Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:32:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972  (Đọc 3969 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:07:27 pm »

MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH ĐỂ XÂY DỰNG QUYẾT TÂM CHIẾN ĐẤU VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ QUÂN SỰ TRONG CHỐT CHẶN ĐƯỜNG 13 CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 7 - CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972

Trung tướng NGUYỄN VĂN THÁI
Nguyên Phó chính ủy Sư đoàn 7


Kính thưa các đồng chí!

Cuộc chiến đấu chốt chặn trên đường 13 (Bình Long) trong chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông-Nam Bộ đến nay đã tròn 30 năm. Thời gian tương đối dài ấy cộng với tuổi tác đã cao, đã làm tôi quên đi nhiều sự kiện cụ thể. Nhưng theo yêu cầu của ban tổ chức hội thảo, tôi viết tham luận về "Công tác đảng, công tác chính trị trong cuộc tiến công vây ép Bình Long và chốt chặn Tàu Ô năm 1972".


Thời gian chiến dịch khá dài, không gian chiến dịch rất rộng có nhiều đơn vị lớn tham gia. Do vậy tiến hành công tác đảng, công tác chính trị là vấn đề rất quan trọng đó là nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng. Tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu chiến dịch là hoạt động thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức và phương pháp bao gồm rất nhiều nội dung, là hoạt động cụ thể của tất cả cán bộ, chiến sĩ trên mọi lĩnh vực hoạt động của sư đoàn. Về mặt công tác đảng, công tác chính trị, Sư đoàn 7 bước vào chiến dịch có những thuận lợi cơ bản:


- Là đơn vị có bề dày truyền thống từ thời kháng chiến chống Pháp, những năm tháng trên chiến trường chống Mỹ, đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ; Đội ngũ cán bộ chiến sĩ được rèn luyện, thử thách trong xây dựng và chiến đấu, sư đoàn lại vừa tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng chiến đoàn đặc nhiệm 5 ngụy (gồm lữ dù 1 và thiết đoàn 18) trên đường số 2 (Đầm Bc.Wathơmây).


- Phong trào chống Mỹ sôi nổi trên cả nước, những tân binh được bổ sung từ miền Bắc cùng trang bị vũ khí (trong đó có một số vũ khí mới) vào chiến trường với khí thế chống Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam rất cao đã nhanh chóng hòa nhập cùng cán bộ chiến sĩ cũ, tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, nhận rõ kẻ thù, hiểu rõ mục tiêu chiến đấu, có niềm tin tất thắng. Sau khi học tập, cán bộ chiến sĩ sư đoàn bước vào chiến dịch với khí thế sôi nổi, mạnh mẽ.


- Chiến thắng to lớn trên toàn chiến trường miền Nam, nhiều vùng giải phóng mở rộng, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ...

Trong tham luận này, tôi chỉ xin nêu một số điểm chính về xây dựng quyết tâm chiến đấu và thực hành dân chủ quân sự trong chốt chặn đường 13 chiến dịch Nguyễn Huệ của Sư đoàn 7 năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.


Trước hết là quán triệt, nhiệm vụ chiến đấu của toàn sư đoàn. Sau khi đồng chí Lê Nam Phong báo cáo nhiệm vụ do Bộ Tư lệnh Miền giao và đồng chí Đàm Văn Ngụy trình bày quyết tâm chiến đấu của sư đoàn, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn rồi Đảng ủy sư đoàn đã họp mở rộng thảo luận kỹ và nhất trí thông qua.


Trong 4 nhiệm vụ được giao, các hội nghị đều phân tích để hiểu rõ ý nghĩa và yêu cầu của từng nhiệm vụ, sự liên quan và tác động lẫn nhau giữa các nhiệm vụ, trong đó nổi bật 2 nhiệm vụ là:

Tiêu hao và tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đặc biệt là phải giữ vững trận địa chốt chặn, không cho một tên địch, lọt qua trận địa trên đường 13 chi viện cho Bình Long hoặc ngược lại từ Bình Long chạy về Chơn Thành theo đường 13.


Có diệt được nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại các cuộc tiến công của chúng mới đảm bảo giữ vững được trận địa và có giữ vững được trận địa không cho một tên địch lên chi viện cho Bình Long bằng đường 13 mới bảo đảm cho đơn vị bạn thực hiện nhiệm vụ then chốt của chiến dịch.


Đó là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, một yêu cầu rất nghiêm khắc với sư đoàn, cần phải giáo dục thật kỹ, làm cho cán bộ chiến sĩ nhận thức rõ, nhất trí cao và quyết tâm thực hiện bằng được.

Đảng ủy sư đoàn đã ra nghị quyết thông qua quyết tâm chiến đấu, những vấn đề lãnh đạo quan trọng như chuẩn bị chiến trường, kế hoạch tác chiến, công tác đảng, công tác chính trị, công tác đảm bảo. Riêng về công tác đảng, công tác chính trị có nhấn mạnh, cần đặc biệt coi trọng giáo dục nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm và ý chí kiên cường cho cán bộ chiến sĩ, phải làm thật kỹ từ trên xuống dưới, từ trong đảng ra ngoài quần chúng, tạo sự nhất trí cao, tin tưởng và quyết tâm phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của sư đoàn.


Chiến đấu trong khu vực chốt chặn mang sắc thái đặc thù của chiến đấu phòng ngự, ngay từ đầu khi học tập tình hình, nhiệm vụ, quán triệt cách đánh, sư đoàn đã dự kiến những tư tưởng như lo ngại thương vong, ngại phi pháo ác liệt, ngại chốt dài ngày, và có giữ được không ...


Bằng các hoạt động về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, sư đoàn đã chỉ đạo dân chủ thảo luận từ trên xuống dưới, đến tận chiến sĩ một số nội dung và đã đi đến thống nhất những vấn đề cơ bản sau đây:

- Đánh giá đúng địch ta: quân Mỹ đã rút, nhưng tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", về hoạt động quân sự, Mỹ giao lại cho quân ngụy đảm nhiệm, nhưng điểm yếu cơ bản của ngụy quân ngụy quyền là tinh thần sa sút, dù có thêm máy bay, pháo binh, thiết giáp mà sức chiến đấu không tăng lên được. Quân ngụy mất dần chỗ dựa, yểm trợ của quân Mỹ nên sức chiến đấu vốn đã yếu vào chiến dịch càng yếu hơn. Qua các trận chiến đấu của lực lượng tổng trù bị và thiết giáp ngụy với sư đoàn ở Đầm Be đã chứng minh rõ điều đó.


Còn về ta, khí thế sức mạnh tăng lên rõ rệt, sự chi viện to lớn, toàn diện của hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường rất kịp thời. Sức chiến đấu của sư đoàn cũng thể hiện rõ; phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhiều vùng giải phóng được mở rộng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:08:34 pm »

- Về thế trận và cách đánh của ta:

Trong thế trận chung toàn mặt trận, thế trận của sư đoàn, trận địa chốt chặn của ta hình thành từng cụm liên hoàn, công sự trận địa được xây dựng vững chắc và ngày càng hoàn thiện (sư đoàn huy động lực lượng phía sau đêm đêm vác gỗ, mang theo cuốc xẻng hỗ trợ làm trận địa).


Cách đánh của chốt được dân chủ bàn bạc kỹ; hiệp đồng chặt chẽ giữa các chốt; các cụm với phân đội hỏa lực, lực lượng chốt với lực lượng cơ động... Điều đặc biệt là cách đánh tuyệt đối không phải là phòng ngự thụ động, nằm hầm chịu trận mà giữ vững trận địa với tinh thần kiên cường, tích cực đánh địch; có những bộ phận thường xuyên đánh vào bên sườn và phía sau đội hình địch, có những bộ phận đánh địch từ xa; thọc lượn chốt thực hiện đánh thật gần, đồng loạt nổ súng, chớp thời cơ xuất kích ngăn diệt địch, thu chiến lợi phẩm ...


Kỷ luật hiệp đồng chặt chẽ được thực hiện với ý thức cao nhất, tình nghĩa đồng đội sâu sắc, nhất là các phân đội hỏa lực với chốt (thực tế đã diễn những trận hiệp đồng thật đẹp, rất kịp thời, chính xác, hỗ trợ tích cực cho chốt).

Ỷ vào còn đông quân, địch đã huy động lực lượng vùng 3 và vùng 4 chiến thuật, cả lực lượng tổng trù bị với các thiết đoàn thiết giáp, luân phiên liên tục mở nhiều đợt tiến công rất quyết liệt, yểm trợ phi pháo tối đa. Bộ đội ta tuy có thương vong, thậm chí có đơn vị tổn thất lớn nhưng vẫn nêu cao tinh thần quyết thắng, kiên cường đánh địch giữ chốt gây cho địch thiệt hại rất nặng nề, đánh bại mọi cuộc tấn công của chúng. Cán bộ và chiến sĩ động viên nhau, xuất hiện những phong trào, những khẩu hiệu:

- Kiên quyết giữ vững trận địa, một bước không lùi, một người một tổ là một mũi tiến công, phát huy sức mạnh từng người, từng tổ bằng sức mạnh của tiểu đội, trung đội...

- Bồi dưỡng cho nhau để mỗi người đều có thể sử dụng được 3, 4 loại vũ khí, dự trữ nhiều đạn dược trong hầm; sử dụng thật tiết kiệm đạn dược, tích cực lấy vũ khí của địch đánh địch.

- Trong cách đánh thì phong trào đánh thật gần, đồng loạt nổ súng mãnh liệt; tranh thủ thời cơ xuất kích nhanh, cự ly ngắn để diệt địch, thu vũ khí của địch đánh địch ...

Địch dùng thủ đoạn xảo quyệt hòng chọc thủng trận địa chốt chặn như:

- Dùng phi pháo đánh phá tập trung vào khu vực trận địa, mật độ cao.

- Dùng xe tăng bắn sập từng hầm.

- Đổ bộ quân dù đánh bên sườn, phía sau hy vọng chia cắt trận địa chốt chặn.

- Xe tăng kết hợp với bộ binh tấn công trước mặt, bên sườn, có ngày 5, 7 đợt ... nhưng chúng đều tổn thất và thất bại.

Thông thường sau một ngày tổ chức tấn công không chọc thủng được trận địa, địch lại lùi về điểm xuất phát, song có sự thay đổi thủ đoạn, đến chiều tối không lùi về điểm xuất phát mà bám trụ tại chỗ (ngay phía trước trận địa ta) đào hầm hố đêm đêm tiếp tế. Sáng hôm sau khi địch tổ chức tấn công dựa vào lực lượng bám trụ hôm trước, chúng nhanh chóng áp sát trận địa ta. Trong tình hình như vậy, cán bộ và chiến sĩ đ trận địa đã theo dõi các toán quân tiếp tế của địch và đề nghị cấp trên cho tổ chức những chỗ chiến đấu đêm đêm luồn vào phía sau, bí mật phục kích diệt các toán quân tiếp tế, thu lượm vũ khí. Kết quả là các toán quân địch trụ lại đành buộc phải rút lui sau một ngày tấn công vì ở lại không có tiếp tế được lương thực và đạn dược.


Một yêu cầu về tư tưởng đặt ra trong chiến đấu chốt chặn là luôn cảnh giác, triệt để giữ bí mật, không để lộ bất ngờ, tuyệt đối không mơ hồ về bản chất ngoan cố liều lĩnh của địch.

Với ý thức đó, cộng với thế trận bố trí liên hoàn, tất cả các cuộc tấn công của địch đều bị ta phát hiện. Bộ đội không lần nào bị bất ngờ và sẵn sàng chủ động, đánh trả các cuộc tấn công của địch. Anh em còn có những sáng kiến, nghi binh lừa địch, ngồi ở giao thông hào cho mũ sắt vào đầu gậy giơ lên giả như di động, địch thấy thế bắn xối xả vào đó, ta có điều kiện phát hiện các mục tiêu hỏa lực của địch để diệt chúng. Chiến tranh tâm lý của địch phổ biến là dùng máy bay rải truyền đơn và dùng loa chiêu hồi. Anh em ta nhận thức được đây cũng là lĩnh vực đấu tranh quyết liệt với địch, buông lỏng, xem nhẹ là thoái lui, tự mình làm suy yếu ý chí vốn hơn hẳn của mình trước kẻ thù. Ta đã chủ động bố trí trong từng hầm có cán bộ, hoặc đảng viên, hoặc quần chúng là chiến sĩ đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu làm nòng cốt, phản kích kịp thời những âm mưu thủ đoạn của địch.


Công tác tuyên truyền cổ động chiến đấu, khen thưởng được tiến hành thường xuyên và liên tục, kịp thời. Hàng ngày cơ quan chính trị sư đoàn ra bản tin "chiến thắng" cổ vũ các gương chiến đấu, thu và ghi lại tin tức buổi phát thanh đọc chậm của báo Quân đội nhân dân. Cán bộ từ trên xuống dưới, phía sau ra phía trước cũng được bồi dưỡng và truyền miệng tin tức.


Các lực lượng hậu cần trong nhiều hoạt động của mình đã góp phần làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho bộ đội, trong điều kiện khó khăn ác liệt như vậy vẫn đưa hết thương binh tử sĩ về phía sau trong đêm. Đội ngũ anh nuôi đêm đêm ra trận địa dưới phi pháo địch vẫn bảo đảm, cho bộ đội ở trận địa một bữa ăn nóng. Những gùi cơm nắm còn nóng gói trong ni lông, những bi đông trà nóng, món dế sáo măng được anh em rất thích, có hôm còn có cả lòng lợn... Ngoài nhiệm vụ anh nuôi anh em còn tham gia củng cố hầm hào, kể chuyện chiến thắng, chuyển tải thương binh... Chiến sĩ Cao Xuân Cởi tiêu biểu cho đội ngũ anh nuôi đã trở thành "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" chính vì tinh thần phục vụ quên mình cho cán bộ chiến sĩ giữ trận địa chốt.


Thời kỳ chiến đấu liên tục ác liệt, quân số bổ sung không kịp, sức khỏe bộ đội giảm sút. Vận dụng phương châm vừa chiến đấu vừa xây dựng, càng đánh càng trưởng thành, sư đoàn chủ trương luân phiên các phân đội từ trước về phía sau để bồi dưỡng, củng cố, phía sau ra phía trước. Với quyết tâm và kế hoạch tổ chức thực hiện chu đáo đã thu được kết quả rất tốt. Các cơ quan đơn vị phía sau tham gia xây dựng hầm hố, chuẩn bị kế hoạch và vật chất... để khi bộ đội về có chỗ ngủ nghỉ. Chúng ta dễ hình dung và cảm nhận thấy sảng khoái như thế nào sau những ngày chiến đấu căng thẳng về cứ được ngủ say sưa ngon lành, được ăn bát cơm canh nóng, được tắm giặt, cắt tóc, được chữa trị bệnh (nhất là bệnh ngoài da), khâu vá lại áo quần, sinh hoạt tập thể, phổ biến tin tức, rút kinh nghiệm chiến đấu... Sau mỗi đợt nghỉ ngắn, sức khỏe bộ đội hồi phục nhanh, tinh thần và sức chiến đấu được nâng lên, lại hăng hái ra trận địa làm nhiệm vụ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:10:09 pm »

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, mấu chốt là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, làm hạt nhân lãnh đạo đơn vị đã thành nền nếp từ trong xây dựng và chiến đấu. Bước vào chiến dịch sư đoàn đã triển khai kế hoạch tiến hành xây dựng Đảng một cách toàn diện cả về chính trị tư tưởng và tổ chức. Thông qua hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị và toàn thể cán bộ đảng viên chú trọng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị trong chiến dịch, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh.


Trong xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, vấn đề cơ bản nhất là bảo đảm cho bộ đội vững vàng về bản lĩnh chính trị, có ý chí kiên cường và tinh thần quyết chiến quyết thắng, tin tưởng ở thắng lợi, có ý thức cảnh giác cách mạng thường xuyên, ý thức tổ chức kỷ luật, phát huy dân chủ quân sự đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể... mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ đảng viên.


Trong xây dựng Đảng về tổ chức, đã giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phát huy tinh thần trách nhiệm của cá nhân. Coi trọng xây dựng chi bộ đảng và rèn luyện đội ngũ đảng viên trong chiến đấu. Trong công tác phát triển Đảng chú trọng cả số lượng và chất lượng không vì bận chiến đấu và xem nhẹ. Qua chiến đấu thử thách xuất hiện nhiều quần chúng ưu tú có điều kiện phát triển Đảng, các chi bộ kết nạp tại chiến hào... phấn đấu giữ vững tỷ lệ lãnh đạo thường xuyên ở đại đội chiến đấu từ 18 - 24%, chi bộ cơ quan có nơi đạt tới 80% đại đội chiến đấu có chi bộ, trung đội có tổ Đảng, khẩu đội, tiểu đội có đảng viên...


Đội ngũ cán bộ của sư đoàn được rèn luyện thử thách và luôn luôn kiện toàn, là những người đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và nhân dân, nhất trí cao với đường lối chủ trương của Đảng, có ý thức kiên định, kiên cường, hết lòng thương yêu chăm lo cho chiến sĩ, sao cho giữ được sức chiến đấu, tránh được thương vong.


Sư đoàn đã dự kiến những biến động trong chiến đấu nhất là ở cơ sở và lập kế hoạch bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đáp ứng theo nhiệm vụ trước mắt, có dự trữ và bổ sung cho tiêu hao, cho cấp trên; bố trí kết hợp cán bộ cũ có nhiều kinh nghiệm với cán bộ mới để có điều kiện dìu dắt nhau; cán bộ ở những đơn vị làm nhiệm vụ quan trọng... Do có kế hoạch và chuẩn bị nên có đơn vị tiêu hao đến 2, 3 lần cán bộ chủ trì vẫn chủ động bố trí kịp thời để thực hiện nhiệm vụ.


Trong quá trình sử dụng cán bộ, quan điểm của lãnh đạo và chỉ huy các cấp là chăm lo bảo toàn cán bộ, hạn chế thấp nhất thương vong. Tuy mọi hoàn cảnh vẫn thực hiện tốt nguyên tắc tập thể cấp ủy (trực tiếp là ban thường vụ) lãnh đạo toàn diện công tác cán bộ từ chủ trương, kế hoạch, biện pháp, bồi dưỡng sắp xếp bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, bàn bạc, quyết định theo quyền hạn được phân công.


Có thể khẳng định việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác tổ chức và công tác tư tưởng- là một thành công trong chiến đấu chốt chặn. Làm tốt công tác tổ chức cán bộ là điều kiện củng cố và phát huy hiệu lực công tác tư tưởng. Mặt khác phải rất nhạy bén dự kiến sự phát triển để làm tốt công tác tổ chức, công tác tư tưởng, luôn luôn đi trước một bước. Song trong quá trình chiến đấu phải tiếp tục hoàn thiện khẩn trương, sát hợp, mới thực hiện được yêu cầu. Qua chiến đấu tổ chức và tư tưởng càng trưởng thành, càng vững mạnh.


Thưa các đồng chí!

Trận địa chốt chặn hình thành lũy thép trên đường 13 nam Bình Long - bắc Chơn Thành, nơi diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực 150 ngày đêm gay go, quyết liệt nhất trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Với mật độ phi pháo cao địch cho rằng thép cũng phải chảy, nhưng lũy thép Tàu Ô - Xóm Ruộng vẫn tồn tại. Với tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu anh dũng tuyệt vời, cán bộ chiến sĩ ta đã đánh bại tất cả các cuộc tấn công của địch giữ vững trận địa luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao cho sư đoàn. Đặc biệt là tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, không cho một tên địch, một xe tăng của chúng lên được Bình Long theo trục đường 13. Tôi xin trích đoạn bình luận của báo Quân đội nhân dân và báo Nhân dân ngày ây để kết luận chuyên đề này:


Báo Quân đội nhân dân bình luận: "Chiến sĩ giải phóng trên đường 13 đã chiến đấu liên tục, bền bỉ dài ngày với niềm lạc quan cách mạng, với ý nghĩa và quyết tâm cao, quân và dân miền Đông Nam Bộ anh hùng đã biến con đường này thành con đường sấm sét và máu lửa với Mỹ - ngụy, đã gieo khiếp sợ cho kẻ thù và làm kinh ngạc cả thế giới. Đường 13 còn ghi nguyên dấu tích thất bại của quân đội Sài Gòn và của không quân Mỹ. Một loạt các sư đoàn, chiến đoàn, thiết đoàn, lữ đoàn quân ngụy đã bị đánh bại và thiệt hại nặng... một loạt những biện pháp chiến thuật trong những cố gắng hòng khai trông đường 13 bị thất bại nặng nề...".


Báo Nhân dân với nhan đề: "Những chiến sĩ trí dũng tuyệt vời trên một chiến trường tiêu biểu" đã viết: "Cuộc đọ sức lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với Mỹ, tên đế quốc xâm lược lớn nhất của thời đại, đã làm nảy sinh những lớp lớp anh hùng. Đội ngũ anh hùng mới của quân đội ta, nhân dân ta đã xuất hiện trên đường 13 ngay từ khi cuộc tiến công và nổi dậy trên tiền tuyến lớn mở ra như sấm sét giáng xuống đầu quân xâm lược".
 
N.V.T
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:12:19 pm »

CHỐT CHẶN TÀU Ô CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 7 VÀ NGHỆ THUẬT CHUYỂN HÓA THẾ TRẬN TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ

Thiếu tướng, TS ĐÀO VĂN LỢI
Giám đốc Học viện Lục quân


Chúng ta đều biết chiến dịch Nguyễn Huệ là một trong ba hướng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Lần đầu tiên chiến trường B2 tiến hành tập trung bộ đội chủ lực Miền mở chiến dịch tiến công quy mô tương đương cấp quân đoàn tăng cường đọ sức với 5 sư đoàn, 7 thiết đoàn, 5 liên đoàn biệt động quân và lực lượng địa phương của địch. Đây là một chiến dịch diễn biến hết sức phức tạp, nằm trên địa bàn gồm 4 tỉnh, thời gian kéo dài gần 10 tháng, biến đổi qua nhiều giai đoạn với nhiều tính chất khác nhau. Mặc dù ta không chiếm được thị xã Bình Long và phải chịu một số tổn thất nhất định làm hạn chế tới thắng lợi của chiến dịch, song chiến dịch Nguyễn Huệ đã đọng lại trong tâm trí chúng ta nhiều bài học quý giá sau ba mươi năm nhìn lại, trong đó chốt chặn Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 và nghệ thuật chuyển hóa thế trận là điều suy nghĩ đáng quan tâm của Học viện Lục quân chúng tôi.


Tại cuộc hội thảo này với tư cách là một cán bộ của Trung đoàn 141, thuộc Sư đoàn bộ binh 7, được tham gia từ đầu cho đến lúc kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân hai tỉnh Bình Dương, Bình Phước đã phối hợp tổ chức hội thảo khoa học và cho phép tôi tham luận, góp phần nhỏ bé vào thành công của hội thảo. Xin chúc sức khỏe của các đồng chí và chúc buổi hội thảo thành công công tốt đẹp.


Thưa các đồng chí!

Nhìn vào bản đồ chiến dịch chúng ta thấy đường 13 là đường giao thông huyết mạch, chạy từ cửa ngõ bắc Sài Gòn, qua các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, nối dài sang Cam-pu-chia; mặt khác đường 13 - Bình Long lại gần sát chiến khu Đ nên hệ thống phòng thủ của địch khá mạnh. Đoạn từ Lai Khê lên thị xã Bình Long địa hình tương đối bằng, trong đó đoạn từ ngã ba Xóm Ruộng đến nam Tân Khai là khu vực có giá trị nhất. Bởi thế nên Bộ Tư lệnh chiến dịch khi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn bộ binh 7 đã nhấn mạnh: "Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ bằng được khu vực Tàu Ô để tạo thời cơ và điều kiện cho chiến dịch dứt điểm Lộc Ninh và tiến công thị xã Bình Long - mục tiêu trọng điểm của chiến dịch; đồng thời tạo bàn đạp và đầu cầu vững chắc cho chiến dịch phát triển xuống Lai Khê, Bến Cát hoặc xuống Tây Ninh; nếu để mất nó là mất luôn bàn đạp, mất luôn thế chiến dịch".


Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, sau khi nhận nhiệm vụ, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 7 đã sử dụng Trung đoàn 209 đánh ngăn chặn bắc thị xã Bình Long, hỗ trợ cho Sư đoàn bộ binh 5 tiến công cụm cứ điểm địch ở Lộc Ninh; lực lượng chủ yếu của sư đoàn đã tập trung ở địa bàn trọng điểm trên đường 13, phía nam thị xã Bình Long từ bắc Chơn Thành 4 km đến bắc Tàu Ô (dài khoảng 10 km). Việc lựa chọn Tàu Ô là khu vưc chốt chặn chủ yếu của chiến dịch với tư tưởng chỉ đạo: "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày" là vấn đề đúng đắn và sáng tạo. Như vậy, chốt chặn Tàu Ô có giá trị rất quan trọng với chiến dịch:

- Một là: cắt đứt đường 13 đoạn nam thị xã để hình thành thế bao vây chiến dịch ngay từ đầu, chặn cho được bộ binh cơ giới, pháo binh thuộc các lực lượng dự bị chiến dịch của địch từ hướng Sài Gòn lên tăng viện đường bộ, bảo đảm cho đại bộ phận chủ lực của chiến dịch tập trung tiêu diệt quân địch ở Lộc Ninh, Bình Long, đồng thời có ý nghĩa chia cắt chiến dịch, không cho địch ở thị xã Bình Long rút chạy về hợp điểm ở căn cứ Lai Khê.

- Hai là: thu hút lực lượng chủ lực địch trên đường 13, phá thế liên hoàn chiến dịch của địch, buộc chúng phải lo mở đường, không rảnh tay tập trung lực lượng giải tỏa cho thị xã Bình Long và phản kích ra vùng ta mới giải phóng, đồng thời tạo điều kiện cho thế trận chiến, dịch và thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển.

- Ba là: tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh quan trọng, diệt gọn từng tiểu đoàn, chiến đoàn bộ binh, chi đoàn và trung đoàn thiết giáp của địch.


Nhân đây chúng ta cần nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của sư đoàn trong giai đoạn 1 chiến dịch. Đó là Sư đoàn bộ binh 7 không thụ động chốt chặn Tàu Ô chờ địch đến để đánh mà còn tích cực chủ động trong việc sử dụng Trung đoàn 141 (thiếu 1 tiểu đoàn), hiệp đồng với Sư đoàn bộ binh 5 tiêu diệt lữ dù 1 đổ bộ đường không xuống đông bắc Tàu Ô và Núi Gió (đông nam thị xã Bình Long), bẻ gãy một cánh quân ngụy định giải tỏa cho Bình Long và sau đó sư đoàn tiếp tục sử dụng Trung đoàn 165 phối hợp với Trung đoàn 141 kết hợp ngăn chặn với cơ động tiến công liên tục đánh thiệt hại nặng các chiến đoàn của sư đoàn 21; lữ dù 3 và trung đoàn 9 thiết giáp ngụy, buộc chúng phải rút chạy khỏi bắc Tàu Ô.


Có thể nói trong đợt 1 chiến dịch, Sư đoàn bộ binh 7 đã được sử dụng như một thành phần tham gia cuộc tiến công với chiến thuật chốt chặn hết sức lợi hại, góp phần quan trọng trong việc cắt đường 13, đánh bại mọi cố gắng mở đường của địch từ Lai Khê - Chơn Thành lên Bình Long, phối hợp có hiệu quả với các trận tiến công của chiến dịch giải phóng Lộc Ninh và Bình Long. Đây là thành phần không thể thiếu đối với yêu cầu những trận then chốt của chiến dịch.


Song do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiệm vụ giải phóng thị xã Bình Long, mục tiêu trọng điểm của chiến dịch chưa thực hiện được. Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương: "chuyển sang vây ép Bình Long, lấy đánh quân địch giải tỏa là chính". Lúc này, nhiệm vụ chốt chặn trên đường 13 đã mang một ý nghĩa khác, không phải để hỗ trợ đắc lực cho tiến công Bình Long mà là đánh lui, đánh bại mọi cuộc tiến công của địch muốn giải tỏa đoạn đường Sư đoàn bộ binh đang chốt giữ. Như vậy, mục đích của việc chốt chặn Tàu Ô là phù hợp với lý luận nghệ thuật tác chiến phòng ngự hiện nay. Chính mục đích chốt chặn ở đợt 2 chiến dịch mang tính chất phòng ngự nên hành động của ta và địch tranh chấp quyết liệt và dai dẳng hơn (từ 16 tháng 5 đến cuối tháng 8 năm 1972).


Để đối phó với địch ở nam Bình Long (Tân Khai - Đức Vinh) ép xuống và lực lượng chủ lực quy mô sư đoàn tăng cường từ phía Chơn Thành lên, sư đoàn bộ binh 7 sử dụng Trung đoàn 209, được tăng cường một bộ phận binh chủng chuyển vào chốt chặn, giữ vững khu vực Tàu Ô: lực lượng chủ yếu của sư đoàn chuyển sang cơ động, tập trung tiêu diệt địch giải tỏa ở các khu vực trọng yếu của chiến dịch. Khi địch chiếm được cống Ông Tề, Trung đoàn bộ binh 141 đã kịp thời cơ động xuống phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn bộ binh 209 bao vây, tiến công địch khá tốt nên đã khôi phục lại trận địa, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn biệt động quân và trung đoàn 22 ngụy. Tiếp sau đó, từ ngày 21 tháng 6 đến ngày 1 tháng 9, Sư đoàn bộ binh 7 đã dùng lực lượng cơ động kết hợp với lực lượng chốt chặn đánh bại 2 cuộc tiến công của đoàn 25 và sư đoàn 21 ngụy. Bằng nhiều hình thức chiến thuật: phục kích, tập kích, vận động tiến công... lực lượng cơ động đã kết hợp chặt chẽ với lực lượng chốt giữ đánh bật các lực lượng xen kẽ với ta, làm thất bại hoàn toàn âm mưu đánh chiếm lại đoạn đường từ Chơn Thành đên Tân Khai của chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:14:46 pm »

Thưa các đồng chí đại biểu!

Nhìn nhận lại chốt chặn Tàu Ô sau 30 năm có rất nhiều điều muốn nói. Song điều tâm đắc nhất mà chúng tôi nhận thấy có cơ sở để trả lời cho câu hỏi do Đại tướng Hoàng Văn Thái đã nêu ở Hội nghị tổng kết các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ tháng 10 năm 1985: "Chốt chặn trên đường 13 có phải là phòng ngự không?".


Theo chúng tôi, nhìn nhận chốt chặn Tàu Ô phải có cái nhìn khách quan và toàn cục, phải xuất phát từ nhiệm vụ, vị trí, vai trò tác chiến của cả Sư đoàn bộ binh 7 mới phản ảnh tính bao quát và toàn diện hơn.

Nhân đây chúng ta cũng cần nhìn nhận cho đúng lịch sử, vào thời điểm năm 1972 cụm từ "phòng ngự’ chưa thấy xuất hiện trên chiến trường. Chúng ta rất ngại nói đến phòng ngự, bởi thời kỳ đó tư tưởng chiến lược cách mạng là tiến công. Chúng ta chưa định hình, định hướng lý luận chiến thuật phòng ngự mà trong nhận thức chỉ công nhận phòng ngự ở cấp phân đội (bấy giờ gọi là chốt". Chưa ai có thể nói trung đoàn, sư đoàn phòng ngự như bây giờ. Lúc đó ở chiến trường B2 và các nơi khác đều gọi là chốt kết hợp vận động tiến công, sau đổi lại là vận động tiến công kết hợp chốt.


Theo chúng tôi nếu dùng thuật ngữ "Chốt chặn Tàu Ô" sẽ không phản ảnh đầy đủ nội dung và bản chất của nó. Từ "chốt chặn" mang tính nhỏ hẹp và nội dung hạn chế của một chốt chiến dịch. Nếu ở giai đoạn 1 chiến dịch đối chiếu với nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Sư đoàn bộ binh 7 thì thấy nó như hợp lý - chốt chặn để chia cắt cho chiến dịch; nhưng đến giai đoạn 2 chiến dịch do mục đích phải giữ vững khu vực Tàu Ô, đánh lui, đánh bại các đợt tiến công quy mô sư đoàn tăng cường của địch mà hướng tiến công chủ yếu của chúng từ Lai Khê, Bàu Bàng lên, rõ ràng mục đích đã trùng hợp với mục đích phòng ngự hiện nay chúng ta đang giảng dạy ở các học viện, nhà trường và huấn luyện ở các đơn vị trong toàn quân.


Tiếp đó xét về tổ chức và sử dụng lực lượng cũng như bố trí đội hình và cách đánh hiện nay chúng ta lại thấy bóng dáng của lý luận chiến thuật sư đoàn bộ binh phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai. Sư đoàn bộ binh 7 vừa tổ chức lực lượng phòng ngự (Trung đoàn bộ binh 209) lại vừa tổ chức lực lượng cơ động (Trung đoàn bộ binh 141 và Trung đoàn bộ binh 165). Có lúc lực lượng cơ động phải đưa một phần ra phòng ngự. Có lúc lực lượng cơ động phải liên tục dùng nhiều hình thức chiến thuật: tập kích, phục kích, vận động tiến công, đánh địch đổ bộ đường không... để đánh địch như Trung đoàn bộ binh 141 và Trung đoàn bộ binh 165 đã làm.


Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận cho đúng lịch sử. Nếu Sư đoàn bộ binh 7 phòng ngự ở một đoạn đường mà địa hình rừng bằng và trống trải như đoạn Tàu Ô - Xóm Ruộng với chính diện dưới 5 km, chiều sâu 12 km, thì quả thật chính diện phòng ngự như vậy là quá hẹp: do vậy địch đã vu hồi hai bên sườn để thực hiện chia cắt và xen kẽ vào chiều sâu phòng ngự của ta, gây khó khăn cho sư đoàn. Có những lúc tưởng như chốt của ta đã bị đánh bật và ở vào tình thế nguy ngập. Ta đã phòng ngự theo trục đường, để hạn chế hoạt động của không quân địch (chúng không thể dùng bom đánh phá trục đường), đội hình dích dắc, chưa thành thế trận hoàn chỉnh. Phòng ngự ở địa hình tương đối bằng phẳng, công sự trận địa chưa được xây dựng vững chắc, vật cản thiếu thốn, sơ sài nên kết quả sát thương địch, gây khó khăn cho chúng còn nhiều hạn chế.


Có thể nói trong hoàn cảnh địa hình phức tạp, địch đông quân và có nhiều xe tăng thiết giáp, hỏa lực không quân pháo binh rất mạnh nhưng Sư đoàn bộ binh 7 đã phòng ngự dài ngày, dai dẳng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch giao cho.

Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể khẳng định chốt chặn chiến dịch Tàu Ô là một trận chiến đấu phòng ngự cấp sư đoàn, mang dấu ấn của phòng thủ khu vực theo hướng (theo trục) tiến công của địch. Bài học phòng ngự Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 cũng như một số trận chiến đấu phòng ngự của các đơn vị khác trên các chiến trường đã để lại những kinh nghiệm quý báu và là tiền đề cho các tướng lĩnh, các nhà khoa học nghiên cứu, biên soạn thành tài liệu lý luận phòng ngự khu vực hiện nay, cũng như trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai.


Ngoài ý nghĩa của phòng ngự Tàu Ô, chúng ta còn nhận thấy chiến dịch Nguyễn Huệ, sau khi "không dứt điểm được thị xã Bình Long, đã làm hạn chế thắng lợi và ảnh hưởng tới bước phát triển của chiến dịch". Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chủ trương chuyển phương thức hoạt động: "vây lỏng thị xã Bình Long, kiên quyết chốt chặn kết hợp tiến công để tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự từ nam Chơn Thành đến bắc Lai Khê".


Để phát triển chiến dịch, Bộ Chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ đã kịp thời chuyển hóa thế trận có lợi cho ta. Chốt chặn Tàu Ô đã góp phần quan trọng vào việc kìm giữ, chia cắt địch tạo điều kiện cho các lực lượng khác bao vây thị xã Bình Long và giữ vững được vùng mới giải phóng.


Khi chốt chặn Tàu Ô rơi vào tình trạng bị bao vây chia cắt, sức ép địch ngày càng mạnh, khu chốt của ta bị đe dọa rơi vào tay địch. Trước tình hình đó, một trong những biện pháp có hiệu quả là nhanh chóng chuyển một bộ phận lực lượng bất ngờ đánh vào phía sau, nhằm vào mục tiêu hiểm yếu nhưng sơ hở buộc địch phải quay về đối phó, đẩy chúng vào thế bị động, để ta giành lại thế chủ động tiến công.


Việc Sư đoàn bộ binh 7 (thiếu Trung đoàn 209), được tăng cường Trung đoàn 205 độc lập của Miền, bí mật cơ động xuống đoạn Bàu Lồng - Lai Khê, bao vây vị trí Bàu Bàng, cắt giao thông đoạn Chơn Thành - Bàu Bàng, sử dụng tiểu đoàn đặc công sư đoàn, phối hợp đặc công Miền tiến công sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 (và hậu cứ của sư đoàn 5) ngụy ở căn cứ Lai Khê. Trung đoàn 165 vận động phục kích đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 46 thuộc sư đoàn 25 và chi đoàn thiết giáp, cắt đứt đoạn đường Bàu Bàng, Bàu Lồng, sau đó bao vây, tiêu diệt tiểu đoàn biệt động quân ở bắc Bàu Bàng. Trung đoàn 141 tổ chức một số trận đánh vào chiến đoàn 8 cắt đứt đoạn đường Bàu Bàng - Lai Khê, đây là một đòn đánh hiểm và táo bạo.


Thực tiễn lúc đó địch đang giành lại quyền chủ động lấy lại Bình Long và phản kích quyết liệt với ta, quyết tâm giải tỏa đường 13. Ta đang từ chủ động tiến công dứt điểm thị xã Bình Long phải chuyển sang vây lỏng Bình Long để quay ra đánh địch giải tỏa. Rõ ràng là tình thế chiến dịch đang khó khăn nhưng Bộ Tư lệnh chiến dịch đã mạnh dạn táo bạo đưa Sư đoàn bộ binh 7 (thiếu) cùng một số lực lượng đánh sâu, đánh hiểm vào phía sau lưng địch làm cho thế trận của địch bị đảo lộn; từ chủ động chuyển sang thế bị động và phải rút lui khỏi khu vực chốt chặn Tàu Ô.


Chúng tôi cho rằng đây là một bài học rất hay về nghệ thuật chuyển hóa thế trận, từ bị động sang giành quyền chủ động.

Liên hệ với chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này, nếu chiến dịch đưa một sư đoàn ra phòng ngự thì không thể không chú ý đến lực lượng cơ động đánh vào phía sau lưng địch để tiêu diệt những mục tiêu hiểm yếu như sở chỉ huy sư đoàn, cụm pháo binh chiến dịch, lực lượng dự bị, chuyển hóa thế trận hỗ trợ đắc lực cho lực lượng phòng ngự mới đạt kết quả tốt.


Suốt gần 5 tháng chốt chặn chiến địch, chiến đấu trong điều kiện vô cùng ác liệt, nhưng Sư đoàn bộ binh 7 đã khắc, phục mọi khó khăn thiếu thốn, kiên cường giữ vững khu vực Tàu Ô, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch giao cho. Sư đoàn đã đánh 800 trận lớn, nhỏ (trong đó 131 trận thuộc các hình thức chiến thuật: chốt kết hợp vận động tiến công, phục kích, tập kích, vây ép...); tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn (cđ32/fBB21; cđ46/fBB25), 5 tiểu đoàn, 3 chi đoàn thiết giáp, 5 pháo đội; diệt và bắt sống 8.400 tên; bắn rơi và phá hủy 119 máy bay các loại; bắn cháy và phá hủy 202 xe cơ giới...


Với những thành tích trên, kết thúc chiến dịch Nguyễn Huệ sư đoàn đã được Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền trao cờ thưởng luân lưu "Quyết chiến quyết thắng".

Chốt chặn Tàu Ô đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Một trong những bài học đó là công tác bảo đảm hậu phương cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ. Với quan điểm không để bộ đội bị đói, thiếu súng đạn và từng chốt không để thiếu quân số chiến đấu, từng đơn vị (chủ yếu là tiểu đoàn và trung đoàn) đã tổ chức nuôi dưỡng thương binh nhẹ, bệnh binh ngay tại khu vực phòng ngự để bổ sung cho chiến đấu tại chỗ, do đó đã duy trì được quân số chiến đấu liên tục ở các chốt. Tổ chức nấu cơm theo từng đại đội và mỗi khi buổi tối tới, lực lượng vận tải lại tổ chức thành đơn vị chiến đấu để mang cơm, chuyển đạn được tới từng chốt chiến đấu cho bộ đội và chuyển thương binh nặng về phía sau. Trên mặt trận này đã xuất hiện người chiến sĩ vừa làm nhiệm vụ vận tải vừa nuôi quân đã dũng cảm chiến đấu nhiều lần đánh địch phục kích dọc đường, mang cơm tới trận địa cho từng chiến sĩ. Đó là đồng chí Cao Xuân Cới đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Thưa các đồng chí!

Không giống như trong chiến tranh giải phóng, trong tình hình hiện nay, sư đoàn bộ binh làm nhiệm vụ phòng ngự dựa được vào thế phòng thủ của địa phương, của cấp trên, phòng ngự theo ý định, nhiệm vụ phương án đã được chuẩn bị từ thời bình nên có thuận lợi hơn trước đây rất nhiều. Tuy nhiên từ phòng ngự Tàu Ô của Sư đoàn bộ binh 7 chúng ta có thể rút ra được những bài học hay về phòng ngự và chuyển hóa thế trận chiến dịch trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Đ. V. L
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:18:19 pm »

CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972
BA MƯƠI NĂM NHÌN LẠI

NGUYỄN VĂN QUẢNG
Nguyên Phó chủ nhiệm Cục Chính trị
Miền năm 1972


Hội nghị Pa-ri để giải quyết chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam đã diễn ra gần đủ 4 năm. Cuộc "mặc cả" trên bàn Hội nghị ở Đại lộ Kléber (Pháp) từ hai bên rồi bốn bên cứ giằng co. Nó được ví một cách châm biếm: Hội nghị của "những người điếc"! Ám chỉ rõ hơn kẻ xâm lược là điếc... điếc nặng. Nhìn lại từ sau Mậu Thân 1968, đánh cho Mỹ chịu hòa đàm, mỗi năm đủ hai mùa -mưa nắng ở chiến trường đã có những diễn biến phức tạp. Dẫu vậy ta vẫn luôn nắm vững tư tưởng chiến lược tấn công, dù qui mô và cách đánh giữa các mùa và các vùng có lúc không đều nhau. Một điều quan trọng là ta khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng, tạo thời cơ.


Đến đây, cuối mùa khô đầu mùa mưa này đang bước vào khúc quanh quyết liệt. Ta chủ trương tiến công chiến lược 1972 trên toàn tuyến. Chiến trường được chuẩn bị tốt để phối hợp cùng "tiếng gọi" của phái đoàn ta tại Pa-ri. Sự thông tin liên lạc của Bộ Chính trị Đảng ta giữa các anh Ba Lê Duẩn, anh Lê Đức Thọ và anh Phạm Hùng từ Hà Nội tới chiến trường và bàn hội nghị Pa-ri càng chặt chẽ và luôn thông suốt về các ý định.


Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 được mở ra ở miền Đông Nam Bộ trong bối cảnh ấy. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Miền mở luôn chiến dịch đồng bằng Cửu Long nơi đông dân nhiều của, có vị thế chiến lược rất quan trọng, để "dồn" địch vào thế "đỡ không nổi".

Xin trở lại phạm vi chiến trường miền Đông, với chiến dịch Nguyễn Huệ. "Đòn" này, "Miền" định mở toang cánh cửa phía đông, nối liên hoàn hai căn cứ địa chiến khu Đ và Dương Minh Châu, gắn vào đoạn cuối đường Hồ Chí Minh thông ra Trung ương; mở rộng vùng giải phóng, làm chủ một đoạn dài quốc lộ 13, 14, giành lại một khu vực rừng núi quan trọng, tạo sức ép mạnh phía bắc Sài Gòn; mở mạnh sự phối hợp đều khắp giữa các khu 7, khu 6, khu Sài Gòn - Gia Định với toàn bộ đồng bằng Cửu Long. Chiến dịch phải tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng địch (cả chủ lực và binh quân chủng, kho tàng hậu cứ địch) diệt vào chi khu, cả tiểu khu, dành dân, giữ vùng và mở thêm vùng. Tạo thế mạnh tổng hợp cho tiến công ba mũi, phối hợp ba vùng và ba thứ quân.


Miền tập trung ba sư đoàn bộ binh chủ lực 5 - 7 - 9, sư đoàn pháo binh, các đơn vị tăng thiết giáp cao xạ và công binh trên hướng chủ yếu quốc lộ 13 (hai tỉnh Bình Long - Bình Dương), sử dụng đơn vị C30b tương đương 1 sư đoàn trên hướng thứ yếu quốc lộ 22 (bắc Tây Ninh). Hướng này nổ súng trước (1 tháng 4 năm 1972). Toàn chiến dịch có sự phối hợp với quân địa phương tại chỗ, các lực lượng dân quân du kích xã và du kích công nhân cao su các đồn điền trong khu vực chiến dịch.


Cách đánh của ta là tập trung ưu thế diệt các cụm cứ điểm (chi khu - tiểu khu) tập trung đủ sức chặn và diệt viện (quân đến giải tỏa) giữ vững nơi vừa giải phóng.

Mở màn: Sư đoàn 5 có đặc công, pháo binh, xe tăng phối thuộc diệt gọn chi khu Lộc Ninh (từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 4 năm 1972) thu bắt triệt để. Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 phối thuộc cho Sư đoàn 5 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 9 (Sư đoàn 5) chặn diệt gọn 1 trung đoàn thiết giáp địch, từ hướng biên giới cơ động về ứng cứu Lộc Ninh. Ta bắt sống tên chỉ huy (6 tháng 4 năm 1972). Lộc Ninh thất thủ, chiến đoàn 52 địch án ngữ tại ngã ba Hồng Tâm - nam Lộc Ninh không dám lên ứng cứu, rút về co cụm thị xã Bình Long, bị Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 diệt phần lớn tại Cần Lê (7 tháng 4 năm 1972)   . Bước 1 kết thúc thắng lợi giòn giã.


Bước tiếp theo, Sư đoàn bộ binh 9 được tăng cường các đơn vị pháo binh, xe tăng thiết giáp, công binh cao xạ, đặc công với qui mô lớn hơn, tấn công thị xã Bình Long. Ta song song giải quyết gọn phần các đồn, chốt, án ngữ vòng ngoài, chiếm sân bay Téc Ních. Đồng thời tiến công vào trung tâm chỉ huy địch giữa thị xã, (13 tháng 4 năm 1972) nhưng không dứt điểm hoàn toàn. Mệnh lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch (tiền phương Miền) cho chuyển qua tiến công vây ép (15 tháng 5 năm 72)...


Sư đoàn bộ binh 7 ngay từ đầu chiến dịch, dược giao "mai phục" khu vực Tàu Ô - Cần Đầm, Cần Lê trên quốc lộ 13, nhằm diệt quân địch tháo chạy, hoặc diệt bọn viện quân đỗ tới. Trong vị trí và nhiệm vụ này, Sư đoàn 7 làm tròn nhiệm vụ "chốt chặn" diệt nhiều thiết giáp và bộ binh địch. Tuy nhiên sư đoàn chưa diệt được đơn vị địch, tạo các đòn đau buộc địch phải giằng co đối phó tại trận "chốt chặn" do đó địch vẫn cơ động bằng đường không vượt qua, đổ quân dù xuống Núi Gió - một điểm cao phía đông nam thị xã, chi viện và tạo thế cho quân địch cố thủ trong trung tâm thị xã. Do thối động mạnh trên toàn bộ chiến trường bị "thốn" nặng, Ních-xơn có ý định sử dụng cả bom nguyên tử đánh ta (25 tháng 4 năm 1972 - tài liệu mật Lầu Năm Góc mới đây tiết lộ).


Cuối cùng, ta vẫn giữ vững "vây ép" và "chốt chặn", thu hút và diệt lực lượng địch vào đây, tạo cho bước phát triển lúc đó và sau này...

Qua thực tế diễn biến chiến dịch, có thể rút ra:

- Chiến dịch Nguyễn Huệ mở ra trong một thời điểm mang ý nghĩa lịch sử cực kỳ quan trọng. Chiến trường phục tùng ý đồ chiến lược chính trị - quân sự của Bộ thống soái ta trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã tập trung nỗ lực cao nhất là hoàn toàn chính xác. Điều đó chỉ rõ chiến tranh cách mạng qui định cho những bước đi, và chiến dịch này không chỉ thuần túy diệt địch làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường mà điều quan trọng trong bối cảnh kể trên, là phải góp sức vào mặt trận ngoại giao đã mở từ tháng 5 năm 1968. Chiến dịch Nguyễn Huệ cùng các chiến trường chung toàn Miền đã góp một bước lớn cho thắng lợi chiến lược, buộc Mỹ "không thể điếc mãi", phải ký hiệp định Pa-ri tháng 1 năm 1973, đó là một qui luật trong việc giành thắng lợi từng bước... dù Mỹ cũng đã "chạy tranh thủ" nhiều người khác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:19:28 pm »

2. Thời cơ và quyết tâm mở chiến dịch đúng, thì cách đánh chiến địch, đến lượt nó, có ý nghĩa quyết định trực tiếp cho chiến thắng trên chiến trường. Bộ Tư lệnh Miền đã tập trung gần như "toàn lực" cho chiến dịch ở khu vực trọng điểm. Việc cho hướng thứ yếu (C30b) nổ súng trước rất có ý nghĩa vừa diệt địch vừa nghi binh, thu hút sự đối phó lệch hướng của địch khi ta mở màn. Nhưng một điều rất quan trọng trong tiến hành chiến tranh nhân dân là sự chỉ đạo, chỉ huy, phát động lực tổng hợp toàn chiến trường, căng địch ra, tạo thuận lợi cho "trọng điểm". Đây là sự kết hợp cả thông minh - trí tuệ trong cách đánh và là một qui luật của chiến thắng. Ta thấy các khu đều nỗ lực thi đua, là kinh nghiệm tốt. Đặc biệt sự phối hợp với chiến trường chính Quảng Trị, bắc Tây Nguyên trong chỉ đạo chiến lược của Trung ương rất hoàn hảo.

- Trong chỉ đạo cách đánh chiến thuật, đã tập trung ưu thế cho từng trận như cho Sư đoàn 5 mở màn tiêu diệt một cụm cứ điểm chi khu kiên cố vùng sát biên, dù địch rất đề phòng vẫn bị "hạ" là rất tốt. "Đầu đã xuôi". Nhưng đến cách đánh thị xã Bình Long còn có "trục trặc" trong nắm địch, nắm ta, nên không thành công trọn vẹn, có hạn chế nhất định về chiến quả. Có thể thấy Sư đoàn 9 trong hợp đồng pháo binh, xe tăng, bộ binh với qui mô khá lớn lúc này chưa thật thuần thục.


- Việc chuyển Sư đoàn 5 và C30b mở chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long rất đúng ý đồ Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta. Trong lực lượng còn lại chuyển qua "tiến công vây ép" thị xã Bình Long trong điều kiện này là phù hợp. Trừ B52 "rải thảm" trên trận địa vây ép của ta gần sát hàng rào căn cứ địch, thì việc "chốt chặn Tàu Ô" không cho địch đến cứu nguy trong thị xã là khoa học, phù hợp yêu cầu chiến thuật chiến dịch.


- Việc "chốt chặn" - tuy cản phá và diệt khá nhiều cơ giới và bộ binh địch - song "phòng ngự" này nếu kết hợp với vận động tiến công tốt hơn, sẽ tạo hiệu quả có thể nhiều hơn trong ý đồ tiêu diệt đơn vị địch, tạo được các đòn đau hơn theo mục tiêu của chiến dịch, sẽ góp tốt hơn cho sự phát triển toàn bộ của chiến dịch.


3. Bối cảnh mục đích nhiệm vụ và qui mô chiến dịch bằng việc tập trung 3 sư đoàn bộ binh trên một hướng, có hợp đồng binh chủng, là lớn nhất cho đến lúc đó trên toàn Miền. Nếu so chiến dịch Bình Giã ta mới tập trung 2 trung đoàn bộ binh, chiến dịch Đồng Xoài ta tập trung được 3 trung đoàn. Mà các chiến dịch này cũng mới đề ra tiêu diệt sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo thế tạo lực mới, chớ cũng chưa đề ra giải phóng vùng để giành dân. Do vậy cường độ của hoạt động chiến dịch từ công tác đảng, công tác công tác chính trị tư tưởng, công tác bảo đảm hậu cần, quân báo trinh sát, thông tin liên lạc và cuối cùng là công tác tổ chức chỉ huy... đều được nâng lên một bước mới. Tinh thần xây đựng "quyết tâm" quyết chiến, quyết thắng, thi đua lập công giữa các đơn vị dự chiến, được đẩy lên rất sôi nổi, đánh dấu sự trưởng thành về chính trị và trình độ tổ chức chỉ huy các cấp. Đây là thành công và kinh nghiệm tốt trong chiến dịch này. Do vậy nhiều đơn vị đã lập công xuất sắc, nâng cao bản lĩnh chiến đấu vững vàng vào các chiến dịch tiếp sau.


4. Giải phóng Lộc Ninh (cùng với Thiện Ngôn - Bù Đốp) ta đã giành dân, giữ và bảo vệ vững vùng căn cứ địa mới mở là đạt tốt yêu cầu nhiệm vụ của chiến dịch. Sự phát triển thắng lợi của chiến tranh cách mạng đến đây hoàn toàn phù hợp qui luật. Qua đó mà tạo thế, tạo lực mới, phất cao thêm ngọn cờ hiệu triệu cách mạng từ vùng căn cứ ta. Lộc Ninh từ đó đến toàn thắng là "bản doanh công khai" của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo cho thanh thế cách mạng càng lên cao và là nơi ta mở lại sân bay Lộc Ninh, đón tù chính trị và tù binh chiến tranh của ta được địch trả tại đây. Lộc Ninh cũng là nơi giao dịch quốc tế sau Hiệp định Pa-ri.


Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, dù trận then chốt số 1 - tiêu diệt thị xã Bình Long không "dứt điểm", nhưng hầu hết các đơn vị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến binh chủng hợp thành có bước phát triển mới, trình độ bộ đội được trưởng thành về mọi mặt - nhất là kinh nghiệm đánh lớn đã tạo tiền đề thuận lợi cho sau này ta góp phần giành toàn thắng trọn vẹn.


Trong quá trình này thể hiện rõ nét đặc sắc về chỉ đạo chiến lược loại chiến tranh này, cùng các cách đánh thông minh và dũng cảm về chiến dịch, chiến thuật, mang đủ tính qui luật dành thắng lợi từng bước để giành thắng lợi hoàn toàn, kết thúc chiến tranh chống xâm lược Mỹ - một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử quân sự thế giới.

N.V.Q
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:21:39 pm »

CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ ĐỢT CHỐT CHẶN TÀU Ô, CỦA TRUNG ĐOÀN 141 TRONG CHIẾN DỊCH NGUYẺN HUỆ NĂM 1972

Thiếu tướng NGUYỄN NGỌC DOANH
Nguyên Chính ủy Trung đoàn 141 năm 1972


I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

1. Về địch: Từ mùa khô năm 1970-1971, Mỹ - ngụy thực hiện chiến lược "Khơ-me hóa chiến tranh", mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia nhằm tiêu diệt chủ lực ta và các cơ quan đầu não của quân giải phóng ở bên ngoài, bên trong tìm diệt hết các cơ sở cách mạng của ta ở bên trong các đô thị và vùng nông thôn, tạo ra vùng trắng để thực hiện tát nước bắt cá. Nhưng Mỹ - ngụy đã bị quân và dân ta đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch ở chiến trường đất bạn. Đồng thời ta đánh địch ở sát các căn cứ lớn buộc địch phải co lại đề phòng bị ta tấn công.


2. Về ta: Qua hai mùa khô năm 1970-1971 quân và dân ta đã đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch ở chiến trường đất bạn và đánh sát vào các căn cứ lớn của địch, buộc địch phải co lại bị động đối phó đề phòng ta tiện công, ta đã tạo ra thế và lực mới, đơn vị đang có khí thế thi đua tiêu diệt địch ở đất mẹ đẻ, để giải phóng đất đai giành dân mở rộng vùng giải phóng của ta, tạo ra thế mới và lực mới ở chiến trường tiến lên giành thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam.


3. Về địa hình, thời tiết: Địa hình, địch rải hóa học suốt chiều dài biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia và sâu vào đất ta từ 20 đến 25 km, cây đều chết hết, để ta không còn chỗ trú ém quân. Thời tiết vào mùa khô nắng nóng, nước khó khăn. Nếu ta hành quân trong một đêm không vượt qua được từ 20-25 km thì sẽ bị máy bay địch đánh tiêu diệt ta từ xa.


II. NHIỆM VỤ SƯ ĐOÀN GIAO CHO TRUNG ĐOÀN 141:

1. Nhiệm vụ chốt cứng chặn đứng không cho bộ binh, xe tăng thiết giáp địch lên và xuống qua trận địa chốt chặn Tàu Ô, nhất là địch chi viện lên Bình Long.

2. Sẵn sàng đánh địch bên ngoài chốt bằng các hình thức, đánh đổ bộ đường không, đánh tập kích và đánh vận động phục kích.

3. Vừa đánh vừa củng cố xây dựng đơn vị, càng đánh càng mạnh để đánh được liên tục dài hơi.

4. Trung đoàn nằm trong đội hình chiến đấu của sư đoàn, phải chấp hành nghiêm mệnh lệnh chiến đấu, kỷ luật chiến trường, nhất là công tác dân vận.


III. TRIỂN KHAI, QUÁN TRIỆT CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ:

1. Trung đoàn họp Đảng ủy và cấp ủy các cấp để quán triệt đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của sư đoàn giao cho trung đoàn và nêu lên những tội ác của Mỹ, ngụy đã giết hại nhân dân ta để giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời đề ra khẩu hiệu thi đua: "Tuổi trẻ Ba Vì anh dũng, lập công xuất sắc, đền ơn Bác" và học tập gương các anh hùng Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm, Trần Kim Cầu và Bê Văn Cắm.


Toàn trung đoàn đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi, chuẩn bị cho nhiệm vụ mới và tổ chức một bộ phận cán bộ chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường, đơn vị tập trung vào huấn luyện quân sự, chủ yếu vào hình thức chốt chặn, tập kích và vận động phục kích với chuẩn bị chu đáo về tổ chức, biên chế sắp xếp cơ quan gọn để tăng cường tay súng cho đại đội bộ binh, và chuẩn bị vật chất súng đạn các loại gạo, thực phẩm khô, bình đựng nước khi cán bộ đi nghiên cứu chiến trường về, cho cán bộ chiến sĩ diễn tập theo phương án chiến đấu.


Sáng ngày 1 tháng 3 năm 1972 sư đoàn nhận lệnh hỏa tốc động viên của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Buổi trưa cùng ngày lệnh của sư đoàn cho Trung đoàn 141 xuất quân. Trung đoàn xuất quân với khẩu hiệu "khí thế" như Mậu Thân, lập công như Điện Biên Phủ, đánh lớn diệt gọn như X Nun - Oót thơ Mây, giành cờ luân lưu quyết thắng có hình ảnh Bác Hồ". Với tinh thần "Khẩn trương linh hoạt, mang nặng đi gọn, đánh thắng trận đầu, lập công liên tục, đánh gục quân ngụy Sài Gòn".


2. Tập trung quán triệt cho cán bộ chiến sĩ luôn luôn cảnh giác, giữ gìn bí mật trên dọc đường hành quân với khẩu hiệu "Đi không dấu, nấu không khói, nói không lộ, đại tiện không thối), ở nơi trú ém quân và nhất là ở trận địa phải biết nghi binh lừa địch. Đồng thời phải linh hoạt xử trí những tình huống có thể xảy ra như địch phục kích cài mìn, phi pháo đánh ngăn chặn trên dọc đường hành quân, nơi trú ém quân nhất là khi ra chiếm lĩnh trận địa.


3. Quán triệt giáo dục cho cán bộ chiến sĩ, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu trong đội hình đánh lớn của sư đoàn đánh theo mệnh lệnh yêu cầu của chiến dịch và chấp hành tốt chính sách dân vận, nhất là đối với nhân dân ở vùng giáp ranh với địch để nhân dân tin yêu quân giải phóng giúp đỡ ta hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời làm tốt chính sách tù hàng binh, chiến lợi phẩm thì nhân dân sẽ yêu mến, kẻ thù phải kính trọng, ta mới giành được thắng lợi toàn diện tạo ra thế và lực mới.


IV. QUA THỰC TẾ, THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ RÚT RA MỘT SỐ KINH NGHIỆM:

1. Tập trung giáo dục chính trị tư tưởng và phát động căm thù địch cho cán bộ chiến sĩ, để có quyết tâm khắc phục khó khăn, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng địch trong mọi điều kiện khó khăn ác liệt nhất.

Trong thực tế, chiến đấu rất ác liệt giữa ta và địch phi pháo đánh phá trận địa chốt cày xới không còn cây cỏ, ta địch chiến đấu giành giật với nhau từng cái hầm và xen kẽ với nhau ở chốt, cán bộ chiến sĩ ta thiếu nước, đói cơm và cả tuần không được tắm giặt mà tinh thần chiến đấu vẫn lạc quan tin tưởng và quyết đánh thắng địch trong mọi tình huống, đánh địch lấy súng đạn, thực phẩm của địch trang bị cho ta để đánh được liên tục, giữ vững trận địa chốt chặn Tàu Ô.


2. Trên cơ sở quán triệt công tác đảng, công tác chính trị cho cán bộ chiến sĩ thông suốt nhiệm vụ để khắc phục mọi khó khăn, mà vận dụng linh hoạt sáng tạo các cách đánh của ta và dự kiến các tình huống địch có thể sử dụng để đánh phá chốt chặn Tàu Ô của ta bằng phi pháo, bộ binh, xe tăng thiết giáp với nhiều thủ đoạn khác nhau để vượt qua chốt chặn Tàu Ô lên chi viện cho Bình Long.

Trong thực tế địch sử dụng phi pháo đánh phá trận địa chốt rất ác liệt bằng pháo chụp, pháo khoan, bom phát quang, bom đào, đánh liên tục cày xới trận địa chốt chặn Tàu Ô không còn cây cỏ, thì bộ binh xe tăng thiết giáp địch mới tấn công đánh chiếm trận địa chốt chặn của ta. Nhưng cán bộ chiến sĩ ta luôn chủ động kiên cường đánh bại các thủ đoạn của địch làm chủ trận địa chốt chặn Tàu Ô, ta tăng cường công sự vững chắc như hầm chữ A hai tầng, để chống pháo khoan và nghi binh lừa địch, kiên quyết chiến đấu còn một người còn trận địa chốt. Do đó địch không vượt qua được trận địa chốt chặn Tàu Ô của ta để chi viện cho Bình Long.


Nhưng địch rất ngoan cố dùng mọi thủ đoạn như đi vòng sâu vào rừng ở phía đông cách chốt 2 đến 3km và đổ bộ đường không lữ đoàn dù xuống đông bắc chốt chặn Tàu Ô, lập thành chốt an pha. Ta lại cơ động lực lượng đánh tập kích ngay trong đêm, địch bị thất bại buộc phải sử dụng B52 đánh xung quanh chốt và đổ bộ các lữ đoàn dù xuống Núi Gió để chi viện trực tiếp cho Bình Long. Ta lại cơ động lực lượng lên đánh các lữ đoàn dù, cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất ác liệt, các lữ đoàn dù co cụm chiếm điểm cao Núi Gió để giữ Bình Long và dùng B52 đánh rất ác liệt sát vào phía sau lực lượng ta đang bao vây đánh các Lữ đoàn dù ở Núi Gió. Ta chuyển cách đánh, đánh vào các hậu cứ lớn của địch, buộc một số chiến đoàn địch lên chi viện cho Bình Long phải về cứu nguy cho các căn cứ bị đánh, ta chuyển sang đánh phục kích bên ngoài để tiêu diệt địch.


3. Thực hiện nhiệm vụ, vừa đánh vừa củng cố xây dựng đơn vị, càng đánh càng mạnh. Thực tế đã quán triệt cho cán bộ chiến sĩ, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm các trận đánh trước để vận dụng vào các trận đánh sau tốt hơn như tháng 7 năm 1972, Trung đoàn 14 cùng Trung đoàn 165 đánh phục kích ở bắc Bàu Bàng trên đường 13 tiêu diệt chiến đoàn 49 của địch, đến tháng 12 năm 1971 Trung đoàn 141 cùng Trung đoàn 209 đánh vận động phục kích chiến đoàn 8 thuộc sư đoàn 5 ngụy ở động Chanh Dầu Tiếng, bảy ngày đêm liên tục đã tiêu diệt gọn chiến đoàn 8.

Địch bị đánh tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, ta mở rộng vùng giải phóng, địch hoang mang phải co lại để đối phó. Do đó đã tạo ra cho ta có thế và lực mới ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, lực lượng ta càng đánh càng mạnh, có lòng tin vào thắng lợi để tiến tới giành thắng lợi quyết định của cách mạng miền Nam.


4. Qua thực tế chiến đấu, cán bộ chiến sĩ ta vừa chiến đấu, vừa làm tốt công tác dân vận như ở Đức Vinh Bình Long, ở Dầu Tiếng và làm tốt chính sách tù hàng binh, chiến lợi phẩm như trận diệt gọn chiến đoàn 8 của địch. Từ thực tế đó nhân dân rất ca ngợi các chiến sĩ giải phóng quân vừa đánh giặc giỏi lại biết giúp đỡ nhân dân.

N.N.D
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2026, 08:23:34 pm »

TÀU Ô - XÓM RUỘNG BA MƯƠI NĂM SAU NHÌN LẠI

Đại tá TRỊNH NGỌC NGHI
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam


Thoắt đấy đã ba mươi năm, nhưng dòng chảy của thời gian như những nghệ nhân cần mẫn chau chuốt viên ngọc chiến công Tàu Ô - Xóm Ruộng, để ngày càng cho chúng ta thấy rõ hơn những nét đặc sắc về nghệ thuật tác chiến phòng ngự của Sư đoàn 7 trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.


Thành công trước hết và quan trọng hơn hết là sư đoàn đã xác định đúng cách đánh và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật cùng với các thủ đoạn chiến đấu trong quá trình phòng ngự.

Nét nổi bật của Sư đoàn 7 trong đợt tác chiến phòng ngự kéo dài gần 150 ngày đêm ở Tàu Ô - Xóm Ruộng là đã chọn phương pháp tác chiến chính xác - phương pháp "chốt chặn kết hợp với vận động tiến công" để tiêu diệt địch. Đây là điều chưa thấy trong lịch sử đối chiến với địch của các sư đoàn Quân giải phóng miền Nam đến thời điểm đó.


Để "phá chốt, mở đường" 13, đưa các lực lượng lên ứng chiến cho An Lộc, địch dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm như: sử dụng tối đa binh, hỏa lực, thực hành bao vây kết hợp với đột phá từ nhiều hướng, nhiều mũi, cả tiến công bằng đường bộ kết hợp với đổ bộ đường không bằng trực thăng vào khu vực phòng ngự của ta. Tập trung lực lượng ưu thế, hình thành nhiều mũi đột kích vào từng điểm tựa, cụm điểm tựa. Đột phá ban ngày kết hợp với luồn lách ban đêm để lấn chốt. Tổ chức các chốt đối diện, chốt xen kẽ với các chốt của ta để vừa cắt tiếp tế, vừa tạo bàn đạp tiến công từ cự ly gần hoặc chia cắt thế trận giữa đông và tây đường, bao vây cô lập chốt. Đánh phá liên tục ngày đêm gây căng thẳng, mệt mỏi, nhanh chóng làm giảm sút sức chiến đấu của ta. Đưa xe tăng vào cự ly 300-400m, dùng bộ binh quan sát, trực tiếp chỉ mục tiêu cho xe tăng tập trung hỏa lực đánh bật từng công sự, ụ súng để ta không còn áo giáp giúp ta trụ vững, đánh bại các cuộc tiến công của chúng. Nhưng tất cả các thủ đoạn tiến công rát hiểm độc của địch, đều không thắng được phương pháp "chốt, chặn kết hợp với vận động tiến công" của ta.


Để "chốt cứng, chặn đứng", đánh bại các cuộc tiến công của 2 sư đoàn chủ lực cơ động của quân ngụy, được phi pháo chi viện rất mạnh, liên tục thay phiên nhau vào giải tỏa đường 13. Các đơn vị của Sư đoàn 7 đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu để liên tiếp đánh bại các đợt tiến công của bộ binh và xe tăng của địch vào trận địa phòng ngự. Bằng chiến thuật phòng ngự và kỹ thuật sử dụng vũ khí điêu luyện, nhất là các loại súng chống tăng B40, B41 ta đã chặn đứng được các mũi đột kích của xe tăng kết hợp với các mũi cơ động vu hồi hai bên sườn của địch; sát thương, ngăn chặn, buộc chúng phải lui ra co cụm để chờ phi pháo đánh phá. Nhưng khi co cụm, địch lại tạo điều kiện cho các lực lượng cơ động của ta khi thì vận động tiến công; khi thì tập kích bí mật, khi lại tập kích bằng hỏa lực làm cho đội hình của chúng luôn bị rối loạn và bị tiêu hao tiêu diệt. Và khi tiến công lại bị ta chặn đánh trước mặt, bên sườn, sau lưng nên lại phải lùi ra xa chờ phi pháo đánh phá dọn đường, tiếp sức. Cứ như vậy, cuộc hành quân mở đường của chúng càng ngày càng sa vào vòng luẩn quẩn, không có đường ra.


Chính việc xác định cách đánh chính xác, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật và các thủ đoạn chiến đấu mà cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 anh hùng đã băng qua mưa bom, bão đạn ác liệt của kẻ thù để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt chặn không cho địch vượt qua Tàu Ô - Xóm Ruộng để giải tỏa cho An Lộc; góp vào chiến công chung của chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến công chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Thành công thứ hai là đã xây dựng thế đứng chân vững chắc cả cho lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động, một yếu tố quyết định thắng lợi của đợt tác chiến phòng ngự.

Thế đứng chân vững chắc của các lực lượng trong tác chiến phòng ngự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó, Sư đoàn 7 đã tổ chức, xây dựng trận địa phòng ngự khu vực theo kiểu chốt, cụm chốt liên hoàn với tư tưởng chỉ đạo: tích cực, vững chắc, kiên cường và với phương châm lấy công sự, trận địa kiên cố làm hạt nhân kết hợp với các công sự dã chiến và vật cản hình thành thế trận phòng ngự hình vòng, liên hoàn, dựa được vào nhau, chi viện được cho nhau bằng cả hỏa lực và xung lực để giữ vững trận địa, giữ vững khu vực phòng ngự và sẵn sàng, chủ động chuyển hướng đánh được địch tiến công từ bất kỳ hướng nào tới. Trong thế trận đó, các công sự, trận địa chiến đấu có thể hỗ trợ, chi viện cho nhau trong mọi trường hợp; vừa có hỏa lực ngăn chặn địch, vừa cơ động được lực lượng và tạo được bàn đạp chuyển sang tiến công, phản kích quân địch được nhanh chóng. Thế trận đó khi phòng ngự, chốt giữ thì vững chắc, kiên cường, khi tiến công thì thuận lợi, sắc bén và mạnh mẽ.


Đánh địch trong điều kiện không còn sự phân biệt sự ác liệt giữa phía trước và phía sau, lại tác chiến vào mùa mưa nên việc khắc phục sụt lở, mưa dột, ấm ướt để vừa bảo đảm sức khỏe cho bộ đội đánh thắng; vừa hạn chế được thương vong khi tác chiến dài ngày với quân địch có hỏa lực phi pháo rất mạnh; vừa có điều kiện nghỉ ngơi, sinh hoạt trong quá trình chiến đấu. Để có trận địa vững chắc, các đơn vị đều làm hầm chữ A cả phía trước và phía sau; mỗi hầm chữ A được lợp ni lông trước khi lấp đất; trong hầm có nơi để lương khô, nước, đạn và cả hố tiểu tiện. Không chỉ ở trận địa chiến đấu mà cả trên đường vận chuyển, đường cơ động, đường liên lạc giữa phía trước và phía sau cùng có hầm.


Tất cả cho chốt chặn thắng lợi, tư tưởng chỉ đạo đó không chỉ thể hiện ở thế trận vững chắc cho lực lượng phòng ngự mà còn cho cả lực lượng tiến công; không chỉ là ý chí quyết tâm mà còn là tình cảm của từng cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 7 trong những ngày chiến đấu đầy ác liệt thuở ấy.


Chính nhờ có thế trận phòng ngự được xây dựng vững chắc để đánh địch một cách kiên quyết nhất, liên tục và bằng mọi lực lượng, mọi thứ vũ khí của ta và lấy được của địch; bằng mọi hình thức chiến thuật và thủ đoạn chiến đấu; ở mọi qui mô trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; luôn nhằm vào chỗ yếu, chỗ sơ hở; luôn giữ được bí mật, tạo được bất ngờ mà ta luôn chủ động đánh địch, chuyển hóa được thế trận mau lẹ, ứng phó thành công mọi tình huống ác liệt và khẩn trương, giữ vững được khu vực phòng ngự gần nửa năm trong mưa bom, báo đạn của kẻ thù.


Thành công thứ ba là ta đã khéo kết hợp chặt chẽ các loại hỏa khí để tạo nên sức mạnh hỏa lực chi viện cho bộ đội chiến đấu cả trong phòng ngự cũng như tiến công.

Trong hoàn cảnh vũ khí, trang bị kỹ thuật của ta ít hơn địch nhiều lần; pháo binh sư đoàn đã hiệp đồng chặt chẽ với pháo binh của chiến dịch để nâng cao hiệu suất diệt địch, đồng thời hạn chế được sức mạnh pháo binh của chúng. Khéo kết hợp hỏa lực của các loại pháo của cấp chiến dịch với các loại pháo mang vác của các đơn vị bộ binh, của các đơn vị binh chủng trong sư đoàn, từ khẩu pháo cỡ lớn đến khẩu cối 60mm, từ hỏa tiễn mang vác đến những khẩu B40, B41 để tổ chức thành hệ thống hỏa lực nhiều tầng, nhiều tầm trên các hướng; thực hiện hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung, phát huy hiệu quả tiêu diệt địch từ gần đến xa. Cùng với cơ động hỏa lực, các đơn vị còn tích cực lợi dụng địa hình, địa vật, tranh thủ thời cơ để cơ động các loại hỏa khí, khi ẩn, khi hiện để đánh địch. Tích cực củng cố công sự, trận địa và chú trọng ngụy trang, nghi binh để hạn chế được thương vong do hỏa lực của phi pháo địch gây ra. Nếu như các loại pháo mang vác của sư đoàn với độ chính xác cao đã phát huy được hiệu lực của rió trong tác chiến ở cự ly gần (cả khi đánh địch tiến công vào trận địa cũng như khi ta tiến công địch ngoài trận địa), thì pháo lớn cũng làm tốt nhiệm vụ đánh địch ở các mục tiêu xa như ở Dầu Tiếng, Chơn Thành, Lai Khê... Cả trong đánh địch co cụm dã ngoại cũng như trong diệt viện, trong chặn đứng các mũi tiến công cũng như trong phản pháo dịch. Qua một thời gian dài đối chiến với ta ở Tàu Ô - Xóm Ruộng; chính quân ngụy đã phải kêu lên: "Kỹ thuật bắn pháo của cộng sản vô cùng lợi hại, súng chống chiến xa của cộng sản bắn không trật phát nào". Ngoài vũ khí, đan dược của ta, ta đã dự kiến và huấn luyện cho bộ đội ngay được chiến lợi phẩm lấy được của địch. Đây là một trong những yếu tố góp phần tăng cường sức mạnh để đánh địch được dài ngày. Nhờ kết hợp chặt chẽ và sử dụng khôn khéo các loại hỏa khí mà Sư đoàn 7 đã phát huy được sức mạnh hỏa lực chi viện cho bộ đội giữ vững khu vực phòng ngự suốt gần 150 ngày đêm, không để một tên địch, một chiếc xe tăng nào vượt qua đường 13, ứng viện cho quân của chúng ở An Lộc.


Gần một phần ba thế kỷ đã đi qua, nhưng tinh thần "còn người còn trận địa", "tất cả cho phòng ngự thắng lợi" vẫn còn tươi rói với những chiến công ở Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7 anh hùng; và hôm nay cũng như mai sau những kinh nghiệm về chọn phương pháp phòng ngự, tổ chức thế trận, tổ chức hỏa lực trong phòng ngự vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn của nó.

T.N.N
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:48:15 pm »

BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TỔNG QUAN VỀ CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972

TS. NGUYỄN VĂN DIỆU
Giám đốc Trung tâm Sử học
Viện Khoa học Xã hội
tại TP. HỒ Chí Minh


I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ:

1. Sau thắng lợi to lớn vang dội của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn bộ chiến trường Nam Việt Nam gây chấn động dư luận thế giới và dư luận Hoa Kỳ, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản "Chiến lược chiến tranh cục bộ", buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta (Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) tại Pa-ri và chuyển "Chiến tranh cục bộ" sang "Phi Mỹ hóa chiến tranh" - thay đổi màu da xác chết trên chiến trường Việt Nam, bắt đầu thời kỳ rút dần quân Mỹ trực tiếp tham chiến về nước....


Tuy thắng lợi của ta lúc bấy giờ là vô cùng to lớn, nhưng những tổn thất về lực lượng cách mạng mà địch đã gây ra cho ta sau đó (nhất là từ cuối năm 1968 đến năm 1969) trên chiến trường cũng không nhỏ và để lại những hậu quả nặng nề đối với các căn cứ địa và vùng giải phóng mà phải mất ba bốn năm sau mới khôi phục lại được....


2. Tháng 6 năm 1969, R.Ních-xơn thay L. Giôn-xơn lên làm Tổng thống Hoa Kỳ đã công bố "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" thay cho "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam. Do vậy, từ tháng 6 năm 1969 đến năm 1972, là ba năm mà Mỹ - ngụy dành những nỗ lực to lớn nhất và toàn diện nhất để thực hiện bằng được "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh", tạo điều kiện thuận lợi cho quân Mỹ trực tiếp tham chiến rút dần về nước. Trong những năm 1969 đến 1972, Mỹ đã dành cho ngụy viện trợ quân sự, kinh tế và khoa học kỷ thuật to lớn nhất so với bất giai đoạn nào trong suốt 21 năm thực hiện cuộc chiến tranh (1954-1975) ở Nam Việt Nam.


- Về mặt quân sự: các biện pháp cơ bản của "Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" đều được thực hiện đến mức cao nhất như: quân sự hóa cao độ và bộ máy ngụy quyền miền Nam Việt Nam so với những năm trước đó; xây dựng 1.100.000 quân chính quy của ngụy quyền với trang bị vũ khí tối tân, hiện đại và vũ trang chỗ 400.000 phòng vệ dân sự ở cơ sở xã, ấp. Chương trình bình định vùng nông thôn rộng lớn và đông dân ở miền Nam Việt Nam được triển khai trên các bình diện (quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa), nhất là tâm lý chiến, chiêu hồi với các tổ chức mới (Phượng Hoàng, Thiên Nga) đạt hiệu quả cao nhất trong suốt cuộc chiến tranh (1954-1975).


Với sự viện trợ cao nhất của Hoa Kỳ và bằng các biện pháp nói trên, cho đến cuối năm 1970, trên toàn miền Nam, địch đã dồn được toàn bộ chủ lực quân của ta đên tận biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Trong nội địa, chúng đã kiểm soát được trên 14,5 triệu dân trên tổng số 17,6 triệu dân ở miền Nam Việt Nam hồi bấy giờ. Kiểm soát 11.444 ấp, khóm trên tổng số 11.811 ấp, khóm tại miền Nam Việt Nam.


- Về phía ta, vùng giải phóng bị thu hẹp, chủ lực bị dồn sang bên kia biên giới, bộ đội địa phương giảm sút.... Không chỉ thế, với sự yểm trợ về không quân, hải quân và pháo binh cơ giới của Mỹ, chúng đã thực hiện những cuộc hành quân với quy mô lớn chưa từng có sang vùng Đông - Bắc Cam-pu-chia và Đường 9 - Nam Lào nhằm đánh bật chủ lực quân của ta ra khỏi biên giới và đánh phá hậu cần, cắt đứt một cách triệt để mọi đường tiếp viện của ta trên bộ và trên biển từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường miền Nam; đồng thời xóa sổ các căn cứ kháng chiến của ta trong nội địa và bên kia biên giới Cam-pu-chia và Lào, hòng làm cho chủ lực quân của cách mạng miền Nam không còn đủ sức hoạt động ở Cam-pu-chia và Lào. Tăng quân số và hiện đại hóa đến mức cao nhất quân ngụy để đủ sức ngăn chặn sự tiến công của quân chủ lực của ta từ miền Băc và miền Nam rút quân Mỹ trực tiếp tham chiến về nước. Tập hợp liên minh phản động trong khu vực (Lào, Cam-pu-chia...) do ngụy quyền miền Nam Việt Nam làm nòng cốt, nhằm gia tăng sức đề kháng đối với lực lượng miền Bắc Việt Nam, bảo đảm cao nhất an ninh lãnh thổ "Việt Nam cộng hòa".


3. Từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 4 tháng 11 năm 1971, theo lệnh Mỹ, quân ngụy Lon Non đã mở cuộc hành quân Chen La II (Chân Lạp II) trên đường số 6 nhằm uy hiếp căn cứ của ta ở Đông - Bắc Cam-pu-chia. Bọn Lon Non tích cực tranh mua lương thực, thực phẩm, nhiên liệu và các loại nhu yếu phẩm cần thiết cho bộ đội với hậu cần căn cứ của ta trên thị trường Cam-pu-chia hồi bấy giờ, gây khó khăn cho ta trong việc tạo nguồn tiếp tế, dự trữ... Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1971, chủ lực quân của ta phối hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia đánh bại cuộc hành quân Lon Non trên đường số 6 và cuộc hành quân "Toàn thắng Đại Bàng 2" của ngụy quyền miền Nam tại khu vực Đầm Be lần 1, lần 2, phía bắc đường số 7 trên dất Cam-pu-chia để giải tỏa thế uy hiếp của địch từ phía sau lưng căn cứ của ta và mở rộng vùng giải phóng bên kia tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, tạo ra chỗ đứng chân an toàn để tiếp nhận 20 vạn quân bổ sung, nhiều đơn vị binh chủng, nhiều vũ khí, trang bị và phương tiện chiến đấu mới như xe tăng, thiết giáp, tên lửa chống tăng B72, tên lửa A72.... từ miền Bắc vào.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM