Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:47:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019  (Đọc 5362 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #10 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2026, 07:22:46 pm »

Ngày 1 tháng 5 năm 1929, tại Đại hội Thanh niên toàn quốc họp tại Hương Cảng (Trung Quốc), ý kiến đề nghị thành lập Đảng Cộng sản của đoàn đại biểu Bắc Kỳ không được chấp thuận, ba đại biểu bỏ Đại hội ra về. Ngày 1 tháng 6 năm 1929, tại chùa Hương Tuyết (phố Bạch Mai), đoàn đại biểu Thanh niên Bắc Kỳ ra tuyên bố nêu rõ lý do bỏ Đại hội ra về và đề nghị xúc tiến ngay việc thành lập Đảng Cộng sản. Tiếp đó, ngày 17 tháng 6 năm 1929, tại số nhà 312 phố Khâm Thiên, đại biểu các tổ chức cộng sản mới được thành lập ở các tỉnh Bắc Kỳ họp quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị thông qua Chính cương, Điều lệ và Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng. Hội nghị cũng quyết định tổ chức Tổng Công hội đỏ, phát triển Nông hội, Sinh hội, tổ chức Hội Phụ nữ giải phóng; thành lập cơ quan ngôn luận, xuất bản báo "Búa liềm" (ở Trung ương), "Bônsêvích" (ở Trung Kỳ), "Cờ cộng sản" (ở Nam Kỳ).


Như vậy, Đống Đa không những là địa bàn có các cơ sở liên lạc của những tổ chức yêu nước và cách mạng, có những người con như Nguyễn Ngọc Vũ, Mai Lập Đôn, Mai Thị Vũ Trang... sớm có mặt trong các tổ chức đó, mà còn là cái nôi của một trong những tổ chức cộng sản đầu tiên của cả nước. Công nhân và các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, học sinh yêu nước, tiến bộ hoạt động trên địa bàn Đống Đa góp một phần hết sức quan trọng vào bước tiến mau lẹ, vững chắc và đúng hướng của phong trào cách mạng cả nước.


Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời chưa đầy 10 ngày thì Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ được thành lập. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng phụ trách Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội. Đại hội Tông Công hội đỏ Bắc Kỳ quyết định ra Báo Lao động, Tạp chí Công hội đỏ. Cơ quan ấn loát đặt ở nhiều nơi, trong đó có một điểm tại phố Nam Đồng. Nhiều nhà máy, xí nghiệp ở Đống Đa thành lập tổ chức Công hội đỏ. Đi đôi với việc tăng cường công tác vận động công nhân, công tác vận động nông dân cũng được đẩy mạnh. Các làng xã: Mọc Chính Kinh, Mọc Quan Nhân, Mọc Giáp Nhất, Khương Thượng, Khương Trung, Khương Hạ... đều có tổ chức Nông hội đỏ. Phong trào học sinh, sinh viên, có tổ chức Sinh hội ở Trường Sinh Từ... Ngoài ra còn có tổ chức Viên chức ở Ga Hàng Cỏ. Cơ sở quần chúng cách mạng còn được mở rộng xuống các đường phố, các nhóm dân cư hoạt động theo nghề nghiệp.


Sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, Thành bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Hà Nội cũng ra đời. Thành bộ một mặt tích cực phát triển gây cơ sở khắp nơi trong thành phố, mặt khác tuyên truyền, tổ chức những ngày lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, qua đó nêu cao tinh thần yêu nước và giác ngộ chủ nghĩa quốc tế vô sản cho đảng viên và quần chúng cách mạng.


Nhân ngày "Quốc tế chống chiến tranh đế quốc" (1.8.1929), thực hiện chủ trương của Thành bộ Hà Nội, đảng viên và quần chúng Đống Đa đi rải truyền đơn tiếng Việt và tiếng Pháp ở khắp các đường phố, thôn xã. Truyền đơn kêu gọi những người lao động đứng lên phản đối chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên bang Xôviết, kỷ niệm lần thứ 12 Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngay từ đêm 6 tháng 12 năm 1929, nhiều quần chúng gan dạ, mưu trí treo cờ đỏ búa liềm ở Ga Hàng Cỏ, Ngã Tư Sở... Lần đầu tiên cờ đỏ búa liềm tung bay trên bầu trời Đống Đa. Hàng nghìn truyền đơn được rải khắp địa bàn Đống Đa với các nội dung như: "Bảo vệ Liên Xô", "Không đi lính cho đế quốc Pháp", "Không đánh Liên Xô", "Noi gương Cách mạng Tháng Mười, đoàn kết cùng công nông toàn thế giới đứng lên làm cách mạng mau mau. Với tinh thần trách nhiệm chung, mọi người chúng ta đoàn kết lại để bảo vệ Liên Xô và chống đế quốc chiến tranh".


Chỉ trong một thời gian ngắn, hoạt động tích cực của Đông Dương Cộng sản Đảng lan rộng trong khắp cả nước. Trong nội bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có sự phân liệt ngày càng sâu sắc. Mùa thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng tuyên bố thành lập. Chịu ảnh hưởng của những sự kiện trên, tháng 1 năm 1930, những người tiên tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng cũng thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.


Trước yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng, cần phải sớm thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, tại Hồng Kông - Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở Đông Dương. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Hội nghị thông qua Chính cương vắn tắt, sánh lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, sau đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương.


Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với chính cương, sách lược đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam hòa vào xu thế chung của thời đại - cách mạng vô sản và chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo.

Cuộc vận động thành lập Đảng và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển sôi nổi mạnh mẽ trong cả nước, tác động sâu sắc tới các tầng lớp nhân dân Đống Đa.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 17 tháng 3 năm 1930, tại nhà số 42 phố Hàng Thiếc, Ban chấp hành lâm thời của Thành Đảng bộ Hà Nội được thành lập, gồm ba đồng chí: Đỗ Ngọc Du (Bí thư), Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng ở Hà Nội càng có điều kiện phát triển. Nổi lên là những cuộc vận động quyên góp tiền ủng hộ bãi công của công nhân các địa phương, đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, sa thải thợ của công nhân Nhà máy điện Bờ Hồ. Nhân ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1930, tổ chức Công hội đỏ tổ chức rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, cờ đỏ ở các phố Khâm Thiên, Bạch Mai, Ga Hàng Cỏ... kêu gọi công nhân lao động Hà Nội đứng dậy đấu tranh cùng công nhân cả nước.


Tháng 6 năm 1930, đồng chí Trần Văn Lan - Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp tại nhà số 177 phố Hàng Bông đề tổ chức lại Thành ủy Hà Nội. Từ đây, Thành ủy Hà Nội được chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ làm Bí thư và hai ủy viên là Lê Đình Tuyển và Đỗ Danh Vưu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #11 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:28:33 pm »

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy Hà Nội tập trung chỉ đạo các cơ sở với phương châm hướng hoạt động vào phong trào công nhân, lấy phong trào công nhân làm nền tảng của Đảng và tăng tỷ lệ cán bộ lãnh đạo là công nhân ở tất cả các cấp. Thành ủy quyết định thành lập Đội Tuyên truyền xung phong, tập trung gây dựng cơ sở đảng và vận động quần chúng công nhân, nông dân, sinh viên, binh lính, thanh niên trong thành phố. Trên địa bàn Đống Đa, cơ sở đảng được mở rộng và thành lập ở Ga Hàng Cỏ, Sở Vô tuyến điện Bạch Mai. Các tổ chức nông dân, thanh niên và các giới lao động khác cũng được Đảng bộ chú trọng gây dựng.


Với sự có mặt của các cơ sở đảng, nhiều hoạt động tuyên truyền xung phong phát huy ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng được tổ chức với nhiều hình thức phong phú... Tháng 10 năm 1930, nhiều hoạt động táo bạo ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh diễn ra trên địa bàn Đống Đa. Hàng nghìn tờ truyền đơn với nội dung "Không được đụng đến công nông Nghệ - Tĩnh" được rải ở nhiều nơi. Đặc biệt là cuộc mít tinh ngày 11 tháng 10 năm 1930 ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến) với sự có mặt của hàng trăm người cùng truyền đơn, biểu ngữ, cờ đỏ... Đội viên tuyên truyền xung phong diễn thuyết ủng hộ Xôviết Nghệ - Tĩnh. Cuộc diễn thuyết thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, biến thành một cuộc mít tinh lớn. Thực dân Pháp phải điều động cảnh sát tới đàn áp.


Đầu tháng 11 năm 1930, tên Graép - Toàn quyền Nam Dương (Inđônêxia) sang Hà Nội để cùng với Pátkiê - Toàn quyền Đông Dương lập liên minh chống phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa ở Đông Nam Á. Hai tổ xung kích bố trí đốt hai cổng chào do bọn thực dân dựng lên, trong đó có một cổng chào ở Ga Hàng Cỏ. Sự kiện này khiến thực dân Pháp hết sức tức tối, còn nhân dân khắp thành phố thì vô cùng phấn khởi. Tháng 12 năm 1930, nhân kỷ niệm lần thứ 13 ngày Cách mạng Tháng Mười Nga, cờ đỏ búa liềm và truyền đơn giải thích việc Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương xuất hiện ở nhiều nơi. Nông dân các làng xã ngoại thành dấy lên phong trào đấu tranh chống nạn "phụ thu lạm bổ".


Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân và nhân dân lao động trong cả nước, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố hòng phá vỡ các cơ sở, bóp chết phong trào. Nhiều đồng chí lãnh đạo và đảng viên trung kiên của Đảng bị địch bắt, nhiều tổ chức đảng và cơ sở cách mạng bị phá vỡ. Trong bối cảnh đó, cán bộ đảng viên vẫn kiên cường đấu tranh để củng cố, khôi phục lại tổ chức Đảng. Tháng 9 năm 1931, Thành ủy lâm thời Hà Nội được thành lập lại, đồng chí Trần Quang Tặng - Bí thư Xứ ủy được bầu làm Bí thư Thành ủy. Từ đây, hiệu Bối Thịnh ở nhà số 5 Ô Chợ Dừa lại trở thành cơ quan giao thông của Thành ủy. Trong thời gian này, đồng chí Trần Quang Tặng về Nam Định thu nhận thêm công nhân để bổ sung cho hiệu Bối Thịnh. Trong số 5, 6 công nhân thợ rèn, thợ cơ khí mới được bổ sung cho hiệu Bối Thịnh, có anh Nguyễn Văn Lan làm liên lạc cho Xứ ủy Bắc Kỳ.


Mặc dù kẻ thù khủng bố, đàn áp dã man, các cơ sở Đảng và Công hội đỏ ở nhà ga Hàng Cỏ, sở Vô tuyến điện Bạch Mai vẫn được duy trì. Công hội đỏ còn được duy trì và tổ chức theo ngành dọc ở các khu lao động Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa.

Năm 1932, một số đồng chí cán bộ, đảng viên bị địch bắt được trả tự do, tiếp tục trở lại hoạt động. Tháng 7 năm 1932, tại một cơ sở đáng tin cậy ở làng Trung Tự (ngõ chợ Khâm Thiên hiện nay), một chi bộ đảng được thành lập gồm bốn đồng chí: Nguyễn Thị Nhâm, Hoàng Đình Dinh, Đỗ Danh Vưu, Nguyễn Trần Đỗ. Chi bộ được gọi là "Chi bộ dự bị" vì chưa liên lạc được với tổ chức Đảng cấp trên. Vì vậy, nhiệm vụ trước hết của Chi bộ là chấp mối liên lạc, khôi phục và phát triển các cơ sở cách mạng. Sau một thời gian hoạt động, Chi bộ thành lập được một tổ phản đế và một số cơ sở quần chúng trong giới phụ nữ buôn bán ở Hàng Bột, Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa... Đầu năm 1933 chi bộ cũng bắt liên lạc được với hai trong bảy tù chính trị vượt ngục đêm Nôen năm 1932, là các đồng chí Nguyễn Tạo và Lê Đình Tuyển. Từ đó, Chi bộ từng bước chấp nối được đường dây liên lạc, khôi phục cơ sở cách mạng và biên soạn một số tài liệu huấn luyện.


Trước sự phát triển lớn mạnh của cơ sở Đảng và phong trào quần chúng, Chi bộ dự bị thấy cần thiết phải thành lập cơ quan lãnh đạo cấp xứ và cấp tỉnh, thành. Vào một tối Chủ nhật cuối tháng 3 năm 1934, tại nhà đồng chí Hoàng Đình Dinh ở ấp Thái Hà, chi bộ tiến hành cuộc họp. Nhưng do thiếu cảnh giác, cuộc họp bị mật thám Pháp phát hiện, hầu hết các đồng chí dự họp đêm hôm đó bị địch bắt.


Tuy cán bộ của Đảng bị bắt, cơ sở Đảng ở ấp Thái Hà bị vỡ, nhưng phong trào cách mạng ở Đống Đa vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù.

Năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp đề ra ba nhiệm vụ chủ yếu là: Củng cố phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng, chống chiến tranh đế quốc. Đặc biệt, ngày 28 tháng 3, Đại hội thông qua Nghị quyết Đội tự vệ - văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng về quân sự, trong đó định ra chủ trương, phương hướng xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là cơ sở cho sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các tổ chức vũ trang và phong trào đấu tranh cách mạng cả nước, cũng như ở Hà Nội, Đống Đa.


Trong năm 1935, địa bàn Hà Nội lại trở thành nơi đón tiếp một số đảng viên ở nước ngoài về và ở nhà tù Côn Đảo ra. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ở Hà Nội nói chung, địa bàn Đống Đa nói riêng phát triển hết sức sôi nổi, mạnh mẽ. Đặc biệt là cuộc đình công anh em lính thợ Việt Nam tại sân bay Bạch Mai.


Năm 1936, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến đổi, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương chuyển hướng đấu tranh nhằm tập hợp mọi lực lượng dân chủ tiến bộ, đấu tranh chống bọn phản động Pháp ở thuộc địa, đòi quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh. Những hình thức đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp với bí mật, không hợp pháp tạo điều kiện cho tổ chức của Đảng và Mặt trận Dân chủ phát triển.


Tháng 8 năm 1936, cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội được thành lập, lấy tên là "Ủy ban sáng kiến". Tiếp theo phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Hà Nội trong cuộc vận động dân chủ của Đảng do "Ủy ban sáng kiến" lãnh đạo diễn ra ngày càng sôi động. Đầu năm 1937, lợi dụng dịp đặc phái viên của Chính phủ Pháp Gi.Gôđa (Justin Godart) sang kinh lý Đông Dương, tiếp đó là Gi.Brêviê (Jules Brévié) sang nhậm chức Toàn quyền Đông Dương, Đảng vận động hai đợt biểu dương lực lượng quần chúng rầm rộ khắp cả nước. Bọn thống trị ngăn cản việc "đón" Gôđa vì sợ quần chúng tiếp xúc với Gôđa sẽ bùng lên những làn sóng đấu tranh mới. Chúng hoãn ngày Gôđa đến Hà Nội, hơn 30.000 quần chúng được huy động đi "đón" Gôđa bị lỡ lần thứ hai. "Ủy ban sáng kiến" liên lạc với tổ chức cơ sở Đảng ga Hà Nội theo dõi giờ Gôđa đến Hà Nội. Do tổ chức chặt chẽ, ngày 1 tháng 2 năm 1937, hàng vạn người Hà Nội, trong đó có các tầng lớp nhân dân vùng ga: phố Sinh Từ, Văn Miếu, Hàng Bột, Khâm Thiên..., kết hợp với nhân dân các tỉnh, được huy động về đứng xếp hàng trật tự trước cửa Ga Hà Nội và suốt dọc đường Gămbétta (Gambetta), nay là phố Trần Hưng Đạo, đến cửa nhà Đấu Xảo (nay là Cung văn hóa Hữu nghị) "đón" Gôđa với nhiều biểu ngữ đòi cải thiện cuộc sống, tự do dân chủ, tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, đại xá tù chính trị, bỏ thuế thân và các thuế khác. Cuộc đón tiếp Brêviê ngày 6 tháng 2 năm 1937 sau đó cũng khiến kẻ địch hết sức bối rối.


Như vậy, ngay trong thời kỳ khó khăn, nhân dân Đống Đa luôn cùng nhân dân Hà Nội cố gắng vượt lên, thực hiện những chủ trương của Đảng, tiếp tục khẳng định mình và khẳng định vị trí quan trọng của Đống Đa trong cuộc đấu tranh chung ở Hà Nội.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #12 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:30:04 pm »

Cũng trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Trọng Cảnh liên hệ với một số đảng viên công nhân trước đây được đồng chí Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) huấn luyện, tổ chức, xúc tiến thành lập Chi bộ ngành in. Sau khi thành lập Xứ ủy Bắc Kỳ, tháng 3 năm 1937, Thành ủy Hà Nội được khôi phục do đồng chí Lương Khánh Thiện - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ làm Bí thư. Ban Công vận Xứ ủy được xây dựng lại và quyết định thành lập tổ chức công khai gọi là Ủy ban Xướng xuất nghiệp đoàn gồm đại biểu công nhân và các ngành nghề khác. Ở Đống Đa, công nhân lao động ở nhiều ngành nghề như: mộc, xẻ, giặt, in... chủ động lập ra các hội ái hữu. Phong trào ái hữu phát triển mạnh khiến chính quyền thực dân buộc phải công khai cấp giấy chứng nhận cho một số tổ chức hội.


Nhà in Minh Sang ở phố Sinh Từ là trụ sở Ái hữu công nhân ngành in Bắc Kỳ. Tổ chức Thanh niên lập ra những nhóm nghiên cứu sách báo công khai, gọi là Nhóm nghiên cứu mácxít. Nông dân ngoại thành có nhiều tổ chức ra đời, như hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội đọc sách, thể thao, văn nghệ, lợp nhà... Sôi nổi và mạnh mẽ nhất là phong trào đấu tranh của công nhân các nhà máy, xí nghiệp. Tháng 4 năm 1937, hòa cùng phong trào công nhân nhà máy, xí nghiệp Hà Nội và các tỉnh, 48 thợ in Minh Sang đình công đòi tăng lương. Cuộc đình công thu được thắng lợi. Chủ phải tăng lương 5% cho thợ có mức lương trên 10 đồng Đông Dương và tăng từ 10 đến 15% cho thợ có mức lương dưới 10 đồng.


Phối hợp với công nhân, nông dân các làng xã ngoại thành cũng tập hợp lại, tổ chức những cuộc đấu tranh. Sáng 15 tháng 6 năm 1937, nông dân làng Yên Lãng kéo đến dinh Tổng đốc Hà Đông đòi giảm thuế.

Bước sang năm 1938, bất chấp mọi thủ đoạn đàn áp khủng bố của kẻ thù, phong trào đấu tranh của nhân dân Hà Nội nói chung nhân dân Đống Đa nói riêng tiếp tục tăng lên. Đầu tháng 3 năm 1938, tiểu thương Cát Linh cùng 500 tiểu thương Hà Nội đưa yêu sách 14 điểm lên Đốc lý Hà Nội. Cuối tháng 3 năm 1938, hơn hai trăm công nhân Công ty vệ sinh Hàng Đẫy đình công đưa ra 10 yêu sách, trong đó đòi xóa bỏ chế độ phạt tiền bất công và đòi đổi Giám đốc công ty. Theo chỉ thị của Thành ủy, Ban Công vận dự định kế hoạch cho lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1938. Khu Đấu Xảo (nay là vị trí Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô) được chọn làm địa điểm tổ chức. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1938, hơn 25.000 công nhân lao động Hà Nội và đại biểu các tỉnh lân cận tập hợp thành 12 đoàn diễu hành, sau đó tập trung về khu Đấu Xảo dự lễ kỷ niệm. Các tầng lớp nhân dân, đại biểu các đoàn thể công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, tiểu thương lần lượt lên phát biểu ý kiến. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất chưa từng có trong thời kỳ vận động dân chủ.


Phong trào cách mạng ngày một lên cao tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của nhân dân Đống Đa. Trong thời gian này, ngõ Trung Phụng là trung tâm hoạt động của nhóm thanh niên phản đế với các chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi như Trần Kế Hải, Hồng Quang... Các đồng chí tập hợp thanh niên ở Trung Phụng tham gia luyện tập quyền Anh qua đó tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho các đồng chí Trần Văn Diện (Trần Cư), Nguyễn Văn Thanh (Lê Quốc Thân), Lê Văn Ngọ, Trần Văn Thái (Trần Quốc Điệp), Đỗ Đình Nhẫn...


Cũng trong năm 1938, công nhân sân bay Bạch Mai phối hợp với công nhân Nhà máy xe lửa Gia Lâm tổ chức cuộc đấu tranh và giành được thắng lợi.

Năm 1939, phong trào đấu tranh của công nhân Hà Nội, trong đó có bộ phận quan trọng là công nhân ở Đống Đa, diễn ra với mật độ cao chưa từng thấy. Ngay từ những ngày đầu năm, ta tổ chức cuộc diễn thuyết ở ngõ chợ Khâm Thiên kêu gọi công nhân đứng lên chống áp bức, bóc lột; tổ chức dán áp phích, rải truyền đơn ở làng Trung Tự trong ngày hội Dinh. Công nhân Đống Đa tích cực tham gia cuộc đấu tranh của anh em thợ mộc, thợ xẻ toàn thành phố đòi tăng giá mạch cưa lên 25% và giành thắng lợi giòn giã. Ngày 21 tháng 6 năm 1939, công nhân Nhà máy in Minh Sang đình công, đưa yêu sách đòi tăng lương từ 15 đến 30%. Cuộc đấu tranh thu được một số kết quả nhất định.


Nhìn chung, cho đến năm 1939, trước khi Hà Nội thực hiện chủ trương vận động giải phóng dân tộc, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, các tổ chức vũ trang sơ khai được hình thành làm nòng cốt tuyên truyền, vận động và bảo vệ cán bộ, quần chúng cùng phong trào đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân Đống Đa đòi quyền dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo, hòa bình, chống chiến tranh đế quốc.


Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Pháp tham gia chiến tranh và lập tức thi hành chính sách thống trị phản động ở trong nước và ở các thuộc địa. Tại Hà Nội và trên địa bàn Đống Đa, chúng tăng cường đàn áp phong trào cách mạng, giải tán các tổ chức công khai của ta như các tổ chức ái hữu, tăng cường mật thám, chỉ điểm trong thành phố, nhất là ở các xí nghiệp quan trọng và các khu xóm lao động, tổ chức nhiều cuộc vây ráp, bắt bớ. Trụ sở các tổ chức ái hữu, các hiệu sách, các cơ quan báo chí công khai của Đảng bị khám xét. Nhiều tờ báo bị tịch thu và cấm xuất bản. Nhiều đảng viên bị bắt bớ, giam cầm. Đi đôi với đàn áp, thực dân Pháp ra sức vơ vét bóc lột sức người sức của để phục vụ cho chiến tranh, ban hành nhiều sắc lệnh trưng tập công nhân, trưng thu, trưng mua, sung công nhà cửa và các phương tiện vận tải, tăng giờ làm việc của công nhân, tăng thuế và đặt ra nhiều thứ thuế mới. Ở ngoại thành, chúng vơ vét thóc gạo để cung ứng cho quân đội, khiến cho vật giá leo thang, đồng tiền mất giá, đời sống nhân dân ngày càng thêm khó khăn.


Tháng 6 năm 1940, chi bộ Đảng ghép hoạt động ở Trung Phụng được thành lập gồm các đồng chí: Trần Văn Điệp (Trần Cư), Lê Quốc Thân, Lê Ngọ, Trần Văn Trác (Trần Quốc Điệp), Đỗ Đình Nhẫn...


Tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật tiến công Pháp ở Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật. Từ đây, nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù thống trị, cuộc sống nhân dân ngày càng điêu đứng. Phong trào cách mạng đứng trước những thử thách mới. Tình hình đó đòi hỏi Đảng và các tổ chức cách mạng của quần chúng phải có đường lối, phương pháp hoạt động khôn khéo, mới có thể duy trì được phong trào cách mạng. Trước mạng lưới mật vụ mọc lên như nấm, thời kỳ này, các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ở Hà Nội, cũng như ở Đống Đa được phân thành từng nhóm và hoạt động bí mật là chủ yếu. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, vai trò tích cực, chủ động của các cơ sở Đảng là hết sức cần thiết. Nổi bật nhất trong giai đoạn này ở Đống Đa và của cả Hà Nội là những hoạt động của Chi bộ Hỏa xa Hà Nội. Chi bộ có năm người, chính thức được thành lập tháng 6 năm 1940, ba tháng trước khi phát xít Nhật vào Đông Dương (trong thời gian này, Chi bộ ngành in, mộc, xẻ và trong giới thanh niên học sinh vẫn được duy trì). Vào dịp kỷ niệm 23 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, Chi bộ chỉ đạo một số công nhân hỏa xa tổ chức treo cờ trên cột thu lôi ở Ga Hàng Cỏ, rải truyền đơn trên tuyến đường sắt Hà Nội đi Lạng Sơn. Ngày 25 tháng 12 năm 1940, hưởng ứng hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, Chi bộ lãnh đạo một tổ công nhân hỏa xa, chặn chuyến tàu tốc hành Hà Nội - Sài Gòn ở Ga Văn Điển cho một số đồng chí, lên tàu rải truyền đơn kêu gọi chống phát xít, thực dân.


Sự lãnh đạo sâu sát của tổ chức đảng và hoạt động tích cực của cán bộ đảng viên tác động tích cực thu hút đông đảo nhân dân các địa phương địa bàn Đống Đa tham gia phong trào đấu tranh cách mạng.

Ở Láng Trung, thanh niên trí thức Phạm Bộ Doanh được giác ngộ cách mạng từ khi đang học ở Hà Nội sau đó thôi học làm công chức. Anh là một cán bộ Thanh niên phản đế Hà Nội, hằng ngày làm việc ở nội thành sớm tối về nhà ở Láng. Năm 1940 nhờ quen nhà sư ở chùa Láng, để che mắt địch, nhân các ngày Chủ nhật lấy cớ để vãn cảnh chùa, anh thường đưa anh em Thanh niên phản đế ở nội thành về chùa Láng họp, mở lớp học chính trị, và kết nạp thanh niên vào Đoàn.


Trước sự phát triển của phong trào cách mạng trên địa bàn, thực dân Pháp càng chú ý tới vùng Đống Đa. Chúng đặt thêm nhiều bốt cảnh sát kiểm soát chặt chẽ các cửa ô vào thành phố, cử mật thám, bọn chỉ điểm sục vào các khu vực Khâm Thiên, Ngã Tư Sở và các khu lao động để theo dõi hoạt động của ta. Năm 1940, thực dân Pháp còn cắm khoảng 5 mẫu ruộng thôn Trung (Láng Trung) để lập pháo đài Láng. Chúng đặt bốn khẩu pháo cao xạ 75mm là loại vũ khí tối tân lúc bấy giờ để bảo vệ vùng trời Hà Nội. Trong pháo đài có sở chỉ huy, hầm trú ẩn, kho để đạn với hai khẩu đại liên và nhiều súng trường để yểm trợ cho pháo cao xạ. Chốt tại pháo đài có một đại đội lính Pháp và lính khố đỏ, do một viên quan hai Pháp chỉ huy.


Như vậy, trong thời kỳ 1930 - 1940, trước sự khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp, để vận động, bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, các tổ chức vũ trang được hình thành dưới các hình thức sơ khai: Đội tuyên truyền xung phong, đội tự vệ, Công hội, Nông hội... Hoạt động của các tổ chức vũ trang sơ khai đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm nòng cốt duy trì, phát triển phong trào và tổ chức cách mạng trên địa bàn Đống Đa. Đồng thời, là tiền đề cho sự phát triển phong trào và lực lượng cách mạng trong cao trào cách mạng trên địa bàn Đống Đa trong những giai đoạn sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #13 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:31:45 pm »

3. Đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền (1941 - 1945)

Bước sang năm 1941, sự khủng bố của kẻ thù khiến nhiều cơ sở Đảng bị vỡ, nhiều đồng chí bị địch bắt. Tuy nhiên, Đống Đa vẫn duy trì được nhiều cơ sở làm chỗ liên lạc và trao đổi tình hình. Tháng 3 năm 1941, đồng chí Vũ Biểu - Bí thư Chi bộ mộc xẻ tới gặp đồng chí Vũ Bằng và Lê Tiến Phúc tại xưởng mộc phố Khâm Thiên để phổ biến tình hình trong và ngoài nước, bàn biện pháp củng cố các tổ chức Đảng và quần chúng. Sau đó, các cơ sở Đảng và quần chúng ở Đống Đa lại tiếp tục được củng cố và phát triển.


Từ sau khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5 năm 1941, tại Khuổi Nậm - Pắc Bó - Cao Bằng) với việc đề ra nhiệm vụ cần kíp là giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng ở Hà Nội nói chung và Đống Đa nói riêng có sự chuyển biến tích cực. Mặt trận Việt Minh ra đời với các tổ chức theo ngành, theo giới lấy tên là Cứu quốc. Phong trào công nhân, nông dân và các tổ chức quần chúng khác chuyển mình theo tinh thần mới của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Cuối năm 1941, tại Hà Nội xuất hiện lời kêu gọi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và truyền đơn của Mặt trận Việt Minh.


Năm 1941, ở Láng Thượng, đồng chí Phạm Bội Doanh - Thành Ủy viên người Láng Trung, tuyên truyền giác ngộ kết nạp anh Phạm Khắc Minh vào Đoàn thanh niên phản đế. Những năm sau, lại tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho một số thanh niên ở Láng Trung1 (Các anh Lương Văn Thịnh, Phạm Văn Ứng, Trần Đức Nhuận), triệu tập anh em lên chùa Láng đọc cho nghe các tài liệu của cách mạng, kết nạp một số anh em vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Mặt trận Việt Minh, lập thành tổ ba người hoạt động ở thôn Trung.


Từ cuối năm 1941, lớp thanh niên cấp tiến ở Khương Trung được giác ngộ lập nên các tổ chức cách mạng. Tổ công nhân cứu quốc do đồng chí Nguyễn Trí Bàn (công nhân thợ gò ở Avia) làm Tổ trưởng có nhiều hoạt động tích cực như: treo cờ ở Vĩnh Hồ, rải truyền đơn ở Bạch Mai, Ngã Tư Sở... Tổ Thanh niên cứu quốc gồm các đồng chí Nguyễn Như An, Hoàng Công Oanh, Phạm Thành Dân và Trần Bộ Doanh liên lạc mật thiết với thanh niên học sinh Hà Nội, tích cực rải truyền đơn, phát hành báo chí cách mạng.


Tháng 7 năm 1942, chính quyền thực dân Pháp sáp nhập thêm vào Hà Nội vùng Hoàn Long và một số xã của hai huyện Hoài Đức và Thanh Trì. Quận cảnh sát III được thành lập đóng trụ sở ở cuối phố Khâm Thiên, bên dãy nhà số chẵn (nay là trụ sở Công an quận Đống Đa).


Trong thời gian này, tuy thực dân Pháp và phát xít Nhật tăng cường khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, một số cán bộ lãnh đạo phong trào cách mạng bị bắt, nhưng lực lượng nòng cốt còn lại vẫn kiên cường hoạt động, chấp nối lại cơ sở và tiến hành một số cuộc đấu tranh có quy mô vừa và nhỏ. Các tổ trinh sát Việt Minh xây dựng được một tổ binh sĩ cứu quốc trong sân bay Bạch Mai và tổ cảnh sát cứu quốc ở Quận cảnh sát III. Những cơ sở in tài liệu, truyền đơn, Báo Giải phóng và những căn cứ nuôi dưỡng cán bộ lãnh đạo của Đảng đặt xung quanh Ngã Tư Sở, chùa Láng, Cống Mọc được bảo vệ nghiêm ngặt. Công nhân ở các xưởng mộc vẫn giữ được liên lạc thường xuyên với các tổ chức Đảng và Việt Minh.


Tháng 2 năm 1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Võng La (nay thuộc huyện Đông Anh), bàn và quyết định hai vấn đề lớn là mở rộng Mặt trận Việt Minh và đẩy mạnh mọi mặt hoạt động để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền. Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ đó, Hội nghị chủ trương mở rộng các tổ chức cứu quốc trong mọi giới, lập các đội tự vệ, xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang...


Trong năm 1943, thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí Vũ Mai, đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc phát triển tổ bí mật ba người gồm đồng chí Vũ Mai, đồng chí Trần Văn Tuấn ở Láng Trung và đồng chí Nguyễn Thế Hiển ở Láng Hạ.

Năm 1944, ở Yên Lãng hình thành ba tổ Thanh niên Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh: Một tổ do anh Nguyễn Văn Thể được cán bộ ở nội thành tuyên truyền giác ngộ cách mạng. Sau đó tuyên truyền kết nạp thêm các anh Hồ Trọng Trung, Nguyễn Kim Long hình thành tổ ba người hoạt động ở thôn Thượng như rải truyền đơn, viết khẩu hiệu "Đánh Pháp đuổi Nhật, Ủng hộ Việt Minh" lên tường...


Một tổ khác do anh Hồ Trọng Dũng học sinh trường Páttơ lúc đó sơ tán về trại nhãn ở Cầu Giấy. Anh Dũng được anh Việt tuyên truyền, sau đó được giới thiệu các anh Vũ Cận, anh Bằng. Các anh được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc ở ngôi nhà ven đường Láng Trung, về sau tổ ba người lại tuyên truyền kết nạp ba người lớn tuổi hơn có uy tín với nhân dân là các anh Nguyễn Nga, Nguyễn Văn Dương và Đoàn Bản. Tổ này phân công nhau chuyển truyền đơn, báo in thạch... để tuyên truyền vận động nhân dân Ủng hộ Việt Minh. Nhiều đêm còn kẻ khẩu hiệu trên các bức tường để gây thanh thế Việt Minh. Sau đó trong tổ vận động nhân dân ủng hộ tiền cho Mặt trận Việt Minh.


Một tổ ở thôn Trung và thôn Hạ do anh Nguyễn Hữu Hạp quê ở Vĩnh Yên, trú trong ngôi nhà ven đường Láng ở thôn Láng Trung và anh Vũ Quang cùng ở nhà đó chỉ đạo. Trong tổ này có anh Hiền ở thôn Láng Hạ.

Như vậy, tổ anh Hồ Trọng Dũng và tổ anh Nguyễn Hữu Hạp đều do một mối của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội phụ trách. Và sau các anh Hạp và Vũ Quang được cử lên Vĩnh Yên công tác thì hai tổ này do anh Lê Đức Vân1 (Đồng chí Lê Đức Vân là Ủy viên Ban chấp hành Đoàn Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu) phụ trách thanh niên cứu quốc ở ngoại thành Hà Nội lãnh đạo. Hai tổ này còn có mối quan hệ với Thanh niên Cứu quốc ở Giáp Nhất do anh Nguyễn Hải Hùng phụ trách.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #14 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:33:09 pm »

Tổ Thanh niên Cứu quốc của anh Hiền tìm cách mua được một khẩu súng trường do một người lính cất giấu và 100 viên đạn đưa sang làng Mọc. Về sau tổ này còn mò thêm được một khẩu súng trường do lính Pháp trốn chạy vứt xuống ao. Tổ anh Hiền còn bố trí địa điểm tại một ngôi nhà thờ ở Láng Hạ cho Đoàn Thanh niên Cứu quốc ngoại thành mở lớp học Chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Ban thường vụ Trung ương Đảng. Lớp học có 10 người, học trong mấy ngày được thanh niên Yên Lãng bảo vệ an toàn. Thanh niên Cứu quốc Hà Nội còn chuyển cơ quan in báo "Hồn nước" đến Yên Lãng một thời gian giữ được bí mật. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, các tổ thanh niên Cứu quốc ở thôn Thượng nhờ nhà thơ Tú Mỡ1 (Các anh Hồ Quốc Trung và Hồ Quốc Dũng là con nhà thơ Tú Mỡ) viết kịch bản "Thổ địa chống ngọc hoàng" rồi anh em tổ chức diễn kịch ở Chùa Láng để bán vé lấy tiền cứu đói và cũng là dịp tập hợp quần chúng để tuyên truyền chống phát xít Nhật và tay sai. Vì đây là việc mang danh nghĩa từ thiện nên phát xít Nhật cũng cho phép ta biểu diễn. Sáng hôm đó có chừng một nghìn người dân Yên Lãng và các làng xung quanh đến dự, thanh niên Yên Lãng diễn hai vở kịch "Thổ địa chống ngọc hoàng" và hài kịch Anh say"... Khi vở diễn đến nửa chừng thì trên sân khấu xuất hiện cờ đỏ sao vàng, một cán bộ Việt Minh ra diễn thuyết kêu gọi nhân dân đánh đuổi phát xít Nhật, Ủng hộ Việt Minh, kiên quyết đấu tranh giành độc lập. Trong khi đó ở bên dưới, hai chiến sĩ Việt Minh dùng súng lục kề vào đầu hai tên mật thám Nhật bắt ngồi im cho đến khi các chiến sĩ đội tuyên truyền của ta rút lui an toàn. Sau đó một tên mật thám gọi lý trường và phó lý bảo sao lại để Việt Minh hoành hành ở xã như vậy mà không cho tuần bắt giữ: ông phó lý liền thưa: "Các quan có mặt ở đây mà chẳng làm gì được họ nữa là chúng tôi, không có vũ khí thì phải đành chịu mà thôi".


Sau đó chính quyền Nhật đưa một tiểu đội lính khố xanh đến Láng Thượng truy tìm các chiến sĩ Việt Minh nhưng không tìm được ai, vì mọi người dân được hỏi đều bảo không biết người diễn thuyết, người trương cờ và hai người cầm súng ở đâu tới không phải người làng này. Đó chính là các đội viên Thanh niên tuyên truyền xung phong cứu quốc thành Hoàng Diệu. Lúc này Ban chấp hành Thanh niên Cứu quốc Hà Nội có cơ sở, nơi thường xuyên hội họp ở Hạ Yên Quyết và đặt trạm liên lạc ở một gia đình người Láng Thượng cổng ngoài chùa Láng. Đó là nơi đồng chí Vũ Oanh - Bí thư Thành đoàn thường đến đó gặp gỡ cán bộ lãnh đạo Đoàn thể để phổ biến chủ trương công tác cách mạng.


Cũng trong thời gian này, gia đình nhà thơ Tú Mỡ thường có cuộc họp của Phụ nữ Cứu quốc Hà Nội do chị Hồ Thị Hạnh con gái nhà thơ bố trí. Anh Minh Đặng phụ trách tuyên truyền xung phong của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội cũng thuê một căn buồng ở ven đường Láng để hoạt động công tác được thuận tiện. Do có nhiều tổ chức, nhóm Thanh niên Cứu quốc Hà Nội hoạt động ở các làng ven thành, hằng ngày gặp gỡ nhau trao đổi công việc nhận tài liệu, vũ khí ở các cơ sở ven đường Láng nên lúc đó cán bộ Đoàn Thanh niên gọi đường Láng là "Đường Việt Minh" vì ở ven đường đó cán bộ Việt Minh đi lại hoạt động gần như công khai.


Thực hiện chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh về "sửa soạn khởi nghĩa", các đội tự vệ chiến đấu trong công nhân làn lượt ra đời. Tiếp đó, Đội Tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cũng được thành lập. Trong những ngày cuối năm 1944, trên đường phố Hàng Bột, Văn Miếu - Quốc Tử Giám xuất hiện những dòng khẩu hiệu lớn "Đánh đuổi Nhật - Pháp". Dọc đường Hà Nội - Hà Đông, đoàn sinh viên đi tham quan Chùa Hương mang theo truyền đơn, biểu ngữ, tuyên truyền chủ trương cứu nước của Việt Minh.


Nhìn chung, trong thời gian này, các tổ chức thanh niên cứu quốc, các đội tự vệ chiến đấu và tuyên truyền xung phong hoạt động tích cực. Họ thường phân tán thành những nhóm nhỏ lẻ từ ba đến năm người, như học sinh đi học, đạp xe mang theo truyền đơn, áp phích, biểu ngữ, súng ngắn. Đến các địa điểm như Ngã Tư Sở, ga tàu điện Cầu Mới..., anh em nhanh chóng triển khai đội hình, người diễn thuyết, người căng biểu ngữ, người rải truyền đơn... Công việc tiến hành nhanh, gọn, khẩn trương, có cảnh giới, bảo vệ. Từ khi tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu ra đời (8.1944), vùng Láng - Mọc là một trong những địa bàn có nhiều thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức này. Ba tổ chức Thanh niên cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh được hình thành. Những tổ chức này hoạt động rải truyền đơn, viết khẩu hiệu, phân phát báo in thạch, kẻ vẽ khẩu hiệu trên các bức tường... và có mối liên hệ chặt chẽ với Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội và nhiều nơi khác.


Trong năm 1944, trên địa bàn Khâm Thiên - Thổ Quan hình thành cụm sửa chữa vũ khí của Việt Minh, với ba tổ cơ khí. Một tổ ở nhà số 240 phố Khâm Thiên, một tổ ở số 11B (nay là số 29) ngõ Hòa Bình, một tổ ở nhà ông Trịnh Đình Sơ làng Văn Chương. Các tổ sửa chữa không chỉ sửa chữa các loại súng mà còn chế tạo ra một số loại súng nhỏ cung cấp cho các đội vũ trang thực hiện nhiệm vụ trừ gian.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Quán triệt Chỉ thị trên, Thành ủy Hà Nội phát động cao trào "Kháng Nhật cứu nước" trong toàn Thành phố. Nhiều công việc được triển khai nhanh chóng, rộng khắp, như tiếp tục phát triển các tổ chức cứu quốc trong công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, gấp rút xây dựng và phát triển các đội tự vệ, các đội tuyên truyền xung phong thanh niên Hoàng Diệu, tổ chức quyên góp mua sắm vũ khí, cướp súng đạn của bọn lính Pháp, mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ về quân sự và chính trị tại nhiều địa điểm.


Sau khi đào chính Pháp, phát xít Nhật áp dụng nhiều biện pháp trấn áp, khủng bố ác liệt các tầng lớp nhân dân ta. Là cửa ngõ của thành phố, hằng ngày nhân dân Đống Đa tận mắt thấy từng đoàn nông dân da bọc xương, đói rách ùn ùn kéo đến cửa ô và nằm chết phơi thây trên các hè phố, rồi những đoàn xe bò chở xác người chết ra chôn ở vùng ngoại thành. Người dân Đống Đa, người dân Hà Nội bị đẩy tới đường cùng. Họ chỉ còn một con đường duy nhất là cầm vũ khí đứng dậy đòi quyền sống dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị nêu rõ: "Bám lấy nạn đói mà cổ động quần chúng lên đường tranh đấu, tổ chức những cuộc biểu tình đòi gạo, đòi ăn hay phá những kho thóc của đế quốc"1 (Văn kiện quân sự của Đảng, lập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr. 270). Chủ trương "Phá kho thóc để giải quyết nạn đói" đáp ứng đúng lúc nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, từ tháng 4, nhiều kho thóc của Nhật ở phố Bắc Ninh, ở khu vực Lương Yên, ở bến Phà Đen bị phá, nhiều xe bò chở gạo vào kho bị tự vệ của ta chặn đường cướp lại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #15 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:34:38 pm »

Ngay trong tháng 3 năm 1945, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Quý, ở xã Trung Phụng, ông An Trưởng Quyền thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc xã; ở xã Mỹ Đức đồng chí Mai Văn Viết chỉ đạo thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc xã do ông Đoàn Văn Huyên phụ trách. Lực lượng tự vệ cũng được thành lập ở Trung Phụng và Mỹ Đức. Tự vệ ở Mỹ Đức do ông Nguyễn Duy Bính chỉ huy; ở Trung Phụng do ông Phùng Bá Thiện chỉ huy. Các tổ tự vệ thực hiện nhiệm vụ canh gác bảo vệ cán bộ; tổ chức mua và cướp vũ khí của Nhật; tổ chức đột nhập vào các kho Kim Mã, Hàng Bột lấy vũ khí của Nhật gửi lên chiến khu.


Sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ tháng 4 năm 1945, Thành ủy Hà Nội triệu tập Hội nghị quân sự toàn thành phố đầu tiên ở chùa làng Tân (Nghĩa Đô), triển khai quyết định đẩy mạnh việc phát triển các đội tự vệ chiến đấu và hoạt động tuyên truyền xung phong, tổ chức mua sắm vũ khí, giết gian, trừ phản...


Ngày 20 tháng 4 năm 1945, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hoàng Diệu tổ chức cuộc mít tinh toàn thành phố ở bờ đầm thuộc xã Mễ Trì có huy động thanh niên, sinh viên trong nội thành ra dự. Tại cuộc mít tinh, đồng chí Vũ Oanh phổ biến nhiệm vụ cấp bách của Đoàn. Một nhóm thanh niên Láng Trung do anh Lê Tuấn (Phạm Phú Uông) tham gia bảo vệ cuộc mít tinh ở vòng ngoài từ cầu Trung Kính vào Mễ Trì được an toàn. Sau đó, thanh niên Yên Lãng xuống tham gia bảo vệ cho dân phá kho thóc của Nhật ở làng Mọc Quan Nhân. Ngày 11 tháng 5 năm 1945, dưới danh nghĩa cắm trại, nam nữ thanh niên toàn thành phố lại họp mít tinh ở Chùa Láng. Để bảo vệ cuộc mít tinh, các chiến sĩ tự vệ chiến đấu bố trí lực lượng theo dõi, khống chế những tên mật thám khét tiếng gian ác hoạt động trên địa bàn. Nhờ có các cuộc mít tinh này, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội động viên được đông đảo thanh niên, sinh viên tham gia công tác, đồng thời gây được khí thế sôi sục cách mạng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.


Tháng 6 năm 1945, một tiểu tổ của Đội Danh dự Việt Minh trừng trị tên Cai Bình ở Cầu Mới, Phán Sinh ở Ngã Tư Sở, Nguyễn Duy Quý ở ấp Thái Hà. Cũng trong thời gian này, thanh niên ở Láng tổ chức mít tinh, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh", "Đánh đuổi phát xít Nhật". Nhiều cuộc mít tinh của Thanh niên cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc còn được tổ chức ở Ngã Tư Sở, Ngã Tư Vọng. Tự vệ công nhân cũng có nhiều hoạt động sôi nổi. Tự vệ công nhân xe điện rải truyền đơn, dán áp phích, tuyên truyền trên các tuyến xe điện. Công nhân Ga Hàng Cỏ cùng công nhân nhiều nhà máy khác cũng tổ chức đấu tranh. Nổi bật là phong trào phá kho thóc của Nhật ở Mọc do đoàn viên thanh niên và các đội tự vệ công nhân dẫn đầu các đoàn quần chúng.


Thực hiện chủ trương của Đảng về phá kho thóc của Nhật, cứu đói, theo đề nghị của Đội tự vệ xung phong ngoại thành, Ban Cán sự giao cho Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cùng Đội tự vệ ngoại thành thực hiện, đồng thời giao cho các đoàn thể cách mạng ở khu vực xung quanh vận động nhân dân tới tham gia.


Đội tự vệ xung phong ngoại thành tổ chức điều tra kỹ lưỡng và xây dựng kế hoạch phá kho tỷ mỷ, cụ thể, phân công các lực lượng rõ ràng.

Tối ngày 11 tháng 7 năm 1945, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu do đồng chí Hà Minh Tuân phụ trách và Đội tự vệ xung phong ngoại thành do đồng chí Nguyễn Hải Hùng1 (Sau này đồng chí Nguyễn Hải Hùng là Đại tá, Cục phó Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị) phụ trách cùng phối hợp thực hiện. Liên đội 1 của đồng chí Hà Đình Kim và Liên đội 3 của đồng chí Đinh Quang Hàm thuộc Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu cùng Đội tự vệ xung phong ngoại thành tổ chức bao vây khống chế bọn lý trưởng, trương tuần... và bảo vệ từ vòng ngoài, hướng dẫn quần chúng tới đình Quan Nhân dự mít tinh. Trước đám đông quần chúng với hàng trăm đèn đuốc sáng rực, đồng chí Thái Hy, Liên đội trưởng Liên đội 2 cùng một đồng chí cầm súng ngắn bảo vệ, một người cầm cờ đỏ sao vàng, tuyên bố mục đích cuộc mít tinh, vạch trần tội ác của phát xít Nhật thu thóc của dân gây nên nạn đói giết hại hàng triệu người đồng thời kêu gọi mọi người đứng lên tham gia Mặt trận Việt Minh cứu nước, cứu nhà. Trước mắt, thực hiện chỉ thị của Việt Minh phá kho thóc của Nhật ngay tại đây để cứu đồng bào. Nghe thấy vậy, làn sóng người trên sân hưởng ứng nồng nhiệt, vừa hô to khẩu hiệu: "Đả đảo phát xít Nhật", "Ủng hộ Việt Minh", vừa phá cửa kho xúc thóc chia cho mọi người. Tin kho thóc ở gần ngay thành phố bị Việt Minh phá, chia cho dân nghèo được loan truyền nhanh khắp trong vùng. Quân Nhật và bọn tay sai không dám bộc lộ phản ứng. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Việt Minh.


Vào thời kỳ tiền khởi nghĩa, Láng Hạ là địa phương có khá nhiều hoạt động sôi nổi. Ở đây không chỉ bố trí được địa điểm (một nhà thờ ở Láng Hạ) để Đoàn Thanh niên cứu quốc ngoại thành mở lớp học Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, mà còn là địa điểm cơ quan in Báo Hồn nước hoạt động an toàn trong một thời gian. Thanh niên cứu quốc thôn Thượng còn thông qua việc diễn kịch ở chùa Láng để cứu đói và là dịp tuyên truyền chủ trương chống phát xít Nhật cho quần chúng nhân dân. Khi diễn được nửa chừng thì trên sân khấu xuất hiện cờ đỏ sao vàng, một cán bộ Việt Minh ra diễn thuyết, kêu gọi nhân dân Ủng hộ Việt Minh, đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Láng trở thành nơi gặp gỡ của nhiều tổ, nhóm thanh niên Cứu quốc của Hà Nội để trao đổi công việc, nhận tài liệu, vũ khí. Cùng với hoạt động của công nhân Ga Hàng Cỏ, những hoạt động của nhân dân vùng Ngã Tư Sở thúc đẩy phong trào cách mạng ở Đống Đa phát triển một bước mạnh mẽ. Nhân dân hăng hái sẵn sàng bước vào một cuộc chiến đấu quyết liệt để giành quyền sống.


Tháng 7, trước khí thế cao trào cách mạng, phát xít Nhật đang thua lớn, chính quyền tay sai địch ở Đại lý Hoàn Long và Yên Lãng hầu như tan rã. Ở Láng Trung, anh em thanh niên tổ chức học võ, lấy cớ chống trộm cướp để bảo vệ xóm làng nhưng thực ra là luyện tập quân sự để chuẩn bị khởi nghĩa.


Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định khẩn trương tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn tay sai trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Sáng 17 tháng 8, báo chí ở Hà Nội chính thức đưa tin Nhật đầu hàng, nhưng chính quyền bù nhìn vẫn công khai tuyên bố mục đích chống lại cuộc khởi nghĩa của Việt Minh. Ở xã Kim Liên, các ông Nguyễn Đình Cẩm, Nguyễn Xuân Nghiêm, Bùi Huy Lân... cùng với quần chúng trong các tổ chức cứu quốc treo cờ đỏ sao vàng ở đình Kim Liên, tổ chức mít tinh tuyên truyền, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó đi thu triện bạ, sổ sách của chính quyền cũ trong xã. Buổi chiều cùng ngày, các đội tự vệ và đông đảo quần chúng trong các tổ chức cứu quốc ở xã Kim Liên tham gia cuộc mít tinh ở quảng trường Nhà hát Lớn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #16 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:35:26 pm »

Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, chiều ngày 17 tháng 8, tại quảng trường Nhà hát Lớn, Tổng hội viên chức tổ chức mít tinh. Các tổ chức cứu quốc ở nội thành, ngoại thành và cả ở một số phủ, huyện giáp Hà Đông cũng được lệnh bí mật huy động quần chúng kéo đến. Số người tham dự mít tinh đông tới hàng vạn. Tại cuộc mít tinh, lực lượng tự vệ và các đội viên tuyên truyền xung phong của Việt Minh giương cao cờ đỏ sao vàng, kêu gọi nhân dân Ủng hộ Việt Minh khởi nghĩa. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng cách mạng. Dưới sự hướng dẫn của các đội viên tự vệ, quần chúng xếp thành hàng ngũ đi từ Nhà hát Lớn qua các phố Tràng Tiền, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Đào, Hàng Ngang lên Cửa Bắc, diễu qua trước Phủ Toàn quyền của Nhật (nay là Phủ Chủ tịch) rồi về Cửa Nam. Đoàn người biểu tình vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Việt Nam độc lập", "Đả đảo bù nhìn". Trước khí thế hừng hực cách mạng của quần chúng, lực lượng bảo an và cảnh sát đành bó tay, án binh bất động. Quân đội Nhật và chính quyền bù nhìn cũng hết sức bối rối, hoảng sợ.


Tối 17 tháng 8, ngay sau khi lực lượng tự vệ vùng Sét (nay là Thịnh Liệt, Hoàng Mai) tham gia tuần hành trên quảng trường Nhà hát Lớn trở về, để khuếch trương thắng lợi của toàn thành, các chiến sĩ cùng với quần chúng cách mạng tiếp tục tuần hành qua các thôn, xóm. Đoàn biểu tình đã tập trung về sân trường học Giáp Tứ làm áp lực cho Thanh niên cứu quốc giành chính quyền về tay nhân dân. 19 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8, ta đã tuyên bố giải tán chính quyền bù nhìn, thành lập chính quyền cách mạng tại thôn. Hương lý đem triện đồng nộp cho chính quyền cách mạng. Đây là nơi giành chính quyền cấp thôn sớm nhất tại Hà Nội.


Sáng 18 tháng 8, tại làng Giáp Nhất, chỉ thị về việc khởi nghĩa cũng được truyền đạt đến Đội Tự vệ xung phong ngoại thành và các đoàn thể cứu quốc. Kế hoạch khởi nghĩa khu vực ngoại thành được xây dựng. Theo đó sẽ tổ chức mít tinh và giành chính quyền ở làng Hạ Yên Quyết đầu tiên, sau đó kéo thẳng về làng Giáp Nhất, làng Quan Nhân, hợp điểm ở làng Chính Kinh. Bên làng Thượng Đình cũng giành chính quyền sớm, rồi qua Cự Lộc, sang hợp điểm ở làng Chính Kinh. Đoàn biểu tình sau đó sẽ tiến ra Đại lý Hoàn Long. Còn các làng, đoàn quân biểu tình khởi nghĩa không đi qua thì ở đâu giành chính quyền ở đó, rồi nhanh chóng đón đoàn biểu tình chính cùng tiến lên giành chính quyền ở Đại lý Hoàn Long.


Phát huy thắng lợi ở Giáp Tứ, ngay sáng 18 tháng 8, các chiến sĩ tự vệ vùng Sét cùng với các tổ chức Việt Minh trong vùng tiếp tục cuộc hành trình khởi nghĩa giành chính quyền tại các thôn Giáp Lục, Giáp Nhị, Giáp Nhất, đồng thời, làm áp lực cho quần chúng giành quyền ở Hoàng Mai, Pháp Vân. Trong ngày 18, phần lớn các xã, làng phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội giành được chính quyền. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay các xã thuộc Tổng Bưởi, Dịch Vọng, Làng Tám, Tương Mai, Mai Động, Quỳnh Lôi, Thanh Nhàn.


Tối ngày 18 tháng 8, tại trụ sở Ủy ban quân sự cách mạng, các đồng chí lãnh đạo họp duyệt lại lần cuối kế hoạch khởi nghĩa, thông qua lời hiệu triệu sẽ đọc trong mít tinh khởi nghĩa sáng ngày 19, phân công lực lượng và cán bộ lãnh đạo các khối quần chúng chiếm lĩnh những cơ quan trọng yếu trong thành phố, sau đó tổ chức đi kiểm tra công tác chuẩn bị của các đơn vị tự vệ chiến đấu.


Đêm 18 tháng 8, đêm lịch sử của Đống Đa và của cả Hà Nội, các tầng lớp nhân dân hầu như không ngủ. Lực lượng vũ trang Đống Đa cùng với quần chúng cách mạng náo nức chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, các đường phố ở Đống Đa và Hà Nội tràn ngập cờ đỏ sao vàng. Các tầng lớp nhân dân Đống Đa xuống đường theo tiếng gọi của Mặt trận Việt Minh, khởi nghĩa giành chính quyền. Mọi người giương cao cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ cách mạng, hòa vào dòng người rầm rập tiến về quảng trường Nhà hát Lớn, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu và hát các bài ca cách mạng.


Theo đúng kế hoạch, từ sớm, Đội Tự vệ xung phong ngoại thành có mặt ở làng Hạ Yên Quyết cùng tổ chức Thanh niên cứu quốc hô hào bà con tập trung trước đình làng. Đội tuyên bố lật đổ chính quyền cũ, cử ra chính quyền cách mạng lâm thời của làng do các đồng chí cán bộ Việt Minh trong làng giới thiệu. Từ đây, cuộc biểu tình tiến đến Giáp Nhất. Ở Giáp Nhất, rồi Quan Nhân cũng tiến hành tương tự như ở Hạ Yên Quyết. Giành chính quyền xong, đoàn quân khởi nghĩa lại được bổ sung thêm lực lượng. Theo kế hoạch, đoàn quân này cùng với lực lượng khởi nghĩa từ Nam Đồng, Thái Hà tiếp tục tiến về Đại lý Hoàn Long giành chính quyền ngoại thành. Cuộc biểu tình tiến vào trụ sở cơ quan ngụy quyền tại ấp Thái Hà với khí thế hùng dũng. Tiếng hô khẩu hiệu và các bài hát Tiến quân ca, Diệt phát xít, Du kích quân vang lên suốt dọc đường với khí thế hùng dũng ngất trời. Các đoàn quân khởi nghĩa ở các làng ngoại thành tụ hội về Thái Hà ngày càng đông. Trên đường xuất hiện nhiều xe ô tô chở quân Nhật qua lại, đầy ắp binh lính và súng đạn nhằm uy hiếp đoàn biểu tình. Tuy nhiên, quân Nhật cũng bị choáng ngợp trước khí thế của quần chúng nên chỉ thụ động đề phòng.


Đoàn quân tiến vào khu lô cốt bảo vệ Đại lý Hoàn Long tại ấp Thái Hà, 10 giờ 30 phút, binh lính ở đây được ta thuyết phục đầu hàng, giao nộp vũ khí cho cách mạng. Hoàn thành nhiệm vụ tại đây, một số đơn vị tiếp tục tiến về Nhà hát Lớn hợp lực với các lực lượng khác giành chính quyền toàn thành.


Trong khi đó, các đơn vị tự vệ chiến đấu nội thành, lực lượng xung kích của cuộc khởi nghĩa, tập trung kiểm tra trang bị, quán triệt nhiệm vụ rồi xuất phát. Từ phía Nam thành phố, Đoàn Thanh niên xung phong Hoàng Diệu do đồng chí Hà Minh Tuân chỉ huy, xuất phát từ làng Giáp Tứ, Giáp Nhị hành quân lên đến chợ Mơ. Tiếp đến là đoàn trưởng, các liên đội trưởng, các đội viên được trang bị súng trường, súng ngắn, kiếm, mã tấu. Sau khi lên đến chợ Mơ, một chuyến xe điện đặc biệt đợi sẵn ở đây, anh em khẩn trương lên tàu. Dọc đường tàu đi, nhiều nhà hai bên dãy phố đã treo cờ đỏ sao vàng trước cửa. Đoàn quân đi đến đâu, tiếng đồng bào hoan hô không ngớt, kèm theo tiếng hô khẩu hiệu: "Ủng hộ Việt Minh", "Hoan hô các chiến sĩ Việt Minh", "Hoan hô Đoàn tuyên truyền xung phong".


Từ phía Bắc và phía Tây thành phố, một số đội tự vệ chiến đấu do các đồng chí Lê Chiêu, Lê Tư, Hồng, Tuấn Sơn, Lam Ngọc, Nguyễn Văn Tý, Đào Văn Xuân, Lê Sĩ, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Văn Tường, Trần Ngọc Minh, Vi Dân chỉ huy cũng về tập trung tại nhà máy gạch Năm Diệm (vị trí khách sạn Horison, đường Cát Linh ngày nay) làm lễ xuất phát. Tổng số đội viên tự vệ chiến đấu tập trung tại đây khoảng trên 300 người, với khoảng 30 khẩu súng các loại, còn lại là gươm, kiếm, giáo mác, mã tấu. Đúng 5 giờ 30 phút, sau phát súng lệnh, đoàn quân xuất phát theo đường Cát Linh, qua Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền đến khu vực Nhà hát Lớn. Hàng vạn quần chúng hai bên đường nhập vào làm cho đoàn quân mỗi lúc càng thêm đông đảo, khí thế càng lên cao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #17 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:36:30 pm »

Trên quảng trường Nhà hát Lớn và các phố lân cận, một biển người đứng thành đội ngũ dưới một rừng cờ đỏ sao vàng, xen lẫn là các khẩu hiệu: "Đả đảo Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim", "Thành lập Chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam", "Anh em binh lính hãy tham gia nhập hàng ngũ chiến đấu bên cạnh Việt Minh". Các đơn vị tự vệ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu được bố trí ở những vị trí quy định để bảo vệ cuộc mít tinh.


Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh lớn gồm hàng chục vạn người bắt đầu trong không khí hào hùng, trang nghiêm và trọng thể. Sau lễ chào cờ và mặc niệm các chiến sĩ hy sinh vì cách mạng, trong tiếng súng lệnh và điệu nhạc Tiến quân ca, một lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn được kéo lên cột cờ giữa quảng trường. Trên ban công Nhà hát Lớn, một lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn được buông xuống làm phông cho lễ đài cuộc mít tinh hàng vạn truyền đơn được tung ra giữa biển người. Đồng chí Nguyễn Huy Khôi, thay mặt Ủy ban quân sự cách mạng, đọc lời hiệu triệu của Việt Minh trước máy phóng thanh, hô hào quần chúng vùng lên khởi nghĩa, lập Chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Nam, giành độc lập, tự do cho dân tộc.


Quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng nhiệt liệt hưởng ứng bản hiệu triệu, tiếng hô khẩu hiệu vang động, khí thế ngút trời. Sau đó, cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành biểu tình tuần hành thị uy, chia thành hai khối lớn tỏa đi chiếm lĩnh những cơ quan trọng yếu của chính quyền bù nhìn theo kế hoạch đã định.


Khối thứ nhất, Đội Công nhân xung phong dẫn đầu, do đồng chí Nguyễn Khang và một số đồng chí trong Ủy ban quân sự cách mạng chỉ huy, có nhiệm vụ chiếm Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính, Kho bạc, Bưu điện và Sở cảnh sát Hàng Trống. Khối thứ hai, Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong Hoàng Diệu dẫn đầu, do đồng chí Nguyễn Quyết - Bí thư Thành ủy Hà Nội trực tiếp chỉ huy, có nhiệm vụ chiếm trại Bảo an binh và Ty Liêm phóng Bắc Kỳ.


Khi khối thứ nhất kéo gần đến Phủ Khâm sai, hai đại đội bảo an binh ở đây theo lệnh của bọn chỉ huy, đóng chặt cổng, chĩa súng từ trong hàng rào sắt ra ngoài. Ở đây, ta đã nắm được một số binh lính có cảm tình với Việt Minh. Quần chúng vừa hô khẩu hiệu thị uy, vừa kêu gọi Bảo an binh quay súng về phía Việt Minh để cứu nước, cứu nhà. Một bộ phận tự vệ công nhân nhanh chóng đột nhập vào cổng phía phố Đinh Lễ để treo cờ đỏ sao vàng ở khu làm việc của Phủ Khâm sai (số nhà 14 Ngô Quyền). Cùng lúc, các chiến sĩ tự vệ, do các đồng chí Vi Dân, Tuấn Sơn, Nguyễn Văn Điệp dẫn đầu cùng một số hội viên cứu quốc vượt hàng rào sắt nhảy vào. Đồng chí Vũ Minh Phước, một tự vệ công nhân ở nhà máy điện, nhanh chóng hạ cờ "quẻ ly" của chính quyền bù nhìn xuống, treo cờ đỏ sao vàng lên giữa tiếng hò reo vang dậy của quần chúng cách mạng. Trước khí thế và sức mạnh của cách mạng, lính bảo an buộc phải mở cổng và nộp vũ khí cho cách mạng. Quần chúng khởi nghĩa ùa vào. Ta tịch thu 200 khẩu súng của lính bảo an, trang bị ngay cho tự vệ để tăng cường sức chiến đấu. Ngay sau khi chiếm được Phủ Khâm sai, các đồng chí trong Ủy ban quân sự cách mạng gọi điện thoại, báo cho tỉnh trưởng, thị trưởng các địa phương Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh biết Việt Minh đã khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho chúng mau chóng bàn giao chính quyền cho Việt Minh tại các địa phương.


Trong khi đó, một bộ phận quần chúng và tự vệ của khối này, do đồng chí Nguyễn Huy Khôi trực tiếp chỉ huy, tiếp tục kéo sang chiếm lĩnh Tòa Thị chính Hà Nội. Thị trường Hà Nội, Trần Văn Lai ra tận cổng đón đoàn quân cách mạng. Tiếp đó, quần chúng cách mạng lần lượt đi chiếm Kho bạc, Sở Bưu điện và Sở Cảnh sát.


Khối quần chúng thứ hai, đi chiếm trại Bảo an binh, phải đối phó với tình huống phức tạp. Hôm trước, ta đã gửi thư cho chỉ huy trại, thuyết phục y quy thuận Việt Minh. Nhưng khi đoàn biểu tình kéo đến nơi, cổng trại vẫn đóng chặt, hai lính bảo an đứng gác ở bên ngoài. Đồng chí Nguyễn Quyết hạ lệnh cho tự vệ tước súng của hai lính bảo an và ra lệnh phá cổng. Chỉ huy trại buộc lòng phải cho người ra mở cổng và xin gặp đại diện của Việt Minh. Các đơn vị tự vệ lập tức tiến vào chiếm lĩnh các vị trí quan trọng trong trại, quần chúng cách mạng tiếp tục bao vây bên ngoài, hô khẩu hiệu làm áp lực. Các chiến sĩ Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu nhanh chóng treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ của trại.


Được tin mất trại Bảo an binh, một doanh trại quân sự quan trọng ở trung tâm thành phố, quân Nhật đem xe tăng và binh lính đến bao vây trại, đòi ta trả lại trại, đòi tước vũ khí của ta. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Quyết một mặt gọi điện và cử người đi báo cáo tình hình với đồng chí Nguyễn Khang, Chủ tịch Ủy ban quân sự cách mạng, một mặt bố trí tự vệ sẵn sàng chiến đấu trong trại. Trong khi đó, ở bên ngoài, quần chúng vẫn giữ nguyên hàng ngũ, không lùi một bước. Các đồng chí chỉ huy của ta tại đây dùng lời lẽ mềm dẻo thuyết phục quân Nhật, vạch cho chúng rõ: nếu chúng không can thiệp vào cuộc khởi nghĩa của ta thì ta cũng để cho chúng được yên ổn chờ ngày về nước, nếu chúng bắn vào quần chúng cách mạng, thì ta sẵn sàng trả lời chúng bằng vũ lực để giành lấy độc lập và chủ quyền của đất nước, Ủy ban quân sự cách mạng cũng huy động hàng vạn quần chúng vừa chiếm xong Phủ Khâm sai kéo tới, hợp lực với các khối quần chúng tại đây khép chặt vòng vây chung quanh các xe tăng, sĩ quan và binh lính Nhật, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh". Ủy ban cũng phái đồng chí Trần Đình Long dẫn đầu đoàn đại biểu ta đến Bộ Tổng tham mưu quân Nhật, đòi chúng phải lệnh cho xe tăng rút đi. Cuộc đấu tranh kéo dài đến 5 giờ chiều mới kết thúc. Quân Nhật cùng với bốn chiếc xe tăng của chúng buộc phải rút lui.


Lúc này, một bộ phận quần chúng cùng đội tự vệ, do đồng chí Hồng và Hoàng Mười phụ trách, đi chiếm lĩnh Ty Liêm phóng (sở mật thám cũ, nay là trụ sở Công an thành phố Hà Nội, ở phố Trần Hưng Đạo). Ở các nơi khác như nhà máy điện, sở xe điện, xưởng Avia, hãng Stai, Ôtôhan, Xe đạp Bécxê... anh em tự vệ và công nhân cứu quốc, sau khi tham gia giành chính quyền ở Phủ Khâm sai và trại Bảo an binh về, chủ động tước khí giới của lính bảo an, treo cờ, cử người canh gác và thành lập Ủy ban Công nhân cách mạng ở các nhà máy.


Đến tối 19 tháng 8, các cơ quan quan trọng của chính quyền Bảo Đại tại Hà Nội đã về tay cách mạng. Việt Minh hoàn toàn làm chủ thành phố. Hà Nội bừng sáng trong màu cờ đỏ và ánh điện. Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội hoàn toàn thắng lợi. Tin khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội nhanh chóng truyền lan khắp cả nước, làm suy yếu toàn bộ hệ thống cai trị của phát xít Nhật và chính quyền tay sai, làm nức lòng đồng bào cả nước, nhất là ờ Huế và Sài Gòn, thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa trong cà nước đến thắng lợi hoàn toàn.


Có thể nói Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đống Đa (Đại lý Hoàn Long) là thắng lợi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề, lực lượng, khí thế cho cuộc Tổng khởi nghĩa ở trung tâm Hà Nội giành thắng lợi.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Đống Đa và Hà Nội thắng lợi kết thúc một quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ của Đảng ta. Các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng, từng bước phát triển lực lượng, trưởng thành qua các hoạt động đấu tranh với địch mà đỉnh cao là hoàn thành nhiệm vụ xung kích, nòng cốt và bảo vệ cho quần chúng giành chính quyền trong ngày Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945. Đây là chiến công lớn đầu tiên hết sức quan trọng trong lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.


Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đinh lịch sử, trước hàng vạn nhân dân Thủ đô và các tỉnh lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới sự khai sinh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một kỷ nguyên mới của dân tộc ta bắt đầu; kỷ nguyên của độc lập, tự do cho dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.


Mười lăm năm theo Đảng đấu tranh, Đống Đa tự hào là một địa phương có những tổ chức cộng sản trung kiên, các tổ chức quần chúng, tổ chức vũ trang cách mạng sớm ra đời, những chi bộ Đảng, những đảng viên, những cán bộ trong các tổ chức vũ trang, trong đó nhiều người là người con quê hương Đống Đa là những hạt nhân nòng cốt trong phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong quá trình trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đống Đa xây dựng cho mình những tổ chức chính trị sắc bén: Công hội, Công hội đỏ, Nông hội, Ái hữu, Cứu quốc, Đội tuyên truyền xung phong, Đội tự vệ chiến đấu... Các tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng trên địa bàn Đống Đa không ngừng được xây dựng, phát triển lớn mạnh cả về tư tưởng, tổ chức, trình độ quân sự, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội và trên cả nước. Đó cũng là tiền đề cho sự ra đời, xây dựng phát triển lực lượng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng vũ trang nhân dân quận Đống Đa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #18 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:38:46 pm »

Chương hai
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA RA ĐỜI THAM GIA XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(9.1945-1954)


1. Xây dựng lực lượng, chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng (9.1945 - 12.1946)

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trong những ngày đầu xây dựng chế độ xã hội mới, cách mạng Việt Nam lại rơi vào tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Với bản chất hiếu chiến, phản cách mạng, tập đoàn đế quốc và thế lực phản động trong nước câu kết bao vây tìm cách tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ, hòng xóa bỏ thành quả cách mạng mà nhân dân ta vừa giành được trong Cách mạng Tháng Tám. Ở miền Nam, thực dân Pháp được sự hậu thuẫn của quân Anh trở lại Sài Gòn thực hiện dã tâm chiếm nước ta một lần nữa. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc (quân Tưởng) vượt biên giới với danh nghĩa Đồng minh vào giải giáp quân Nhật nhưng thực tế là giúp bọn tay sai phản động chống phá cách mạng, xóa bỏ thành quả mà nhân dân ta vừa giành được. Chúng chiếm đóng các địa bàn có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, đặc biệt là các tỉnh, thành phố lớn và các tuyến giao thông huyết mạnh, trong đó có Hà Nội.


Theo chân quân đội nước ngoài, các thế lực phản động người Việt như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội (Việt Cách) kéo về nước ra sức hoạt động chống phá cách mạng. Chúng gây sức ép bắt ta nhường cho chúng 70 ghế trong Quốc hội.


Trong khi đó, trên khắp cả nước, nạn đói khủng khiếp diễn ra từ cuối năm 1944 đến Cách mạng Tháng Tám làm gần 2 triệu người chết. Cùng với đó là hạn hán, lũ lụt xảy ra liên tiếp khiến nhiều nơi mất mùa gây ảnh hưởng nặng nề tới đời sống của hàng triệu người dân từ thành thị đến nông thôn.


Chế độ thực dân phong kiến để lại hậu quả nặng nề: hơn 90% nhân dân không biết chữ; các hủ tục, tệ nạn xã hội ảnh hưởng chi phối đời sống sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân các địa phương.

Chính quyền cách mạng từ Trung ương tới địa phương còn non trẻ chưa có kinh nghiệm trong tổ chức quản lý, điều hành xã hội.

Chỉ vài ngày sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, ngày 21 tháng 8 năm 1945, Thường vụ Xứ ủy họp quyết định điều động cán bộ, kiện toàn cơ quan Đảng và tổ chức bộ máy chính quyền ở Hà Nội. Từ ngày 25 tháng 8, Thành ủy Hà Nội được tăng cường thêm cán bộ và thành lập Ban Cán sự ngoại thành. Ban Cán sự ngoại thành tổ chức lực lượng dân quân tự vệ ngoại thành có tính chất bán vũ trang.


Chính quyền nhân dân vừa thành lập đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Cuối tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng và bọn phản động người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc (Việt Quốc, Việt Cách) tràn vào miền Bắc chiếm đóng hầu hết các thành phố, thị xã và đặt đại bản doanh ở Hà Nội.


Tình hình Hà Nội vô cùng khó khăn, phức tạp, đặc biệt là vùng ngoại thành, ruộng đất vẫn nằm trong tay địa chủ, nông dân vẫn nằm trên bờ vực của sự mất mùa, đói kém. Khu vực nội thành có nhiều khó khăn, phức tạp do quân Tưởng và bọn phản động gây ra. Chúng vừa gây rối trên nhiều đường phố, vừa tìm cách ám hại các cán bộ cách mạng, phá hoại các cơ quan lãnh đạo và cơ sở cách mạng. Vì vậy, Ban Cán sự ngoại thành chuyển về đóng tại một ngôi nhà ở Láng Trung. Đêm đêm một số cán bộ lãnh đạo của Chính phủ ra Láng Trung họp bàn công việc cách mạng. Tự vệ Láng Trung làm tốt công tác tuần tra, canh phòng đảm bảo trật tự an ninh, bảo đảm an toàn cho các đồng chí cán bộ của Trung ương, Chính phủ, của Thành phố và các cuộc hội họp ở đây.


Tự vệ các thôn xóm, các phố tổ chức trạm canh gác, tổ chức tuần tra hằng ngày, bắt được nhiều vụ trộm cắp, cướp giật trả lại tài sản cho người mất. Phát hiện, bắt, giao cho Ty Liêm phóng những tên Việt gian có những hành vi, hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Trong cuộc tuần hành biểu dương lực lượng khi quân đội của Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội, 30 cán bộ, chiến sĩ tự vệ phố Hàng Bột được cử đi đầu đoàn biểu tình với sự tham gia của 2 vạn quần chúng.


Ở Đống Đa, các thôn, xã ngoại thành thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời nhưng cơ sở Đảng còn rất mỏng, chí mới có chi bộ trong cơ quan Đảng thuộc bộ phận lãnh đạo. Cuối tháng 8 năm 1945, chính quyền nhân dân các cấp ở Đống Đa cơ bản thành lập xong. Đến tháng 10 năm 1945, thành lập Ủy ban nhân dân ở 47 khu phố nội thành, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ngoại thành và các làng cũng đổi thành Ủy ban nhân dân. Sau đó các Ủy ban nhân dân được gọi thống nhất là Ủy ban hành chính; Ủy ban công nhân cách mạng trong các nhà máy, xí nghiệp đổi thành Ủy ban Công nhân, sau lại đổi thành Ủy ban xí nghiệp, tạm thời làm nhiệm vụ quản lý nhà máy.


Hệ thống công an nhân dân sớm hình thành, lấy đội danh dự trừ gian trong Cách mạng Tháng Tám làm nòng cốt, được bổ sung thêm những người trung kiên nhất trong thanh niên và tự vệ ở các nhà máy. Các đội công an xung phong và trinh sát trừ gian được tổ chức theo ngành dọc do Trung ương và Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo hoạt động. Ban Cán sự ngoại thành tổ chức lực lượng tự vệ ngoại thành là những lực lượng bán vũ trang, thực hiện bước đầu chủ trương vũ trang toàn dân. Các tổ chức cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh thiếu niên, phụ nữ, trong các tầng lớp công chức, trí thức... tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Qua Đại hội Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu (27.8.1945), Đại hội Phụ nữ cứu quốc Hoàng Diệu (2.11.1945)..., lực lượng quân chúng trung kiên được phát triển một bước, làm cơ sở cho khối đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tập trung vào ba nhiệm vụ cấp bách là chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #19 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:40:04 pm »

Cùng với việc chăm lo xây dựng lực lượng tự vệ chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng, nhân dân Đống Đa hăng hái vận động thanh niên tòng quân cứu nước. Cuộc tuyển quân đầu tiên trong ngày 13 tháng 9 năm 1945, thực sự là ngày hội của nhân dân Đống Đa. Khẩu hiệu cổ động xuất hiện khắp nơi. Các đội viên tuyên truyền xung phong cầm loa đi khắp ngõ phố, thôn xóm đọc thông báo của Ủy ban nhân dân cách mạng Thành phố. Hàng trăm thanh niên Đống Đa hăng hái xung phong lên đường nhập ngũ. Đặc biệt là ở Phương Mai, hầu hết các y sĩ, bác sĩ Nhà thương Vọng và các sinh viên y khoa thực tập tại đây tình nguyện gia nhập quân đội. Trong đó có các bác sĩ Đinh Văn Thắng, Nguyễn Hữu Thuyết, Trịnh Ngọc Phan, Đỗ Xuân Hợp, Hồ Văn Huê và các sinh viên y khoa Mai Sĩ Đoàn, Đặng Văn Chung, Trần Đình Đệ, Hoàng Đình Cầu, Võ Văn Chung... Sau này họ đều trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội và là những chuyên gia đầu ngành của ngành y tế nước nhà.


Ở xã Yên Lãng, thanh niên hăng hái xung phong gia nhập quân đội, theo thống kê chưa đầy đủ đợt gia nhập này có 12 người tòng quân. Lực lượng tự vệ trong xã cũng được củng cố lập thành một đại đội tổ chức huấn luyện quân sự bảo vệ nhân dân, sẵn sàng tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước1 (Cán bộ chỉ huy gồm có: Đoàn Bản, Đỗ Hóng San, Nguyễn Văn Thứ), Ủy ban hành chính Yên Lãng thuê rèn mấy chục mã tấu, cử người đi mua được một khẩu súng tiểu liên, hai khẩu súng trường và hàng trăm viên đạn của lính Tàu Tưởng để trang bị cho Đại đội tự vệ Yên Lãng.


Phát huy thế mạnh của ngoại thành, một số đơn vị chủ lực khai thác các thửa đất rộng để hoang làm chỗ xây dựng, huấn luyện, tăng cường khả năng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và các lực lượng tự vệ trên địa bàn. Vì vậy, các thôn xã ngoại thành được xây dựng, củng cố và tăng cường về mọi mặt, trở thành vành đai an toàn bảo vệ lực lượng ta trong nội thành, cảnh giác với âm mưu của quân Tưởng và tay sai, nhiều cơ quan Trung ương cũng chuyển ra làm việc ở ngoại thành. Với nhiệt tình yêu nước và ủng hộ cách mạng của nhân dân, nhiều hoạt động của bọn phản cách mạng bị phát hiện và chặn đứng ngay tại các cửa ô. Một vài nhóm phản động do bọn Việt Quốc, Việt Cách nhen nhóm lên bị bắt gọn. Các lực lượng trinh sát chính trị, cảnh sát phối hợp với lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu được nhân dân hỗ trợ, giúp sức phát hiện và xử lý kịp thời lực lượng phản động gây rối ở ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở, Cầu Mới.


Cùng với nhiệm vụ phát hiện, xử lý các lực lượng phản động, các tổ chức vũ trang nhân dân Đống Đa hăng hái tham gia Cuộc vận động "Diệt giặc đói", "Diệt giặc dốt". Các làng xã ngoại thành, lực lượng tự vệ vừa tích cực vận động nhân dân, vừa gương mẫu hăng say lao động sản xuất, tận dụng triệt để ruộng có nước để cấy lúa, ruộng khô để trồng rau màu chống đói. Nhiều ruộng hoang, ruộng đay, thầu dầu được phá để trồng cây lương thực. Các ban khuyến nông được thành lập ở các xã để khuyến khích và giúp đỡ nông dân tăng gia sản xuất. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có ngô, khoai thu hoạch. Nạn đói được đẩy lùi một bước.


Cuối tháng 9 năm 1945, trước tình hình tài chính quốc gia kiệt quệ lại bị đế quốc âm mưu phá hoại nặng nề, Đảng ta chủ trương lập "Quỹ Độc lập" và tổ chức "Tuần lễ vàng". Hưởng ứng chủ trương của Đảng, một số xã như Yên Lãng có sáng kiến bỏ lệ đóng 5 cỗ chay nhân dịp kỵ Thánh hàng năm (26.9 âm lịch) để lấy tiền ủng hộ "Quỹ Độc lập". Nhân dân các địa phương trên địa bàn Đống Đa hăng hái tham gia đóng góp tiền của gây "Quỹ Độc lập". Nhiều gia đình đem hết vàng, bạc thậm chí cả đồ thờ quý giá của gia đình, dòng họ để đóng góp cho Quỹ. Các đội tự vệ, các cháu thiếu niên, nhi đồng tổ chức diễn kịch, ca múa để quyên góp tiền góp cho Quỹ. Đặc biệt, Đội tự vệ Hoàng Diệu phố Hàng Bột tổ chức nhiều buổi diễn ca múa nhạc và diễn các vở kịch "Hội nghị Diên Hồng", "Mạnh Lệ Quân thoát thân" bán vé, có buổi biểu diễn trong rạp Tố Như. Nhân dân trên địa bàn Đống Đa không chỉ mua vé xem biểu diễn mà còn nhiệt tình quyên góp ủng hộ "Quỹ Độc lập", ủng hộ tiền cho các đội tự vệ mua sắm vũ khí.


Phong trào "Diệt giặc dốt", "Bình dân học vụ" diễn ra sôi nổi khắp địa bàn Đống Đa. Những đội quân "tiêu trừ giặc dốt" có mặt ở hầu khắp các thôn xóm, cơ quan, xí nghiệp, đền chùa, trường học, gia đình để dạy chữ cho những ai chưa biết chữ, bất kể là người già, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật... Tối tối, khắp các ngõ phố, thôn, làng ở Đống Đa đều vang lên tiếng giảng bài, đọc chữ từ các lớp bình dân học vụ. Để khích lệ, cổ vũ mọi người nhanh đọc thông, viết thạo, Ban vận động xóa mù chữ ở một số địa phương có sáng kiến: Cứ sau một tuần học là tiến hành kiểm tra ngay trên cổng làng, cổng chợ, ai đọc được chữ thì cho đi cổng có cắm cờ, cắm hoa, ai không thuộc chữ phải đi cổng mù. Nhiều giáo viên đặt ca dao, hò vè để giúp người học dễ nhận mặt chữ.


Đặc biệt, trong phong trào "Bình dân học vụ", "Diệt giặc dốt" trên địa bàn Đống Đa, qua việc tổ chức các lớp dạy chữ cho các "cô đầu", những phụ nữ bị xã hội cũ xô đẩy vào "nghề bán thân" giúp các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc bản chất xã hội mới, hiểu rõ địa vị làm chủ của nhân dân. Nhiều cô đầu sau này tích cực tham gia hoạt động xã hội, tham gia lực lượng tự vệ, tham gia lực lượng phục vụ chiến đấu, phục vụ kháng chiến.


Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới, xóa bỏ các hủ tục, mê tín dị đoan được toàn thể nhân dân Đống Đa hưởng ứng, tạo nên luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần của nhân dân. Qua các sinh hoạt văn hóa giúp nhân dân nhận thức sâu sắc về bản chất xã hội mới, khẳng định vai trò, quyền làm chủ của mình, từ đó tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào chính quyền cách mạng.


Ngay sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, xâm chiếm Nam Bộ, Thành ủy, Ủy ban nhân dân và đoàn thể Việt Minh Hà Nội lập tức phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến. Bốn ngày sau khi Pháp nổ súng tiến công Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945, công nhân viên chức Sở Hỏa xa, đi đầu là công nhân Ga Hà Nội, mở đầu phong trào tình nguyện làm thêm giờ ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Phong trào nhanh chóng lôi cuốn công nhân các nhà máy, xí nghiệp, công sở khác ở Hà Nội.


Đầu tháng 12 năm 1945, Phòng Nam Bộ được thành lập ở Hà Nội để thống nhất và đẩy mạnh hơn nữa phong trào ủng hộ Nam Bộ. Nhân dân Đống Đa có nhiều sáng kiến đóng góp, ủng hộ, thực hiện trách nhiệm của mình đối với miền Nam ruột thịt. Tết Nguyên đán Bính Tuất (1946), Tết Độc lập đầu tiên, đoàn thể Việt Minh tổ chức chợ phiên kéo dài trong 10 ngày (từ mùng 2 Tết đến ngày 12 tháng Giêng) tại chùa Láng. Xã Yên Lãng đăng cai về cơ sở vật chất, thực hiện công tác phục vụ và bảo vệ trật tự an ninh đảm bảo cho chợ phiên đạt kết quả tốt.


Từ mùng 2 tết có các hoạt động văn hóa - văn nghệ, tổ chức các gian hàng trưng bày các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp do nhân dân ngoại thành Hà Nội sản xuất, nhân dân đến xem mua bán đông, từ đó tổ chức quyên tiền ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến chống Pháp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM