Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:29:59 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019  (Đọc 5334 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 03 Tháng Sáu, 2026, 09:30:58 pm »

- Tên sách: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2019
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


* Chỉ đạo nghiên cứu biên soạn:
   QUẬN ỦY, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA    ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ QUẬN ĐỐNG ĐA


* Ban chỉ đạo:

   - Đồng chí LÊ TIẾN NHẬT - Thành Ủy viên, Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Bí thư Đảng ủy quân sự quận Đống Đa - Trưởng ban.

   - Đồng chí VÕ NGUYÊN PHONG - Phó Bí thư Quận ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Đống Đa - Phó ban.

   - Thượng tá LÊ THANH TÙNG - Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa - Phó Trưởng ban Thường trực.

   - Đồng chí HÀ NGỌC SƠN - Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy - Ủy viên.

   - Đồng chí LÊ THỊ KIM HUỆ - Quận Ủy viên, Chánh Văn phòng Quận ủy - Ủy viên.

   - Đồng chí VŨ ĐÌNH TAM - Trưởng phòng Tài chính Kế hoạch quận Đống Đa - Ủy viên.

   - Đại tá NGUYỄN MẠNH NGỜI - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy quân sự, Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa
- Ủy viên.


* Ban Biên soạn:

   Chủ biên:

   Đại tá HOÀNG ĐỨC SINH - nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.


Tham gia biên soạn:

   - Đại tá NGUYỄN MẠNH NGỜI - Chính trị viên Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá LÊ THANH TÙNG - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá PHAN KHẮC UY - Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Thượng tá ĐÀO XUÂN NHƯỢNG - Chính trị viên phó Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Đồng chí NGUYỄN MINH HÙNG - Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Quận ủy Đống Đa.

   - Thiếu tá VŨ KHÁNH TÙNG - Trợ lý Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Trung tá NGUYỄN THÌN BẢO - Trợ lý Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.

   - Trung tá HOÀNG TIẾN DŨNG - Trợ lý Cán bộ Ban Chính trị Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:11:33 pm »

LỜI GIỚI THIỆU


Quận Đống Đa - đơn vị hành chính nội thành Hà Nội được mang tên địa danh quân sự gắn với tên tuổi người anh hùng ảo vải Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung - một danh nhân, thiên tài quân sự lỗi lạc của dân tộc; gắn với chiến công hiển hách lẫy lừng trở thành biểu tượng cho ý chí kiên cường chống ngoại xâm, tinh thần quật khởi, quyết chiến, quyết thắng, trí thông minh, sáng tạo và nghệ thuật quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Quận Đống Đa có bề dày lịch sử gắn liền với quá trình hình thành, phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam. Địa bàn quận Đống Đa là một phần đất xưa kia thuộc thành Đại La, thành Tống Bình, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta dưới thời giặc phương Bắc đô hộ. Nơi đây đã sinh ra, nuôi dưỡng và thu hút hội tụ nhiều nhân tài, tuấn kiệt, những danh nhân trên nhiều lĩnh vực đến cư trú, làm việc và có những cống hiến, đóng góp quan trọng làm rạng danh non sông đất nước. Nhân dân quận Đống Đa giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Những giá trị truyền thống đó tạo nên động lực tinh thần to lớn cho các thế hệ quân và dân Đống Đa đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, cùng quân dân cả nước đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành và giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong thời kỳ lịch sử hiện đại, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vùng quê Đống Đa từng là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng. Ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng, kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa quê hương, các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa luôn dũng cảm, kiên cường xung kích đi đầu và làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Đống Đa trong đấu tranh vũ trang, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Đống Đa vinh dự cùng quân và dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc và kiên cường chiến đấu giam chân địch trong thành phố 60 ngày đêm, tạo điều kiện cho Trung ương Đảng, Chính phủ rút lên chiến khu an toàn, góp phần làm thất bại âm mưu chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp. Sau đó, Đống Đa cùng các khu nội thành Hà Nội vừa là hậu phương kháng chiến, vừa là tiền tuyến - nơi đọ sức quyết liệt, trực tiếp với cơ quan đầu não, bộ máy điều hành cuộc chiến tranh Đông Dương của thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Đống Đa kiên cường bám trụ, bám đất, bám dân, phối hợp với các chiến trường tổ chức nhiều trận chiến đấu góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đống Đa là địa bàn bị đánh phá ác liệt nhất trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ1 (Không lực Hoa Kỳ gồm quân chủng không quân và không quân thuộc quân chủng hải quân. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ huy động lực lượng không quân của cả hai quân chủng. Dùng khái niệm chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân để phân biệt với chiến tranh phá hoại kinh tế, văn hóa - xã hội, chiến tranh phá hoại bằng tình báo, gián điệp...). Song, quân và dân Đống Đa vẫn anh dũng, kiên cường, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đồng lòng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.


Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống anh hùng, quân và dân Đống Đa tích cực chi viện sức người, sức của cho các mặt trận bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam; đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, xây dựng cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện tốt chức nâng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt công tác quân sự, quốc phòng địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ quận Đống Đa ngày càng vững chắc.


Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giành, giữ, bảo vệ độc lập dân tộc, nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Quận ủy Đống Đa, Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa tổ chức nghiên cứu biên soạn, xuất bản: "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa (1945 - 2019)". Phạm vi đối tượng nghiên cứu của công trình là lực lượng vũ trang quận Đống Đa gồm: cơ quan quân sự cấp quận, phường, đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dân quân, du kích, tự vệ quận Đống Đa. Đây là công trình khoa học lịch sử quân sự được nghiên cứu và biên soạn công phu với nhiều nguồn tư liệu quý, phản ảnh sinh động quá trình xây dựng chiến đấu, trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.


Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Viện Lịch sử Đảng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hội Sử học Hà Nội, Quận ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cơ quan quân sự quận Đống Đa các thời kỳ và các cơ quan, đơn vị, cá nhân đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để cuốn sách được xuất bản, phát hành đúng kế hoạch.


Mặc dù Ban Biên soạn đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.

Đảng ủy, Ban Chỉ huy quân sự quận Đống Đa trân trọng giới thiệu cuốn sách "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa (1945 - 2019)" cùng bạn đọc.

ĐẢNG ỦY, BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ QUẬN ĐỐNG ĐA
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:12:59 pm »

Chương một
ĐỐNG ĐA - LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG, SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC VŨ TRANG TIỀN THÂN TRƯỚC VÀ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

1. Sơ lược lịch sử, truyền thống quận Đống Đa

Địa bàn quận Đống Đa ngày nay vốn là vùng đất được cư dân Văn Lang khai phá từ thuở lập nước. Đến thời giặc phương Bắc đô hộ, với địa thế cao ráo, rộng rãi, bằng phẳng địa bàn Đống Đa khi đó thuộc thành Tống Bình, sau là thành Đại La - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, nơi đặt cơ quan đầu não của các thế lực thống trị phương Bắc.


Năm 40 đầu Công nguyên, địa bàn quận Đống Đa ngày nay từng là đồn lũy của nghĩa quân Hai Bà Trưng chống lại quân xâm lược nhà Hán. Năm 767, Trương Bá Nghi - quan cai trị An Nam đô hộ phủ thuộc nhà Đường cho đắp La Thành bao quanh để bảo vệ huyện lỵ Tống Bình. Năm 866, Cao Biền tiếp tục đắp to, nâng cấp La Thành và đổi gọi là thành Đại La.


Sang thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, trước yêu cầu phát triển phục hưng quốc gia dân tộc, năm 1010, Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra Đại La và đổi tên Đại La thành Thăng Long, có nghĩa là rồng bay lên. Từ đó, địa bàn quận Đống Đa ngày nay là một phần quan trọng của Kinh đô nước ta suốt 10 thế kỷ nay.


Dấu tích La Thành trải qua hơn nghìn năm vẫn còn hiện diện trên đất Đống Đa một đoạn khá dài, từ Ô Kim Hoa chạy qua Ô Chợ Dừa đến Ô Cầu Giấy, đi ngang địa bàn quận Đống Đa từ Đông sang Tây với khoảng 4.600m. Trên bức thành đất này thời xưa đã mở ra hai cửa ô quan trọng, đó là Ô Kim Hoa và Ô Chợ Dừa. Ô Kim Hoa (sau đổi là Kim Liên) có tên nôm quen gọi là Ô Đồng Lầm, mở ra phía đường "Quan lộ" hay đường "Thiên lý" đi về phía Sơn Nam. Ô Chợ Dừa nơi có con đường "Thượng đạo", hay đường "Lai kinh" dẫn đến kinh thành từ các miền đất phía Nam và Tây Nam. Con đường này trước đây không đi thẳng theo đường Nguyễn Lương Bằng - Tây Sơn - Nguyễn Trãi - Hà Đông - Nho Quan - Thanh Hóa mà đoạn từ Nguyễn Trãi đã ngoặt lên phía Bắc, qua sông Tô Lịch ở cầu Nhân Mục (còn gọi là Cống Mọc) rồi mới ngược lên Ô Chợ Dừa vào cửa thành.


Theo Thăng Long cổ tích khảo tịch hội đồ thì Trung Đô thời Lê Thánh Tông gồm hai huyện thuộc phủ Phụng Thiên: huyện Vĩnh Xương có 18 phường nằm trong hai tổng: tổng Nội Thượng và tổng Hạ; huyện Quảng Đức có hai tổng: tổng Trung và tổng Nội Ngoại. Chiểu theo địa bàn quận Đống Đa hiện nay, ngày ấy là các phường: Kim Hoa, Đông Tác, Xã Đàn, Bích Câu của tổng Hạ, huyện Vĩnh Xương; các phường Thịnh Quang, Quang Trạm, Công Bộ của tổng Nội Ngoại huyện Quảng Đức. Như vậy đất mỗi phường rất rộng.


Năm 1889, thực dân Pháp quy hoạch lại thành phố, thu hẹp nội thành, gạt vùng đất thuộc quận Đống Đa bây giờ ra "khu vực ngoại thành". Năm 1915, Pháp đổi tên "khu vực ngoại thành" thành huyện Hoàn Long, thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1942, đổi huyện Hoàn Long thành "Đại lý đặc biệt Hà Nội" (còn gọi là Đại lý Hoàn Long) gồm 9 tổng, 60 xã (cả huyện Hoàn Long và 22 xã của phủ Hoài Đức). Nội thành có mở rộng thêm nhưng vùng đất Đống Đa vẫn ở ngoài ven.


Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 21 tháng 12 năm 1945, chính quyền nhân dân chia Thành phố Hà Nội làm 17 khu phố nội thành. Vùng Sinh Từ (Nguyễn Khuyến), Hàng Bột, Cát Linh, Bích Câu, Đoàn Thị Điểm, Quốc Tử Giám, Ngô Sĩ Liên, Văn Chương, Linh Quang, Lương Sử đến hai phố Khâm Thiên thuộc Khu phố Văn Miếu.


Ngày 26 tháng 5 năm 1946, ngoại thành Hà Nội được chia làm 5 khu hành chính, trong đó có Khu Đống Đa. Tháng 11 năm 1946, Khu đặc biệt Hà Nội được chuyển thành Chiến khu XI, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Nội thành chia làm ba liên khu, địa bàn Đống Đa nằm trong Liên khu III.


Tháng 4 năm 1947, năm khu hành chính ngoại thành lại thay đổi: Lãng Bạc, Đại La thành quận IV, Đống Đa là quận V, Mê Linh và Đề Thám là quận VI.

Tháng 10 năm 1947, thành lập ba liên quận, quận V và huyện Thanh Oai thành Liên quận V.

Tháng 3 năm 1948, thực dân Pháp tạm chiếm Hà Nội, lập ngoại thành gồm năm quận nằm trong Đại lý Hoàn Long, Đống Đa thuộc quận Ngã Tư Sở (gồm hai tổng Vĩnh An và Kim Liên).

Về chính quyền cách mạng, ngày 10 tháng 5 năm 1948, hợp nhất Hà Nội với Hà Đông thành liên tỉnh Lưỡng Hà, chia thành khu Nội thành và Ngoại thành. Khu ngoại thành gồm hai huyện Trấn Tây và Trấn Nam. Địa bàn quận Đống Đa lúc đó một phần thuộc Liên khu phố II (Nội thành) và một phần thuộc huyện Trấn Nam (từ Ô Chợ Dừa trở ra).


Từ tháng 6 năm 1949, hai liên khu I và II chuyển thành quận I và quận II, địa bàn Đống Đa ngày nay gồm Văn Miếu, Giảng Võ, Thổ Quan, Văn Chương, Thịnh Hào, Linh Quang, Trung Phụng, Trung Tự, Mỹ Đức, Kim Liên, thuộc quận II nội thành. Còn Thịnh Quang, Yên Lãng, Thái Hà, Nam Đồng, Nhược Công, Khương Thượng thuộc quận V.


Sau ngày giải phóng Thủ đô, Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phân chia Hà Nội thành 4 quận nội thành (gồm 34 khu phố) và 4 quận ngoại thành (gồm 46 xã và khu phố). Phần lớn quận Đống Đa ngày nay nằm trong địa bàn quận 111, quận IV. Xã Thái Thịnh lúc đó thuộc quận VI; Tam Khương, Phương Liên thuộc quận VII.


Tháng 3 năm 1958, nội thành thành phố Hà Nội được chia lại thành 12 khu phố. Quận Đống Đa ngày nay nằm trên địa bàn các khu phố Văn Miếu, Ô Chợ Dừa. Năm 1959, nội thành được chia lại thành 8 khu phố, trong đó khôi phục lại tên Khu phố Đống Đa, gồm Văn Miếu và Ô Chợ Dừa.


Sau khi mở rộng Hà Nội lần thứ nhất ngày 31 tháng 5 năm 1961, đơn vị hành chính thành phố được tổ chức lại thành bốn khu phố nội thành là Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm và bốn huyện ngoại thành gồm: Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì. Khu phố Đống Đa bao gồm khu Đống Đa cũ; từ khối 2 đến khối 12, từ khối 14 đến khối 20, từ khối 22 đến khối 25 của khu Ba Đình cũ; khu Bệnh viện Bạch Mai của khu Bạch Mai cũ; khu công nghiệp Thượng Đình; xã Phương Liên, các thôn Khương Trung, Khương Thượng, Thái Hà, Thịnh Quang, Thịnh Hào, Hoàng Cầu và xóm Chùa của thôn Láng Hạ. Ngày 21 tháng 12 năm 1974, thành phố bỏ khối dân phố, thành lập 179 tiểu khu ở nội thành, Khu phố Đống Đa có 48 tiểu khu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:14:13 pm »

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hà Nội mở rộng lần thứ hai, sắp xếp lại Khu phố Đống Đa còn 24 tiểu khu.

Ngày 10 tháng 6 năm 1981, thay tên gọi khu phố thành quận, tiểu khu thành phường. Ngày 13 tháng 7 năm 1982, Đống Đa có thêm hai phường mới thành lập là phường Kim Giang và phường Thanh Xuân Bắc, nâng số phường thuộc quận lên 26 phường với diện tích hơn 15km2, 22 vạn dân. Đống Đa là quận lớn nhất trong bốn quận nội thành Hà Nội.


Ngày 22 tháng 11 năm 1996, quận Thanh Xuân được thành lập, bao gồm các phường Thượng Đình, Kim Giang, Thanh Xuân, Thanh Xuân Bắc, Phương Liệt, một phần phường Nguyễn Trãi, một phần phường Khương Thượng của quận Đống Đa và hai xã Khương Đình (huyện Thanh Trì) và Nhân Chính (huyện Từ Liêm). Sau khi điều chỉnh, diện tích quận Đống Đa còn lại gần 10km2, với khoảng 27 vạn nhân khẩu, tổ chức hành chính gồm 21 phường, gồm: Cát Linh, Hàng Bột, Khâm Thiên, Khương Thượng, Kim Liên, Láng Hạ, Láng Thượng, Nam Đồng, Ngã Tư Sở (phần còn lại của phường Nguyễn Trãi cũ), Ô Chợ Dừa, Phương Liên, Phương Mai, Quang Trung, Quốc Tử Giám, Thịnh Quang, Thổ Quan, Trung Liệt, Trung Phụng, Trung Tự, Văn Chương, Văn Miếu. Từ đó đến nay, địa bàn quận Đống Đa vẫn ổn định như trên.


Địa thế Đống Đa vốn trước kia dày đặc đầm hồ. Hồ bao quanh Quốc Tử Giám thông với sông Kim Ngưu nối vào Đại hồ là một vùng nước mênh mông. Qua nhiều thế kỷ, nhiều đầm hồ đã bị lấp đi để phát triển các làng xã mới. Đến nay vẫn còn vài chục hồ lớn nhỏ. Lớn nhất là hồ Đống Đa (14ha), hồ Thành Công (6,1 ha), hồ Xã Đàn (4ha), hồ Ba Mẫu, hồ Trung Phụng và các hồ khác như: Láng Thượng, Phụng Thánh, Văn Chương, Linh Quang, Kim Liên, Hoàng Cầu, Trung Tự, Hố Mẻ, hồ Chùa Bộc, hồ Văn... Giữa quận có con sông bị thu hẹp dòng, chỉ còn như một con mương đó là sông Kim Ngưu. Sông Kim Ngưu bắt đầu từ trại Yên Lãng chảy qua cây cầu đá làng Thịnh Quang rồi tới Thịnh Liệt, trước từng là con đường thủy quan trọng để đi Xích Đằng, Hiến Nam (Hưng Yên). Sông chảy tới Cống Xuyên gặp sông Tô Lịch hợp dòng rồi đổ ra sông Cái. Chếch hướng Đông Nam quận là sông Lừ, bắt đầu từ hồ Xã Đàn chảy qua Kim Liên, Trung Tự, Phương Mai, Phương Liệt đến đây tách làm hai nhánh, một nhánh đi tiếp xuống Định Công xuôi về phía Nam, một nhánh rẽ sang phía Đông nối với sông Sét ở Giáp Bát.


Con sông lớn hơn là sông Tô Lịch, vốn là một phân nhánh của sông Hồng, đoạn đầu nguồn bị thực dân Pháp lấp làm phố phường chỉ còn từ Yên Thái (Bưởi) chảy xuống phía Nam qua Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Đại Kim, Thanh Liệt đến huyện Thường Tín đổ vào sông Nhuệ. Sông Tô Lịch trước đây vốn là một dòng sông đẹp của Thăng Long. Sông Tô Lịch hiện nay là ranh giới giữa hai quận Đống Đa và Cầu Giấy.


Hệ thống giao thông của quận Đống Đa hiện nay là những trục đường, tuyến phố thường xuyên được đầu tư nâng cấp ngày càng trở nên khang trang, thông thoáng. Nhiều con đường được phân tuyến như trục Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Tây Sơn. Những đường phố mới mở ra ngang dọc trong quận như đường Nguyễn Chí Thanh - một trong những con đường đẹp của Thủ đô, Láng Hạ, Thái Hà, Xã Đàn, Chùa Bộc, Đào Duy Anh, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng... Đường Láng xưa kia chật hẹp nay có thêm một tuyến đi bên sông Tô Lịch. Ngã sáu Ô Chợ Dừa, Ngã Tư Sở, ngã tư Chùa Bộc - Tây Sơn, ngã tư Đại Cồ Việt - Kim Liên, Ngã Tư Vọng... nơi xây cầu vượt, nơi hạ đường hầm mở rộng giao điểm làm cho giao thông thông thoáng hơn.


Nhiều khu chung cư xây dựng từ những năm 60-70 của thế kỷ XX như Kim Liên, Trung Tự, Văn Chương, Vĩnh Hồ, Thịnh Quang, Hào Nam, Nam Đồng, Phương Mai, Láng Hạ đã giải quyết nơi ở cho hàng vạn gia đình cán bộ, công chức. Đến đầu thế kỷ XXI, những khu nhà xuống cấp đã và đang được Thành phố Hà Nội cho lập dự án xây dựng lại cao tầng, căn hộ rộng hơn, điều kiện sinh hoạt tốt hơn, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân.


Nhiều công trình phục vụ lợi ích công cộng được xây dựng. Công viên, vườn hoa, cây xanh, khu vui chơi giải trí, rạp hát, rạp chiếu bóng, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, siêu thị, bưu điện, ngân hàng được rải đều khắp; nhiều tuyến xe buýt thuận tiện đi lại.


Quận Đống Đa là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây từng sinh ra, nuôi dưỡng, hội tụ nhiều nhân tài, tuấn kiệt, danh nhân có nhiều công lao đóng góp cho sự hưng thịnh và phát triển quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Phường Thổ Quan, xưa vốn là đất hai làng hợp nhất (làng Quan Trạm thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận và làng Thổ Quan thuộc tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương), vào những năm 40 - 43 đầu Công nguyên là quân doanh của ba anh em cùng làm tướng của Hai Bà Trung. Hai người anh là Nguyễn Hiển (Hiển Hựu) và Nguyễn Quý (Quý Minh) sinh đôi, em gái là Thị Phương (Phương Dung). Do bà mẹ ứng mộng được rồng cho đào tiên mà mang thai nên cùng gọi là họ Đào. Sau khi hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thành công, họ được phong tướng và đóng quân trấn giữ vùng Thổ Quan. Đến khi Mã Viện sang xâm lược trở lại, Hai Bà Trưng thế yếu phải tuẫn tiết. Ba anh em dũng cảm chiến đấu với giặc đến hơi thở cuối cùng và được tôn thờ làm thành hoàng làng.


Đoạn đầu đường Giảng Võ, nay thuộc phường Cát Linh, có lăng mộ Bố Cái Đại Vương Phùng Hung, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từ Đường Lâm (Sơn Tây) tiến về giải phóng phủ trị Tống Bình (Hà Nội hiện nay) do nhà Đường đô hộ vào cuối thế kỷ VII. Ông được thờ ở đình Thịnh Hào.


Làng Lương Sử và phường Văn Chương có đình thờ Thái úy Đại tướng quân Phạm Cự Lạng thời Đinh - Tiền Lê. Ông có công trong việc dẹp nạn cát cứ 12 sứ quân, sau lại phò vua Lê Đại Hành chống quân xâm lược Tống thắng lợi. Ông làm quan thanh liêm, dám nói thẳng, tiếng khen lưu truyền, mọi người đều kính phục. Sau khi ông mất, năm 1038, Vua Lý Thái Tông phong cho ông làm Hoằng Thánh Đại vương (sau đổi là Hồng Thánh).


Láng Thượng là quê hương của Từ Lộ (tức Từ Đạo Hạnh), thiền sư nổi tiếng thời Lý, hiếu học, thắp đèn đọc sách thâu đêm. Để trả thù cho cha là quan Đô sát Từ Vinh bị nhà sư Đại Điên ám hại, ông sang Thiên Trúc học đạo, khi trở về đánh gục Đại Điên rồi đi tu ở chùa Thầy. Tương truyền sau khi mất, ông đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu trở thành vua Lý Thần Tông ở kiếp sau. Ông được nhân dân thờ ở chùa Láng.


Trại Nam Đồng từng là nơi đóng quân của danh tướng Lý Thường Kiệt - anh hùng phá Tống, bình Chiêm. Bài thơ "Thần" Lý Thường Kiệt đọc trên phòng tuyến sông Như Nguyệt1 (Sông Cầu, đoạn chảy qua huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)) được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Tương truyền, sau chiến thắng Như Nguyệt (1076), ông được vua ban cho về đóng trại tại Nam Đồng và ở đây cho tới khi mất (1105). Tương truyền mộ ông hiện ở trại Nam Đồng và đình Nam Đồng là nơi nhân dân thờ ông.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:15:14 pm »

Phường Văn Hương (sau là Văn Chương) có chùa Huy Văn là nơi sinh Hoàng tử Lê Tư Thành, con thứ tư của Vua Lê Thái Tông. Do gặp nạn tranh giành quyền lực nơi nội cung, bà phi Ngô Thị Ngọc Giao phải lánh ra trú ở chùa Huy Văn nên sinh ông ở đó. Năm 1460, Tư Thành được đưa lên ngôi lấy niên hiệu là Lê Thánh Tông, làm vua 38 năm. Ông là một trong những vị vua anh minh hàng đầu của nhà nước phong kiến Đại Việt triều Hậu Lê, mở ra niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức, thời kỳ thịnh vượng nhất thường được gọi là Hồng Đức thịnh thế. Ông còn là nhà văn hóa, nhà thơ nổi tiếng, ông và mẹ là bà Ngô Thị Ngọc Giao được nhân dân thờ ở đền Huy Văn, đền Trung Tả trên đất Văn Chương xưa.


Phường Bích Câu xưa (nay là Cát Linh) là nơi hội tụ nhiều danh nhân khoa bảng và danh nhân văn hóa. Bùi Huy Bích - dòng dõi tiến sĩ Bùi Xương Trạch quê ở Định Công, học trò của quan bảng Lê Quý Đôn, có dinh cơ ở Bích Câu. Bùi Huy Bích đỗ Hoàng giáp, làm quan Hành tham tụng thời Lê Hiển Tông, để lại nhiều tập thơ văn, trong đó có Bích Câu thi tập viết về Thăng Long. Gia đình Nguyễn Nghiễm là gia đình nổi tiếng túc nho cuối thế kỷ XVIII. Quê gốc ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp năm 1731 và ra làm quan tới chức Tể tướng và là Tế tửu Quốc Tử Giám thời Lê - Trịnh, ông còn là nhà giáo, nhà thơ, nhà sử học. Con trai ông là Nguyễn Khản cũng làm quan đầu triều, rất giàu sang ở Thăng Long. Em trai Nguyễn Khản là Nguyễn Du sinh ra ở Bích Câu và sống tại đây. Nguyễn Du làm quan triều Nguyễn, nhưng trước hết ông là nhà thơ lớn của dân tộc. Truyện Kiều là đỉnh cao nghệ thuật truyện thơ Nôm, với tác phẩm này, ông vinh dự được tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.


Phường Phương Liên có dòng họ của ông nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý có nhiều người nổi danh. Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Văn Lý đỗ Tiến sĩ năm 1832, bạn của "thần Siêu, thánh Quát" làm tới Án sát, Đốc học Hưng Yên. Ông còn tham gia văn hội Thọ Xương, cùng Nguyễn Văn Siêu tôn tạo đền Ngọc Sơn. Cháu nội ông là Nguyễn Hữu Cầu đậu cử nhân năm 1906, là một trong những người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục.


Làng Hào Nam có ngôi trường nổi tiếng của thầy giáo Vũ Thạnh, học trò đông hàng nghìn người, nhiều người đỗ đạt làm quan trong triều Lê - Trịnh, ông vốn là người làng Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, tới cư ngụ ở phường Báo Thiên. Ông đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Ất Sửu (1685), làm bồi tụng ở phù chúa. Vì can chúa bớt ham mê nữ sắc không được, ông cáo quan về mở trường dạy học, nổi tiếng khí tiết cao thượng là nhà giáo mẫu mực của kinh thành Thăng Long.


Làng Hoàng Cầu là nơi sinh Thám hoa Mai Anh Tuấn (1815- 1855). Ông tên chính là Mai Thế Tuấn, quê gốc ở xã Thạch Giản, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình có nhiều người đỗ cao, làm quan to dưới triều Lê. Ông đỗ Thám hoa trong khoa thi 1843 dưới thời Thiệu Trị, được bổ chức Hàn lâm viện trước tác, sung chức Hành tẩu bí thư thuộc Nội các, được phong Hàn lâm thị độc học sĩ. Tính ông khảng khái, cương trực, vì can vua Tự Đức không nên hộ tống đoàn thuyền buôn người Hoa dạt vào biển nước ta, trong khi quân Thanh đang quấy rối ở phía Bắc, nên bị kết tội khi quân, giáng chức đi làm Án sát Lạng Sơn. Ông cùng trường vệ đem quân đuổi giặc Thanh và hy sinh trong cuộc chiến đấu. Triều đình cử hành tang lễ trọng thể tại làng Hoàng Cầu. Ông được thờ ở Lạng Sơn và đền Trung Nghĩa ở Huế.


Làng Thịnh Hào là quê của chí sĩ Lê Đại, ông đỗ đầu xứ nên thường gọi là ông đầu xứ Lê. Ông có tinh thần yêu nước nên đã tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục năm 1907, có chân trong Ban tư thu của trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, ông đã dịch cuốn Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu để phổ cập trong nhân dân. Trường Đông Kinh nghĩa thục bị thực dân Pháp đóng cửa, nhân xảy ra vụ Hà thành đầu độc, thực dân Pháp bắt ông đày ra Côn Đảo 18 năm. Tại Côn Đảo, ông sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, được cụ Huỳnh Thúc Kháng sưu tập trong Thi tù tùng thoại.


Phường Thịnh Hào có Đỗ Cơ Quang, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hoạt động trong phong trào Đông Du, Duy Tân hội, Đông Kinh nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội, tham gia vụ âm mưu đánh úp thành Hà Nội năm 1914, bị lộ, đã bị thực dân Pháp bắt và giết hại. Hai con ông là Đỗ Bằng và Đỗ Thị Tâm sau này đều gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học.


Trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, đất Thổ Quan còn là nơi hoạt động của các cơ sở Đảng Tân Việt và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Hai anh em Mai Lập Đôn - Mai Thị Vũ Trang và Nguyễn Quang Bật (hiệu Bối Thịnh) nhà ở Ô Chợ Dừa (nay thuộc phường Hàng Bột) là hai điểm liên lạc và nuôi giấu cán bộ. Phố Khâm Thiên là nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ - người tham gia thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1929. Năm 1930, đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ được cử làm Bí thư Thành ủy chính thức đầu tiên của Đảng bộ Thành phố Hà Nội. Khâm Thiên cũng là nơi ở và hoạt động nghệ thuật của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Nghệ sĩ nhân dân xiếc thú Tạ Duy Hiển, Nghệ sĩ nhân dân ca trù Quách Thị Hồ; các đào nương nổi tiếng như: Đàm Mộng Hoàn, Chu Thị Bổn, Chu Thị Năm, Nguyễn Thị Phúc... Họa sĩ nổi tiếng Tô Ngọc Vân cũng từng ở ngõ Thổ Quan.


Nhiều nhà văn, nhà thơ khác cũng từng sống và hoạt động sáng tác trên đất Đống Đa như Tú Mỡ ở đường Láng; Tản Đà, Vũ Trọng Phụng ở Ngã Tư Sở; Vũ Ngọc Phan - Hằng Phương ở Thái Hà, Trần Huyền Trân ở ngõ Sơn Nam...

Quận Đống Đa có bề dày lịch sử và một kho tàng phong phú về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Theo thống kê của Phòng Văn hóa - Thông tin quận Đống Đa, trên địa bàn quận hiện có hơn 50 di tích văn hóa - lịch sử - kiến trúc và cách mạng - kháng chiến, trong đó có 34 di tích đã được công nhận cấp quốc gia, một số di tích do Thành phố Hà Nội công nhận.


Tiêu biểu là Văn Miếu - Quốc Tử Giám là di sản lâu đời có giá trị nhất trên đất Đống Đa, trở thành biểu tượng của nền văn hiến Thăng Long - Hà Nội và của dân tộc Việt Nam. Hình ảnh Khuê Văn Các được chọn làm biểu trưng của Hà Nội. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên của nước ta.


Trên đất Đống Đa, ngoài Văn Miếu còn có các trường của các thầy giáo dạy giỏi như trường Đông Tác của thầy Nguyễn Văn Lý, trường Hào Nam của thầy Vũ Thạnh... có nhiều học trò đỗ cao, làm quan to trong triều.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:16:14 pm »

Đống Đa không chỉ có Văn Miếu mà còn có Y Miếu ở phố cùng tên, cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, phường Văn Miếu, thờ Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế), được coi là tổ sư ngành y của Trung Quốc và các danh y nước nhà như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông...


Đó cũng là nét đặc sắc của văn hóa phương Đông trong cả hai nghề thầy giáo và thầy thuốc. Việt Thái y thời Lê - Trịnh hiện còn lưu dấu tích ở Xã Đàn.

Tiếp thu nền y học cổ truyền, khoa châm cứu của Việt Nam đã nổi danh thế giới với Thầy thuốc nhân dân, Anh hùng lao động, Giáo sư Nguyễn Tài Thu - người lãnh đạo Viện Châm cứu, ở phố Thái Thịnh. Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Cao đẳng Y - Dược Hà Nội đều "đóng" trên đất Đống Đa, đào tạo các bác sĩ đa khoa, chuyên khoa, y sĩ và dược sĩ trung cấp, hộ lý, y tá... cung cấp cho các bệnh viện trên cả nước.


Khương Thượng vào thời Lê có trường thi võ, nay còn dấu vết nền Điện Thí; lại có Giảng Võ đường ở làng Giảng Võ cạnh Trường Hào Nam lập từ thời Lý, sau là Võ Trại. Như vậy, Đống Đa có đủ các trường văn - võ - y.

Các trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, Đại học Văn hóa, Đại học viết văn Nguyễn Du, Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội, Học viện Âm nhạc quốc gia, Đại học Luật, Đại học Ngoại thương, Đại học Thủy lợi, Học viện Ngân hàng, Học viện Ngoại giao, Đại học Công đoàn... là những cơ sở đào tạo ra các nghệ sĩ, kỹ sư, cán bộ quản lý cho các ngành.


Trên đất Đống Đa xưa có đài Khâm Thiên Giám - cơ quan thiên văn và làm lịch của các triều đại Lý - Trần - Lê. Nhiều nhà bác học, toán học của nước ta đã làm việc ở đây. Di chỉ Khâm Thiên Giám nay chỉ còn là một gò đất gọi là Thiên đài ở trong Ngõ chợ Khâm Thiên. Nay là nơi đóng Nha Khí tượng thủy văn Trung ương ở phố Pháo Đài Láng, vốn là đài khí tượng Láng thời thực dân Pháp, được mở rộng và nâng cấp, cũng là nơi tập trung các nhà khoa học hàng đầu của ngành này.


Gò Đống Đa là di tích võ công lớn trên địa bàn quận, nơi diễn ra trận đánh Khương Thượng lịch sử, còn để lại chiếc gò thứ 13 tập trung chôn xác địch. Nay gò nằm trong khuôn viên Công viên văn hóa Đống Đa cùng với tượng đài anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ.


Gắn liền với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa còn có hai ngôi chùa ở gần đó. Đáng lưu ý là chùa Bộc (Bộc Am), có tên chữ là Sùng Phúc, nằm trên phố mang tên Chùa Bộc. Theo tấm bia cổ nhất dựng năm 1676, thì chùa này có từ thời Hậu Lê, đã bị cháy trong trận công đồn Xuân Kỷ Dậu 1789. Ba năm sau, nhà sư trụ trì đã quyên tiền công đức thập phương xây dựng lại chùa và đúc quả chuông vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800). Chùa có thở một pho tượng Đức Ông (tương truyền là tượng Vua Quang Trung), đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846).


Ngôi chùa thứ hai là chùa Đồng Quang ở phía bên kia đường Tây Sơn, đối diện Gò Đống Đa. Chùa dựng năm Tự Đức thứ 4 (1851) để tế lễ vong hồn những người tử trận trong trận Đống Đa. Bia Tự Đức năm thứ 9 (1856) do Tiến sĩ Lê Duy Trung soạn văn bia cho biết việc chôn cất hài cốt quân Thanh, đắp gò thứ 13, lại được hai trại Thịnh Quang và Nam Đồng cung tiến xây dựng thờ Phật và để các vong hồn có nơi nương tựa. Về sau, nhân dân địa phương đã dùng làm đền thờ Quang Trung. Chùa Đồng Quang được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1990.


Xuôi theo đường Tây Sơn về phía Nam cách Ngã Tư Sở khoảng 100m có ngôi chùa cổ Phúc Khánh Tự (tên Nôm là chùa Sở) vì xây dựng trên đất Thịnh Quang Sở ngày xưa. Tương truyền, chùa được xây từ cuối thời Trần, đến thời Lê Sơ là nơi đào tạo tăng ni, sau đó việc này giao cho chùa Quán Sứ đảm nhiệm, nên chùa Sở chỉ còn thờ Phật.


Ngay bên đường Láng có đình Ứng Thiên của làng Láng Hạ. Đây là ngôi đình rất cổ có từ thời Lý, còn gọi là đình Nhà Bà, đền Hậu Thổ. Tương truyền, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi dẹp loạn Chiêm Thành quấy rối bờ cõi phía Nam. Một đêm, nhà vua mộng thấy một nữ thần xưng là tinh anh sông núi sẽ hiển linh giúp vua bình thiên hạ. Lúc khải hoàn, vua phong thần là "Ứng Thiên Hóa dục nguyên quân Hậu Thổ" và sai làng Láng lập đền thờ. Đến đời Trần Anh Tông (1293 -1314), gặp năm đại hạn, vua tới đền làm lễ cầu đảo mà mưa lớn nên gia phong cho thần là "Ứng Thiên Hậu Thổ phu nhân", vị nữ thần giúp dân cày cấy thuận hòa. Sau đền còn thờ thêm hai vị thần Cao Sơn và Linh Lang, công chúa Vĩnh Gia và Từ Lương tôn thần. Từ đền thành đình làng nên đình Ứng Thiên có kiến trúc kiểu chữ Công với nhiều mảng chạm khắc nghệ thuật cao. Đình làng Láng Hạ đã được xếp hạng Di tích văn hóa cấp quốc gia năm 1992.


Trong ngõ Giếng Láng Thượng (nay là phố chùa Láng) có một ngôi chùa cổ, tam quan có hai cột trụ giữa nâng cao mang ba chữ "Chiêu Thiền Tự", đó là chùa Láng. Trong khuôn viên và dọc lối vào có nhiều cây muỗm cổ thụ tỏa bóng mát tạo cành quan u nhã, xưa được tôn là "Đệ nhất tùng lâm" đất Thăng Long. Chùa Láng được xây dựng từ thời Lý Anh Tông (1138-1175), trên khu đất rộng 4 mẫu Bắc Bộ. Qua sân gạch Bát Tràng có chiếc sập đá đặt giữa, làm chỗ chồng đòn ngang rước Thánh mỗi khi mở hội. Trong khu chùa chính quần thể kiến trúc được bố cục cân đối, hài hòa. Giữa sân là tòa Bảo Cái xây gạch buộc hình bác giác, chồng diêm hai tầng với 16 mái cong thanh thoát. Nơi đây đặt tượng Thánh khi làm lễ dâng hoa ngày hội. Chùa xây kiểu nội công ngoại quốc vừa tròn 100 gian. Hậu cung có tượng Lý Thần Tông bằng mây đan đặt trong kiệu, còn có tượng Từ Đạo Hạnh thể hiện hai kiếp trước sau của một con người. Chùa Láng còn là di tích cách mạng. Các cuộc họp Thanh niên phản đế (1940 - 1941), Thanh niên cứu quốc (1943 - 1944) đều diễn ra tại chùa Láng. Sau Cách mạng Tháng Tám, sáng mồng 4 Tết Bính Tuất (1946), Bác Hồ về chùa Láng khai mạc chợ phiên ủng hộ Nam bộ kháng chiến của đồng bào ngoại thành. Chùa Láng là di tích được xếp hạng Di tích cấp quốc gia trong đạt công nhận đầu tiên năm 1962.


Đình Nam Đồng ở phố Nguyễn Lương Bằng được xây dựng từ thế kỷ XVII, kiến trúc quy mô gồm tam quan, đại đình, hậu cung. Các bức cuốn có nhiều mảnh chạm mang phong cách dân gian có tính nghệ thuật cao. Chiếc ngai gỗ sơn son thếp vàng và các đồ thờ là di vật cổ hơn 300 năm. Đình có năm tấm bia đá còn lưu giữ được, sớm nhất là bia Cảnh Hưng năm thứ 17 (1756). Đình có đôi câu đối của nhà chí sĩ cách mạng Nguyễn Thượng Hiền viết năm 1902. Đình đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1991.


Đình Thổ Quan là nơi thờ ba anh em Hiển Hưu, Quý Minh và Phương Dung, tướng của Hai Bà Trưng làm thành hoàng. Đình Thổ Quan, đình - đền Trung Tả, chùa Linh Ứng là ba di tích trong phường Thổ Quan đều được công nhận là Di tích cấp quốc gia năm 1993.


Trên địa bàn quận Đống Đa, còn có các đình Hào Nam, Trung Tự, Linh Quang, Hoàng Cầu...; các chùa Ngọc Hồ, Phụng Thánh, Cát Linh, Xã Đàn, Phổ Giác, Huy Văn, Thanh Nhàn, Mỹ Quang, Bà Nành, Quang Minh...; các đền Nhà Bà, Tương Thuận, Sòng Sơn, điện Dục Khánh, Quán Bích Câu đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:17:02 pm »

Đống Đa cũng vinh dự là nơi có đình - đền Kim Liên thờ vị thần Cao Sơn Đại Vương, một trong tứ trấn của Thăng Long. Di tích này trước là đền sau là đình của làng Kim Liên thuộc phường Phương Liên. Đình lưu giữ được 39 đạo sắc phong, trong đó có 26 đạo thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI - XVIII), 13 đạo sắc thời Nguyễn, cổ nhất là đạo sắc phong niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 2 (1620). Di sản lâu năm nhất là bài văn bia "Cao Sơn Đại Vương thần từ bị minh" do Đông Các đại học sĩ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Thượng thư Bộ Lễ Lê Tung soạn năm 1510, khắc vào bia đá năm 1772 đời Lê Hiển Tông. Bia được làm bằng đá xám mịn cao 2,43m, rộng 1,57m, dày 0,22m chạm rồng và hoa mây, chữ khắc chân phương, là một trong những tấm bia quý của Hà Nội.


Thần Cao Sơn được thờ ở rất nhiều nơi trong thành Thăng Long cũng như trong cả nước, nhưng đình Kim Liên là nơi thờ lớn nhất vì được phong là thần Trấn Nam. Lễ hội Kim Liên vào ngày 16 tháng 3 âm lịch, với sự tham gia của ba làng: Quỳnh Lôi, Bạch Mai, Phương Liên. Hội có nhiều trò chơi dân gian cổ truyền như thổi cơm thi trên thuyền, bắt vịt dưới hồ, chọi chim, đi cầu bập bênh. Đặc biệt là thi cỗ 5 - 7 tầng, tạo các hình Phật Bà, Thạch Sanh, Lã Vọng... do các giáp dâng cúng. Khu di tích này đã được trùng tu lớn và xây dựng lại các bộ phận bị phá hủy trong chiến tranh. Di tích đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia năm 1990.


Ở các đình, đền, chùa, quán đều có lễ hội hằng năm. Lớn nhất là hội Gò Đống Đa, hội chùa Láng.

Đống Đa cũng có nhiều truyền thuyết, cổ tích, giai thoại. Đó là chuyện tiên ở chùa Ngọc Hồ đã gặp vua Lê Thánh Tông, sau lại vào tranh về nhà Tú Uyên bên "Ngòi biếc" (Bích Câu); chuyện Thánh Tú (Từ Đạo Hạnh) đầu thai; chuyện dân làng Văn Chương kiện vua Quang Trung vì quân lính Tây Sơn làm đổ bia Văn Miếu; chuyện Ngô Thì Nhậm bị đòn thù; cuộc vịnh thơ ngàn năm văn vật đất Thăng Long, v.v...


Phong tục tập quán của cư dân trên địa bàn quận Đống Đa mang nét chân quê, nặng tình làng nghĩa xóm, dù đô thị hóa vẫn còn giữ mối quan hệ mật thiết "bán anh em xa mua láng giềng gần", tương trợ lẫn nhau lúc "tối lửa tắt đèn". Dưới thời phong kiến, nhiều làng có hương ước khá tiến bộ, có những điều khoản đến nay vẫn còn bảo lưu. Nền nếp gia phong được coi trọng, sinh hoạt dòng họ khích lệ động viên nhau học tập tốt, kinh doanh thạo, làm việc thiện. Người già được kính trọng, con cháu noi theo gương tốt của cha mẹ, ông bà, trong nhà đóng cửa bảo nhau không để xích mích phải đưa ra nhờ cửa quan phân xử.


Nhiều làng có tục kết chạ, kết nghĩa với nhau như năm làng Mọc. Họ giúp nhau trong sản xuất, tương trợ nhau lúc hoạn nạn, cùng nhau chia sẻ buồn, vui, khi cần đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng họ sát cánh bên nhau.

Con người Đống Đa có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, tài hoa. Vốn là vùng nông nghiệp ven đô, lại nhiều ao đầm, Đống Đa xưa là kho thực phẩm cung cấp cho kinh thành. Một dải rau xanh kéo dài từ ba làng Láng qua Thịnh Quang, Hào Nam, Thổ Quan, Xã Đàn, Trung Phụng, Kim Liên. Kẻ Láng (Yên Lãng) với ba thôn Thượng, Trung, Hạ là nơi trồng rau gia vị nổi tiếng đất kinh thành.


Đặc sản của kẻ Láng là húng và hành hoa. Cây húng có mùi vị đặc biệt, màu tía, lá nhỏ hơi quăn và thơm dịu, chỉ trồng trên đất Láng mới ngon, đem trồng nơi khác đều hắc mùi bạc hà. Hành hoa là loại hành không có củ, dùng làm gia vị cho nhiều món ăn. Đây là hai thứ gia vị góp phần tạo nên nét đặc trưng của ẩm thực Hà Thành.


Các làng khác chủ yếu là trồng rau muống, rau muống ruộng và rau muống bè thả dưới ao đầm. Chỗ cầu Muống xưa bắc qua sông Kim Ngưu, khoảng giữa hai làng Trung Phụng và Kim Liên có giống rau muống ngon. Đây là loại rau muống nước, ngọn nhỏ, cuống to, ăn bùi và mềm, thường quen gọi là rau giải, muống tiến (vua).


Hai làng Kim Liên (trước là Kim Hoa) và Trung Tự (trước là Đông Tác) là vùng đất trũng, nhiều ao, hồ, đầm. Hồ Đồng Lầm lớn nhất, rộng hàng chục mẫu. Con đường Thiên lý xuống vùng Sơn Nam trước qua Ô Cầu Dền, Trạm Hà Mai đến Đuôi Cá xuôi về Nam. Sau con đường được nắn thẳng để thành Quốc lộ 1 (đoạn phố Lê Duẩn) nên đã đắp đất lấp ngang hồ Đồng Lầm, cắt thành hai hồ Bảy Mẫu và Ba Mẫu. Phía Nam làng Kim Hoa thành một cửa ô có các tên gọi là Ô Kim Hoa, Ô cầu Muống, ô Đồng Lầm, nhưng ô Đồng Lầm là tên gọi quen thuộc nhất. Có hồ lớn nên nuôi thả cá và chài lưới là nghề của nhiều hộ dân ở đây. Kim Liên còn có nghề nhuộm vải nâu non, nâu sồng. Đây là thứ vải rồng mỏng, mềm mặc rất mát do người dân địa phương dệt, nhuộm nâu non chỉ nhúng vào nước củ nâu, rồi phơi hàng chục lần. Còn nhuộm nâu sồng thì nhúng thêm vào bùn nước để có màu nâu đen cho người già dùng. Tận dụng mặt nước lớn, người dân Kim Liên còn trồng sen lấy hoa ướp hương chè.


Trên đất Quan Trạm - Trung Tả - Mỹ Đức có con đường Khâm Thiên chạy qua, nay là địa bàn thuộc hai phường Khâm Thiên và Thổ Quan, cũng là vùng có nhiều ao hồ, nghề trồng rau, làm đậu phụ, nuôi cá chiếm số đông.

Khâm Thiên có một nghề thủ công khá phát triển là nghề may, đã đưa Khâm Thiên thành phố thợ may, vừa may đo cho khách, vừa làm gia công cho làng may Cổ Nhuế, nơi đây đã trở thành một điểm hẹn của người Hà Nội. Ở đây có đủ các loại mặt hàng từ thông thường đến hàng ngoại, từ kiểu cách truyền thống đến các "mốt" tân thời. Thời bao cấp, phố này còn là nơi sớm thành lập các tổ đan len, tổ dịch vụ "cơm nồi, nước sôi" phục vụ cán bộ, công nhân đi làm thời chiến. Khâm Thiên cũng có nghề thợ sắt làm cửa kéo, khung hoa cửa sổ, cầu thang...


Đống Đa còn có một vùng chế biến thực phẩm từ lâu đời ở gần Văn Miếu, đầu con đường Thượng đạo lai kinh. Đó là các thôn Thục Miến và Hương Miến. Miến nghĩa chữ Hán là Bột. Thục Miến là bột chín, đó là cháo bột (nay còn tên gọi phố Hàng Cháo), hoặc có thể còn là bột gạo nếp rang và xay mịn để đóng oản và làm bánh khảo. Hương Miến là bột thơm như bột sắn ướp hoa nhài, bột nếp ướp hoa bưởi... Do đó, con đường dài đi bên trái Văn Miếu về phía Ô Chợ Dừa được mang tên phố Hàng Bột từ cồ xưa (năm 1989 đổi tên là phố Tôn Đức Thắng). Hiện nay, Hàng Bột là tên một phường trên địa bàn quận Đống Đa.


Bên số lẻ phố Hàng Bột này còn có ngõ Thông Phong, tên một loại dụng cụ bắng thủy tinh chụp lên các cây đèn cồn, đèn cầy che ngọn lửa cho khỏi gió. Trong ngõ này có nhiều lò thủy tinh thổi bóng đèn mà thành tên. Những thợ lò sau còn thổi ra chai, lọ, cốc, ống tiêm... Đây là một nghề thủ công vất vả, cần có sức khỏe lại phải có tay nghề và giàu sáng tạo để làm ra sản phẩm vừa tốt, vừa đẹp...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:17:34 pm »

Làng Khương Thượng trước tình trạng đô thị hóa thời Pháp thuộc đã mất nhiều đất do bị quan lại chiếm dụng để lập ấp riêng và do thực dân tịch thu để mở sân bay Bạch Mai... nên nhân dân đã phải thâm canh tăng vụ, đồng thời tìm hướng khai thác sản vật trong vùng sẵn có để chế biến làm thức ăn cho mình, sau trở thành hàng hóa bán cho người tiêu dùng nhằm tăng thu nhập, cải thiện đời sống. Đồng đất ở đây có nhiều kênh mương, ao hồ, sông ngòi nên có nhiều sinh vật thiên nhiên như tôm, của, ốc, ếch, nhái, châu chấu, chim cò, cà cuống... Người Khương Thượng đã biến chúng thành những món ăn đặc sản truyền thống có tiếng từ xưa ở chợ Đồng Xuân và qua các gánh hàng rong trên đường phố. Đặc sản thứ ba là tinh dầu cà cuống lấy ra từ bọng con cà cuống thường bay ra trong đêm. Tinh dầu cà cuống không thể thiếu trong món chả cá, bún thang, bánh cuốn Thanh Trì... Nhân dân nơi đây còn săn chim, cò, đánh vợt châu chấu làm thức ăn cũng được nhiều người ưa chuộng. Những đặc sản ấy còn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay.


Tinh thần khắc phục khó khăn, lao động cần cù, sáng tạo trở thành nét đẹp truyền thống của con người Đống Đa trong cộng đồng dân cư đô thị Thăng Long - Hà Nội.

Đặc biệt, Khâm Thiên còn là phố cô đầu hát ca trù nổi tiếng Hà Thành nửa đầu thế kỷ XX. Ca trù là một nghệ thuật đặc sắc của văn hóa dân tộc, khởi nguồn từ hát cửa đình trong các dịp đình đám. Một thú chơi thanh lịch, trí tuệ của khách văn chương hào hoa. Ca trù lập thành phường gọi là Giáo Nhai - Hàng Giấy. Đô thị Hà Nội mở rộng, ca quán ở nội thành không hợp nên đã dạt về cuối phố Huế và tập trung nhất ở Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Thái Hà. Những đào nương có giọng ca hay nhất nước về ca trù đều hội tụ ờ Khâm Thiên, cùng với họ là những tay đàn đáy tuyệt vời. Khách đi nghe hát, thưởng thức nghệ thuật là các trí thức, nhà nho, văn nghệ sĩ. Họ tự soạn bài để đào nương hát mua vui với bạn bè tâm đắc. Đến thời kỳ mới, nhận thức lại bản sắc của nghệ thuật ca trù, đánh giá đúng giá trị của nó, ca trù được phục hồi, một số đào nương và nhạc công cự phách của Khâm Thiên được vinh danh nghệ sĩ.


Nói đến Đống Đa là nói đến vùng đất có bề dày truyền thống lâu đời, truyền thống ấy vẫn đang được bảo tồn và phát huy trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam. Đó là truyền thống yêu nước và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; truyền thống hiếu học và đào tạo nhân tài; truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và truyền thống văn hóa.


Trên các trang sử của Thủ đô còn ghi đậm dấu ấn truyền thống yêu nước anh hùng của người Đống Đa.

Từ lúc Hai Bà Trưng "phất cờ nương tử cầm quyền tướng quân", vùng đất này đã dậy sóng đấu tranh để lại nhiều dấu tích như: Bãi Trận, Hồ Đồn, Lệnh Cư ở Thổ Quan. Khi quân Minh chiếm thành Đông Quan, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, đem nghĩa quân ra bao vây Đông Quan, cuối năm 1426, chỉ cách nhau một tháng đã diễn ra hai trận kịch chiến tại Cống Mọc, nghĩa quân đánh cho quân thù tơi tả, xác giặc ngổn ngang lập thành bảy gò Đống Thây.


Mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, cả vùng Khương Thượng âm vang trống thúc và rực đỏ trận "rồng lửa" của dân bảy làng phối hợp với quân Tây Sơn thiêu cháy đồn thù, tướng giặc Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự sát. Đại quân ta tiến lên hạ tiếp trại Nam Đồng mở lối vào cửa Tây thành Thăng Long, cùng với cánh quân phía Nam do vua Quang Trung chỉ huy tiến vào giải phóng kinh đô. Chứng tích Gò Đống Đa là nơi thu thập xương cốt quân Thanh từ 12 gò mả trong lần mở đường, lập chợ 60 năm sau.


Những giá trị truyền thống tốt đẹp bao thế hệ người dân Đống Đa vun đắp, lưu truyền là tiền đề cho sự phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng và sự ra đời, phát triển, chiến đấu chiến thắng của lực lượng vũ trang ba thứ quân quận Đống Đa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:19:53 pm »

2. Các tổ chức vũ trang ra đời làm nòng cốt đấu tranh vũ trang, xây dựng và bảo vệ phong trào cách mạng (1930 - 1940)

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sự đầu hàng của Nhà Nguyễn biến nước Việt Nam từ một quốc gia phong kiến có chủ quyền trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến1 (Phân biệt với xã hội thuộc địa và xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Xã hội thuộc địa do thực dân thống trị xã hội bằng bộ máy của thực dân. Xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến là xã hội một phần lãnh thổ quốc gia chuyển nhượng cho thực dân không thời hạn hoặc trong một thời gian nhất định, trở thành một đơn vị hành chính của chính quốc. Xã hội thuộc địa nửa phong kiến là xã hội thuộc địa ở đó bọn thực dân vẫn duy trì chế độ phong kiến ở bản địa, sử dụng bộ máy phong kiến làm công cụ thống trị, áp bức, bóc lột nhân dân, khai thác tài nguyên phục vụ cho lợi ích của tư bản chính quốc).


Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành chương trình khai thác thuộc địa trên quy mô cả nước với mục tiêu biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân lực và thị trường tiêu thụ hàng hóa cho các tập đoàn tư bản Pháp, đồng thời trở thành một cơ sở kinh tế quan trọng và căn cứ quân sự trọng yếu của nước Pháp ở vùng Viễn Đông.


Quá trình xâm lược, khai thác thuộc địa ở Việt Nam của thực dân Pháp làm thay đổi căn bản toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Việt Nam nói chung và của các địa phương địa bàn Đống Đa nói riêng.

Bộ máy chính quyền Nam triều ở các cấp chỉ là công cụ tay sai của thực dân Pháp. Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân các địa phương ở Đống Đa rơi vào thảm cảnh một cổ hai tròng, mọi quyền tự do, dân chủ của người dân đều bị bóp nghẹt.

Sau khi thiết lập xong bộ máy hành chính và quân sự ở Hà Nội, thực dân Pháp tiến hành các biện pháp cướp đất, mở nhà máy để khai thác tài nguyên, khai thác bóc lột sức lao động của nguồn nhân công rẻ mạt, dồi dào ở Việt Nam. Giới chủ và địa chủ kiêm công chức người Việt cũng thực hiện các thủ đoạn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, bóc lột sức lao động của công nhân, nhân dân lao động.


Đống Đa từ những năm 1920 cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một vùng ngoại ô nghèo, chủ yếu là nông dân lao động làm nông nghiệp. Đất nông nghiệp Đống Đa thuộc loại tốt, nhưng tuyệt đại bộ phận đất đai không thuộc quyền sử dụng của nông dân. Một số quan lại tay sai của thực dân Pháp chiếm nhiều vùng đất rộng lớn để lập ấp. Nguyễn Hữu Độ - Kinh lược xứ Bắc Kỳ chiếm hầu hết vùng đất xung quanh phố Nguyễn Khuyến ngày nay, rồi xây đền, sinh từ bắt dân địa phương thở sống. Kinh lược Hoàng Cao Khải cũng chiếm đất lập ấp Thái Hà với mục đích làm khu ăn chơi cho quan lại phong kiến. Sau khi Hoàng Cao Khải chết, con là Hoàng Trọng Phu cho xây dựng tại đó lăng vợ chồng Hoàng Cao Khải theo kiểu lăng của các vua chúa. Một phần lớn ruộng đất khác bị chiếm để xây dựng các nhà thờ Nam Đồng, Hàng Bột thành những trung tâm phát triển đạo Thiên chúa ở vùng ngoại thành.


Địa bàn Đống Đa không có các cửa hàng và cơ sở công nghiệp lớn. Thành phần cư dân phần đông là dân nghèo thành thị và nông dân. Một bộ phận những người nông dân không có ruộng, những người lao động ở quê không có việc làm đưa nhau vào thành phố họp thành những khu lao động mới, làm đủ mọi việc để kiếm sống như: nề, mộc, cắt tóc, đạp xích lô, kéo xe tay, chạy chợ, hát rong... Một xóm những gia đình phu đổ thùng vệ sinh của toàn thành phố hình thành ở đường La Thành. Đáng chú ý là lực lượng công nhân, mà chủ yếu là công nhân đường sắt ra đời với sự thiết lập Công ty xe lửa Đông Dương - Vân Nam và tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Vân Nam từ năm 1901, đến năm 1906 thì thông tuyến đến Lào Cai. Khu lao động lớn sau Ga Hàng Cỏ cũng hình thành từ đó. Xen lẫn trong lớp thị dân là những người trí thức nhỏ, viên chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo... với cuộc sống quanh năm nghèo túng. Phố Khâm Thiên có cả một ngõ xưa có tên là Ngõ ăn mày (nay là ngõ Đoàn Kết), hầu hết những cư dân ở đây sống bằng nghề ăn xin khắp nơi trong thành phố. Nhà thơ Tản Đà, nhà văn Vũ Trọng Phụng chết trong cảnh nghèo túng ở Ngã Tư Sở. Dưới ách áp bức thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nhân dân Đống Đa với nhiều tầng lớp người lao động bị bóc lột, đói khổ, cực nhục luôn ấp ủ một tinh thần yêu nước và cách mạng, chờ thời cơ đến là nổi dậy giành quyền sống, quyền tự do, độc lập. Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, người dân Đống Đa tích cực tham gia các phong trào yêu nước sôi nổi, mạnh mẽ như: đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, tưởng niệm Lương Văn Can, bãi công đòi quyền lợi cho người lao động.


Năm 1925, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời, Đống Đa trở thành một trong những địa bàn có phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Hiệu cắt tóc Bối Thịnh là một trong ba cơ sở ở Hà Nội của tổ chức Tân Việt. Bối Thịnh là tên gọi cửa hiệu số 5 Ô Chợ Dừa của vợ chồng ông bà Nguyễn Quang Bật từ những năm 20 đến hết thập niên 40 của thế kỷ XX. Vợ chồng ông bà Bối Thịnh theo đạo Thiên Chúa, không có con, mở một xưởng sản xuất nhỏ với vài chục thợ. Cơ sở Bối Thịnh trở thành nơi qua lại chủ yếu của các đảng viên Tân Việt ở Hà Nội như: Nguyễn Tạo, Tôn Quang Phiệt, Hoàng Mai, Nguyễn Hạp... Sau này, cơ sở Bối Thịnh là địa điểm liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ từ năm 1930 đến năm 1934.


Sau khi những lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên kết thúc, nhiều học viên trở về nước hoạt động. Hà Nội từ đó trở thành nơi đưa đón thanh niên trí thức từ trong nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện rồi lại trở về nước hoạt động. Cuối năm 1926, sau khi dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu, đồng chí Nguyễn Công Thu được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước lập đường dây liên lạc đưa đón cán bộ sang Quảng Châu và chịu trách nhiệm xây dựng tổ chức Thanh niên ở Hà Nội. Một chi hội (lúc đó gọi là chi bộ) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Hà Nội được thành lập gồm 11 người, trong đó có đồng chí Mai Lập Đôn. Nhà của đồng chí Mai Lập Đôn ở số 8 Ô Chợ Dừa (nay là ngã năm Ô Chợ Dừa) từ đó trở thành địa điểm qua lại, liên lạc, đưa đón thanh niên sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nhà số 39 Thái Hà ấp là nơi in tài liệu và tái bản báo Thanh niên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Khách sạn Nam Lai, số 95 phố Hàng Lọng (nay là số 107 phố Lê Duẩn), trước Ga Hàng Cỏ là địa điểm bí mật liên lạc, đưa đón cán bộ, hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1925, trên đường sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị, đồng chí Trần Phú từng dừng chân nghỉ lại Khách sạn Nam Lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:21:07 pm »

Tiếp theo sự ra đời Chi bộ đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội, trên địa bàn Đống Đa, cơ sở của tổ chức này tiếp tục phát triển ở Khâm Thiên, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa, Nam Đồng, Thái Hà, Kim Liên, Trung Tự.

Tháng 3 năm 1927, Kỳ bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên Bắc Kỳ được thành lập gồm năm đồng chí: Nguyễn Danh Đới, Mai Lập Đôn, Nguyễn Công Thu, Dương Hạc Đính, Mai Ngọc Thiện. Ngôi nhà 68 phố Nam Đồng là nơi đặt cơ sở liên lạc, hội họp bí mật và huấn luyện cán bộ của Kỳ bộ Bắc Kỳ và của Tỉnh bộ Hà Nội.


Trong những năm 1927 - 1928, thanh niên, phụ nữ Đống Đa tích cực tham gia phong trào cách mạng. Tiêu biểu là ông Nguyễn Ngọc Vũ (còn có các bí danh là Phương và Lục) nhà ở phố Khâm Thiên, là một thanh niên yêu nước, được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1927, sau là Bí thư Thành ủy Hà Nội.


Nhiều phụ nữ ở Đống Đa tích cực tham gia hoạt động cách mạng, tiêu biểu như các nữ đồng chí: Mai Thị Ngọc Thuyết (tức Mai Thị Vũ Trang), Lê Thị Sói, Nguyễn Thị Nhâm... Đồng chí Mai Thị Vũ Trang là em gái đồng chí Mai Lập Đôn, làm liên lạc cho các đồng chí của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đồng chí thường qua lại nhà số 8 Ô Chợ Dừa để giúp các đồng chí của tổ chức hoạt động. Có lần đồng chí Trang vượt qua vòng vây dày đặc của mật thám trên tuyến đường sắt Hải Phòng - Hà Nội để chuyển một valy súng tới địa điểm an toàn. Cuối năm 1928, đồng chí Trang rải truyền đơn ở Hà Đông phản đối thực dân mộ phu đi Tân thế giới. Năm 1929, đồng chí đi "vô sản hóa" ở Nam Định, một mặt để tự rèn luyện mình, mặt khác để tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức các hội quần chúng.


Trong phong trào "vô sản hóa", nữ đồng chí Nguyễn Thị Vịnh quê ở làng Kim Liên sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương xuống Hải Phòng làm nữ hộ sinh trong Nhà thương Chính. Đầu năm 1927, đồng chí được kết nạp và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đồng chí tuyên truyền giác ngộ, giới thiệu được đồng chí Nguyễn Thị Hiền (em gái) và Hồ Thị Lân vào Hội và hình thành Tổ Thanh niên trực thuộc Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng. Tổ Thanh niên do đồng chí Vịnh phụ trách tích cực hoạt động góp phần quan trọng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.


Tháng 6 năm 1927, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên của Hà Nội được thành lập gồm ba đồng chí: Nguyễn Danh Đới, Mai Lập Đôn, Nguyễn Phong sắc. Nhà số 8 Ô Chợ Dừa tiếp tục trụ sở liên lạc của Tỉnh bộ. Ngày 28 tháng 9 năm 1928, Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ tiến hành Đại hội đại biểu toàn kỳ lần thứ nhất. Đồng chí Mai Lập Đôn là một trong ba đại biểu của Hà Nội tham dự. Đại hội đề ra chủ trương "vô sản hóa". Thực hiện chủ trương "vô sản hóa", hai đồng chí Mai Lập Đôn và Mai Thị Vũ Trang xuống Nam Định làm thợ sơn cột đèn ở Sở Lục lộ. Thực tế hoạt động của một số hội viên Thanh niên của Hà Nội trong các nhà máy, xí nghiệp đã tạo điều kiện để rèn luyện cán bộ và giác ngộ vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân. Chính nhờ đó mà từ cuối năm 1928 trở đi, các tổ chức Công hội, Nông hội, các chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lần lượt ra đời và phát triển ở địa bàn Đống Đa, như: Ga Hàng Cỏ, Yên Lãng, Thịnh Hào, Khương Thượng... Nhờ chủ trương "vô sản hóa" và những hoạt động của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần rọi chiếu vào phong trào công nhân, vào các tổ chức quần chúng. Ảnh hưởng của tư tưởng cộng sản ngày càng lan rộng và sâu hơn trong phong trào công nhân. Đó là yếu tố quan trọng thúc đẩy phong trào công nhân có bước phát triển mới. Ngày 22 tháng 10 năm 1928, công nhân Đống Đa tham gia cuộc bãi công của những người kéo xe tay thành phố. Cuối năm 1928, thanh niên ngoại thành cùng thanh niên nội thành tổ chức in, rải truyền đơn phản đối bọn thực dân mộ nhân công Hà Nội đưa đi bán cho các chủ mỏ, chủ đồn điền Pháp ở Tân Thế giới (thuộc địa của Pháp ở Nam Thái Bình Dương). Khoảng đầu năm 1929, Tỉnh bộ Thanh niên Hà Nội tiến hành đại hội tại số nhà 92 Nam Đồng (nay là phố Nguyễn Lương Bằng).


Những tháng cuối năm 1928, đầu năm 1929, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng lớn mạnh, số hội viên thanh niên hoạt động ở các nhà máy, thôn, xã ngày càng đông; tổ chức cơ sở của Thanh niên trong công, nông ngày càng phát triển; sự giác ngộ giai cấp của quần chúng, hội viên được nâng cao; xu hướng cộng sản chủ nghĩa ngày càng rõ rệt. Với tư cách là Ủy viên Kỳ bộ Bắc Kỳ và Ủy viên Tỉnh bộ Hà Nội, đồng chí Mai Lập Đôn tham gia nhiều cuộc họp nhận định về phong trào công nhân, về lực lượng của tổ chức Thanh niên ở các nhà máy, xí nghiệp, thôn xã, về ý thức giác ngộ giai cấp của quần chúng... Trên địa bàn Cát Linh, với vai trò tích cực của đồng chí Nguyễn Thị Nghĩa - Công nhân nhà máy gạch Năm Diệm, Hội viên Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào đấu tranh của công nhân nhà máy gạch Năm Diệm, công nhân Công ty Vệ sinh Hàng Đẫy, công nhân Xưởng ô tô Avia (Aviat) phát triển hết sức mạnh mẽ.


Thực tiễn ngày càng đòi hòi phải có một tổ chức chặt chẽ, có cương lĩnh rõ ràng, phương pháp hoạt động đúng đắn, với cơ sở quần chúng rộng rãi để đáp ứng được những yêu Cầu Mới của phong trào, lãnh đạo phong trào đi lên theo con đường cách mạng vô sản. Nhận thức được những đòi hỏi của lịch sử và xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng nước ta, tháng 3 năm 1929, những thanh niên tiêu biểu trong ban lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ và Tỉnh bộ Hà Nội bí mật họp ở số nhà 5D phố Hàm Long, Hà Nội để thành lập tổ chức cộng sản. Chi bộ 5D Hàm Long ra đời là bước chuẩn bị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản. Từ đây bắt đầu một quá trình bônsêvích hóa tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sự chuyển biến trong phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Hà Nội. Cuộc bãi công có tiếng vang lớn của công nhân Xưởng ôtô Avia - hãng sửa chữa ôtô lớn nhất Đông Dương lúc đó do đồng chí Ngô Gia Tự và tổ chức Công hội nhà máy lãnh đạo, có sự tham gia của nông dân ngoại thành và các vùng phụ cận.


Trong các ngày 28 và 29 tháng 3 năm 1929, Đại hội đại biểu Thanh niên toàn Bắc Kỳ lần thứ hai nhiệt liệt tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản và giao cho ban đại biểu Hà Nội là Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Dương Hạc Đính, Nguyễn Tuân có nhiệm vụ đấu tranh trước Đại hội toàn quốc về việc thành lập Đảng Cộng sản.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM