Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:25:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng Campuchia và sự giúp đỡ của VN 1989-1999  (Đọc 2984 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2026, 07:15:24 pm »

2.1.2. Tập đoàn Pôn Pốt dựng lên chế độ diệt chủng tại Cam-pu-chia

2.1.2.1. Về chính sách đối nội

- Về chính trị

Tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri xây dựng mô hình nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ theo mô hình "Công xã nhân dân". Chúng tổ chức bộ máy chuyên chế, độc tài từ Trung ương đến địa phương, quyền lực tập trung vào bộ máy đảng trị các cấp (Ăng-ca), bao gồm cả quyền lực của đảng, nhà nước, quyền lập pháp, hành pháp và tòa án. Pôn Pốt vừa là Tổng Bí thư của Đảng, vừa là Thủ tướng Chính phủ và là Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương. Mọi quyết định của đảng, chính phủ và quân đội đều do Pôn Pốt quyết định và chỉ đạo thực hiện.


Cơ cấu nhà nước gồm: Chủ tịch nước (Khiêu Xăm-phon); Thủ tướng (Pôn Pốt); Chủ tịch Quốc hội (Nuôn Chia); Quốc trường (Xi-ha-núc được Pôn Pốt dựng lên và ép từ chức tháng 4 năm 1976); Hội đồng đại biểu nhân dân (chức năng như Quốc hội), nhưng quyền hạn hạn chế, có 250 người; Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ), có 9 người, gồm 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng và 5 Bộ trưởng). Các Phó Thủ tướng gồm: Iêng Xa-ri, phụ trách Đối ngoại; Son Sen, phụ trách An ninh, Quốc phòng; Von Vêt, phụ trách Kinh tế. Các Bộ trưởng, gồm: Hô Nưm, Bộ Thông tin; Chuôn Chươn, Bộ Y tế; Tuch Phươn, Bộ Giao thông - Công chính; Iêng Thi-rít, Bộ Xã hội; Dun Dat, Bộ Văn hóa - Giáo dục. Ngoài ra, Cam-pu-chia Dân chủ còn tổ chức ra các Ủy ban giúp việc cho Hội đồng Bộ trưởng, gồm: Ủy ban Nông nghiệp (Chây Suôn); Ủy ban Thương nghiệp (Kôi Thuôn); Ủy ban Công nghiệp (Chêng On); Ủy ban Đồn điền cao su (Phuông); Ủy ban Giao thông vận tải và ủy ban Năng lượng (Mi Prang). Cả 6 ủy ban này nằm dưới sự điều hành của Phó Thủ tướng phụ trách về kinh tế (Von Vêt) và cấp hàm của trưởng các ủy ban này tương đương với Bộ trưởng.


Chính quyền Khơ-me Đỏ đã thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Đặc biệt, dưới chiêu bài "xóa bỏ giai cấp", Khơ-me Đỏ tùy tiện xóa bỏ thành thị, lùa thị dân về nông thôn, buộc họ phải làm nông nghiệp phải trở thành nông dân. Dưới khẩu hiệu "thanh trừng nội bộ", chính quyền Khơ-me Đỏ đây mạnh tàn sát rộng khắp trong toàn quốc, bao gồm cả cán bộ từ cấp cơ sở đến cấp trung ương; phân biệt đối xử và đàn áp các dân tộc ít người; tùy tiện kết tội những người bị nghi ngờ để đày đọa và tự do bắn, giết nhân dân với các biện pháp hành hình tàn bạo thời trung cổ, từ đó gây ra nhiêu vụ đày ải, thảm sát hàng triệu người, đặt nhân dân Cam-pu-chia vào thảm họa diệt chủng tang thương.


- Về kinh tế - xã hội

Chính quyền Khơ-me Đỏ chủ trương thực hiện hình thái kinh tế - xã hội dựa trên chế độ sở hữu tập thể 100%, trong đó: lấy nông nghiệp làm cơ sở để phát triển công nghiệp nhẹ, dần tiến lên công nghiệp nặng. Pôn Pốt đưa ra khẩu hiệu "Đại nhảy vọt, đại tuyệt vời" và đề ra kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội trong vòng 10 đến 15 năm. Nhưng chính quyền Khơ-me Đỏ đi ngược lại quy luật xây dựng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, khi thiết lập một xã hội không sử dụng tiền tệ, không chợ búa, không trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá, triệt tiêu quan hệ tiền - hàng; thủ tiêu chế độ tư hữu, đưa nhân dân từ đô thị về nông thôn và cưỡng bức lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp trên diện rộng; tịch thu tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và xác lập quan hệ sản xuất tập thể (tư liệu sản xuất tập thể, công cụ sản xuất tập thể, ăn uống tập thể, sống tập thể, làm việc tập thể)...


Trong xã hội Cam-pu-chia chỉ còn hai giai cấp là công nhân và nông dân, bên cạnh đó có hàng ngũ cách mạng (hàng ngũ của Pôn Pốt)... Giai cấp công nhân không gắn liền với sản xuất công nghiệp. Loại bỏ lớp công nhân cũ, xây dựng lớp công nhân hoàn toàn mới không có nghề nghiệp chuyên môn bằng cách chuyển từ nông dân và quân đội sang. Chính quyền Khơ-me Đỏ chia nhân dân thành ba loại: dân cũ, dân mới và dân gửi; dùng dân cũ để quản lý dân mới. Phần lớn nhân dân Cam-pu-chia sống tập trung trong các hợp tác xã nông nghiệp, bởi ngay sau khi lên nắm quyền, chính quyền Pôn Pốt tiến hành đưa toàn bộ người dân ở thành phố, thị xã về các vùng nông thôn theo hình thức ép buộc, gồm cả những người không nên đi sơ tán như các bệnh nhân trong bệnh viện và những đứa trẻ mới sinh1 (Gregory H.Stanton, Những chiếc khăn quàng xanh và những ngôi sao vàng: Sự xếp hạng và biểu tượng hoá trong cuộc diệt chủng ở Cam-pu-chia). Hợp tác xã chia xã viên làm hai loại: người địa phương được gọi là những xã viên đủ quyền; người thành thị mới đến được gọi là xã viên dự bị, chưa có quyền, phải làm các công việc nặng nhọc, bẩn thỉu. Nhân lực trong hợp tác xã được chia làm 4 loại: người già được giao việc giữ trẻ, làm cỏ, nuôi lợn, chăn bò; người trung niên được giao việc trồng trọt, thu hoạch như cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa...; thanh niên được tổ chức thành đội xung kích chủ yếu làm các công trình thủy lợi; thiếu niên làm các công việc phục vụ như xay thóc, giã gạo, nấu cơm... Kết quả là hàng triệu người dân Cam-pu-chia không chỉ chết vì bạo lực của Khơ-me Đỏ mà còn chết vì bị bỏ đói, bị mất mùa, bị cưỡng bức lao động quá sức và bị ép buộc chữa bệnh bằng dùng các loại thuốc tự chế trong dân gian2 (Bài học xương máu từ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Khơ-me Đỏ. http://vov.vn/), tình hình đó đã tạo ra những "cánh đồng chết" trên khắp nước Cam-pu-chia.


- Về văn hoá - giáo dục

Chính quyền Khơ-me Đỏ chủ trương thực hiện chính sách ngu dân, không trường học; tiêu hủy tất cả các sách báo cũ, biên soạn các sách giáo khoa mới, chôn sâu giáo dục cũ; coi sinh viên, trí thức, các giáo chức, các nhà khoa học, kỹ thuật đã bị tiêm nhiễm sâu sắc ảnh hưởng của chế độ cũ là phản động, không thể dùng được và cần phải thanh lọc loại bỏ đối tượng này để "làm trong sạch xã hội". Vì thế, chính quyền Khơ-me Đỏ đã sát hại khoảng 90% trí thức Cam-pu-chia, trong đó phần lớn là giáo viên, bác sĩ, y sĩ, nhà khoa học, nghệ sĩ, diễn viên... Theo Pôn Pốt, đảng viên không cần học nhiều, thông qua hoạt động thực tiễn sẽ học rất nhanh; học sinh chỉ cần nhận được mặt chữ và biết tính toán; giáo dục chỉ được tiến hành ở các trường làng. Chính vì vậy, tất cả các trường học ở các cấp phổ thông trung học, đại học và chuyên nghiệp bị đóng cửa. Chế độ Pôn Pốt đề ra chính sách đào tạo kiểu mới là: tiểu học 3 năm, trung học 3 năm, đại học chuyên về kỹ thuật 3 năm.


- Về dân tộc - tôn giáo

Chế độ Pôn Pốt đã thực hiện chính sách dân tộc cực đoan, trong đó các dâp tộc thiểu số như Thái, Lào Chàm... đều bị truy sát. Bên cạnh đó, chúng thực hiện chính sách đồng hoá Khơ-me. Các nhóm dân tộc ít người không phải người Khơ-me, đặc biệt là cộng đồng người Chàm ở nông thôn đã trở thành mục tiêu của chính sách đồng hoá. Họ buộc phải từ bỏ nhiều nghi lễ như: cách hành lễ tôn giáo, mang mặc, ăn kiêng và cả ngôn ngữ tiếng Chàm cũng phải bỏ để dùng tiếng Khơ-me. Đối với Việt kiều, ngay sau khi giành được chính quyền (4.1975), tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã ra lệnh xua đuổi và tàn sát Việt kiều với phương châm "Không để người Việt Nam sống trên đất Cam-pu-chia". Tháng 11 năm 1975, lấy lý do đưa Việt kiều trở về Việt Nam, Khơ-me Đỏ dồn hàng ngàn Việt kiều ở các nơi về tập trung tại Phnôm Pênh, sau đó đưa họ về Kra-kô thuộc tỉnh Pu-xát để giết hại. Từ năm 1975 - 1977, chúng đã tàn sát hàng nghìn người và xua đuổi về Việt Nam toàn bộ số người còn lại (khoảng 200.000 người). Theo tài liệu của tỉnh Stung Treng, năm 1977 ghi rõ: "Năm 1977, có khoảng 2.000 bộ xương người Việt Nam được tìm thấy ở Đầm Lớn, rộng 10ha, phía đông nam thị xã"1 (Bộ Quốc phòng (1989), Hồ sơ tổng kết nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia).


Đối với tôn giáo, mặc dù Phật giáo là quốc đạo của Cam-pu-chia và có tới 85% dân số theo đạo Phật, nhưng cũng bị chế độ Pôn Pốt xoá bỏ. Nhiều sư sãi bị chúng giết hại, cưỡng bức lao động khổ sai; đền đài, tượng Phật, đồ tế lễ bị đập phá; kinh sách bị thiêu hủy, chùa chiền bị biến thành kho chứa phân, chứa thóc, tín đồ bị cấm thờ cúng, người dân bị cấm đi tu, người tu hành phải bỏ áo cà sa, bị bắt kết hôn (hoàn tục) trong các đám cưới tập thể, buộc rời bỏ những nơi thờ cúng về "Công xã" lao động khổ sai. Cùng với đạo Phật, đạo Hồi cũng bị xoá bỏ. Người theo đạo Hồi bị cấm đoán, một số lớn các nhà thờ Hồi giáo bị phá hủy, một số khác bị biến thành trại giam. Chúng chủ trương truy lùng, tiêu diệt các chức sắc và tín đồ Hồi giáo... Tóm lại, dưới chế độ Cam-pu-chia dân chủ, xã hội Cam-pu-chia là xã hội không tôn giáo đức tin đều do Ăng-ca nhồi nhét, người dân không được quyền phản biện, ai chống lại đều bị quy kết thành đủ mọi loại tội trạng, là phản quốc, làm tình báo gián điệp cho KGB, CIA... để sau đó phải đối mặt với cái chết không thể tránh khỏi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 07:52:01 pm »

2.1.2.2. Về chính sách đối ngoại

Chính quyền Pôn Pốt chủ trương "Khơ-me nên làm những gì của riêng mình", thực hiện chính sách độc lập tự chủ cực đoan, đóng cửa với thế giới bên ngoài và thù địch, xâm lược các nước láng giềng1 (Tại sao chế độ Khơ-me Đỏ giết người dân của mình, Nhật Minh dịch theo www.mtholyoke.edu). Chính quyền Pôn Pốt thực hiện đóng cửa các đại sứ quán, cắt quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước, chỉ duy trì quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Triều Tiên, An-ba-ni và Ru-ma-ni. Chúng không công nhận phe xã hội chủ nghĩa, chống Liên Xô và các nước đồng minh của Liên Xô.


Đối với Việt Nam, sau chiến thắng năm 1975, Pôn Pốt và Khơ-me Đỏ đã tự đề cao lực lượng bản thân và cố tình phủ nhận các yếu tố khách quan và bối cảnh lịch sử quốc tế đối với chiến thắng của Cam-pu-chia, đặc biệt phủ nhận sự giúp đỡ to lớn về nhiều mặt của Việt Nam. Ngược lại, Pôn Pốt theo đuổi chủ nghĩa quá khích và thực hiện chính sách công khai chống Việt Nam. Ngày 20 tháng 5 năm 1975, tại Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng KCP, Pôn Pốt đưa ra kế hoạch hành động tám điểm, trong đó, nhấn mạnh việc trục xuất toàn bộ người Việt Nam ra khỏi Cam-pu-chia, đưa các đơn vị quân đội đến biên giới Việt Nam. Khơ-me Đỏ không ngừng tuyên truyền "Việt Nam muốn đặt Cam-pu-chia dưới sự kiểm soát của mình bằng cách xây dựng Liên bang Đông Dương"1 (Мосяков Д.В: История Камбоджи. ХХ век, Институт востоковедения РАН, 2010, с.383); đồng thời, Pôn Pốt cũng khẳng định trong quá khứ, những người cai trị Cam-pu-chia (người Pháp) đã giao đất cho người Việt và "chúng ta không thể đồng ý với hiện trạng này. Chúng ta phải bắt đầu một cuộc chiến tranh với Việt Nam để đòi lại vùng đất Nam Bộ"2 (B. Kiernan and Chanthou Boua Peasants and Politics in Cam-pu-chia 1942-1981, N.-Y, 1986, p.236), qua đó Pôn Pốt xác định: "Việt Nam là kẻ thù số một của chúng ta, là kẻ thù truyền thống của chúng ta và nó phải bị đánh bại bằng mọi giá"3 (Мосяков Д.В: История Камбоджи. ХХ век, Институт востоковедения РАН, 2010, с.383).


Rắp tâm theo đuổi đường lối đối ngoại chống Việt Nam, cùng với sự tuyên truyền gây hận thù chính trị giữa hai dân tộc Cam-pu-chia - Việt Nam, Khơ-me Đỏ tiến hành các cuộc xâm lấn, đánh chiếm biên giới Việt Nam ngay sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng4 (Tập đoàn Pôn Pốt đã cho quân đánh chiếm đảo Phú Quốc (3.5.1975) và Thổ Chu (10.5.1975)) và tiến hành liên tục trong một thời gian dài. Theo số liệu của Ban Tổng kết quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam, từ tháng 5 năm 1975 đến hết năm 1975, Khơ-me Đỏ gây ra 110 vụ xung đột, lấn chiếm 20 điểm biên giới; năm 1976, gây ra 280 vụ, tăng 2,7 lần so với năm 1975; năm 1977 gây ra 1.850 vụ, tăng 6 lần so với năm 19761 (Báo cáo của Ban Tổng kết quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1978, tr.4). Từ tháng 9 năm 1977 đến cuối năm 1978, quân Khơ-me Đỏ liên tục mở nhiều cuộc tiến công lớn sang Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia gây nhiều tội ác với nhân dân Việt Nam. Ngày 31 tháng 12 năm 1977, Khơ-me Đỏ vu cáo Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia và đơn phương tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đi đôi với những hành động quân sự, xâm lược trắng trợn sâu vào lãnh thổ Việt Nam gây ra những tội ác dã man, ghê rợn trên toàn tuyến biên giới đối với dân thường Việt Nam, Khơ-me Đỏ thẳng thừng bác bỏ những đề nghị đầy thiện chí của Việt Nam. Trong công hàm của Bộ Ngoại giao Cam-pu-chia Dân chủ gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam (16.5.1978) vẫn tiếp tục có những lời lẽ vu khống Việt Nam, khước từ mội đề nghị thương lượng của Việt Nam, kể cả đề nghị thông qua Liên hợp quốc và Phong trào Không liên kết. Xuyên suốt quá trình cầm quyền ở Cam-pu-chia, Khơ-me Đỏ thực hiện chính sách thù địch chống Việt Nam, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, phủ nhận lịch sử đoàn kết liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương2 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Cam-pu-chia - Việt Nam (1930-2017), Tlđd, tr.79-80).


Trước việc chính quyền Khơ-me Đỏ tăng cường chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và đối phương gây căng thẳng ở biên giới phía Bắc, để tránh khả năng xảy ra chiến tranh từ hai hướng chiến lược, Việt Nam quyết tâm giải quyết sớm cuộc chiến tranh ở hướng Tây Nam. Trên cơ sở nhận định, "Chừng nào tập đoàn phản động Pôn Pốt chưa bị nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ, thì vấn đề biên giới chưa được giải quyết một cách dứt khoát"1 (Báo cáo số 38/QU-TƯ của Thường vụ Quân uỷ Trung ương, ngày 27 tháng 1 năm 1978, Lưu tại Trung tâm lưu trữ, Bộ Quốc phòng), thực hiện chủ trương "đẩy chiến tranh sang bên kia biên giới"2 (Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 11 năm 1977, Lưu tại Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng), thoát khỏi thế bị động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam quyết định "đánh đổ tập đoàn phản động Cam-pu-chia, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn làm lại cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân"3 (Dự thảo kế hoạch sẵn sàng chiến đấu của Bộ Tổng Tham mưu, số 56, ngày 10-10- 1978, Lưu tại Trung tâm lưu trữ, Bộ Quốc phòng).


Thực hiện nhiệm vụ nói trên cũng như đáp lại đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, từ cuối tháng 12 năm 1978 đến đầu tháng 1 năm 1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khơ-me Đỏ và đến ngày 7 tháng 1 năm 1979, Phnôm Pênh được giải phóng, chế độ Pôn Pốt tàn bạo bị lật đổ, giúp Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Cam-pu-chia thành lập lên một nhà nước mới ở Cam-pu-chia - Nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia (PRK) - mở ra một thời kỳ lịch sử mới cho đất nước và dân tộc Cam-pu-chia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 07:55:25 pm »

2.1.3. Hậu quả của chế độ Pôn Pốt

Nắm quyền trong một thời gian ngắn (3 năm 8 tháng 20 ngày - từ 17.4.1975 - 7.1.1979), song chế độ Pôn Pốt đã để lại cho đất nước Cam-pu-chia những hậu quả hết sức nặng nề, như:


- Về đối nội

Những chính sách của chính quyền Pôn Pốt thực hiện đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Cam-pu-chia: nền kinh tế của đất nước rơi vào tình trạng kiệt quệ, sản xuất đình đốn, hầu hết cơ sở sản xuất hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước không có hoặc bị hư hỏng nặng; hệ thống tiền tệ, chợ búa, sự mua bán trao đổi bị thủ tiêu. Sau ngày 7 tháng 1 năm 1979, đại bộ phận nhân dân vừa thoát khỏi nạn diệt chủng lại bị lâm vào tình trạng thiếu đói, bệnh tật; người dân không có công cụ sản xuất, không có trâu bò, không có giống cây trồng, v.v... Đề cập đến thắng lợi của Cách mạng Cam-pu-chia, Thủ tướng Hun-xen từng nói: "Chúng tôi thoát khỏi chế độ với bàn tay trắng. Thắng lợi to lớn nhất của chúng tôi là xóa bỏ nạn đói mà chế độ Pôn Pốt để lại"1 (Keo Ba-phnom (2007), Xăm-đéc Hun-xen và lời cam kết lịch sử).


Chính sách cực kỳ phản động, hành động vô cùng dã man, tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã làm cho cả dân tộc Cam-pu-chia đứng trước thảm họa diệt vong. Theo thống kê của Ủy ban Điều tra tội ác Pôn Pốt ngày 25 tháng 7 năm 1983 thì: "Trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày cầm quyền ở Cam-pu-chia, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã xô đẩy đất nước Cam-pu-chia rơi xuống "địa ngục", với 3.314.768 người bị tàn sát, gần 570.000 người bị mất tích, 141.848 người bị tàn phế, hơn 200.000 trẻ em bị mồ côi"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng Nhân dân Cam-pu-chia: Lịch sử quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia, Cam-pu-chia - Việt Nam (1930 2010), Hà Nội-2013). Trong số những người dân Cam-pu-chia bị giết chết, có 1.927.061 nông dân, 305.517 công nhân viên chức, 25.168 sư sãi, 488.359 người dân tộc, 568.663 người bị chết trong rừng, bị chôn trong hố chôn tập thể và có cả 9 nhà báo nước ngoài2 (NayPenna, Sự sụp đổ của chế độ Cam-pu-chia Dân chủ, bản dịch, tr.129).


Hệ thống trường học, bệnh viện bị phá hủy; 90% số trí thức, phần lớn giáo viên, bác sĩ, y sĩ, nghệ sĩ, diễn viên, huấn luyện viên, vận động viên bị giết; phần lớn trẻ em trong độ tuổi đi học bị mù chữ, các cấp học từ cơ sở, phổ thông đến trung học và đại học bị đảo lộn; ngành y tế đã bị tàn phá tận gốc... Chính sách của Pôn Pốt đã làm cơ cấu, tổ chức xã hội Cam-pu-chia xáo trộn, đảo lộn hoàn toàn, các giá trị văn hóa, truyền thống bị tước bỏ. Hơn một triệu người bị Pôn Pốt lùa khỏi nhà, bắt phiêu bạt từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, từ thành thị về nông thôn... nay tìm cách trở về quê hương bản quán, đang phải chịu cảnh màn trời chiếu đất, đói rét, bệnh tật. Hậu quả càng nặng nề hơn đối với các tầng lớp yếu thế như người già, phụ nữ, người tàn tật, trẻ mồ côi vốn rất đông lúc bấy giờ... Những người Cam-pu-chia sống sót sau họa diệt chủng của chế độ Pôn Pốt đã kêu lên rằng: Tất cả những cảnh phố xá tấp nập, xóm làng xanh tươi, gia đình sum họp với lời ca tiếng hát trong những ngày hội của dân tộc trước đây đã biến mất. Cả nước biến thành con số không, không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tin ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền và không cả nước mắt để khóc trước cảnh đau thương của dân tộc. Chỉ còn căm thù và uất hận"1 (Báo Nhân dân, ngày 12 tháng 1 năm 1979).


- Về đối ngoại

Với chính sách độc lập tự chủ cực đoan, đóng cửa với thế giới bên ngoài và thù địch với các nước láng giềng, nhất là với Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt - Iêng Xa-ri đã trắng trợn phủ nhận lịch sử đoàn kết, liên minh chiến đấu của ba nước Đông Dương, thậm chí đổi trắng thay đen, vu cáo Việt Nam có mưu đồ lập Liên bang Đông Dương và thôn tính Cam-pu-chia. Tập đoàn Pôn Pốt được thế lực nước ngoài hậu thuẫn, bảo trợ đã rắp tâm theo đuổi đường lối đối ngoại chống Việt Nam, tiến hành tiến công quân sự gây nên cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam năm 1978, đặt khu vực vào thế chia rẽ, khủng hoảng tạo điều kiện cho các thế lực bên ngoài can dự, gây nên vấn đề trong quan hệ các nước lớn, tác động xấu tới quan hệ Việt Nam, buộc Việt Nam phải bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ hai đầu biên giới.


Sau khi Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, ngày 7 tháng 1 năm 1979, Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Cam-pu-chia ra đời. Ngay sau đó, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia Hêng Xam-rin gửi điện cho Liên hợp quốc thông báo chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã bị xoá bỏ, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia đã kiểm soát toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, xuất phát từ ý đồ cũng như tác động của các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ, Liên hợp quốc không công nhận PRK mà vẫn công nhận Cam-pu-chia Dân chủ (Khơ-me Đỏ) là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Từ đây, Cam-pu-chia trở thành "Vấn đề Cam-pu-chia" trong quan hệ quốc tế và được quốc tế hóa cao trong một thời gian dài (1979 - 1993). "Vấn đề Cam-pu-chia" đã trở thành con bài đấu tranh trong khuôn khổ chiến lược của ba nước lớn là Mỹ - Xô - Trung, của ba nước Đông Dương và ASEAN. Lợi ích của các nước lớn đan xen nhau, thể hiện qua ba nhóm ở Cam-pu-chia với ba xu hướng chính trị khác nhau: Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia được sự ủng hộ của Việt Nam, Liên Xô, Lào và Ấn Độ; Khơ-me Đỏ và nhóm Cam-pu-chia phi cộng sản (Xi-ha-núc và Son San) các nước lớn và phương Tây hỗ trợ, trong đó hai nhóm sau câu kết với nhau chặt chẽ để chống phá chính quyền nhân dân.


Việc Việt Nam đưa Quân tình nguyện vào Cam-pu-chia làm tan rã chế độ Khơ-me Đỏ đã làm đổ vỡ những kế hoạch, những toan tính của Trung Quốc đối với Cam-pu-chia, Đông Dương nói riêng cũng như đối với Đông Nam Á nói chung. Do đó, Trung Quốc đã tích cực cuộc vận động ngoại giao, thay đổi hình ảnh của Trung Quốc từ một quốc gia tranh đấu cho cách mạng thành một nước "nạn nhân" của Liên Xô và Việt Nam trong các tham vọng địa - chính trị cũng như lấy lý do Việt Nam đưa quân vào Cam-pu-chia để tiến hành gây mất ổn định ở biên giới phía Bắc của Việt Nam với cái gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học" và duy trì sự căng thẳng đọc tuyến biên giới Trung - Việt nói riêng, quan hệ Trung - Việt nói chung trong một thời gian dài.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 07:56:33 pm »

2.2. CAM-PU-CHIA TRONG CÔNG CUỘC HỒI SINH ĐẤT NƯỚC VÀ BẢO VỆ THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG

2.2.1. Tình hình Cam-pu-chia sau giải phóng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia (KPRP), được sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam, nhân dân Cam-pu-chia bước vào công cuộc hồi sinh dân tộc và xây dựng phát triển đất nước: Nạn đói nhanh chóng bị đẩy lùi; sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được phục hồi; trường học, bệnh viện và các dịch vụ xã hội khác được mở lại; đập tan âm mưu phá hoại, phản kích của Khơ-me Đỏ; giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ ở các cấp; kiểm soát tình hình trên cả nước, đẩy quân địch vào thế bị động và suy yếu; Nhà nước PRK thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước... Tuy nhiên, PRK chưa có sự công nhận của đông đảo các nước và tổ chức quốc tế. KPRP về danh nghĩa là đảng cầm quyền tại Cam-pu-chia, nhưng Đảng vừa mới được xây dựng lại từ đầu nên gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo đất nước và đối phó với sự quay trở lại của Khơ-me Đỏ. Đất nước Cam-pu-chia được giải phóng nhưng nền độc lập luôn trong tình trạng bị đe dọa bởi các nước lớn và thế lực thù địch bên ngoài sử dụng các phe phái Khơ-me phản động để lật đổ chính quyền nhân dân.


Tuy bị thất bại nhanh chóng nhưng lực lượng Pôn Pốt vân chưa tan rã hoàn toàn. Chúng vẫn còn khoảng hơn 4 vạn tên1 (Báo cáo của B68 tới Ban Bí thư về tinh hình Cam-pu-chia sau giải phóng đến 14-4-1979. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương, Phòng 34, ĐVBQ số 5), cùng hệ thống chỉ huy từ Trung ương đến các quân khu, mặt trận. Lực lượng này được sự giúp sức của các thế lực bên ngoài, dựa vào địa bàn hiểm trở dọc biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan để củng cố tổ chức, chấn chỉnh lực lượng từ đó tổ chức các cuộc phản kích nhằm giành lại chính quyền. Chúng liên tiếp đưa quân vào sâu trong nội địa để chống phá chính quyền cách mạng, hù dọa, khủng bố, trấn áp người dân. Thậm chí một số nơi chúng đã thâm nhập, cài cắm lực lượng, xây dựng các tổ chức ngầm để phá hoại công cuộc tái thiết đất nước của chính quyền và của nhân dân. Ngày 15 tháng 12 năm 1979, Khơ-me Đỏ thành lập "Mặt trận đoàn kết yêu nước dân chủ Cam-pu-chia" và đưa Khiêu Xăm-phon lên làm Thủ tướng của Nhà nước Cam-pu-chia Dân chủ. Trước đó, ngày 5 tháng 3 năm 1979, Son San thành lập lực lượng vũ trang "Mặt trận giải phóng dân tộc nhân dân Khơ-me" (KPNLF) đứng chân trên đất Thái Lan và thành lập Đảng Dân chủ Tự do Phật giáo, lực lượng của Son San được tập hợp từ 5 nhóm Khơ-me vũ trang do Thái Lan nuôi dưỡng. Không chịu lép vế, ngày 23 tháng 3 năm 1981, Xi-ha-núc thành lập "Mặt trận thống nhất dân tộc vì độc lập, hoà bình, trung lập và hoà hợp Cam-pu-chia" (FUNCINPEC).


Dưới sự dàn xếp và gây sức ép của một số nước lớn và thế lực thù địch, ba phái Khơ-me phản động, từng là kẻ thù của nhau đã cùng ngồi lại thoả hiệp, hình thành Chính phủ Liên hiệp ba phái. Sau nhiều lần gặp nhau để bàn bạc, thống nhất cơ cấu tổ chức và các vấn đề kỹ thuật cũng như có sự thoả thuận giữa các nước lớn và ASEAN ngày 22 tháng 6 năm 1982, ba phái Khơ-me phản động chính thức ký kết việc thành lập Chính phủ liên hiệp ba phái - "Liên minh Chính phủ Cam-pu-chia Dân chủ" (CGDK) tại Thủ đô Cu-a-la Lăm-pơ/Ma-lai-xi-a nhằm chống lại PRP. CGDK đã đề ra mục đích, nguyên tắc hoạt động và thành phần cơ cấu, cụ thể: về mục đích: huy động lực lượng "giải phóng" Cam-pu-chia; thực hiện Tuyên bố của quốc tế và Nghị quyết của Liên hợp quốc về Cam-pu-chia. Về nguyên tắc: mang khuôn mẫu của Cam-pu-chia Dân chủ, bảo vệ ghế đại diện của Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc1 (Tháng 10 năm 1983, CGDK được các nước lớn ủng hộ để ngồi vào ghế đại diện của Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc); điều hành hoạt động theo công thức tay ba, không thiên lệch; áp dụng nguyên tắc đồng thuận, về cơ cấu CGDK, gồm: Xi-ha-núc làm Chủ tịch, Son San làm Thủ tướng, Khiêu Xăm-phon làm Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, về lực lượng vũ trang của CGDK, bao gồm: phái Khơ-me Đỏ khoảng 50.000 quân, do Pôn Pốt chỉ huy; phái Son San khoảng 4.000 quân; phái Xi-ha-núc khoảng 3.000 quân. Trong thành phần, cơ cấu tổ chức của CGDK, thực chất do Khơ-me Đỏ nắm vai trò chủ chốt bởi lực lượng này có thực lực. Chính trường Cam-pu-chia lúc này tồn tại hai vùng kiểm soát, hai chính quyền, hai quân đội.


Sau khi ra đời, CGDK đã đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Cam-pu-chia ở trong nước, yêu cầu quốc tế cô lập về chính trị, ngoại giao đối với Nhà nước và Chính phủ PRP; tuyên truyền chống Việt Nam và yêu cầu quốc tế gây áp lực buộc Việt Nam rút toàn bộ quân đội khỏi Cam-pu-chia... Những áp lực cả trong nước và quốc tế đã làm cho PRP còn non trẻ gặp rất nhiều khó khăn, cả trong chính sách đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy CGDK là một liên minh không vững chắc, bởi cả ba phái đều theo đuổi những mục tiêu, tham vọng riêng và có quá nhiều mâu thuẫn, khác biệt về quan điểm chính trị. Các cuộc xung đột giữa lực lượng của Son San, Xi-ha-núc với Khơ-me Đỏ thường xuyên xảy ra ở khắp mọi nơi. Cùng với đó là xung đột giữa lực lượng PRP và ba lực lượng Khơ-me phản động, nhất là Khơ-me Đỏ đã đưa Cam-pu-chia trở thành một cuộc nội chiến khốc liệt. Sau nhiều lần lên tiếng tuyên bố sẽ từ chức, giữa năm 1988, Xi-ha-núc đã từ chức Chủ tịch CGDK, đồng thời giao việc quản lý FUNCINPEC lại cho con trai là Ra-na-rít. Khi không còn là thành viên của CGDK, Xi-ha-núc nói lên quan điểm của riêng mình là không đại diện cho phe phái nào. Trên cơ sở đó, Xi-ha-núc đã vận động tích cực cho cuộc gặp gỡ nội bộ của các phe nhóm chính trị ở Cam-pu-chia, cụ thể là PRK và ba phái trong CGDK.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 07:58:30 pm »

2.2.2. Cách mạng Cam-pu-chia trong công cuộc hồi sinh đất nước và bảo vệ thành quả cách mạng

Về chính trị, PRK chủ trương đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, do KPRP lãnh đạo; tập trung xây dựng và củng cố chính quyền các cấp thực sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân; đảm bảo đầy đủ quyền tự do dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh dựa trên lợi ích của nhân dân; tiến hành cải cách hành chính sâu rộng để bộ máy và phương pháp làm việc thực sự là vì dân; đấu tranh bảo vệ chính quyền, bảo vệ nền độc lập và bảo vệ nhân dân, tập trung mũi nhọn đấu tranh ngăn chặn thành công ý đồ quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ.


Về kinh tế, PRK tập trung ổn định đời sống nhân dân, nhanh chóng giải quyết nạn đói; khôi phục và phát triển sản xuất, từng bước xây dựng phương thức sản xuất mới, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Ngân hàng Quốc gia nhân dân Cam-pu-chia được thành lập và ngày 20 tháng 9 năm 1980, Ngân hàng đã phát hành đồng tiền Riel phục vụ phân phối, lưu thông1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia (1930-2017), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.95) và quy định giá cả của một số mặt hàng lương thực thiết yếu, đồng thời xây dựng hệ thống tiền lương. Đến năm 1985, các cơ sở thương nghiệp quốc doanh được thành lập tới các huyện, thị xã. Các ngành công nghiệp thiết yếu như điện, cơ khí, công nghiệp nhẹ, hoá chất, công nghiệp thực phẩm nhanh chóng được khôi phục, đi vào hoạt động phục vụ dân sinh...


Về quốc phòng - an ninh, PRK thực hiện nền quốc phòng toàn dân với ba nội dung: toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc; xây dựng ba thứ quân (chủ lực, địa phương, dân quân-du kích); xây dựng lực lượng công an nhân dân. Chính vì vậy, chỉ sau gần 2 năm, Quân đội cách mạng Cam-pu-chia đã có khoảng 20.000 người và xây dựng sư đoàn đầu tiên. Năm 1983, lực lượng chủ lực đã lên tới 83.000 người; hải quân, không quân, pháo binh... đều được củng cố và ngày càng phát triển. Thời kỳ này, các lực lượng vũ trang Cam-pu-chia phối hợp chặt chẽ với Quân tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh bại những âm mưu và hành động chống phá cách mạng Cam-pu-chia của các lực lượng Khơ-me phản động, giữ vững và củng cố chính quyền; làm chủ và kiểm soát tình hình an ninh, trật tự trên cả nước; ngăn chặn thành công hành động chống phá cách mạng, âm mưu quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ.


Về văn hóa - xã hội, PRK chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hoá mới trên cơ sở giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc; ngăn chặn mọi ảnh hưởng độc hại của nền văn hoá phương Tây. Chỉ trong thời gian ngắn, PRK đã khôi phục lại ngành văn hoá nghệ thuật, thông tin, báo chí, điện ảnh, thể thao; khôi phục lại các ngôi chùa Phật giáo, các loại hình tôn giáo khác được PRK tạo điều kiện phát triển. Trong lĩnh vực y tế, PRK bảo đảm cung cấp dịch vụ với chất lượng, hiệu quả, công bằng, chi phí ít, ổn định, tập trung vào nông thôn, bảo vệ người có nguy cơ mắc bệnh cao, xây dựng năng lực, phát triển nguồn nhân lực và củng cố các đối tác nhằm nâng cao thường xuyên sức khoẻ và thế lực của mọi người dân, tạo cho người dân có những cơ hội và khả năng tham gia tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội... đã nhanh chóng góp phần tạo đà cho cách mạng Cam-pu-chia tiến lên. Tuy nhiên, do hệ luỵ bởi sự tàn phá ghê gớm dưới chế độ Pôn Pốt cũng như do phải tập trung nhân lực, vật lực cho công cuộc bảo vệ đất nước trước sự chống phá của các lực lượng Khơ-me phản động nhất là quyết tâm ngăn chặn sự quay trở lại nắm chính quyền của Khơ-me Đỏ nên việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của Canvpu-chia giai đoạn 1989-1999 còn gặp nhiều khó khăn.


Về đối ngoại, PRK đẩy mạnh liên minh chiến đấu với Việt Nam, Lào; thúc đẩy thiết lập ngoại giao với các nước, trong đó ưu tiên các nước xã hội chủ nghĩa như: Việt Nam, Liên Xô, Cu-ba, Lào... Chỉ trong một thời gian ngắn, Cam-pu-chia đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 18 nước, nhiều nước đã đặt Đại sứ quán tại thủ đô Phnôm Pênh. Đến cuối năm 1980 đã có 29 nước và 2 phong trào quốc tế công nhận PRK. Tuy nhiên "vấn đề Cam-pu-chia" ngày càng bị quốc tế hóa cao và đưa vào chương trình nghị sự của Liên hợp quốc. Điều này càng trở nên phức tạp khi Trung Quốc, Mỹ, phương Tây và một số nước ASEAN ủng hộ CGDK, bao vây cô lập PRK, tăng cường gây sức ép đối với PRK để giải quyết "vấn đề Cam-pu-chia" theo hướng có lợi cho CGDK.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 07:59:35 pm »

2.3. TÌNH HÌNH CAM-PU-CHIA TRONG TIẾN TRÌNH ĐI ĐẾN GIẢI PHÁP CHÍNH TRỊ VÀ THỰC THI HIỆP ĐỊNH PA-RI

2.3.1. Tình hình chung

Cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, tình hình chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, tuy nhiên xu hướng hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển đã xuất hiện; nhiều nước, nhất là các nước lớn đã tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại để mở rộng quan hệ quốc tế, mối quan hệ giữa nhiều quốc gia được cải thiện, ở Đông Nam Á, xu thế đối thoại giữa ba nước Đông Dương và các nước ASEAN được nhen nhóm, từng bước chuyển từ đối đầu sang vừa hợp tác, vừa đấu tranh1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sad, tr.114). Về tình hình Cam-pu-chia, KPRP tiếp tục giành và giữ được chính quyền, nhưng đất nước vẫn trong tình trạng vừa có hòa bình vừa có chiến tranh. Các lực lượng Khơ-me phản động, mà nòng cốt là Khơ-me Đỏ, thường xuyên hoạt động phá hoại, gây mất ổn định. Mỹ, phương Tây, ASEAN, Liên hợp quốc chưa công nhận PRK, tiếp tục ủng hộ Khơ-me Đỏ chống lại Việt Nam. Về kinh tế, do phải tập trung nhân lực, vật lực cho công cuộc bảo vệ đất nước, ngăn chặn sự trở lại nắm chính quyền của chế độ Khơ-me Đỏ nên việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.


Để đáp ứng nguyện vọng của người dân mong muốn sống trong hoà bình, chấm dứt đổ máu vô nghĩa, vấn đề đặt ra lúc này đối với KPRP là phải đấu tranh, tìm ra giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia. Được sự hỗ trợ của quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Việt Nam, kể từ năm 1987, các cuộc đàm phán để giải quyết vấn đề Cam-pu-chia được tiến hành liên tiếp qua nhiều diễn đàn như: các cuộc gặp riêng giữa Hun-xen và Xi-ha-núc; diễn đàn không chính thức (JIM-1, JIM-2) diễn đàn Hội nghị quốc tế Pa-ri, diễn đàn P5, diễn đàn Xô - Trung, Xô - Mỹ, Việt - Trung, Việt - Mỹ... Tại JIM-2 các bên ở Cam-pu-chia đã thoả thuận thành lập SNC gồm đại diện của 4 phái.


Ngày 23 tháng 10 năm 1991, Hiệp định Pa-ri về giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung đột Cam-pu-chia đã được ký kết. Theo Hiệp định Pa-ri SNC được coi là cơ quan quyền lực hợp pháp duy nhất trong thời kỳ quá độ, đại diện cho Cam-pu-chia về mặt đối ngoại, giữ ghế Cam-pu-chia ở Liên hợp quốc, chịu trách nhiệm tiến hành các cuộc bầu cử. SNC chỉ đưa ra những khuyến nghị với Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc tại Cam-pu-chia (UNTAC), còn quyền tối hậu quyết định thuộc về đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Trong thời gian cai quản Cam-pu-chia UNTAC còn có nhiều quyết định gây bất lợi cho CPP. UNTAC yêu cầu các phái Cam-pu-chia thả hết "tù chính trị" theo nguyên tắc bầu cử đa đảng, tự do đã được các bên thống nhất. Nhưng thực chất, đa số những kẻ chống đối Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP), những tên tội phạm cũng trà trộn trong đó, được trả tự do. Sau khi ra tù, những phần tử chống đối này tập hợp, đăng ký và được UNTAC cho phép thành lập các đảng phái đối lập với CPP. Giai đoạn trước bầu cử năm 1993, Cam-pu-chia có khoảng 20 đảng phái được phép công khai hoạt động, đều tiến hành các cuộc vận động, công kích lẫn nhau; thậm chí diễn ra nhiều vụ ám sát, bắt cóc, tấn công vào các trụ sở đảng của nhau. Sau tổng tuyển cử năm 1993, trên thực tế Cam-pu-chia vẫn còn tồn tại hai vùng kiểm soát, hai chính quyền, hai quân đội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #26 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 08:02:57 pm »

2.3.2. Tình hình cách mạng Cam-pu-chia

2.3.2.1. Cách mạng Cam-pu-chia trong tiến trình đi đến giải pháp chính trị

Ngày 30 tháng 4 năm 1989, RPK đổi tên thành Nhà nước Cam-pu-chia (SOC) và tuyên bố trung lập vĩnh viễn1 (Stephen M. Hill (2004), United Nations Disarmanent Processes in Intra-state Conflict, New York: Palgrave Macmillan, p.33). Tại Đại hội bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1991, KPRP đã đổi tên thành Đảng Nhân dân Cam-pu-chia (CPP). Cách mạng Cam-pu-chia bước sang một giai đoạn mới, chuyển hướng đấu tranh, từ đấu tranh quân sự là chủ yếu, sang thực hiện phương châm kết hợp tiến công quân sự với chính trị, ngoại giao để không bị gạt ra khỏi giải pháp chính trị và hạn chế tối đa sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ của CPP/SOC. Tháng 9 năm 1989, Việt Nam hoàn thành việc rút quân khỏi Cam-pu-chia. Những chiến thắng trước đó của Quân đội RPK với sự phối hợp, hỗ trợ đắc lực của Quân tình nguyện Việt Nam trong mùa khô 1984-1985 đã bẻ gãy các cuộc tiến công, chặn đứng những hoạt động phá hoại của các lực lượng Khơ-me Đỏ ở biên giới và trong nội địa; làm suy giảm đáng kể lực lượng vũ trang cũng như uy thế chính trị của chúng và tạo thêm sự tự tin, vị thế lớn hơn cho CPP/SOC trong việc đàm phán với các phe nhỏm chính trị khác.


Về mặt quân sự, quân đội của CPP/SOC phải tự đảm đương nhiệm vụ đáp trả các cuộc tấn công phá hoại, gây rối của các lực lượng Khơ-me phản động, chủ yếu là Khơ-me Đỏ, bảo vệ đất nước, chế độ. Quân đội CPP/ SOC đã đập tan các cuộc phản công chiến lược 1989-1990, 1990-1991 của lực lượng CGDK, mà "Cam-pu chia Dân chủ" của Pôn Pốt là lực lượng nòng cốt. CGDK coi việc Việt Nam rút toàn bộ Quân tình nguyện khòi Cam-pu-chia là thời cơ chiến lược để lật đổ SOC bằng sức manh quân sự. Chúng đã phối hợp, tập trung lực lượng quy mô lớn, có cả pháo binh và xe tăng, xuất phát từ các căn cứ trên đất Thái Lan cùng lúc tiến công từ nhiều hướng hòng giành quyền kiểm soát một số khu vực chiến lược dọc biên giới để tiến tới mở rộng quy mô chiến tranh trong nội địa Cam-pu-chia và giành chính quyền. Lực lượng CGDK nhanh chóng chiếm được vùng Tây Bắc Cam-pu-chia, gây sức ép và lôi kéo được một số lực lượng ở cơ sở phum, xã và tiếp tục tấn công về phía Nam, hướng về Thủ đô Phnôm Pênh. Nhưng quân đội của CPP/SOC đã đập tan âm mưu đó, giữ vững ưu thế trên chiến trường, quản lý trên 90% lanh thổ và dân cư từ thành thị đến các vùng nông thôn hẻo lánh1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sđd, tr.114). Phó Chủ tịch Hun-xen tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương CPRP lần thứ 8, khóa V từ ngày 16 đến 20 tháng 1 năm 1989 đã khẳng định: "Năm 1988 là năm quan trọng đối với chúng ta và năm 1989 được coi là năm quyết định cả về chính trị lẫn quân sự... Chúng ta vẫn làm chủ được tình hình, qua đó cho thấy sức mạnh sinh động của chúng ta".


Về chính trị, ngoại giao, CPP/SOC cũng tích cực đẩy mạnh đấu tranh. Trên cơ sở nắm chắc diễn biến tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, CPP/SOC tích cực phối hợp với Liên hợp quốc, các nước khu vực và trên thế giới, tham gia đàm phán và đạt được một số thỏa thuận, nhượng bộ với các phe phái chính trị khác ở Cam-pu-chia để tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như bảo vệ thành quả cách mạng giành được trước đó. Cụ thể, soc đã tham gia JIM-1 (7.1988), JIM-2 (2.1989), các hội nghị quốc tế về vấn đề Cam-pu-chia, các cuộc gặp giữa Hun-xen và Xi-ha-núc... Qua các cuộc gặp này, SOC và các phái Khơ-me đã đạt được thỏa thuận: (i) Cần thiết phải có một cơ chế kiểm sát quốc tế có hiệu quả để giám sát việc rút quân đội Việt Nam; (ii) Chấm dứt viện trợ quân sự cho các phe phái tham chiến; (iii) Tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước; (iv) Vai trò của Liên hợp quốc và tổ chức một hội nghị quốc tế1 (Trần Nam Tiến, "Quá trình đấu tranh hòa hợp dân tộc của các phe nhóm chính trị ở Cam-pu-chia trước khi ký Hiệp định Pa-ri (10.1991)", Kỷ yếu hội thảo Đề tài độc lập cấp quốc gia Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999, những vấn đề đặt ra trong quan hệ giữa Việt Nam với Cam-pu-chia và các nước khác, Hà Nội, 2019, tr.96). Bên cạnh đó, Hun-xen phải nhượng bộ với Xi-ha-núc về việc thiết lập hệ thống chính trị đa đảng, trung lập được đưa vào trong hiến pháp Cam-pu-chia sau này. Tuy nhiên, quá trình đấu tranh chính trị, CPP/SOC đã kiên quyết không đàm phán, hợp tác với lực lượng Khơ-me Đỏ, bởi như Thủ tướng Hun-xen phát biểu: "Về tội ác của bọn Pôn Pốt vẫn chưa trừng trị, nay lại cho họ có vai trò cả về chính trị lẫn quân sự, đây là điều mà nhân dân Cam-pu-chia không thể chấp nhận được"2 (Keo Ba-phnom, Xăm-đéc Hun-xen và lời cam kết lịch sử, 2010, tr.131). Từ ngày 2 đến 3 tháng 5 năm 1989, Xi-ha-núc, Hun-xen và Son San đã có cuộc gặp tại Gia-các-ta và đi đến thống nhất thành lập SNC do Xi-ha-núc đứng đầu. Trải qua nhiều cuộc gặp gỡ, đàm phán, thậm chí có những thời điểm bế tắc bởi các tranh cãi về sự tham gia của Khơ-me Đỏ vào tiến trình đàm phán hòa bình ở Cam-pu-chia, cũng như vai trò của Xi-ha-núc trong SNC, CPP/SOC tiếp tục kiên trì đấu tranh với các phe phái để loại bỏ khả năng quay trở lại nắm quyền của Khơ-me Đỏ, nhượng bộ để Xi-ha-núc làm Chủ tịch SNC. Sau nhiều cuộc họp Hun-xen và Xi-ha-núc cuối cùng đã ký Thông cáo chung Tô-ky-ô, thoả thuận thành lập SNC với các thành phần ngang nhau (tháng 6.1990). Tuy nhiên, Trung Quốc đưa ra công thức 13 cho SNC là: Hun-xen 6 ghế, Xi-ha-núc 2 ghế, Son San 2 ghế, Khơ-me Đỏ 2 ghế và Xi-ha-núc làm Chủ tịch. Ngày 9 và 10 tháng 9 năm 1990, Hội nghị không chính thức 4 bên Cam-pu-chia dưới sự chủ tọa của 2 đồng chủ tịch Hội nghị quốc tế Pa-ri về Cam-pu-chia (PICC) và phái viên của Liên hợp quốc A-mét đã ra tuyên bố chấp nhận Văn kiện khung và thành lập SNC là cơ quan hợp pháp, cơ quan quyền lực duy nhất tiêu biểu cho độc lập, chủ quyền và thống nhất của Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ. SNC gồm các cá nhân tiêu biểu có uy tín, đại diện cho Cam-pu-chia về mặt đối ngoại và giữ ghế của Cam-pu-chia tại Liên hợp quốc. Vào thời điểm giải pháp toàn bộ được ký kết, SNC sẽ chuyển giao cho Liên hợp quốc mọi quyền hành cần có, để bảo đảm thực hiện thỏa thuận toàn bộ, kể cả những quyền liên quan đến tổ chức các cuộc tuyển cử tự do công bằng và những lĩnh vực quản lí hành chính thích họp của Cam-pu-chia. Các quyết định của SNC sẽ được thông qua trên nguyên tắc nhất trí. Ngày 20 tháng 9 năm 1990, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 668 gồm 11 điểm về việc Cam-pu-chia, công nhận SNC, kêu gọi chấm dứt nội chiến và chỉ định đại diện Cam-pu-chia giữ ghế ở Liên hợp quốc. Tại Hội nghị Pát-tay-a/Thái Lan (ngày 22 - 26.6.1991), Hun-xen chấp nhận công thức 13 và Xi-ha-núc làm Chủ tịch SNC, thoả thuận về quốc kỳ và cử đoàn đi Liên hợp quốc. Ngày 19 tháng 9 năm 1991, SNC họp dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc tại New York đã đạt được thỏa thuận về giải quyết vấn đề Cam-pu-chia theo một giải pháp toàn bộ dựa trên Văn kiện khung của Liên hợp quốc với những nội dung cơ bản sau: Xi-ha-núc được cử làm Chủ tịch SNC (không có Phó Chủ tịch), thành lập Ban Thư ký SNC, quy định cờ, quốc ca, nơi đặt trụ sở SNC, cử đại diện dự một số Hội nghị quốc tế; SNC đại diện cho Cam-pu-chia dự họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, giảm 70% lực lượng các bên. Cam-pu-chia theo chế độ dân chủ tự do, đa đảng; hệ thống bầu cử theo tỉ lệ đại diện các tỉnh, bầu theo đảng phái, lấy tỉ lệ theo khu vực, không lấy theo tổng hợp chung toàn quốc; sẽ ký Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia và ngay sau đó Liên hợp quốc sẽ đưa nhân viên vào Cam-pu-chia để giám sát, tiến hành Tổng tuyển cử trong vòng 18 tháng sau khi ký Hiệp được ký kết.


Ngày 23 tháng 10 năm 1991, Hiệp định hòa bình về vấn đề Cam-pu-chia diễn ra tại Pa-ri đã được ký kết, quy định duy trì việc ngừng bắn, giải giáp và giải ngũ 70% các lực lượng quân sự của các phái Cam-pu-chia dưới sự giám sát của SNC như là điều kiện tiên quyết cho quá trình chuyển tiếp; các quốc gia khác phái rút quân khỏi Cam-pu-chia, chấm dứt can thiệp tài chính, quân sự, bảo đảm chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Cam-pu-chia; tiến hành tổng tuyển cử vào năm 1993. Thời gian chuyển tiếp đến khi tiển hành tổng tuyển cử năm 1993 và thành lập chính phủ liên hiệp, SNC phải chuyển giao quyền quản lý, điều hành Cam-pu-chia cho cơ quan đại diện của Liên hợp quốc là UNTAC; chỉ được đưa ra các khuyến nghị với UNTAC, còn quyền quyết định cuối cùng thuộc về đại diện của Liên hợp quốc.


Thông qua quá trình đấu tranh quân sự nhằm bảo vệ quyền kiểm soát phần lớn lãnh thổ với các phe phái phản động Cam-pu-chia cũng như đấu tranh chính trị, ngoại giao trên bàn đàm phán ở các hội nghị, thực lực cách mạng Cam-pu-chia được củng cố một bước quan trọng. Chính quyền SOC từng bước phá được thế bao vây, cấm vận; từng bước tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế trong việc cải thiện đời sống người dân, tìm giải pháp hòa bình cho vấn đề Cam-pu-chia cũng như cô lập, loại bỏ Khơ-me Đỏ khỏi chính trường Cam-pu-chia. SOC đã xây dựng được một hệ thống hành chính thống nhất ở khoảng 80% đất nước, cả thành thị đến nông thôn. Lực lượng vũ trang phát triển đều khắp, tập trung lực lượng quân sự đông và mạnh nhất đóng ở các vùng chiến lược quan trọng. Thế trận quốc phòng toàn dân bước đầu được hình thành trên phần lớn lãnh thổ Cam-pu-chia. CPP gây dựng được cơ sở rộng khắp đến các địa phương với số lượng lên đến hàng vạn đảng viên. CPP cũng đã xây dựng các "tổ nòng cốt" gồm những người là nạn nhân hay cỏ thân nhân bị hãm hại dưới chế độ diệt chủng của Khơ-me Đỏ để xây dựng các tổ chức đoàn thể và chính quyền trong nhân dân ở khắp cả nước. Đây là tiền đề cho thành công của CPP trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức quần chúng, chính quyền cơ sở vững chắc ở tất cả các địa phương trong cả nước. Lãnh đạo CPP/SOC bước đầu đã có kinh nghiệm nhất định trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, cũng như kinh nghiệm đấu tranh về chính trị, ngoại giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #27 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 08:04:14 pm »

2.3.2.2. Cách mạng Cam-pu-chia thời kỳ quá độ thực thi Hiệp định Pa-ri

Thực hiện Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia (23.10.1991), Nhà nước SOC phải tạm thời nhượng lại chủ quyền cho Liên hợp quốc trong vòng 2 năm và thay bằng SNC gồm 13 thành viên theo công thức 6+2+2+2+1. Quân đội của SOC hợp nhất với lực lượng Quân đội của FUNCINPEC/ Xi-ha-núc và quân đội của KPNLF/Son San thành lập Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia (tháng 7.1993). Các bên đã thoả thuận công thức phân chia quân đội theo tỉ lệ: SOC 60%, FUNCINPEC 30%, KPNLF 10%. Sau khi thành lập, Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia được biên chế thành 12 sư đoàn, 3 lữ đoàn đặc công (sơn cước), 3 lữ đoàn công binh và 1 trung đoàn dù.


Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia quy định UNTAC có quyền hạn rất lớn, trực tiếp quản lý Cam-pu-chia trong thời kỳ quá độ, từ khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực cho đến khi Quốc hội lập hiến Cam-pu-chia được bầu thông qua cuộc bầu cử "tự do và công bằng" do Liên hợp quốc tổ chức, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp mới và thành lập Chính phủ mới. Trong giai đoạn này, CPP/SOC gặp phải những khó khăn khác; phải tạm thời trao cho UNTAC quyền quản lý, điều hành đất nước CPP phải vừa cùng với UNTAC duy trì hòa bình, ngăn chặn Khơ-me Đỏ, vừa phải đấu tranh ngăn chặn UNTAC câu kết với các phe nhóm, đảng phái khác đòi giải tán bộ máy SOC để thành lập chính phủ liên hiệp bốn bên trung ương đến địa phương trong giai đoạn trước Tổng tuyển cử năm 1993.


Trước các thách thức đó, CPP trước hết kiên quyết đấu tranh không chấp nhận việc thành lập chính phủ liên hiệp bốn bên với sự tham gia của Khơ-me Đỏ; đồng thời khéo léo với UNTAC để duy trì lực lượng và vị thế chính trị ở chính trường Cam-pu-chia. Mặt khác, CPP tích cực chuẩn bị mọi mặt cho Tổng tuyển cử năm 1993, huy động mọi tiềm lực để ngăn chặn Khơ-me Đỏ (kể cả trước và trong khi diễn ra bầu cử) nhằm duy trì hoà bình và ổn định tại Cam-pu-chia. Cụ thể:


Một là, CPP/SOC khéo léo tìm cách lôi kéo Xi-ha-núc và Hoàng gia về phía mình, qua đó một mặt sử dụng hình ảnh này để vận động nhân dân, tỏ thái độ thiện chí với phương Tây; mặt khác để tạo một liên minh chặt chẽ và hy vọng giành thắng lợi trong tổng tuyển cử dưới ngọn cờ của Xi-ha-núc. Trong quá trình đàm phán để đi đến Hiệp định Pa-ri, CPP/SOC từ chỗ phản đối quyết liệt đã chuyển sang chấp nhận vai trò Chủ tịch SNC của Xi-ha-núc. CPP/SOC tích cực tác động và tranh thủ uy tín của Xi-ha-núc trong nước và quốc tế, khai thác các mâu thuẫn giữa ba phái để phân hóa các lực lượng Khơ-me phản động, thuyết phục các nước không ủng hộ, lên án và tiến tới loại bỏ Khơ-me Đỏ khỏi đời sống chính trị Cam-pu-chia. CPP/SOC công khai tuyên bố ủng hộ, kể tục cộng đồng xã hội bình dân của Xi-ha-núc; đồng thời, tăng cường tiếp xúc với các nước như Úc, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a, Lào... để bày tỏ quan điểm, đường lối của CPP/SOC, làm cơ sở tìm lối thoát cho các bế tắc chính trị ở Cam-pu-chia cũng như thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập.


Hai là, CPP/SOC luôn thể hiện thái độ triệt để thi hành Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia như: ngừng bắn; tự giác chấp nhận các văn bản của Liên hợp quốc về quyền con người; cho phép các phe phái hoạt động công khai và tự do đi lại trên cả nước; bàn giao quyền quản lý, điều hành đất nước Cam-pu-chia trên thực tế cho lực lượng UNTAC; giải giáp 70% lực lượng quân đội; trả tự do cho các tù nhân chính trị... CPP/SOC ủng hộ Liên hợp quốc trong việc tiến hành tổng tuyển cử "tự do và công bằng" giữa các đảng phái chính trị ở Cam-pu-chia. Hun-xen đi Mỹ, Nhật Bản, Pháp kêu gọi các nước này đóng góp tiền, gửi lực lượng tham gia UNTAC để thực thi các nhiệm vụ của lực lượng này tại Cam-pu-chia cũng như ủng hộ đường lối của CPP/SOC.


Ba là, để phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới, CPP/SOC đã có những điều chỉnh căn bản trong đường lối lãnh đạo cũng như trong thực hiện các chính sách thực tiễn. Ngày 27 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Cam-pu-chia đã họp bất thường thông qua việc sửa đổi Hiến pháp Nhà nước Cam-pu-chia; thông qua Luật biểu tình nhằm thúc đẩy chính sách hòa giải dân tộc và thực hiện Hiệp định Pa-ri1 (Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, Sđd, tr.123). CPP/SOC tiếp tục giương cao ngọn cờ chống chế độ Khơ-me Đỏ diệt chủng, cương quyết tổ chức các hoạt động đánh trả Khơ-me Đỏ do chúng ngoan cố cự tuyệt đi vào thực hiện giai đoạn 2 của Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành các vụ đánh chiếm địa bàn mới; kết hợp tập hợp quần chúng; tổ chức sắp xếp lại bộ máy chính quyền và nhân sự, đưa phần lớn cán bộ Đảng vào bộ máy nhà nước và loại bỏ một số cán bộ tham nhũng; chuẩn bị vận động cho tổng tuyển cử. Đáng chú ý, CPP/SOC điều chỉnh chủ trương, chính sách lớn, gồm các nội dung: (i) Không xây dựng Cam-pu-chia thành một nước tư bản chủ nghĩa; (ii) Không đi theo mô hình chủ nghĩa xã hội như trước đây, mà hướng Cam-pu-chia theo con đường dân tộc dân chủ; (iii) Đưa ra nhiều chính sách về ruộng đất, về tư hữu (để tranh thủ lòng dân trước bầu cử); (iv) Đổi tên đảng từ KPRP thành CPP và thu hút những người ủng hộ vào đảng, lấy đạo Phật làm quốc đạo để thu hút quần chúng, giảm bớt tính chất cộng sản trong quan hệ với bên ngoài; (v) Giảm quan hệ với Việt Nam để tránh sự công kích của các đảng đối lập.


Tuy nhiên, trong giai đoạn này, CPP/SOC còn gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn, bè phái trong nội bộ của đảng; một bộ phận đảng viên của CPP tham nhũng bị xử lý; đặc biệt cán bộ và lực lượng vũ trang đều có tâm lý lo ngại quân đội bị giải tán; nền kinh tế bị lạm phát nghiêm trọng; nhân dân Cam-pu-chia vốn đã bị suy kiệt dưới chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ và hơn 10 năm sau ngày giải phóng nhưng vẫn phải chịu cảnh nghèo khó vì nội chiến, họ mong ước có một sự thay đổi hướng tới một cuộc sống yên ổn hơn; đặc biệt, một bộ phận nhân dân Cam-pu-chia cũng hy vọng lời hứa tái thiết lại đất nước của Liên hợp quốc và các nước tham gia ký kết, theo tinh thần của Hiệp định Pa-ri (23.10.1991) về vấn đề Cam-pu-chia nên đã ủng hộ các đảng phái chính trị khác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 08:07:18 pm »

2.3.3. Tình hình các đảng phái chính trị khác tại Cam-pu-chia

2.3.3.1. Phái Khơ-me Đỏ

Sau khi rút chạy khỏi Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979, lực lượng tàn quân Khơ-me Đỏ chủ yếu chạy sang Thái Lan và những vùng rừng núi ở phía Tây, Tây Nam, Tây Bắc và phía Bắc Cam-pu-chia; tiến hành củng cố lại tổ chức, lực lượng, biên chế thành các sư đoàn và trung đoàn độc lập. Trong lúc rút chạy, chúng đã cưỡng ép khoảng 30 vạn dân đi theo để bổ sung lực lượng, đồng thời thiết lập các trại tị nạn dọc biên giới Cam-pu-chia để xin viện trợ quốc tế và thực hiện ý đồ chiến lược: tiến hành chiến tranh du kích, tạo thế đánh du kích lâu dài để tiêu hao lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia và Quân tình nguyện Việt Nam... Ngay từ tháng 1 năm 1979, chúng đã tổ chức nhiều đợt phản kích với quy mô lớn nhằm "lật ngược thế cờ", đánh phá nhiều khu vực quan trọng như phản kích hòng chiếm lại Tà-keo, phản kích trên các trục Quốc lộ 2, 3, 4, 5, uy hiếp Thủ đô Phnôm Pênh. Tiếp đó, chúng đã tiến hành hàng loạt các hoạt động lấn chiếm, phá hoại vào một số vùng trọng điểm: Bát-tam-bang, Siêm Riệp, Prếch Vi-hia, Pu Xát, Công-pông Chnăng, thậm chí uy hiếp vào các vùng giáp ranh ở Tây Bắc thủ đô Phnôm Pênh lấn đất giành dân, tạo ra thế "da báo" trong nội địa. Ngày 31 tháng 8 năm 1979, Khơ-me Đỏ đưa ra cái gọi là "Mặt trận Dân chủ Đại đoàn kết dân tộc" và mời Xi-ha-núc làm Chủ tịch thay Khiêu Xăm-phon nhưng Xi-ha-núc từ chối. Ngày 15 tháng 12 năm 1979 Khơ-me Đỏ thành lập "Mặt trận Đoàn kết Yêu nước Dân chủ Cam-pu-chia" đưa Khiêu Xăm-phon lên làm Thù tướng cái gọi là "Nhà nước Cam-pu-chia dân chủ".


Sau những tổn thất do các đợt tấn công truy quét Khơ-me Đỏ của Quân đội cách mạng Cam-pu-chia và Quân tình nguyện Việt Nam, nhất là các chiến dịch mùa khô 1984-1985, cuối mùa mưa năm 1987-1988 lực lượng Khơ-me Đỏ bị tổn thất đáng kể. Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1988, có 2.738 sĩ quan và binh lính Pôn Pốt ra hàng. Tất cả các sư đoàn của Khơ-me Đỏ đều rệu rã, thậm chí có sư đoàn chỉ còn 60 người1 (Báo Quân đội nhân dân, ngày 26 tháng 1 năm 1989, tr.4). Tuy nhiên, do được các thế lực phản động "chống lưng" về chính trị, hỗ trợ tài chính, vũ khí và địa bàn đứng chân, lực lượng Khơ-me Đỏ vẫn duy trì quân số trên 10.000 tên, là lực lượng đối kháng chủ yếu về quân sự đối với SOC. Suốt một thời gian dài, một số nước lớn kiên trì ủng hộ Khơ-me Đỏ nói riêng, chính phủ liên minh ba phái (CGDK) nói chung. Còn Thái Lan đã "tích cực ủng hộ và giúp đỡ Khơ-me Đỏ trên mọi phương diện"1 (Trần Việt Thái (2019), "Bối cảnh quốc tế, khu vực và các nhân tố tác động tới tình hình Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999", Kỷ yếu hội thảo Đề tài độc lập cấp quốc gia Cách mạng Cam-pu-chia giai đoạn 1989-1999, những vấn đề đặt ra trong quan hệ giữa Việt Nam với Cam-pu-chia và các nước khác, Hà Nội, tr.9-26). Sau năm 1988 và kể cả khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia đã được ký kết, dù có sự điều chỉnh chính sách đối với các nước Đông Dương, Thái Lan vẫn không ngừng viện trợ cho Khơ-me Đỏ. Một quan chức Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ đã phát biểu: "Giờ đây, Thái Lan... trở thành nước viện trợ lớn nhất cho Khơ-me Đỏ"2 (Caig Etcheton, "Without any Pretensions, Dump the Kho-me Rouge", The Nation (Bangkok) ngày 28 tháng 9 năm 1993).


Trước xu thế phải đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, song Khơ-me Đỏ chủ trương dứt khoát không chờ đợi đi vào giải pháp chính trị cho vấn đề Cam-pu-chia, không mơ hồ dựa vào Hiệp định hòa bình Pa-ri mà phải tiếp tục chủ động tiến công giành thắng lợi bằng con đường quân sự. Thực hiện vừa đánh vừa đàm, chiếm đất đai, giành dân, gây mất ổn định xã hội, lấy sức mạnh trên chiến trường tạo lợi thế trong đàm phán, Khơ-me Đỏ tìm cách vừa tranh thủ, vừa phân hóa lực lượng các đối thủ chính trị, đồng thời lợi dụng những mâu thuẫn và sự thỏa hiệp về quyền lợi của các nước lớn đối với Cam-pu-chia để thực hiện ý đồ quay trở lại nắm quyền đất nước. Chúng nhận thức được rằng không có cơ hội nhận được sự ủng hộ của người dân Cam-pu-chia sau những tội ác diệt chủng. Chúng cũng không muốn từ bỏ quyền lực tại các vùng do chúng kiểm soát và giải giáp quân đội để đổi lại việc có thể tham gia vào tiến trình hòa bình ở Cam-pu-chia thông qua bầu cử tự do năm 1993 do Liên hợp quốc bảo trợ.


Chính vì vậy, ngay sau khi Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Cam-pu-chia (9.1989), Khơ-me Đỏ đã tiến hành các chiến dịch phản công lớn, đánh chiếm Pai-lin thành lập các căn cứ mới, đánh phá các vùng do chính quyền SOC kiểm soát, gây bất an, hoảng loạn từ các tỉnh miền Tây Cam-pu-chia kéo đến miền Bắc, miền Nam Cam-pu-chia. Hai căn cứ quan trọng nhất của Khơ-me Đỏ là An-long Veng và Pai-lin. Chúng tìm cách củng cố mở rộng các phum, xã tại các vùng căn cứ, dựa vào vùng nông thôn để hoạt động lâu dài; giải tán chính quyền cấp xã do SOC thành lập trước đó; lập hội đồng phum, xã ở cơ sở; kết hợp bạo loạn, lật đổ ở các thị trấn, thị xã... Lực lượng Khơ-me Đỏ luồn sâu vào các vùng nông thôn, dân cư để lôi kéo, vận động, xóa bỏ các cơ sở chính quyền của SOC, đặc biệt là chúng tổ chức các đợt pháo kích, đánh cắt giao thông và thảm sát hàng loạt Việt kiều nhằm kéo dài tiến trình bầu cử càng có lợi cho chúng. Tuy nhiên, trước các cuộc phản công của Quân đội SOC, Khơ-me Đỏ không thể tiến sâu vào trong nội địa Cam-pu-chia, đại đa số dân Cam-pu-chia tiếp tục nằm trong các vùng do chính quyền kiểm soát1 (Kelvin Rowley, Second Life, Second Death: The Kho-me Rouge After 1978, truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2019).


Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và sức ép của cộng đồng quốc tế, Khơ-me Đỏ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri. Khơ-me Đỏ tỏ thái độ tham gia thực hiện giai đoạn đầu của Hiệp định để có thành phần trong SNC. Tuy nhiên, ngay sau đó, Khơ-me Đỏ tìm mọi cách cản trở thi hành giai đoạn hai của Hiệp định Pa-ri, từ chối thực hiện các thỏa thuận đã được ký kết trong nội dung Hiệp định. Chúng coi thường UNTAC và Liên hợp quốc, không cho lực lượng UNTAC vào các vùng do chúng kiểm soát; thậm chí tấn công trực thăng của lực lượng UNTAC. Chúng không thực hiện việc tập trung và tiến hành giải giáp 70% lực lượng quân sự, cự tuyệt tổng tuyển cử. Khơ-me Đỏ tiếp tục dùng "vấn đề Duôn" (ám chỉ Việt Nam) để kích động chống Việt Nam; vu khống Việt Nam còn có Quân tình nguyện ở Cam-pu-chia, yêu cầu Liên hợp quốc kiểm soát việc lực lượng quân đội Việt Nam đang ở Cam-pu-chia. Chúng tiến hành nhiều vụ tấn công, giết hại hàng trăm Việt kiều, làm hàng ngàn người phải chạy tị nạn, gây ra khủng hoảng về người tị nạn ở Cam-pu-chia. Từ tháng 4 năm 1992, Khơ-me Đỏ tiến hành hàng loạt vụ tấn công nhằm vào người Việt với cái cớ là những người lính Việt Nam cải trang thành thường dân1 (Heder, Stepher R., Ledgerwood, Julie (1995), Propaganda, Politics and Violence in Cambodia: Democratic Transition Under United Nations Peackeeping, M.E. Sharp, p.98). Tháng 3 năm 1993, chúng tiến hành cuộc tấn công lớn nhất vào thường dân Việt Nam tại một làng ờ tỉnh Siêm Riệp giết chết 124 người Việt2 (Widyono, Benny (2008), Dancing in Shadows: Sihanouk, the Kho-me Rouge and the United Nations in Cambodia, Rowman & Littlefield, p.96). Trong năm 1994, liên tiếp các vụ tấn công người Việt xảy ra ở Cam-pu-chia... Các vụ tấn công này đã làm nhiều người Việt chết và khoảng 21.000 người phải bỏ lại nhà cửa, chạy tị nạn khỏi Cam-pu-chia1 (1. Ramses Amer (2013), "Domestic Political Change and Ethnic Minorities - A Case Study of the Ethnic Vietnamese in Cambodia", Asia- Pacifique Social Science Review, Vol. 13, N° 2, p.87-101). Sau Tổng tuyển cử năm 1993, Khơ-me Đỏ tuy bị cô lập và suy yếu hơn trước, song lực lượng còn lại tiếp tục được Thái Lan hỗ trợ nên vẫn nuôi tham vọng giành lại vị trí trên chính trường, tham gia Quốc hội và Chính phủ mà không phải trải qua tổng tuyển cử. Mục tiêu cơ bản lâu dài của Khơ-me Đỏ là tiếm quyền thông qua tiến công quân sự và chính trị, khoét sâu mâu thuẫn liên minh CPP - FUNCINPEC. Năm 1994, quân Khơ-me Đỏ tổ chức chiến dịch tiến công căn cứ Pai-lin, An-long Veng của quân đội Chính phủ Cam-pu-chia, uy hiếp đến tận Bát-tam-bang.


Thái độ bất hợp tác và các hành động phá hoại tiến trình hòa bình ở Cam-pu-chia của Khơ-me Đỏ đã gây ra những bất lợi cho chúng. Cộng đồng quốc tế bắt đầu thay đổi thái độ, lên án tội ác diệt chủng của chúng; các nước ủng hộ Khơ-me Đỏ trước đây đã giảm dần, rồi cắt các khoản viện trợ cho chúng, quay sang ủng hộ, viện trợ cho Chính phủ liên hiệp Cam-pu-chia. Hơn nữa, nội bộ lãnh đạo Khơ-me Đỏ cũng chia rẽ, mất đoàn kết, đấu đá, tranh giành quyền lực và không nhận được sự ủng hộ của các thành viên cấp thấp; hàng loạt binh lính Khơ-me Đỏ đào ngũ, nhất là vào năm 1996. Các yếu tố đó làm suy yếu và dẫn đến sự tan rã của lực lượng này. Giữa tháng 4 năm 1998, Pôn Pốt chết; tháng 12 năm 1998, Khiêu Xăm-phon đầu hàng Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đánh dấu sự chấm dứt tồn tại của lực lượng này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #29 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2026, 08:07:54 pm »

2.3.3.2. Phái Son San và phải Xi-ha-núc

Ngay sau khi chế độ Cam-pu-chia Dân chủ bị lật đổ, Son San đã thành lập KPNLF vào ngày 5 tháng 3 năm 1979, đứng chân trên đất Thái Lan để chống lại lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và quân đội cách mạng của RPK. KPNLF được tập hợp từ 5 nhóm Khơ-me tự do vũ trang do Thái Lan nuôi dưỡng. Phái này vốn từ lâu đã đứng ngoài vòng pháp luật, phải đứng chân trên đất Thái Lan, tiến hành các hoạt động chống phá Cam-pu-chia, kể cả dưới thời Khơ-me Đỏ. Son San vốn có lập trường chống cộng sản và đặc biệt chống Khơ-me Đỏ. Tuy nhiên, do sức ép của nhữngkẻ nuôi dưỡng, Son San chấp nhận hợp tác với Khơ-me Đỏ và Xi-ha-núc trong CGDK vào năm 1982 do Xi-ha-núc làm Chủ tịch, Son San làm Thủ tướng. Từ trước đó, tháng 8 năm 1980, Son San đã bắt đầu liên minh trực tiếp với Khơ-me Đỏ để chống RPK. Sau đó, Son San gợi ý thành lập chính phủ lâm thời cho các lực lượng Khơ-me lưu vong, bật đèn xanh cho việc thành lập chính phủ liên hiệp và cũng để giành ưu thế chính trị trước Xi-ha-núc. Son San muốn thông qua việc tham gia Chính phủ liên hiệp ba phái để tranh thủ viện trợ của nước ngoài.


Đối với phái Xi-ha-núc, tiền thân của phái này là tổ chức Phong trào Giải phóng dân tộc Cam-pu-chia (MOULINAKA) được tập hợp từ một số toán vũ trang Khơ-me tự do dưới quyền lãnh đạo của In-tam (nguyên Thủ tướng Cộng hoà Cam-pu-chia dưới thời Lon Non). Ngày 23 tháng 3 năm 1981, phái Xi-ha-núc thành lập "FUNCINPEC". Sau đó, thành lập lực lượng vũ trang MOULINAKA tập trung dưới cờ của FUNCINPEC và trở thành quân đội của Xi-ha-núc. Do biết rõ bản chất của Khơ-me Đỏ, nên ban đầu Xi-ha-núc có ý định dựa vào Mỹ và phương Tây để chống Khơ-me Đỏ và RPK. Tuy nhiên, dưới sức ép của các nước lớn cộng với lợi ích cá nhân, Xi-ha-núc đã chấp nhận tham gia CGDK với cương vị Chủ tịch, thông qua vai trò này để từng bước tập hợp lực lượng, đấu tranh nâng cao vị thế và tìm kiểm "thực quyền" trong CGDK. Lúc này Xi-ha-núc đã phải thừa nhận "Bản thân mình từng bị dùng làm phấn son cho Khơ-me Đỏ". Bởi thực chất, Khơ-me Đỏ nắm quyền lãnh đạo và là lực lượng nòng cốt trong CGDK do lúc này Xi-ha-núc tuy là Chủ tịch nhưng vẫn ở Bắc Kinh, còn Son San là Thủ tướng thì đang sống ở Pháp.


Giai đoạn trước Tổng tuyển cử năm 1993, thực lực quân sự của phái Son San và Xi-ha-núc đều suy yếu nghiêm trọng. Cả hai phái đều đẩy mạnh mở rộng đảng, tiến hành đại hội đảng, đổi tên đảng, lôi kéo những người ủng hộ trong giới học sinh, giáo viên, sư sãi bằng hứa hẹn về việc làm, trả lương cao; bôi xấu, hạ uy tín CPP/SOC; đồng thời thống nhất với Khơ-me Đỏ trong việc kích động hận thù dân tộc, đặc biệt kích động tâm lý chống Việt Nam. Năm 1991, lực lượng phái Son San đã chính thức tách ra khỏi liên minh ba phái và đổi tên KPNLF thành Đảng Dân chủ Tự do Phật giáo (BLDP) để tham gia tranh cử trong tổng tuyển cử 1993. Đối với Xi-ha-núc, vốn là người có tham vọng chính trị lớn và vô cùng thực dụng, trong bối cảnh thực lực quân sự hạn chế của phái FUNCINPEC và Cam-pu-chia đang trong quá trình tìm kiếm, đi vào thực hiện giải pháp chính trị, ông ta luôn chọn cho mình vị trí "ngư ông đắc lợi". Xi-ha-núc tìm kiếm sự ủng hộ, hậu thuẫn của Liên hợp quốc, các nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc để trở thành nhân tố không thể thiếu, thậm chí mang tính tiên quyết trong các giải pháp chính trị được xem xét cho vấn đề Cam-pu-chia. Ngoài ra, ông ta còn tìm cách làm suy giảm sức mạnh của các đối thủ, đặc biệt là CPP và cá nhân Hun-xen thông qua con bài đòi hỏi sự triệt thoái quân đội Việt Nam khỏi Cam-pu-chia; kích động tâm lý bài xích người Việt để loại bỏ sự ủng hộ đối với CPP. Điều đó giúp ông ta có thể cân bằng ảnh hưởng với Hun-xen, CPP vốn có nhiều ưu thế về sức mạnh quân sự, đang kiểm soát, quản lý trên thực tế tình hình Cam-pu-chia. Những chiến thuật đó của Xi-ha-núc đã có tác dụng nhất định, ông ta trở thành Chủ tịch SNC trong giai đoạn chuyển tiếp thực thi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia. FUNCINPEC đã dẫn đầu trong tổng tuyển cử năm 1993 với 58 ghế, vượt qua CPP với 51 ghế trong Quốc hội. Chính phủ liên hiệp giữa FUNCINPEC và CPP đã được thành lập sau đó với Ra-na-rít và Hun-xen là đồng Thủ tướng.


2.3.3.3. Một số đảng phái chính trị khác

Bên cạnh 4 đảng phái chính trị có ảnh hưởng nhất định tại Cam-pu-chia từ trước là CPP (phái Hun-xen) FUNCINPEC (phái Xi-ha-núc), Đảng Cam-pu-chia Dân chủ (đảng của Khơ-me Đỏ) và BLDP (phái Son San), trong giai đoạn chuẩn bị cho tổng tuyển cử năm 1993 xuất hiện thêm nhiều đảng phái chính trị mới như: Đảng Khơ-me Dân tộc chủ nghĩa, Đảng Dân chủ Tự do Đàn Công dân Khơ-me, Đảng Nông dân Khơ-me, Đảng Cộng hòa Tự do, Đảng Dân chủ, Đảng Cam-pu-chia Tự do Độc lập - Dân chủ, Đảng Linh hồn Khơ-me, Đảng Cộng hòa phát triển tự do...


Nhìn chung, các đảng phái này không có thực lực không có đường lối, cương lĩnh chính trị và không gây được sự quan tâm, chú ý của người dân. Mục đích chủ yếu của các đảng phái nhỏ này là muốn tham gia bầu cử để kiếm chác lợi ích trong bối cảnh chính trị Cam-pu-chia phức tạp; tranh giành, thỏa hiệp, liên kết để chống lại CPP. Nhiều thành viên trong số đảng này là do các thành phần chống đối CPP mới được trả tự do sau khi UNTAC vào tiếp quản quyền quản lý, lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia.


UNTAC cho phép các đảng phái này đăng ký thành lập và tiến hành các hoạt động vận động tranh cử. Đây cũng là lá bài để các thế lực, các nước lớn bên ngoài rêu rao về cuộc bầu cử đa đảng, tự do ở Cam-pu-chia và lợi dụng để loại bỏ chính quyền cách mạng Cam-pu-chia do Hun-xen đứng đầu.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Chín, 2026, 08:13:56 pm gửi bởi vnmilitaryhistory » Logged
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM