Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:24:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999  (Đọc 3018 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2026, 09:04:22 pm »

Đối với Nhật Bản

Sau Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đã phát triển thành một siêu cường kinh tế đứng thứ hai sau Mỹ, điều này thúc đẩy Nhật Bản trở thành "quốc gia bình thường" và đảm bảo vai trò cường quốc ở châu Á và trên thế giới. Trước những biến đổi của tình hình, nhất là sau khi Mỹ thua trận và phải rời Đông Dương, Nhật Bản đã thực thi chính sách "quay trở lại châu Á". Năm 1977, Nhật Bản đã đề ra "Học thuyết Phu-cư-đa", trong đó nhấn mạnh ba điểm quan trọng: (i) Kêu gọi các nước ASEAN và ba nước Đông Dương chung sống hòa bình; (ii) Nhật Bản trở thành cầu nối và tham gia tích cực vào việc ổn định khu vực Đông Nam Á; (iii) Đặt Việt Nam vào vị trí trung tâm của Đông Dương và xác định rõ vị trí của Việt Nani trong ngoại giao Nhật Bản. Học thuyết Phu-cư-đa nêu "Hòa bình và phồn vinh cho cả khu vực Đông Nam Á" "Tạo ra mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết lần nhau giữa Nhật Bản và các nước Đông Dương". Chính vì vậy, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào tiến trình đi đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, và sau đó trở thành một trong những nước bảo trợ chính cho chương trình tái thiết Cam-pu-chia.


Năm 1990, ông Ca-oan-nô Ma-xa-ha-ru, Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã có chuyến đi đến Phnôm Pênh trước sự phản đối của Mỹ là một sự kiện minh chứng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Nhật Bản. Tham gia vào quá trình kiến tạo hòa bình cho Cam-pu-chia, Nhật Bản chủ trương trở thành "một quốc gia hoà bình" và khái niệm "lợi ích quốc gia" được sử dụng nhiều lần hơn. Trong chuyến thăm các nước ASEAN, tháng 4 năm 1991 của Thủ tướng Nhật Bản Cai-phu tại Xinh-ga-po đã phát biểu: "Cam kết không trở thành cường quốc quân sự, Nhật Bản sẽ đóng góp tích cực hơn trong các vấn đề chính trị châu Á - Thái Bình Dương, tham gia giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, tăng cường sự hợp tác thông qua đầu tư chuyển giao công nghệ, chương trình viện trợ chính thức ODA đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN và Đông Dương cùng phát triển và trở thành bạn hàng tốt của nhau"1 (Hoàng Thị Minh Hoa (2008), "Chính sách đối ngoại Đông Nam Á của Nhật Bản và ảnh hưởng của nó đối với ba nước Đông Dương giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh", Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, tr. 5). Có thể thấy rằng, Nhật Bản không chỉ là nước đóng vai trò chủ đạo trong các hội nghị quốc tế vì nền hòa bình của Cam-pu-chia như Hội nghị Tô-ky-ô vào năm 1990, trong đó có việc quyết định thành lập Hội đồng Quốc gia Tối cao (SNC), mà còn tích cực thúc đẩy việc ký kết cũng như thực hiện Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia như: Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc, đứng đầu UNTAC là người Nhật Bản; vận động các nước đóng góp quân, tài chính cho UNTAC (Nhật Bản đóng góp tới 1/3 tổng ngân sách dành cho UNTAC, tương đương Mỹ); tham gia trong việc thúc đẩy ổn định và phát triển của Cam-pu-chia thông qua sự hợp tác về kinh tế trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn đền Ăng-co và đóng góp cho tòa án xét xử Khơ-me Đỏ2 (Moeun Nhean (2013), Japanese Ambassador's Speech: On the special occasion of the Japanese Emperor's Birthday and the 60th (1953-2013) anniversary of diplomatic relations between Japan and Cambodia", Phnom Penh Post). Đặc biệt, trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, Nhật Bản là nhà tài trợ ODA cho Cam-pu-chia lớn nhất kể từ năm 1992 đến năm 1999 (khoảng gần 2 tỷ USD)... Nhật Bản tiến hành nhiều chương trình khác nhau trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về kinh tế và xã hội, xây dựng năng lực và đào tạo nguồn nhân lực... và hỗ trợ Cam-pu-chia trong việc nỗ lực tái thiết, xây dựng và phát triển đất nước3 (Hor Kimsay (2013), Kingdom needs to define its advantages: JICA, Báo điện tử của Phnôm Pênh Post, trang http://www. phnompenhpost.com).


Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á nói chung và đối với Cam-pu-chia nói riêng nhận được sự phản ứng tích cực của các nước trong khu vực, bởi vì ASEAN không chỉ cần vốn đầu tư, công nghệ và thị trường Nhật Bản, mà còn muốn Nhật Bản trở thành nhân tố cân bằng ảnh hưởng với các nước lớn khác trong khu vực. Có thể khẳng định rằng, Nhật Bản có vai trò hết sức quan trọng đối với tiến trình hòa bình và tái thiết đất nước Cam-pu-chia sau khi vấn đề Cam-pu-chia được giài quyết cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước này trong giai đoạn tiếp theo.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 06:54:20 pm »

1.2.3. Chính sách của ASEAN

Lịch sử đã ghi nhận một số nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từng chống lại cách mạng ba nước Đông Dương rất quyết liệt. Tháng 8 năm 1967, ASEAN ra đời với 5 nước thành viên sáng lập là: In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và Thái Lan (Bru-nây được kết nạp vào tháng 1 năm 1984). về mặt chính trị, 5 nước này đều đi theo con đường tư bản chủ nghĩa gần gũi với phương Tây, trong đó, Thái Lan và Phi-líp-pin gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), cùng Mỹ tham chiến tại Việt Nam và trở thành nơi đặt các căn cứ quân sự của Mỹ. Một số nước khác tuy không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh này, nhưng tranh thủ tiếp tế, chi viện tài chính, hậu cần cho Mỹ trong cuộc chiến tranh. Từ đây, Đông Nam Á hình thành hai nhóm nước đối lập nhau đó là nhóm các nước ASEAN và nhóm ba nước Đông Dương. Vì vậy, "cho dù trong văn kiện thành lập ASEAN, Tuyên bố Băng-cốc năm 1967 đã nói về thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa song nền móng của Hiệp hội trong thời kỳ này là những vấn đề an ninh chính trị"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2017, tr. 236-237). "Mỹ dùng cái Hội ấy để làm những việc mà khối quân sự Đông Nam Á không làm được"2 (Quang Thái, Về vấn đề trung lập hóa vùng Đông Nam Á, Báo Quân đội nhân dân, ngày 11 tháng 12 năm 1971). Thực tế đó khiến cho Tuyên bố của ASEAN vào tháng 11 năm 1971, thiết lập Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập (ZOPFAN) được tiếp nhận với thái độ lạnh nhạt và nghi ngại. Nhà ngoại giao Đào Huy Ngọc đã nhận định về Tuyên bố ZOPFAN: "về hình thức là tạo ra một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước ASEAN muốn tách ra, đứng ngoài những quan hệ phức tạp giữa các nước lớn; nhưng về thực chất, nó là phương cách để thực hiện chính sách không liên kết với các nước lớn, tiếp tục duy trì sự tồn tại của các nước ASEAN trong tình hình mới và tìm cách thoát khỏi sự dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dương"3 (Đào Huy Ngọc (Chủ biên), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 77).


Sau năm 1975, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã; tháng 2 năm 1976, các nước ASEAN ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực. Đại hội lần thứ IV (1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhấn mạnh chủ trương Việt Nam cần góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hoà bình, tự do, trung lập và ổn định. Nhờ vậy, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và 5 nước ASEAN đã được thiết lập. Cuối năm 1976, Phi-líp-pin và Thái Lan là nước cuối cùng trong tổ chức ASEAN thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Việc Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với nhóm nước ASEAN đã tạo bầu không khí thân thiện và hòa bình ở khu vực Đông Nam Á, góp phần hòa giải những hiềm khích vốn được tạo ra bởi sự cạnh tranh của các nước lớn ngoài khu vực. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam của Việt Nam nổ ra đã làm cho các hoạt động đối ngoại giữa Việt Nam và ASEAN đổ vỡ đặc biệt là vấn đề Cam-pu-chia đã trở thành vật cản lớn nhất trong tiến trình hoà giải khu vực Đông Nam Á. Cho là "Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia", kết hợp bị các thế lực tuyên truyền, kích động, dựng nên cái gọi là "mối đe dọa bị Việt Nam tiến công", các nước ASEAN tìm thấy điểm chung là "nỗi ám ảnh về sức mạnh và ảnh hưởng của Việt Nam đối với khu vực"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Sđd, tr.236). Do đó, từ năm 1979 đến năm 1989, ASEAN đều bảo trợ nghị quyết của Liên hợp quốc về Cam-pu-chia, đòi rút quân đội nước ngoài (Quân đội nhân dân Việt Nam) khỏi Cam-pu-chia và ủng hộ ghế của Khơ-me Đỏ tại Liên hợp quốc. Dưới tác động của các nước ASEAN, số nước bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết chống Việt Nam do ASEAN đề xuất tăng từ 91 nước năm 1979 lên 114 nước vào năm 1985. ASEAN đã cùng Trung Quốc thúc đẩy việc thành lập "Chính phủ liên hiệp ba phái" ở Cam-pu-chia vào tháng 6 năm 1982 tại Ma-lai-xi-a để làm ngọn cờ lôi kéo các thế lực từ bên ngoài tham gia chống cách mạng Cam-pu-chia và Đông Dương; ASEAN và Mỹ phát triển một chương trình viện trợ kinh tế, quân sự và đào tạo cho các phái Khơ-me phản động để chống lại chính quyền cách mạng non trẻ và công cuộc hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia cũng như chống Việt Nam. Hành động của các nước ASEAN cùng các thế lực phản động đã làm cho tình hình Cam-pu-chia, Đông Dương và đặc biệt cách mạng Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.


Trong ASEAN, Thái Lan là nước can thiệp sâu rộng vào vấn đề Cam-pu-chia. Trong hơn một thập kỷ, Thái Lan cùng với các nước ASEAN khác liên kết với các nước lớn và các nước phương Tây tích cực ủng hộ và giúp đỡ Khơ-me Đỏ trên mọi phương diện. Sau khi chế độ Pôn Pôt bị đánh đổ, Thái Lan trở thành "đất thánh" để lực lượng phản động Đông Dương, nhất là lực lượng Khơ-me Đỏ thành lập các căn cứ ẩn náu, tồn tại và hoạt động chống phá cách mạng Cam-pu-chia và Việt Nam.


Đáng chú ý là, với âm mưu chống phá Việt Nam - Đông Dương lâu dài, các nước lớn đã thỏa hiệp và phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc gây sức ép và lôi kéo Thái Lan, biến Thái Lan thành "đất thánh" và là địa bàn trung chuyển tài chính, vũ khí cho các phái Khơ-me phản động, kể cả cho Khơ-me Đỏ. Mỹ đã liên tiếp cử quan chức ngoại giao, quân sự đến Thái Lan nhằm thúc đẩy Thái Lan chấp nhận những điều kiện của Mỹ, lôi kéo Thái Lan vào chiến lược chống phá Việt Nam - Đông Dương, thông qua việc thổi phồng "mối đe dọa" Việt Nam và cam kết bảo vệ Thái Lan trước khả năng bị Việt Nam "xâm lược".


Các Cơ quan tình báo, các cơ chế viện trợ, truyền thông các nước lớn đứng chân ở Thái Lan để chỉ đạo hà hơi tiếp sức cho Khơ-me Đỏ ở biên giới và nội địa Cam-pu-chia. Thậm chí, quân đội Thái Lan còn nhiều lần dùng máy bay, tàu thuyền xâm nhập lãnh thổ Cam-pu-chia, dùng pháo binh bắn yểm trợ cho quân Khơ-me Đỏ xâm nhập hoặc rút lui qua biên giới1 (Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, Sự thật về quan hệ Thái Lan - Cam-pu-chia và Thái Lan - Lào, Nxb Sự thật, Hà Nội năm 1985. Ngoài ra, có thể xem thêm Kenton Clymer, sđd, tr. 138 - 170 và Tạ Ích Hiển, sđd, tr. 345 - 350). Trước năm 1987, khi các nước Đông Dương liên tiếp đưa ra các sáng kiến hòa bình, đề nghị các nước ASEAN đi vào đối thoại để tìm giải pháp làm cho Đông Nam Á trở thành khu vực hòa bình, ổn định, thì Thái Lan lại khước từ và tự coi mình là nước "đứng ở tuyến đầu" trong các nước ASEAN để chống ba nước Đông Dương.


Vào những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ XX, các nước ASEAN đều có nhu cầu xây dựng một Đông Nam Á hòa bình và ổn định để có thể phát triển kinh tế - xã hội nên muốn tìm giải pháp chung cho vấn đề Cam-pu-chia. Một mặt, lo ngại bất ổn chính trị của Cam-pu-chia có thể gây ra những bất ổn ở khu vực, nên ASEAN cố gắng đóng vai trò quan trọng trong giải quyết các xung đột chính trị và tiến trình hoà bình ở Cam-pu-chia2 (Sam ATH Sambath Sreysour & OUM Sothea (2016), Cambodia in the ASEAN context, p. 314. In Cambodia's Foreign Relations in Regional and Global Contexts, edited by Deth Sok Udom, Sun Suon, Serkan Bulut, Konrad-Adenauer-Stiftung). Mặt khác, nhiều nhà lãnh đạo ASEAN đã nhận thức rõ kẻ đắc lợi trong tình hình Đông Nam Á bất ổn chính là các nước lớn ở ngoài khu vực1 (Vũ Dương Ninh, "Ba mươi năm trên những chặng đường hội nhập quốc tế (1975-2005)", Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 1 - 2005, tr. 3). Các nước ASEAN thấy rằng, việc cô lập Việt Nam cũng có nghĩa là tự ràng buộc mình vào lợi ích của các nước lớn trong khi mối đe doạ lợi ích quốc gia thực sự và lâu dài không phải đến từ Việt Nam. Hơn nữa, giữa bối cảnh các nước lớn đi vào hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có "vấn đề Cam-pu-chia", các nước ASEAN lo ngại họ có thể tìm giải pháp bất lợi cho khu vực và mất vị thế của ASEAN, do đó ASEAN từng bước điều chỉnh quan hệ với Việt Nam, hợp tác tìm giải pháp cho "vấn đề Cam-pu-chia" có lại cho hòa bình, ổn định trong khu vực và nâng cao vai trò của các nước ASEAN. Bên cạnh đó, giữa Việt Nam và các nước ASEAN còn có nhiều lợi ích tương đồng về an ninh trên lãnh thổ và lãnh hải. Do vậy, các nước ASEAN tuy vẫn phản đối Việt Nam đưa quân sang Cam-pu-chia, nhưng đã có những dấu hiệu nỗ lực muốn giảm đối đầu trong khu vực để chuyển sang đối thoại. Đặc biệt, từ khi chứng kiến thiện chí của Việt Nam trong việc chủ động rút một phần Quân tình nguyện ở Cam-pu-chia về nước từ tháng 7 năm 1982, các nước ASEAN dần tách khỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho Cam-pu-chia Dân chủ để từng bước đi vào đối thoại với Việt Nam2 (Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2015, tr.332).


Tháng 7 năm 1987, cuộc gặp gỡ giữa Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam (đại diện cho ba nước Đông Dương) và Bộ trưởng Ngoại giao In-đô-nê-xi-a (Đại diện cho các nước ASEAN) tại Thành phố Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại giao In-đô-nê-xi-a, qua đó khai thông quan hệ song phương Việt Nam - In-đô-nê-xi-a, vừa mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác giải quyết vấn đề Cam-pu-chia và xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình ổn định và phát triển. Cuộc gặp gỡ này đưa đến bản Thông cáo chung, mở đầu quá trình đối thoại nhằm giải quyết vấn đề Cam-pu chia, hình thành các diễn đàn JIM (các cuộc gặp không chính thức về vấn đề Cam-pu-chia giữa hai đại diện của nhóm nước ASEAN và Đông Dương) đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ đối đầu giữa Đông Dương và ASEAN xung quanh vấn đề Cam-pu-chia và mở ra thời kỳ của những cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Hun-xen và Xi-ha-núc. Đặc biệt, tháng 8 năm 1988, Chạt-ti-chai Sô-ha-van sau khi trở thành Thủ tướng Thái Lan đã có sự điều chỉnh chính sách đối với các nước Đông Dương, nhưng vẫn giữ thái độ hai mặt. Tuyên bố muốn "biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường"1 (Ý tưởng này được Thủ tướng Thái Lan Chạt-ti-chai Sô-ha-van thể hiện trong bài phát biểu trước Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở thủ đô Washington, D.C.(Mỹ), ngày 16-6-1990. Xem Clark D. Neher (2013), Southeast Asia in the New International Era, Boulder: Westview Press, p.24), nhưng thực tế quân đội và chính quyền Thái Lan vẫn không ngừng viện trợ cho Khơ-me Đỏ. Sau khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết vào tháng 10 năm 1991, Mỹ đã gây sức ép và nhiều lần phản đối Thái Lan tiếp tục có quan hệ với Khơ-me Đỏ. Đại sứ Mỹ tại Thái Lan tuyên bố Mỹ muốn Khơ-me Đỏ bị cắt đứt mọi mối liên hệ. Một quan chức Mỹ đã phát biểu tại một cuộc điều trần của Quốc hội Mỹ là "giờ đây Thái Lan đã thay thế Trung Quốc trở thành nước viện trợ lớn nhất cho Khơ-me Đỏ"1 (Craig Etcheson, "Without Any Pretensions, Dump the Khmer Rouge", the Nation (Bangkok), số ra ngày 28 tháng 9 năm 1993). Từ cuối năm 1994, dưới sức ép mạnh của Mỹ và cộng đồng quốc tế, Thái Lan mới thay đổi hẳn thái độ đối với Khơ-me Đỏ. Cũng từ đó, Thái Lan ủng hộ chính sách hòa giải dân tộc của Cam-pu-chia, ngầm khuyến khích các lực lượng Khơ-me Đỏ ly khai về với chính phủ nhưng không muốn đưa Khơ-me Đỏ ra xét xử2 (Trần Huy Chương, sđd, tr. 33).


Sự thay đổi từ phía Thái Lan góp phần quan trọng cho quá trình đàm phán tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia của các phe phái chính trị ở Cam-pu-chia. Trên cơ sở đó, tháng 2 năm 1989, Hội nghị không chính thức JIM-2 được tổ chức tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a) ra Tuyên bố chung khẳng định: Việt Nam rút hết quân khỏi Cam-pu-chia trước ngày 30 tháng 9 năm 1989; chấm dứt sự can thiệp và viện trợ vũ khí từ bên ngoài cho các phe phái chính trị ở Cam-pu-chia, đồng thời tìm giải pháp ngăn chặn sự quay lại của chế độ diệt chủng. Các bên ngừng băn, thỏa thuận một giải pháp chính trị toàn diện và tổng tuyển cử dưới sự giám sát của quốc tế; xây dựng một nước Cam-pu-chia độc lập, chủ quyền, hòa bình và không liên kết phải được các bên Cam-pu-chia giải quyết bằng con đường đàm phán3 (Sorpong Peou (1997), Conflict Neutralization in the Cambodia Ear: From Battlefield to Ballot-box, New York: Oxford University Press p.37). Cùng với các diễn đàn JIM, các cuộc gặp song phương giữa các nước và các phe phái ở Cam-pu-chia đã được tổ chức như các cuộc gặp giữa Hun-xen - Xi-ha-núc và các diễn đàn Việt - Mỹ, Việt Nam - Thái Lan, Cam-pu-chia - Thái Lan... Không chỉ đối thoại song phương giữa hai khối (JIM), các nước ASEAN đã tham gia tích cực trong Hội nghị quốc tế đa phương về "vấn đề Cam-pu-chia" tại Pa-ri (vòng 1: từ 30 tháng 7 đến 1 tháng 8, vòng 2: từ 28 tháng 8 đến 30 tháng 8 năm 1989). In-đô-nê-xi-a là một trong hai đồng chủ tịch trong Hội nghị Pa-ri, tích cực điều phối lợi ích, quan điểm của các bên tham gia. Sau khi thỏa thuận khung về vấn đề Cam-pu-chia đạt được vào ngày 28 tháng 8 năm 1990 Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết vào ngày 23 tháng 10 năm 1991. Quá trình triển khai Hiệp định Pa-ri, trừ Bru-nây, các nước ASEAN còn lại (In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan) đều có quân tham gia UNTAC với mong muốn xây dựng một nước Cam-pu-chia độc lập, trung lập coi đó là điều kiện có lợi nhất cho sự ổn định của khu vực để ASEAN có thể tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội.


Từ năm 1995 đến 1999, ASEAN lần lượt kết nạp Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma làm thành viên để đối phó với những thách thức mới và nâng cao sức mạnh, tiếng nói của ASEAN trên trường quốc tế. Việc các nước ASEAN điều chỉnh chính sách đã giúp Nhà nước và Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia nâng cao vị thế và uy tín, đồng thời có tác dụng cô lập hơn nữa Khơ-me Đỏ trên trường quốc tế.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 06:55:57 pm »

1.2.4. Chính sách của Liên hợp quốc

Liên hợp quốc có vai trò rất lớn đối với tiến trình giải quyết xung đột và tái thiết hòa bình tại Cam-pu-chia, song trong từng giai đoạn thể hiện khác nhau. Trong giai đoạn 1979-1989, vai trò của Liên hợp quốc đối với Cam-pu-chia chưa thể hiện rõ ràng bởi có quá nhiều nước lớn, nhỏ cùng tham gia bàn bạc vấn đề Cam-pu-chia và không có tiếng nói thống nhất. Ngay sau khi chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị lật đổ, Hội Luật gia dân chủ quốc tế (AIJD) đã cử đoàn điều tra đến Cam-pu-chia từ 26 tháng 4 đến 5 tháng 6 năm 1979. Qua 40 ngày điều tra thực tế, AIJD sử dụng khái niệm "xứ sở của đầu lâu" để chỉ cảnh giết chóc kinh hoàng do Khơ-me Đỏ gây ra đối với nhân dân mình. AIJD cũng nhận thấy rõ ràng rằng "sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Cam-pu-chia là về quân sự, nhưng cũng là dân sự, đó chính là sự "ủng hộ" cho các dân tộc đấu tranh để tự được giải phóng được nói trong Nghị quyết số 2625 (nghị quyết ngày 24 tháng 10 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó đã thông qua bản "Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế liên quan đến các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc"). Sự giúp đỡ này là hợp pháp và hợp pháp hóa bởi các hoàn cảnh"1 (Lưu Văn Lợi, Ngoại giao Việt Nam 1945 - 1995, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 442-443). Các kết quả điều tra trên đều được AIJD báo cáo đầy đủ, chi tiết với Liên hợp quốc. Ngoài ra, Liên hợp quốc còn nhận được rất nhiều báo cáo từ các thành viên, cũng như các cơ quan thuộc quyền, song không bảo vệ dân tộc Cam-pu-chia, càng không lên án hành động diệt chủng của chính quyền Pôn Pốt mà còn bảo vệ Khơ-me Đỏ khi trao cho chúng quyền đại diện hợp pháp của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Hành động nhân đạo của Việt Nam cửu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng chẳng những không được Liên hợp quốc hoan nghênh, mà trái lại, Liên hợp quốc còn đồng thanh với các thế lực thù địch thực hiện cuộc bao vây, cấm vận Việt Nam. Sở dĩ Liên hợp quốc có thái độ như vậy, là do sự chi phối của các nước lớn. Tháng 6 năm 1981, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã triệu tập một hội nghị quốc tế bàn về vấn đề Cam-pu-chia với sự tham gia của 79 quốc gia. Tuy nhiên, hội nghị đã gặp bế tắc vì chủ yếu bàn về việc Việt Nam can thiệp vào Cam-pu-chia chứ không phải là tìm kiếm giải pháp hòa bình1 (S.R. Ratner, The New UN Peacekeeping, Building Peace in Lands of Conflict after the Cold War (New York, 1995), p. 141). Những năm tiếp sau đó, các cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục đưa ra yêu cầu về việc rút quân của Việt Nam, thiết lập một chính quyền tạm thời, hòa giải quốc gia dưới sự đứng đầu của Hoàng thân Xi-ha-núc, trao trả độc lập và chủ quyền lãnh thổ cho Cam-pu-chia, quyền tự quyết tương lai của Cam-pu-chia...


Trong giai đoạn 1989-1991, Liên hợp quốc đã tham gia sâu vào quá trình tìm kiêm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Sau khi Việt Nam rút hoàn toàn Quân tình nguyện khỏi Cam-pu-chia (9.1989) Liên hợp quốc đã quan tâm nhiều hơn, thực chất hơn đến vấn đề Cam-pu-chia. Tại phiên họp thứ 44 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc ở Niu-oóc (10.1989), Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã chỉ rõ vấn đề cơ bản còn tồn tại là vấn đề hòa hợp dân tộc, thực chất thuộc về nội bộ của Cam-pu-chia. Đây cũng là cơ sở để từ tháng 12 năm 1989 đến giữa 1991 các nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (P5) tiến hành các cuộc gặp cấp cao ở Niu-oóc và Pa-ri để áp đặt giải pháp cho vấn đề Cam-pu-chia, trong đó P5 đã xem xét đề xuất của Ngoại trưởng Ô-xtrây-li-a Ga-rét E-van về việc tăng cường vai trò của Liên hợp quốc trong tiến trình giài quyết xung đột ở Cam-pu-chia, cụ thể:


Trong 2 ngày 15-16 tháng 12 năm 1989, P5 họp cấp Thứ trưởng Ngoại giao lần đầu tiên tại Pa-ri, ra thông báo về 16 nguyên tắc chỉ đạo tìm kiếm một giải pháp chính trị toàn bộ cho vấn đề Cam-pu-chia, trong đó nhấn mạnh bảo đảm quyền tự quyết của Cam-pu-chia thông qua một cuộc tổng tuyển cử tự do, công bằng và dân chủ; tăng cường vai trò của Liên hợp quốc...


Tiếp đó, P5 họp Vòng 2 cấp Thứ trưởng tại Niu-oóc từ 11 đến 12 tháng 2 năm 1990 để bàn về 2 nội dung then chốt trong giải pháp chính trị là vấn đề quân sự và cơ chế chính quyền quá độ, nhưng không đạt được thỏa thuận cụ thể.

Từ 12 đến 13 tháng 3 năm 1990, P5 lại họp Vòng 3 cấp Thứ trưởng ở Pa-ri để thỏa thuận các nguyên tắc chính về 3 vấn đề khác là tổ chức tổng tuyển cử, lập Hội đồng Dân tộc tối cao (SNC) và quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia...

Từ 25 đến 27 tháng 5 năm 1990, P5 họp Vòng 4 cấp Thứ trưởng tại Niu Oóc. Tại cuộc họp này, Trung Quốc đưa ra hai phương án: Hoặc là lập SNC gồm 4 bên làm nhiệm vụ chính quyền lâm thời trong thời kỳ quá độ ở Cam-pu-chia hoặc là giao cả cho Liên hợp quốc làm chức năng quản lý hành chính trong thời kỳ quá độ, còn SNC chỉ có vai trò tượng trưng. Vòng 4 không đạt được thỏa thuận do lợi ích của các bên còn khác biệt lớn về vai trò của Liên hợp quốc và các bên Cam-pu-chia chưa đạt được thỏa thuận về mặt nội bộ nên chưa quyết định giao cho ai.


Ngày 17 tháng 7 năm 1990, P5 họp Vòng 5 cấp Thứ trưởng, đạt thỏa thuận về 2 nội dung quan trọng là tập kết và giải giáp các lực lượng vũ trang ở Cam-pu-chia; Liên hợp quốc tổ chức tổng tuyển cử và Liên hợp quốc sẽ kiểm soát 5 Bộ quan trọng nhất của chính phủ1 (Theo những quyết nghị đã đưa ra, Liên hợp quốc sẽ trực tiếp quản lý 5 lĩnh vực của chính quyền mới gồm Ngoại giao, Phòng thủ, An ninh, Thông tin và Tài chính để tạo môi trường chính trị trung lập cho việc bầu cử công bằng, tự do cũng như việc giám sát, hướng dẫn các nhiệm vụ khác của hai chính quyền Cam-pu-chia) và SNC chỉ có ý nghĩa tượng trưng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 06:57:05 pm »

Ngày 24 đến 27 tháng 8 năm 1990, P5 họp Vòng 6 cấp Thứ trưởng tại Niu Oóc, nhất trí hoàn toàn văn kiện khung về giải pháp chính trị tổng thể cho Cam-pu-chia gồm 5 điểm then chốt: (i) sắp xếp về chính quyền quá độ ở Cam-pu-chia; (ii) sắp xếp lực lượng vũ trang các phái Khơ-me; (iii) Tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc; (iv) vấn đề nhân quyền (Mỹ - Trung thỏa hiệp, 15 đi vấn đề diệt chủng, chỉ nhắc chung chung dưới cái mũ nhân quyền) và (v) Bảo đảm quốc tế. Hội nghị ra Thông cáo cho biết 5 vấn đề này cùng với Thỏa thuận của Hội nghị quốc tế Pa-ri về hồi hương và tái thiết Cam-pu-chia sẽ tạo khung cho giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Cam-pu-chia.


Tháng 9 năm 1990, các bên tuyên bố thành lập SNC, thể hiện rõ thắng lợi ban đầu của Liên hợp quốc trong việc thuyết phục các đảng phái chuẩn bị cho quá trình chuyển giao, chuẩn bị bầu cử và bảo vệ nhân quyền1 (United Nations Chronicle, vol. 27, "Big Five Reach Final Agreement on Framework for Settlement", no. 4,1990, p. 25).


Ngày 21 đến 23 tháng 12 năm 1990, hai đồng Chủ tịch Hội nghị quốc tế Pa-ri về Cam-pu-chia và đại diện Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã họp với SNC tại Pa-ri để thông qua Tuyên bố cuối cùng chấp nhận dự thảo khung Hiệp định do P5 và hai đồng Chủ tịch soạn thảo. Như vậy, chỉ sau khi P5 chốt xong thỏa thuận khung, họ mới gặp SNC để ép SNC chấp nhận giải pháp của P5.


Ngày 26 đến 28 tháng 8 năm 1991, SNC họp tại Pát-tay-a, Thái Lan, chấp nhận toàn bộ văn kiện khung và dự thảo Hiệp định của P5. Cuối tháng 8 năm 1990 đến tháng 8 năm 1991 là khoảng thời gian đấu tranh căng thẳng nhất xoay quanh việc SNC có chấp nhận giải pháp chính trị toàn bộ mà P5 đưa ra hay không.


Ngày 30 tháng 8 năm 1991, P5 họp với SNC đạt thỏa thuận về triệu tập Hội nghị Pa-ri về Cam-pu-chia trước cuối tháng 10 năm 1991.

Ngày 20 tháng 9 năm 1991, P5 họp lại với SNC ở Niu-oóc và đến ngày 24 tháng 9 năm 1991, Hun-xen chấp nhận toàn bộ dự thảo Hiệp định do P5 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 1990 và quyết định rút tất cả các bổ sung và bảo lưu.

Ngày 23 tháng 10 năm 1991, sau một quá trình dài đàm phán riêng rẽ giữa các bên, dưới sự chủ trì của Liên hợp quốc, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết mở ra thời kỳ quá độ ở Cam-pu-chia và hướng tới một cuộc tổng tuyển cử do Liên hợp quốc tổ chức để lập ra một chính phủ Cam-pu-chia mới.


Giai đoạn 1992 - 1993, sau khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết, được sự ủy quyền của các nước lớn, Liên hợp quốc đã lập ra Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia (UNTAC) và bắt đầu triển khai hoạt động tại Cam-pu-chia vào ngày 15 tháng 3 năm 1992, với 8 sứ mạng chính1 (Bao gồm: (i) Giám sát việc ngừng bắn, (ii) Kiểm chứng về việc rút quân đội nước ngoài, (iii) Tập trung quân đội 4 phái để giải ngũ, (iv) Tạo ra môi trường chính trị trung lập, (v) Thực hiện tái thiết Cam-pu-chia, (vi) Tổ chức việc hồi cư và nhập cư, (vii) Tổ chức tổng tuyển cử trong vòng 2 năm và (viii) Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia), trong đó trọng tâm là phải tổ chức thành công một cuộc tổng tuyển cử có tính đại diện cho toàn thể dân tộc Khơ-me để xây dựng lại hệ thống chính trị, thành lập chính quyền mới, phục hồi chủ quyền và nhà nước Cam-pu-chia. Các nước lớn (P5) đều thông qua nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để can thiệp vào công việc nội bộ của Cam-pu-chia dưới danh nghĩa Liên hợp quốc. Họ có vai trò quan trọng trong hầu hết các vấn đề trọng yếu để hình thành nên nhà nước và hệ thống chính trị ở Cam-pu-chia về sau như viết lại Hiến pháp, kiểm soát các lực lượng vũ trang của các bên Khơ-me đối lập (nhưng thực chất chủ yếu nhằm vào CPP), vãn hồi trật tự, hồi hương người tị nạn, tái thiết đất nước... Sau cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Cam-pu-chia từ ngày 23 đến 28 tháng 5 năm 1993, UNTAC chấm dứt hoạt động tại Cam-pu-chia. Sau khi UNTAC rút khỏi Cam-pu-chia, ảnh hưởng của Liên hợp quốc đã giảm hẳn, chỉ còn duy trì Cơ quan đại diện thường trú giống như tại các nước thành viên độc lập, có chủ quyền khác trên thế giới.


Hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ chuyển tiếp tại Cam-pu-chia tuy chỉ diễn ra trong thời gian không dài, nhưng là một trong những hoạt động thành công nhất của Liên hợp quốc trong sứ mệnh "giải quyết hòa bình". Lần đầu tiên trong lịch sử, cộng đồng quốc tế giao cho Liên hợp quốc sắp xếp cả nền chính trị, quân sự, kinh tế của một quốc gia thành viên như là một phần việc xây dựng hòa bình. Đó chính là bước phát triển mới trong nhiệm vụ của lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc sau Chiến tranh Lạnh. Quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, Liên hợp quốc đã giải quyết khá ổn thỏa mặt nội bộ của vấn đề Cam-pu-chia, đem lại hòa bình cho nhân dân Cam-pu-chia, giúp đỡ người tị nạn trở về quê hương, giải quyết nơi ăn, chốn ở và đất canh tác cho hàng trăm nghìn người tị nạn. Liên hợp quốc còn bố trí cho gần 150 nghìn binh sĩ các phe phái Cam-pu-chia giải ngũ, trở về cuộc sống đời thường theo tinh thần Hiệp định Pa-ri. Đặc biệt, Liên hợp quốc đã tổ chức khá suôn sẻ cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Cam-pu-chia để sau đó Quốc hội thành lập nên Chính phủ mới của Cam-pu-chia.


Bên cạnh đạt được những thành công nêu trên, thì quá trình triển khai Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia, Liên hợp quốc có những vấn đề không thành công, như: Không thực hiện được việc ngừng bắn hoàn toàn và không thể giải giáp lực lượng Khơ-me Đỏ theo quy định của Hiệp định Pa-ri. Liên hợp quốc không làm chuyển biến thái độ ngoan cố bất hợp tác của Khơ-me Đỏ. Thái độ tẩy chay bầu cử, đe dọa khủng bố, tìm mọi cách phá hoại Hiệp định Pa-ri, một lần nữa phơi bày bàn chất ngoan cố, đi ngược lại với mong muốn hòa bình của người dân Cam-pu-chia và cộng đồng quốc tế của Khơ-me Đỏ. Nhìn ở góc độ khác, việc Khơ-me Đỏ chống lại nhân dân Cam-pu-chia, chống lại Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia, vô hình trung lại minh chứng cho sai lầm của Liên hợp quốc khi tổ chức quốc tế này duy trì sự công nhận Cam-pu-chia Dân chủ là đại diện hợp pháp của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc sau khi bị lật đổ. Đây là một trong những rào cản lớn làm phức tạp thêm tình hình Cam-pu-chia, mà bản chất của vấn đề là Liên hợp quốc đã bị một số nước lớn đạo diễn, thao túng, làm rào cản, biến tổ chức này thành "công cụ" phục vụ cho lợi ích của họ, điều đó có nghĩa là sự cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia sau nạn diệt chủng chỉ là hình thức. Bên cạnh đó, cuộc bầu cử tại Cam-pu-chia vào tháng 5 năm 1993 do Liên hợp quốc bảo trợ đã không được tổ chức chặt chẽ thiếu công bằng, dẫn đến kết quả bầu cử phản ánh không khách quan, do đó tiến trình dân chủ hóa, phát triển của Cam-pu-chia vẫn tiếp tục kéo dài và cần đến sự tham gia, đóng góp của các nước trong khu vực và quốc tế.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 06:59:51 pm »

1.2.5. Vấn đề Cam-pu-chia nhìn từ góc độ khu vực và quốc tế

Về phương diện quốc tế, sau khi chế độ Cam-pu-chia dân chủ sụp đổ, các nước lớn và ASEAN nêu ra cái gọi là "vấn đề Cam-pu-chia", "sự hiện diện của quân đội Việt Nam tại Cam-pu-chia" và "trách nhiệm lớn lao của cộng đồng quốc tế là phải bảo vệ quyền tự quyết", đồng thời cũng đưa ra các biện pháp nhằm "bảo vệ chủ trương không can thiệp bằng vũ lực vào công việc nội bộ của các nước khác", "phải tuyệt đối tuân thủ Nghị quyết của Liên hợp quốc "Việt Nam phải đơn phương rút toàn bộ quân đội ra khỏi Cam-pu-chia vô điều kiện", "cộng đồng quốc tế cần tăng cường sự ủng hộ và hỗ trợ các lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia" (Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ), "tổ chức hội nghị quốc tế nhằm thảo luận về vấn đề Cam-pu-chia theo sáng kiến của các nước ASEAN", v.v..., trong đó nguy hiểm nhất là các biện pháp "bao vây chính trị và kinh tế" của Mỹ, các nước phương Tây và một số nước trong đó có Nhật Bản đối với Cam-pu-chia và Việt Nam. Những biện pháp này là sự trừng phạt bất công đối với Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, đối với người dân Cam-pu-chia - những nạn nhân của chế độ Cam-pu-chia dân chủ. Ngược lại, nó ủng hộ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa-ri - Khiêu Xăm-phon1 (Khiêu Xăm-phon, sinh năm 1931, là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cam-pu-chia dân chủ từ năm 1976 đến 1979 và là nhân vật quyền lực thứ tư của Khơ-me Đỏ (sau Pôn Pốt, Nuôn Chia và Iêng Xa-ri)), lực lượng nòng cốt trong Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ tại Cam-pu-chia cũng như tại Liên hợp quốc.


Trái ngược với những quan điểm nêu trên, tháng 9 năm 1979, Chính phủ Anh và Ô-xtrây-li-a2 (Cùng là thành viên của Liên hợp quốc) đã ra tuyên bố không công nhận chế độ Cam-pu-chia dân chủ. Đặc biệt, ngày 7 tháng 7 năm 1980, Chính phủ Ấn Độ còn ra tuyên bố công nhận Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia. Tiếp đó, phong trào Các quốc gia không liên kết, phong trào Hòa bình thế giới, các tổ chức dân chủ tiến bộ quốc tế bày tỏ sự ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Cam-pu-chia. Một số quốc gia khác còn công nhận Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, các tổ chức quốc tế có cả của Liên hợp quốc cũng bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao và đặt văn phòng đại diện tại Thủ đô Phnôm Pênh.


Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 của các quốc gia không liên kết diễn ra từ ngày 3 đến 9 tháng 9 năm 1979 tại Thủ đô La Ha-ba-na (nước Cộng hòa Cuba), nhận lời mời của Chủ tịch nước Cuba Phi-đen Ca-xtơ-rô đồng thời là Chủ tịch Hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia Hun-xen đã tham dự hội nghị và có những đề xuất quan trọng. Nhằm góp phần bảo vệ tình đoàn kết, thống nhất nội bộ của Phong trào các quốc gia không liên kết, Hun-xen đề nghị để trống ghế của Cam-pu-chia tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đồng thời yêu cầu công nhận quyền đại diện của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia tại tổ chức này. Giải pháp của Hun-xen đưa ra được Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 Phong trào các quốc gia không liên kết đánh giá cao và nhất trí thông qua với đa số phiếu ủng hộ. Trong bài diễn văn bế mạc hội nghị, Chủ tịch Cuba Phi-đen Ca-xtơ-rô tuyên bố: "Kẻ thủ của Phong trào các quốc gia không liên kết của chúng ta đã dự đoán rằng, phong trào của chúng ta sẽ có những rạn nứt, sẽ phải đi đến một lối rẽ. Tuy nhiên từ trước đến nay, chủng ta đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức và giờ đây chúng ta có thể nhận định rằng, phong trào của chúng ta có sự thống nhất cao, độc lập vững chắc và phục vụ lợi ích của chủng ta hiệu quả hơn bao giờ hết".


Đối với Hội nghị Quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia trong khuôn khổ Liên hợp quốc, ngày 19 tháng 5 năm 1981, Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam cùng gửi công hàm ngoại giao đến ông Gia-vi-ê Pê-rét đờ Cu-e-la, Tổng Thư ký Liên hợp quốc và đề nghị xem xét vấn đề Hội nghị Quốc tế về Cam-pu-chia. Phản ứng của ba nước Đông Dương là dễ hiểu, bởi trong khi dư luận thế giới thể hiện quan điểm tích cực khi chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị lật đổ và sự hồi sinh thần kỳ của nhân dân Cam-pu-chia thì phán quyết của Liên hợp quốc vẫn công nhận chế độ diệt chủng Cam-pu-chia dân chủ.


Ngày 13 và 14 tháng 6 năm 1981, Hội nghị lần thứ tư Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương đã diễn ra tại Phnôm Pênh. Một lần nữa cả ba nước đề nghị triệu tập một hội nghị trong khuôn khổ khu vực giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương nhằm thảo luận về các vấn đề trong khu vực có liên quan đến hai bên, với sự tham dự trong vai trò là quan sát viên và nhân danh Tổng Thư ký Liên hợp quốc cùng một số quốc gia có liên quan và được sự đồng ý của hai bên. Các nước Đông Dương đề nghị tổ chức hội nghị này vào khoảng trung tuần tháng 7 năm 1981 tại thành phố Ra-gun hoặc tại thủ đô một quốc gia châu Á nào đó mà hai bên cùng thống nhất.


Tuy nhiên, trái với mong muốn của các nước Đông Dương, hội nghị quốc tế do Liên hợp quốc triệu tập vào tháng 7 năm 1981 càng khiến cho tình hình khu vực trở nên căng thẳng và phức tạp hơn. Hội nghị không đạt được những thỏa thuận như dự kiến, các nước Đông Dương tiếp tục tìm kiếm cơ hội để cùng tìm ra phương hướng cho vấn đề khu vực. Hội nghị thứ sáu Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Đông Dương tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 6 đến 7 tháng 7 năm 1982. Các bộ trưởng đưa ra một số đề nghị quốc tế, đặc biệt là Thái Lan thấy được chính sách thiện chí và phong trào đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Cam-pu-chia. Hội nghị đánh giá tình hình khu vực Đông Nam Á đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai đường lối trái ngược nhau. Một là đường lối hàn gắn hòa bình và lại là đường lối gây căng thẳng bởi chính sách thù địch của lực lượng phản động quốc tế và các thế lực đế quốc. Cả ba nước Đông Dương đã nhận định, chiến lược của một số nước lớn lần này khác với chiến lược mà Mỹ từng áp dụng trước đây trong cuộc chiến tranh xâm lược Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam từ năm 1970 đến 1975. Dư luận thế giới và nhân dân các nước Đông Dương đã nhìn thấy rõ âm mưu xâm lược của Mỹ và toan tính củ các nước ASEAN. Tuy nhiên, chiến lược của một số nước lớn khác là chống lại ba nước Đông Dương bằng cách thúc đẩy các nước ASEAN đóng vai trò thay thế.


Ngoài việc phá hoại bằng lực lượng quân sự cũng như bao vây kinh tế, các thế lực thù địch còn sử dụng các biện pháp gây áp lực tới Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia cả về chính trị và ngoại giao. Đối mặt với những thủ đoạn và hoạt động thù địch này, ông Hun-xen tuyên bố mạnh mẽ: "Đế quốc và các thế lực thù địch cũng như các quốc gia ASEAN đi theo đế quốc không có khả năng chặn cửa ngăn chúng ta đi ra khỏi nhà của mình. Trái lại, chúng ta đã đi ra ngoài bằng một lối đi khác và lối đi đó bảo đảm cho hòa bình và phát triển của chúng ta". Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, ông Hun-xen đã kêu gọi "tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân, trong quân đội, tăng cường tình đoàn kết quốc tế; Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu; Tích cực tăng gia sản xuất, làm sao để thu được kết quả tốt; Tiếp tục củng cố thực lực cách mạng trên mọi lĩnh vực".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:02:40 pm »

Đường lối hàn gắn hòa bình và hợp tác mà ba nước Đông Dương đề xuất nhận được sự ủng hộ từ dư luận quốc tế. Chính sách đối đầu và gây căng thẳng của lực lượng phản động quốc tế cấu kết với Mỹ và các nước ASEAN đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân yêu chuộng hòa bình và mong muốn ổn định ở Đông Dương. Cùng với đó, cũng có một số lãnh đạo ASEAN đã liên tục khẳng định mối đe dọa này xuất phát từ lực lượng bên ngoài, chứ không phải xuất phát từ tình hình Cam-pu-chia. Thậm chí, nội bộ Thái Lan cũng có những bất đồng xung quanh vấn đề tiếp tục ủng hộ nước lớn hay hòa giải với Đông Dương. Nếu các nước lớn vẫn tiếp tục coi các nước Đông Dương và ASEAN là quân bài chính trị của họ, hoặc tìm cách chống lại các nước Đông Dương đến cùng thì tình hình phức tạp sẽ còn tiếp tục kéo dài chưa có hồi kết. Để chấm dứt sự phức tạp này, Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia cùng Lào và Việt Nam đề nghị ký kết với các nước lớn một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, nhưng những động thái thiện chí và tích cực này không nhận được phản hồi tích cực.


Đối với vấn đề biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, Thái Lan coi sự hiện diện của quân đội Việt Nam gần biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan là mối đe dọa đến an ninh. Trong khi đó, Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam coi chủ nghĩa phản động quốc tế và Pôn Pôt cùng các phe phái Khơ-me phản động khác đang sử dụng lãnh thổ của Thái Lan để chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia là mối đe dọa thường trực đến an ninh của Cam-pu-chia và các nước Đông Dương.


Trước đó, từ tháng 7-1980, Hun-xen đề xuất thành lập khu vực phi quân sự dọc theo tuyến biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan, tuy nhiên Thái Lan không chấp nhận đề nghị này với lý do Thái Lan không thể rút quân đội ra khỏi lãnh thổ của mình. Song song với đó, Hun-xen luôn sẵn sàng để đàm phán và thỏa thuận với Thái Lan về mọi biện pháp nếu cần thiết có cả sự giám sát của quốc tế nhằm tôn trọng tuyến biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan và bảo đảm cho hòa bình ổn định tại khu vực biên giới hai nước.


Hun-xen cũng từng tuyên bố, việc thỏa thuận về vấn đề này không liên quan đến việc công nhận lẫn nhau và thành luật định, Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia sẽ không làm cho vấn đề công nhận lẫn nhau này trở thành rào cản tiến tới cuộc đàm phán và thỏa thuận về khu vực an ninh. Sự thật là, trong suốt hơn 30 năm qua Mỹ và Thái Lan đã cùng với Việt Nam, Trung Quốc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1961-1962 về vấn đề Lào cũng như Mỹ và Việt Nam đã ký kết Hiệp định Pa-ri về vấn đề Việt Nam năm 1973 và đã không nói gì đến vấn đề công nhận lẫn nhau.


Với thiện chỉ mong muốn tìm ra một lối đi trong tình hình có chiều hướng không thuận lợi cho quan hệ ở Đông Dương với khu vực và các nước lớn, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam lần thứ sáu đề nghị tổ chức một hội nghị quốc tế về Đông Nam Á với sự tham dự của 9 quốc gia trong khu vực và 6 quốc gia khác ngoài khu vực1 (9 quốc gia trong khu vực là 3 quốc gia Đông Dương, 5 quốc gia ASEAN và Mi-an-ma; 6 quốc gia ngoài khu vực là Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Anh và Ấn Độ) mà đã từng tham dự Hội nghị Quốc tế về Đông Dương năm 1954, 1961, 1962 và 1973. Hội nghị đó có thể sẽ triệu tập vào thời điểm các nước ASEAN và các nước Đông Dương thống nhất được thành phần tham dự hội nghị, chương trình nghị sự, địa điểm và thời gian.
   

Tại các diễn đàn quốc tế, Bộ trưởng Ngoại giao Cam-pu-chia Hun-xen luôn nhấn mạnh, nếu các nước ASEAN muốn có hòa bình và ổn định lâu dài thật sự trong khu vực thì họ không được phản đối một hội nghị khu vực giữa hai nhóm quốc gia Đông Dương và ASEAN, bởi một hội nghị muốn đạt được kết quả tốt phải có sự thỏa thuận và tham gia từ các bên có liên quan trực tiếp. Do đó, Hun-xen cũng mong muốn tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia trong khuôn khổ khu vực gắn liền với vấn đề bảo đảm cho hòa bình, ổn định của khu vực Đông Nam Á.


Từ ngày 7 đến 12 tháng 3 năm 1983, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 7 của Phong trào không liên kết đã nhóm họp tại Niu Đê-li, Cộng hòa Ấn Độ. Lần này, Ấn Độ với vai trò là nước chủ nhà vẫn giữ nguyên quyết định tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ sáu về việc để trống ghế của Cam-pu-chia. Đồng thời, bác bỏ đề nghị, Hoàng thân Xi-ha-núc, Chủ tịch Chính phủ liên hiệp ba phái phải được mời tham dự hội nghị. Trước đó, khi gần đến thời điểm diễn ra hội nghị, ba nước ASEAN là Xinh-ga-po, Mai-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a đưa ra yêu sách và gia tăng sức ép để Hoàng thân Xi-ha-núc được tham dự hội nghị. Trung Quốc và Thái Lan không phải là nước thành viên của Phong trào này nhưng cũng có nhiều động thái manh mẽ ủng hộ đề xuất của ba nước ASEAN. Điều đáng nói là, từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba năm 1970, cả ba quốc gia trên đã chống lại sự hiện diện của Hoàng thân Xi-ha-núc với lý do "sau ngày đảo chính của Lon Non (18.3.1970), Hoàng thân Xi-ha-núc đã không trị vì đất nước". Nhưng lần này, tại phiên họp cấp Bộ trưởng Ngoại giao của Hội nghị thượng đỉnh lần thứ bảy trong số 61 đại biểu đề cập đến vấn đề ghế của Cam-pu-chia thì chỉ có 25 đại biểu ủng hộ Chính phủ liên hiệp của Hoàng thân Xi-ha-núc, còn 30 đại biểu khác ủng hộ việc trao cho Chính phủ của Hun-xen hoặc để trống ghế này. Cuối cùng, các thành viên của ASEAN cũng không thể tiếp tuc kiến nghị về vấn đề này nữa. Các quan sát viên tại Niu Đê-li nhận định "đây là một thất bại trong ngoại giao của Cam-pu-chia dân chủ".


Trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Cam-pu-chia, Hun-xen tuyên bố: "Kết quả cuộc thảo luận giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của Phong trào không liên kết về vấn đề quyền đại diện của Cam-pu-chia và quyết định của hội nghị trong việc để trống ghế Cam-pu-chia tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ bảy là một thắng lợi to lớn của đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia và là thất bại đáng xấu hổ của chính sách xâm lược, hiếu chiến, phá hoại, can thiệp, chia rẽ của đế quốc Mỹ, của các thế lực thù địch và các lực lượng phản động quốc tế khác".


Cùng chung quan điểm của Hun-xen, đa số các đại biểu trong hội nghị cũng khẳng định quyền đại diện của Cam-pu-chia phải được trao cho Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia, là đại diện hợp pháp và duy nhất của nhân dân Cam-pu-chia. Tuy nhiên, do tôn trọng theo tinh thần của Hun-xen đề xuất, với mong muốn bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ phong trào, những người tham dự đã đồng ý tạm thời để trống ghế của Cam-pu-chia trong phong trào này một lần nữa.


Sau Hội nghị thượng đỉnh của Phong trào không liên kết, tháng 11 năm 1984, Pháp muốn tổ chức một cuộc gặp bí mật giữa Hun-xen và Hoàng thân Xi-ha-núc nhằm góp phần vào việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Cam-pu-chia. Tuy nhiên, cuối cùng cuộc gặp này đã không thể diễn ra, vì đã có sự gây áp lực lớn từ phía nước ngoài và Khơ-me Đỏ lên Hoàng thân. Mặc dù vậy, Pháp vẫn tiếp tục đưa ra chủ trương đề nghị rút Quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia, tổ chức bầu cử tự do, Cam-pu-chia theo đuổi con đường trung lập với sự bảo đảm của quốc tế. Tuy nhiên, Pháp không khẳng định rõ về việc ngăn cản lực lượng Pôn Pốt tham gia cuộc bầu cử đó, mà chỉ nói chung chung rằng, "việc cho phép Pôn Pốt được tham gia bầu cử tự do hay không cũng không có sự khác biệt là mấy, ai cũng có thể hiểu được vấn đề này". Tuy nhiên, về thời gian, nội dung và từng bước đi cụ thể của giải pháp chính trị đều phụ thuộc vào quyết định của Hun-xen. Pháp phải chờ đến ngày 8 tháng 3 năm 1985 mới nhận được phản hồi từ Hun-xen về việc thông qua cuộc gặp giữa Hun-xen và Bin Hây-đơn, Bộ trưởng Ngoại giao Ô-xtrây-li-a tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ đó, cả các quốc gia có liên quan đến xung đột và các quốc gia muốn góp phần giải quyết các vấn đề Cam-pu-chia càng hiểu rõ rằng "Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia là một lực lượng thật sự và vai trò của Hun-xen là không thể thiếu trong việc giải quyết chấm dứt cuộc nội chiến tại Cam-pu-chia".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:03:49 pm »

Trong hoàn cảnh lúc đó, thử thách lớn nhất mà các phe Khơ-me đối địch cũng như các nước có liên quan đến xung đột tại Cam-pu-chia không dễ dàng có thể vượt qua được, đó là việc xác định "nguồn cơn hay gốc rễ của vấn đề Cam-pu-chia". Thay mặt cho nhân dân Cam-pu-chia - những nạn nhân của chiến tranh xâm lược do đế quốc phát động, khi nói về vấn đề của Cam-pu-chia, Hun-xen nhấn mạnh: "Vấn đề Cam-pu-chia" khởi đầu từ cuộc đảo chính quân sự của tướng Lon Non được sự hậu thuẫn của Mỹ đã tiến hành lật đổ Chính phủ hợp hiến của Hoàng thân Xi-ha-núc, xóa bỏ nền hòa bình và trung lập của Cam-pu-chia (18.3.1970), mở đường cho Mỹ tiến tới xâm lược Cam-pu-chia (4.1970) và leo thang chiến tranh trên phạm vi toàn Đông Dương, điều này đã biến Đông Dương trở thành mặt trận duy nhất chống lại kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. Nguyên nhân thứ hai bắt nguồn từ chế độ Cam-pu-chia dân chủ diệt chủng của Pôn Pốt - Iêng Xari - Khiêu Xăm-phon đã khiến nhân dân Cam-pu-chia vùng lên giải cứu dân tộc, giải cứu mình với sự giúp đỡ kịp thời, to lớn và hiệu quả của Quân tình nguyện Việt Nam. Nguyên nhân thứ ba bắt nguồn từ các hoạt động của tàn binh Pôn Pốt và các phe Khơ-me phản động được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài đã ra sức chống phá sự nghiệp hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia, đe dọa trực tiếp đến nền độc lập và chủ quyền của Cam-pu-chia, buộc Quân tình nguyện Việt Nam phải tiếp tục hiện diện tại Cam-pu-chia theo đề nghị của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia".


Trong nguyên nhân thứ ba, Hun-xen đã nêu hai vấn đề then chốt có quan hệ chặt chẽ với nhau mà cộng đồng quốc tế cần quan tâm nếu muốn góp phần tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, đó là: Việc rút Quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia và việc ngăn chặn sự quay trở lại cầm quyền của chế độ diệt chủng, Hun-xen cũng đề cập đến hai khả năng thiết thực đối với giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia đó là: i) Quân đội Việt Nam sẽ rút toàn bộ ra khỏi Cam-pu-chia, đồng thời với việc chấm dứt mọi mối đe dọa từ ngoại bang, xóa bỏ lực lượng cầm đầu Pôn Pốt cả về chính trị và quân sự. Hoàng thân Xi-ha-núc có thể nắm giữ vai trò quan trọng nếu ông đồng ý từ bỏ theo Pôn Pốt; ii) vấn đề Cam-pu-chia sẽ được giải quyết dựa vào sự vững mạnh của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia và sự tan rã của lực lượng Pôn Pốt, quân đội Việt Nam sẽ rút toàn bộ khỏi Cam-pu-chia.


Là tư lệnh mặt trận ngoại giao của một quốc gia có chủ quyền, Hun-xen xác định nội dung đàm phán với các phe Khơ-me cũng như với nước khác có liên quan đến xung đột tại Cam-pu-chia để có thể đưa ra hai khả năng thực tế như đã đề cập ở trên, có một điều mà chúng ta quan tâm, đó là Hun-xen không ngồi vào bàn đàm phán với đôi bàn tay không.


Trong cuộc thảo luận với Bin Hây-đơn Bộ trưởng Ngoại giao Ô-xtrây-li-a tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 8 tháng 3 năm 1985, Hun-xen tiếp tục khẳng định lập trường của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia về một giải pháp chính trị chung cho vấn đề của quốc gia này như đã trình bày ở trên. Tuy nhiên, có hai điểm mới quan trọng đó là: Thứ nhất, cần tạo được sự thống nhất dân tộc thông qua một tổ chức của nhân dân Cam-pu-chia để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của quốc tế; Thứ hai, phải tạo ra cơ chế bảo đảm và giám sát quốc tế trong việc thực hiện các điều khoản đã đạt được. Có nghĩa là, một hội nghị quốc tế sẽ được tổ chức sau khi các bên Khơ-me đạt được thỏa thuận chung nhằm bảo đảm cho mọi điều khoản đã thống nhất với nhau, bảo đảm nền độc lập của Cam-pu-chia và hòa bình, ổn định trong khu vực Đông Nam Á (Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 chỉ có sự bảo đảm cho Cam-pu-chia, tuy nhiên cuối cùng nước láng giềng đã can dự xâm lược Cam-pu-chia bằng mọi cách). Hơn nữa, đối với Hun-xen, mọi giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia đều phải được tính toán trên tình hình thực tế tại Cam-pu-chia tính toán đến vai trò của Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia đang kiểm soát hơn 90% lãnh thổ đất nước và cũng phải tính đến quyền tự quyết, lợi ích sống còn của nhân dân.


Trong khi dư luận trên khắp thế giới đang sôi sục đòi đưa Pôn Pốt ra xét xử tại tòa án quốc tế thì "một hội nghị quốc tế về Cam-pu-chia" được tổ chức bởi một số tổ chức phi chính phủ và có sự tham gia của đại diện Chính phủ liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ diễn ra tại Băng Cốc trong hai ngày 25 và 26 tháng 7 năm 1987. Khiêu Xăm-phon, đại diện cho Pôn Pốt nhắc lại những lời lẽ vu khống của phản động quốc tế như: "Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia", Việt Nam có kế hoạch thành lập "Liên bang Đông Dương". Trong hội nghị, đại diện của Mặt trận giải phóng nhân dân Khơ-me cũng ra sức "té nước theo mưa" khi hô hào cái gọi là "Việt Nam hóa Cam-pu-chia", đòi phải thực hiện "yêu sách 8 điểm" do Trung Quốc đề xuất và chống lại một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia nhằm ngăn chặn sự quay trở lại của chế độ diệt chủng.


Cùng thời điểm mà Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia đưa ra những chính sách hòa hợp dân tộc, các cơ quan thông tấn của phương Tây và Thái Lan đã trích dẫn phát biểu của Hoàng thân Xi-ha-núc: "Ro-ma-ni-a đã gửi đến Hoàng thân Xi-ha-núc một đề nghị của Việt Nam về việc muốn có cuộc đàm phán giữa Chính phủ Hun-xen và ba phe Khơ-me khác để thành lập Chính phủ liên hiệp bốn bên và ngay sau đó Chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu cuộc đàm phán trực tiếp về việc ngừng bắn và rút quân ra khỏi Cam-pu-chia". Tuy nhiên, thông tin này hoàn toàn là bịa đặt và có mục đích xấu. Lập trường kiên định của Hun-xen là mong muốn hòa hợp dân tộc tại Cam-pu-chia, là vấn đề của người dân Cam-pu-chia và trên cơ sở loại bỏ bọn diệt chủng Pôn Pốt.


Mặt khác, với sự hậu thuẫn từ các thế lực phản động quốc tế, lực lượng liên hiệp ba phái Cam-pu-chia dân chủ vẫn tiếp tục tìm mọi cách xâm nhập vào Cam-pu-chia từ các căn cứ trên lãnh thổ Thái Lan để tiến hành hoạt động phá hoại, ngăn cản sự hồi sinh của Cam-pu-chia, lôi kéo và ép người dân vào những trại tị nạn nằm dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan để bắt đi lính và lợi dụng để trục lợi viện trợ nhân đạo quốc tế. Át-đi Phê-đờ-rét, nhân viên của Tổ chức OXFAM nói "Tôi nhìn thấy có sự tuyệt vọng trong cả tám trại tị nạn, người tị nạn không được trở về Cam-pu-chia và cũng không thể đi đến nước thứ ba". Một người tị nạn Khơ-me cho biết thêm: "Tôi thấy mình như đang bị giam trong một chiếc lồng". Tổ chức OXFAM còn miêu tả về tình cảnh khổ cực của người dân sống trong trại tị nạn của Khơ-me Đỏ, mà sự thật nơi này được gọi là nơi giải trí của binh lính Pôn Pốt. Tổ chức OXFAM sau khi biết sự thật đã "đề nghị Liên hợp quốc dừng cấp viện trợ đến các trại tị nạn Khơ-me Đỏ cho đến khi xét thấy có sự giám sát đúng đắn đối với các viện trợ này từ bên ngoài".


Ngày 30 tháng 11 năm 1984, trong cuộc gặp với Re-gít Đờ-brây, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Pháp Ph. Mít-tơ-răng tại Pa-ri, Hun-xen đã khẳng định: "Vấn đề Cam-pu-chia có liên quan đến cuộc đấu tranh giữa hai nhóm nước là Đông Dương và ASEAN", do đó Hun-xen kêu gọi thực hiện giải pháp: "Việc rút quân đội nước ngoài phải diễn ra đồng thời với việc chấm dứt các mối đe dọa, xâm phạm và can thiệp của ngoại bang vào công việc nội bộ trong khu vực và phải để cho người dân trong khu vực được tự mình giải quyết các vấn đề của mình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi dân tộc". Hơn nữa, sẽ không thể có hòa bình trong khu vực Đông Nam Á nếu họ cố gắng áp đặt ý chí của nhóm nước này lên ý chí của nhóm nước khác. Lập trường của Hun-xen phù hợp với tinh thần Nghị quyết của Phong trào không liên kết. Tuy nhiên, lập trường này có quan điểm rất khác biệt với nội dung Nghị quyết của Liên hợp quốc, khi vẫn chỉ thiên vị một bên (ASEAN) và buộc các nước Đông Dương phải chấp nhận sự quay trở lại của chế độ diệt chủng. Điều đáng nói, đây là quan điểm của Hun-xen về giải pháp hòa bình cho khu vực Đông Nam Á và quan điểm này được đưa ra trước khi có Tuyên bố ngày 28 tháng 7 năm 1986 về kế hoạch hòa bình cho châu Á - Thái Bình Dương tại Vla-đi-vốt-tốc do Mi-kha-in Goóc-ba-chốp, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đề ra.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:08:35 pm »

1.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CAM-PU-CHIA GIAI ĐOẠN 1989-1999

Qua nghiên cứu bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và chính sách của các nước đối với vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn 1989-1999 rút ra một số vấn đề sau:

Một là, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực trước, trong giai đoạn 1989-1999 có tác động lớn đến sự hình thành vấn đề Cam-pu-chia và tiến trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia.

Tình hình quốc tế và khu vực luôn là thành tố quan trọng, có tính quyết định đến môi trường an ninh và phát triển của mỗi quốc gia cũng như việc tìm kiếm giải pháp cho các điểm nóng và các vấn đề quốc tế. Đối với vấn đề Cam-pu-chia, quá trình hình thành và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này, bên cạnh chịu tác động từ tương quan lực lượng của các bên trực tiếp hiện diện trên chiến trường, từ tính toán chiến lược của các nước lớn, thì cũng chịu những tác động lớn từ những biến động của tình hình khu vực cũng như những thay đổi bước ngoặt trong xu thế quốc tế trước và trong giai đoạn 1989 - 1999.


Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa -Mỹ và Liên Xô đã tới đỉnh cao với việc Liên Xô giành được thế cân bằng về vũ khí chiến lược với Mỹ; sau thắng lợi năm 1975 của nhân dân việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có đà phát triển mới, sôi động và rộng khắp. Việc Mỹ thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam buộc Mỹ phải rút khỏi Đông Dương đã làm thay đổi tương quan lực lượng ở khu vực, đồng thời làm phá sản những tính toán chiến lược của các nước lớn, thúc đẩy họ đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam, trong đó có sử dụng Khơ-me Đỏ chống phá và tiến công xâm lược Việt Nam ở biên giới Tây Nam. Sau khi Việt Nam tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực phản động quốc tế đã cấu kết với Mỹ, ASEAN tạo nên "vấn đề Cam-pu-chia" để chống phá cách mạng 3 nước Đông Dương và Việt Nam một cách quyết liệt, toàn diện kéo dài 13 năm.


Giai đoạn 1989-1993, cục diện thế giới, khu vực có những biến đổi to lớn, sâu sắc qua đó tác động đến quá trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia, trong đó nổi bật là: trật tự thế giới chuyển từ "hai phe, hai cực" sang một thời kỳ quá độ tiến tới hình thành thế "nhất siêu, đa cường"; xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển ngày càng nổi trội và trở thành dòng chảy chính của thế giới và khu vực, tạo động lực để các bên tìm kiếm giải pháp chính trị cho các điểm nóng; tương quan lực lượng giữa các nước lớn (Trung - Xô - Mỹ) thay đổi dẫn đến điều chỉnh chiến lược cả về đối nội lẫn đối ngoại; quan hệ giữa các nước lớn diễn biến theo hướng hòa hoãn từng đôi một, thúc đẩy giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế; các nước ASEAN chuyển thái độ từ đối đầu sang đối thoại và đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình hướng tới xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển... Từ những biến đổi của tình hình thế giới, khu vực nêu trên đã tác động và thúc đẩy các bên có liên quan có cách tiếp cận phù hợp để đi đến thống nhất về một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia.


Hai là, quá trình hình thành cũng như giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn ỉ989-1999 tiếp tục khẳng định tính đúng đắn quan điểm "Đông Dương là một chiến trường" của Đảng ta.

Quan điểm "Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 1, tr.369) (Đông Dương là một chiến trường) được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định từ rất sớm và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đoàn kết cách mạng ba nước Đông Dương trong thành công của cách mạng. Bán đảo Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia có vị trí địa chiến lược quan trọng, một bàn đạp then chốt khống chế đối với toàn bộ khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Chính vì lẽ đó, các thế thù địch luôn nhòm ngó và tìm mọi cách chia rẽ, thôn tính Đông Dương. Thực tiễn các cuộc chiến tranh ở Đông Dương cho thấy, từ thực dân Pháp, phát xít Nhật rồi đến đế quốc Mỹ đều thực thi ý đồ thôn tính toàn bộ Đông Dương, từ một nước mà thôn tính 3 nước, sử dụng nước này để làm bàn đạp thôn tính nước kia.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi (4.1975) đã làm phá sản các tính toán chiến lược của các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á, làm thay đổi mạnh mẽ so sánh lực lượng ở khu vực. Nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và Liên Xô khu vực, họ đã đẩy mạnh các hoạt động chống Việt Nam trong đó dùng Khơ-me Đỏ tiến hành chống phá và phát động chiến tranh chống Việt Nam với tính toán "đánh Việt Nam đến người Cam-pu-chia cuối cùng" và "hy sinh 6 triệu người Cam-pu-chia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Sau khi Việt Nam cùng lực lượng vũ trang mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tiến hành cuộc phản công chiến lược, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Cam-pu-chia, các thế lực thù địch chống Việt Nam toàn diện, gay gắt, đòi Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Cam-pu-chia. Đặc biệt, họ đã cấu kết với Mỹ, phương Tây và ASEAN triệt để sử dụng vấn đề Cam-pu-chia để chống Việt Nam, chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Liên Xô. Quá trình hình thành cũng như giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trước và trong giai đoạn 1989-1999 cho thấy "Đông Dương là một chiến trường" là quan điểm hoàn toàn đúng đắn mà Đảng ta xác định.


Ba là, vấn đề Cam-pu-chia được "quốc tế hóa cao" bới sự tính toán của các thế lực bên ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của mình ở khu vực Đông Nam Á, khiến việc giải quyết phức tạp, kéo dài.

Nếu so sánh với nhiều điểm nóng trên thế giới có thể thấy rằng bản chất vấn đề Cam-pu-chia (ngoại trừ vấn đề diệt chủng) không ảnh hưởng trực tiếp tới đại cục an ninh khu vực và thế giới. Tại đây không có sự cọ xát trực tiếp về quân sự, chính trị giữa các nước lớn, nhưng lại bị chính các nước lớn đẩy thành "vấn đề quốc tế" rất gay gắt, nặng nề; đó vừa là vấn đề nội bộ của Cam-pu-chia, vừa là vấn đề quốc tế ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu. Ở cấp độ khu vực, vấn đề Cam-pu-chia là cuộc đấu tranh trong khuôn khổ 3 nước Đông Dương và 5 nước ASEAN. Ở cấp độ toàn cầu, vấn đề Cam-pu-chia trở thành con bài đấu tranh trong khuôn khổ chiến lược của các nước lớn, nhất là Trung - Xô - Mỹ. Điểm thú vị là: tác nhân của những bất ổn tại Cam-pu-chia vốn là hai kẻ thù trên nhiều mặt trận lại "đoàn kết", "thống nhất" trên một chiến tuyến chống Việt Nam. Bên cạnh đó, trong cuộc xung đột, giải quyết vấn đề Cam-pu-chia còn có sự tham gia của nhiều nước khác như Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Úc, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a... Các nước lớn có ý đồ, mục tiêu khác nhau đối với vấn đề Cam-pu-chia, thậm chí có mặt đối lập nhau nhưng cũng sẵn sàng thỏa hiệp vì tính toán lợi ích chiến lược của mình. Trong các nước lớn, thì các nước lớn trong khu vực được coi là "thế lực quốc tế lớn nhất, nguy hiểm nhất, câu kết với đế quốc Mỹ, âm mưu thực hiện chủ nghĩa bá quyền nước lớn" thông qua sử dụng vấn đề Cam-pu-chia.


Họ coi vấn đề Cam-pu-chia là con bài trong quan hệ với Liên Xô, Mỹ, phương Tây, ASEAN và các nước Đông Dương để phục vụ tham vọng nước lớn của mình mà trước hết là "Giành cho được Đông Nam Á" để mở rộng ảnh hưởng và bành trướng sức mạnh sang khu vực Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, trong khi Việt Nam được coi là nhân tố cản trở lớn đối với tham vọng này. Trong khi đó, Mỹ sử dụng Cam-pu-chia trong chiến lược chơi con bài với Trung Quốc và Liên Xô, để vừa chống cách mạng Đông Dương, vừa duy trì những chế độ thân Mỹ Đông Nam Á, nhất là Thái Lan. Mỹ công khai công nhận Khơ-me Đỏ là "đồng minh thân cận của Mỹ" cùng các nước khác sử dụng Thái Lan làm "đất thánh" nuuôi dưỡng Khơ-me Đỏ, lấy Thái Lan làm tuyến đầu chống cách mạng ba nước Đông Dương. Trước hậu quả tàn sát của chế độ Pôn Pôt, nhân dân Cam-pu-chia rơi vào cuộc khủng hoảng nhân đạo chưa từng thấy. Song thay vì cứu nhân dân Cam-pu-chia, đế quốc Mỹ lại lợi dụng chiêu bài viện trợ nhân đạo để tiếp tế cho Pôn Pốt và các phái Khơ-me phản động. Tuy nhiên, trước sự biến đổi của tình hình, nhất là khi trở thành "siêu cường duy nhất" Mỹ đã thúc đẩy giải quyết vấn đề Cam-pu-chia để không ngừng can dự và gia tăng ảnh hưởng trở lai đối với khu vực Đông Nam Á... Xuất phát từ việc các nước lớn và các bên đều có mục tiêu và lợi ích chiến lược trong tính toán, sử dụng vấn đề Cam-pu-chia nên đã tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hình thành vấn đề Cam-pu-chia (1979-1989) cũng như quá trình giải quyết vấn đề Cam-pu-chia trong giai đoạn 1989 - 1999.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:09:59 pm »

Bốn là, ASEAN là nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành và giải quyết vấn đề Cam-pu-chia cũng như xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Kể từ khi thành lập (8.1967), 5 nước ASEAN (In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po và Thái Lan) đã trực tiếp hoặc gián tiếp cùng Mỹ tham chiến tại Việt Nam và Đông Dương, hình thành ở khu vực Đông Nam Á hai nhóm nước đối lập nhau đó là nhóm các nước ASEAN và nhóm ba nước Đông Dương. Sau khi Mỹ thất bại ở Việt Nam (4.1975), phải rút khỏi Đông Dương, quan hệ giữa ba nước Đông Dương và các nước ASEAN được cải thiện, song việc Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia để cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi bị diệt chủng cũng như giúp tái thiết đất nước, bảo vệ thành quả cách mạng Cam-pu-chia đã đưa đến sự chia rẽ, đối đầu mới giữa 3 nước Đông Dương và Việt Nam với 5 nước ASEAN. Do tác động bởi sự tuyên truyền, kích động, dựng nên cái gọi là "mối đe dọa bị Việt Nam tiến công" của các thế lực bên ngoài, các nước ASEAN tìm thấy điểm chung là "nỗi ám ảnh về sức mạnh và ảnh hưởng của Việt Nam đối với khu vực"1 (Vũ Dương Ninh, Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - Lịch sử và vấn đề, Sđd, tr. 236) nên giai đoạn 1979-1987, các nước ASEAN đã câu kết với chủ nghĩa đế quốc, Mỹ và phương Tây sử dụng vấn đề Cam-pu-chia để tiến hành chống phá cách mạng ba nước Đông Dương và Việt Nam một cách quyết liệt, điều này đã làm cho tình hình Cam-pu-chia, Động Dương và Đông Nam Á luôn căng thẳng, bất ổn. Trong các nước ASHAN, thì vai trò của Thái Lan nổi bật nhất, trở thành "đất thánh" nuôi dưỡng lực lượng Khơ-me phản động, nhất là Khơ-me Đỏ để tiến hành chống phá cách mạng Cam-pu-chia-; là "tuyến đầu" chống phá cách mạng ba nước Đông Dương.


Từ cuối những năm 1980, trước xu thế hòa hoãn, hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia của các nước lớn cũng như từng bước nhận thức được "kẻ đắc lợi trong tình hình Đông Nam Á bất ổn chính là các nước lớn ở ngoài khu vực"1 (Vũ Dương Ninh (2005), "Ba mươi năm trên những chặng đường hội nhập quốc tế (1975-2005)", Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, số 1, tr. 3) nên ASEAN dần tách khỏi lập trường của những nước hậu thuẫn cho Cam-pu-chia Dân chủ để đi vào đối thoại với Việt Nam2 (Nguyễn Đinh Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Sđd, tr. 332). Các nước ASEAN đều chuyển thái độ từ đối đầu sang đối thoại và đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình, ủng họ vai trò của Liên hợp quốc ở Cam-pu-chia và không còn ủng hộ Khơ-me Đỏ. Các nước ASEAN đều mong muốn Đông Nam Á có hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác; mong Đông Nam Á không còn bị một nước lớn nào độc quyền chi phối, không còn là đấu trường tranh giành ảnh hường của các nước lớn. ASEAN mong muốn Cam-pu-chia trở thành một nước hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị trung lập và phát triển, không nghiêng về bên nào, bảo vệ lợi ích của các nước trong khu vực, chống lại sự áp đặt của các nước lớn. Chính vì vậy, ASEAN, nhất là In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a đã tích cực đóng góp cho tiến trình đi đến giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. vấn đề Cam-pu-chia được giải quyết là "chìa khóa" đẫ giải tỏa các mối quan hộ căng thẳng ở khu vực, đặc biệt là giúp Việt Nam tháo gỡ sự bao vây cô lập, đưa đất nước thoát khỏi khùng hoảng. Từ năm 1995 đến 1999, ASEAN lần lượt kết nạp Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia và Mi-an-ma làm thành viên - đưa ASEAN bao gồm 10 nước thành viên nôi lên thành tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển trên thế giới, có uy tín quốc tế ngày càng lớn, có tiểng nói ngày càng có trọng lượng trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác quốc tế, trong việc bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh của mình.


Năm là, Liên hợp quốc đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hòa giải, tìm kiếm hòa bình và dân chủ hóa ở Cam-pu-chia, song trên thực tế Liên hợp quốc được sự ủy quyền của các nước lớn để thực thi thỏa hiệp của các nước lớn về vấn đề Cam-pu-chia.

Có thể thấy, bên cạnh vai trò của các cường quốc hay các nước ASEAN, Liên hợp quốc đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hòa giải, tìm kiếm hòa bình và dân chủ hóa Cam-pu-chia. Tuy nhiên, vai trò của Liên hợp quốc đối với vấn đề Cam-pu-chia có sự thay đổi theo tiến trình lịch sử sự thay đổi mới quan hệ của các nước lớn - 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an (P5) và chịu sự chi phối của các nước này. Trước năm 1989, vai trò gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia không có khả năng thực hiện, do sự phản đối của Việt Nam và Liên Xô. Được sự hậu thuẫn của Mỹ và Trung Quốc, Liên hợp quốc đã tiếp tục công nhận "Cam-pu-chia Dân chủ" - Nhà nước của chế độ diệt chủng Pôn Pốt - là đại diện của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc cũng như yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Cam-pu-chia. Hay nói cách khác, khi các nước lớn không đồng thuận và đứng sau thúc đẩy các phe nhóm khác nhau tại Cam-pu-chia, thì Liên hợp quốc khó có thể khẳng định vai trò của mình.


Giai đoạn 1989-1993, khi quan hệ giữa các nước lớn diễn biến theo chiều hướng hòa hoãn từng đôi một (Xô - Trung, Xô - Mỹ), cùng ngồi lại với nhau đàm phán thúc đẩy giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có vấn đề Cam-pu-chia thì vai trò của Liên hợp quốc được đề cao. Trên cơ sở đàm phán, thỏa hiệp giữa các bên có liên quan, đặc biệt là sự thỏa hiệp của P5, Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết (10.1991) và Liên hợp quốc được sự ủy quyền của các nước lớn triển khai thực thi Hiệp định.


Trong 18 tháng, UNTAC - đội quân "gìn giữ hòa bình" của Liên hợp quốc thực hiện một mô hình rất đặc thù, với quy mô chưa từng có trong lịch sử, cả về tổ chức, số lượng, quyền hạn; thực hiện "sứ mệnh" can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Cam-pu-chia như: chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quân sự... thực thi các chức năng cơ bản của một chính quyền lâm thời là: Quản lí xã hội; giải giáp quân sự; tổ chức, kiểm soát bầu cử. Các thế lực chính trị ở Cam-pu-chia hoàn toàn không có bất cứ quyền hành nào.


Hoạt động của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ chuyển tiếp tại Cam-pu-chia tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đã đạt được những thành công nhất định trong sứ mệnh "giải quyết hòa bình" làm cơ sở đê Liên hợp quốc tăng cường vai trò gìn giữ hòa bình của sau Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề ở Cam-pu-chia Liên hợp quốc chưa thực hiện được, trong đó tồn tại lớn nhất là UNTAC đã không giải giáp, thu hồi vũ khí của lực lượng quân sự Khơ-me Đỏ. Nguyên nhân trước hết là Khơ-me Đỏ cự tuyệt, không chấp nhận việc giải giáp, vì quân sự là thế mạnh, là cơ sở để chúng tồn tại. Có mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ "Liên minh dân chủ 3 phái" (chống Việt Nam) mà Khơ-me Đỏ là có thực lực nhất. Các nước lớn can dự sâu nhất, có ảnh hường lớn nhất ở Cam-pu-chia - mâu thuẫn về vấn đề Khơ-me Đỏ. Khi Khơ-me Đỏ không chấp nhận tham gia giải pháp chính trị, ngoại giao, rút quân về phía Băc, một số nước vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho chúng. Sự ủng hộ của họ là nhân tố giúp Khơ-me Đỏ tiếp tục tồn tại, hoạt động. Điều này càng cho thấy, sự tác động, chi phối của các nước lớn trong các hoạt động của Liên hợp quốc, lợi dụng vai trò của Liên hợp quốc để thúc đẩy lợi ích quốc gia và ảnh hưởng của họ tại Cam-pu-chia, dẫn đến tiến trình dân chủ hóa, phát triển Cam-pu-chia vẫn tiếp tục kéo dài.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:12:51 pm »

Chương 2
TÌNH HÌNH CAM-PU-CHIA VÀ CÁCH MẠNG CAM-PU-CHIA TRƯỚC VÀ TRONG GIAI ĐOẠN 1989-1999


2.1. CAM-PU-CHIA DƯỚI CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG PÔN PỐT

2.1.1. Tập đoàn Pôn Pốt phản bội lại cách mạng dân tộc và nhân dân Cam-pu-chia

Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II họp vào tháng 2 năm 1951, tại tỉnh Tuyên Quang Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá tình hình cũng như xuất phát từ sự lớn mạnh của cách mạng Việt - Miên - Lào Đại hội quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đồng thời chủ trương mỗi nước thành lập một chính đảng vô sản riêng để lãnh đạo cách mạng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Theo tinh thần đó, ngày 26 tháng 6 năm 1951, Hội nghị cán bộ toàn Cam-pu-chia lần thứ hai diễn ra tại Bình An, Kiên Lương, Kiên Giang, Việt Nam (Hội nghị lần thứ nhất diễn ra từ ngày 17 - 19.4.1950), để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, theo đó: bổ sung và phát triển một số vấn đề về đường lối, chủ trương cơ bản của cách mạng Cam-pu-chia; đề ra nhiệm vụ cho năm 1951-1952 và phương hướng cho thời kỳ mới, với 14 nhiệm vụ và 8 công tác lớn, trong đó xây dựng chính quyền và mặt trận là trọng tâm hàng đầu; quyết định thành lập Ban vận động thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Khơ-me (Ban Trung ương lâm thời), có nhiệm vụ giúp những người cách mạng thành lập chính đảng nhân dân cách mạng. Đồng chí Sơn Ngọc Minh được cử giữ chức Quyền Chủ tịch Đảng; hệ tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối đấu tranh cách mạng là đấu tranh vũ trang gianh độc lập, tự do cho dân tộc. Vì tầm quan trọng của Hội nghị nên ngày tổ chức Hội nghị (26.6) được chính thức lấy làm ngày thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Khơ-me (KPRP)1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam (1930-2017), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội-2017, tr. 29 30). Trong những năm đầu thành lập, KPRP mang tư tưởng cộng sản chính thống và có quan hệ gắn bó mật thiết với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn 1951 - 1954, KPRP đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam2 (Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Lịch sử 10 năm chuyên gia Việt Nam giúp cách mạng Cam-pu-chia (1978-1988), Hà Nội, tr.32, 35).


Quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia bắt đầu nảy sinh vấn đề kể từ sau Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương. Tại Hội nghị này, lực lượng cách mạng Cam-pu-chia lúc đó không được mời tham gia chính thức, mà chỉ có hai đảng viên tham gia trong đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Do không đánh giá được ý đồ thỏa hiệp của các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô nên Việt Nam đã chấp nhận ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (21.7.1954) về Đông Dương với một số điều khoản bất lợi cho cách mạng Cam-pu-chia như: vùng giải phóng rộng lớn do lực lượng Khơ-me I-xa-rắc kiểm soát phải bàn giao lại cho chính quyền Xi-ha-núc; lực lượng Khơ-me I-xa-rắc không có vùng tập kết như quân đội Việt Nam và Pa-thét Lào mà phải giải giáp tại chỗ1 (Trước đó, do nhận thức được xu hướng không ngừng lớn mạnh của lực lượng cách mạng Cam-pu-chia Khơ-me I-xa-rắc, thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu thâm độc, trả độc lập Cam-pu-chia cho Xi-ha-núc, đại diện của chế độ phong kiến đang suy tàn (9.11.1953), chứ không phải trả độc lập cho Khơ-me I-xa-rắc, lực lượng đang kiểm soát phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia)... Do đó, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng Khơ-me I-xa-rắc buộc phải giải giáp tại chỗ và bị chính quyền của Xi-ha-núc đàn áp dã man làm cho lực lượng cách mạng Cam-pu-chia bị tổn thất nghiêm trọng, nhân dân Cam-pu-chia không giữ được thành quả cách mạng đã giành được trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp... Việc này đã đặt lực lượng cách mạng Cam-pu-chia vào tình thế khó khăn và dẫn tới những nghi ngờ trong nội bộ Cam-pu-chia về việc Việt Nam đã "bán rẻ" lợi ích của họ. Chỉ có khoảng 1.000 cán bộ người Cam-pu-chia, trong đó có gần 200 đảng viên đã được tổ chức tập kết ra miền Bắc Việt Nam2 (Ngô Điền (1991), Cam-pu-chia: Nhìn lại và Suy ngẫm, Hà Nội). Một số khác lui vào hoạt động bí mật, dưới quyền lãnh đạo của Siêu Heng (đặc trách khu vực nông thôn) và Tua Xa-mốc (đặc trách khu vực thành thị) tiếp tục đấu tranh chính trị yêu cầu Chính phủ Xi-ha-núc tiến hành tổng tuyển cử theo cam kết của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Quốc hội Cam-pu-chia tiến hành bầu cử tháng 9 năm 1955, Xi-ha-núc chính thức được bầu làm Quốc trưởng. Sau khi được bầu làm Quốc trưởng, Xi-ha-núc thực hiện chính sách đối ngoại theo chủ trương trung lập, cân bằng giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.


Từ 29 đến 30 tháng 9 năm 1960, Đảng KPRP đã tổ chức Đại hội lần thứ II (tổ chức bí mật) với sự tham gia của 21 đại biểu. Đại hội đã đổi tên Đảng thành Đảng Công nhân Khơ-me (WPK), bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 người, gồm: Tua Xa-mốc giữ chức Tổng Bí thư; Pôn Pốt giữ chức Tổng Thư ký; Nuôn Chia, Keo Meas và Iêng Xa-ri là ủy viên. Tháng 7 năm 1962, Tua Xa-mốc bị sát hại và đến tháng 2 năm 1963 Pôn Pốt triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng và được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Tháng 10 năm 1966, Pôn Pốt tổ chức cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng WPK để thông qua quyết định cải tổ toàn bộ đường lối, chính sách của Đảng và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Khơ-me (KCP)1 (Nay Penna, Sự sụp đổ của chế độ Cam-pu-chia Dân chủ, bản dich, tr.17). Sau khi trở thành lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Pôn Pốt đã phản bội lại cách mạng mà nguy hiểm nhất là Pôn Pốt chủ trương biển Đảng từ một nhân tố tích cực trong đường lối độc lập, trung lập của Chính phủ hoàng gia thành yếu tố tiêu cực trong việc thực hiện đường lối này. Sự phản bội cách mạng của Pôn Pốt còn thể hiện ở chỗ thay đổi trong việc xác định mâu thuẫn, từ mâu thuẫn giữa dân tộc Cam-pu-chia và đế quốc Mỹ sang mâu thuẫn giữa Đảng với chính quyền Xi-ha-núc và xúi giục đấu tranh vũ trang chống chính quyền Xi-ha-núc, trong khi chính quyền này đang chống đế quốc Mỹ; coi cả Mỹ, Xi-ha-núc và giai cấp phong kiến Cam-pu-chia là kẻ thù không đội trời chung1 (Ngô Điền (1991), Cam-pu-chia: Nhìn lại và Suy ngẫm, Tlđd). Qua việc thay đổi xác định mâu thuẫn và tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang chống lại chính phủ, Pôn Pốt đã làm cho phong trào cách mạng xa rời tình hình và nhiệm vụ của dân tộc, thoát ly xu thế của thời đại và thoát ly liên minh đấu tranh của ba dân tộc ở Đông Dương. Bằng cách này, Pôn Pốt đã đưa cách mạng vào tình thế tự cô lập, từ bỏ mọi thỏa hiệp và hợp tác với mặt tích cực trong chính sách của Chính phủ hoàng gia và các lực lượng khác vì mục tiêu độc lập, trung lập; từ bỏ hoàn toàn vị trí công khai hợp pháp mà Đảng đã gắng công xây dựng sau Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và chuyển sang bí mật đấu tranh chống chính phủ, khiến cách mạng Cam-pu-chia gặp vô vàn khó khăn.


Ngày 18 tháng 3 năm 1970, được sự hậu thuẫn của Mỹ, Lon Non tiến hành đảo chính lật đổ Xi-ha-núc, tự xưng là Tổng thống và thành lập Nhà nước Cộng hoà Cam-pu-chia, xoá bỏ chế độ quân chủ. Giai đoạn này, Mỹ nắm chính quyền tay sai Lon Non và mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Cam-pu-chia. Lúc này, Xi-ha-núc sống lưu vong ở Bắc Kinh - Trung Quốc và thành lập Chính phủ Đoàn kết Dân tộc Cam-pu-chia (4.5.1970), nhằm xây dựng lực lượng chống Lon Non, nhưng Chính phủ này của Xi-ha-núc tồn tại không lâu vì không tập hợp được lực lượng. Lúc này, Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ lại điều chỉnh chính sách, quay lại liên minh với Xi-ha-núc để chống lại chính quyền Lon Non do Mỹ hậu thuẫn. Pôn Pốt và Xi-ha-núc liên minh thành lập "Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia" do Xi-ha-núc đứng đầu và "Các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng dân tộc Cam-pu-chia" do Khiêu Xăm-phon đứng đầu. Dưới sự lãnh đạo của "Mặt trận Thống nhất Dân tộc Cam-pu-chia", nhờ vào uy tín của Xi-ha-núc tại nông thôn, đặc biệt là sự hỗ trợ của bộ đội Việt Nam và vũ khí Trung Quốc, Khơ-me Đỏ bắt đầu lớn mạnh và trên thực tế đến năm 1973 đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia. Tháng 4 năm 1975, nhân đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, được sự giúp đỡ của Việt Nam, lực lượng giải phóng Cam-pu-chia đã tiến công chiếm Phnôm Pênh, lật đổ chính quyền tay sai Lon Non vào ngày 17 tháng 4 năm 1975.


Sau ngày giải phóng 17 tháng 4 năm 1975, đúng ra nhân dân Cam-pu-chia đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, được sống trong độc lập, hòa bình, có quan hệ hợp tác láng giềng tốt với tất cả các nước trên thế giới và dành hết tâm lực để tái thiết đất nước, thế nhưng niềm hy vọng và tâm nguyện đó của nhân dân Cam-pu-chia đã bị tiêu tan bởi sự phản bội lại cách mạng, phản bội lại dân tộc của tập đoàn Pôn Pốt. Sau khi nắm quyền lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia, Pôn Pốt đã làm KCP biến chất, phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Dưới khẩu hiệu "Cách mạng xã hội chủ nghĩa đầy đủ và triệt để", tập đoàn Pôn Pốt đã đẩy dân tộc Cam-pu-chia vào thời kỳ diệt chủng dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử Cam-pu-chia và lịch sử nhân loại. Chúng bắt đầu cuộc thanh lọc ghê tởm nhất trong lịch sử loài người, thẳng tay đàn áp, sát hại lực lượng cách mạng - những người vốn là "đồng chí" của Pôn Pốt do họ bị coi là không đồng tình thành một địa ngục trần gian đầy máu và nước mắt của với đường lối của Pôn Pốt, biến đất nước Cam-pu-chia chính nhân dân Cam-pu-chia. Về đối ngoại, tập đoàn Pôn Pốt tiến hành chống phá hệ thống xã hội chủ nghĩa, gây chiến với các nước láng giềng, làm cho phong trào cách mạng Cam-pu-chia thoát ly liên minh đấu tranh của ba dân tộc Đông Dương. Đối với Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt quay lưng lại với Việt Nam, ra sức kích động thù hằn dân tộc chống Việt Nam, trắng trợn phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, thậm chí đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương và thôn tính Cam-pu-chia, qua đó thực thi chính sách hiếu chiến, xâm lược, gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây - Nam dã man, tàn bạo, vô nhân đạo và dài nhất trong lịch sử hai nước láng giềng Việt Nam - Cam-pu-chia.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM