Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:06:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vành đai diệt Mỹ ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phón  (Đọc 3720 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 11:56:05 am »

Quán triệt chỉ đạo, hướng dẫn trên, học tập kinh nghiệm của Khu 5, quân dân miền Đông Nam Bộ đã xây dựng và phát triển vành đai diệt Mỹ như vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến (Long An) và Bình Đức (Mỹ Tho) bao vây kìm chân Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ; vành đai diệt Mỹ Bến Cát, Lái Thiêu (Bình Dương), Lai Khê, Công Xanh (Thủ Dầu Một) bao vây kìm chân Sư đoàn bộ binh "Anh cả đỏ" Mỹ... Nổi bật là vành đai diệt Mỹ Củ Chi do bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Củ Chi tổ chức và xây dựng quanh căn cứ quân sự Mỹờ Đồng Dù nằm ở phía Bắc, cách Sài Gòn 30km. Từ ngày 21 tháng 6 năm 1966, khi quân Mỹ đóng căn cứ ở Đồng Dù, nhân dân Củ Chi đã phát triển một hệ thống địa đạo dài hơn 200km dựa trên 17km có sẵn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, sâu 5 đến 10 mét cùng 500km đường hào lộ thiên, hình thành mạng đường giao thông ngầm trong vành đai trên địa bàn 40.000ha. Hệ thống hầm hào bảo đảm bí mật, an toàn khi ta cơ động lực lượng, ẩn nấp, nghỉ ngơi, có nguồn dự trữ để chiến đấu lâu dài. Vành đai diệt Mỹ còn tạo thời cơ và địa bàn cho các đơn vị chủ lực của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh địch ngay tại căn cứ xuất phát của chúng. Riêng năm 1966, vành đai diệt Mỹ Củ Chi đã diệt được 4.230 tên Mỹ. Tháng 2 năm 1966, Hội nghị Tổng kết chiến tranh du kích của Quân khu Sài Gòn- Gia Định đã rút ra và phổ biến rộng rãi: "10 bài học đánh Mỹ" của Củ Chi. Kinh nghiệm đánh Mỹ của Củ Chi nói riêng, quân dân miền Đông nói chung đã được Bộ Tổng tham mưu phổ biến cho các chiến trường khác, tạo nên phong trào đánh Mỹ ở khắp nơi. Tuy vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc hành quân tìm diệt, nhưng từ tháng 3 năm 1966, Mỹ buộc phải để một phần quân cơ động giữ phía sau, không tập trung được hết lực lượng vào hướng chính.
Khi quân Mỹ bắt đầu đưa quân ra "tìm diệt" chủ lực ta, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các chiến trường phát huy lực lượng tại chỗ, kết hợp chủ lực cơ động để tiến công, phản công tiêu hao, tiêu diệt địch, bẻ gãy các cuộc phản công chiến lược của chúng. Đồng thời, lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục chống phá bình định. Theo phương hướng trên, Trung ương Cục chỉ thị: "Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh"1 (Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr. 102). Chấp hành chỉ thị, quân và dân miền Nam nói chung, miền Đông Nam Bộ nói riêng đã từng bước phát hiện chỗ yếu của Mỹ, tìm cách đánh được Mỹ trên từng chiến trường. Vào mùa khô 1965-1966, địch tung 72 vạn quân, có 18,4 vạn quân Mỹ, mở cuộc phản công lần thứ nhất với ý đồ "tìm diệt" và "bẻ gãy xương sống Việt Cộng" ở cả Nam Bộ và Trung Bộ, quân dân ta đã liên tục phản công và tiến công quân Mỹ, ngụy.


Tại miền Đông Nam Bộ, các đợt tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực có vị trí rất quan trọng. Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1965, Bộ Tư lệnh Miền đã thành lập hai sư đoàn bộ binh số 9, số 5. Được sự giúp đỡ của nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, các sư đoàn chủ lực đã thực hiện nhiều trận đánh với hiệu suất chiến đấu cao, tiêu biểu như diệt 2 tiểu đoàn Mỹ ở Bàu Bàng, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Mỹ ở Bàu Ba Dốt, đánh quỵ Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 Mỹ tại Bông Trang - Nhà Đỏ... phá được thế chuẩn bị phản công của Mỹ vào vùng Chiến khu Đ, Chiến khu Dương Minh Châu. Ngược lại, hoạt động mạnh của bộ đội chủ lực có tác dụng thúc đẩy hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương kết hợp các đợt tập kích của bộ đội đặc công, biệt động.


Phong trào đấu tranh vũ trang lớn mạnh tạo nên sự phát triển của phong trào đấu tranh chính trị. Ở Đông Nam Bộ, khi sư đoàn "Anh cả đỏ" ra lập căn cứ và đi càn quét, phụ nữ Củ Chi, Trảng Bàng đã tràn ra đồng ruộng cản xe bọc thép, không cho chúng cán lúa, bám vào càng trực thăng không cho chúng bắt thanh niên, ngăn chặn chúng đốt phá nhà. Ở Sài Gòn, các tầng lớp nhân dân lao động bằng nhiều hình thức phong phú, thường xuyên đấu tranh gây mất ổn định hậu phương của Mỹ - ngụy.


Bị thất bại trong phản công chiến lược lần thứ nhất, Mỹ tiếp tục tăng quân vào miền Nam. Đến mùa khô 1966-1967, 98 vạn quân trong đó có 39 vạn quân Mỹ tiến hành cuộc phản công lần thứ 2, bằng biện pháp chiến lược "tìm diệt và bình định" tập trung vào hướng miền Đông Nam Bộ. Cụ thể là ưu tiên tập trung lực lượng tiến công vào căn cứ của ta ở Tây Ninh, Long An, Phước Tuy..., trọng điểm là Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và một bộ phận chủ lực ta, kết hợp mở rộng vành đai quanh Sài Gòn. Bộ Tổng tham mưu với kinh nghiệm sẵn có, đã báo cáo Quân uỷ Trung ương, Bộ Chính trị kế hoạch Đông Xuân 1966-1967, nêu rõ ý định tác chiến của ta là chủ động tấn công, tích cực phản công tiêu diệt bộ phận quan trọng sinh lực địch. Trong đó kế hoạch nhấn mạnh đánh mạnh hậu cần, đường giao thông, làm chậm kế hoạch tăng quân và phá kế hoạch triển khai chiến lược của Mỹ, đồng thời mở rộng căn cứ địa ở rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 6, áp sát vào Sài Gòn, Đà Nẵng, tạo thế chiến lược có lợi cho ta. Trong khi chủ động tấn công, kế hoạch cũng yêu cầu ta chuẩn bị xây dựng kế hoạch phản công tiêu diệt địch trong trường hợp chúng chủ động mở hành quân tấn công đánh phá chuẩn bị của ta.


Đúng như dự đoán, Mỹ lần lượt mở các cuộc hành quân A tơnbơrơ, Xêđaphôn, Gadsen đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, vùng tam giác sắt (Bầu Bàng - Bến Súc - Củ Chi). Bám sát diễn biến chiến trường miền Đông Nam Bộ, Bộ Tổng tham mưu đã có những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể cho Bộ Tư lệnh Miền trong những chiến dịch, trận đánh phản công. Chỉ 6 ngày sau khi Mỹ mở cuộc hành quân Xêđaphôn, Bộ Tổng tham mưu đã phán đoán mục tiêu hành quân của Mỹ nhằm diệt chủ lực ta, làm giảm hoạt động du kích, phá kho tàng, diệt cơ quan đầu não, tìm hiểu những bí mật về tiếp tế của ta ở hướng biên giới Việt Nam - Campuchia, phá vành đai cách mạng bao quanh Sài Gòn - Chợ Lớn... Vì vậy Bộ Tổng tham mưu yêu cầu Bộ Tư lệnh Miền tập trung lãnh đạo, chỉ huy toàn quân, toàn dân trong vùng và toàn chiến trường miền Đông bẻ gây cho kỳ được cuộc hành quân này. Bộ Tổng tham mưu đã gợi ý những chủ trương và biện pháp tác chiến cụ thể, bao gồm phát động chiến tranh du kích, đánh tiêu hao rộng rãi, dùng một bộ phận chủ lực, bộ đội địa phương, du kích, phân tán đánh nhỏ. Bộ Chỉ huy nắm chắc khối chủ lực kiên quyết tập trung tiêu diệt một cánh quân yếu hoặc nơi địch sơ hở, có thể nhử Lữ đoàn 173 dù ra để tiêu diệt. Các đơn vị pháo, cối, đặc công, công binh đánh mạnh giao thông vận chuyển trên đường số 1, 13, 22; đưa một lực lượng thọc sâu phá áp chiến lược ở hướng Lái Thiêu, Phú Hòa Đông, đẩy mạnh hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Chiến trường phụ cận như Lộc Ninh, Bình Long nên đánh mạnh bằng pháo, cối để phối hợp1 (Điện số 61/B - Lưu hồ sơ 1967 - Cục Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 11:57:52 am »

Ngay trước cuộc hành quân Gianxơn Xity, Bộ Tổng tham mưu đã phát hiện ra âm mưu của địch đánh phá vùng căn cứ của ta và kịp thời chỉ đạo chiến trường chuẩn bị đối phó. Địch đánh phá vào căn cứ ta, nên có nhiều sơ hở, tạo cơ hội cho ta diệt địch, và đây cũng là yêu cầu chính trị, yêu cầu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ cơ quan đầu não, bảo vệ dân. Từ đó, Bộ Tổng tham mưu chỉ ra cách đối phó cụ thể: địch dùng nhiều xe cơ giới, ta tổ chức nhiều đội công binh đánh mìn. Địch triển khai quân lớn thì ta đánh phá mạnh giao thông. Trong lúc đó, bộ đội chủ lực bám sát và cơ động đánh tiêu diệt vài cánh quân yếu của Mỹ để bẻ gãy cuộc càn. Các đơn vị đặc công đánh mạnh vào căn cứ xuất phát, hậu cứ hành quân của Mỹ2 (Điện số 175/B - Lưu hồ sơ 1967 - Cục Cơ yếu Bộ Tổng tham mưu).


Đúng như dự đoán, ngày 22 tháng 2 năm 1967, Mỹ mở cuộc hành quân Gianxơn Xity: huy động 45.000 quân thuộc 9 lữ đoàn Mỹ đánh Chiến khu Dương Minh Châu, trong đó nhằm chủ yếu vào hệ thống căn cứ của ta ở Bắc Tây Ninh. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, chỉ đạo chỉ huy của Bộ Tư lệnh miền, lực lượng tại chỗ của ta dựa vào thế trận có tổ chức, đánh địch rộng khắp. Sư đoàn 9 tiến công các cánh quân địch sơ hở ở phía sau và bên sườn, nổi bật như trận tập kích suối Ông Hùng và trận Đồng Pan. Sang giai đoạn 2, khi địch lật cánh đánh sang phía Đông, Bộ Chỉ huy ta chủ trương phát huy quả đấm chủ lực, đánh tiêu diệt tiểu đoàn Mỹ. Bộ đội địa phương và du kích, tự vệ cơ quan được trang bị mạnh tổ chức các tổ săn cơ giới máy bay; thực hiện đánh nhỏ lẻ kết hợp đánh vừa, đánh lớn của bộ đội chủ lực. Đêm 20 tháng 3, một trung đoàn của Sư đoàn 9 tập kích căn cứ hỏa lực Mỹ ở Bầu Bàng, 2 trung đoàn khác tiến công cụm quân Mỹ ở Đồng Rùm, diệt 1 tiểu đoàn pháo binh, 3 chi đội xe thiết giáp. Ngày 30 tháng 3, hai trung đoàn của Sư đoàn 9 tập kích đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn và 2 đại đội Mỹ ở ấp Gù (Trảng Ba Vùng)... Chiến dịch phản công của quân dân miền Đông đã giành thắng lợi lớn, làm thất bại cuộc hành quân lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ, bảo vệ và giữ vững vùng căn cứ kháng chiến.


Mùa khô 1966-1967, bộ đội chủ lực cùng với nhân dân và các lực lượng địa phương đánh bại ba cuộc hành quân lớn của địch vào miền Đông Nam Bộ. Lực lượng vũ trang địa phương trụ bám tại chỗ đánh trả địch càn quét, bình định, lấn chiếm vùng xung quanh Sài Gòn - Gia Định. Ngoài ra, du kích còn thọc sâu diệt ác ôn, tề điệp trong ấp chiến lược.


Thắng lợi của quân dân hai miền Nam Bắc tạo ra tiền đề vững chắc để thực hiện mục tiêu chiến lược giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn được chỉ ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 12. Ngày 20 tháng 6 năm 1967, Quân ủy Trung ương đã yêu cầu "phải tiến công mạnh bằng cả quân sự và chính trị vào các thành phố, thị trấn, các trung tâm chính trị do quân ngụy chiếm đóng, làm rung chuyển dinh lũy cuối cùng của ngụy quân ngụy quyền, tạo thời cơ và điều kiện để thực hiện tổng công kích tổng khởi nghĩa"1 (Nghị quyết số 043/QH-H của Thường trực Quân ủy Trung ương, lưu tại Hồ sơ 524 - Phòng QUTƯ - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Trong kế hoạch này, Quân ủy Trung ương đã xác định Sài Gòn - Chợ Lớn và miền Đông Nám Bộ là một trong3chiến trường quyết định, là chiến trường hết sức quan trọng về chiến lược và chính trị. Ở đây, phương hướng của ta là: "Thực hiện bao vây chặt chẽ Sài Gòn - Chợ Lớn, đánh mạnh và làm tê liệt các đường giao thông chiến lược quan trọng chạy vào thành phố, buộc địch phải phân tán lực lượng vào phòng giữ các nơi hiểm yếu. Tấn công mạnh vào thành phố bằng cả lực lượng chính trị và quân sự. Dựa vào sức mạnh của ba triệu dân nội ngoại thành và lực lượng vũ trang ba thứ quân có hỏa lực tương đối mạnh, có 6 cách đánh rất cơ động, linh hoạt, kết hợp với đấu tranh chính trị, ta sẽ hãm địch vào thế bị động và rối loạn đến cùng cực. Cùng với thắng lợi của chiến trường khác, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam2 (Nghị quyết số 043/QH-H của Thường trực Quân ủy Trung ương, lưu tại Hồ sơ 524 - Phòng QUTƯ - Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng).


Trên cơ sở quyết tâm của Trung ương Đảng, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tham mưu đã đề nghị cấp trên cho mở hướng tiến công chiến lược chủ yếu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của Mỹ - ngụy ở đô thị. Sau khi được Bộ Chính trị đồng ý, Bộ Tổng tham mưu đã phối hợp cùng chiến trường xây dựng kế hoạch một cách tỷ Mỹ, toàn diện và chỉ đạo chuẩn bị trên quy mô lớn theo những quy định chặt chẽ, nghiêm mật.


Ngày 9 tháng 9 năm 1967, đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã báo cáo với Bộ Tổng tham mưu kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa của Trung ương Cục miền Nam. Trung ương Cục nhất trí với chủ trương của Trung ương Đảng và kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu. Kế hoạch của Trung ương Cục dự kiến tổ chức 3 chiến trường: Sài Gòn- Gia Định, rừng núi giáp ranh Sài Gòn, đồng bằng Khu 9 và một phần Khu 8; tổ chức 5 cánh quân bao vây, tấn công Sài Gòn, chiếm Chợ Lớn. Lực lượng dự kiến gồm 27 tiểu đoàn, 9 đội biệt động nội thành. Bộ đội chủ lực có 7 trung đoàn của các Sư đoàn 5, 7, 9... Ngày 12 tháng 9, Bộ Chính trị đã đồng ý với phương hướng kế hoạch này và xác định rõ Sài Gòn - Chợ Lớn là hướng chủ yếu của Nam Bộ và toàn miền Nam.


Đến cuối tháng 9, Bộ Tổng tham mưu đã có dự thảo kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở miền Nam, trong đó chỉ rõ: Trung ương Cục trực tiếp chỉ huy công kích khởi nghĩa ở trọng điểm Sài Gòn và các đô thị khác như Phan Thiết, Mỹ Tho... Nam Bộ có 3 sư đoàn và 2 trung đoàn ở miền Đông, 2 trung đoàn của Khu 9, 6 tiểu đoàn của Khu 8 có nhiệm vụ diệt và làm tan rã sư đoàn 5, 7, 21 ngụy, tuyệt đại bộ phận bảo an dân vệ, giải phóng vùng nông thôn; tiêu diệt bộ phận quan trọng Sư 1 bộ binh Mỹ, cắt đường số 1, 4, 15, 13, 20, sông Lòng Tàu, kênh Chợ Gạo, đánh tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hoà, các hậu cứ, kho tàng, tổng kho Long Bình, các mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn1 (Hồ sơ 2211, phông Cục Tác chiến, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 11:58:40 am »

Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 1967, miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn đã có 3 sư đoàn (thiếu 2 trung đoàn), 3 trung đoàn độc lập, 7 tiểu đoàn đặc công, 18 tiểu đoàn bộ đội địa phương và 1,9 vạn du kích. Trong tổng số 61 tiểu đoàn, ta có 46 tiểu đoàn cơ động2 (Hồ sơ 2211, phông Cục Tác chiến, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Bộ Tổng Tham mưu đánh giá: chủ lực cơ động của ta ở miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn đã đạt tỷ lệ ta - địch là 1,8/1, các trung đoàn đã tác chiến được ở cấp mình và mới được bổ sung thêm lực lượng, pháo binh. Bộ đội đặc công bước đầu sử dụng tập trung, đánh đúng hướng. Tuy nhiên, tổ chức chỉ huy chưa được củng cố, thiếu quân bổ sung, bảo đảm đạn dược, gạo có khó khăn, chưa đủ, các cánh quân chưa được kiện toàn đủ mạnh, bàn đạp xung quanh Sài Gòn thường xuyên bị địch đánh phá. Vì vậy, Bộ Tổng tham mưu dự kiến tăng cường lực lượng, vật chất cho các chiến trường nói chung, Nam Bộ nói riêng. Theo đó, cho đến Xuân 1968, Nam Bộ sẽ nhận được 23.500 quân, 5.000 tấn hàng quân sự đủ bảo đảm hoạt động, có dự trữ 1 đến 2 năm.


Ngày 11 tháng 11 năm 1967, một lần nữa, Bộ Tổng tham mưu trao đổi với Bộ Tư lệnh Miền về kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn. Theo đó, trong đợt Tết, quân dân miền Đông Nam Bộ có nhiệm vụ chiếm giữ Sài Gòn trong một thời gian dài, khuếch trương thắng lợi, sẵn sàng đánh bại mọi phản ứng của Mỹ. Chuẩn bị cho Nam Bộ, Bộ Tổng tham mưu chủ trương đưa quân từ Tây Nguyên vào. Trong tổng công kích, tổng khởi nghĩa, các lực lượng vũ trang tấn công Sài Gòn chia làm 4 cánh, sử dụng các đơn vị chủ lực chiếm giữ các mục tiêu. Chín đội đặc công đánh chiếm một số mục tiêu quan trọng trong nội đô như Dinh Độc lập, Nha Cảnh sát, Đài phát thanh, Bưu điện, Kho bạc. Bộ chỉ huy điều động những đơn vị tinh nhuệ nhất lùng bắt Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, các bộ trưởng ngụy, v.v... Để đảm bảo chỉ huy, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tổng tham mưu thống nhất phân công đồng chí Trần Văn Trà, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh phụ trách Sài Gòn; đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Cầm chỉ huy hướng Chợ Lớn... đồng chí Phạm Thái Bường, Nguyễn Hữu Xuyến phụ trách Khu 9.


Đúng kế hoạch, đêm giao thừa Tết Mậu Thân, quân dân Đông Nam Bộ đã đồng loạt nổ súng tiến công vào Sài Gòn, Biên Hòa, các tỉnh lỵ, huyện lỵ. Đặc biệt, tại Sài Gòn, lực lượng biệt động và các đơn vị mũi nhọn đã tiến công Tòa đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Dinh Độc lập, Đài phát thanh Sài Gòn. Các sư đoàn chủ lực áp sát Sài Gòn tiến công nhiều căn cứ, kiềm chế các sư đoàn Mỹ, ngụy, đánh bại các cuộc hành quân, càn quét của chúng quanh thành phố. Những thắng lợi to lớn và toàn diện ở Sài Gòn - Gia Định đã góp phần quyết định vào thắng lợi chung của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.


Sau đợt 1, dưới sự chỉ đạo hoạt động quân sự, chính trị của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền sau khi được tăng cường lực lượng, vật chất, đã động viên tới mức cao nhất nỗ lực quân sự, chính trị, tổ chức tiếp đợt 2 (5-1968), đợt 3 (8-1968) nhằm đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ.


Cùng với chiến thắng liên tục trong 2 cuộc đánh bại phản công mùa khô của Mỹ, thắng lợi oanh liệt của ta trong Tết Mậu Thân đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ, giáng đòn quyết định làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ", buộc Mỹ phải bắt đầu quá trình xuống thang chiến tranh, chuyển sang chiến lược "phi Mỹ hoá", chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pari.


Như vậy, trong cao trào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Miền, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, ác liệt, hy sinh để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ". Thực tiễn chiến tranh đã cho thấy, Bộ Tổng tham mưu đã luôn luôn bám sát thực tế chiến trường, tổ chức chi viện kịp thời sức người, sức của, phối hợp với Bộ Tư lệnh Miền lập ra và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch quân sự, làm phá sản các âm mưu của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ và Bộ Tổng tham mưu ngụy Sài Gòn. Ở miền Đông Nam Bộ, chiến tranh nhân dân phát triển mà đỉnh cao là các vành đai diệt Mỹ, cùng với hoạt động tác chiến rất quan trọng của bộ đội chủ lực đã tạo nên thế làm chủ, thế chủ động tiến công cách mạng, buộc Mỹ - ngụy phải đánh theo cách của ta, góp phần không nhỏ cùng quân dân toàn miền Nam tiến lên đánh bại các chiến lược quân sự của Mỹ - ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Bộ Tổng Tham mưu trong giai đoạn 1965-1968 đã trưởng thành qua thực tiễn chiến tranh thực sự là Bộ Tổng tham mưu của chiến tranh nhân dân với ba thứ quân chiến đấu trong quân binh chủng hợp thành. Bộ Tổng Tham mưu đã làm tròn chức năng tham mưu cho lãnh đạo, tổ chức chỉ huy các chiến trường. Bộ Tổng tham mưu không chỉ là cơ quan tham mưu quân sự của một quân đội mà là Bộ Tổng tham mưu của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện. Trong mỗi ý định xây dựng và tác chiến, mỗi kế hoạch chiến lược, chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu đều có chủ trương, kế hoạch phối hợp hoạt động của bộ đội chủ lực với vấn đề nổi dậy của quần chúng, đấu tranh vũ trang phối hợp với đấu tranh chính trị, binh vận; giữa 3 vùng chiến lược với vận dụng phương châm tác chiến ở mỗi vùng khác nhau.


Ngày nay, hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo đó, đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ này là đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Bộ Tổng Tham mưu đã cụ thể hóa quan điểm quân sự của Đảng, vận dụng và phát huy sáng tạo những kinh nghiệm đã được tổng kết trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có bài học kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ vào việc chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Bộ Tổng Tham mưu đã tăng cường chỉ đạo các lực lượng vũ trang ba thứ quần, tổ chức hợp lý các cơ quan quân sự của Quân khu, tĩnh, huyện; tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền điều hành công tác quân sự địa phương, trong đó có những vấn đề cụ thể như xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, bao gồm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng dự bị động viên, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành, v.v... Thế trận quốc phòng toàn dân cùng với thế trận an ninh nhân dân tạo nên nền tảng vững chắc, góp phần ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và các lợi ích quốc gia, dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 12:04:12 pm »

NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH "VÀNH ĐAI DIỆT MỸ"
Ở CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ

NGUYỄN HỮU NGUYÊN
Tiến sĩ, Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn thành phố Hồ Chí Minh


Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam kéo dài 21 năm (1954-1975), trong đó có 6 năm đầu (1954-1960) ta tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, còn quân địch thì dùng cảnh sát, mật vụ để đàn áp những người kháng chiến cũ. Cuộc chiến tranh chỉ thực sự rõ nét từ năm 1961 trở đi và đến thời kỳ Mỹ đưa quân chiến đấu vào miền Nam tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" (1965-1968), khái niệm "vành đai diệt Mỹ" mới ra đời. Về ngôn ngữ học thì điều này không có gì phải bàn vì chỉ khi có quân chiến đấu Mỹ ở miền Nam thì mới có "vành đai diệt Mỹ", nhưng nhìn từ góc độ nghệ thuật quân sự thì ta cần nghiên cứu: phải chăng hình thức chiến đấu theo kiểu "vành đai" chỉ xuất hiện thời kỳ có quân Mỹ. Vậy trước đó hình thức này có hay không và sau đó còn được vận dụng nữa không. Và có phải quân Mỹ đóng căn cứ ở bất cứ nơi đâu ta cũng có thể hình thành được "vành đai diệt Mỹ".


Những vấn đề này không chỉ nhằm nghiên cứu sâu hơn về "vành đai diệt Mỹ" dưới góc độ nghệ thuật quân sự mà còn nhằm tìm hiểu những vấn đề có tính lý luận của hình thức chiến đấu này để có thể vận dụng vào nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành ngày nay.


1. Quá trình hình thành và hoạt động của các "vành đai diệt Mỹ" ở chiến trường Nam Bộ

Trước hết chúng ta cần xác định cách hiểu khái niệm "vành đai diệt Mỹ" và những yếu tố cơ bản cấu thành khái niệm đó.
- Một là, phải được tổ chức theo ý định và được lãnh đạo bởi cấp ủy địa phương, có chỉ huy thống nhất.
- Hai là, phải hình thành được thế bao vây căn cứ Mỹ
- Ba là, phải có khả năng chiến đấu liên tục, lâu dài, đánh địch bằng nhiều hình thức, nhiều lực lượng tham gia, trong đó nhân dân đóng vai trò rất quan trọng.
- Bốn là, phải có khả năng tiêu hao và cầm chân lực lượng địch.


Cách hiểu về "vành đai diệt Mỹ" nêu trên có thể được chứng minh bằng thực tế quá trình hình thành và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ:

Quân chiến đấu Mỹ chính thức triển khai lực lượng vào chiến trường miền Nam để tiến hành chiến lược "chiến tranh cục bộ" từ giữa năm 1965. Lực lượng Mỹ lúc cao nhất ở Nam Bộ gồm 4 sư đoàn và một số đơn vị độc lập cùng với một số cơ quan chỉ huy được bố trí như sau:

- Bộ Tư lệnh MACV đóng ở Sài Gòn
- Bộ Tư lệnh dã chiến II đóng ở Biên Hòa
- Bộ Tư lệnh Hậu cần ở Long Bình
- Bộ Tư lệnh Không đoàn 2 ở Tân Sơn Nhất
- Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" gồm 4 lữ đoàn đóng ở Dĩ An - Biên Hòa, Lai Khê.
- Sư đoàn 101 đóng ở Phước Vĩnh (Bình Dương), Phước Long
- Sư đoàn 25 "tia chớp nhiệt đới" đóng ở Đồng Dù (Củ Chi), Trảng Lớn (Tây Ninh).
- Sư đoàn 9 đóng ở Rạch kiến, Tân An, Bến Lức (Long An), Bình Đức (Mỹ Tho).
- Lữ đoàn 173 đóng ở Nhà Bè
- Trung đoàn 11 thiết giáp đóng ở Long Khánh
- Trung đoàn Úc đóng ở Núi Đất (Bà Rịa)
- Sư đoàn quân Thái Lan đóng ở Long Thành.


Như vậy nếu tính những điểm đóng quân quy mô 1 lữ đoàn trở lên ở thời điểm quân Mỹ đông nhất ở Nam Bộ (1968) thì có khoảng gần 20 điểm, nếu tính cả những căn cứ cấp tiểu đoàn thì số lượng này cao hơn.

Ở tất cả những điểm trên, quân và dân ta đều đánh Mỹ bằng nhiều lực lượng, nhiều cách đánh, nhưng được gọi là "vành đai diệt Mỹ" theo đúng nghĩa thì chỉ có những nơi điển hình như Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Bình Đức, trong đó các vành đai ở Củ Chi và Trảng Lớn hình thành trước, ở Rạch Kiến và Bình Đức hình thành sau. Điều đó nói lên rằng sự hình thành "vành đai diệt Mỹ" không phải mang tính đồng loạt và đều khắp.


Khi Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ" và triển khai quân ồ ạt vào miền Nam từ nửa cuối năm 1965, vào thời điểm đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã biểu lộ quyết tâm đánh Mỹ rất cao, nhưng về cách đánh Mỹ thì chưa xác đánh được rõ ràng nên có khẩu hiệu "cứ đánh Mỹ rồi sẽ tìm ra cách đánh". Điều đó nói lên rằng, "vành đai diệt Mỹ" không phải là một cách đánh đã được chuẩn bị sẵn về lý luận trước khi quân Mỹ vào.


Từ những trận đánh đầu tiên với quân Mỹ trên khắp các khu vực địa hình của chiến trường Nam Bộ, quân và dân ta đã phát hiện những thế mạnh và điểm yếu của quân Mỹ:

Thế mạnh nhất của chúng là hỏa lực các cỡ rất nhiều và rất mạnh, trình độ phối hợp chiến đấu và khả năng cơ động rất cao, phương tiện chiến tranh rất hiện đại, quân số rất đông

Điểm yếu của quân Mỹ là rất ỷ lại vào hỏa lực, từng người lính thực hiện chiến thuật rất máy móc, rất sợ các loại cạm bẫy bằng vũ khí thô sơ và không quen đối phó với cách đánh của du kích, khi gặp khó khăn chết chóc thì hoảng hốt, giảm sút tinh thần rất nhanh và chưa quen địa hình, khí hậu.


Qua thực tế chiến đấu với quân Mỹ thời kỳ đầu, quân dân ta đã tìm ra cách đánh có hiệu quả và hạn chế được sức mạnh hỏa lực của Mỹ là: đánh gần để hạn chế Mỹ sử dụng phi pháo, đánh nhỏ rút nhanh để Mỹ không kịp dùng hỏa lực, tăng cường đánh bằng các hình thức cạm bẫy với vũ khí thô sơ tự tạo như hầm chông, bãi chông, bãi mìn, gài lựu đạn... Bằng cách này ta vừa tiêu hao được sinh lực, vừa đánh mạnh vào tinh thần chiến đấu của lính Mỹ và có thể hạn chế được Mỹ sử dụng bom pháo, giữ được những khu vực địa hình. Đó là những cơ sở kinh nghiệm thực tiễn đầu tiên để hình thành "vành đai diệt Mỹ"


Khi quân Mỹ đóng căn cứ lớn, chúng thường phải sử dụng những đơn vị nhỏ đi tuần tra, càn quét xung quanh căn cứ để bảo đảm an toàn. Lực lượng này thường lùng sục vào các xóm làng, các lùm cây, bìa rừng để phát hiện dấu vết của đối phương. Những đơn vị nhỏ ấy thường bộc lộ những sơ hở và thường bị du kích, bộ đội địa phương vận dụng cách đánh nhỏ lẻ để tiêu hao sinh lực Mỹ. Sau một số trận đánh nhỏ và nhiều lần bị vướng cạm bẫy của du kích, quân Mỹ không dám lùng sục quá xa căn cứ. Từ đó du kích và bộ đội địa phương có thể tiếp cận gần các căn cứ đến mức có thể bắn tỉa quân lính bên trong hay khi chúng vừa ra khỏi căn cứ.


Khi các hoạt động du kích của ta ở xung quanh căn cứ Mỹ phát triển mạnh và hình thành trên nhiều hướng thì đòi hỏi phải có chỉ huy thống nhất để bố trí lực lượng cho phù hợp với khả năng của từng lực lượng và phối hợp hành động nhằm nâng cao hiệu quả chiến đấu.


Đó là quá trình hình thành cách đánh xung quanh căn cứ Mỹ từ cuối 1965 đầu 1966 như ở Củ Chi, Trảng Lớn. Cách đánh này được tổng kết thành kinh nghiệm và gọi là "vành đai diệt Mỹ". Những kinh nghiệm ấy được phổ biến rộng rãi cho các địa phương để vận dụng.


Ở phía Nam Long An và Mỹ Tho, đầu năm 1967, quân Mỹ mới đóng căn cứ ở Rạch Kiến và Bình Đức. Ngay sau khi chúng xây dựng xong căn cứ thì ta cũng tổ chức xong về chỉ đạo chỉ huy và bố trí thế trận, lực lượng để hình thành "vành đai diệt Mỹ" trên cơ sở những kinh nghiệm của các vành đai đã hình thành trước.


Ở Rạch Kiến và Bình Đức, căn cứ của Mỹ bị bao vây trên tất cả các hướng. Chúng bị tấn công bằng nhiều lực lượng, nhiều cách đánh, chúng bị đánh cả ban đêm và ban ngày. Thành phần lực lượng ở hai vành đai này có cả bộ đội của khu, của tỉnh, bộ đội địa phương huyện, du kích các xã trong vành đai, du kích lộ và du kích mật của các ấp sát căn cứ và có sự tham gia rộng rãi của nhân dân trong việc xây dựng làng xã chiến đấu, đào hầm chông, làm bãi chông, gài lựu đạn đến việc nuôi ong vò vẽ, nuôi rắn độc để đánh Mỹ và tham gia đấu tranh chính trị trực diện với địch. Các vành đai này đều có tổ chức ban chỉ huy thống nhất, trong đó có đầy đủ các thành viên phụ trách các mặt như quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận, công tác dân vận và hậu cần.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 12:06:25 pm »

2. Những điều kiện để hình thành và hoạt động của "vành đai diệt Mỹ" ở Nam Bộ

Tìm hiểu về tổ chức, bố trí lực lượng và hoạt động của bốn vành đai diệt Mỹ điển hình ở Nam Bộ (Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Bình Đức) ta có thể khái quát những điều kiện cơ bản để hình thành và hoạt động của các "vành đai diệt Mỹ" ở Nam Bộ như sau:

- Trước hết phải có điều kiện địa hình che khuất hoăc che đỡ để lực lượng ta có thể tiếp cận địch và cơ động tránh né hỏa lực sau những trận đánh. Nếu điều kiện địa hình tốt như ở Rạch kiến và Bình Đức ta có thể đánh cả ban ngày đối với quân địch đi càn hoặc bắn phá căn cứ của chúng, đồng thời có thể hình thành thế bao vây từ nhiều hướng. Nếu địa hình trống trải như ở Trảng Lớn, Củ Chi thì ta phải hoạt động ban đêm là chính và có thể chỉ hình thành được thế trận bao vây từng hướng.


- Điều kiện thứ hai là căn cứ của Mỹ phải đóng ở địa điểm tương đối cô lập hoặc khá sâu trong vùng giải phóng. Cụ thể như Đồng Dù nằm trong vùng tranh chấp, nơi ta có du kích rất mạnh và rất gần các vùng căn cứ phía Bắc Sài Gòn, Trảng Lớn nằm khá sâu vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh. Rạch Kiến nằm lọt vào giữa 12 xã giải phóng của Cần Đước và Cần Giuộc. Bình Đức nằm trong vùng giải phóng 20-7 nổi tiếng của Mỹ Tho. Trong khi đó, những căn cứ khác của Mỹ đóng ở Biên Hòa, Long Bình, Sài Gòn... thì lực lượng ta không có điều kiện tiếp cận và hình thành thế bao vây.


- Điều kiện thứ ba là ta phải có lực lượng vũ trang địa phương đủ mạnh để làm nòng cốt của vành đai đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn nhân dân tham gia đánh Mỹ. Ở những nơi thưa dân như Củ Chi, Trảng Lớn, lực lượng chiến đấu ở vành đai chủ yếu là bộ đội địa phương, dân quân du kích, ở những nơi đông dân như Rạch Kiến, Bình Đức, lực lượng vũ trang địa phương vẫn là nòng cốt, nhưng có sự tham gia khá rộng rãi của nhân dân.


- Điều kiện thứ tư là phải có tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy thống nhất và phải có phương châm, phương thức tác chiến phù hợp.
Ở những nơi thiếu một trong những điều kiện nêu trên thì không hình thành được vành đai diệt Mỹ hoặc các hoạt động quân sự của ta kém hiệu quả.


Từ sau cuộc "tổng công kích - tổng khởi nghĩa" Tết Mậu Thân năm 1968, hầu như không còn các "vành đai diệt Mỹ" hoặc còn nhưng hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ hai phía: thứ nhất là Mỹ xuống thang chiến tranh, rút quân, giao lại các căn cứ cho quân đội Sài Gòn nên không còn khái niệm "vành đai diệt Mỹ" nữa. Thứ hai là sau các cuộc tấn công vào đô thị, lực lượng ta bị tiêu hao nhiều, nhất là bộ đội địa phương và dân quân du kích còn quá ít không đủ sức chiến đấu duy trì các vành đai (bộ đội chủ lực phải làm thay nhiệm vụ du kích). Bên cạnh đó là sự phản kích rất mạnh của địch đã thu hẹp đáng kể các vùng giải phóng, nên ta không còn thế bố trí lực lượng. Tóm lại, từ năm 1968 ta không còn đủ các điều kiện như đã nêu trên, nên không còn hình thức tổ chức vành đai (thiếu lực lượng, thiếu dịa hình, thiếu tổ chức vì chậm chuyển hướng về nông thôn).


3. Từ "vành đai diệt Mỹ" đến khu vực phòng thủ tỉnh, thành những kinh nghiệm có thể vận dụng

Chúng ta đều biết, "vành đai diệt Mỹ" là một hình thức chiến đấu của chiến tranh nhân dân giải phóng, còn khu vực phòng thủ tỉnh, thành là một đơn vị chiến lược có tính toàn diện trong nền quốc phòng toàn dân và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nếu có chiến tranh xâm lược cục bộ xảy ra. Đó là hai hình thức tổ chức chiến đấu trong hai điều kiện và hai loại hình chiến tranh khác nhau, nên việc vận dụng kinh nghiệm không thể là sự sao chép hay sự áp dụng cụ thể mà là những vấn đề có tính lý luận và định hướng.


Trong chỉ thị về xây dựng khu vực phòng thủ có nêu: các tỉnh, thành phải xây dựng vững mạnh toàn diện cả về chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự.

Về quân sự, nhiệm vụ của các địa phương được xác định rất nhiều nội dung phong phú và toàn diện, trong đó có một nhiệm vụ rất gần gũi với hình thức chiến đấu ở vành đai, đó là: Khi địch đến phải liên tục tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Nếu địch yếu thì tiêu diệt và đánh bật chúng ra khỏi địa phương. Nếu địch mạnh thì kìm chân, liên tục tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, thu hẹp phạm vi của chúng, buộc chúng phải chuyển sang phòng ngự...


Trong chiến tranh xâm lược cục bộ nếu xảy ra sẽ không tránh khỏi tình trạng quân địch tạm chiếm được một khu vực nào đó và địa phương đó muốn thực hiện được nhiệm vụ "thu hẹp phạm vi của chúng" thì buộc phải hình thành thế bao vây địch trên nhiều hướng bằng lực lượng tại chỗ như hình thành "vành đai diệt Mỹ" trước đây, nhưng thời gian tổ chức và hình thành thế trận đòi hỏi phải thật nhanh, không cho địch có thời gian mở rộng phạm vi kiểm soát.


Khi đã hình thành được thế bao vây theo kiểu vành đai thì phải có lực lượng tấn công mạnh và liên tục bằng nhiều hình thức tác chiến, nhiều loại vũ khí từ thô sơ, tự tạo đến hiện đại và phải ngày càng siết chặt vòng vây, thu hẹp chu vi vành đai.

Như vậy, việc vận dụng kinh nghiệm của vành đai diệt Mỹ vào xây dựng khu vực phòng thủ chính là trong kế hoạch tác chiến của địa phương phải có dự kiến những khu vực địch có thể chiếm đóng tương đối lâu dài, trên cơ sở đó xác định những hướng ta có thể bố trí lực lượng hình thành thế bao vây và ngăn chặn, đồng thời xác định phương châm, phương thức tác chiến cho từng hướng từng đơn vị.


Những vấn đề trên nếu được xây dựng, tính toán ngay từ thời bình thì khi chiến tranh xảy ra và rơi vào trường hợp đó thì địa phương có thể hình thành thế bao vây ngay khi quân địch vừa đóng quân.

Tóm lại "Vành đai diệt Mỹ" là một trong những kinh nghiệm quý trong kho tàng kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ mà ta cần khai thác cả về mặt lý luận và thực tiễn để phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng trước mắt và lâu dài của đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 12:08:00 pm »

VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở NAM BỘ- MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH HỆ THỐNG VÀNH ĐAI DIỆT MỸ TRÊN TOÀN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM

HỒ SƠN ĐÀI
Thượng tá, tiến sĩ, Phòng Khoa học, Công nghệ-Môi trường Quân khu 7


Thất bại trong chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", trực tiếp đưa quân chiến đấu Mỹ trên quy mô lớn vào miền Nam Việt Nam, ồ ạt tổ chức phản công, kết hợp với đẩy mạnh chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ở miền Bắc, hòng từng bước giành lại quyền chủ động, giành thắng lợi quyết định về chiến lược. Thực hiện Nghị quyết 11, Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) và chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã nhanh chóng xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành nên một hệ thống vành đai diệt Mỹ trong thế trận chiến tranh nhân dân trên khắp chiến trường miền Nam.


Vành đai diệt Mỹ là "hệ thống các ấp xã chiến đấu liên hoàn bao quanh áp sát các căn cứ quân sự Mỹ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt địch. Ngoài các trận địa nổi (công sự kết hợp vật cản), có nơi còn có hệ thống trận địa ngầm trong lòng đất. Tùy tình hình, vành đai diệt Mỹ được tổ chức thành nhiều tầng, nhiều lớp. Dựa vào vành đai diệt Mỹ, quân và dân trong vành đai kiên cường bám trụ, thường xuyên đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, bắn tỉa, phục kích, tập kích". Vành đai diệt Mỹ xuất hiện ở Đà Nẵng (4-1965), tiếp đến Chu Lai, An Khê, Pleiku, rồi nhiều điểm khác ở miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ.
Tại Nam Bộ, ngay từ đầu năm 1966, Mỹ đã đưa hàng loạt các đơn vị chiến đấu sừng sỏ bao gồm lục quân (bộ binh, bộ binh cơ giới, kỵ binh không vận, thiết giáp, pháo binh); hải quân (hạm đội, giang hạm, thủy quân lục chiến) và không quân (chiến đấu, vận tải, trực thăng đổ quân). Ngoài thủ phủ Sài Gòn và những căn cứ hậu cần khổng lồ ở Long Bình, dọc sông Sài Gòn - Nhà Bè, Mỹ chiếm đất xây dựng các hậu cứ, căn cứ chỉ huy và nơi đứng chân xuất phát hành quân của các đơn vị chiến đấu. Tại đây, chúng điên cuồng tổ chức các cuộc phản công chiến lược hòng "tìm diệt" quân chủ lực của ta, "xé nát" các căn cứ địa kháng chiến, làm tê liệt bộ não chiến tranh cách mạng, giải tỏa áp lực và mở rộng vành đai an toàn xung quanh Sài Gòn.


Quân và dân Nam Bộ, trong phong trào thực hiện phương châm "bám thắt lưng Mỹ mà đánh", đánh địch ngay tại căn cứ của chúng, đã làm xuất hiện các vành đai diệt Mỹ - một hình thức đánh địch mới trong cuộc chiến tranh nhân dân ở địa phương. Khắp Nam Bộ, từ Dĩ An đến Lai Khê, Phước Vĩnh, Đức Huệ... nơi nào có căn cứ quân Mỹ thì nơi đó có vành đai diệt Mỹ ra đời. Trong đó tiêu biểu nhất là các vành đai diệt Mỹ Củ Chi (Gia Định), Trảng Lớn (Tây Ninh), Rạch Kiến (Long An) và Bình Đức (Mỹ Tho).


Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn:

Vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn hình thành sau ngày lữ đoàn 196 Mỹ đổ xuống lập căn cứ ở khu vực Trảng Lớn (10- 1965) nhằm tạo bàn đạp đánh phá căn cứ địa Bắc Tây Ninh, bao vây phong tỏa kinh tế, ngăn chặn hành lang giao thông vận tải của ta. Vành đai được thiết lập thành 4 cụm thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh (cụm 1: các xã Thanh Điền, Thái Bình A; cụm 2: các xã Trí Bình, Hảo Đước; cụm 3: các xã Ninh Điền, Hòa Hội; cụm 4: các xã Thái Bình B, Phước Vĩnh). Quân và dân trong vành đai đã lập các hàng rào chiến đấu liên hoàn, tổ chức bãi chông, bãi trái thành những vùng tử địa. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy của một ban chỉ huy thống nhất. Hàng loạt trận đánh Mỹ có hiệu suất cao diễn ra ở vành đai như các trận Bàu Rào - Bàu Đưng, Sa Nghe - suối Ông Đình, Bắc Rù - Gò Nổi. Tính đến năm 1972, quân và dân ở vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn đã đánh 3.825 trận, diệt hàng ngàn tên Mỹ riêng ở cụm 1 diệt 1.173 tên.


Vành đai diệt Mỹ Củ Chi:

Vành đai diệt Mỹ Củ Chi hình thành sau khi quân Mỹ đổ quân đóng căn cứ tại Đồng Dù (24-1-1966) do bộ đội địa phương và dân quân du kích Củ Chi tổ chức xây dựng quanh căn cứ quân sự của Mỹ, trên phần đất các xã Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông... Nằm cách thành phố Sài Gòn 30km đường chim bay về phía bắc, vành đai diệt Mỹ Củ Chi có địa đạo dài 200km cùng 500km đường hào lộ thiên, hình thành mạng đường giao thông ngầm trên địa bàn rộng 40.000 ha, bảo đảm bí mật an toàn khi cơ động lực lượng, ẩn nấp, nghỉ ngơi, có nguồn dự trữ hậu cần - kỹ thuật. Ngay sau khi quân Mỹ thiết lập căn cứ Đồng Dù, chỉ trong 14 ngày chiến đấu đầu tiên, du kích địa phương đã chiến đấu loại 963 tên Mỹ, bắn hỏng 6 máy bay. Trong năm 1966, quân Mỹ bị diệt ở vành đai diệt Mỹ Củ Chi lên tới 4.230 tên. Vành đai diệt Mỹ Củ Chi đã tạo địa bàn và thời cơ để các đơn vị bộ đội chủ lực Quân giải phóng miền Nam và lực lượng vũ trang địa phương đánh tiêu hao tiêu diệt và kìm chân địch ngay tại căn cứ xuất phát của chúng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2026, 12:09:02 pm »

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến:

Vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến hình thành sau ngày quân Mỹ đổ xuống khu vực Rạch Kiến ngày 20-12-1966 bao gồm 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội công binh,1 đại đội trinh sát, 1 đại đội trực thăng và 1 chi đoàn thiết giáp. Phạm vi vành đai bao gồm khu vực 10 xã thuộc huyện Cần Đước (Long Hòa, Tân Trạch, Long Khê, Phước Vân, Long Sơn, Mỹ Lệ, Long Cang, Long Định, Phước Tuy) và 2 xã thuộc huyện Cần Giuộc (Thuận Thành, Phước Lâm). Vành đai được tổ chức thành 3 tuyến; bộ đội tỉnh, bộ đội huyện và dân quân du kích các xã phân công tổ chức xây dựng công sự trận địa, rào đường, làm hầm chông, gài mìn, ong vò vẽ... Quân và dân khu vực vành đai đã đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, tiêu diệt tiêu hao nhiều lực lượng và phương tiện chiến tranh của Mỹ ngụy, ngăn chặn hành động đánh phá của chúng trên vùng phía Nam Sài Gòn.


Vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức:

Vành đai diệt Mỹ Bình Đức hình thành ngay sau khi quân Mỹ đổ quân xuống căn cứ Đồng Tâm (Châu Thành, Mỹ Tho) tháng 1 năm 1966, bao gồm lữ đoàn 2 và lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn bộ binh số 9. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Mỹ Tho, mặt trận vành đai Bình Đức được thành lập với nhiều lực lượng: nhân dân và du kích địa phương, bộ đội tỉnh, 1 tiểu đoàn pháo binh của Khu 8. Đơn vị pháo binh chia thành từng cụm nhỏ, bố trí bí mật trong các xóm ấp của vành đai để tập kích vào các mục tiêu trong căn cứ địch. Du kích và nhân dân địa phương từ cụ già đến trẻ em đều hăng hái tìm mọi cách để đánh được Mỹ, phấn đấu đạt danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ". Nhân dân còn tổ chức nhiều cuộc đấu tranh biểu tình, vận động binh sĩ Mỹ phản chiến, chống lệnh hành quân càn quét của cấp trên. Tháng 9 năm 1969, quân Mỹ buộc phải rút khỏi Đồng Tâm. Trong thời gian chưa đầy 3 năm, quân và dân vành đai Bình Đức đã loại khỏi vờng chiến đấu hàngnghìn lính Mỹ, hơn 2.500 lính ngụy, bắn cháy hơn 200 máy bay, đốt cháy gần 3 triệu lít xăng, bắn chìm gần 200 tàu thuyền các loại, phá hủy 3 triệu viên đạn pháo, hơn 50 đồn bót, 2 lữ đoàn của sư đoàn 9 Mỹ buộc phải 3 lần thay quân. Gán 300 cán bộ, chiến sĩ, nông dân được phong táng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", trong đó có hàng chục người được phong tới 4 lần.


Cùng có chung những đặc điểm về tổ chức xây dựng, nội dung hình thức hoạt động của hệ thống các vành đai diệt Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam, các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ có một số nét nổi bật:

- Quân Mỹ lập căn cứ ở đâu thì ngay lập tức, quân và dân ta tổ chức vành đai diệt Mỹ ngay tại đó nhằm cô lập, bao vây bằng thế trận chiến tranh nhân dân để đánh Mỹ ngay tại căn cứ của chúng.

- Vành đai diệt Mỹ là một loại chiến trường đặc biệt, ở đó bất cứ người dân nào không phân biệt già trẻ gái trai, bộ đội, du kích hay nông dân, thợ thủ công, tiểu thương tiểu chủ đều có thể đánh Mỹ và trở thành dũng sĩ diệt Mỹ.

- Vành đai diệt Mỹ là một mặt trận thu nhỏ của cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược, trong đó nội dung đánh Mỹ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, binh vận, kinh tế, văn hóa. Quân và dân trong khu vực vành đai vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, tạo thế tạo lực, bảo đảm nguồn cung cấp hậu cần tại chỗ.

- Hoạt động đánh Mỹ trong khu vực vành đai đã sáng tạo ra vô vàn cách đánh độc đáo của chiến tranh nhân dân, phát huy tối đa ưu thế sẵn có của khu vực vành đai, phát triển nghệ thuật đánh giặc của cha ông trong điều kiện lịch sử cụ thể một cách nhuần nhuyễn và có hiệu quả cao.


Vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ tồn tại cho đến khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi căn cứ đứng chân và rút hết về nước. Hoạt động xây dựng và chiến đấu trong vành đai diệt Mỹ đã để lại những bài học lịch sử hết sức quan trọng không chỉ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà cho cả công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay và trong tương lai. Đó là:

Trước hết, phải luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, khi có họa ngoại xâm, cần xác định ngay quyết tâm đánh địch và đánh thắng địch ngay từ đầu.

Thứ hai, không ngừng chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế tạo nên thế bố trí phòng thủ chiến lược vững chắc, sẵn sàng hình thành thế bao vây cô lập và tiến công địch ngay từ đầu khi chúng xâm lược nước ta.


Thứ ba, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân đủ sức đánh bại mọi kẻ thù, đồng thời chăm lo giáo dục quốc phòng cho toàn dân, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa nhân dân địa phương với các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn trong tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.


Thứ tư, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu học tập truyền thống nghệ thuật quân sự của cha ông, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới nhằm tạo ra khả năng tác chiến đánh địch sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với năng lực, đặc điểm của quân và dân ta và đặc điểm từng loại kẻ thù.


Vành đai diệt Mỹ là một sáng tạo độc đáo của chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hoạt động của quân và dân ta trong hệ thống các vành đai diệt Mỹ trên toàn chiến trường miền Nam nói chung, chiến trường Nam Bộ nói riêng đã góp phần đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô và các chiến dịch bình định của Mỹ - ngụy, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng, buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari rút hết quân về nưức. Với ý nghĩa ấy, vành đai diệt Mỹ đã tạo ra một sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm đường lối chiến tranh cách mạng và nghệ thuật quân sự của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và rút ra những kinh nghiệm quý giá cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2026, 06:58:54 pm »

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÀNH ĐAI DIỆT MỸ Ở CHIẾN TRƯỜNG ĐÔNG NAM BỘ, CỰC NAM TRUNG BỘ

NGUYỄN PHI CƠ
Thạc sĩ, Phó chủ nhiệm Khoa Quân sự địa phương - Học viện quốc phòng


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã diễn ra trong những điều kiện cụ thể mang những đặc tính khác biệt nhiều cuộc đấu tranh cách mạng trên thế giới; với những phát triển mới rất độc đáo và sáng tạo so với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt là hệ thống "vành đai diệt Mỹ" ở chiến trường miền Nam nói chung và Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ nói riêng.


Từ cuối năm 1961 đến đầu năm 1965, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang của quân và dân miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ có bước phát triển mới. Ngụy quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương tiếp tục khủng hoảng, nội bộ chúng tự cấu xé lẫn nhau, các cuộc đảo chính liên tiếp nổ ra. Trong lúc đó kế hoạch Stalây - Taylo bị phá sản, vùng giải phóng của ta ngày càng mở rộng, ngụy quân, ngụy quyền trên đà suy sụp. Chương trình bình định miền Nam trong vòng 18 tháng không thực hiện được. Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang triển khai kế hoạch Mắc Namara, nhằm "bình định" miền Nam trong vòng 2 năm.


Thực hiện kế hoạch Mắc Namara, từ đầu năm 1963 đến giữa năm 1964, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quỵ mô tập trung lớn, liên tục đánh phá các chiến khu như: Chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Long Nguyên, Bời Lời, nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực và các lực lượng vũ trang, phá thế chiến tranh du kích của ta ở rừng núi, đồng bằng và đô thị.


Phối hợp với toàn chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Ninh đã tích cực hoạt động khắp các vùng như: Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, với nhiều trận đánh tiêu biểu; trong đó nổi bật là trận đánh phối hợp giữa du kích và bộ đội địa phương, diệt gọn trung đội địch ở Bàu Nâu (ngày 1-7-1963), thu toàn bộ vũ khí, một số lính ở các đồn Tân Hưng, Bầu Cỏ phải bỏ chạy. Phong trào diệt ác, phá kìm đã phát triển rộng rãi tạo đà cho lực lượng ba thứ quân phát triển đến từng xã ấp, tạo thế cài răng lược trong sào huyệt địch, buộc chúng phải căng kéo lực lượng khắp nơi.


Để đối phó với chiến tranh nhân dân của ta trên khắp chiến trường, địch đã tung lực lượng càn quét cả vùng rừng núi và ven đô, vùng ta mới mở, để gom dân, lập ấp chiến lược. Trong lúc đó, lực lượng du kích và bộ đội ta còn quá mỏng, thế trận ấp chiến đấu chưa thiết lập; so sánh tương quan lực lượng ta 1 địch 5.


Các cấp ủy Đảng và đồng bào đều Tất trăn trở trước câu hỏi "làm thế nào để đánh Mỹ?" và "đánh Mỹ như thế nào". Phải trải qua một thời gian trực tiếp cọ sát với chiến trường, đọ sức với Mỹ bằng mọi vũ khí có được trong tay: từ súng trường, lựu đạn cho đến hầm chông, cạm bẫy đã làm cho quân Mỹ từ chỗ hung hăng đi đến bị động đối phó.


Mùa khô 1965 - 1966, địch triển khai cả hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định". Ngày 5-2-1966, Giôn xơn chủ trương đưa gọng kìm "bình định" lên ngang tầm với gọng kìm "tìm diệt". Với sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - kỹ thuật, quân Mỹ ồ ạt đổ quân xuống địa bàn Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ.


Chúng tập trung đánh phá ác liệt vào các căn cứ của ta ở Củ Chi từ ngày 8 đến 24-1-1966, trung bình mỗi ngày Mỹ ném xuống 6 xã trong huyện và vùng huyện Bến Cát với diện tích 70 kilômét vuông phải chịu 4.500 quả bom và đạn pháo lớn.

Nhằm đối phó với lực lượng quân Mỹ trên chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ thị cho các địa phương: "Tập trung mọi lực lượng, mọi cố gắng để tiến công địch về mọi mặt trên khắp chiến trường, làm cho địch không ổn,định, mâu thuẫn nội bộ ngày càng tăng, ra sức phát triển thực lực cách mạng (Đảng, Đoàn, quần chúng và lực lượng vũ trang) khắp các vùng. Đặc biệt, chú ý phát triển lực lượng ở thành phố, thị trấn, vùng chưa có cơ sở".


Ở khắp các địa phương, các vùng căn cứ, các vành đai, du kích các xã, ấp được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy các cấp, đã tích cực đào hào, địa đạo, đặt hầm chông, mìn, cạm bẫy và tổ chức các đường dây liên lạc giữa các địa phương, nối thông liên lạc giữa các ấp, xã được thường xuyên. Đồng thời, tổ chức nhiều cơ sở mật trong dân để nắm tình hình, nhờ đó, dân cung cấp tin tức được kịp thời, nhiều địa phương đã hoạt động đánh địch có hiệu quả, đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận hoặc đấu tranh trực diện với địch có hiệu quả, xuất hiện nhiều hình thức phản chiến trong binh lính Mỹ như: 1 đơn vị Mỹ ở Lai Khê (Bình Dương) chống lệnh hành quân bị giam 30 binh sĩ (9-5- 1966), lính phản chiến bắn chết 7 tên ngoan cố (24-5-1966), một tiểu đoàn Mỹ chống lệnh không đi hành quân ở Tây Ninh...


Mùa khô 1966-1967, tại chiến trường Đông Nam Bộ, lực lượng quân Mỹ đã tăng lên 3 sư đoàn, với 4 lữ đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, tất cả là 11 lữ, gồm 33 tiểu đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn thiết giáp Mỹ cùng với 1 lữ đoàn quân Hoàng gia Úc (gồm 2 tiểu đoàn), 3 sư đoàn quân ngụy (có 45 tiểu đoàn).


Dựa vào sức mạnh quân sự, Mỹ đã tăng cường đánh phá bằng không quân (có cả B52), pháo binh xuống các vùng căn cứ địa cách mạng của ta ở Dương Minh Châu, Bời Lời, Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành. Các cuộc hành quân của Mỹ ngoài việc tìm diệt quân chủ lực Miền và Trung ương Cục miền Nam, còn có ý định mở rộng vành đai an ninh cho căn cứ Trảng Lớn do lữ bộ binh 196 đóng quân.
Trước tình hình đó, từ ngày 26 tháng 9 đến ngày 6 tháng 10 năm 1966, Hội nghị chiến tranh du kích toàn miền Nam lần thứ 3 đã rút ra 12 kinh nghiệm và khả năng to lớn của phong trào chiến tranh du kích ở miền Nam. Hội nghị nêu rõ: Ta đã xây dựng được nhiều xã, ấp chiến đấu liên hoàn, đánh bại nhiều cuộc càn quét lớn, đã chống được các cuộc càn lớn, nhỏ, ngắn ngày, dài ngày; đã tiến công bao vây đồn bót, chi khu, quận lỵ; đã đánh phá và làm trở ngại, cắt nhiều đoạn giao thông quan trọng.


Đây chính là bước đầu hình thành vành đai diệt Mỹ. Nhưng thời kỳ đó khái niệm vành đai du kích được phổ biến rộng rãi trên toàn chiến trường.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2026, 06:59:57 pm »

Bị thiệt hại nặng nề trong mùa khô 1965-1966, Mỹ không đạt được mục tiêu nên tiến hành cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, bằng cả lực lượng Mỹ và ngụy, với hai nhiệm vụ chiến lược song song "tìm diệt" và "bình định". Trên chiến trường miền Nam vào cuối năm 1967, địch sử dụng 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn, trung đoàn Mỹ- ngụy và quân các nước đồng minh, cùng với 4.000 máy bay các loại, 2.500 xe tăng, xe bọc thép, 2.540 khẩu pháo, 500 tầu thuyền chiến đấu vè toàn bộ quân địa phương trong vùng, tập trungphản công trên hướng chính là Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực của ta, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn, hòng xoay chuyển tình thế có lợi cho chúng.


Trước tình hình trên, Bộ Chỉ huy Miền đã chỉ đạo bảo vệ các căn cứ theo phương châm bám trụ chiến đấu tại chỗ, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngay tại vùng căn cứ ít dân hoặc không dân, phối hợp tác chiến với một bộ phận chủ lực quân giải phóng, kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân của địch. Đồng thời mở chiến dịch hè thu phối hợp với hướng đường 9 Nam Lào đánh bại kế hoạch mùa mưa của địch và mở tiếp chiến dịch Tây Ninh để giành quyền chủ động trên chiến trường.


Thực hiện chủ trương trên, quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã triển khai, mở rộng thế trận liên hoàn từ căn cứ khu B ra đến sát vùng Châu Thành và vùng Nam Tòa thánh Tây Ninh, tạo ra thế trận nối liền giữa các xã, ấp. Các căn cứ Dương Minh Châu, Bời Lời, Bà Nhã, Củ Chi ở phía Đông và khu căn cứ Châu Thành, Bến Cầu ở phía Tây tỉnh Tây Ninh hình thành các tuyến vành đai khá hoàn chỉnh.


Tuyến vành đai ngoài là những khu căn cứ nằm trên tuyến biên giới Campuchia, nơi các cơ quan đầu não của ta đứng chân để lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa là nơi ém quân của các đơn vị chủ lực và địa phương cùng các cơ quan dân chính Đảng của tỉnh và các huyện Tây Ninh, là bàn đạp để tiến công chống địch càn quét lên vùng biên giới. Khi có điều kiện sẽ cơ động tiến công địch ở vùng ven và đồng bằng, đô thị.


Tuyến vành đai trong ở vùng ven thị xã, thị trấn, nơi có quân Mỹ đóng quân bao gồm các xã, ấp chiến đấu, có địa đạo,có công sự chiến đấu và công sự ẩn nấp, được phòng thủ tương đối vững chắc, có bố trí các bãi chông, mìn, cạm bẫy để ngày đêm bám trụ; nắm tình hình, quy luật hoạt động của địch để tổ chức lực lượng du kích đánh địch bằng phương thức tác chiến, linh hoạt như các vành đai Củ Chi, Trảng Lớn, Rạch Kiến, Lai Khê, Bến Cát, Long Nguyên, Đất Đỏ... Hình thành hệ thống vành đai diệt Mỹ trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, ven đô, đồng bằng.


Phát huy thắng lợi trong việc đánh bại hai cuộc phản công chiến lược của địch trên chiến trường Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, lực lượng vũ trang trên các vành đai diệt Mỹ đã phối hợp tiến công địch đều khắp, từ tuyến vành đai như: Bến Sỏi, Vịnh, Lò Gò, Tà Nốt, Sa Mát đến Sóc Mới, Kà Tum, Bà Chiêm.


Tuyến vành đai trong phía Đông quốc lộ 22 vào sát đến Nam lộ Đá Đỏ, theo lộ Trắng kéo về Võ Tùng, Dầu Tiếng, Bầu Đồn và các xã, ấp ở xung quanh căn cứ Bến Sỏi, Trảng Lớn, Bến Kéo, Đồng Rùm, Bến Củi, chân núi Bà Đen và thị xã Tây Ninh. Đặc biệt, quân Mỹ ở căn cứ Trảng Lớn liên tục bị lực lượng vũ trang địa phương Tây Ninh dựa vào các căn cứ, các xã, ấp chiến đấu tại khu vực xóm Ruộng, Thanh An, Thành Điền, Thanh Hùng, Hiệp Tân để tiêu hao, tiêu diệt địch với các trận đánh nhỏ, lẻ, bằng chông, mìn, cạm bẫy. Nhiều lần địch tổ chức càn quét lớn, nhưng không đẩy lùi được lực lượng du kích và bộ đội địa phương của ta ra xa. Ngược lại ta vẫn liên tục tiêu diệt, tiêu hao địch bằng những trận tập kích, phục kích nhỏ lẻ trong các đồn, bót và khi chúng đi càn quét.


Trong cuộc tổng tiến công Xuân 1968, quân và dân miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã đồng loạt nổ súng tiến công địch tại các mục tiêu trên khắp các đô thị, vùng nông thôn, đánh vào đầu não trung ương Mỹ - ngụy. Riêng ở Tây Ninh, lực lượng tiến công và nổi dậy đều khắp trong toàn tỉnh, nhất là ở Châu Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu. Đặc biệt, các xã ấp xung quanh căn cứ địch, nhân dân đã bức rút nhiều đồn, bót, chỉ tính riêng xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng đã có 5.000 người đi dân công phục vụ hỏa tuyến, vận chuyển vũ khí, tải thương, đào công sự, chiến hào, nuôi dưỡng 800 thương binh từ hỏa tuyến đưa về.


Các vành đai diệt Mỹ đã phối hợp đánh địch có hiệu quả, đã tận dụng triệt để thế xã, ấp liên hoàn để tạo ra thế đánh và thế giữ vững chắc; xây dựng được cả lực lượng và thế trận, chuẩn bị cơ sở vật chất, cất giấu vũ khí lương thực, thực phẩm để vừa tiến công địch, vừa trụ bám vững chắc. Hệ thống xã, ấp liên hoàn, có địa đạo, hầm hào, công sự chiến đấu để bám đánh địch suốt ngày đêm, kể cả khi bộ đội chủ lực dừng lại để củng cố, bổ sung lực lượng, phương tiện. Năm 1968, nhiều xã ấp khi bộ đội chủ lực xuống tác chiến đã có địa bàn ém quân như xã Thạnh Phước (Gò Dầu), khu vực Suối Nhánh, xã Lộc Hưng, xã An Tịnh, xã Gia Lộc (Trảng Bàng).


Sau đợt 1 Mậu Thân, lực lượng địch bị thiệt hại nặng, chúng điên cuồng đẩy nhanh âm mưu "tìm diệt", vừa tập trung lực lượng và phương tiện san ủi những căn cứ của ta ở vùng ven và vùng sâu, tạo ra vành đai trắng. Du kích và bộ đội địa phương nhiều nơi ban ngày phải trụ bám ở hầm bí mật và những lùm cây còn lại ở căn cứ như Bời Lời, Dương Minh Châu, chân núi Bà Đen, có nơi ngày địch kiểm soát, đêm du kích và lãnh đạo xã, ấp lại bám về xây dựng cơ sở, củng cố lực lượng, khôi phục lại địa bàn để bám trụ hoạt động.
Với tư tưởng liên tục tiến công địch, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương đã ra chỉ thị xác định chủ trương tiến hành dợt 2 Mậu Thân nhằm: "liên tục tiến công địch và phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của Mỹ- ngụy, duy trì và đẩy mạnh hoạt động trên địa bàn đô thị, giải phóng và làm chủ toàn bộ nông thôn, đồng bằng và rừng núi".


Lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với toàn Miền, giữ vững các vành đai ở quanh các căn cứ Mỹ như xã Thanh Điền (Tây Nam căn cứ Trảng Lớn), căn cứ Bà Dìu (Tây Tua Hai), xung quanh các hang động chân núi Bà Đen, Rỗng Tượng xã Thanh Phước (Đông căn cứ Trâm Vàng); kết hợp chặt chẽ với lực lượng binh vận tiến công địch ở xóm Sóc, Cây Dương, Trà Cao, khiến hàng trăm lính bảo an, dân vệ rã ngũ; trở về với gia đình.


Tổng kết hai đợt tiến công nổi dậy của quân và dân ta, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ VII kết luận: "Thắng lợi trong hai đợt tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mà tiêu biểu là trên chiến trường Sài Gòn- Gia Định là những thắng lợi to lớn, toàn diện; đánh dấu một bước phát triển mới của ta về thế và lực trong điều kiện chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam đã leo thang ở đỉnh cao".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2026, 07:01:52 pm »

Sau đợt tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, phần lớn các đơn vị chủ lực bị tổn thất phải củng cố, còn lực lượng địa phương trụ bám trên các tuyến vành đai để đánh địch phản kích và chống càn quét, giữ vững vành đai, nên cũng bị tiêu hao, tổn thất nhiều. Có nơi ta đã bị mất dân, mất đất, một số địa bàn ở tuyến vành đai trong bị địch cày ủi nhiều lần như Bời Lời (Trảng Bàng), Suối Nhánh (Gò Dầu), Củ Chi (Gia Định). Một số vành đai vẫn trụ bám tích cực đánh địch và làm công tác địch vận như trận chống càn của du kích xóm Chùa, xã An Nhơn Tây, từ ngày 29 đến 30-11- 1968, đã bám trụ kiên cường, chiến đấu liên tục, bắn cháy 1 trực thăng vũ trang, 5 xe tăng M41 và 4 xe thiết giáp M113, diệt 150 tên Mỹ, thu 50 khẩu AR15, 4 khẩu M72, 2 khẩu đại liên M60,16 quả mìn Clâymo. Ta hy sinh 1 du kích, bị thương 2, tiêu hao 300 quả mìn các loại và 3.000 viên đạn. Trận tập kích vào khu trung tâm thông tin của Mỹ ở đỉnh núi Bà Đen tháng 9-1968 của đại đội 33 đặc công Miền đã tận dụng hang động ở chân núi Bà Đen để ém quân đánh dịch, diệt 300 tên.


Từ năm 1969 đến năm 1972, quân dân miền Đông Nam Bộ đã khôi phục và củng cố hệ thống vành đai diệt Mỹ ở cả ba vùng chiến lược: miền núi, ven đô và đồng bằng Trung Nam Bộ.

Sau Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã làm phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhưng do ta chậm chuyển hướng tiến công sau Mậu Thân, bỏ lỏng vùng nông thôn, nên địch đã phản công quyết liệt, chiếm lại phần lớn địa bàn nông thôn, vơ vét thêm nhân vật lực, củng cố ngụy quân, ngụy quyền. Vùng giải phóng bị đánh phá rất quyết liệt, cơ sở cách mạng bị tổn thất, ở nhiều vùng nông thôn và đồng bằng ta bị mất dân, mất đất, thế của chiến tranh nhân dân bị suy giảm, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn khi bước sang giai đoạn chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".


Năm 1969, địch vẫn duy trì 40% trong tổng số 470.000 quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam, hơn 30% lục quân và duy trì thế phòng thủ 3 tuyến xung quanh Sài Gòn (sư đoàn kỵ binh không vận Mỹ ở Tây Ninh, Bình Long, Phước Long; Sư đoàn bộ binh 1 và 25 Mỹ cùng 3 sư đoàn ngụy hoạt động vùng trung tuyến).


Đứng trước tình hình mới, tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết lãnh đạo phong trào cách mạng trong giai đoạn mới, với 5 mục tiêu:

- Đánh cho quân Mỹ phải rút.

- Làm cho quân ngụy phải suy sụp.

- Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, bố trí đứng vững trên thế chiến lược mạnh.

- Đánh đổ chính quyền ngụy, lập nên chính quyền cách mạng Trung ương buộc bọn Mỹ phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh trên thế mạnh.


Triển khai Nghị quyết, trên các chiến trường đã tích cực hoạt động vừa đánh địch, vừa củng cố lực lượng. Các xã, ấp chiến đấu được mở rộng và liên lạc chi viện cho nhau thuận lợi. Các vành đai tuyến ngoài đã phối hợp chặt chẽ với các vành đai tuyến trong và ở nội đô như vành đai Trảng Lớn, vành đai Bắc Hà, vành đai Rạch Kiến ở ba vùng chiến lược đã phát huy tác dụng, hình thức chiến thuật với đủ loại vũ khí tự tạo. Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã đồng loạt tiến công trên khắp chiến trường, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với địch vận của quần chúng nhân dân. Ở Tây Ninh, ta đã tổ chức những trận tập kích ngay trong ấp chiến lược, như trận ấp Gò Chùa - Gò Dầu, diệt một tiểu đội dân vệ; trận pháo kích của Đại đội 5 và một phân đội pháo binh Miền phối hợp với lực lượng thị xã Tây Ninh tiến công tiểu khu Tây Ninh ngày 10-4-1969, diệt nhiều địch, trong đó có 50 sĩ quan. Cùng thời gian, một bộ phận của tiểu đoàn 1 đột nhập ấp chiến lược Long Yên tiến hành vũ trang tuyên truyền. Được quần chúng ủng hộ, ta đã đánh thiệt hại nặng một trung đội bảo an.


Sau đợt hoạt động Xuân - Hè 1969, Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trương phân tán lực lượng đảng viên, cán bộ ưu tú bám trụ tập trung vào vùng yếu và các ấp chiến lược để vừa vận động quần chúng, khôi phục phong trào, vừa kết hợp vói lực lượng vũ trang tỉnh tập trung tiến công vào ngụy quân yểm trợ bình định.


Tại Quân khu T10 ta tiến công tiểu khu Phước Long gây thiệt hại nặng cho địch. Trên 1.000 dân các ấp ven thị xã nhân lúc địch đang hoang mang đã nổi dậy bung về làng cũ làm ăn. Ở các đô thị, phong trào đấu tranh chính trị được khôi phục và đấu tranh có hiệu quả, đã lôi cuốn được cả gia đình binh sĩ đấu tranh với Mỹ như ở Bình Long, Bù Đốp (Phước Long).


Như vậy, năm 1969 là năm địch chủ trương huy động lực lượng, phương tiện "đánh gẫy xương sống Việt cộng", đẩy lực lượng ta ra xa đã gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn. Song quân dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững các vành đai diệt Mỹ, đánh ngụy để chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Có địa bàn địch san ủi nhiều lần, nhưng ta vẫn kiên cường bám trụ. Có cả vùng ban ngày địch kiểm soát, nhưng ban đêm ta chủ động nắm tình hình, xây dựng cơ sở chính trị, vận động quần chúng nhân dân đấu tranh với địch.


Năm 1970, kế hoạch bình định của địch không đạt được. Chúng phát hiện ta đang chuẩn bị mở chiến dịch tiến công với quy mô lớn trên chiến trường miền Nam, nên đã huy động lực lượng lớn phản kích ta trên hướng biên giới Campuchia, thực hiện ý đồ xóa bỏ nền trung lập của Campuchia, vừa cắt hành lang tiếp tế của ta vào chiến trường B2; xóa căn cứ bàn đạp chiến lược và phá thế chuẩn bị đánh lớn của ta, đẩy chủ lực của ta ra xa, biến hậu phương ta thành hậu phương địch.


Về phía ta, năm 1970 là năm đầy khó khăn, nhất là về cung cấp hậu cần. Tỷ lệ ốm đau của cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân ngày càng cao, đạn dược thiếu thốn, khả năng của bộ đội lúc này là đánh được một trận phải cơ động ngay vì đạn hết, gạo thiếu. Các tuyến hành lang xuống vùng ven hầu như bị cắt. Trên tuyến đường số 22 đoạn từ Thiện Ngôn đi Trại Bí, Mỏ Công, địch liên tục giải tỏa, bung ra phục kích ban đêm. Bộ đội địa phương Tây Ninh và du kích các xã vùng ven gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi đột nhập ấp chiến lược. Một số đường dây giao liên bí mật mà ta thường qua lại đã bị những phần tử chiêu hồi khai báo, chỉ điểm nên không sử dụng được, thậm chí có lúc phải nổ súng đánh địch để mở đường vượt qua.


Đi đôi với việc tiến công sang Campuchia, Mỹ- ngụy tiếp tục thực hiện chương trình "bình định đặc biệt". Đồng thời, địch tiến hành đổi các vùng chiến thuật thành các quân khu, thành lập Bộ Tư lệnh cảnh sát; kết hợp tổ chức "phượng hoàng", lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự kết hợp với chủ lực càn quét, yểm trợ cho bình định.


Trên chiến trường Đông Nam Bộ, địch tiến hành điều chỉnh, bố trí lại chủ lực: Đưa một sư đoàn Mỹ tăng cường đánh phá vùng trung tuyến thuộc phân khu 1, 4, 5, đẩy mạnh bình định lấn chiếm. Cuối tháng 4-1970, địch sử dụng 20 tiểu đoàn và 3 trung đoàn thiết giáp để tiến công sang biên giới Campuchia. Do đó, ở vùng nông thôn, lực lượng địch giảm 1/3 so với cuối năm 1969. Đây là điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang địa phương bám xã, ấp để xây dựng cơ sở, vận động con em các gia đình gia nhập du kích, liên tục tổ chức tiến công, tiêu hao tiêu diệt địch bằng nhiều trận đánh nhỏ lẻ, hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đánh phá bình định.


Trên mặt trận đánh phá bình định, ta đã diệt 3 đoàn bình định, có 165 tên ác ôn, bắt 11 tên công an do thám, cảnh cáo, trấn áp 114 tên, giải tán 578 phòng vệ dân sự, làm rã ngũ 469 tên khác, về phá kìm, tại Tây Ninh mở 40 ấp, Biên Hòa mở thêm 6 ấp, Vĩnh Cửu, Bà Rịa 30 ấp; phân khu 4 mở thêm 4 xã Nhơn Trạch; phân khu 5 mở rộng thêm nhiều lõm làm chủ trong 4 xã của Thủ Đức, 3 xã Dĩ An; phục hồi thế bám trụ 5 xã của Lái Thiêu; nâng thế làm chủ 6 xã Châu Thành và Tân Uyên; phân khu 1 phá trên 12 ấp thuộc Bến Cát, thị trấn Trảng Bom, phá lỏng kìm 4 trên 6 khu và trong một số thị trấn khác như Xuân Lộc, Tân Uyên, Gò Dầu, Trảng Bàng.
Tại Tây Ninh, ngoài các hoạt động của lực lượng vũ trang tiến công địch, đá đánh 646 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu trên 4.000 tên dịch, phá hủy nhiều xe quân sự và phương tiện chiến tranh, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở các xã, ấp. Đặc biệt, phong trào đấu tranh của quần chúng Cao Đài, vùng Tòa thánh Tây Ninh vạch mặt kẻ địch đội lốt đạo, chống âm mưu tái vũ trang Cao Đài.


Bước sang năm 1971, địch vẫn tiếp tục thực hiện chương trình bình định bằng việc triển khai kế hoạch "cộng đồng tự vệ cộng đồng phát triển", nhằm đạt tới 3 mục tiêu cơ bản là địa phương tự phòng, tự quản và tự túc phát triển. Để thực hiện kế hoạch trên, địch vừa triển khai hàng loạt các chiến dịch đánh phá hạ tầng cơ sở như "chiến dịch đại bàng", "vì dân", "phượng hoàng", tổ chức ủi phá địa hình, gom dân, phá căn cứ bàn đạp của ta, vừa tập trung chủ lực ra biên giới, cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược, phá kho tàng, tiêu hao và đẩy chủ lực ta ra xa. Địch đã chiếm thêm một số vùng giải phóng của ta, đóng thêm một số đồn, bót. Nhưng các ấp loại A, loại B lại bị giảm sút đi do ta phát triển được vào vùng yếu, vùng trắng. Cơ sở chính trị, vũ trang mật, chi bộ mật trong các ấp chiến lược trong đô thị vẫn tồn tại. Như vậy vành đai của ta vẫn duy trì tồn tại và phát huy tác dụng.


Nhằm đánh bại kế hoạch bình định của địch, các Tỉnh ủy, Tỉnh đội ở miền Nam Nam Bộ đều có chủ trương, kế hoạch lợi dụng sơ hở của địch trên chiến trường do quân chủ lực của chúng giảm đi, để từng bước khôi phục thế và lực tại chỗ. Tỉnh Tây Ninh dã bố trí lại lực lượng vừa đánh địch lấn chiếm, chống san ủi địa hình, vừa thọc sâu phối hợp giữa vành đai vòng ngoài và vòng trong của các địa phương. Lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh nhiều trận, kết hợp với phong trào du kích ở các xã, ấp được khôi phục và phát triển. Đã có 257 cuộc đấu tranh lớn nhỏ, với trên 30.000 lượt người tham gia, trong đó có 1.600 gia đình binh sĩ ngụy. Các tỉnh Long An, Bà Rịa, Bình Thuận, Bình Tuy đã hoạt động tích cực, phát huy vai trò chủ động tiến công của các vành đai, diệt nhiều sinh lực, làm tan rã một phần quân ngụy.


Đến năm 1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản. Quân ngụy Sài Gòn bộc lộ rõ là không thể thay thế quân Mỹ, nhưng quân Mỹ vẫn buộc phải rút hết ra khỏi miền Nam. Vì Níchxơn không thể hủy bỏ lời cam kết với các cử tri Mỹ trong nhiệm kỳ tổng thống.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM