Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:21:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999  (Đọc 2998 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:26:47 pm »

- Tên sách: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2020
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Đồng chủ biên:

   NGUYỄN CHÍ VỊNH
   PHẠM QUANG MINH


* Cùng các chuyên gia, các nhà khoa học:

   LÊ HOÀI TRUNG
   VŨ CHIẾN THẮNG
   PHAN ANH VIỆT
   NGUYỄN HOÀNG NHIÊN
   ĐẶNG QUANG MINH
   LÊ HẢI BÌNH
   BÙI CHÍ TRUNG
   PHẠM QUANG HẢI
   LÊ ĐỨC CƯỜNG


* Với sự hỗ trợ thông tin, tư liệu của các nhà nghiên cứu Cam-pu-chia:
   KEO BAPHNOM
   NOEM SOVATH
   và nhiều chuyên gia quốc tế
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:53:31 pm »

MỞ ĐẦU


Giai đoạn 1989 - 1999 có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong tiến trình cách mạng Cam-pu-chia. Việt Nam rút hết Quân tình nguyện, mở đường cho Cam-pu-chia đi đến giải pháp chính trị, nhưng đây cũng là thời gian Cam-pu-chia rơi vào hỗn loạn và trở thành đấu trường chính trị - quân sự - ngoại giao do sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái nội bộ, kết hợp với tác động từ bên ngoài, tạo ra cuộc đấu tranh giữa hai bên: một bên ra sức bảo vệ thành quả cách mạng với một bên muốn phá bỏ thành quả cách mạng Cam-pu-chia do Việt Nam giúp đỡ.


Để tìm hiểu về giai đoạn 1989-1999, trước tiên cần nhấn mạnh nguồn gốc của vấn đề với những diễn biến quan trọng của gần hai thập kỷ trước đó. Từ năm 1975 đến năm 1978, chính quyền Khơ-me Đỏ do Pôn Pốt - Iêng Xa-ri cầm đầu đã tiến hành chế độ diệt chủng. Nhân dân Cam-pu-chia bị đọa đầy, kết cấu xã hội bị hủy hoại đến cội rễ. Trong 3 năm, 8 tháng và 20 ngày, chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ đã biến đất nước Cam-pu-chia, vốn bị chiến tranh tàn phá, trở thành nhà tù, địa ngục trần gian, cánh đồng chết. Chế độ tàn bạo đó đã dìm nhân dân Cam-pu-chia trong biển máu và nước mắt, hàng triệu người đã bị giết hại bằng những hình thức tàn bạo nhất trong lịch sử loài người... Những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt là không thể tha thứ.


Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Đoàn ket dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân đội của Mặt trận mới được thành lập, với sự ủng hộ của nhân dân trong cả nước khi ấy đang cầu mong được sống, đặc biệt là nhận được sự giúp đỡ to lớn, kịp thời và hiệu quả của Đảng, Nhà nước, nhân dân, của Quân tình nguyện Việt Nam, đã đánh đổ chế độ diệt chủng với chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979, đưa Cam-pu-chia từ chế độ diệt chủng man rợ thành một Cam-pu-chia hòa bình va phát triển như ngày nay.


Chiến thắng ngày 7 tháng 1 năm 1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Cam-pu-chia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn phản động Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia, sau này là Nhà nươc Cam-pu-chia - SOC; cứu nhân dân Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới.


Thế nhưng, sau ngày 7 tháng 1 năm 1979 cho đến cuối những năm 90, Khơ-me Đỏ vẫn tồn tại, thành lập liên minh 3 phái, đứng đằng sau là một số nước lớn. Chính quyền non trẻ của Cam-pu-chia không chỉ phải chống Khơ-me Đỏ mà còn phải vượt qua áp lực và sự o ép của cả một liên minh quốc tế. Nguy cơ về một cuộc nội chiến ở Cam-pu-chia vẫn có thể xảy ra vì Khơ-me Đỏ luôn chờ cơ hội để quay lại cướp chính quyền. Nếu Cam-pu-chia lại để xảy ra cuộc diệt chủng lần thứ hai, hậu quả sẽ còn tàn khốc và khủng khiếp hơn. Đặc biệt, thời điểm khi Quân tình nguyện Việt Nam mới về nước (năm 1989) là giai đoạn rất khó khăn, hiểm nghèo đối với Đảng Nhân dân Cam-pu-chia, đối với hòa bình ở Cam-pu-chia. Trong suốt một thập kỷ đầy biến động đó, Chính phủ và các nhà lãnh đạo Cam-pu-chia đã có nhiều giải pháp chiến lược, cả về chính trị - quân sự - ngoại giao để ngăn chặn sự quay trở lại của Khơ-me Đỏ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng hòa bình thực sự, đầy đủ cho đất nước. Tiến trình hòa giải dân tộc và ngừng bắn để tìm kiếm hòa bình ở Cam-pu-chia (1989-1999) trải qua những giai đoạn sau:


Giai đoạn thứ nhất, mỗi bên (lực lượng chính trị - quân sự) có chiến lược và sự chuẩn bị riêng dựa theo diễn biến tình hình, vốn chịu ảnh hưởng từ các cuộc đàm phán trong và ngoài nước. Ngoài ra, tiến trình giải quyết các vấn đề của Cam-pu-chia được thực hiện vào thời kỳ Chiến tranh Lạnh, là thời điểm leo thang vũ khí và xung đột hệ tư tưởng toàn cầu. Khi đó, ở cấp khu vực, Đông Nam Á được chia thành hai khối, cũng là một phần của cuộc xung đột và hòa giải này. Khi đó, Cam-pu-chia đối mặt với nguy cơ quay lại chế độ Pôn Pốt mà Liên hợp quốc vẫn đang thừa nhận. Một nguy cơ nữa là những biện pháp cấm vận bất công từ các nước ủng hộ Khơ-me Đỏ, họ đã cô lập những người dân Cam-pu-chia sống sót sau chế độ Pôn Pốt.


Giai đoạn thứ hai, là giai đoạn đàm phán để thực thi Hiệp định Pa-ri (Pháp). Thời kỳ này thể hiện rõ ràng hiệu suất của những chính sách trong thống nhất dân tộc, góp phần phá vỡ bế tẳc, thiết lập một khuôn khổ để tạo ra giải pháp và thỏa thuận cuối cùng. Tiến trình này có sự tham gia của Liên hợp quốc, tuy Khơ-me Đỏ vẫn muốn dùng lực lượng quân sự và từ chối thực thi Hiệp định Pa-ri.


Giai đoạn thứ ba, đây là giai đoạn quan trọng nhất, được gọi là chính sách "Thắng - Thắng" (Win - Win policy) của Xăm-đéc Hun-xen, phá vỡ chiến lược thép gỉ của Khơ-me Đỏ. Trong suốt thời gian này, thông qua sự nhân nhượng và hợp tác, chính sách "Thắng - Thắng" góp phần lớn vào đảm bảo hòa bình, hợp tác và dàn xếp mâu thuẫn, sự đổ vỡ bên trong.


Trong tiến trình hòa giải dân tộc và ngừng bắn ở Cam-pu-chia, chính sách ngừng bắn là công cụ cốt lõi và quan trọng nhất để đạt tới hòa bình toàn vẹn. Đây là bài học mà Cam-pu-chia rút ra được từ cuộc xung đột trong nhiều thập kỷ.

Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 có sự tác động lớn đến tình hình khu vực nói chung, đến Việt Nam nói riêng, nhất là tiến trình bình thường hoá quan hệ của Việt Nam với các nước lớn, các tổ chức quốc tế và ASEAN. Đồng thời, sự giúp đỡ, hợp tác của Việt Nam đối với Cam-pu-chia trong giai đoạn 1989-1999 đã để lại những bài học quý báu vẫn còn nguyên giá trị to lớn đối với Việt Nam và quan hệ hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia nói riêng, quan hệ của Việt Nam với quốc tế nói chung. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 và sự tác động của nó đối với Việt Nam lại chưa được quan tâm đúng mức, chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống. Đã hơn 40 năm sau sự kiện Quân tình nguyện Việt Nam cùng nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ chế độ Pôn Pốt; tròn 30 năm Cam-pu-chia đi vào giải pháp chính trị, thời gian càng lùi xa, càng cho phép nhìn nhận thấu đáo mọi vấn đề, song cũng tạo áp lực cho việc phải nghiên cứu cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999 một cách nghiêm túc, bài bản.


Việc tiếp cận nghiên cứu về "Cách mạng Cam-pu-chia và sự hợp tác, giúp đỡ của Việt Nam giai đoạn 1989 1999" góp phần làm sáng tỏ bản chất của vấn đề Cam-pu-chia giai đoạn này, từ đó rút ra những bài học, vận dụng và phát triển các bài học đó vào việc hoạch định chủ trương, đối sách quan hệ với Cam-pu-chia cũng như các quốc gia trong khu vực và quốc tế, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:55:16 pm »

Chương 1
BỐI CẢNH THẾ GIỚI, KHU VỰC, CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC, CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CAM-PU-CHIA VÀ ĐÔNG DƯƠNG TRƯỚC, TRONG GIAI ĐOẠN 1989 - 1999


1.1. BỐI CẢNH THẾ GIỚI, KHU VỰC

1.1.1. Bối cảnh thế giới, khu vực trước năm 1989

Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam (4.1975), phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có đà phát triển mới, sôi động và rộng khắp. Các thuộc địa của Bồ Đào Nha - những thuộc địa thực dân cũ cuối cùng, đã giành được độc lập, chấm dứt chế độ thực dân tồn tại trong 500 năm. Nhiều nước được Liên Xô và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa giúp đỡ đã phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các nước mới độc lập và các nước đang phát triển đều nghèo yếu, kinh tế kiệt quệ, nợ nần chồng chất, nội bộ không ổn định. Nhiều nước phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển.


Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá các lực lượng sản xuất. Các nước tư bản chủ nghĩa, do thích ứng và sử dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhờ cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các chính sách xã hội nên đã vượt qua được những khó khăn, kinh tế có bước phát triển đáng kể. Trong khi đó, nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, cải tổ, cải cách và đổi mới đã trở thành xu thế khách quan ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa.


Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là nơi hội tụ của các mâu thuẫn chủ yếu trên thế giới như đối đầu Đông - Tây, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và phong trào giải phóng dân tộc, mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa; Đồng thời, vẫn tồn tại nhiều điểm nóng tiềm tàng có nguy cơ bùng phát thành xung đột như bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan, tình hình Biển Đông, biển Hoa Đông...


Đông Nam Á tiếp tục là khu vực đấu tranh gay gắt giữa cách mạng và phản cách mạng. Các thế lực bá quyền và chủ nghĩa đế quốc không ngừng thúc đẩy chính sách đối đầu, dùng uy hiếp quân sự và bao vây, cấm vận, cô lập, hòng âm mưu làm suy yếu, khuất phục nhân dân ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Quan hệ giữa các nước ASEAN với ba nước Đông Dương vừa được cải thiện không lâu thì Đông Nam Á lại rơi vào thế nghi kỵ, đối đầu mới xuất phát từ Chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ Khơ-me Đỏ (do Pôn Pốt đứng đầu) tiến hành cuộc diệt chủng tại Cam-pu-chia và tiến công quân sự đối với Việt Nam. Việt Nam buộc phải tự vệ, sau đó đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Cam-pu-chia tiến vào giải phóng Phnôm Pênh, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giúp đỡ Cam-pu-chia hồi sinh đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng... Các sự kiện này đã trở thành "vấn đề Cam-pu-chia" có tính chất quốc tế, khu vực, kéo dài trên 10 năm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:56:30 pm »

1.1.2. Bối cảnh thế giới, khu vực giai đoạn 1989 - 1999

Giai đoạn 1989 - 1999, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi to lớn, sâu sắc. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự chống phá của các thế lực thù địch, chậm khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong mô hình chủ nghĩa xã hội, lại mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong đường lối cải tổ (đường lối kinh tế, chính trị, tổ chức cán bộ, đối ngoại) nên từ cuối những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xôviết ở Đông Âu đã làm rung chuyển hệ thống xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu, đưa đến sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh. Trật tự thế giới chuyển từ "hai phe, hai cực" sang một thời kỳ quá độ tiến tới hình thành thế "nhất siêu, đa cường".


Toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu hóa về kinh tế và cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước. Kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội tiếp tục diễn ra. Cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc tiếp tục diễn biến phức tạp.


Xu hướng hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành một đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước lớn, nhỏ đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Hợp tác quốc tế ngày càng tăng, nhưng cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt, nhất là về khoa học công nghệ. Từ nửa cuối năm 1989 trở đi, các nước lớn đều có nhu cầu giảm cạnh tranh chiến lược trên phạm vi toàn cầu, bắt tay để giải quyết các vấn đề lớn ở nhiều khu vực, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia.


Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền và nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, chiến tranh cục bộ và chạy đua vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ vẫn diễn ra gay gắt. Những biểu hiện bá quyền, ngoại giao cường quyền, việc dùng chiêu bài "ưu tiên cho đạo lý", "nhân quyền cao hơn chủ quyền" và những mưu toan áp đặt quan niệm và hình mẫu của nước này đối với nước khác hoặc tự xác định các "tiêu chí chuẩn mực" cho quan hệ quốc tế ngày càng trở nên lộ liễu, công khai. Vì vậy, cuộc đấu tranh chính trị vẫn tiếp diễn gay gắt, quyết liệt dưới những hình thức mới. Chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ và chống "diễn biến hòa bình", chống ly khai diễn ra hết sức quyết liệt. Các mối quan hệ quốc tế diễn ra theo hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa đối thoại vừa đối đầu.


Cùng với đó, các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống như: an ninh tài chính, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, thiên tai, dịch bệnh... diễn biến ngày càng phức tạp.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, trở thành động lực kinh tế của thế giới nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn; Tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gay gắt, xuất hiện các hình thức tập hợp lực lượng mới cùng với trạng thái đan xen lợi ích rất phức tạp.


Khu vực Đông Nam Á nhìn chung giữ được hòa bình, ổn định; ASEAN trở thành cộng đồng các quốc gia có bước phát triển mạnh. Các nước ASEAN nỗ lực xây dựng, thiết lập các cơ chế hợp tác mới ở khu vực, ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nước trên thế giới. ASEAN nổi lên thành tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển, có uy tín quốc tế ngày càng lớn, tiếng nói ngày càng có trọng lượng trong việc thúc đẩy hòa bình, an ninh và hợp tác quốc tế, trong việc bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị, an ninh của mình.


Tuy nhiên, ASEAN phải đối phó với nhiều vấn đề, như: mâu thuẫn trong nội bộ một số nước, sự lôi kéo và chia rẽ của các nước bên ngoài. Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:57:42 pm »

1.2. CHÍNH SÁCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC, TỔ CHỨC QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CAM-PU-CHIA VÀ ĐÔNG DƯƠNG

1.2.1. Chính sách của một số nước lớn

Trung Quốc là nước có vai trò quan trọng nhất từ đầu quá trình hình thành các mâu thuẫn xung đột, cũng như trong tiến trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia sau này. Ngay từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, Trung Quốc đã có một chiến lược phức tạp và lâu dài đối với Cam-pu-chia và Đông Dương, là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc. Nhằm "giành cho được Đông Nam châu Á", làm cho khu vực này trở thành hậu phương an toàn, vùng đệm tin cậy, để có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô - Đông Âu, ngay từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã hỗ trợ về tư tưởng, kinh tế và quân sự cho các đảng cộng sản ở Đông Nam Á như một phần trong chiến lược lãnh đạo chiến tranh giai cấp chung toàn thế giới. Các Đảng Cộng sản Thái Lan, In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a... đều chịu ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ về ý thức hệ, mà còn về mặt cơ cấu tổ chức1 (Central Intelligence Agency: Peking's Support of Insurgencies in Southeast Asia: Intelligence Report, Collection: General CIA Records, p.56).


Trung Quốc cũng giúp đỡ các Đảng Cộng sản trên bán đảo Đông Dương trong thời gian các chính đảng này lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch quốc tế luôn tìm cách tranh thủ cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, nhat là các cuộc kháng chiến của Việt Nam để phục vụ lợi ích nước lớn của chúng. Trong những năm 50 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch quốc tế đã mặc cả với thực dân Pháp trên lưng nhân dân 3 nước Đông Dương về việc kết thúc chiến tranh trên cơ sở lợi ích cho họ. Trong những năm 60 của thế kỷ XX, chúng đã dùng ngọn cờ ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam để tranh giành uy tín với Liên Xô, chia rẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhằm lãnh đạo thế giới thứ ba và cách mạng thế giới, đồng thời phá vỡ thế hòa hoãn Xô - Mỹ. Giai đoạn 1970 - 1974, các thế lực thù địch tìm cách kiểm soát phong trào cách mạng Đông Dương, kiểm soát cách mạng Cam-pu-chia, Lào, chia rẽ hai nước này với Việt Nam, làm suy yếu vai trò của miền Bắc Việt Nam đối với cách mạng Đông Dương. Do thất bại ở chiến trường Việt Nam, đế quốc Mỹ muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng vẫn muốn giữ được chính quyền miền Nam Việt Nam và lợi dụng mâu thuẫn Trung - Xô để giải quyết những khó khăn của Mỹ trên thế giới và trong nước. Các nước lớn đã tận dụng cơ hội này, câu kết với Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam để đổi lấy sự thỏa thuận của Mỹ về vấn đề Đài Loan, Biển Đông, giành ghế ở Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; đồng thời câu kết với Mỹ chống Liên Xô để phá thế hòa hoãn Xô - Mỹ. Với ý đồ đó, trong những năm 1971-1972, họ đã cố thuyết phục Việt Nam giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chế độ ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam1 (Huỳnh Anh Dũng (1995), Ghi chép về Cam-pu-chia 1975-1991, Hà Nội). Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri được ký kết, Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, các nước lớn chủ trương duy trì nguyên trạng ở miền Nam Việt Nam, chấm dứt viện trợ quân sự cho Việt Nam nhằm ngăn chặn việc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Họ còn muốn cả miền Nam Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào theo con đường "hòa bình trung lập". Từ cuối năm 1973, nhận thấy Việt Nam quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và việc đó không có lợi cho chiến lược của các nước lớn; do vậy, họ đã cắt giảm viện trợ kinh tế và nhân lúc Việt Nam đang tập trung vào việc giải phóng miền Nam, và liên tiếp gây ra những phức tạp và rắc rối trên biên giới đất liền với Việt Nam và trong Vịnh Bắc Bộ.


Thắng lợi năm 1975 của Việt Nam đã làm phá sản các tính toán chiến lược của các nước lớn ở khu vực, làm thay đổi mạnh mẽ so sánh lực lượng ờ đây. Mỹ buộc phải rút khỏi Đông Nam Á. Ngược lại, Liên Xô có điều kiện mở rộng ảnh hưởng ở khu vực này. Trước tình hình đó, một số nước lớn rất không hài lòng và lo ngại ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam sẽ làm suy giảm ảnh hưởng của họ ở khu vực. Đặc biệt, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng, Trung Quốc lo ngại, sau khi Việt Nam thống nhất, Liên Xô vào Việt Nam thì Trung Quốc sẽ bị bao vây từ bốn phía. Do vậy, các nước lớn đã đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam ở biên giới, cản trở việc Việt Nam thống nhất đất nước, tiến hành chia rẽ ba nước Đông Dương, dùng Khơ-me Đỏ để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Mặt khác, Mỹ không rút quân ở Đông Nam Á, kêu gọi các nước ASEAN lập mặt trận với một số nước khác chống Việt Nam và Liên Xô.


Từ sau năm 1978, Trung Quốc triển khai mạnh mẽ kế hoạch hiện đại hóa đi liền với sự lựa chọn "phương Tây cả gói", đã quyết định bước ngoặt chiến lược đối ngoại của họ. Trung Quốc triệt để lợi dụng sự suy yếu của Mỹ, khai thác mâu thuẫn Mỹ - Xô và giữa cách mạng với phản cách mạng, phát triển mạnh mẽ quan hệ với Mỹ và phương Tây nhằm tranh thủ vốn và khoa học kỹ thuật phục vụ "4 hiện đại hóa". Trung Quốc cũng triệt để lợi dụng mối lo ngại của các nước ASEAN trước việc Mỹ rút quân và nguy cơ Liên Xô mở rộng ảnh hường ở Đông Nam Á để lập mặt trận Trung Quốc - Mỹ - ASEAN - phương Tây phục vụ cho chiến lược của mình. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, để thực hiện mục tiêu đó, họ đã có những bước đi quyết liệt về mặt đối ngoại, cắt viện trợ cho Việt Nam năm 1978; khuyến khích, hỗ trợ cho Khơ-me Đỏ ở Cam-pu-chia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:58:41 pm »

Trong giai đoạn từ năm 1979 đến 1981, sau khi Việt Nam tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực thù địch đòi Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Cam-pu-chia. Thông qua Xi-ha-núc tố cáo Việt Nam xâm lược ở Liên hợp quốc và khắp nơi trên thế giới, trực tiếp viện trợ quân sự cho các lực lượng Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ; vu khống Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia và có mưu đồ lập "Liên bang Đông Dương" để làm chủ cả Lào Và Cam-pu-chia, không muốn Lào và Cam-pu-chia độc lập, với việc vu khống rằng: "Việt Nam muốn làm tiểu bá" thực hiện bá quyền khu vực để phối hợp với Liên Xô làm "đại bá" nhằm chống các nước lớn và các nước trong khu vực. Cho đến nay, các chuyên gia nghiên cứu có chung nhận định, chủ nghĩa phản động quốc tế một mặt che đậy bản chất phản động của tập đoàn Pôn Pốt, đồng thời che đậy hành động đứng đằng sau Khơ-me Đỏ, gián tiếp gây ra chế độ diệt chủng, xóa mờ nghĩa vụ quốc tế cao cả và tính chất "chống diệt chủng" khi Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia. Phải chăng những tư duy hằn học, thù địch đã phản ánh sự cay cú vì con bài xung kích Pôn Pốt do họ dựng lên, nuôi dưỡng đã bị thất bại; dùng việc Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia để tạo cớ tiến hành gây căng thẳng trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam. Cùng với các hành động gây hấn, họ còn dựng lên sự kiện "nạn kiều", cắt hoàn toàn viện trợ kinh tế cho Việt Nam, rút hết chuyên gia về nước, đóng cửa 3 lãnh sự quán Việt Nam, đồng thời tìm cách gây rối về chính trị và kinh tế đối với Việt Nam, tiếp sức cho bọn phỉ ở Lào, tuyên truyền kích động tư tưởng chống Việt Nam trong nước họ và trên thế giới. Bên cạnh đó, họ còn thực hiện hàng loạt biện pháp cao sâu nhằm chia rẽ khối đoàn kết ba nước Đông Dương, phân hóa Việt - Lào, Việt Nam - Cam-pu-chia, Việt Nam - Liên Xô và phân hóa cả nội bộ Việt Nam; đồng thời, quy chụp Việt Nam như hình ảnh một con "ngáo ộp" khiến các nước ASEAN lo sợ rằng sau khi "thôn tính" Cam-pu-chia, Việt Nam sẽ phát triển sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á.


Từ 1982 - 1984, các thế lực thù địch hỗ trợ các phe phái Khơ-me phản động thành lập chính phủ liên hiệp 3 phái Khơ-me do Xi-ha-núc đứng đầu, dùng vấn đề Cam-pu-chia để phục vụ cho chiến lược của họ trong quan hệ với cả các nước lớn khác. Trong chính phủ liên hiệp 3 phái, họ sắp xếp cho Xi-ha-núc có vai trò lớn nhất về chính trị trong khi vẫn giữ Khơ-me Đỏ ở một mức độ nhất định và viện trợ giúp Khơ-me Đỏ trở thành lực lượng vũ trang mạnh nhất trong 3 phái Khơ-me, nhằm củng cố liên minh ngầm với rất nhiều toan tính để cùng với Mỹ, phương Tây và ASEAN chống Việt Nam. Đồng thời, cũng theo các nhà phân tích, trong giai đoạn này, các nước lớn phải đề cao vai trò chủ đạo của Xi-ha-núc, nhân vật có uy tín quốc tế cao và là người duy nhất ở Cam-pu-chia được Mỹ và phương Tây chấp nhận, thì mới giữ được Khơ-me Đỏ, giúp che giấu bộ mặt diệt chủng của Khơ-me Đỏ; mặt khác họ cũng phải để Khơ-me Đỏ có vai trò nhất định thì mới kiểm soát được Xi-ha-núc. Làm cho Khơ-me Đỏ có thực lực nhất định thì họ mới có vai trò lớn trong vấn đề Cam-pu-chia, nằm trọn lợi ích chiến lược toàn cầu. Các nước lớn cũng chấp nhận lực lượng của Son San là để tranh thủ Mỹ và phương Tây vì đây là lực lượng được Mỹ và phương Tây ủng hộ, có quan điểm chống Việt Nam và thực lực quân sự không đáng kể, không thể đe dọa hoặc làm tổn hại tới vai trò và lực lượng vũ trang của Khơ-me Đỏ. Mặc dù Việt Nam đã từng bước rút quân và nhiều lần đề nghị đàm phán, nhưng các nước lớn luôn bác bỏ và đòi Việt Nam phải đàm phán trực tiếp với Xi-ha-núc. Đây là điều Việt Nam không thể chấp nhận1 (Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 773).


Để kiềm chế, chống phá Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, ngăn chặn sự hồi sinh của dân tộc Cam-pu-chia sau khi thoát khỏi nạn diệt chủng Khơ-me Đó, câu hỏi đặt ra là có hay không phương Tây và một số nước lớn đã phối hợp với nhau nuôi dưỡng, hỗ trợ tài chính, quân sự cho các phe phái Khơ-me phản động, nhưng khác với các nước khác, phương Tây không muốn để Khơ-me Đỏ quá mạnh, đủ sức quay trở lại nắm quyền? Mục đích của Mỹ chỉ là lợi dụng chúng để làm suy yếu Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, nên bên cạnh việc hỗ trợ tài chính cho Khơ-me Đỏ, Mỹ cũng ra sức ngăn chặn không để chúng quay trở lại nắm quyền, đồng thời cố gắng củng cố vai trò của Xi-ha-núc va Son San. Các nước lớn khác thông đồng với Mỹ nhưng chủ yếu viện trợ của họ thiên về Khơ-me Đỏ, mục tiêu làm Khơ-me Đỏ mạnh lên, nắm quyền chi phối các phái Khơ-me khác.


Các nước ASEAN nghiêng về phía các nước lớn, tạo thành một khối đối địch, chống lại ba nước Đông Dương, trong đó có vai trò chủ yếu của Thái Lan, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a. Thông qua ve vãn, hứa hẹn, các nước lớn đã lôi kéo được Thái Lan, biến Thái Lan thành chiến trường chống Lào - Việt Nam - Cam-pu-chia và thông qua Thái Lan để lôi kéo thêm các nước ASEAN khác vào liên minh chống Đông Dương, tạo nên cục diện hai khối Đông Dương - ASEAN đối địch nhau ở Đông Nam Á. Do đó suốt những năm 80, ASEAN đã đóng vai trò "xung kích" trong vấn đề Cam-pu-chia. Mọi hoạt động ngoại giao có liên quan tới Cam-pu-chia đều có sự tham gia của ASEAN. Các nghị quyết ở Liên hợp quốc về Cam-pu-chia đều do ASEAN soạn thảo.


Từ 1985 -1989, cục diện hợp tác Xô - Mỹ và những bất ổn nội bộ tháng 6 năm 1989 đã buộc Trung Quốc phải tiếp tục điều chỉnh chiến lược trong quan hệ với Mỹ và phương Tây. Việc Mỹ và phương Tây tiến hành trừng phạt Trung Quốc cũng làm cho vị trí của Trung Quốc trong quan hệ với Mỹ và Liên Xô suy giảm nghiêm trọng.


Trước tình hình đó, nước lớn thực hiện một loạt hành động phản ứng: (1) Không ủng hộ thỏa thuận Việt Nam - In-đô-nê-xi-a ngày 29 tháng 7 năm 1987, (2) Không ủng hộ đối thoại Hun-xen - Xi-ha-núc, (3) Muốn Việt Nam đàm phán với Xi-ha-núc, (4) Hỗ trợ Thái Lan gây xung đột biên giới Thái - Lào, (5) Đầu năm 1988, tiến công chiếm các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam: Chữ Thập (31.1), Châu Viên (18.2), Ga Ven (26.2), Huy Gơ (28.2), Gạc Ma (14.3), Xu Bi (23.3)1. Cùng với những hành động này, từ tháng 2 năm 1989, họ bỏ qua vấn đề Cam-pu-chia chấp nhận đàm phán cấp cao với Liên Xô; từ tháng 3 năm 1989 tiến hành thỏa thuận trong khuôn khổ các nước lớn ở Liên hợp quốc theo hướng giảm cam kết với Khơ-me Đỏ, cùng Mỹ và phương Tây sử dụng lực lượng trung gian (Xi-ha-núc, Son San) tìm mọi cách gạt bỏ hoặc hạn chế tối đa vị trí của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia nhằm tạo thế để họ hàn gắn quan hệ với Mỹ và phương Tây.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 08:59:58 pm »

Đối với Việt Nam, các nước lớn luôn đặt điều kiện trong vấn đề Cam-pu-chia, song lại liên tục thay đổi. Tháng 10 năm 1982, họ chỉ đặt điều kiện Việt Nam rút quân, thậm chí chỉ cần rút đợt đầu thì sẽ tiến hành đàm phán để bình thường hóa quan hệ hai nước. Nhưng đến tháng 6 năm 1988, Việt Nam đã rút một nửa số quân khỏi Cam-pu-chia, và ngày 5 tháng 4 năm 1989 Việt Nam tuyên bố sẽ đơn phương rút hết quân vào tháng 9 năm 1989, thì lúc này họ lại đặt điều kiện Việt Nam phải giải quyết hậu quả của việc đưa quân "xâm lược" Cam-pu-chia. Các nước lớn còn đòi lập Chính phủ liên hiệp 4 bên do Xi-ha-núc đứng đầu, lập quân đội 4 bên ngang nhau, nhằm đi đến một giải pháp chính trị về vấn đề Cam-pu-chia có lợi cho họ thì họ mới đồng ý thúc đẩy tiến trình đi đến giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia.


Song các toan tính của các nước lớn không phải lúc nào cũng đạt được. Việc Việt Nam rút hết quân khỏi Cam-pu-chia vào ngày 26 tháng 9 năm 1989 đã làm đảo lộn những tính toán chiến lược của họ trong vấn đề Cam-pu-chia. Sau khi Việt Nam rút quân, các nước lớn không còn cớ để chỉ trích Việt Nam xâm lược, trong khi vấn đề diệt chủng lại nổi lên thành trọng tâm trong đấu tranh ngoại giao về Cam-pu-chia - điều mà họ hoàn toàn không mong muốn. Một loạt diễn đàn đàm phán về Cam-pu-chia đã mở ra sau khi Việt Nam tuyên bố rút hết quân. Hợp tác Mỹ - Xô trên thế giới và yêu cầu phát triển kinh tế đã làm thay đổi cục diện tại Đông Nam Á. Các nước ASEAN và khu vực đều có nguyện vọng, mong muốn sớm giải quyết dứt điểm vấn đề Cam-pu-chia để đảm bảo hòa bình, ổn định nhằm tập trung phát triển kinh tế. Việc Xi-ha-núc, các nước ASEAN, đặc biệt là In-đô-nê-xi-a và Thái Lan, bắt đầu đàm phán riêng rẽ (đến thời điểm này đã có tổng cộng 5/7 vòng đàm phán Hun-xen - Xi-ha-núc, các cuộc gặp JIM-1 và JIM-2) là không phù hợp với chiến lược của nước lớn. Trong bối cảnh đó, để giữ cho vấn đề Cam-pu-chia không tuột khỏi tầm tay và để duy trì vai trò quan trọng trong vấn đề Cam-pu-chia, họ buộc phải nối lại đàm phán với Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc đàm phán này không đạt kết quả do họ khăng khăng đòi Việt Nam phải bàn việc giải quyết mặt nội bộ của vấn đề Cam-pu-chia và ra điều kiện giải quyết xong vấn đề Cam-pu-chia mới bàn việc bình thường hóa quan hệ.


Sau Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia (10.1991), từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 11 năm 1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Trung Quốc, hai bên đã ký thông cáo chung về bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.


Giai đoạn 1991-1999, sau khi bình thường hóa quan hệ, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từng bước cải thiện và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, lãnh đạo hai nước đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, trong giai đoạn này Trung Quổc chuyển dần sang tiếp cận Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP) và Thủ tướng Hun-xen.


Đối với Mỹ, sự can thiệp của Mỹ đối với Đông Dương nói chung, Cam-pu-chia nói riêng diễn ra không ngừng từ những năm 50 của thế kỷ XX. Năm 1950, Mỹ đã chuẩn bị điều kiện để thay chân Pháp vào Đông Dương. Sau năm 1954, Mỹ tiến hành hoạt động ráo riết về chính trị, quân sự, kinh tế ở Cam-pu-chia, mưu toan đưa Cam-pu-chia vào trong quỹ đạo của Mỹ ở Đông Nam Á.


Mỹ đã sử dụng nhiều biện pháp như lôi kéo, gây sức ép đối với Cam-pu-chia, thông qua sử dụng sức manh quân sự của Mỹ, của chính quyền Sài Gòn tay sai và chính quyền Thái Lan đánh vào biên giới phía tây và phía đông Cam-pu-chia, lập phong trào vũ trang có tên Khơ-me Xê-rây dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan và biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Cùng với hoạt động quân sự, Mỹ sử dụng biện pháp kinh tế tạo tầng lớp tư sản ở Cam-pu-chia có lợi ích phù hợp với Mỹ. Tầng lớp tư sản này được sự hỗ trợ của Mỹ, ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm ưu thế về mặt chính trị ở Cam-pu-chia, hình thành giới cực hữu thân Mỹ, tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp vào Cam-pu-chia qua cuộc đảo chính ngày 18 tháng 3 năm 1970, lập nên chính quyền thân Mỹ do Lon Non đứng đầu. Thực chất của cuộc đảo chính là loại bỏ Xi-ha-núc (người được coi là thân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lập ra chính phủ là người của Mỹ (Lon Non), tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp vào Cam-pu-chia nhằm mở rộng chiến trường trên toàn cõi Đông Dương, dựng lên một hộ thống căn cứ quân sự nổi liên Việt Nam - Thái Lan - Cam-pu-chia - Lào phục vụ cho các hoạt động quân sự của Mỹ.


Sau thất bại ở Việt Nam (4.1975), đế quốc Mỹ hạn chế dân sự liên quan về quân sự ở khu vực Đông Nani A, tiến hành triệt thoái quân sự cũng như giảm sự quan tâm đối với khu vực này. Tuy nhiên, vấn đề Cam-pu-chia cũng như sự tăng cường hiện diện của Liên Xô ở Đông Nam Á đã khiến Mỹ một lần nữa quan tâm tới khu vực nay. Lợi ích chiến lược cao nhất của Mỹ là duy trì phần còn lại của thế giới tư bản ở khu vực Đông Nam Á chống lại sự sụp đổ theo kiểu đô-mi-nô và duy trì sự có mặt về quân sự ở mức thấp hơn ở vùng hải đảo Đông Nam Á phục vụ chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, Mỹ tìm cách sử dụng "con bài Trung Quốc", khoét sâu vào mâu thuẫn Trung - Xô và Trung - Việt, duy trì tình hình thế giới căng thẳng hòng tạo thế mạnh trong quan hệ với Liên Xô. Đồng thời, Mỹ đặt "Đông Nam Á trong khuôn khổ chính sách toàn cầu và coi ASEAN là con đê quan trọng ngăn chặn, chống lại mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản"1 (Pamela Sodh: A Survey of U.S. Post-Vietnam Policy and the Kampuchean Dilemma, 1975-85, Contemporary Southeast Asia.Vol. 11 No. 3 (December 1989), p. 290. Jimmy Carte: Keeping Faith, Memoirs Of A President, Ibid, p. 255). Tháng 11 năm 1979, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đã chính thức tuyên bố rằng, Mỹ coi ASEAN là "chìa khóa của Đông Nam Á" và Thái Lan là "chìa khóa của ASEAN"1 (David W.P. Elliot: Recent U.S. Policy toward Indochina, in Indochina and Problems of Security and Stability in Southeast Asia, edited by Khien Theeravit and MacAlister Brown (Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1983), p.174); và xem xét vấn đề Cam-pu-chia đặt trong tổng thể quan hệ Mỹ - Trung - Xô. Đông Dương vì thế trở thành một bộ phận trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quổc. Mỹ câu kết với các nước lớn trong khu vực để chống Việt Nam, các nước Đông Dương và Liên Xô. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hai-gơ đã viết hồi ký rằng: "Tại Đông Nam Á, chúng ta hầu như hoàn toàn từ bỏ ảnh hưởng của mình, và nếu không có người... thay thế thực hiện công việc của Mỹ tại khu vực này thì toàn bộ con bài đô-mi-nô còn lại hẳn đã đổ sụp sau Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào"2 (Haig A. Caveat: Realism, Reagan and Foreign Policy, p. 30). Bên cạnh đó, sự câu kết của Mỹ với các nước ở Đông Nam Á còn nhằm phục vụ lợi ích chiến lược lớn hơn có tính chất toàn cầu là nhằm đẩy lực lượng chống Liên Xô3 (Bộ Ngoại giao (1988), Lập trường của các nước, các nhóm nước và Liên hợp quốc về vấn đề Cam-pu-chia từ 12 năm 1987 - 8 năm 1988, Vụ châu Á 2, Hà Nội, hồ sơ số 747). Tuy nhiên, Mỹ không muốn sự câu kết với các nước chống Việt Nam và ba nước Đông Dương có thể gây ra bùng nổ lớn trong khu vực làm cho các nước ASEAN mất ổn định hoặc câu kết với các nước chống Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu đến mức tạo ra cơ hội cho nước khác bành trướng ở Đông Nam Á và Mỹ có nguy cơ mất thêm những vị trí mới ở khu vực này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #7 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 09:01:43 pm »

Chính vì vậy, sau khi Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt thì Mỹ vẫn chưa muốn đóng vai trò chủ yếu trong giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, e ngại bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh du kích, nên chỉ chấp nhận viện trợ thường dân, tránh dính líu đến Khơ-me Đỏ1 (Lee Kuan Yew: Memoirs of, from Thrid World to First, The Singapore Story: 1965-2000, Singapore Press holdings, 2000, p.376- 377). Trong Hồi ký của mình, Tổng thống Mỹ Gim-mi Ca-tơ đã giải thích về quyết định đó như sau: "Lựa chọn giữa hai chế độ này (Cam-pu-chia Dân chủ và Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia) không phải là quyết định mà bề nổi của nó đáng lưu tâm đối với Hoa Kỳ. Vì cả hai phe đều đã từng chiến đấu chống lại Hoa Kỳ chỉ mới ít năm trước đây"2 (Jimmy Carte: Keeping Faith, Memoirs Of A President, A Bantam Book: New York, November 1982, p.253). Trong một thời gian dài, Mỹ có thái độ không dứt khoát đối với Khơ-me Đỏ. Một mặt, Mỹ không muốn để Khơ-me Đỏ trở lại nắm quyền do lo ngại tái diễn nạn diệt chủng, nên Mỹ tránh dính líu đến Khơ-me Đỏ. Mặt khác, Mỹ muốn lợi dụng Khơ-me Đỏ ở một mức độ nhất định (do bản thân Khơ-me Đỏ có lực lượng quân sự tại chỗ) để chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Việt Nam. Do đó, bên cạnh việc tiếp tục ủng hộ vai trò của Khơ-me Đỏ ở Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Mỹ đã phối hợp với đồng minh (Thái Lan) và một số nước lớn khác tiếp tục nuôi dưỡng, ủng hộ Khơ-me Đỏ cũng như hậu thuẫn cho các phái Khơ-me phản động khác (Xi-ha-núc và Son San) tiến hành cuộc chiến chống cách mạng Cam-pu-chia, cách mạng Việt Nam và loại bỏ sự ảnh hưởng của Liên Xô đối với khu vực. Có nhà lãnh đạo ASEAN từng nhận xét, Mỹ và Trung Quốc chỉ nhất trí hoàn toàn với nhau về một điểm duy nhất là không chấp nhận, kiên quyết chống và phối hợp cùng chống lại sự bành trướng của Liên Xô ở Đông Nain Á thông qua Việt Nam: "Khi tôi nói với Giôn Hâu-đơ-rít-giơ... là bất cứ ai thắng lợi trong một cuộc bầu cử do Liên hợp quốc tổ chức đều có thể lãnh đạo Cam-pu-chia và Hêng Xom-rin có thể thắng, ông ta đã phản đối quyết liệt... Giọng nói và cách nói của ông đã làm cho tôi hiểu rõ rằng một thắng lợi của Hêng Xom-rin là không thể chấp nhận được đối với cả Mỹ và Trung Quốc"1 (Lee Kuan Yew: Memoirs of, from Thrid World to First, The Singapore Story: 1965-2000, Ibid, p.378), đơn giản chỉ vì Chính phủ này quá gắn bó với Liên Xô.


Trong giai đoạn 1989 - 1991, xu hướng hòa hoãn giữa các nước lớn (Xô - Trung - Mỹ), nhất là hòa hoãn Mỹ - Xô đã rõ ràng và tình hình thay đổi, đặc biệt là việc Quân tình nguyện Việt Nam hoàn toàn rút khỏi Cam-pu-chia (9.1989), Mỹ đã có sự thay đổi chính sách đối với Đông Dương, trong đó có Cam-pu-chia. Ngày 18 tháng 7 năm 1990, Ngoại trưởng Mỹ Giêm Bây-cơ tuyên bố, Mỹ thôi không công nhận Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia Dân chủ (chính quyền ba phái do Xi-ha-núc đứng đầu). Ngoại trưởng Mỹ cũng lên án Khơ-me Đỏ, đồng thời nhận lời đối thoại với Việt Nam. Sau tuyên bố này của Ngoại trường Mỹ, cuộc gặp chính thức đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ đã diễn ra tại trụ sở Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc ở Niu Oóc. Tại đây, hai bên đã trao đổi về các vấn đề chủ yếu của một giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia. Ngày 31 tháng 8 năm 1990, hai bên tiếp tục có cuộc đàm phán vòng thứ hai, và ngày 20 tháng 9 năm 1990, tiếp tục diễn ra cuộc gặp lần thứ ba cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Các động thái này góp phần từng bước cải thiện quan hệ Việt - Mỹ, đồng thời có tác động tích cực đến việc tháo gỡ bế tắc chính trị tại Cam-pu-chia. Với Cam-pu-chia, Mỹ lập Văn phòng liên lạc tại Phnôm Pênh (11.1991), sau đó nâng cấp thành Đại sứ quán và đóng góp khoảng 30% chi phí cho các hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia. Mỹ không còn ủng hộ Khơ-me Đỏ tiếp tục giữ ghế của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc; đưa ra chương trình viện trợ nhằm giúp Cam-pu-chia xây dựng đường giao thông nông thôn, nhất là những nơi Khơ-me Đỏ chiếm đóng, cho rằng việc mở cửa các vùng nông thôn do Khơ-me Đỏ kiểm soát, đưa chủ nghĩa vật chất tiếp cận với người dân và binh lính là cách tốt nhất làm suy yếu Khơ-me Đỏ. Từ chỗ liên minh, đồng lõa với nước lớn trong khu vực, Mỹ bắt đầu lo ngại và tìm cách hạn chế ảnh hưởng của họ; chủ trương lập một chính phủ hòa giải dân tộc và trung lập thân Mỹ và phương Tây ở Cam-pu-chia.


Sau tổng tuyển cử năm 1993 và nhất là sau khi chính phủ liên hiệp giữa FUNCINPEC và CPP được thành lập, Mỹ nhận thấy chính phủ này, mà cụ thể là CPP và Thủ tướng Hun-xen, có nhiều phát biểu và biểu hiện muốn thân thiện với phương Tây, cho rằng CPP đã chuyển hóa theo hướng có lợi cho Mỹ1 (Mỹ cho rằng CPP và Thủ tướng Hun-xen đã hợp tác đầy đủ trong vấn đề POW/MIA. Thủ tướng Hun-xen thăm Mỹ và được đón tiếp trọng thị (1992). Ngoại trưởng Mỹ M. Ôn-brai thăm Cam-pu-chia năm 1993. Tới năm 1996, trong quan hệ với Mỹ, Cam-pu-chia đã được trao quy chế tối huệ quốc (MFN), đã ký các Hiệp định thương mại và đầu tư song phương, được hưởng GSP và được hỗ trợ bởi chương trình đầu tư tư nhân OPIC. Mỹ giúp Cam-pu-chia gỡ mìn ở nhiều nơi và được coi là một chương trình gỡ mìn thành công nhất trên thế giới. Về quan hệ Mỹ - Cam-pu-chia, xem thêm Kenton Clymer, sđd, trang 162 - 165). Do vậy, Mỹ không ngừng tăng cường quan hệ với Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia, tăng cường tranh thủ CPP. Tính từ năm 1992 đến 1996, tổng viện trợ mà Cam-pu-chia nhận được là 1.892.884.000 USD, trong đó riêng Mỹ là 174.971.000 USD1 (Trần Huy Chương, sđd, tr. 24). Sau khi xuất hiện xu hướng ly khai của Khơ-me Đỏ năm 1995, Mỹ hoan nghênh việc Khơ-me Đỏ ly khai và cung cấp tài chính giúp số lính Khơ-me Đỏ đào ngũ sáp nhập vào quân đội Cam-pu-chia2 (Kenton Clymer, sđd, tr. 166). Tuy nhiên, từ sau vụ đảo chính và thất vọng về phản đảo chính tháng 7 năm 1997, Mỹ tỏ ra CPP và Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, nên chuyển dần sang quan hệ với các lực lượng đối lập, nuôi dưỡng các con bài, tổ chức chính trị đối lập ở Cam-pu-chia, nhất là mở rộng mạng lưới NGOs tại các vùng nông thôn.


Đối với Liên Xô, tận dụng cơ hội Mỹ sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thực lực quân sự giảm đáng kể, Liên Xô đã nhanh chóng phát triển tiềm lực quân sự, để vào cuối những năm 1970, Liên Xô đã giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ. Đồng thời, Liên Xô triệt để khai thác sự suy yếu của Mỹ để tăng cường ảnh hưởng của mình tại châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng. Trước sự câu kết Mỹ - Trung nhằm chống phá Liên Xô, Liên Xô một mặt tìm cách phá sự câu kết này, thực hiện chiến lược bao vây, kiềm chế Trung Quốc; mặt khác ký Hiệp ước Hòa bình hữu nghị với Ấn Độ (1971), ủng hộ Ấn Độ đưa quân vào giải phóng Pa-kít-xtan, lập ra nhà nước Băng-la-đét. Với Việt Nam, Liên Xô ủng hộ Việt Nam vào Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Khối SEV), ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Xô - Việt tháng 11 năm 1978, cho phép Liên Xô mở rộng sự có mặt cả về chính trị, kinh tế lẫn quân sự, trong đó có việc sử dụng cảng Cam Ranh. Việc Việt Nam ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô đã tạo ra một tương quan lực lượng mới ở Đông Nam Á sau khi Mỹ rút quân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 09:02:31 pm »

Sau khi Khơ-me Đỏ tiến công Việt Nam, Liên Xô ủng hộ Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia. Thời gian này, Liên Xô đồng thời tăng cường quan hệ với Lào; công nhận và lập quan hệ với chính phủ mới ở Cam-pu-chia tháng 1 năm 1979, sau đó Liên Xô có nhiều hoạt động viện trợ không hoàn lại để giúp Cam-pu-chia thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Mặc dù mở rộng ảnh hưởng của mình ở Đông Dương, ủng hộ cách mạng Cam-pu-chia, mong muốn ba nước Đông Dương cùng đi với mình để chống câu kết Mỹ - Trung, song Liên Xô tránh can dự trực tiếp vào xung đột Cam-pu-chia.


Từ khi bắt đầu đàm phán với Trung Quốc về bình thường hóa quan hệ (1982-1987), Liên Xô tiếp tục ủng hộ ba nước Đông Dương. Mặc dù Trung Quốc nêu "ba trở ngại"1 (Ba trở ngại gồm: rút quân khỏi Áp-ga-ni-xtan, chấm dứt xung đột biên giới Trung - Xô, giải quyết vấn đề Cam-pu-chia) cho quan hệ Xô - Trung (10.1982), trong đó có vấn đề Cam-pu-chia, đánh dấu việc vấn đề Cam-pu-chia đã trở thành một con bài chiến lược toàn cầu của Trung Quốc, nhưng đến giữa năm 1984, Liên Xô vẫn chưa bàn với Trung Quốc về "ba trở ngại". Nhưng kể từ giữa năm 1984 trở đi, Liên Xô bắt đầu điều chỉnh chính sách trong vấn đề Cam-pu-chia, thúc đẩy Việt Nam và Cam-pu-chia đi vào giải quyết vấn đề bằng giải pháp chính trị, gợi ý Việt Nam tiếp xúc với Xi-ha-núc và bắt đầu thảo luận với Mỹ, Trung Quốc về vấn đề Cam-pu-chia.


Trước những tình hình khó khăn, phức tạp ở ngày càng lớn trong nước, từ năm 1986, Liên Xô chủ trương giảm bớt sự hiện diện quân sự tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản và thiết lập quan hệ với Hàn Quốc. Với Đông Dương, Liên Xô từng bước giảm cam kết với Việt Nam và Cam-pu-chia; đồng thời "muốn thúc đẩy giải quyết sớm vấn đề Cam-pu-chia để phối hợp với chiến lược chung của Liên Xô ở châu Á - Thái Bình Dương và đối với Trung Quốc, đối với Mỹ. Liên Xô coi trọng vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Cam-pu-chia và Đông Nam Á, đồng thời đang cố gắng dàn xếp với Mỹ về vấn đề Cam-pu-chia. Liên Xô theo đuổi lập trường về một giải pháp thỏa hiệp, ủng hộ Việt Nam và chính quyền Cam-pu-chia, nhưng chú ý đến lợi ích của tất cả các bên liên quan và coi trọng vai trò, lợi ích của Trung Quốc. Ngày 28 tháng 7 năm 1986, phát biểu tại Vờ-la-đi-vô-xtốc/Nga, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Goóc-ba-chốp cho rằng: "Vấn đề Cam-pu-chia không thể giải quyết ở các thủ đô xa xôi, kể cả ở Liên hợp quốc, phải giải quyết giữa Việt Nam và Trung Quốc, là hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng"1 (Trần Quang Cơ, Hồi ký và suy nghĩ, Hà Nội, 2003, tr.28). Từ năm 1989, khi Việt Nam và Cam-pu-chia chấp nhận vai trò của Liên hợp quốc, Liên Xô đẩy mạnh thảo luận giữa 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề Cam-pu-chia, trong đó tuy vẫn ủng hộ Viột Nam, tôn trọng lập trưởng của Việt Nam và Cam-pu-chia, song Liên Xô muốn có một giải phảp thỏa hiệp theo hưởng, cỏ một hỉnh thức liên hiệp các bên ở Cam-pu-chia, không lên án diệt chủng và tránh đề cập đển việc loại bỏ Khơ-tne Đỏ. Liên Xo cũng chủ trương giao một vai trò nhất định cho Liên hợp quốc trong giải quyết vấn đề Cam-pu-chia.


Sau khi Liên bang Xô-viết tan rã vào tháng 12 năm 1991, Nga tiếp quản vị thế quốc tế của Liên Xô. Nga dưới thời của Tổng thống Bô-rít En-xin (1991 - 1999) chuyển sang chiến lược "đi với phương Tây cả gói", chủ trương hội nhập vào châu Áu, rút khỏi nhiều khu vực mà Nga có ảnh hưởng truyền thống, trong đó có khu vực Đông Nam Á, nhượng bộ Mỹ và phương Tây để tập trung ưu tiên củng cố trong nước. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, trong quá trình UNTAC vào Cam-pu-chia triển khai thực thi Hiệp định Pa-ri, Nga không tham gia nhiều vào việc tái thiết Cam-pu-chia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 09:03:32 pm »

1.2.2. Chính sách của một số nước khác

Đối với Pháp

Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, sau đó thiết lập sự thống trị thực dân ở Đông Dương. Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã lần lượt trở thành một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp. Năm 1954, trước thất bại nặng nề của Pháp tại Việt Nam, đặc biệt là thất bại tại Điện Biên Phủ, tháng 7 năm 1954, Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Từ đây, vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Đông Dương bị thay thế bởi Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô. Do đó, Pháp ít bị cuốn hút vào vấn đề Cam-pu-chia so với các nước lớn khác. Tuy nhiên, Pháp vẫn là nước có ảnh hưởng nhất định đến chính trường Cam-pu-chia, đặc biệt là Xi-ha-núc, cả thời kỳ ông ta làm vua, cũng như khi Xi-ha-núc bị lật đổ, phải sống lưu vong tại nước ngoài.


Sau khi Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào giải phóng nhân dân Cam-pu-chia, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia ra đời, Xi-ha-núc đã có ý tưởng muốn chọn nước Pháp làm nơi triệu tập hội nghị quốc tế thảo luận về vấn đề Cam-pu-chia. Ý tưởng này phù hợp với mong muốn của Pháp, vì Pháp coi đây là cơ hội để trở lại và tạo ảnh hưởng mới đối với Đông Dương Do đó, Pháp đã tích cực đứng ra tổ chức các cuộc gặp giữa Xi-ha-núc và Hun-xen, đồng thời cùng với In-đô-nê-xi-a đảm nhiệm cương vị Đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia. Pháp đã làm tốt vai trò đồng Chủ tịch và nước chủ nhà, đóng góp một phần quan trọng cho việc các bên liên quan đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri về vấn đề Cam-pu-chia vào tháng 10 năm 1991. Giai đoạn 1993- 1999, cơ quan phát triển của Pháp (AFD) đã viện trợ cho Cam-pu-chia gần 140 triệu Euro1 (Frace Diplomatie (2013), "The French Development Agency (AFD) operates in Cambodia", Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao và Phát triển Quốc tế Pháp, trang http://www.diplomatie.gouv.fr). Pháp hợp tác và hỗ trợ vào nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế và đào tạo nghề (dựa trên ba trụ cột tiềm lực của đất nước: nông nghiệp, dệt may và du lịch); tăng cường quản trị (xây dựng nhà nước pháp quyền và thúc đẩy vai trò của pháp luật) và gắn kết xã hội (hỗ trợ cho tổ chức phi chính phủ, lĩnh vực tư nhân, chính quyền dịa phương... nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc y tế, giảng dạy và nghiên cứu), phát triển nông nghiệp và cung cấp nguồn nước sạch (cho Thủ đô Phnôm Pênh) cũng như hệ thống thoát nước, đường bộ tại Siêm Riệp, cải tạo các chợ trung tâm tại Phnôm Pênh và phát triển chiếu sáng đường phố ở thủ đô; văn hóa - giáo dục (đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu - trong đó có việc giảng dạy tiếng Pháp); Pháp cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đền Ăng-co và các di sản khác của Cam-pu-chia1 (Frace Diplomatie (2013), "The French Development Agency (AFD) operates in Cambodia", Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao và Phát triển Quốc tế Pháp, trang http://www.diplomatie.gouv.fr)... Bằng việc tích cực đóng góp cho tiến trình hòa bình Cam-pu-chia trong giai đoạn 1987 - 1991 cũng như sau khi chính phủ Liên hiệp Cam-pu-chia thành lập năm 1993, Pháp đã có vai trò quan trọng, thiết thực trong tiến trình đi đến và thực hiện giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như tiến trình xây dựng và phát triển đất nước Cam-pu-chia trong giai đoạn sau này.
Logged
Trang: 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM