác tổ chức cuộc đấu tranh với địch đòi đưa chồng con đi lính trở về với gia đình.


Trong thời gian diễn ra chiến sự, hơn 80.000 nhân dân địa phương phải chịu đựng thử thách gay go, quyết liệt chưa từng có, có hơn 5.000 người bị giết hại. Để đảm bảo an toàn cho nhân dân, Đảng bộ Bình Phước đã kịp thời cử cán bộ đưa dân từ các nơi trong thị xã bị bọn địch de dọa về vùng an toàn. Với nỗ lực khắc phục khó khăn về lương thực, thuốc men, phương tiện vận chuyển đã đưa hơn 20 ngàn dân vượt qua bom đạn về vùng giải phóng.


Ngày 15 tháng 5 năm 1972, do yếu tố bất ngờ của ta không còn nữa, và do lực lượng của ta chưa đủ mạnh để đối phó với địch khi chúng tập trung các phương tiện chiến tranh để giải tỏa thị xã Bình Long, giải tỏa đường 13, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định không tiến công thị xã mà chuyển sang bao vây, cô lập Bình Long, dùng lực lượng tiến công trên đường 13, diệt sinh lực địch. Tuy ta không thực hiện đúng kế hoạch đề ra là giải phóng hoàn toàn thị xã, song lần đầu tiên giải phóng trên một vùng hết sức rộng lớn, bọn địch chỉ kiểm soát được nội ô thị xã Bình Long.


Ngày 16 tháng 5 nàm 1972, mở màn đợt 2 chiến dịch, Sư đoàn 7, chủ lực Miền tiếp tục chốt chặn trên đường 13, nhưng không phải phục vụ những trận đánh tiến công mà mục tiêu là đẩy lùi và đánh bại mọi âm mưu hành động phản kích giải tỏa đường 13 của địch, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển, trên cơ sở giữ vững vùng giải phóng phía sau. Sư đoàn 7 đã dựng lên trên đường 13 một bức tường thép trên một chiều dài hơn 10 km từ nam thị xã Bình Long đến bắc Chơn Thành, lấy khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng làm khu, vực then chốt, những trận đánh ở đây diễn ra rất quyết liệt và gần 4 tháng liền từ 16 tháng 5 đến 28 tháng 8 năm 1972, Tàu Ô trở thành cái bẫy thu hút nhiều đợn vị chủ lực thiện chiến của Mỹ-ngụy, thực sự là cơn ác mộng đối với những tên chỉ huy sư đoàn, quân đoàn và cả bộ tổng tham mưu ngụy. Những trận đánh Tàu Ô - Xóm Ruộng, cống Ông Tề, Tân Khai, Thanh Bình... của Sư đoàn 7 và các lực lượng vũ trang địa phương Bình Phước góp phần xứng đáng vào thành tích chung của chiến dịch Nguyễn Huệ trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Phối hợp với hướng chủ yếu chiến dịch ở Bình Long, đường 13, Đảng bộ Bình Phước chỉ đạo các lực lượng vũ trang và du kích các xã tập trung mở tiếp 4 đợt tiến công vào các vị trí ở Đức Bổn, Hiếu Phong, Long Điền và trục Phước Quả (Phước Long). Trước áp lực tiến công của lực lượng vũ trang địa phương, 3 đại đội bảo an ở Đức Bổn, Cầu 38, Phước Tín vội vã rút chạy, nhiều đơn vị địch ở Bù Gia Mập, đồn Phú Nghĩa, Cầu 11, bót Bù Na... cũng vội vã tháo chạy về co cụm ở Phước Long và Đồng Xoài. Quân địch ở Phước Long, Đồng Xoài bị quân ta uy hiếp mạnh.


Tóm lại, cuộc tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Đảng bộ và nhân dân Bình Phước luôn phát huy tinh thần tự lực, tự cường để khắc phục khó khăn, từng bước đưa phong trào cách mạng tiến lên, mặc dù ở một địa bàn mà trong suốt cuộc chiến đấu phải chịu nhiều hy sinh, gian khổ, liên tục chiến đấu bám giữ địa bàn. Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng liên tục tiến công địch đổ chuẩn bị chiến trường, củng cố vững chắc căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị hậu cần phục vụ chiến dịch, luôn sát cánh với quân chủ lực để phối hợp chiến đấu, dẫn đường để lực lượng ta tiêu diệt địch, đưa thương binh, đồng bào vùng tạm chiếm về vùng giải phóng.


Có thể nói rằng, những cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên chiến trường Bình Long đã góp phần đáng kể vào thắng lợi của cuộc chiến đấu tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

N.H.L
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:16:40 am »

"CHỐT CHẶN TÀU Ô" - MỘT CÁCH ĐÁNH ĐỘC ĐÁO,
VẬN DỤNG CHIẾN THUẬT CÓ BƯỚC PHÁT TRIỂN

Trung tướng TS. NGUYỄN THẾ TRỊ
UVBCHTƯ Đảng, Giám đốc HVQP


Ba mươi năm đã trôi qua, nhưng những tháng ngày chiến đấu ác liệt ỗ Tàu Ô - đường 13 cứ tái hiện lên trong những con người đã tham gia chiến đấu ở mảnh đất kiên cường ác liệt ấy. Cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" của Sư đoàn 7 đã đi vào lịch sử đơn vị như mốc son chiến thắng vẻ vang, đi vào lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam như một hiện tượng mới, làm xuất hiện một thuật ngữ chiến đấu mới. "Chốt chặn Tàu Ô". Chiến thắng Tàu Ô đã rõ ràng, song gọi tên cuộc chiến đấu đó là gì? cũng còn không ít những ý kiến khác nhau. Sau 30 năm chiến thắng nhìn lại, với nhận thức của riêng mình, tôi xin góp đôi lời về cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" - một cách đánh độc đáo.


I. NHIỆM VỤ VÀ CÁCH ĐÁNH CHIẾN DỊCH ĐẶT RA YẾU CẦU MỚI VỀ CHIẾN THUẬT

Chiến dịch Nguyễn Huệ (miền Đông Nam Bộ), hướng chiến lược quan trọng, là một trong ba chiến dịch tiến công lớn của cuộc tiến công chiến lược nám 1972. Nhiệm vụ, mục tiêu chiến dịch đề ra: tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực ngụy (diệt chiến, trung, lữ đoàn, thiêt đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn); giải phóng quận lỵ (chi khu), thị xã (tiểu khu); hỗ trợ, thúc đẩy đánh phá bình định mở mảng, mở vùng, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng vững chắc trên đường 13, uy hiếp Sài Gòn từ phía bắc. Mục tiêu quan trọng (mở đầu) là Lộc Ninh, mực tiêu chủ yếu (trung tâm) là An Lộc (Bình Long). Đối tượng tác chiến chủ yếu là sư đoàn 5 ngụy, lữ kỵ binh 3, một bộ phận sư đoàn dù và các lực lượng khác.


Cách đánh chiến dịch: nghi binh thu hút địch trên hướng thứ yếu (đường 22 Sa Mát, Thiện Ngôn), tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu - đường 13, bất ngờ tiến công lớn bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, thực hiện lần lượt các trận then chốt: đánh chiếm chi khu Lộc Ninh (trận then chốt mở đầu), đánh chiếm thị xã Bình Long (trận then chốt quyết định), đánh bại các lực lượng phản đột kích, phát triển chiến dịch.


Nhằm tập trung tạo ra ưu thế lực lượng để bảo đảm đánh chắc thắng trong các trận then chốt, ta phải chia cắt, ngăn chặn không cho địch cơ động lực lượng theo đường 13 tăng viện cho Lộc Ninh, Bình Long. Dự kiến lực lượng dịch có thể từ sư đoàn bộ binh tăng cường đến tương đương 2 sư đoàn cùng với các thiết đoàn và được phi pháo chi viện mạnh. Sư đoàn bộ binh 7 nhận nhiệm vụ "chốt chặn chiến dịch" trên đường 13, trước mắt bảo đảm cho lực lượng chủ yếu của chiến dịch tiến hành thắng lợi 2 trận then chốt (dự kiến 20 ngày), đồng thời giữ vững thế đứng trên đường 13 để phát triển chiến dịch trong cả hai trường hợp; trận then chốt trung tâm ở Bình Long thuận lợi cũng như gặp khó khăn.


II. TÊN GỌI CHIẾN THUẬT LÚC ĐÓ VÀ THỰC TẾ TÁC CHIẾN "CHỐT CHẶN TÀU Ô" TỪ ĐẦU THÁNG 4 ĐẾN ĐẦU THÁNG 9 NĂM 1972 CỦA SƯ ĐOÀN 7

Sư đoàn 7 nhận nhiệm vụ tổ chức "chốt chặn chiến dịch", không cho địch theo đường 13 từ Lai Khê, Chơn Thành tăng viện lên và ngăn chặn địch từ Lộc Ninh, Bình Long rút chạy về. Đoạn ngăn chặn từ cầu Cân Lê đến Bầu Long, nam Chơn Thành, đoạn tác chiến chủ yếu từ Tân Khai đến bắc Chơn Thành (khoảng 12 km), trọng điểm là nam, bắc Tàu Ô - Xóm Ruộng. Bối cảnh lúc đó, trong lãnh đạo, chỉ đạo của ta chưa dùng thuật ngữ "tác chiến phòng ngự" và thực tế nếu áp dụng phòng ngự đơn thuần ở địa hình bằng phẳng khá trống trải này cũng khó hoàn thành nhiệm vụ. Thời gian này ở chiến trường, chiến thuật được vận dụng phổ biến là để đánh địch cơ động tiến công là vận động tiến công kết hợp chốt. Năm 1971, trong các chiến dịch phản công lớn của ta, nhiều đơn vị đã vận dụng có hiệu quả chiến thuật này như sư đoàn đã chốt ở ngã ba Pra-thiết, Trung đoàn 24/ Sư 304 chốt ở điểm cao 351 ... Do nhiệm vụ, tính chất chiến đấu và quy mô lớn nên quyết tâm của Sư đoàn 7 đề ra "vận động tiến công kết hợp chốt chặn chiến dịch". Quyết tâm này phù hợp với chủ trương của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã xác định "thực hành chốt chặn kết hợp vận động tiến công để tiêu diệt quân địch ở dã ngoại..." là một trong hai hình thức chiến thuật chủ yếu của chiến dịch Nguyễn Huệ.


Thực tế chiến đấu "chốt chặn kết hợp với vận động" của sư đoàn ở Tàu Ô - đường 13 đã diễn ra thời gian dài, từ ngày 4 tháng 4 đến ngày 5 tháng 9 năm 1972 (5 tháng). Qua 4 đợt chiến đấu chính, với nhiều tình huống phức tạp, khó khăn, ác liệt, ta đã lần lượt đánh bại nhiều đợt tiến công, nhiều thủ đoạn xảo quyệt của các sư đoàn 21, sư đoàn 5, sư đoàn 18, lữ 3 KBTG... giữ vững trận địa "chốt chặn Tàu Ô".


* Kết quả chiến đấu

Ta đã tiêu diệt được nhiều dịch, phá hủy nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của chúng, cơ bản ngăn chặn được địch tăng viện đường bộ cho Bình Long. Giữ vững trận địa chốt Tàu Ô, tạo thế đứng vững chân trên đường 13, làm bàn đạp phát triển xuống vùng sâu. Với việc ngăn chặn, thu hút phần lớn lực lượng ở quân khu 3, một phần quân khu 4 địch, không cho chúng đưa lực lượng lớn lên Bình Long đã làm cho địch không có điều kiện phản công lớn lấn chiếm Lộc Ninh. Vì vậy, chiến thắng Tàu Ô đã góp phần quan trọng vào giữ vững vùng mới giải phóng, Lộc Ninh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:17:49 am »

III. NHỮNG KINH NGHIỆM CHÍNH VÀ VẬN DỤNG

1. Tổ chức lực lượng và thế trận vừa vững chắc, liên hoàn vừa có thể đánh hiểm, giữ vững trận địa dài ngày

Đặc điểm nhiệm vụ chiến đấu của sư đoàn, quy luật, thủ đoạn tiến công giải tỏa của địch và địa hình nơi tác chiến đặt ra cho sư đoàn phải có sự vận dụng linh hoạt về tổ chức lực lượng, tạo lập thế trận chốt chặn để hoàn tành nhiệm vụ được giao. Lực lượng chiến đấu được tổ chức gồm 2 thành phần cơ bản: lực lượng chốt chặn (giữ chốt) và lực lượng vận động tiến công. Lực lượng giữ chốt, qua các đợt chiến đấu thường khác nhau, nhưng thường chiếm 1/3 đến 40%; lực lượng vận động tiến công chiếm tỷ lệ cao hơn khoảng 60%.


Nếu để lực lượng giữ chốt lớn dễ bị hỏa lực địch sát thương, tính cơ động giảm, khó phát huy được tính tích cực, chủ động. Do đặc điểm tác chiến ở "tuyến trong", xa hậu phương chiến dịch nên lực lượng bảo đảm ngoài những đơn vị binh chủng bảo đảm theo chức năng, lực lượng vận động tiến công cũng có nhiệm vụ tự bảo đảm cho mình và tham gia bảo đảm cho lực lượng giữ chốt. Với tổ chức lực lượng như vậy đã có sự phát triển, vì chiến đấu phòng ngự, thường lực lượng phòng ngự trận địa chiếm 2/3, lực lượng cơ động chiếm 1/3; còn chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt thì tỷ lệ lực lượng chốt ít hơn (10 đến 15%).


Tổ chức trận địa chốt chặn: do đặc điểm chiến đấu ngăn chặn lực lượng địch cơ động theo đường bộ, nên tạo lập thế trận dựa theo trục đường 13 có chính diện (chiều rộng) hẹp 3 đến 3,5 km, chiều sâu (dài) trên đoạn chủ yếu từ Tân Kha đến Xóm Ruộng khoảng 8 km. Các chốt trong cụm chốt tiểu đoàn tạo thành thế "kiềng", vừa có chốt khống chế mặt đường, vừa có chốt giữ thế liên hoàn từ phía sau. Các tiểu đoàn của trung đoàn tạo thành thế đứng vững chắc hai bên đường, khống chế chặt mặt đường, đồng thời có thể chống địch vu hồi vào bên sườn và đánh từ phía sau. Các tiểu đoàn, trung đoàn làm nhiệm vụ vận động tiến công, đứng cách cụm chốt vài ba km, ở bên sườn hoặc phía trước cụm chốt, trên hướng tiến công chủ yếu của địch. Lực lượng này bố trí tương đối cơ động, tùy theo nhận định về hướng, thủ đoạn tiến công của địch và quyết tâm diệt địch của sư đoàn. Lập thế trận, sư đoàn phải giải quyết được mâu thuẫn: không tập trung đông lực lượng trong các chốt ở địa hình khá bằng phẳng, trống trải để tránh hỏa lực phi pháo mạnh của địch sát thương nhưng phải tạo ra thế ổn định, "chốt cứng, chặn đứng" được quân địch tiến công lớn. Có chốt, cụm chốt cố định, có chốt cơ động vừa có khả năng đứng vững qua các đợt hỏa lực chuẩn bị ác liệt kéo dài của địch, vừa chống được địch tiến công từ các hướng, có thể độc lập chiến đấu khi địch vòng vượt qua, hoặc địch lập điểm xen kẽ bao vây lại chốt ta. Thực tế đã chứng minh, các chốt đứng được vững còn do thế liên hoàn giữa các chốt, cụm chốt, liên hoàn với thế trận của lực lượng vận động tiến công đánh mạnh, đánh hiểm vào bên sườn, đánh đau vào phía sau đội hình tiến công của địch.


2. Kết hợp chặt chẽ kiên cường giữ chốt với tích cực, chủ động tiến công địch bằng nhiều chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu linh hoạt

Đầu chiến dịch ta xác định: "Vận động tiến công là chủ yếu, chốt chặn là quan trọng" nhưng có "chốt cứng" mới "chặn đứng" được quân địch, không cho địch lên tăng viện giải tỏa cũng như rút chạy. Chiến đấu của chốt không chỉ diễn ra vài ba ngày, vài ba tuần mà kéo dài tới hơn 5 tháng, nó quyết định đến hoàn thành nhiệm vụ của sư đoàn. Hành động của lực lượng giữ chốt, thực chất là hành động chiến đấu phòng ngự. Dựa vào công sự, trận địa, hỏa lực, sát thương quân địch, kết hợp với phản kích để chặn đứng, đẩy lùi các đợt tiến công của chúng. Chỉ có giữ vững trận địa chốt mới thực hiện được "chốt cứng, chặn đứng" quân địch tăng viện tiến công. Và chỉ khi nào chặn được địch dài ngày mới làm chúng sa lầy, lực lượng bị tiêu hao, bộc lộ sơ hở, tạo cho ta vận động tiến công có hiệu quả. Song, chỉ dựa vào các chốt cũng không thể ngăn cản được địch cơ động lực lượng tăng viện và giữ được chốt lâu dài, ở địa hình bằng phẳng, địch có thể bao vây cô lập chốt để lực lượng lớn vòng vượt qua hoặc dùng thủ đoạn lấn dần từng bước, triệt tiếp tế chi viện của ta, làm sức chiến đấu ở các chốt giảm dần để chúng đánh chiếm (như từ 21 tháng 5 đến 6 tháng 6 và nửa cuối tháng 7). Vì vậy, các chốt có đứng vững được hay không, phải có thế liên hoàn với lực lượng vận động ở vòng ngoài, có hậu phương bảo đảm vững chắc. Do đó, chiến đấu của lực lượng vận động mang tính tích cực chủ động, nhưng luôn phải gắn bó mật thiết với tác chiến trong chốt, hỗ trợ đắc lực cho giữ chốt. Những trận tiến công của nó không chỉ là những trận phản kích mà chủ yếu là những trận chủ động tiến công bằng các hình thức chiến thuật linh hoạt như vận động tiến công, phục kích, tập kích... đánh vào cả phía trước, bên sườn, phía sau đội hình tiến công giải tỏa cửa địch. Do lực lượng vận động tạo được thế đứng chân tốt, sử dụng linh hoạt và tương đối cơ động nên đã thực hiện được nhiều trận đánh đau, đánh hiểm vào đội hình quân địch tiến công, điển hình như các trận tập kích vào căn cứ Lai Khê, phục kích địch trên đoạn Chơn Thành, Bầu Bàng, Lai Khê cuối tháng 8, đầu tháng 9.


Những trận đánh hiểm rất có kết quả ấy đã buộc địch phải rút nhiều lực lượng khỏi Tàu Ô về giữ hậu phương của chúng. Trong mối quan hệ này: giữ vững trận địa (chốt) là điều kiện để thực hiện "chốt cứng, chặn đứng" không cho địch cơ động lực lượng. Vận động tiến công tiêu diệt được nhiều địch là mục đích nhưng cũng là biện pháp tích cực để giữ chốt. Có tiến công đánh rộng khắp tiêu diệt được nhiều địch mới buộc địch phân tán, giảm áp lực cho chốt. Chốt có đứng vững mới chặn được địch, hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:18:45 am »

3. Tổ chức bảo đảm chiến đấu dài ngày trong điều kiện tác chiến xa hậu phương chiến dịch

Tổ chức bảo đảm các mặt chu đáo, có giải pháp để bảo đảm được kịp thời, hiệu quả là một trong những điều kiện để duy trì sức chiến đấu liên tục, dẻo dai của bộ đội.

Đặc điểm chiến đấu chốt chặn ở Tàu Ô xa hậu phương chiến dịch, thời gian dài, địch tập trung đánh phá ngăn chặn, chia cắt các đường vận chuyển tiếp tế, nhằm làm suy yếu ta để đánh chiếm chốt.

Công tác bảo đảm chiến đấu gồm nhiều mặt, khó khăn lớn nhất của chiến đấu chốt chặn Tàu Ô là bảo đảm về hậu cần, kỹ thuật và bổ sung lực lượng để duy trì sức chiến đấu liên tục dài ngày.

Bảo đảm hậu cần cho chiến đấu, chủ yếu là vận chuyển tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội giữ chốt. Nhiều khi trung đoàn, sư đoàn phải tổ chức lực lượng chiến đấu mở đường qua các tuyến vây của địch để lực lượng vận tải đưa gạo, đạn vào chốt. Có những thời gian địch lập các chốt xen kẽ với chốt ta, phong tỏa cả vòng trong, vòng ngoài, có lần ta phải mặc quần áo lính ngụy, mạo hiểm vượt qua vòng vây vào tiếp tế cho chốt. Các tiểu đoàn, trung đoàn làm nhiệm vụ cơ động tác chiến ở vòng ngoài, khi cần thiết cũng tham gia vận chuyển tiếp tế. Trước hết, hai tiểu đoàn cơ động phải bảo đảm cho tiểu đoàn giữ chốt của trung đoàn. Vì vậy, dù phải chiến đấu liên tục trong vòng vây tiến công của địch, ta vẫn bảo đảm cho bộ đội đủ ăn, có sức dẻo dai.


Bảo đảm tiếp tế hậu cần đã khó, bảo đảm kỹ thuật càng khó hơn, nhất là bảo đảm về đạn hỏa lực. Ngoài việc giáo dục bộ đội làm hầm hào, công sự cất dấu, phòng tránh và sử dụng tiết kiệm, tự sửa chữa kết hợp với bổ sung... quan trọng nhất phải biết tận thu vũ khí đạn dược của địch để đánh địch. Trong quá trình chiến đấu, ta đã tích cực thu nhặt vũ khí của địch như M79, M72, AR15, các loại đạn cối, pháo... và được coi là nguồn bổ sung quan trọng. Từ đó khẳng định, trong điều kiện bảo đảm kỹ thuật khó khăn thì việc tích cực tận thu vũ khí, phương tiện của địch để đánh địch là giải pháp vừa tiết kiệm, kịp thời và có hiệu quả cao.


Vấn đề trực tiếp nhất đến sức chiến đấu liên tục, dài ngày là việc duy trì quân số chiến đấu ở từng đại đội, tiểu đoàn bộ binh. Ta đã kết hợp chặt chẽ xây dựng với tác chiến, huấn luyện với chiến đấu, nâng cao trình độ thiện chiến để đạt hiệu xuất chiến đấu cao, giảm tổn thất. Trong điều kiện quân số trên bổ sung có hạn thì việc tổ chức cứu chữa thương binh nhẹ ngay tại bệnh xá trung đoàn, sư đoàn để kịp thời đưa về đơn vị chiến đấu có ý nghĩa quan trọng. Thường xuyên củng cố, tổ chức luân phiên nhau về phía sau nghỉ ngơi ngắn ngày và bổ sung khôi phục lại sức chiến đấu có ý nghĩa quyết định. Nhờ có giải pháp phù hợp nên mặc dù sư đoàn chiến đấu liên tục hơn 5 tháng, quân số chiến đấu trung bình mỗi tiểu đoàn bộ binh vẫn đạt khoảng 220 đồng chí (đầu chiến dịch là 300 đồng chí). Mặt khác, việc bảo đảm ăn uống, ngủ nghỉ, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng giữ vững ý chí quyết tâm là yếu tố quyết định đến chất lượng đơn vị, sức chiến đấu liên tục, dài ngày.


4. Vận dụng trong điều kiện mới

Những kinh nghiệm chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" có nhiều điểm "gần" với chiến đấu phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Thứ nhất, "chốt chặn Tàu Ô" thể hiện tính tích cực ngay từ trong tổ chức sử dụng lực lượng, tạo lập thế trận và cách đánh.

Thứ hai, trận địa then chốt vững chắc, liên hoàn, chông, đánh hiệu quả địch tiến công có nhiều xe tăng thiết giáp, có hỏa lực không quân mạnh (cả B52), đánh liên tục dài ngày với nhiều thủ đoạn xảo quyệt. Trận địa chốt vẫn tồn tại, có sức sống cao ở địa hình bằng phẳng trống trải.


Thứ ba, tạo được thế trận hiểm hóc để chủ động tiến công lại địch, đánh địch cả ở phía trước, bên sườn, phía sau, đánh đau sâu vào hậu phương địch, buộc chúng phân tán, bị động đối phó.

Thứ tư, duy trì sức chiến đấu liên tục, dài ngày, càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh.

Đó là những kinh nghiệm hay cần được nghiên cứu phát triển để vận dụng phù hợp với điều kiện chiến đấu mới. Tuy nhiên, ta chưa hạn chế được địch cơ động bằng đường không. Ngày nay quân Mỹ có khả năng cơ động đường không nhanh và nhiều bằng máy bay lên thẳng. Để hạn chế quân Mỹ cơ động lực lượng bằng máy bay lên thẳng, ta cần có những giải pháp:

- Đẩy mạnh tiến công rộng khắp của lực lượng vũ trang tại chỗ, căng kéo, thu hút phân tán, kìm giữ địch, hạn chế địch tập trung.

- Dùng đặc công, pháo chuyên trách... tập kích vào nơi địch lập kết máy bay lên thẳng để bốc quân cơ động...

- Sử dụng súng máy phòng không, tên lửa A72... phục kích trên các đường bay của máy bay lên thẳng chở quân cơ động.

- Bố trí bom, mìn, vật cản ở những bãi địch có thể đổ bộ, buộc chúng phải đổ bộ vào những nơi ta đã dự kiến và chuẩn bị thế trận sẵn ...


Kết luận

Cuộc chiến đấu "chốt chặn Tàu Ô" đã đổ lại nhiều kinh nghiệm quý, những kinh nghiệm ấy được đổi bằng xương máu của hàng trăm cán bộ chiến sĩ ta1 (Qua hơn 5 tháng chiến đáu, Sư đoàn bộ binh 7 hy sinh: 1029 đồng chí; bị thương: 777 đồng chí).

Ôn lại truyền thống vẻ vang, rút ra từ thực tiễn tác chiến để nghiên cứu, phát triển nghệ thuật chiến đấu phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, sần sàng chiến đấu là cần thiết, là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Bài tham luận của tôi mới chỉ là những kinh nghiệm bước đầu, góp một phần nhỏ làm sáng tỏ truyền thống và kinh nghiệm.

Rất mong có nhiều ý kiến trao đổi.

N.T.T
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:19:54 am »

QUÂN DÂN BÌNH DƯƠNG THAM GIA CHIẾN DỊCH
NGUYỄN HUỆ NĂM 1972

NGUYỄN MINH ĐỨC
Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương


Trước những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong mùa xuân năm 1971 cùng với việc Mỹ buộc phải rút thêm quân và sự kiện cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 1972... đã tạo ra một thời cơ thuận lợi mới cho giai đoạn cách mạng tiếp theo. Phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 là: "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam, đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến trường ở miền Nam và Đông Dương". Trên cơ sở phương hướng lớn đó, tháng 8 năm 1971 Bộ Chính trị ra nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, trên các hướng như miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng.


Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 3 năm 1972 Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 giành được thắng lợi lớn trên hướng chiến lược miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn Miền tạo thành cơ sở làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn hội nghị Pa-ri.


Chiến dịch Nguyễn Huệ được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 1972 và kết thúc vào ngày 19 tháng 01 năm 1973. Không gian mở chiến dịch nằm về phía bắc Sài Gòn, bao gồm bốn tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương với lực lượng tương đương cấp quân đoàn tăng cường.


Với chiến dịch Nguyễn Huệ, lần đầu tiên miền Đông Nam Bộ giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu bắc Sài Gòn, mở mảng, mở vùng ở bắc Bình Dương, uy hiếp cửa ngõ bắc Sài Gòn. Vùng giải phóng được nối thông với Đông Bắc Cam-pu-chia, với Tây Nguyên và với hậu phương chiến lược miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Qua đó, ta đã thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường miền Đông Nam Bộ, giành lại quyền chủ động chiến lược, tạo thế đứng chân vững chắc cho bộ đội chủ lực Miền ngay trong nội địa chiến trường miền Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc, đẩy được phong trào chiến tranh nhân dân phát triển cao hơn trước.


Ngoài chiến công giải phóng Lộc Ninh và nhiều vùng rộng lớn khác, cuộc tiến công vây ép Bình Long và những trận đánh chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 thực sự trở thành những trận đánh kỳ diệu trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Sư đoàn 7 đã dựng trên đường 13 một bức tường thép trên một chiều dài hơn 10 km, lấy khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng làm khu vực then chốt. Thực hiện "chốt chặn kết hợp vận động tiến công" với khẩu hiệu "chốt cứng, chặn đứng", suốt gần 150 ngày không một chiếc xe, một tên địch nào vượt qua đươc. Tàu Ô, Xóm Ruộng trở thành cái bẫy thu hút nhiều đơn vị chủ lực thiện chiến củâ địch như những con thiêu thân bay vào lửa. Tàu Ô - Xóm Ruộng thực sự là cơn ác mộng đối với những tên chỉ huy sư đoàn, quân đoàn và cả bộ tổng tham mưu ngụy.


Thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ còn thể hiện ở khâu chỉ huy hiệp đồng tác chiến giữa các binh chủng, chỉ đạo phối hợp giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và quần chúng nhân dân ở vùng tạm bị chiếm. Lực lượng tại chỗ đã được huy động trong mọi tình huống chiến đấu để tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội chủ lực. Giải phóng Lộc Ninh, tiến công thị xã Bình Long, chặn địch trên đường số 13, phá bình định ở bắc Thủ Dầu Một đều luôn có mặt bộ đội địa phương. Dân quân du kích không ngừng tổ chức các trận đánh quấy phá địch trên khắp chiến trường miền Đõng. Quân và dân Bình Dương đã tham gia và góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô.


Ngay trong thời gian chuẩn bị chiến dịch Nguyễn Huệ, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục trong hội nghị chuyên đề về chống phá bình định (tháng 7 năm 1971), tháng 9 năm 1971 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương do đồng chí Trương Trinh Kiên (Hai Kiên) làm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Hữu (Một Hữu) làm chỉ huy trưởng nhằm tiếp tục đẩy mạnh phong trào đánh phá "bình định" phá lỏng, phá rã các ấp chiến lược trên diện rộng, phát triển chiến tranh du kích.


Ngay từ cuối năm 1971, đầu 1972 quân dân Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã mở đợt hoạt động cao điểm. Trong đợt hoạt động này, lực lượng địa phương tổ chức nhiều trận pháo kích vào sân bay Phú Lợi, sở chỉ huy tiểu đoàn 2 trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ nống ra trên đường 16. Ngày 16 tháng 1 năm 1972, bộ đội huyện Tân Uyên tập kích chi khu quân sự huyện Tân Uyên cùng phối hợp với lực lượng chủ lực, du kích các xã đồng loạt tiến công vào các ấp chiến lược Chợ Đậu, Bình Mỹ, Vàm Giá...


Ở Châu Thành, đại đội 62 phối hợp với du kích thọc sâu tập kích các ấp Thới Hòa, Tân An diệt ác ôn, giải tán phòng vệ dân sự.

Ở Bến Cát, đại đội 61 và các đơn vị tập trung huyện phân tán xuống các xã Thanh Tuyền, An Điền, Thanh An, Mỹ Phước phối hợp với du kích diệt ác, phá tề, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh giành quyền làm chủ. Phối hợp với Trung đoàn 16, bộ đội huyện đã diệt dồn Bến Súc, bót Bưng Còng, bao vây bức rút tua ấp 1, ấp 2 xã Thanh An và chặn đánh lực lượng biệt động quân thuộc chiến, đoàn 7, trung đoàn thiết giáp số 6 và bọn bảo an ở chi khu quân sự Bến Cát, Dầu Tiếng đi hành quân giải tỏa, bắn chìm ba tàu trên sông Sài Gòn, bắn cháy và phá hủy 9 xe M113, diệt 120 tên.


Với những cố gắng và nỗ lực phi thường, sau 6 tháng hoạt động đầy khó khăn thử thách (từ năm 1971 đến cuối tháng 3 năm 1972), mặc dù lực lượng cách mạng của tỉnh có bị tổn thất nhưng Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh vẫn thể hiện được tinh thần chủ động tiến công, đã đánh mạnh và từng bước làm thất bại kế hoạch "bình định" của địch; phá lỏng, phá rã bộ máy kềm kẹp của địch trên diện rộng, tạo điều kiện thuận lợi để cùng lực lượng miền Đông bước vào chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:20:41 am »

Ngày 1 tháng 4 năm 1972, các lực lượng Tây Ninh (hướng thứ yếu) nổ súng mở màn chiến dịch Nguyễn Huệ. Trên hướng chủ yếu Bình Long, các đơn vị chủ lực nhanh chóng chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công.

Chiến thắng Thiện Ngôn - Xa Mát trên đường 22 Tây Ninh tạo thuận lợi cho hướng chính thực hiện trận đánh mở đầu then chốt của chiến dịch ở khu vực Lộc Ninh.

Hòa cùng tiếng súng tiến công từ các hướng của lực lượng ta trong mùa chiến dịch, tại Thủ Dầu Một đêm 15 rạng ngày 16 tháng 4, Tiểu đoàn Phú Lợi tập kích đồn An Lợi, diệt gọn đại đội bảo an, bắt sống 22 tên, thu hơn 40 súng. Đội biệt động thị xã phối hợp với bộ đội dặc công tập kích bót Chánh Lộc, diệt 64 tên.


Trước sức tấn công mãnh liệt của ta trên khắp chiến trường, một số đơn vị bảo an của tiểu khu Bình Dương chống lệnh hành quân, không đi ứng cứu cho đồng bọn ở Tân Bình, An Lợi. Chỉ trong 4 tháng năm 1972, ở các huyện Châu Thành, Tân Uyên, Phú Giáo đã có 730 binh lính địch đào rã ngũ. Nhân dân và du kích các địa phương đã rải hàng chục ngàn tờ truyền đơn giải thích 10 chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời, vạch trần âm mưu của Mỹ-Thiệu, vận động đồng bào có con em bị địch bắt đi lính trở về với gia đình. Nhiều nơi ở Bến Cát, Châu Thành, Phú Giáo, Tân Uyên nhờ khống chế được bọn tề ấp, tề xã, ta đã giành quyền làm chủ hàng chục xã, ấp ở mức độ khác nhau.


Nhằm phát huy những thắng lợi trong Xuân-Hè năm 1972, ta tiếp tục mở đợt hoạt động cao điểm từ tháng 10 tháng 1972 quyết giành những thắng lợi có ý nghĩa cả về quân sự và chính trị. Bước vào đợt hoạt động cao điểm này, Tỉnh ủy phân công cán bộ bám các huyện để lãnh đạo phong trào nổi dậy của quần chúng. Đêm 5 rạng ngày 6 tháng 10 năm 1972, quân dân Thủ Dầu Một phối hợp với chủ lực Miền đã mở một đợt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, tiêu diệt một bộ phận sinh lực kềm kẹp của địch, giải phóng và làm chủ ở hàng chục ấp trên các khu vực dọc theo đường 13 như Thới Hòa, ngã tư Sở Sao, ngã tư Cây Me, Chợ Mới, Suối Giữa...


Trên hướng Bến Cát, nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt ở Rạch Bắp, ngã ba Lăng Xi, An Hòa, An Lợi, Chánh Lưu, Tân Bình... địch phải liên tục bị động đối phó. Nhiều đoạn trên tỉnh lộ 14, 15, 16, 7 bị cắt đứt và khống chế nặng.

Ở Lái Thiêu, Dĩ An, Tiểu đoàn 1 và 2, đại đội đặc công 371 và 564 cùng lực lượng huyện, du kích xã đột nhập vào các âp chiến lược An Sơn, An Thạnh, Bình Nhâm, Hưng Định, Tân Thới, Đông Hòa, Tân Đông Hiệp, Bình An... diệt ác, phá kềm, giải tán tề và phòng vệ dân sự tạo thế cho nhân dân bung ra vùng giải phóng. Được các lực lượng vũ trang hỗ trợ, hàng ngàn lượt đồng bào đấu tranh với địch đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống bắt thanh niên đi lính, chống bắt tham gia phòng vệ dân sự. Nhiều gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em bỏ súng trở về với gia đình.


Trong tháng 10 năm 1972, với làn sóng tiến công và nổi dậy liên tục khắp nơi từ Bến Cát, Châu Thành, Lái Thiêu, Tân Uyên, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một... lực lượng vũ trang của tỉnh đã đánh mạnh vào lực lượng kềm kẹp của địch ở xã, ấp diệt và bắt sống 8.000 tên, thu 200 súng các loại, đánh sập 14 tua, bức rút bức hàng 40 tua khác, giải tán hàng trăm phòng vệ dân sự, vận động gần 300 binh lính địch đào rã ngũ, phá rã hàng trăm ấp chiến lược và hơn 10.000 đồng bào từ 9 xã, 28 ấp chiến lược bung về xóm cũ làm ăn sinh sống.


Ngày 13 tháng 1 năm 1973, trên địa bàn Bến Cát, Dầu Tiếng, quân và dân địa phương phối hợp với một đơn vị của Sư đoàn 7 chặn đánh, diệt gọn 2 tiểu đoàn địch, bắt sống 487 tên và đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn khác đi cứu viện, thu và phá hủy nhiều vũ khí cùng phương tiện chiến tranh. Trong khi địch đang bị động đối phó trên toàn chiến trường, ngày 23 tháng 1 năm 1973   lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một được nhân dân giúp đỡ đưa 100 trái đạn ĐKB xuống tận ấp chiến lược Đồng An (Tân Thới - Lái Thiêu) bất ngờ bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, gây chấn động lớn đối với ngụy quân, ngụy quyền ở Sài Gòn.


Như vậy, từ khi mở đầu đến kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ, cũng như trong thời gian tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô, quân dân Thủ Dầu Một đã tích cực tham gia phối hợp chiến đấu và giành được những thắng lợi quan trọng góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Mỗi chiến thắng vinh quang trên chiến trường Thủ Dầu Một (Bình Dương) ở những thời điểm khác nhau đều thắm đậm tình đoàn kết chiến đấu, phối hợp chia lửa cùng nhau giữa bộ đội chủ lực Miền và lực lượng địa phương. Truyền thống tốt đẹp đó đang được tiếp tục phát huy, tạo thành những kết quả sinh động trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

N.M.Đ
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2026, 05:21:44 am »

CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ, SỰ PHÁT TRlỂN MỚI VỀ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH, NHỮNG KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TRONG NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC NGÀY NAY

Trung tướng PHAN TRUNG KIÊN
ƯVBCH TƯ Đảng, Tư lệnh Quân khu 7


Mùa xuân năm 1972, cục diện chiến dịch chung của ta trên chiến trường miền Nam có những phát triển mang tính bước ngoặt. Sau thắng lợi của chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân "Toàn thắng NB-71" của địch tại vùng biên giới Việt Nam - đông bắc Cam-pu-chia và thắng lợi các chiến dịch đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Chen La II... Ta đã phá thế bao vây của địch, mở rộng vùng giải phóng, khai thông tuyến hành lang biên giới, nối liền tuyến vận chuyển chiến lược từ hậu phương miền Bắc vào đến chiến trường B2. Thế liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương phát triển vững chắc. Những thắng lợi về mặt quân sự của ta đã tạo thời cơ rất quan trọng để chiến trường B2 có điều kiện củng cố phát triển lực lượng ba thứ quân. Đặc biệt do được sự chi viện kịp thời của hậu phương lớn miền Bắc về lực lượng và vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại, nên từ mùa khô 1971 - 1972, tại chiến trường B2 đã có thêm các đơn vị binh chủng kỹ thuật gồm Tàng - Thiết giáp, tên lửa phòng không A72, tên lửa chống tăng B72 và nhiều đơn vị pháo xe kéo.


Sự phát triển mới về lực lượng, binh khí kỹ thuật và những kinh nghiệm chỉ huy các chiến dịch phản công trong mùa khô 1970 - 1971 là những yếu tố quan trọng để Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền hạ quyết tâm mở chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ biên giới và tuyến phòng thủ bắc Sài Gòn của địch. Xét về quy mô, đây là chiến dịch tiến công lớn nhất tại chiến trường B2 tính đến thời gian đó. Với lực lượng gồm 3 sư đoàn (5, 7, 9), 3 trung đoàn độc lập, 1 trung đoàn pháo xe kéo, 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp, 2 tiểu đoàn hỏa tiễn phòng không và chống tăng, 2 tiểu đoàn đặc công. Cùng phối hợp tác chiến còn có 63 đại đội, tiểu đoàn bộ binh tỉnh, huyện của các địa phương trên địa bàn chiến dịch. Xét về không gian, thời gian chiến dịch, chiến dịch diễn ra trên một không gian rộng gồm địa bàn các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Dương, Bình Long, thời gian thực hiện chiến dịch 10 tháng (31.3.1972 - 28.1.1973), khu vực tác chiến xa hậu phương, căn cứ của ta nên công tác bảo đảm chiến dịch gặp nhiều khó khăn và có nhiều vấn đề phải giải quyết. Xét về tính chất của chiến dịch, đây là chiến dịch tiến công ta có ưu thế chủ động thời gian chuẩn bị chiến dịch, hướng tiến công và thời gian tiến công của chiến dịch. Tuy nhiên, đối tượng tác chiến của ta trong chiến dịch là quân đoàn 3 ngụy, lực lượng dù, thiết giáp và tổng trù bị. Đây là các đơn vị tinh nhuệ sừng sỏ nhất của địch, chúng tổ chức phòng thủ chặt chẽ có chiều sâu (thành nhiều tuyến), quá trình tác chiến được không quân Mỹ chi viện tối đa (kể cả máy bay ném bom chiến lược B52). Do đó yếu tố quan trọng hàng đầu để chiến dịch thắng lợi chính là nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch của ta. Thực tế diễn biến của chiến dịch đã chứng minh, sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy chiến dịch trong từng đợt của chiến địch về phương châm tác chiến, về cách đánh đã giải quyết được nhiều khó khăn trong quá trình ta tiến công địch ở hướng chủ yếu, tiếp tục giành thế chủ động chiến dịch. Song điểm nổi bật của nghệ thuật chiến dịch là ta đã triệt để khai thác sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân, sử dụng lực lượng của ba thứ quân để tiến công địch trên khu vực địa bàn chiến dịch, bằng nhiều hình thức tác chiến, tập kích, phục kích, vây ép, luồn sâu đánh vào hậu phương của địch. Ta đã làm cho địch phải trải lực lượng ra đối phó, tạo thời cơ để các hướng chiến dịch tập trung binh hỏa lực tiến công các mục tiêu quan trọng. Sự phối hợp tác chiến ba lực lượng của ta đã tạo ra những đòn đánh mạnh vừa trải rộng khắp địa bàn chiến dịch. Đồng thời lại điểm trúng các yếu huyệt của địch làm địch bị rúng động lớn, thế phòng thủ bị phá vỡ.


Cùng với nghệ thuật sử dụng lực lượng, chiến dịch Nguyễn Huệ đã thể hiện sự phát triển mới về nghệ thuật nghi binh lừa địch tạo thế mở màn chiến dịch, chọn hướng tiến công, mục tiêu tiến công hoàn toàn bất ngờ đối với địch. Để thực hiện nghi binh chiến dịch, đêm 31 tháng 3, ta sử dụng lực lượng hướng thứ yếu tiến công vào hướng phòng ngự của địch ở bắc Tây Ninh (hướng địch nhận định ta tập trung chủ yếu lực lượng), địch bị hút về hướng Tây Ninh, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu của chiến dịch thực hiện trận đánh then chốt mở đầu chiến dịch. Địch hoàn toàn bất ngờ khi ta tiến công Lộc Ninh và sở chỉ huy chiến đoàn 9, điều trung đoàn thiết giáp và tiểu đoàn biên phòng về ứng cứu Lộc Ninh, đúng theo dự kiến của chỉ huy chiến dịch và thế trận bày sẵn của ta. Trung đoàn thiết giáp và tiểu đoàn biên phòng bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Tuyến phòng thu Lộc Ninh bị phá vỡ, chiến đoàn 9 bị tiêu diệt, chiến đoàn trưởng bị bắt sống. Sau 5 ngày đầu của đợt 1 chiến dịch, ta tiêu diệt 1 chiến đoàn, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn biên phòng và toàn bộ lực lượng bảo an, cảnh sát, dân vệ của địch ở Lộc Ninh, Bù Đốp và các xã vùng bắc Bình Long. Hình thành thế áp sát tiến công Bình Long trên các hướng đông bắc, bắc và tây bắc, dồn địch vào thế phòng thủ bị động, buộc phải điều lực lượng phía sau lên giải tỏa áp lực cho Bình Long. Như vậy, ngay sau trận then chốt mở màn chiến dịch ta đã buộc địch phải điều lực lượng phía sau đi cứu viện, tạo điều kiện để lực lượng chốt chặn chiến dịch diệt địch trên đường 13. Mặt khác, ta đã thực hiện được ý định kéo hút địch về hướng biên giới, tạo điều kiện cho lực lượng võ trang địa phương ở đồng bằng, đô thị tiến công chống phá kế hoạch bình định mở mảng, mở vùng giải phóng.


Nghệ thuật sử dụng lực lượng chốt chặn chiến dịch, thực hiện tiến công chia cắt tạo thế và tiêu diệt lực lượng cơ động ứng cứu của địch, sự phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch tiến công. Chiến dịch Nguyễn Huệ là chiến dịch đầu tiên tại chiến trường B2, Bộ Tư lệnh Miền sử dụng lực lượng một sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật làm nhiệm vụ chốt chặn, chia cắt chiến dịch. Đây là một tính toán khoa học dựa trên cơ sở ta nắm chắc địch, thủ đoạn đối phó của chúng khi phòng thủ tuyến biên giới bị phá vỡ, nhưng cũng đồng thời thể hiện quyết tâm cao của bộ chỉ huy chiến dịch: tạo thế chiến dịch đánh tiêu diệt một lực lượng lớn quân cơ động ứng cứu Bình Long, đánh quỵ quân đoàn 3 ngụy. Để thực hiện quyết tâm này, ta đã sử dụng đến 25% lực lượng hướng chủ yếu chiến dịch làm nhiệm vụ chốt chặn, chia cắt chiến dịch trên trục lộ 13. Có thể nói đây là bước phát triển mới về sử dụng lực lượng của ta trong chiến dịch tiến công.


Thực tế diễn biến chiến dịch đã chứng minh vai trò quan trọng của lực lượng chốt chiến dịch đó là: khi thực hiện đợt 2 chiến dịch, ta có gặp khó khăn, tiến công vào thị xã Hớn Quản, lực lượng không tương xứng, thời cơ và thế trận bất lợi, nên trận đánh không thành công. Bộ Chỉ huy chiến dịch điều chỉnh phương thức thủ đoạn tác chiến, chỉ đạo sư đoàn bộ binh 9 và lực lượng tiến công Hớn Quản chuyển sang vây lỏng cô lập địch ở thị xã. Sư đoàn bộ binh 7 thực hành tiến công tiêu diệt lực lượng địch ứng cứu, giải tỏa cho Bình Long, chia cắt lộ 13 tạo điều kiện để đơn vị bạn tiếp tục tiến công mục tiêu chủ yếu. Cũng từ thời gian này mặt trận sôi động nóng bỏng, ác liệt nhất của chiến dịch là tại khu vực Tàu Ô, Xóm Ruộng, Ngọc Lầu, Tân Khai và phía nam Chơn Thành. Địch tập trung lực lượng 1 lữ đoàn dù, 21 tiểu đoàn bộ binh, 2 chiến đoàn lực lượng tổng trù bị, 8 chi đoàn thiết giáp có sự chi viện tối đa của pháo binh, không quân để phản kích giải tỏa tuyến Lộ 13. Nhưng ta đã chủ động xây dựng thế trận, hình thành các cụm chốt liên hoàn, có phương án tác chiến cụ thể của từng hướng, từng đơn vị, nên Sư đoàn bộ binh 7 đã đánh bại mọi cuộc phản kích của địch, để thực hiện chia cắt triệt để diệt nhiều sinh lực địch, các đơn vị của sư đoàn đã kết hợp nhiều thủ đoạn chiến đấu như vận động tập kích, chốt chặn kết hợp vận động đánh sườn, bí mật luồn sâu tập kích Sở chỉ huy trận địa pháo, thực hành vây lấn cô lập giữa lực lượng phía trước và phía sau chủ động phá thế tiến công của địch.


Sau 150 ngày đêm chiến đấu, Sư đoàn bộ binh 7 và lực lượng tăng cường đã đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn, 8 đại đội bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội của địch. Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên địch, bắt sống 211 tên, thu 390 súng các loại, bắn cháy 73 máy bay, 202 xe quân sự phá hủy và thu 102 khẩu pháo. Ta thực hiện được nhiệm vụ chia cắt triệt để tuyến đường 13, cô lập Bình Long, giành lại thế chủ động chiến dịch và bảo vệ được địa bàn vùng mới giải phóng, tạo điều kiện để lực lượng chủ yếu thực hiện đợt 3 và kết thúc chiến dịch.


Thắng lợi chiến dịch Nguyễn Huệ đã tạo thế và lực mới của ta trên chiến trường Nam Bộ, ta đập vỡ tuyến phòng thủ biên giới của địch, chiếm giữ nhiều địa bàn xung yếu, mở rộng vùng giải phóng, tạo thế uy hiếp trực tiếp dịch ở tuyến phòng thủ ven Sài Gòn, tạo điều kiện cho các địa phương của Nam Bộ tiếp tục tiến công đánh phá bình định của địch.


30 năm nhìn lại chiến dịch Nguyễn Huệ, khẳng định thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta rất tự hào và đánh giá cao sự sáng tạo và phát triển về nghệ thuật chiến dịch. Đồng thời cũng khẳng định rằng, những giá trị về nghệ thuật chiến dịch, kinh nghiệm chỉ đạo, tổ chức thực hành chiến dịch, trong chiến dịch Nguyễn Huệ có giá trị thực tiễn cao, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay.


Đó là: quán triệt sâu sắc quan điểm quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, vận dụng sáng tạo linh hoạt nghệ thuật nghi binh, lừa địch để giành thế chủ động thực hiện các trận đánh then chốt diệt địch đột nhập vào khu vực phòng thủ, phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng ba thứ quân trong thế trận của khu vực phòng thủ Quân khu, tỉnh thành, tạo ra một thế trận vững chắc đủ sức đánh bại mọi hình thức tiến công của kẻ địch, bảo vệ được địa bàn, tài sản tính mạng của nhân dân. Đồng thời tiếp thu những kinh nghiệm về sử dụng lực lượng, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn tác chiến, chọn mục tiêu chốt chặn chiến dịch để bổ sung vào nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập của lực lượng võ trang Quân khu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

P.T.K
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM