vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:57:51 pm » |
|
- Tên sách: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình 1945-2020 - Tác giả: - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân - Năm xuất bản: 2021 - Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory
* Chỉ đạo nghiên cứu biên soạn: - QUẬN ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN - ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ QUẬN BA ĐÌNH
* Ban Chỉ đạo: - Đồng chí HOÀNG MINH DŨNG TIẾN, Thành Ủy viên, Bí thư Quận ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự quận - Trưởng ban. - Đồng chí NGUYỄN CÔNG THÀNH, Phó Bí thư Thường trực Quận ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân quận - Phó Trưởng ban. - Đồng chí TẠ NAM CHIẾN, Phó Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Phó Trưởng ban. - Thượng tá PHAN TỬ LĂNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận - Phó Trưởng ban. - Trung tá PHẠM HẢI THẮNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Công an quận - Ủy viên. - Đồng chí PHẠM THỊ HỒNG HẠNH, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân quận - Ủy viên. - Đồng chí TỐNG HỌC NGHĨA, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưỏng ban Tổ chức Quận ủy - Ủy viên. - Đồng chí HOÀNG NGỌC SÁU, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy - Ủy viên. - Đồng chí NGUYỄN THỊ MINH HÓNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Trường ban Dân vận Quận ủy - Ủy viên. - Đồng chí NGUYỄN PHÚ QUỐC, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Quận ủy - Ủy viên. - Đồng chí NGUYỄN TRUNG DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên. - Đồng chí Đỗ THỊ LAN HƯƠNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chánh Văn phòng Quận ủy - Ủy viên. - Đồng chí PHẠM THỊ DIỄM, Quận Ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên. - Đồng chí NGÔ MINH TUÂN, Quận Ủy viên, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên. - Thượng tá PHẠM TIẾN THÀNH, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên. - Đồng chí TRẦN XUÂN VỮNG, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận - Ủy viên.
* Ban Biên soạn: - Đại tá PHÙNG CHÍ CAO, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội - Trưởng ban. - Thượng tá PHAN TỬ LĂNG, Ủy viên Ban Thường vụ, Chỉ huy trưỏng Ban Chĩ huy Quản sự quận - Phó Trưởng ban. - Đồng chí ĐỖ THỊ DUY NHIÊN, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận - Ủy viên. - Đồng chí CỒ NHƯ DŨNG, Quận Ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - Ủy viên. - Thượng tá PHẠM TIẾN THÀNH, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận - Ủy viên. - Thượng tá TRỊNH QUỐC TUẤN, Phó Trường Công an quận - Ủy viên. - Đồng chí NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Quận Ủy viên, Chánh Thanh tra quận - Ủy viên. - Đồng chí LƯƠNG TUẤN DŨNG, Quận Ủy viên, Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận - Ủy viên; - Đồng chí LÊ THỊ KHANH, Quận Ủy viên, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin - Ủy viên. - Đồng chí LƯU THỊ KIM HIỀN, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị quận - Ủy viên. - Thượng tá NGUYỄN VĂN LONG, Trợ lý Phòng Khoa học quân sự Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội - Ủy viên. - Trung tá LUYỆN MINH HỒNG, Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm Chính trị Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên. - Thượng tá VƯƠNG ĐĂNG NINH, Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên. - Thượng tá NGUYỄN DUY AN, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự quận - Ủy viên.
* Thẩm định và bổ sung: Đại tá, PGS, TS NGUYỄN ĐỨC ĐỘ - Nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lý luận bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nên quốc phòng Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự.
* Có sự tham gia góp ý của: - Phòng Khoa học quân sự Bộ Tham mưu Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội. - Phòng Tuyên huấn Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội. - Phòng Lịch sử tư tưởng Tổ chức quân sự Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. - Hội Sử học Hà Nội. - Các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Ban Chỉ huy quân sự quận các thời kỳ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 11 Tháng Năm, 2026, 09:58:38 pm » |
|
LỜI TỰA CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN QUYẾT Lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với các đội vũ trang tiền thân là Đội Tự vệ công nhân, Đội Công nhân xung phong, Đội Tự vệ chiến đấu, Đội Danh dự Việt Minh, Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu... ra đời trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong 75 năm qua, kế thừa truyền thống yêu nước và sáng tạo của vùng đất Ba Đình lịch sử, địa linh, nhân kiệt, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình đã lập được nhiều thành tích hết sức vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng Thủ đô Hà Nội, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)" được xuất bản vào dịp Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang quận Ba Đình long trọng kỷ niệm 60 năm thành lập quận (5.1961 - 5.2021) là rất có ý nghĩa. Nội dung sách đã phản ảnh trung thực, phong phú, sinh động quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với lực lượng vũ trang nhân dân trong 75 năm qua ở quận trung tâm của Thủ đô Hà Nội. Cuốn sách là tài liệu rất quý báu phục vụ cho công tác học tập nghiên cứu và giáo dục truyền thống yêu nước, anh dũng, kiên cường "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình cho các thế hệ hiện nay và mai sau. Chúc lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục nêu cao phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", đoàn kết phấn đấu xây dựng ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó trong tình hình mới! Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2021
Đại tướng NGUYỄN QUYẾT Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 08:02:23 pm » |
|
LỜI GIỚI THIỆU Ba Đình, quận trung tâm của thành phố Hà Nội, vùng đất địa linh, nhân kiệt, có bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa lâu đời gắn với quá trình hình thành, phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng. Trong lịch sử dân tộc, vùng đất Ba Đình tự hào là trung tâm của kinh đô qua hầu hết các triều đại quân chủ (939 - 1945), trung tâm Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc; ngày nay là quận nội thành của thành phố - Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng đất quận Ba Đình trong lịch sử đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều danh nhân, nhân tài trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, đối ngoại..., góp phần làm rạng danh non sông, đất nước. Suốt lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc, nhân dân vùng đất Ba Đình luôn giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Trong thời kỳ nghìn năm chống các thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ, thời kỳ quân chủ, nhân dân vùng đất Ba Đình đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân lộc. Trong giai đoạn 1930 - 1945, địa bàn quận Ba Đình là một trong những cơ sở cách mạng của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ. Thực hiện chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực nhằm đánh đổ chính quyền thực dân giành chính quyền về tay công nông, Đảng ta đã sớm chủ trương tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng. Lực lượng vũ trang Ba Đình, với tổ chức tiền thân là các đội tự vệ, ra đời trong quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta, kế thừa và phát huy truyền thống của quê hương, luôn dũng cảm, kiên cường, đi đầu và làm nòng cốt cho các thế hệ, tầng lớp nhân dân Ba Đình trong đấu tranh vũ trang, tham gia tổng khởi nghĩa, đánh đổ chế độ thực dân, giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, lực lượng vũ trang Ba Đình được xây dựng, phát triển, cùng với nhân dân Ba Đình tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ; cùng với nhân dân Thủ đô Hà Nội chiến đấu kiên cường trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, bảo vệ cho các cơ quan Trung ương rút lên Chiến khu Việt Bắc an toàn. Những chiến công vang dội của lực lượng vũ trang Ba Đình trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân, đoàn kết nội bộ lực lượng vũ trang, biểu tượng của ý chí, tinh thần quyết chiến, quyết thắng "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" của lực lượng vũ trang và nhân dân Ba Đình. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là Khu ủy, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng với nhân dân anh dũng, kiên cường vừa sản xuất, vừa chiến đấu, chi viện sức người, sức của cho quân và dân miền Nam, góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bước vào thời kỳ cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1975 - 2020), dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, trực tiếp là Quận ủy Ba Đình, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình không ngừng phát triển, cùng với nhân dân tích cực tham gia khắc phục hậu quả sau chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, chi viện sức người, sức của cho các mặt trận biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt chức năng tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ quận, thành phố ngày càng vững chắc; phối hợp với lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, quân đội, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng quận Ba Đình, Thủ đô Hà Nội giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Với những thành tích xuất sắc đạt được trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình được Đảng, Nhà nước, phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" và nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý khác. Thực hiện Thông báo số 834 ngày 16 tháng 8 năm 2019 của Quận ủy Ba Đình, Quyết định số 2639-QĐ/QU ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Thường vụ Quận ủy Ba Đình, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình tổ chức nghiên cứu biên soạn cuốn: "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)". Theo Luật Quốc phòng 2005 (nay là Luật Quốc phòng năm 2018), thành phần lực lượng vũ trang nhân dân ở nước ta gồm: Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Tuy nhiên, do đặc điểm về tổ chức và hoạt động của lực lượng Công an nhân dân nên lịch sử Công an nhân dân quận Ba Đình được biên soạn riêng để phản ánh đầy đủ những đặc thù của Công an nhân dân. Được sự đồng ý của Ban Chỉ đạo, Ban Biên soạn xác định đối tượng, phạm vi cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình (1945 - 2020)" bao gồm các cơ quan quân sự cấp quận, phường, đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dân quân tự vệ quận Ba Đình qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1945 đến năm 2020. Cuốn sách là công trình khoa học lịch sử quân sự được nghiên cứu và biên soạn công phu dựa trên nhiều nguồn tư liệu quý, phản ánh trung thực lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền quận qua các thời kỳ lịch sử; là tài liệu tham khảo quý báu phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và giáo dục truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân quận Ba Đình; xây dựng lòng tự hào và động viên mọi tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đồng thời, cuốn sách còn là tài liệu tham khảo quý báu để tiếp tục triển khai thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, biên soạn sách, tài liệu lịch sử của thành phố Hà Nội, quận Ba Đình và các địa phương trên địa bàn quận. Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn sách, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Ba Đình, sự giúp đỡ về chuyên môn của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Kiện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Hội Sử học Hà Nội, Phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu, Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; sự giúp đỡ, góp ý, cung cấp tư liệu, tài liệu quý báu của các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chỉ huy Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình qua các thời kỳ. Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình chân thành cảm ơn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Ba Đình và các cơ quan, đơn vị, cá nhân đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách được xuất bản, phát hành đúng kế hoạch. Mặc dù Ban Biên soạn đã nỗ lực trong công tác sưu tầm tư liệu, tài liệu và biên soạn, song do nhiều nguyên nhân, một số tư liệu lưu trữ bị thất lạc nên cuốn sách không tránh khỏi những hạn chế, chưa đề cập đầy đủ về sự kiện, nhân vật, văn bản pháp lý... phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình trong 75 năm qua. Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Ba Đình và Ban Biên soạn rất mong nhận được sự góp ỷ của bạn đọc để nâng cao chất lượng cuốn sách khi tải bản. Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc! ĐẢNG ỦY, BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ QUẬN BA ĐÌNH
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 08:06:06 pm » |
|
Mở đầu VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI, VĂN HÓA - TRUYỀN THÔNG QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Kể từ năm 1010, vua Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình về Thăng Long cho đến trước năm 1945, trải qua hơn 9 thế kỷ, vùng đất Ba Đình luôn giữ vị trí quan trọng của kinh thành Thăng Long qua các thời Lý, Trần, của Đông Kinh thời Lê, của Hà Nội thời Nguyễn và là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia - Thủ đô của nước ta từ năm 1945. Trong lịch sử, Ba Đình vốn là một vùng đất gồm hầu hết các phường, thôn của huyện Vĩnh Thuận cũ 1 (Huyện Vĩnh Thuận xưa là huyện Quảng Đức được đặt tên từ năm 1469 thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1865, huyện Quảng Đức đổi tên thành huyện Vĩnh Thuận), trong đó có 12 thôn của tổng Yên Thành, 3/7 phường của tổng Thượng, 9 trại của tổng Nội, 5/6 phường của tổng Trung, 1/7 phường của tổng Hạ. Phía Tây Nam Ba Đình xưa là khu vực thành cũ của thành Thăng Long đã bị thực dân Pháp phá hủy vào cuối thế kỷ XIX. Ba Đình vốn là tên một chiến khu ở Nga Sơn (Thanh Hóa) - căn cứ chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đinh Công Tráng vào nửa sau thế kỷ XIX. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Ba Đình được đặt tên cho vườn hoa tại ngã sáu phía sau vườn Bách Thảo. Năm 1959, sau 4 năm Hà Nội được giải phóng, tên gọi Ba Đình được đặt cho một trong 8 khu phố nội thành. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập khu phố Ba Đình trên cơ sở sáp nhập khu phố Ba Đình và Trúc Bạch cũ cùng 3 xã nông nghiệp phía Nam Hồ Tây. Thời kỳ này, khu phố Ba Đình được chia làm 50 khối phố; đến tháng 5 năm 1968 được sáp nhập thành 30 tiểu khu. Năm 1981, khu phố Ba Đình được đổi tên thành quận Ba Đình gồm 15 phường. Thực hiện Nghị định số 69/CP ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Chính phủ, các phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ chuyển sang thuộc quận Tây Hồ. Ngày 5 tháng 1 năm 2005, Chính phủ ra Nghị định số 02/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các phường: Ngọc Hà, Cống Vị, Ngọc Khánh và thành lập thêm 2 phường mới là Liễu Giai, Vạn Phúc. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiênQuận Ba Đình ngày nay là quận trung tâm của thành phố Hà Nội, có diện tích 9,29km 2, với hơn 24 vạn dân (điều tra dân số tháng 7 năm 2019) và 14 đơn vị hành chính gồm các phường: Cống Vị, Đội Cấn, Điện Biên, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Ngọc Hà, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc Xá, Quán Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Liễu Giai, Vĩnh Phúc. Đặc biệt, trên địa bàn quận Ba Đình tập trung hầu hết các cơ quan của Trung ương Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ; cơ quan ngoại giao, quốc tế. Phía Bắc quận Ba Đình giáp quận Tây Hồ, phía Đông giáp quận Hoàn Kiếm, phía Nam giáp quận Đống Đa, phía Tây giáp quận Cầu Giấy. Phía Bắc quận Ba Đình có hồ Trúc Bạch, từng là nơi sinh sống của cư dân làm nghề chài lưới; nơi ngâm giữ tơ sợi, giặt lụa của nhiều làng lụa thời xưa. Phía Đông quận Ba Đình có sông Hồng (còn gọi là sông Nhị Hà, sông Cái) chảy uốn lượn; sông Tô Lịch chảy từ Đông sang Tây rồi chuyển xuống phía Nam quận Ba Đình tạo thành ranh giới tự nhiên với quận Cầu Giấy; sông Kim Ngưu mở cửa vào Hồ Tây, chảy theo chiều Bắc - Nam tạo thành vùng đất Ngọc Hà, dọc theo đường Ông Ích Khiêm - Lê Trực, luồn qua đường Cát Linh chảy xuống Hào Nam. Quận Ba Đình trước đây là vùng non nước, sông hồ hài hòa về phong thủy tạo khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của một vùng địa danh chốn kinh đô của hầu hết các triều đại quân chủ nước ta. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ có viết: Thật là chỗ hội tụ của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời. Kinh tếTrải qua nhiều thế kỷ, người dân trên địa bàn vùng đất Đại La, sau này là Thăng Long, Hà Nội, đã tạo dựng nên vùng nông nghiệp lúa nước, trồng dâu nuôi tằm, trồng hoa, cây cảnh...; nhiều nghề thủ công truyền thống sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và mỹ thuật cao, như: Dệt vải, đúc đồng, làm gốm, nung gạch, làm giấy bản, giấy dó, nung vôi, làm bún, nấu rượu,... Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với việc ổn định tổ chức bộ máy cai trị, chúng đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Mặc dù Hà Nội về thương mại, công nghiệp ít phát triển, song chính quyền thực dân cũng đã mở một số nhà máy trên địa bàn Hà Nội để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và khai thác nguồn nhân công rẻ mạt, như xây dựng nhà máy rượu năm (năm 1892), nhà máy nước (năm 1894), trong đó có đài nước ở Hàng Đậu, thành lập Sở xe điện (1899), Nhà máy đèn Bờ Hồ (1892),... Trên địa bàn Hà Nội, một vài nhà tư sản Việt Nam cũng đã đứng ra tổ chức sản xuất, nhưng do vốn ít nên chỉ mở được những xưởng nhỏ, số lượng công nhân ít. Nhìn chung, dưới chính quyền thực dân, đời sống của hầu hết người công nhân, nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ ở Hà Nội, trong đó có Ba Đình, vô cùng cực khổ, vất vả và bị bóc lột nặng nề. Người dân phải chịu nhiều thứ thuế do chính quyền thực dân đề ra. Hầu hết các tầng lớp dân cư, như công nhân, nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ... đời sống không ổn định, nung nấu căm thù, sẵn sàng vùng lên tham gia phong trào cách mạng đánh đổ chính quyền thực dân. Chính trị - xã hộiVùng đất Hà Nội, trong đó có địa bàn Ba Đình, đã sớm trở thành trung tâm chính trị - hành chính của đất nước. Vào thế kỷ thứ III Tr.CN, cùng đất Cổ Loa ngày nay, được An Dương Vương chọn làm kinh đô của nước Âu Lạc, đánh dấu mốc lịch sử mở ra vị thế trung tâm chính trị của Hà Nội, trong đó có quận Ba Đình. Trong thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ và chống lại sự đô hộ của chúng, khi Lý Nam Đế thành lập nước Vạn Xuân (544 - 602) cũng đã chọn vùng đất Hà Nội ngày nay làm kinh đô. Nhiều vương triều phong kiến phương Bắc khi đô hộ nước ta cũng đã đặt phủ Thứ sử Giao Châu ở thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Vào đầu thế kỷ thứ X, sau khi giành được quyền tự chủ, chính quyền họ Khúc, sau đó là họ Dương cũng chọn Đại La là nơi dựng nghiệp. Khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán (năm 938) đã xưng vương và chọn Cổ Loa làm kinh đô thì vùng đất Hà Nội trở thành kinh đô nước ta. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô về thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long, cho xây dựng một số cung điện. Tiếp sau nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê đều chọn Thăng Long là kinh đô và cho xây dựng, tu bổ thêm. Năm 1802, sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, dựng lên triều đại nhà Nguyễn, lập kinh đô ờ Huế. Năm 1805, nhà Nguyễn cho phá thành Thăng Long cũ, xây Bắc thành, đặt chức Tổng trấn. Năm 1831, nhà Nguyễn bỏ chức Tổng trấn, bỏ Bắc thành đổi tên là Hà Nội và đặt chức Tổng đốc cho thành Hà Nội. Sau khi hoàn thành xâm lược nước ta, thực dân Pháp chọn Hà Nội là địa điểm đặt phủ Toàn quyền Đông Dương và xây dựng thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa phục vụ cho chính sách thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Sớm là trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, văn hóa của cả nước, vùng đất Hà Nội, trong đó có Ba Đình, là nơi sản sinh ra nhiều nhân vật anh hùng chống giặc ngoại xâm và nghệ nhân, danh nhân. Theo truyền thuyết, làng Vạn Phúc có cậu bé da đen, tiếng nói như sấm, khi lớn lên đã hăng hái ra trận và đánh tan giặc ngoại xâm. Trên núi Sưa trong vườn Bách Thảo, đình Ngọc Hà, Hữu Tiệp có thờ thần Hắc Đế - tương truyền là vị thần đã âm phù nhà Lý đánh giặc ngoại xâm, được vua phong là Huyền Thiên Hắc Đế. Ở các phường nghề thủ công cũng lưu truyền những truyền thuyết về ông tổ nghề. Nhiều danh nhân nổi tiếng của kinh đô và cả nước đã sinh trưởng hoặc cư trú ở vùng đất Ba Đình xưa. Thời nhà Lý có Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) - người đã chỉ huy chiến thắng quân xâm lược nhà Tống trên sông Như Nguyệt năm 1077, được vua Lý truy phong chức Kiểm hiệu Thái úy, tước Việt quốc công. Dưới triều Trần, có một số danh nhân văn học, danh nhân quân sự nổi tiếng như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1226 - 1300); Chiêu Minh vương Trần Quang Khải (1241 - 1294)... Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược có Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là quân sư của Lê Lợi, linh hồn của nghĩa quân. Thời Lê có Lê Thánh Tông (1442 - 1497), là vị vua có tâm hồn thi sĩ, đứng đầu hội Tao Đàn gồm 28 nhà thơ nổi tiếng đương thời; Trương Đình Tuyên, nổi tiếng hay chữ, tác giả cuốn Hàn quyết các khoa thi tập; Hồ Xuân Hương, nữ sĩ được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Đầu triều Nguyễn, có Lý Văn Phức (1785 - 1849), là nhà văn giỏi cả chữ Hán và chữ Nôm, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như: Học ngâm tồn thảo, gồm 80 bài thơ viết khi vừa thi đỗ cho đến khi bắt đầu làm quan (1819), Hải hành ngâm (ngâm trong lúc đi trên biển), Tây hành kiến văn kỷ lược (lược ghi những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi về phía Tây), gồm những ghi chép trong dịp đi hiệu lực ở vùng biển Tiểu Tây dương năm 1830, Mân hành tạp vịnh thảo (tạp vịnh trong chuyến đi đến đất Mân), là tập thơ làm trên đường đi sang đất Mân Việt (Phúc Kiến, Trung Quốc) năm 1831, Việt hành tục ngâm (thơ ngâm tiếp trong chuyến đi Việt Đông), Đông hành thi tạp lục (tạp ghi bằng thơ trong chuyến đi về phía Đông), làm trong chuyến đi công cán đến Lữ Tống năm 1832,.... Thời nhà Mạc có Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), còn được gọi là Trạng Trình, là danh sĩ có tài văn chương và tinh thông lý học, tướng số. Ngoài ra, Ba Đình xưa còn là vùng đất có nhiều người đỗ đạt khoa bảng, tiến sĩ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2026, 08:08:43 pm » |
|
Văn hóa - truyền thống
Ba Đình, Hà Nội là vùng đất lịch sử với nhiều di tích lịch sử - văn hóa. Trong cái nôi của văn minh sông Hồng, cư dân vùng đất Ba Đình xưa đã xây dựng nên một bản sắc văn hóa trải qua nhiều thế kỷ ở đất kinh kỳ, góp phần xây dựng nên một Thăng Long ngàn năm văn hiến với nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng, như: Đền Quán Thánh (cạnh Hồ Tây), trong đền có tượng Thánh Trấn Vũ, là một trong Thăng Long tứ trấn; Đền Voi Phục, còn gọi là đền Thủ Lệ (phường Ngọc Khánh), cũng là một trong Thăng Long tứ trấn; chùa Một Cột (xây dựng năm 1049, thời nhà Lý), biểu tượng của kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội; Hồng Phúc Tự (tương truyền có từ thời Lý); cột cờ Hà Nội (được xây dụng từ thời nhà Nguyễn),... Thời hiện đại, Ba Đình là quận vinh dự có những di tích cách mạng của cả nước, như Quảng trường Ba Đình, Phủ Chủ tịch, Nhà sàn Bác Hồ, Lăng Bác, Bảo tàng Hồ Chí Minh,...
Trải qua bao năm tháng xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, người dân Ba Đình xưa và nay đã xây đắp nên truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Truyền thống đó là di sản tinh thần quý báu được các thế hệ cư dân Ba Đình gìn giữ, phát huy trong giai đoạn lịch sử mới xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng nước ta, phong trào cách mạng của cả nước nói chung, Hà Nội nói riêng, trong đó có Ba Đình đã phát triển mạnh mẽ, sôi nổi. Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào đấu tranh, bãi công của công nhân trên địa bàn Hà Nội, trong đó có Ba Đình bùng nổ mạnh mẽ. Trong phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ, cơm áo, hòa bình (1936 - 1939), một số tổ chức đoàn thể, quần chúng ở địa bàn Ba Đình được hình thành, điển hình như Hội ái hữu, Hội tương tế, Hội thể thao, Hội truyền bá quốc ngữ,... Trong phong trào đấu tranh cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945), một số tổ chức đoàn thể thuộc Mặt trận Việt Minh như Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Văn hóa cứu quốc,... được thành lập, hoạt động ở địa bàn Ba Đình. Đồng thời, trong thời kỳ này, ở một số nhà máy trên địa bàn Ba Đình đã thành lập đội tự vệ chiến đấu, với vũ khí thô sơ tự làm, tập luyện bí mật, theo dõi tình hình địch. Thực hiện Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Thường vụ Trung ương Đảng, Thành ủy phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước. Tháng 4 năm 1945, thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự tại làng Tân, Nghĩa Đô chủ trương đẩy mạnh xây dụng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Các tổ chức vũ trang trên địa bàn Ba Đình dưới hình thức đội tự vệ bí mật ở các nhà máy, làng mạc được xây dựng, phát triển, tích cực tập luyện quân sự, chuẩn bị vũ khí và làm nòng cốt cho quần chúng đấu tranh. Từ tháng 4 năm 1945, các đội tự vệ công nhân phối hợp với Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong tiến hành các cuộc đột kích tuyên truyền, diễn thuyết, trừ gian. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, các đội Tự vệ công nhân, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong cùng với các hội cứu quốc và nhân dân trên địa bàn Ba Đình dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, lập Ủy ban cách mạng ở các khu phố. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng thành công ở Hà Nội.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lực lượng vũ trang Ba Đình tích cực tham gia chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), hưởng ứng "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng với lực lượng vũ trang của Hà Nội đã anh dũng chiến đấu giam chân địch trong thành phố với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh"; đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn khi Hà Nội bị quân địch chiếm đóng và phối hợp với các chiến trường góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, tham gia với các lực lượng tiếp quản giải phóng Thủ đô.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình không ngừng phát triển và có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Ba Đình tích cực tham gia ổn định chính trị, trật tự xã hội, khôi phục, phát triển kinh tế sau chiến tranh; phát triển lực lượng, xây dựng thế trận, đối phó âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ; phối hợp với lực lượng chiến đấu góp phần đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, tích cực chi viện cho chiến trường miền Nam; tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng, phát triển lực lượng, chi viện cho các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong giai đoạn 1975 - 2000, đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới, lực lượng vũ trang Ba Đình cùng các tầng lớp nhân dân xây dựng, kiến thiết Thủ đô, tham gia xây dựng thế trận, sẵn sàng chiến đấu, phát triển lực lượng và chi viện cho cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu bảo vệ quận những năm đầu đổi mới; tăng cường bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu, phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân những năm đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong giai đoạn 2000 - 2020, cách mạng nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống; xây dựng thế trận, khu vực phòng thủ vững chắc, bảo vệ sự nghiệp kiến thiết Thủ đô văn minh, giàu đẹp và hội nhập quốc tế; đổi mới toàn diện đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Thủ đô trong thời kỳ mới.
Ra đời trong sự nghiệp cách mạng, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của vùng đất Ba Đình địa linh, nhân kiệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình từ các tổ chức tiền thân đã được xây dựng, trưởng thành, chiến đấu, chiến thắng, góp phần vào sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội, sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời, góp phần vào những chiến công oanh liệt của nhân dân Hà Nội, những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Những giá trị truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình trong 75 năm qua đã và đang là hành trang, nguồn động lực tinh thần lớn lao cho lực lượng vũ trang nhân dân quận Ba Đình tiếp tục trưởng thành, vượt qua khó khăn, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:03:08 pm » |
|
Chương 1 LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1954) 1. Các đội tiền thân lực lượng vũ trang quận Ba Đình tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn nước ta, thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam vào ách đô hộ một cổ hai tròng. Tháng 10 năm 1940, quân Nhật vào Hà Nội, chúng đặt cơ quan tối cao trong Thành phố. Chính sách đàn áp của Nhật - Pháp càng đè nặng lên các tầng lớp nhân dân; mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và phát xít Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Vấn đề giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc trở thành yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam. Tình thế thay đổi đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải mau chóng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Tháng 11 năm 1939, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương và chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính lúc này là thực dân Pháp. Trên địa bàn Ba Đình, từ cuối năm 1939, đồng chí Hoàng Văn Thụ được phân công về hoạt động, trực tiếp chỉ đạo công tác binh vận; đồng chí đã viết nhiều bài trên báo Giải phóng, giải thích chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế để tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Năm 1941, thực dân Pháp, phát xít Nhật càng ra sức đàn áp phong trào cách mạng. Tại Ba Đình, chúng đặt thêm bốt cảnh sát, kiểm soát chặt chẽ các cửa ô; cử mật thám, chỉ điểm vào các xí nghiệp, khu lao động để theo dõi hoạt động, đồng thời gieo rắc hoài nghi tiếp tục phá hoại phong trào cách mạng. Một số cơ sở cách mạng bị phá vỡ, nhiều cán bộ chủ chốt bị địch bắt, như các đồng chí Lưu Quyền, Trần Đăng Ninh, Trần Cư, Lê Quốc Thân... gây ra những tổn thất lớn và thử thách cho phong trào cách mạng ở Hà Nội. Trước sự tiến công của kẻ thù, trên địa bàn Ba Đình, một số ít đảng viên, quần chúng dao động nằm im, số đông vẫn kiên trì, bền bỉ hoạt động, tìm cách chắp nối liên lạc, khôi phục cơ sở. Đồng chí Trần Ngọc Minh phụ trách công vận đã liên lạc với đồng chí Hoàng Cầm - thợ dệt xưởng Hồng Bàng, các đồng chí Duyên, Bích - thợ xẻ, đồng chí Thân ở bãi Phúc Xá... để hoạt động. Các cơ sở Đảng và cơ sở quần chúng tại các nhà máy trên địa bàn Ba Đình, như: Nhà máy in Viễn Đông, Nhà máy điện, Nhà máy nước Yên Phụ cũng dần được xây dựng, củng cố lại. Ngày 13 tháng 4 năm 1941, truyền đơn lại tung ra trên sân vận động Măngdanh (sân Cột Cờ) phản đối việc tử hình tù chính trị ở Hà Nội. Mùa Xuân năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tháng 5 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị phân tích tình hình và quyết định nhiệm vụ cần kíp, nổi lên hàng đầu lúc này là giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh với các tổ chức thành viên lấy tên "cứu quốc": Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc... Tháng 6 năm 1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi lời kêu gọi quốc dân đồng bào cả nước gia nhập các đoàn thể cứu quốc chống Pháp, chống Nhật. Ở Ba Đình, phong trào cách mạng chuyển dần theo tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 8. Công nhân cứu quốc được thành lập ở Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà in Viễn Đông, 1 tiểu tổ Quân nhân cứu quốc ở Trung đoàn bộ binh Đông Dương thứ nhất đóng quân đường Cột Cờ, Sở tuyển binh đường Lý Nam Đế. Một tổ thanh niên đã lấy được 1 máy in của Trường Kỹ nghệ thực hành mang về chùa Bát Mẫu, làng Hữu Tiệp để in báo của Đoàn Thanh niên cứu quốc. Cuối năm 1941, truyền đơn Mặt trận Việt Minh in lời kêu gọi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên nền cờ đỏ sao vàng cũng đến với nhân dân Ba Đình. Năm 1942, mặc dù thực dân Pháp, phát xít Nhật tăng cường khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, một số cán bộ bị bắt, song những chiến sĩ cộng sản hoạt động trên đất Ba Đình vẫn chắp nối lại phong trào, lãnh đạo phong trào phát triển. Năm 1943, đồng chí Nguyễn Quyết (nguyên Tỉnh Ủy viên Tỉnh ủy Hưng Yên) được Đảng cử về hoạt động ở Hà Nội, giữ chức vụ Thành Ủy viên, tham gia Ban Cán sự xây dựng phong trào phản đế ở Hà Nội. Cũng trong thời gian này, một số cán bộ, đảng viên do Ban Công vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và Ban Cán sự Đảng Hà Nội cử đến hoạt động trong một số nhà máy trên địa bàn Ba Đình, đã thúc đẩy mạnh phong trào đấu tranh của công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học và che giấu, bảo vệ cán bộ. Ở ngoại thành, các tổ chức thanh niên được thành lập và tiến hành nhiều hình thức hoạt động tuyên truyền và đấu tranh phong phú. Như ở Đại Yên, tổ chức thanh niên được thành lập, vừa đấu tranh chống các hủ tục trong làng, vừa tuyên truyền Việt Minh, hát những bài ca yêu nước gần như công khai. Truyền đơn, khẩu hiệu, cở Việt Minh xuất hiện ở Đại Yên, Ngọc Hà, Hữu Tiệp với nội dung đánh Pháp, đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh. Các tờ báo bí mật như: Cờ Giải phóng, Cứu quốc được lưu hành trong quần chúng cách mạng. Năm 1944, Ba Đình là địa bàn có nhiều cơ sở liên lạc của Đảng, của tổ chức Văn hóa cứu quốc. Vùng Bưởi - Cầu Giấy - Dịch Vọng trở thành vùng đứng chân và bàn đạp của Ban Cán sự Đảng thành phố Hà Nội để mở rộng cơ sở cách mạng vào nội thành. Cuối năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến chuyển thuận lợi cho cách mạng. Liên Xô chuyển sang phản công phát xít Đức. Cuộc đấu tranh du kích chống Nhật ở Việt Bắc đã ảnh hưởng lớn đến phong trào cả nước. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân sắm vũ khí đuổi kẻ thù chung. Không khí cách mạng sục sôi khắp nơi. Tại Hà Nội, không khí chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra gấp rút. Ở Ba Đình, trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển trong năm 1944 và nhu cầu bảo vệ cán bộ, bảo vệ quần chúng, chống đàn áp khủng bố của địch, các tổ chức đảng giao cho các đoàn thể cách mạng tổ chức các đơn vị Tự vệ bí mật. Các đoàn thể cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp đã lập ra các tổ Tự vệ bí mật. Ở Xưởng xẻ gỗ Xăngcô (Sanko) của Nhật, tổ tự vệ đầu tiên được tổ chức gồm 5 đồng chí: Thâu, Thanh, Nho, Thông, Bích, do đồng chí Thâu làm Tổ trưởng. Nhà máy điện Yên Phụ lập ra trung đội Tự vệ bí mật và tổ chức tập luyện, theo dõi tình hình địch, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của công nhân. Lợi dụng bọn Nhật ở nhà máy bắt công nhân rèn dao, kiếm cho chúng, anh em tự vệ đã tranh thủ làm thêm vũ khí thô sơ để tự trang bị. Ở Nhà máy nước Yên Phụ, Nhà máy rượu, bia, Nhà máy in Viễn Đông, xưởng sửa chữa súng của Pháp trong thành, v.v... đều thành lập các đội Tự vệ bí mật. Ở ngoại thành, nhiều làng đã lập ra các tổ chức Tự vệ bí mật trong nông dân, thợ thủ công, thanh niên, phụ nữ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:04:46 pm » |
|
Từ những tổ, nhóm Tự vệ bí mật rộng rãi ở ngoại thành và tại các nhà máy trong nội thành, các đội Tự vệ chiến đấu được thành lập. Các đội Tự vệ chiến đấu được tuyển chọn khá chặt chẽ, gồm những đội viên trẻ, khỏe, trung kiên, hăng hái nhất, đã qua thử thách, qua đấu tranh trong các đoàn thể cứu quốc. Để tổ chức được một tổ Tự vệ chiến đấu, có khi phải ghép tới vài ba xí nghiệp. Khi có chủ trương của Ban Cán sự Đảng về xây dụng các đội Tự vệ chiến đấu, các đồng chí cán bộ, đảng viên, hội viên cứu quốc ở Ba Đình đều đăng ký tham gia.
Sự phát triển các đội Tự vệ chiến đấu ở Ba Đình đã hình thành lực lượng tự vệ chiến đấu được biên chế, tổ chức thống nhất theo nguyên tắc mỗi tổ từ 3 đến 5 người, 3 tổ thành 1 tiểu đội 3 tiểu đội thành 1 liên đội, 3 liên đội thành 1 đoàn.
Về hình thức huấn luyện công tác cho các đội Tự vệ bí mật, Tự vệ chiến đấu được vận dụng bằng nhiều hình thức, phương pháp linh hoạt. Bên cạnh việc đẩy mạnh xây dựng, phát triển các đoàn thể cách mạng, Thành ủy chỉ đạo lợi dụng các tổ chức của địch như "Thanh niên phòng thủ thụ động" (vùng Bưởi) để tuyên truyền các chủ trương cứu nước của Việt Minh và tranh thủ quần chúng trong các tổ chức này. Lợi dụng phong trào tập thể thao, tập võ được Nhật khuyến khích nhằm lôi kéo, lừa bịp thanh niên, tổ chức cho anh em tự vệ lợi dụng danh nghĩa các hội kiếm, hội võ, hội bơi để huấn luyện, bồi dưỡng lẫn nhau. Bãi tập có lúc ở sân bóng, lúc ở vỉa hè, khi ở ven Hồ Tây hoặc ở nhà cơ sở tin cậy. Tập bắn súng thì giả đi cắm trại, ra ngoại thành. Ở ngoại thành, các tổ chức đảng và đoàn thể cách mạng tổ chức xây dựng ở mỗi làng 1 tổ tự vệ, như ở khu Bưởi, các tổ, đội tự vệ ra đời và hoạt động khá mạnh.
Tháng 11 năm 1944, trước sự đòi hỏi phát triển lực lượng cách mạng chuẩn bị khởi nghĩa, đồng chí Vũ Oanh - Ủy viên Ban Cán sự Hà Nội, phụ trách công tác thanh vận, trực tiếp chỉ đạo thành lập Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong Thành Hoàng Diệu để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cách mạng. Lúc đầu thành lập, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong Thành Hoàng Diệu có 5 người đều là thành viên của Đoàn Thanh niên và Tự vệ cứu quốc, gồm các đồng chí: Hà Minh Tuân (tức Nguyễn Minh Trì, bí danh Thiếc), Hà Đình Kim (Thạch), Phan Hy Đào (Thái Hy), Đinh Quang Hàm (Ngô), Minh Đăng. Đồng chí Hà Minh Tuân là học sinh Trường Bưởi, đảng viên mới kết nạp, làm Đội trưởng. Vũ khí của Đội do các cơ sở trong quần chúng quyên góp ủng hộ, chủ yếu là dao găm, súng ngắn, dùng để bảo vệ công tác tuyên truyền và tự vệ trong những tình huống bất trắc. Đồng chí Hà Minh Tuân được Ban Cán sự cấp cho 1 khẩu súng ngắn và 1 quả lựu đạn. Công tác chuẩn bị và thực hành diễn thuyết xung phong được nghiên cứu và tổ chức như một trận chiến đấu: Tổ chức trinh sát thực địa, phân công người diễn thuyết, người bảo vệ, chọn thời điểm thích hợp, có phương án đề phòng tình huống bất trắc xảy ra.
Từ cuối năm 1944, phong trào cách mạng ờ Đại Yên, Ngọc Hà, Hữu Tiệp và ở nhiều địa phương khác trên địa bàn Ba Đình được đẩy mạnh, các đoàn thể cứu quốc tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trên đất Ba Đình. Truyền đơn, khẩu hiệu, cờ Việt Minh xuất hiện khắp nơi với nội dung đánh Pháp, đuổi Nhật, ủng hộ Việt Minh.
Năm 1945, tình hình thế giới chuyển biến mau lẹ. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Quân Nhật thua liên tiếp trên mặt trận Thái Bình Dương. Ở châu Âu, phát xít Đức - Ý đầu hàng. Nước Pháp được giải phóng. Bọn thực dân Pháp ờ Đông Dương định ngóc đầu dậy. Mâu thuẫn giữa Nhật, Pháp ngày càng căng thẳng. Dự đoán Nhật sẽ hất cẳng Pháp, đồng chí Trường Chinh triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng, họp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Đúng như dự đoán, đêm 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Ở Ba Đình, 20 giờ 25 phút tối ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân Nhật nổ súng vào các doanh trại quân Pháp trong thành. Quân Nhật tràn xuống các phố, đánh chiếm các kho, trại lính, Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước. Quân Pháp đã nhanh chóng đầu hàng Nhật. Sau khi lật đổ Pháp, quân Nhật giở giọng lừa bịp, tuyên bố cho Việt Nam độc lập, dựng lên chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim. Quân Nhật cố gắng tìm mọi cách ổn định tình hình, song xã hội vẫn hỗn loạn. Để lập lại trật tự, phát xít Nhật dùng mọi thủ đoạn tàn bạo ở khắp nơi để thị uy: Chặt đầu người ở đầu đê Giá Nứa (đường Yên Phụ), nhét người vào bụng ngựa rồi chôn sống ở Trường Hàng Than.
Từ trước đó, để phục vụ cho cuộc chiến tranh, quân Pháp và quân Nhật đã ra sức vơ vét, bóc lột kinh tế, phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng, thủ tiêu dân chủ, gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chết 2 triệu người. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, phát xít Nhật, nay là giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với phát xít Nhật càng trở nên gay gắt, không thể điều hòa.
Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Bản Chỉ thị nêu lên sau cuộc đảo chính, phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương; chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, cổ động, thay đổi các hình thức đấu tranh cho thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tổ chức các đội tự vệ cứu quốc, thành lập căn cứ địa mới, thống nhất các chiến khu, thành lập Việt Nam Giải phóng quân và sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi đã có đủ điều kiện.
Quán triệt Chỉ thị của Trung ương, Thành ủy Hà Nội phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước, tranh thủ tuyệt đại đa số nhân dân đứng về phía cách mạng.
Sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự ở chùa làng Tân (Nghĩa Đô), do đồng chí Nguyễn Quyết - Bí thư Thành ủy, Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội chủ trì. Hội nghị quyết định đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa.
Ở Ba Đình, các lực lượng vũ trang cùng nhân dân quán triệt chỉ thị của Trung ương, chỉ đạo của Thành ủy và Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, đẩy mạnh phong trào đấu tranh rộng khắp trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học, khu phố, làng xã. Các đội Tự vệ công nhân, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong "xuất quỷ nhập thần", tiến hành các cuộc đột kích tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, kêu gọi quần chúng ủng hộ và tham gia phong trào Việt Minh chống phát xít Nhật, cứu nước. Trong các rạp hát, rạp chiếu bóng Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong mưu trí, táo bạo, đột nhập tuyên truyền, kêu gọi nhân dân đấu tranh, chuẩn bị khởi nghĩa, làm cho quần chúng thán phục, kẻ địch hoang mang.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:08:05 pm » |
|
Những tổ chức Việt Minh bí mật được đẩy mạnh xây dựng và hoạt động mạnh hơn trước. Đồng chí Nguyễn Văn Tịch (Vũ Yên), người làng Phúc Xá làm công nhân sửa chữa ở sân bay Bạch Mai, vừa hoạt động tích cực nơi làm việc, vừa tham gia tuyên truyền lớp thanh niên trong làng, đêm đi đò ra giữa sông Hồng để trao đổi về Điều lệ Việt Minh, sau kết nạp vào Thanh niên cứu quốc các anh em Nguyễn Văn Đối, Ngô Trọng Bảo, v.v... Sau đó, từng người tiếp tục tuyên truyền vận động những thanh niên khác vào Thanh niên cứu quốc, phong trào Việt Minh từ đó ngày càng phát triển hơn.
Ở Nghĩa Dũng, đồng chí Phan Huân, cán bộ Việt Minh đi tuyên truyền và nắm được lực lượng thanh niên, đã kết nạp được một số thanh niên vào Thanh niên cứu quốc. Các đồng chí Nam Hà và Phạm Văn Khai đã tham gia Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong của thành phố do đồng chí Khuất Duy Tiến chỉ đạo, khi về làng đã cùng các đội viên tuyên truyền vận động nhân dân tham gia Việt Minh, đánh Nhật, cứu nước. Sự hoạt động tích cực của các tổ chức Việt Minh bí mật đã dần dần tập hợp được thêm nhiêu thanh niên trong khu vực tham gia dưới nhiều hình thức, như hướng đạo, học võ, đá bóng...; tham gia phá các cuộc biểu tình do bọn phản động tổ chức, đồng thời tích cực tuyên truyền công khai cương lĩnh, chính sách của Việt Minh nên đã gây được thanh thế cho Việt Minh.
Ở Phúc Xá, đồng chí Vũ Yên lợi dụng lúc quân Nhật đảo chính hất cẳng Pháp lấy được 10 khẩu súng trường và đã gửi lên chiến khu 5 khẩu súng còn tốt, 5 khẩu hư hỏng thì giao cho một số đồng chí sửa chữa, sau đó cũng sử dụng được cả. Đồng chí Vũ Yên còn vận động được anh em đạp xích lô, lấy được 1 khẩu súng lục của 1 tên Pháp say rượu mang về cho tổ Tuyên truyền xung phong.
Trong khoảng tháng 4 năm 1945, công nhân xưởng sửa chữa súng đạn Ngọc Hà, công nhân bốc vác ở Nghĩa Dũng - Phúc Xá tìm cách lấy vũ khí, đạn dược của quân Nhật rồi chuyển qua Chèm đưa lên chiến khu.
Công nhân Sở pháo thủ trong thành Hà Nội góp phần quyên góp vũ khí cho tự vệ. Công nhân các nhà máy đình công, phá máy, lấy vật liệu để sửa chữa và chế tạo vũ khí cho Việt Minh. Các hội viên Công nhân cứu quốc, các đội tự vệ phân phát báo, tuyên truyền, diễn thuyết, trừ gian, trên đường phố đông người. Thanh niên, học sinh trung học trên địa bàn Quán Thánh tham gia các cuộc mít tinh của thanh niên toàn thành tại xã Mễ Trì (20.4.1945), Chợ Canh (29.4.1945), Láng (11.5.1945). Truyền đơn được các Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong rải trên các chuyến tàu điện Bờ Hồ - Quán Thánh - Bưởi.
Các hội viên Công nhân cứu quốc trong các nhà máy, như Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước, Nhà máy in Viễn Đông, Sở pháo thủ... còn tham gia hoạt động tuyên truyền diễn thuyết trừ gian, phân phát các báo Cờ giải phóng, Cứu quốc, Hồn nước, truyền đơn đến các vùng ngoại thành. Một số thanh niên hăng hái được đoàn thể gửi lên chiến khu học quân sự hoặc gia nhập Giải phóng quân.
Các đội Tự vệ tuyên truyền xung phong của Công nhân cứu quốc, Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong liên tiếp tổ chức các cuộc diễn thuyết trên đường phố đông người. Tháng 6 năm 1945 có cuộc tuyên truyền tổ chức trước cổng xưởng sửa chữa, lắp ráp điện thoại, điện tín - thường gọi là Nhà dây thép (nay là Nhà máy thiết bị bưu điện), cách trại lính Nhật chỉ vài trăm mét; ngày 17 tháng 6, bọn Đại Việt tổ chức kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Thái Học tại vườn Bách Thảo, các tổ chức Thanh niên tuyên truyền xung phong, Tự vệ chiến đấu đã phối hợp biến cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh của Việt Minh.
Phong trào cách mạng dâng cao càng làm phân hóa hàng ngũ kẻ thù, bộ phận trung gian ngả về phe cách mạng; chỉ còn bọn tay sai phản động có nợ máu với nhân dân, với cách mạng ôm chân đế quốc. Đảng nhận thấy cần có biện pháp cứng rắn để trừng trị bọn này, buộc chúng phải dừng tay tội ác. Giữa năm 1945. Trung ương Đảng giao cho Xứ ủy Bắc Kỳ thành lập Đội Danh dự Việt Minh tại Hà Nội. Những tự vệ công nhân, những đoàn viên Thanh niên cứu quốc từ 17 đến 22 tuổi, khỏe mạnh, dũng cảm được tuyển chọn vào Đội Danh dự Việt Minh. Ngày 22 tháng 6 năm 1945, Đội Danh dự Việt Minh đã trừng trị tên Cai Long (người Yên Thái). Tên này trước đây là mật thám cho Pháp, sau lại làm tay sai chỉ điểm cho Nhật. Khi Cai Long vừa ra khỏi nhà, 2 đồng chí Quế và Tấn bám sát, dùng súng bắn chết. Nghe tiếng súng, bọn Nhật đóng ở Tam Đa chạy ra. Đồng chí Quế cải trang ung dung đạp xe qua trại Nhật, đồng chí Tấn rẽ vào chùa Thụy, được sư bà đưa quần áo nâu nhà chùa cho mặc, rồi thoát ra ngoài. Cai Long bị trừng trị đã gây tiếng vang, nhân dân trong vùng phấn khởi, nhiều tên tay sai khác sợ hãi, chùn tay, không dám hung hăng.
Các đoàn thể cứu quốc ngày càng bắt rễ sâu trong quần chúng, tổ chức các đội Tự vệ chiến đấu, nhóm Tự vệ rộng rãi và các Đội Thanh niên tuyên truyền xung phong làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng.
Sự ra đời và hoạt động của Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Công nhân xung phong, Đội Tự vệ công nhân, Đội Tự vệ chiến đấu, nhóm Tự vệ rộng rãi ngoại thành,... là những đơn vị vũ trang cách mạng đầu tiên ở Ba Đình. Các đội tiền thân của lực lượng vũ trang tuy còn nhỏ bé, song là lực lượng nòng cốt tạo cho phong trào một sức mạnh, một khí thế mới, thúc đẩy phong trào đấu tranh của các hội cứu quốc, các giới đồng bào ở Ba Đình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công.
Đầu tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, không đầy một tuần, tiêu diệt hơn một triệu quân Quan Đông tinh nhuệ của Nhật, tạo điều kiện cho các dân tộc phương Đông đứng dậy giành quyền sống. Quân Nhật ở Đông Dương hoảng loạn, bè lũ tay sai hoang mang dao động đến cực độ, phong trào cách mạng dâng cao, lực lượng cách mạng đã sẵn sàng tổng khởi nghĩa. Thời cơ ngàn năm có một để giành lại độc lập đã đến với dân tộc ta. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị toàn quốc của Đảng về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa.
Tối 15 tháng 8, tại chùa Hà (Dịch Vọng), Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự bất thường gồm các đồng chí đội trưởng Đội Công nhân xung phong, Đoàn trưởng Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, đội trưởng các đội Tự vệ chiến đấu, sơ bộ kiểm điểm tình hình và lực lượng của ta trong thành phố, ấn định những công việc cấp bách chuẩn bị cho khởi nghĩa.
Ngày 16 tháng 8, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội - tức Ủy ban khởi nghĩa được thành lập và họp phiên đầu tiên tại số nhà 101 phố Gambétta (nay là phố Trần Hưng Đạo) nghe đồng chí Nguyễn Khang phổ biến chỉ thị và quyết định của Xứ ủy. Hội nghị kiểm điểm tình hình và những hoạt động mới nhất của phát xít Nhật, chính quyền Trần Trọng Kim, của Khâm sai Bắc Kỳ và các đảng phái tay sai của Nhật ở Hà Nội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:09:42 pm » |
|
Trên cơ sở những diễn biến mới và căn cứ vào Chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Trung ương và chỉ thị của Xứ ủy, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội nhận thấy phải cấp tốc tiến hành khởi nghĩa, không thể chần chừ để mất thời cơ. Vấn đề nổi lên nhất trong cuộc thảo luận là nên đối phó thế nào với lực lượng quân sự rất lớn của Nhật tập trung ở Hà Nội. Theo ước tính, quân Nhật ở Hà Nội khi đó có khoảng 1 vạn trong số 4 vạn quân Nhật chiếm đóng Bắc Kỳ. Số quân này thuộc Sư đoàn 58. Lực lượng vũ trang của ta, kể cả Đội Công nhân xung phong, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Tự vệ chiến đấu ngoại thành và các đội tự vệ chiến đấu tại các nhà máy, khu phố, trường học chỉ khoảng hơn 700 người, trang bị phần lớn là vũ khí thô sơ, chỉ có hơn 40 khẩu súng trường và một số súng ngắn, mới qua một vài lớp huấn luyện quân sự cấp tốc. Vì vậy, nếu chỉ sử dụng lực lượng vũ trang của Hà Nội để tiến công quân Nhật thì không thể giành được thắng lợi. Trong lúc quân đội Nhật đang hoang mang, do dự, nếu tránh được xung đột vũ trang với chúng thì rất có lợi cho cách mạng.
Qua nhiều ý kiến thảo luận về hình thức khởi nghĩa, Hội nghị thống nhất nhận định: Tuy lực lượng vũ trang của ta không nhiều, nhưng bù lại, lực lượng quần chúng cách mạng trong các đảng phái, đoàn thể quần chúng cách mạng của Mặt trận Việt Minh lại khá đông đảo, lên tới hàng nghìn người, có thể huy động để tăng cường cho lực lượng khởi nghĩa. Với tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập cho Tổ quốc, dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh, ta có thể huy động thêm nhiều quần chúng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định: Lấy lực lượng vũ trang làm lực lượng xung kích đi đầu, huy động đông đảo lực lượng quần chúng cách mạng có vũ trang, tiến hành mít tinh, biểu tình thị uy, phô trương thanh thế, áp đảo quân địch, rồi xông lên giành chính quyền, nhưng phải nắm chắc hơn nữa tình hình và thái độ của phát xít Nhật cũng như của chính quyền Trần Trọng Kim.
Để xúc tiến việc chuẩn bị khởi nghĩa, Hội nghị vạch ra một kế hoạch khẩn cấp, trong đó có nội dung: Tăng cường lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của ta, phát triển mạnh các đội Tự vệ chiến đấu, trang bị thêm vũ khí, chuẩn bị đối phó với quân Nhật.
Trong khi đang họp, nhận được tin cuộc mít tinh do Tổng hội viên chức tổ chức để ủng hộ chính quyền thân Nhật sẽ tổ chức vào ngày 17 tháng 8, Hội nghị liền bàn kế hoạch phá cuộc mít tinh này.
Thực hiện chủ trương của ùy ban quân sự cách mạng Hà Nội, ngay tối 16 tháng 8, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong chia làm nhiều nhóm đột nhập một loạt các rạp hát lúc đang biểu diễn, kêu gọi quần chúng khởi nghĩa.
Chiều 17 tháng 8, đội viên các đội Tự vệ chiến đấu, Đội Công nhân xung phong, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, các chiến sĩ trong Đội Danh dự, các hội cứu quốc trên địa bàn Ba Đình dưới sự lãnh đạo của Thành ủy đã cùng các tổ chức cách mạng và nhân dân Hà Nội dùng sức mạnh áp đào, biến cuộc mít tinh của Tổng hội viên chức thân Nhật tại Quảng trường Nhà hát Lớn thành diễn đàn tuyên truyền khởi nghĩa và tuần hành biểu dương lực lượng cách mạng. Cuộc mít tinh vừa khai mạc thì bất ngở các đội viên tuyên truyền xung phong từ trong đám đông giương cao cờ đỏ sao vàng. Quần chúng hô vang: "Cờ Việt Minh! Cờ Việt Minh!". Lính cảnh sát và bảo an ngơ ngác, đứng im. Lúc đó, một tổ đặc biệt của Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu lên chiếm diễn đàn. Mặt trước Nhà hát Lớn một lá cờ đỏ sao vàng được buông từ tầng gác xuống. Trong không khí rạo rực đó, các đội viên tuyên truyền xung phong bước lên thông báo tin Nhật đầu hàng, kêu gọi đồng bào siết chặt hàng ngũ, đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Mọi người cùng hô vang khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Việt Nam hoàn toàn độc lập". Đoàn tuần hành từ Nhà hát Lớn kéo qua Bờ Hồ, Đồng Xuân, qua đường Cácnô (nay là Phan Đình Phùng), Cửa Bắc, qua phủ Toàn quyền mà không gặp sự chống cự nào. Cuộc biểu tình chiều ngày 17 tháng 8 diễn ra sôi nổi, vang dội, đã lôi cuốn hàng vạn quần chúng xuống đường với một khí thế cách mạng mạnh mẽ chưa tùng thấy. Trước sự kiện lịch sử lớn đó, phát xít Nhật không dám can thiệp, quân Nhật án binh bất động, chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim bối rối. Khâm sai Bắc Kỳ vội vàng bỏ trốn.
Tối 17 tháng 8, tổ chức Việt Minh ở Ngọc Hà đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Lý trưởng phải đem triện đồng và giấy tờ ra đình làng để nộp cho cách mạng. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã được thành lập. Sau Ngọc Hà là Hữu Tiệp, Vạn Phúc, Kim Mã cũng giành được chính quyền. Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết triệu tập hội nghị mở rộng bất thường. Cuộc họp suốt đêm để bàn ra phương thức khởi nghĩa và quyết định giành chính quyền vào ngày 19 tháng 8. Cũng tối 17 tháng 8, Hội nghị Thành ủy mở rộng với sự tham gia của các đại biểu các ngành, các giới, họp tại nhà bà Hai Nhã xã Dịch Vọng (nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy) đã quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào ngày 19 tháng 8. Ủy ban khởi nghĩa chuyển vào nội thành, đóng ở nhà số 101, phố Trần Hưng Đạo, để trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa.
Ngày 18 tháng 8, không khí cách mạng càng sục sôi, cờ đỏ sao vàng bay công khai ở nhiều nơi. Nước sông Hồng dâng cao, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ làm một bè chuối to, cắm cờ đỏ sao vàng thả trên sông Hồng cổ vũ phong trào đấu tranh. 300 công nhân Nhà máy điện Yên Phụ (trong tổng số 500 công nhân), có Đội Tự vệ bí mật, Đội Công nhân xung phong làm nòng cốt đã kéo đến thị uy trước phòng làm việc của giới chủ. Các tổ chức cứu quốc, Đội Tự vệ bí mật chuẩn bị thêm vũ khí, may thêm cờ. Tối hôm đó, các cốt cán của Hội Công nhân cứu quốc họp tại nhà đồng chí Giản bàn kế hoạch tham gia khởi nghĩa.
Ở các khu phố và vùng ngoại thành, không khí chuẩn bị khởi nghĩa cũng nhộn nhịp, khẩn trương. Các đội viên Thanh niên tuyên truyền xung phong chia nhau đi các phố, các thôn bắc loa kêu gọi quần chúng khởi nghĩa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2816
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2026, 09:11:46 pm » |
|
Từ sáng sớm ngày 19 tháng 8 năm 1945, nhân dân Ba Đình đã xuống đường. Các hiệu buôn đóng cửa, chợ thôi họp, giao thông ngừng hoạt động. Các đoàn thể cứu quốc, các đội tự vệ công nhân, các lực lượng tự vệ cứu quốc rộng rãi, còn Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong, Đội Danh dự Việt Minh, Đội Công nhân xung phong và nhân dân ngoại thành, nội thành đã lập thành đội ngũ, rầm rập kéo về Quảng trường Nhà hát Lớn. Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh khổng lồ khai mạc trong điệu nhạc Tiến quân ca và loạt súng chào. Quần chúng trang nghiêm nghe lời hiệu triệu của Việt Minh, đi đầu là những đội tự vệ công nhân với khí giới trong tay chia thành nhiều ngả, chiếm những nơi trọng yếu ở Hà Nội. Tại Phủ Khâm sai, các chiến sĩ tự vệ vượt hàng rào tiến vào. Một công nhân Nhà máy điện Yên Phụ giương cao cờ đỏ sao vàng xông lên trước, treo trên cột cờ Phủ Khâm sai giữa tiếng hoan hô vang dội của quần chúng. Các vị trí then chốt lần lượt về tay cách mạng. Chỉ trong ngày 19 tháng 8, cách mạng đã thành công ở Hà Nội.
Trong cuộc mít tinh ở Nhà hát Lớn, anh Phạm Khai - Thanh niên cứu quốc ở Nghĩa Dũng, tham gia bảo vệ treo cờ đỏ sao vàng ờ ban công Nhà hát Lớn. Đoàn của các làng Phúc Xá, Tân Ấp, Nghĩa Dũng tham gia vào lực lượng Đoàn Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu đi chiếm Trại Bảo an binh và nhiều nơi khác.
Sau ngày 19 tháng 8, các nhà máy, xí nghiệp ở Ba Đình đã thành lập Ủy ban công nhân cách mạng, điều hành mọi sinh hoạt chính trị và đời sống công nhân, giám sát công việc kinh doanh của các chủ tư bản. Các khu phố đều tổ chức Ban Đại diện, các xã có Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời.
Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, trong đó có Ba Đình giành thắng lợi nhanh chóng lan truyền khắp cả nước, làm suy yếu toàn bộ hệ thống cai trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai, nức lòng đồng bào cả nước, nhất là ở Huế, Sài Gòn, thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình, đông đảo nhân dân và lực lượng vũ trang Ba Đình tham gia cuộc mít tinh và biểu tình trong buổi lễ "Ngày Độc lập", chứng kiến sự ra mắt của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thắng lợi của khởi nghĩa ở Ba Đình ngày 19 tháng 8 là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, đấu tranh gian khổ của nhân dân mà các lực lượng vũ trang làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Lực lượng vũ trang Ba Đình, như các đội Thanh niên tuyên truyền xung phong, Công nhân xung phong, Tự vệ bí mật trong các nhà máy, nhóm tự vệ rộng rãi ở vùng ven nội, Đội Danh dự Việt Minh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành ủy Hà Nội và cấp ủy các cấp, từ những đội tiền thân của lực lượng vũ trang ra đời cuối năm 1944, đã từng bước phát triển lực lượng, trưởng thành qua các hoạt động đấu tranh với địch mà đỉnh cao là hoàn thành nhiệm vụ xung kích, nòng cốt, và bảo vệ quần chúng đấu tranh giành chính quyền trong ngày khởi nghĩa. Đây là chiến công lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Ba Đình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|