Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:17:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972  (Đọc 3958 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:50:06 pm »

4. Do vậy, nếu như trong nội địa miền Nam Việt Nam, ta phải tạm thời chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ và ác liệt nhất trong suốt cuộc chiến tranh, thì ở ngoài biên giới (trên chiến trường Cam-pu-chia và Lào), lực lượng cách mạng ba nước Đông Dương lại phát triển cao nhất và tạo thế chiến lược nói chung thuận lợi hơn bao giờ hết. Sau khi chủ lực của ta và bạn đánh bại các cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - ngụy, sang Đông - Bắc Cam-pu-chia năm 1970, 1971 và phát triển thế tiến công, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển vượt bậc, đã tạo ra bàn đạp chiến lược mới của ta từ hướng biên giới phía Tây - Nam có thể tiến công về miền Đông Nam Bộ một cách rất thuận lợi. Nhất là sau những thắng lợi to lớn của quân và dân ta và các bạn ở Cam-pu-chia, Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum, Cao nguyên Bôlôven vào năm 1971, đã tạo ra được nhiều khu giải phóng rộng lớn phía Tây của giải Trường Sơn và vùng Đông - Bắc Cam-pu-chia. Từ đây, hành lang chiến lược Bắc - Nam lại được thông suốt và liên hoàn giữa ba nước trên bán đảo Đông Dương. Cũng từ đây trở đi, khối bộ đội chủ lực của ta, kể cả chủ lực quân của cách mạng miền Nam và lực lượng dự bị chiến lược từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chu nghĩa được đưa vào chiến trường miền Nam một cách thuận lợi. Lực lượng này được củng cố và đứng chân vững vàng tại nhiều bàn đạp dọc theo tuyến biên giới phía Tây Nam, tạo ra một thế chiến lược mới đủ sức uy hiếp địch từ phía Tây xuống. Đáy là một hình thế mới cho chiến dịch Nguyễn Huệ.


5. Cùng với những chuyển biến mới trên chiến trường ba nước Đông Dương vào đầu năm 1972, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Pa-ri giữa ta và địch cũng chuẩn bị di vào hồi kết thúc.

Những thực tế trên chiến trường như đã trình bày ở trên đã đặt ra cho ta và đối phương, ai nỗ lực vượt bậc để đem lại hiệu quả trên chiến trường, thì bên ấy sẽ giành được thắng lợi quyết định trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pa-ri. Do vậy, mà vào đầu năm 1972, cuộc chạy đua vũ trang giữa ta và đối phương trở thành một cuộc chạy đua có ý nghĩa lịch sử nhằm đưa cuộc chiến tranh vào bước ngoặt có lợi cho ta.


6. Với thế tương quan về lực lượng giữa hai bên trên chiến trường miền Nam Việt Nam hồi bây giờ, đối phương lại tự đánh giá quá cao những thắng lợi tạm thời của họ, như cho rằng: chương trình "bình định" trên toàn miền Nam đã giành được thắng lợi quyết định. "Thanh bình đã trở lại với đồng bằng sông Cửu Long"1 (Tướng J.Pôn-van - cố vấn Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long hồi bấy giờ). Đồng thời, cho rằng đối phương (nghĩa là Việt Cộng) đang bị vây hãm vào một tình thế bị động về chiến lược và chiến thuật những năm sau Tết Mậu Thân (năm 1968).


Tháng 2 năm 1972, trên mặt trận ngoại giao, R.Nich-xơn đã hội đàm với Mao Trạch Đông về vấn đề Việt Nam....?

Trên cơ sở đó, càng làm cho đối phương tin rằng: ta khó đủ sức để tiếp tục cuộc chiến đấu ác liệt dài đối với chúng, nên hoạt động quân sự của ta chiến trường miền Nam năm 1972 cũng chỉ ở mức độ như năm 1971. Từ đó, mà chủ trương chiến lược của đối phương đề ra cho năm 1972 và đầu năm 1973 là: tiếp tục rút quân chiến đấu người Mỹ về nước, đi đôi với việc hoàn thiện trang bị vũ khí, khí tài hiện đại cho 1.100.000 lục quân chủ lực ngụy. Đồng thời, nhanh chóng hiện đại hóa không quân và hải quân ngụy; đẩy mạnh chương trình "bình định" và chúng dự tính "đến năm 1975, kiểm soát trọn vẹn 11.000 ấp chiến lược trên toàn miền Nam Việt Nam". Đồng thời, "quét sạch mọi căn cứ lõm của ta... đưa cuộc chiến tranh đi vào tàn lụi"1 (Theo kế hoạch AB 147 của bộ tổng tham mưu ngụy hồi bấy giờ).


7. Về phía ta, Bộ Chính trị cho rằng "Ta không đánh giá thấp những chỗ mạnh hiện có của địch, không coi thường những khó khăn địch đã và còn gây cho ta, cũng như những khuyết điểm, nhược điểm của ta sau đợt 1, đợt 2 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu Thân 1968....". Trên cơ sở thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong mùa xuân năm 1971, cùng với việc Mỹ buộc phải rút thêm quân và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào năm 1972... đã tạo ra một thời cơ mới, mở ra cho ta triển vọng chiến thắng rõ ràng. Đó là cơ sở thực tiễn để ta khẳng định rằng chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đã thất bại một bước nghiêm trọng và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn.


Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng giữa địch và ta trên toàn chiến trường ba nước Đông Dương, Bộ Chính trị đề ra phương hướng lớn cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 là: "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn chiến trường Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam; đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến trường ở miền Nam và Đông Dương.


Dựa trên cơ sở phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cho cuối năm 1971 và cả năm 1972 nêu trên, tháng 8 năm 1971, Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng như Đông Nam Bộ, Trị - Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc Tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng.
Lúc đầu, lấy miền Đông Nam Bộ làm hướng chủ yếu, nhưng về sau, đến tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị đã quyết định chuyển sang lấy Trị - Thiên là hướng tiến công chủ yếu.


"Chiến dịch Nguyễn Huệ" với quyết tâm phải giành được thắng lợi lớn trên hướng chiến lược ở miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam sẽ tạo ra hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và địch đã kéo dài 4 năm tại Hội nghị quốc tế Pa-ri về Việt Nam hồi bấy giờ.

Đó chính là bối cảnh lịch sử của "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:53:12 pm »

II. TỔNG QUAN VỀ "CHIẾN DỊCH NGUYÊN HUỆ" NĂM 1972 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

1. Địa bàn mở "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972.

a) Khu vực mở chiến dịch Nguyễn Huệ nằm về phía bắc Sài Gòn, bao gồm 4 tỉnh: Bình Long, Phước Long, Tây Ninh và Bình Dương.

Chính diện của địa bàn mở chiến dịch rộng từ 130 đến 140 km dọc theo biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia (từ Tà Pang Robon thuộc Tây Ninh đến quận Bù Đốp tỉnh Phước Long). Chiều sâu từ 120 đến 130km từ biên giới đến nam thị xã Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương. Toàn bộ địa bàn mở "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 là hướng phòng thủ chủ yếu của địch ở miền Đông Nam Bộ nhằm bảo vệ Sài Gòn từ hướng bắc. Và đây cũng là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa chủ lực ta và chủ lực địch trong suốt cuộc chiến tranh, nhất là từ năm 1960 đến năm 1975.


b) "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 diễn ra trên hai hướng: đường 13 là hướng tiến công chủ yếu, còn đường 22 là hướng thứ yếu. Trên cả hai hướng này đều có địa hình rừng băng xen kẽ rừng khộp (rừng dầu), rừng le. Dọc theo đường 13 và đường 22 là bạt ngàn rừng cao su (rừng băng) trải dài đến sát các thị xã, thị trấn Lộc Ninh, Bình Long.... tạo cho địa hình mở chiến dịch Nguyễn Huệ trở nên kín đáo, thuận tiện cho ta hành quân bộ binh và cơ giới tiếp cận các mục tiêu và tổ chức đánh vận động phục kích địch quân hai bên đường.


Càng về phía bắc, địa thế càng cao, có nhiều rừng già vốn là những căn cứ bàn đạp của ta rất thuận tiện cho việc triển khai cơ sở hậu cần chiến dịch.

Thổ nhưỡng ở đây được cấu tạo bởi những lớp phù sa trầm tích lâu đời nên rắn chắc, trên đó có hệ thống đường giao thông chiến lược như: đường 22, đường 13, đường số 1, đường 14, các tỉnh lộ, liên tỉnh lộ và nhiều đường mòn của các xe be kéo gỗ xuyên rừng... tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ động lực lượng, triển khai các loại binh khí, kỹ thuật như: xe tăng, xe thiết giáp, xe cơ giới, pháo binh của cả hai bên ta và địch.


Chiến dịch mở ra vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa, nên đường sá còn khô ráo, thuận lợi. Nhưng vào giữa và cuối mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 10) thì mực nước ba con sông lớn như: Vàm Cỏ Đông phía tây đường 22, sông Sài Gòn phía tây đường 13, sông Bé phía đông đường 13 dâng lên cao, hệ thống suối trên địa bàn mở chiến dịch đầy ắp nước gây khó khăn cho việc cơ động lực lượng tác chiến...


2. Lực lượng đối đầu giữa ta và địch trên địa bàn chiến dịch:

a) Về phía địch: trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 của ta trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, địch đã huy động 68 tiểu đoàn chủ lực; 456 xe tăng, xe thiết giáp; 396 khẩu pháo, 134 máy bay chiến thuật tại sân bay Biên Hòa: 67 liên đội, 146 đại đội bảo an, 820 trung đội dân vệ, 164.000 phòng vệ dân sự có vũ trang. Đó là chưa kể tới máy bay ném bom chiến lược B 52 và các loại máy bay cường kích của Mỹ yểm trợ tối đa bất cứ lúc nào, bất cứ ở tọa độ nào trong khu vực khi có yêu cầu.


Với binh lực hùng hậu nói trên, bố trí chiến lược của địch ở miền Đông Nam Bộ được điều chỉnh theo hướng phòng ngự từ xa, lấy hướng đường 22 làm hướng phòng ngự chủ yếu. Vì chúng cho rằng quy mô và mục tiêu của cuộc tiến công của ta đều rất hạn chế.


b) Về phía ta: trái lại ta quyết tâm dùng lực lượng mạnh, để đánh lớn từ tuyến biên giới đến tuyến trung gian và lấy đường 13 làm hướng tiến công chủ yếu, đường 22 chỉ là hướng thứ yếu, nhằm nghi binh, thu hút lực lượng địch để phục vụ cho hướng chủ yếu của địch.


- Lực lượng chiến dịch của ta tập trung với mức độ cao nhất ở miền Đông Nam Bộ kể từ trước đến lúc đó, bao gồm: sư đoàn 5, sư đoàn 7, sư đoàn 9, đơn vị C30B (có 2 trung đoàn bộ binh số 24 và số 271 của Bộ tăng cường), 2 tiểu đoàn đặc công, một đại đội thiết giáp 6 chiếc M41, M24, M113, 1 tiểu đoàn (thiếu) pháo cối; 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,8 mm; 3 trung đoàn địa phương quân của các phân khu miền Đông, các tiểu đoàn địa phương các tỉnh và các đại đội của các huyện sở tại đánh địch tại chỗ phối hợp với lực lượng bộ đội của chủ lực trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.


- Khác với các thời kỳ trước đó, trong "Chiến dịch Nguyễn Huệ" năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ, phía ta không chỉ có bộ binh tại chỗ và các loại pháo, cối mang vác thông thường, mà còn được tăng cường thêm bộ binh chủ lực từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cùng pháo cơ giới hạng nặng, hỏa lực phòng không khá mạnh. Đặc biệt, xe tăng T54 lần đầu tiên xuất hiện trên chiến trường miền Đỏng Nam Bộ. Cụ thể là ta có 47 tiểu đoàn bộ binh chủ lực (biên chế trong 3 sư đoàn 5, 7, 9 và 3 trung đoàn độc lập).


Tổng cộng bộ binh chủ lực tham chiến của ta trong Chiến dịch Nguyễn Huệ tương đương với một quán đoàn tăng cường, với sự chi viện của 9 tiểu đoàn pháo hỗn hợp, bao gồm: 51 khẩu pháo 105-122, 85, cối 120-160, 106,7 ly và hỏa tiễn H12; 2 tiểu đoàn và một đại đội xe tăng thiết giáp (78 chiếc); 166 súng phòng không 12,8 và 37 mm.


Tất cả lực lượng quân sự nói trên của ta đều đứng chân ở phía bên kia biên giới trên khu vực Đông Bắc Cam-pu-chia. Cùng với 30 tiểu đoàn bộ đội địa phương các phân khu các tỉnh và 63 đại đội bộ đội huyện đứng chân tại địa phương cùng phối hợp tác chiến chung trong khu vực mở Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.


Bộ đội ta sau những ngày chiến thắng trong năm 1971, bước vào Chiến dịch Nguyễn Huệ đầu năm 1972, với khí thế quyết chiến, quyết thắng cao.

Xét về số lượng quân đội và vũ khí, khí tài giữa ta và địch trong chiến dịch, ta kém hơn địch: bộ binh chủ lực của ta có 47 tiểu đoàn, địch có 68 tiểu đoàn. Ta chỉ bằng 69% bộ binh của địch. Pháo mặt đất của ta có 51 khẩu; địch có 396 khẩu. Ta chỉ bằng 13% của địch. Xe tăng và xe thiết giáp, ta có 78 chiếc; địch có 456 chiếc. Ta chỉ bằng 17% của địch. Súng phòng không ta có 166 khẩu, phải đương đầu với 134 máy bay chiến thuật của địch. Đó là chưa kể B52 và máy bay từ hạm đội 7 của Mỹ chi viện khi có yêu cầu trong khu vực mở chiến dịch và vùng phụ cận. Tuy nhiên, sự so sánh như trên cũng là tương đối. Vì rằng, lực lượng bộ đội và binh khí - kỹ thuật của ta được sử dụng tập trung trên một số hướng tiến công nhất định (chủ yếu là hướng đường 13). Còn lực lượng bộ binh và binh khí - kỹ thuật của địch phải phân tán để đối phó với ta trên toàn chiến trường miền Đông Nam Bộ.


Đó là đặc điểm về so sánh sử dụng lực lượng địch - ta ở chiến trường địch trong cuộc chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến không có chiến tuyến rõ rệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:54:54 pm »

3. Nhiệm vụ chiến lược của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

Nhiệm vụ chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, như sau:

- Sử dụng bộ đội chủ lực Miền và lực lượng được tăng cường từ miền Bắc vào mở chiến dịch tiến công trên hướng bắc Sài Gòn, phối hợp với các chiến dịch tiến công ở Trị - Thiên và bắc Tây Nguyên, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, giải phóng một khu vực có ý nghĩa chiến lược, khôi phục và mở rộng địa bàn đứng chân của chủ lực tại miền Đông Nam Bộ, tạo điều kiện cho nông thôn sở tại nổi dậy phá bình định của địch.

- Đi đôi với mở chiến dịch tiến công ở chiến trường rừng núi, phải đẩy mạnh đánh phá bình định ở vùng đông dân tại miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, phối hợp với quả đấm chính trị ở nội đô Sài Gòn.

- Đánh đến một mức độ nào đó, dù thắng lớn hay thắng vừa cũng phải điều một bộ phận chủ lực từ miền Đông xuống đồng bằng sông Cửu Long làm nòng cốt cho chiến dịch đánh phá bình định ở đây (Khu 8 - miền Trung Nam Bộ) từ tháng 5 năm 1972 đến cuối năm 1972.    

- Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược mà Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao cho Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã thông qua việc tổ chức Bộ Tư lệnh chiến dịch Nguyễn Huệ, do Trung tướng Trần Văn Trà (Tư lệnh) và Bộ Tư lệnh Miền thường trực tại Sở chỉ huy cơ bản, do Trung tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng làm Chính ủy và Đại tá Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng. Bộ Tư lệnh Miền đóng tại Snun, thuộc Cam-pu-chia.

- Nhiệm vụ cụ thể của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ chỉ được giao cụ thể trong bước một của chiến dịch như sau:

- Sư đoàn 5 được tăng cường thêm Trung đoàn 3, thuộc Sư đoàn 9 đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu trên hướng chủ yếu của chiến dịch là: tiến công tiêu diệt địch, giải phóng khu Lộc Ninh, giành toàn thắng cho trận then chốt, mở đầu Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.

- Sư đoàn 7 luồn sâu bao vây, chốt chặn địch dọc theo đường 13 từ Cần Lê xuống bắc Chơn Thành, kiên quyết tiêu diệt quân tiếp viện, cũng như quân tháo chạy (từ hướng Lộc Ninh, Hồng Tâm xuống Bình Long).

- Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 3) làm dự bị chiến dịch, sẵn sàng tiến công thị xã Bình Long khi có lệnh của cấp trên.

- Đơn vị C30B gồm 2 trung đoàn bộ binh 24 và 271 của Bộ tăng cường, 2 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo cối (thiếu) 1 tiểu đoàn (thiếu) súng máy phòng không 12,8 mm đảm nhận nhiệm vụ tiến công trên hướng thứ yếu (đường 22) được phép nổ súng đầu tiên mở màn chiến dịch, thực hiện nghi binh, thu hút và kềm giữ địch; đồng thời nắm thời cơ phát triển nhanh xuống phía Nam.

- Trung đoàn pháo binh 75 tập trung hỏa lực chi viện cho các trận đánh then chốt trên hướng chủ yếu, chi viện cho đánh điểm cũng như cho đánh diệt viện binh của địch.

- Lực lượng phòng không tập trung hỏa lực khống chế không phận đường 13 và sẵn sàng đánh địch đổ bộ đường không trên hướng chủ yếu của chiến dịch.

- Tiểu đoàn xe tăng 20 dùng 2 đại đội hiệp đồng với bộ binh để tiến công Lộc Ninh, sau đó phát triển xuống Bình Long theo đường 6 - Trà Thanh.

- Công binh tập trung bảo đảm cho pháo và xe tăng vào trận địa, bố trí các bãi mìn chống tăng ở các khu vực chốt chặn, nhanh chóng chuyển qua bảo đảm cho hướng phát triển khi đội hình xe pháo đã triển khai xong.

- Đặc công kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương đánh những trận mở đầu vào căn cứ kho tàng phía sau của địch cùng ngày với hướng chủ yếu của chiến dịch, để nghi binh, thu hút địch, tiếp đó phối hợp với hướng chủ yếu đánh sân bay Téc Ních và đánh phá các căn cứ Biên Hòa - Long Bình hỗ trợ cho chiến dịch...

- Dự kiến ta đánh đến một mức độ nào đó, dù thắng lớn hay thắng vừa cũng phải đưa bớt một bộ phận lực lượng bộ đội chủ lực xuống đồng bằng sông Cửu Long làm nòng cốt cho chiến dịch đánh phá bình định ở Khu 8 -  miền Trung Nam Bộ theo như ý định của Trung ương đã chỉ đạo.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch Nguyễn Huệ đã được tiến hành theo đúng kế hoạch: trong 6 tháng, bước 1, từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1971. Bước 2, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972. Tât cả đã sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công của cấp trên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2026, 08:56:15 pm »

4. Thắng lợi của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.

a) Đúng 1 giờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1972, đơn vị C30B được lệnh nổ súng tiến công vào đội hình phòng ngự của chiến đoàn 49 ngụy tại Xa Mát - Bàu Dung (đông bắc Tà Xia) và bắc Thiện Ngôn mở màn chiến dịch.

Cho đến 2 giờ 40 phút ngày 2 tháng 4 năm 1972, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Xa Mát, diệt một bộ phận lực lượng của chiến đoàn 49 ngụy. Tiếp theo, từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 4 năm 1972, ta tiếp tục tấn công các đơn vị của chiến đoàn 46 ngụy ở bắc Thiện Ngôn, không cho chúng nống lên phía bắc, bẻ gãy ý định lập chốt đầu cầu để tái chiếm Xa Mát. Cũng thời gian này, các phân khu thuộc miền Đông Nam Bộ, bộ đội địa phương và dân quân du kích đồng loạt nổ súng đánh địch tại chỗ để phối hợp với chiến dịch đã mở màn.


Sau bốn ngày đêm chiến đấu mở màn chiến dịch, ta đã giành thắng lợi giòn giã trên hướng thứ yếu: tiêu diệt cụm cứ điểm tiền tiêu của địch ở Xa Mát, đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 49 ngụy, làm chủ một vùng lãnh thổ từ bắc Thiện Ngôn đến tận biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Đồng thời, ta đã triển khai trót lọt lực lượng lớn vào hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch. Tuy nhiên, ta không thu hút và cầm giữ được lực lượng cơ động của địch vào hướng thứ yếu (đường 22) như mong muốn.


b) Đúng 5 giờ 30 phút ngày 5 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 5 nã pháo cấp tập vào cụm cứ điểm phòng thủ của địch ở khu Lộc Ninh - trận đánh then chốt mở đầu chiến dịch. Trận đánh này kéo dài cho tới sáng ngày 6 tháng 4 năm 1972.

Từ 9 giờ sáng đến hết ngày 6 tháng 4 năm 1972, ta còn phục kích đánh suốt ngày 6 tháng 4 năm 1972 và tiêu diệt gọn thiết đoàn 1 và tiểu đoàn 74 biệt động quân ngụy từ xã Lộc Tân ở gần biên giới kéo về cứu nguy cho chi khu Lộc Ninh. Còn tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 9 ngụy - lực lượng cứu viện cho Lộc Ninh thì hốt hoảng luồn rừng chạy về phía nam cũng bị quân ta chặn đánh, diệt 900 tên, bắt 490 tên, phá hủy 56 xe, thu 32 xe, pháo, trong đó có 12 xe tăng M41 của Mỹ. Từ đây, lực lượng hỗ trợ vòng ngoài của chi khu Lộc Ninh đã bị ta quét sạch.


- Đúng 5 giờ 30 phút ngày 7 tháng 4 năm 1971, sau khi ta đã mở hết cửa, phá bảy vòng hàng rào dây thép gai, dưới sự yểm trợ của hỏa lực phòng không đánh trả máy bay địch, đại đội 10 thuộc tiểu đoàn xe tăng số 20 của ta phối hợp với bộ binh ta xung phong đánh chiếm cụm cứ điểm của chiến đoàn 9 ngụy trong chi khu Lộc Ninh... Cho đến 7 giờ sáng ngàv 7 tháng 4 năm 1972, ta hoàn toàn làm chu cụm cứ điểm của chiến đoàn 9 địch trong chi khu Lộc Ninh.


Chi khu Lộc Ninh thất thủ, toàn bộ hệ thống đồn bót bảo an, dân vệ trong khu vực hoàn toàn tan rã. Phía bắc Lộc Ninh trên đường 14, địch ở quận Bù Đốp rút chạy, phía nam Lộc Ninh, chiến đoàn 52 ngụy bỏ căn cứ Hồng Tâm chạy về hướng Bình Long cũng bị quân ta phục kích diệt một bộ phận lớn (diệt 800 tên, bắt 400 tên, thu 14 pháo, cối từ 105 đến 155 mm của địch).


- Cùng thời gian này, trên hướng đường 22, đơn vị C30B tiếp tục tiến công, bức địch rút bỏ hệ thống đồn bốt từ nam Trại Bí lên tận biên giới và làm chủ hoàn toàn một đoạn đường dài 30km bắc Tây Ninh.

- Sau 8 ngày tiến công trên cả hai hướng: đường 22 và đường 13, ta tiêu diệt, loại khỏi vòng chiến đấu 3 chiến đoàn, 1 tiểu đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn, cùng một số lớn quân bảo an, dân vệ, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, diệt và bứt rút nhiều đồn bốt địch...


- Ta đập tan tuyến phòng thủ phía trước trên vòng cung bắc Sài Gòn dọc theo biên giới miền Đông Nam Bộ và đập tan chiến thuật phòng ngự chiến đoàn của địch.


c) Trên hướng tiến công chủ yếu đường 13, thị xã Bình Long - khu quyết chiến trung tâm của chiến dịch, sau 32 ngày đêm (từ ngày 13 tháng 3 năm 1972 đến ngày 15 tháng 5 năm 1972), ta kết thúc cuộc tiến công vào thị xã Bình Long và cũng đồng thời kết thúc đợt 1 của chiến dịch. Ta vẫn tiếp tục vây hãm thị xã Bình Long, nhưng ta không dứt điểm được thị xã Bình Long đã làm hạn chế thắng lợi và ảnh hưởng đến bước phát triển tiếp theo của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở Đông Nam Bộ... Tiếp đó, từ ngày 16 tháng 5 năm 1972 đên ngày 18 tháng 5 năm 1972, Sư đoàn 5 và đơn vị C30B của ta được điều đến Khu 8 làm nòng cốt cho "Chiến dịch Nguyễn Huệ 2" đánh phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền Đông Nam Bộ.


d) Cũng trên hướng chủ yếu của chiến dịch, từ ngày 5 tháng 4 năm 1972 đến ngày 28 tháng 8 năm 1972, trải qua 150 ngày đêm chốt chặn trên đường 13 và cơ động chiến đấu ở khu vực Chơn Thành, Ngọc Lầu, Tân Khai, Đức Vinh, giữ vững chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng, đánh bại ý đồ giải tỏa đường 13 của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn, bao vây, tiến công thị xã An Lộc, củng cố được vùng mới giải phóng ở Lộc Ninh, Bù Đốp, đáp ứng yêu cầu chiến dịch đề ra. Tuy nhiên, ta chưa có những chiến thắng thối động tại khu vực chốt chặn đường 13.


Trong 150 ngày đêm vượt muôn ngàn khó khăn gian khổ và ác liệt, chiến đấu ngoan cường, Sư đoàn 7 bộ đội chủ lực của ta đã đánh thiệt hại nặng các đơn vị thuộc các sư đoàn 21, sư đoàn 5, sư đoàn dù (lữ 2), chiến đoàn thiết giáp, biệt động quân và nhiều đồn bốt bảo an, dân vệ của địch (tiêu diệt và bắt sống trên 8.000 trên địch, thu giữ và phá hủy nhiều vũ khí, khí tài và các phương tiện chiến tranh của địch).


Thành tích tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng trên đường 13 đã góp phần xứng đáng vào thành tích chung của Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 ở miền Đông Nam Bộ.

N.V.D
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM