Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:14:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quận Đống Đa 1945-2019  (Đọc 5346 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2026, 08:41:24 pm »

Khoảng 9 giờ sáng ngày mùng 2 tết Bính Tuất (tức ngày 3.2.1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh về khai mạc chợ phiên. Cùng đi với Bác Hồ có bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố và viên sĩ quan Tư lệnh quân đội Tưởng khu vực Hà Nội. Vì được Ban tổ chức chợ phiên thông báo trước nên nhân dân nội thành Hà Nội kéo đến rất đông, tới hàng vạn người để đón Bác Hồ. Mọi người đứng chật đường vào chùa Láng, khiến xe của Bác không qua được, Bác Hồ xuống xe, các cháu thiếu nhi và đồng bào vây quanh Bác, mọi người ai cũng muốn đến gần lễ đài để nghe Bác nói chuyện. Bác báo tin hiện nay thực dân Pháp dựa vào quân đội Anh nổ súng gây hấn với ta ở Nam Bộ, chúng âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Bác hoan nghênh đồng bào ngoại thành hưởng ứng tuần lễ "Nam Bộ kháng chiến" do Chính phủ phát động, bằng một việc làm thiết thực tổ chức chợ phiên này như thế là tốt. Bác căn dặn đồng bào cần ra sức tăng gia sản xuất với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng", thực hiện tiết kiệm để chống đói và nuôi sức để chống thực dân Pháp. Cuối cùng Bác chúc các cụ phụ lão cùng đồng bào năm mới mạnh khỏe, vui tết độc lập đầu tiên của dân tộc.


Sau 10 ngày hoạt động, chợ phiên thu được kết quả tốt đẹp, số tiền do đồng bào ủng hộ, trừ chi phí còn hơn một vạn đồng ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Nhưng kết quả lớn nhất là thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ngoại thành Hà Nội, quyết tâm sát cánh cùng đồng bào miền Nam chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Nhân dân xã Yên Lãng vinh dự đón Bác Hồ về thăm và tự hào vì đã đóng góp xứng đáng cho thành công của chợ phiên.


Từ đầu năm 1946, để bảo vệ Thủ đô, khu vực nội thành Hà Nội được chia làm ba liên khu và thành lập Đảng ủy, Ủy ban bảo vệ liên khu. Liên khu I nằm ở trung tâm phía Đông Bắc thành phố. Liên khu II nằm ở phía Đông Nam. Liên khu III ở phía Tây Nam, bao gồm toàn bộ Khu Đống Đa nội thành, có các tiểu khu: Văn Miếu, Hòa Xa, Thăng Long (Kim Mã); phía Đông giáp Liên khu II, lấy đường Hàng Lọng làm giới tuyến; phía Bắc giáp Liên khu I, lấy trục đường Nguyễn Thái Học - Kim Mã làm giới tuyến, phía Tây Nam liền kề với Khu Đống Đa ngoại thành. Liên khu III do đồng chí Lê Trung Toản làm Bí thư Liên khu ủy. Đến giữa năm 1946, đồng chí Đỗ Trình - Thành Ủy viên được cử làm Bí thư Liên khu ủy III thay đồng chí Lê Trung Toản chuyển công tác1 (Đồng chí Đỗ Trình (tên khai sinh là Phạm Văn Tri) sinh năm 1922, quê quán xã Quảng Thái, huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên - Huế; nhập ngũ năm 1945; gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1945. Sau này đồng chí được giao nhiều cương vị trọng trách quan trọng: Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn (1948-1949); Chủ nhiệm Chính trị, rồi Trưởng phòng Huấn luyện Trường Sĩ quan Lục quân (1949-1954); Phó Cục trưởng Cục Quân huấn rồi Cục trưởng Cục Nghiên cứu khoa học quân sự Bộ Tổng Tham mưu (1955-1964); Phó Giám đốc Học viện Quân sự (1965-1967); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh (1968-1969); Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng (1969-1973). Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự (1974-1979); Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng rồi Quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1979-1982); Phó Giám đốc, Giám đốc, Bí thư Đảng ủy Học viện Quân sự cấp cao (1984-1990); Phó Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự Bộ Quốc phòng (1991-2001); Ủy viên Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (2001-2003); Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (2003). Đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng năm 1982). Liên khu ủy được thành lập gồm 4 đồng chí: Đồng chí Đỗ Trình - Bí thư, phụ trách chung, phụ trách chính quyền và quân sự; đồng chí Minh Quang - Phó Bí thư phụ trách đảng vụ, tuyên truyền, đoàn thể quần chúng và chi bộ khu Văn Miếu; đồng chí Nguyễn Kỷ - Liên khu Ủy viên phụ trách công vận và Chi bộ khu Thăng Long; đồng chí Hà Đăng Ấn - Liên khu Ủy viên phụ trách khu Hỏa Xa.


Cơ sở Đảng trên địa bàn Liên khu III có: Chi bộ Văn Miếu (Bí thư Minh Quang); Chi bộ khu Thăng Long (Bí thư Trân), Chi bộ Hỏa Xa (Bí thư Hà Đăng Ấn), Chi bộ Thủy tinh Cầu Giấy (Bí thư Nguyễn Văn Sửu), Chi bộ sở Vô tuyến Bạch Mai (Bí thư Nguyễn Văn Tâm). Lúc này, số lượng đảng viên của Đảng bộ Liên khu có khoảng 30 đồng chí.


Đoàn thể Phụ nữ cứu quốc do đồng chí Minh Thanh làm Bí thư. Ở cấp cơ sở, Ủy ban bảo vệ khu Văn Miếu do ông Nguyễn Văn Mậu làm Chủ tịch và các Ủy viên Tống Lập, Tống Thị Thiên; Ủy ban bảo vệ phố Sinh Từ do ông Nguyễn Chính làm Chủ tịch; ông Phạm Gia Nhung làm Phó Chủ tịch; Ủy ban bảo vệ phố Khâm Thiên do ông Khuyến làm Chủ tịch; Ủy ban bảo vệ khu Thăng Long do đồng chí Nguyễn Ngọc Bảo làm Chủ tịch, đồng chí Phong Nhã là Ủy viên; Ủy ban bảo vệ khu Hỏa xa Ga Hàng Cỏ do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch.


Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân Đống Đa cùng nhân dân cả nước nô nức tham gia bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước khi diễn ra cuộc Tổng tuyển cử, nhân dân 118 làng ngoại thành, trong đó có 28 làng ngoại thành nằm trong địa giới quận Đống Đa nhất trí gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh tín nhiệm đề cử Người vào Quốc hội. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng "Tất cả cử tri hãy đến thùng phiếu", công dân Đống Đa nô nức tới các điểm bỏ phiếu làm nghĩa vụ vẻ vang của mình. Sau gần trăm năm nô lệ, lầm than, lần đầu tiên công dân Đống Đa 18 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ, tôn giáo tự tay cầm lá phiếu bầu những đại biểu xứng đáng thay mặt nhân dân quyết định vận mệnh của đất nước. Ngày bầu cử Quốc hội ở Đống Đa thực sự là ngày hội lớn, tiếng trống ếch của các em thiếu nhi đi cổ động, tiếng hô khẩu hiệu của học sinh, thanh niên vang khắp phố phường, làng xóm. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%). Cán bộ, chiến sĩ tự vệ các địa phương vừa thực hiện quyền, nghĩa vụ thiêng liêng của người công dân, vừa tích cực chủ động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn tuyệt đối các khu vực bỏ phiếu, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên.


Liên tục từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1946, nhân dân Đống Đa cùng đông đảo nhân dân nội, ngoại thành tập hợp lại thành đội ngũ hàng chục vạn người phản đối thực dân Pháp vi phạm Hiệp định Sơ bộ, chiếm đóng trái phép Nha Tài chính Việt Nam (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao), Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch); phản đối hành động tiếp tục xâm lược ở miền Nam, lập ra cái gọi là "Chính phủ Nam Kỳ tự trị", mở rộng chiến tranh xâm lược Tây Nguyên và Nam Trung Bộ; tiễn phái đoàn Quốc hội ta đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp, tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn Chính phủ ta sang Pháp chính thức đàm phán ở Phôngtennơblô (Fontainebleau).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:31:55 pm »

Không bao lâu sau ngày bầu cử Quốc hội, Ủy ban bảo vệ các cấp từ nội thành đến ngoại thành được thành lập. Ủy ban bảo vệ Khu Đống Đa do đồng chí Nguyễn Vĩnh Lợi (tức Lê Khôi) làm Chủ tịch.

Tháng 5 năm 1946, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (gồm: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái và Bạch Mai) và 5 khu phố ngoại thành (gồm: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh).


Trong các ngày 16 và 30 tháng 6 năm 1946, nhân dân nô nức đi bầu Ủy ban nhân dân các khu phố và các xã. Sau đó Ủy ban nhân dân được đổi thành Ủy ban hành chính, Ủy ban hành chính Khu Đống Đa ngoại thành gồm vùng Nam Đồng, Thái Hà, Ngã Tư Sở và Láng do nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan làm Chủ tịch, Ủy ban bảo vệ khu được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Việt Minh khu, nắm toàn bộ lực lượng tự vệ chiến đấu và chuẩn bị xây dựng các phương án tác chiến để đối phó với tình hình bất trắc có thể xảy ra trên địa bàn. Ngày 1 tháng 7 năm 1946, đại biểu nông dân 118 làng ngoại thành, trong đó có 28 làng của Khu Đống Đa ngoại thành họp kiến nghị Chính phủ kiên quyết đối phó với những hành động phá hoại Hiệp định Sơ bộ của thực dân Pháp.


Ngày 31 tháng 7 năm 1946, Liên hiệp Công đoàn Hà Nội chính thức được thành lập. Các chi hội công nhân Cứu quốc trước đây ở các nhà máy, xí nghiệp được đổi thành công đoàn. Nhiều công đoàn ở một số cơ sở như Nhà in Minh Sang, Ga Hàng Cỏ... được củng cố. Công đoàn Đống Đa nhanh chóng bắt tay vào hoạt động, hướng trọng tâm công tác vào xây dựng lực lượng vũ trang công nhân, đấu tranh với hoạt động lấn tới của thực dân Pháp và bọn phản cách mạng.


Thực dân Pháp ngày càng ngang ngược và lộ rõ âm mưu tái chiếm nước ta. Để có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946. Bản Tạm ước còn chưa ráo mực, mực dân Pháp đã trắng trợn bội ước và ngày càng lấn tới. Hội nghị quân sự toàn quốc họp ngày 19 tháng 10 năm 1946 nhận định: "...Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp". Hội nghị vạch ra nhiệm vụ, kế hoạch cho cả nước chuẩn bị sẵn sàng kháng chiến.


Trước tình hình đó, cùng với Thủ đô Hà Nội, nhân dân Đống Đa chủ động, tích cực bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới đầy cam go, ác liệt.

Lúc này, vấn đề đặt ra là phải ra sức chuẩn bị lực lượng kháng chiến, phát triển lực lượng vũ trang, củng cố lực lượng chính trị trên địa bàn. Ngay sau khi quân Tưởng rút về nước, lực lượng tự vệ Yên Lãng tiếp quản Pháo đài Láng và cùng với các chiến sĩ pháo binh tiến hành củng cố trận địa pháo. Sau đó, công nhân Bưu điện Hà Nội đặt ở đây một máy điện thoại hữu tuyến phục vụ cho việc đảm bảo liên lạc, chỉ huy chiến đấu. Hàng trăm thanh niên công nhân Đống Đa tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn, Công an xung phong. Tự vệ Khu Đống Đa ngoại thành và Xí nghiệp Ga Hàng Cỏ là những đơn vị tự vệ mạnh ở Hà Nội lúc bấy giờ. Ngoài việc xây dựng quân đội chính quy thì việc tổ chức toàn dân tham gia lực lượng chiến đấu là hết sức cần thiết và quan trọng. Vì vậy có hai hình thức tự vệ ra đời là tự vệ chiến đấu và tự vệ thành.


Tháng 10 năm 1946, Thành ủy Hà Nội điều động tăng cường cho Liên khu III một số cán bộ: đồng chí Hồ Trúc, Phạm Hướng (bí danh Tư Koóng), Hoàng Công, Kim Quế và một số học sinh: Trần Phi Hiển, Trịnh Khắc Dung...

Trong tháng 10 năm 1946, Đống Đa cơ bản tổ chức xong lực lượng tự vệ chiến đấu và hậu cần của các phố, thôn xã và các xí nghiệp. Mỗi thôn, xã có từ 1 trung đội đến 1 đại đội tự vệ. Số thanh niên trẻ khỏe, tinh thần hăng hái của các địa phương được biên chế vào các trung đội, đại đội tự vệ chiến đấu, số còn lại được biên chế vào các đơn vị tự vệ rộng rãi.


Lực lượng tự vệ chiến đấu và hậu cần của các phố và xí nghiệp có khoảng 400 người, tổ chức thành 12 đội và đại đội.

Khu Thăng Long có 4 đội, gồm: Đội Phan - Tống (Phan Chu Trinh - Tống Lê Chân) do đồng chí Lộc chỉ huy; Đội Thăng Long do đồng chí Quách Ngọc Hải chỉ huy; Đội Tám mái do đồng chí Kẹo chỉ huy; Đội Thủy tinh Cầu Giấy do đồng chí Nguyễn Văn Sửu chỉ huy.


Khu Văn Miếu có 8 đội, gồm: Đội Sinh Từ do đồng chí Nguyễn Phi Hùng chỉ huy; Đội Việt Nam cứu quốc do đồng chí Hồng và đồng chí Mậu chỉ huy; Đại đội Hàng Bột quân số 145 người, do đồng chí Nguyễn Hữu Thành làm Đại đội trưởng; Đại đội Hàng Bột dưới do đồng chí Đỗ Lập Sơn là Đại đội trưởng; Đại đội Hỏa xa Hà Nội quân số 90 người do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Đại đội trưởng; Trung đội cựu binh sĩ cứu quốc làng Giảng Võ; Đội Khâm Thiên do đồng chí Ngọc làm Đội trưởng; Đội Thổ Quan do đồng chí Nguyễn Đình Hiếu làm Đội trưởng; Đội Tự vệ Sở Vô tuyến Bạch Mai do đồng chí Nguyễn Văn Tân làm Đội trưởng.


Lực lượng tự vệ các địa phương, các cơ sở ở Đống Đa vừa xây dựng phát triển lực lượng vừa tích cực hoạt động thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính quyền, giữ gìn trật tự trị an trên địa bàn, đập tan các hoạt động khiêu khích, phá hoại của quân Pháp và bọn tay sai.


Tháng 11 năm 1946, lần đầu tiên, toàn bộ lực lượng tự vệ Đống Đa được tập hợp lại dưới sự chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến Liên khu. Tất cả các đại đội, trung đội tự vệ đều có mặt đầy đủ ở khu đình Láng với các loại vũ khí trong tay. Trong khoảng 200 chiến sĩ tự vệ lúc đó có khoảng một phần ba là nữ. Vũ khí có 15 súng trường kiểu mútcơtông (mousqueton), 10 súng xìten (sten), ngoài ra, gậy, kiếm, mã tấu được trang bị đầy đủ. Cuộc tập hợp lực lượng tự vệ Đống Đa biểu thị quyết tâm cao của người dân Đống Đa sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến khó có thể tránh khỏi.


Ngoài lực lượng tự vệ còn có Đội Tuyên truyền xung phong. Buổi đầu cuộc kháng chiến, đội này bao gồm những anh chị em tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, các đồng chí ở Đội Tuyên truyền thành bộ Việt Minh thành Hoàng Diệu (Liên khu III).

Đội này hoạt động từ những ngày Cách mạng Tháng Tám mới thành công trên một địa bàn rộng, từ chợ Cửa Nam qua Khâm Thiên tới các ngõ Thổ Quan, Thịnh Hào, khu Thăng Long... Khi chuẩn bị kháng chiến, đội này tham gia vào các Ủy ban bảo vệ như đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm ủy viên tuyên truyền; đồng chí Bảo làm Chủ tịch; đồng chí Chu Xuân Ám làm ủy viên cứu thương, về sau, đội này thành Đội Tuyên truyền xung phong, có các đồng chí Kim Thoa, Hiển...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:33:12 pm »

Lực lượng Vệ quốc đoàn hoạt động trên địa bàn Đống Đa có Tiểu đoàn 523 (Tiểu đoàn trưởng là đồng chí An Giao) và một đội công binh gồm 20 người (thuộc Giao thông Công binh Cục - Bộ Quốc phòng). Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho Đại đội 29 (đóng tại ngõ Văn Chương) chủ động liên hệ với địa phương để nắm lực lượng tự vệ chiến đấu, xây dựng kế hoạch phối hợp tác chiến và cử cán bộ về huấn luyện cho tự vệ chiến đấu Đống Đa. Một số lớp huấn luyện quân sự được tổ chức khá chu đáo, bài bản. Nhiều môn học mới như kỹ thuật công binh, làm đường, bắc cầu phục vụ chiến đấu, đào công sự... đối với anh em tự vệ Đống Đa là những bài học quý. Nhiều lớp huấn luyện cứu thương được mở ở các khu phố, các làng, xã như: lớp huấn luyện quân sự cho phụ nữ làng Thổ Quan do đồng chí Minh Quang phụ trách; lớp huấn luyện quân sự do Việt Nam nhân dân cứu quốc hội tổ chức cho các hội viên ở phố Bích Câu, do đồng chí Vơn vốn là lính lái máy bay của Pháp huấn luyện; lớp cứu thương mở tại ngôi đền ở số 35 phố Hàng Bột, do đồng chí Nguyễn Khắc Kỳ ở Cục Quân y - Bộ Quốc phòng huấn luyện...


Để có ngân quỹ phục vụ huấn luyện, mua sắm vũ khí, trang bị thuốc men, dụng cụ y tế..., Liên khu ủy vận động quyên góp tiền, được Phụ nữ cứu quốc hưởng ứng nhiệt tình. Phụ nữ nhiều đường phố có những sáng kiến hay để có tiền phục vụ công việc chuẩn bị kháng chiến. Phụ nữ cứu quốc và tự vệ Hàng Bột, Khâm Thiên tổ chức biểu diễn văn nghệ, mua vé tùy tâm. Đồng chí Lê Trung Tín - đội viên tuyên truyền Khâm Thiên, sao vẽ bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đem bán đấu giá trong buổi biểu diễn văn nghệ, thu được số tiền hơn 1.000 đồng Đông Dương. Qua những đợt bồi dưỡng, huấn luyện, mỗi chiến sĩ tự vệ Đống Đa đều cảm thấy mình lớn lên, có nhiều nhận thức mới không những về tri thức quân sự mà cả lý tưởng và tình cảm cách mạng, tình đoàn kết quân dân.


Cùng với lực lượng tự vệ, công an Khu Đống Đa góp phần tích cực vào việc truy quét, trấn áp bọn phản động, tàn dư của Quốc dân Đảng và tay sai của thực dân Pháp. Trong những tháng cuối năm 1946, trinh sát chính trị và cơ sở bí mật Khu Đống Đa khám phá toàn bộ tổ chức gián điệp Pháp ở Liên khu III do tên Nicolas Capde Ville (người Việt Nam vào "làng Tây") chỉ huy.


Để đảm bảo công tác chỉ đạo kháng chiến và tạo điều kiện cho các địa phương phát huy tính chủ động, sáng tạo trong chiến đấu, ngày 15 tháng 11 năm 1946, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định chia cả nước thành 12 khu. Hà Nội thuộc Khu XI được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ. Cùng với Đảng ủy mặt trận và các ủy ban được thành lập từ trước, ở các liên khu và các khu ngoại thành đều thành lập Đảng ủy mặt trận, Ủy ban bảo vệ với nhiều lực lượng đảng viên, quần chúng tham gia.


Trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch có nhiều chênh lệch, ta kém địch nhiều lần về quân số, vũ khí..., Bộ Tổng chỉ huy, Khu ủy và Ban Chỉ huy mặt trận Khu XI nghiên cứu một kế hoạch chiến đấu nhằm thực hiện mục đích giam chân và tiêu hao sinh lực địch trong thành phố một thời gian càng lâu càng tốt. Theo tinh thần ấy, ta chủ trương giành chủ động ngay từ đầu, tiến công làm rối loạn thế trận của địch, sau đó một bộ phận trụ lại, hình thành một khu cố thủ ở giữa thành phố, thu hút, kìm chân địch ở bên trong; còn đại bộ phận lực lượng của ta dãn ra, chốt ở các cửa ô, tạo thế bao vây nhiều tầng, nhiều lớp, đánh địch cả trong và ngoài. Kế hoạch cụ thể: Liên khu I sẽ chốt lại trong thành phố, Liên khu II và Liên khu III cùng năm khu ngoại thành sẽ là nơi quân ta xây dựng vành đai bao vây địch. Nhân dân Khu Đống Đa ngoại thành, Liên khu III cùng các xóm làng ven nội tích cực sữa soạn các công việc chuẩn bị cho kế hoạch "Vườn không nhà trống" và "Tiêu thổ kháng chiến" để chặn bước tiên của địch. Khẩu hiệu vận động nhân dân lúc này là "Tản cư là yêu nước". Các phố đều thành lập "Ban tản cư". Việc vận động tản cư không đơn giản vì hầu hết mọi người đều mong muốn được tham gia kháng chiến, đánh thực dân Pháp. Tuy nhiên, theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, từng đoàn người, trước hết là các cháu nhỏ, người già, người ốm, tàn tật,... thực hiện tản cư về các làng ven đô.


Những người ở lại tự nguyện vào các đội tự vệ, tổ cứu thương, tiếp tế... Hầm hào chiến đấu, hố cá nhân, nhiều ụ chướng ngại được xây dựng bằng đất đá, gỗ, tà vẹt, bàn tủ, ghế, giường mọc lên ở đầu và cuối phố Khâm Thiên, Hàng Bột, sẵn sàng phục vụ cho cuộc chiến đấu đang đến gần.


Trên địa bàn Đống Đa, cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội, có pháo đài Láng đặc biệt quan trọng. Năm 1940, quân đội Pháp bắt nhân dân làng Láng Trung nhổ lúa để chúng quây dây thép gai xây dựng pháo đài phòng thủ chống phát xít Nhật. Trên diện tích 4ha, chúng xây nhà kho để chứa đạn, làm một dãy nhà tre cho lính pháo thủ và một trung đội lính Nam Kỳ ở. Pháo đài có 4 khẩu pháo cao xạ 75mm nhưng chỉ có 2 khẩu còn hoạt động được. Một viên đại úy Pháp chỉ huy toàn bộ pháo đài. Sau khi đảo chính Pháp, chiếm được pháo đài quân Nhật cho xây thêm hầm kiên cố ở Gò Ma để chứa súng đạn. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nhật giao lại pháo đài cho quân Tưởng. Thời gian này, lính Tường muốn có tiền để tiêu xài nên tìm cách tuồn đạn ra bên ngoài, nhưng bị tự vệ làng Láng tuần tra phát hiện và kiên quyết tìm mọi cách giữ lại, không cho chúng tẩu tán. Vì vậy, khi Vệ quốc đoàn tiếp quản pháo đài, dưới hầm chứa vẫn còn rất nhiều đạn.


Ngày 29 tháng 6 năm 1946, tại Trại Vệ quốc đoàn thanh niên (Hàng Bài), lễ thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô được tổ chức. Pháo thủ ở Pháo đài Láng được tổ chức thành trung đội, là một trong bốn trung đội của Đoàn Pháo binh Thủ đô, do đồng chí Nguyễn Ưng Gia làm Trung đội trưởng, đồng chí Nguyễn Khoát làm Chính trị viên và 20 cán bộ, chiến sĩ. Lúc này, pháo đài được trang bị thêm một khẩu súng phòng không 12,7mm. Theo kế hoạch tác chiến của Bộ Chỉ huy mặt trận, pháo đài Láng sẽ cùng các pháo đài Xuân Tảo, Xuân Canh nã pháo vào khu vực thành và các căn cứ đóng quân của Pháp, phá hủy cơ quan chỉ huy, các kho tàng và phương tiện chiến tranh của chúng để mở đầu cho kháng chiến. Do vị trí và tầm quan trọng của pháo đài Láng, bộ đội pháo đài này suy nghĩ, tìm tòi, làm việc ngày đêm tìm cách chuyển thành công pháo cao xạ thành pháo mặt đất. Ngày 16 tháng 12 năm 1946, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí Vương Thừa Vũ, Trần Độ trong Bộ Tư lệnh Mặt trận Hà Nội đến thăm pháo đài Láng, thăm hỏi, động viên các pháo thủ và kiểm tra các phương án tác chiến. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rất hài lòng với công tác chuẩn bị tác chiến ở pháo đài Láng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:37:46 pm »

Về mặt bố trí lực lượng, các đội tự vệ chiến đấu được bố trí xen kẽ với Vệ quốc đoàn, phối hợp chiến đấu theo kế hoạch chung của toàn mặt trận. Trên địa bàn Liên khu III lúc này, lực lượng tự vệ và hậu cần của các phố có khoảng từ 8 đến 10 đội. Trung đội tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên có khoảng 50 người cùng với tự vệ các xã lân cận hợp thành đại đội tự vệ thành do Lê Đình Cầu làm Đại đội trưởng. Vũ khí của tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên chủ yếu là dao, kiếm, mã tấu, ngoài ra có 5, 6 khẩu súng trường các loại; 2 khẩu tiểu liên Phan Đình Phùng và 1 khẩu xìten. Sau này được trang bị thêm súng ngắn, các-bin, bom ba càng, đạn đại bác 75mm (nhưng không có súng), lựu đạn các loại. Còn ở Hàng Bột có 1 đội tự vệ mạnh với quân số 145 người; vũ khí có 11 khẩu súng các loại do các đội viên lấy được của giặc, còn lựu đạn và bom ba càng do trên cấp.


Từ cuối tháng 10 năm 1946, Liên khu được Ty Công an Hà Nội bổ sung 20 cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng trinh sát chính trị. Lực lượng này có nhiệm vụ phối hợp với các đoàn thể và lực lượng tự vệ rà soát và dự kiến các phương án đấu tranh với các phần tử có nghi vấn, điều tra những ngôi nhà địch có thể lập ổ đề kháng. Lực lượng công an bố trí ở xung quanh Quốc Tử Giám, Hàng Bột, Hào Nam, Nhà dầu Shell, Khâm Thiên, Văn Chương, Xã Đàn, Cầu Giấy, Láng, Ngã Tư Sở. Trụ sở cảnh sát Liên khu III đóng ở cuối phố Khâm Thiên - Ô Chợ Dừa (nay là Trụ sở Công an quận Đống Đa). Hoạt động trên địa bàn Liên khu III còn có lực lượng thuộc đội trinh sát Bắc Bộ, trụ sở đóng ở số 73 phố Hàng Bột.


Đầu tháng 12 năm 1946, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Mặt trận Hà Nội, lực lượng tự vệ Đống Đa cùng tự vệ một số huyện thuộc Hà Đông, Sơn Tây tổ chức một cuộc nghi binh lớn. Đêm đêm, hàng nghìn người mặc quân phục và trang bị đầy đủ hành quân từ ngoại ô vào thành phố, nửa đêm về sáng lại rút ra ngoại thành. Kế hoạch được tiến hành liên tục trong một tuần lễ làm cho thực dân Pháp không nắm được lực lượng của ta có bao nhiêu nên rất hoang mang. Ngày 16 tháng 12, cùng với Vệ quốc đoàn Thủ đô, Vệ quốc đoàn Đống Đa tham dự lễ tuyên thệ "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", "Quyết tử để bảo vệ Thủ đô" tại đình Mọc Quan Nhân.


Cũng ngày 1 tháng 12 năm 1946, tại trụ sở của Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội gần Ngã Tư Sở, đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đến kiểm tra và trực tiếp nghe Bộ Chỉ huy mặt trận báo cáo. Đồng chí Tổng Tư lệnh căn dặn Ban Chỉ huy mặt trận: "Phải hết sức tỉnh táo, hết sức kỷ luật, đề phòng sự khiêu khích, nếu quân Pháp trở mặt đánh ta thì chiến đấu phải hết sức kiên cường. Vận dụng chiến thuật phải hết sức linh hoạt, nhưng phải bảo toàn lực lượng".


Gần đến ngày chiến đấu, để thuận tiện cho việc lãnh đạo và chỉ huy hiệp đồng tác chiến, đồng chí Đỗ Trình cho rời trụ sở Liên khu ủy, Liên khu bộ Việt Minh và Ủy ban bảo vệ Liên khu từ nhà Dêpot ở đầu phố Khâm Thiên về Nhà máy Tóc - nơi đặt sở chỉ huy Tiểu đoàn 523. Cơ quan tuyên truyền của Liên khu từ Hàng Bột chuyển về làng Thành Công.


Đến trung tuần tháng 12 năm 1946, nhất là sau vụ quân Pháp tàn sát đồng bào ta ở phố Yên Ninh và khiêu khích ở trụ sở Bộ Tài chính (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) không khí chiến tranh, tình hình Hà Nội trở nên ngột ngạt, căng thẳng. Các lực lượng tự vệ, tuyên truyền của Liên khu III được lệnh ngày đêm tập trung tại nơi quy định, mang sẵn gạo, thức ăn dự phòng cho cá nhân. Gần đến ngày chiến đấu, Liên khu III được Bộ Chỉ huy Khu XI cấp cho 5 quả bom cỡ 50kg để phá nổ những vị trí của ta bị địch chiếm. Lực lượng tự vệ hoàn thành việc đục thông tường từ nhà nọ sang nhà kia. Lực lượng Vệ quốc đoàn đóng bí mật trong Văn Miếu đào xong đoạn đường hầm chạy ngầm từ Văn Miếu trước cửa nhà Gian Đa (Jeane D’Arc).


Sau đợt kiểm tra của Bộ Chỉ huy mặt trận, Ban Chỉ huy tự vệ Đống Đa triển khai kế hoạch kiểm tra lực lượng tự vệ chiến đấu tại một số địa điểm quan trọng từ ngã tư Khâm Thiên đến Ngã Tư Sở. Qua kiểm tra, nhìn chung lực lượng tự vệ chiến đấu đã sẵn sàng, nhân dân đã tản cư được phần lớn, việc đục tường, đào giao thông hào về cơ bản đã tiến hành theo kế hoạch. Bộ phận Vệ quốc đoàn đóng ở Văn Miếu đã triển khai phương án tác chiến ra trước cửa nhà Gian Đa. Được sự hướng dẫn, giúp đỡ của công binh Tiểu đoàn 523, lực lượng tự vệ chiến đấu Nam Đồng - Xã Đàn - Ô Chợ Dừa, dưới sự chỉ huy của đồng chí Trần Văn Đức đắp chiến lũy vững chắc cao khoảng 3m, rộng gần 3m, dài hơn 30m tại ngã ba Ô Chợ Dừa. Từ chiều ngày 19 tháng 12, ta khẩn trương đắp hai ụ đất vững chắc ở đầu phố Khâm Thiên gần phía phố Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn) và đầu Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng), Văn Miếu để chặn địch đánh nống ra ngoài, mãi đến đêm mới hoàn thành. Trật tự trị an nhìn chung được giữ vững. Quân và dân Đống Đa chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến một cách bình tĩnh, với tinh thần "Quyết từ để Tổ quốc quyết sinh".


Đống Đa không chỉ là nơi đặt trụ sở của Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội, mà còn là nơi được chọn làm địa điểm rút quân tập kết của cán bộ, công nhân viên Sở Công an Bắc Bộ và Ty Công an Hà Nội. Theo kế hoạch thì bước một, chuyển xuống Khâm Thiên (tiệm khiêu vũ cũ của Nhật ở cuối phố Khâm Thiên); bước hai, chuyển xuống Ngã Tư Sở và khi kháng chiến bùng nổ thì về chùa Láng, Trung Kính và Mễ Trì.


Quân dân Liên khu III và Khu Đống Đa ngoại thành sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu với sự chuẩn bị khẩn trương, tích cực, khá chu đáo với niềm tin chiến thắng.

Địa bàn Đống Đa trở thành một mắt xích và là cửa ngõ quan trọng trong vành đai ngoại thành. Đây vừa là chỗ đứng chân an toàn của cán bộ nội thành, vừa nằm trên tuyến đường rút quân ra Hà Đông, Sơn Tây lên Việt Bắc của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trong quá trình xây dựng và củng cố lực lượng, Đống Đa là địa bàn để Trung ương Đảng chọn xây dựng vị trí quân sự của thành phố như pháo đài Láng, đồng thời là địa bàn để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nội và ngoại thành. Trên thực tế, Đống Đa vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, chỗ dựa trực tiếp cho lực lượng chiến đấu nội thành ở phía Tây Nam thành phố. Trong 16 tháng, Đống Đa góp phần tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị đi vào kháng chiến, lực lượng đó không chỉ là Tiểu đoàn chủ lực 523 và các đội tự vệ chiến đấu... mà là tất cả công nhân, nông dân, thanh niên, trí thức, người buôn bán nhỏ,... Nhiều người tuy không trực tiếp đứng trong hàng ngũ Vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, nhưng với tinh thần "Thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ", hết lòng vì Tổ quốc, vì Thủ đô, các tầng lớp nhân dân Đống Đa luôn luôn hướng về cách mạng, tin theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì vậy mà trước ngày Toàn quốc kháng chiến, nhân dân Đống Đa tích cực chuẩn bị "vườn không nhà trống", "tiêu thổ kháng chiến", dựng chiến lũy, đào đường giao thông, đục phá tường nhà, làm đường vận động chiến đấu, tải thương, tiếp tế...


Lực lượng vũ trang nhân dân và các tầng lớp nhân dân Đống Đa sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khó với chí quyết tâm, và niềm tin tất thắng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #24 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:42:28 pm »

2. Tham gia chiến đấu giam chân địch trong thành phố 60 ngày đêm (19.12.1946 - 19.2.1947)

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sau khi nêu rõ dã tâm của thực dân Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa, Người kêu gọi:

"Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giảo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc..."
1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 534)


Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Đống Đa cùng cả nước nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp.

Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến thành phố gặp đồng chí Đỗ Trình - Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu III, để giao nhiệm vụ. Đến 15 giờ ngày 19 tháng 12, đồng chí Đỗ Trình nhận được mật hiệu: "Chuyến hàng sẽ đến vào 18 giờ" - theo quy ước sẽ cộng thêm 2 giờ là 20 giờ. Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang Liên khu III là tiến công vào mục tiêu địch chiếm đóng, ngăn chặn địch từ trong thành đánh ra, kìm chân địch một thời gian khoảng vài tuần lễ, phối hợp tác chiến với các Liên khu I, Liên khu II, bảo vệ đường ra An toàn khu của Trung ương. Kế hoạch phối hợp tác chiến giữa Đại đội 29 lực lượng Vệ quốc đoàn với lực lượng tự vệ Hàng Bột được triển khai cụ thể. Đại đội 27 điều hai trung đội tới phối hợp với tự vệ Khâm Thiên - Thổ Quan, một trung đội đóng tại phố Nam Đồng làm lực lượng dự bị. Đại đội 28 đóng chốt vùng Nhà Tiền (nay là trụ sở Công ty cổ phần in Tiến Bộ, phố Nguyễn Thái Học).


Chủ động đánh địch và đẩy địch vào thế bị động, thực hiện quyết định của Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam ra lệnh cho các đơn vị bảo vệ Hà Nội nổ súng chiến đấu. Chấp hành mệnh lệnh, đúng 20 giờ 00 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, đèn toàn thành phố Hà Nội vụt tắt. Đó là hiệu lệnh chiến đấu, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Giờ cứu nước đã đến, toàn thành cùng nổ súng. Khẩu đội Phi Hùng tại pháo đài Láng do Trung đội trưởng Ưng Gia chỉ huy được giao nhiệm vụ bắn những quả đạn đầu tiên vào đại bản doanh quân xâm lược Pháp trong Thành Hà Nội làm hiệu lệnh tiến công. Cùng lúc, đại bác ở pháo đài Xuân Tảo cùng nhả đạn vào các mục tiêu đã quy định. Trong tiếng đại bác gầm rú, tự vệ Hàng Bột đắp nốt ụ chướng ngại ngang đường. Cột điện và cây to được đánh đổ gục tạo thành chướng ngại vật chắn ngang các đường phố. Chuyến tàu điện cuối cùng trong ngày chở bà con đi tản cư, sau khi đổ khách ở Ngã Tư Sở quay về cũng được lật đổ. Một đoàn xe lửa chở đầy đá chạy ra hướng Sinh Từ được cắt toa làm thành barie chắn các đường Sinh Từ, Hàng Đẫy. Đoàn tàu khách từ Nam Định về ga Hà Nội được lệnh dừng trả hết khách ở cột đèn tín hiệu miếu Hai Cô để bảo đảm an toàn cho hành khách, sau đó đầu máy chạy đến barie phố Khâm Thiên đỗ lại làm thành chướng ngại vật. Nhân dân ném đồ đạc xuống mặt đường xây dựng thêm chiến lũy. Nhân dân các làng xã nổi trống, mõ từ làng này sang làng khác, huy động lực lượng tiếp ứng cho lực lượng vũ trang nội thành.


Lực lượng ở Liên khu III phối hợp với Khu Đống Đa ngoại thành chốt giữ và tổ chức bảo vệ trục Đường số 6, đoạn đường Hà Nội - Hà Đông để các cơ quan của Đảng, Chính phủ từ trong nội thành rút dần ra Hà Đông, Sơn Tây, rồi tiến lên Chiến khu Việt Bắc tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến. Phố Hàng Bột, ấp Thái Hà, Ngã Tư Sở, Mễ Trì là những chỗ dừng chân của Bộ Chỉ huy tiền phương để chỉ đạo tác chiến trong thành phố. Tại các điểm nói trên, tự vệ chiến đấu và nhân dân tổ chức bảo vệ các đồng chí cán bộ Trung ương và Bộ Chỉ huy mặt trận an toàn.


Trong khu vực Ga Hàng Cỏ, Đội tự vệ công nhân Hỏa Xa từ phố Khâm Thiên đánh vào các mục tiêu có địch, đốt phá một số toa xe hàng hóa của địch.

Lực lượng đánh vào khu gia binh Pháp và tòa báo Vì nước ở đầu phố Hàng Bột, do đồng chí Trần Hải - Chính trị viên đại đội chỉ huy 2 tiểu đội của Trung đội 56 và 1 tiểu đội tự vệ. Quân ta vừa nổ súng vừa gọi hàng. Địch rút lên gác, không bắn trả. Cửa vào tầng dưới địch chặn chắc nên ta không phá được. Quân ta chất chăn màn và các vật liệu dễ cháy, tưới xăng lên định đốt thì địch xin hàng. Ta lệnh cho chúng mở cửa ra hàng. Ba tên Pháp cùng vợ con mang theo khẩu một khẩu xìten và một khẩu súng ngắn ra hàng.


Trong trận đánh Nhà dầu Shell, tiểu đội gác tại đây do sơ hở trong khi chuẩn bị tác chiến nên bị lộ, địch sinh nghi và chuẩn bị ứng phó. Khi đèn tắt, chúng chủ động tiến công trước, ta phải rút ra ngoài. Sau đó, Đại đội 27 thuộc Tiểu đoàn 523 được điều đến đánh, gặp địch tăng viện nên phải rút.


Tại khu Thăng Long, lực lượng ta đánh vào một đơn vị lính Pháp đóng tại Nhà thờ Đa Minh. Một tình báo địch đội lốt tu sĩ chạy thoát.

Phối hợp với lực lượng Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu tuyến trước, lực lượng công an và tự vệ bắt giữ một số đối tượng nghi vấn, một số sĩ quan Pháp và Pháp kiều ở sân bay Bạch Mai...

Các lực lượng Vệ quốc quân, Tự vệ đoàn, Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong phối hợp tác chiến, tiến công uy hiếp địch ở Sở Xe điện, Nhà giặt... Trong trận đêm 19 tháng 12, đồng chí Bảo Hà, người dân tộc Tày, có mặt từ những ngày đầu trong đội Tuyên truyền giải phóng quân, là chiến sĩ Vệ quốc đoàn, xạ thủ đại liên, trúng đạn hy sinh tại chỗ, ở mặt trận Hàng Bột có hai chiến sĩ tự vệ là Phạm Gia Chung (cảm tử quân) và Nguyễn Văn Nho (cáng thương), ở Mặt trận Khâm Thiên, đồng chí Đạt anh dũng hy sinh.


Nhà Đêlêvô (nay là trụ sở Công an quận Đống Đa) là một ổ chiến đấu tiền tiêu của Pháp được trang bị tiểu liên, lựu đạn, xe cứu thương, khống chế đường Hàng Bột - đường giao thông nối liền nội thành với khu an toàn của thành phố và của Trung ương Đảng ở Hà Đông. Ta dùng Trung đội 57 thuộc Đại đội 29, Tiểu đoàn 523 và 1 Trung đội tự vệ khu Văn Miếu do Đại đội trưởng Lưu Vân trực tiếp chỉ huy. Lực lượng ta kiên quyết vừa tiến công vừa kết hợp gọi hàng. Có một tên người Pháp cùng vợ là người Việt và một tên người Việt mang theo súng ra hàng. Khẩu đại liên của ta bố trí bên dãy phố đối diện bắn thẳng sang vị trí của địch. Địch bắn trả quyết liệt, đồng chí Vọng - chiến sĩ xạ thủ bị hy sinh. Dựa vào hỏa lực và tường chắn kiên cố, địch ngoan cố chống cự, ta đánh tầng một, địch rút lên tầng hai. Đồng chí Nguyễn Hữu Thành chỉ huy bộ phận tự vệ đưa quả bom 50kg vào, nhưng bom không nổ. Cuộc chiến đấu giằng co đến gần sáng. Đồng chí Phạm Gia Nho - Tiểu đội trưởng tự vệ anh dũng hy sinh. Đại đội trưởng Lưu Vân cùng một số chiến sĩ và tự vệ trèo lên mái nhà, dỡ ngói thả lựu đạn xuống diệt được vài tên và gọi một số ra hàng. Địch cho xe cơ giới chở quân đến cứu viện. Mặt trận kịp đưa khẩu badôca cơ động đến bắn cháy một xe. Đến chiều quân địch dùng chiếc xe cắm cờ Hồng thập tự để ngụy trang chở quân tháo chạy vào thành.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #25 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:44:20 pm »

Sáng ngày 20 tháng 12, sau khi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn, Vương Thừa Vũ đến thăm Đại đội tự vệ công nhân phố Khâm Thiên và quyết định điều hai tiểu đoàn của Chiến khu II tăng cường cho Hà Nội.


Đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng cùng Chính trị viên Trần Độ xuống kiểm tra đơn vị pháo binh ở pháo đài Láng. Tại đây các đồng chí lãnh đạo truyền đạt Lời kêu gọi của Bác Hồ, căn dặn và thăm hỏi thân mật cán bộ, chiến sĩ. Sự quan tâm sâu sát của các đồng chí chỉ huy tăng thêm niềm tin và sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ ở Láng, Khâm Thiên cũng như toàn bộ lực lượng tự vệ chiến đấu, Vệ quốc đoàn ở Đống Đa.


Rạng sáng ngày 20 tháng 12, địch chiếm lại được một số vị trí như khu Đấu Xảo, Ga Hàng Cỏ.

Tranh thủ lúc chiến sự tạm ngừng, các đồng chí Đỗ Trình, Minh Quang, Nguyễn Kỷ trong Liên khu ủy kịp thời xuống các vị trí chiến đấu và các khu phố để kiểm tra tình hình chiến đấu và động viên cán bộ, chiến sĩ. Các đồng chí phổ biến quán triệt tình hình nhiệm vụ chiến đấu đến từng cán bộ, chiến sĩ, đồng thời vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của địch muốn cô lập, chia cắt lực lượng của ta chia cắt các liên khu, nội và ngoại thành để tiện tiêu diệt từng khu vực một.


Ngày 21 và 22 tháng 12, địch đánh ra Kim Mã. Tự vệ ta chủ động bố trí sẵn lực lượng, chặn đánh địch ở gần chùa Kim Mã (nay là Nhà hát chèo Trung ương). Trong trận này, đồng chí Vơn, một chiến sĩ tự vệ bắn tỉa rất giỏi hy sinh. Đồng đội đưa thi hài anh về nơi an nghỉ cuối cùng tại khu vực núi Bò.


Đêm 22 tháng 12, máy bay địch bắn phá ném bom vào các làng Lương Sử, Hào Nam và một số địa điểm khác trên địa bàn Liên khu III. Bom đạn giặc giết hại một số đồng bào chưa kịp tản cư. Hành động của địch càng làm tăng thêm lòng căm thù và ý chí chiến đấu cho quân dân Liên khu III.


Đảng ủy Khu XI, Ủy ban kháng chiến và Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội có kế hoạch chỉ đạo Ủy ban kháng chiến và lực lượng vũ trang các cấp theo dõi sát sao tình hình và âm mưu của địch, các liên khu II và liên khu III phải chặn địch từng bước, bám chắc lấy các cửa ô, phối hợp tác chiến chặt chẽ với Liên khu I, kết hợp trong ngoài cùng đánh, vừa tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, vừa cố gắng bảo toàn lực lượng của ta để chiến đấu lâu dài.


Dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu XI, Đảng ủy và Ủy ban kháng chiến Liên khu III, Khu Đống Đa ngoại thành chỉ đạo quân dân trên địa bàn bám đất, bám địch, bám dân thực hiện "mỗi đường phố là một chiến tuyến, mỗi ngôi nhà là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ", giành giật với địch từng góc phố, từng căn nhà. Cuộc chiến đấu không phân chiến tuyến, ở đâu cũng có lực lượng của ta, cũng xuất hiện nhiều ổ đề kháng, những cây súng bắn tỉa..., chướng ngại vật xuất hiện khắp mọi nơi. Những khẩu hiệu, áp phích với dòng chữ "Sống chết với Thủ đô" do các đội tuyên truyền xung phong, tự vệ, phụ nữ phố Hàng Bột viết đẹp, trang nghiêm được dán trên khắp các tường nhà, hè phố. Xưởng cơ khí của một tư nhân được chuyển thành xưởng chuyên chữa súng cho bộ đội Tiểu đoàn An Giao (tức Tiểu đoàn 523, gọi theo tên đồng chí Tiểu đoàn trưởng) và tự vệ chiến đấu. Các tổ tuyên truyền, tiếp tế, cứu thương... hoạt động tích cực, sôi nổi. Loa truyền thanh vang lên, vừa đưa tin thắng lợi, vừa làm công tác địch vận. Đặc biệt ở Liên khu III, trong những ngày đầu kháng chiến, có tờ báo Thép để thông báo tin tức chiến sự. Các đội viên tuyên truyền phân phát báo xuống tận các chiến sĩ và nhân dân ngay trong ngày đầu báo được in (20.12.1946).


Trong khi chiến sự diễn ra ác liệt trên nhiều vị trí của Liên khu III, các làng xã Đống Đa ngoại thành tiếp tục thực hiện "vườn không nhà trống" và "tiêu thổ kháng chiến". Đặc biệt, sân bay Bạch Mai của địch bị quân dân Liên khu III khống chế. Liên lạc và đường giao thông thường ngày của địch từ Hà Nội đi các tỉnh hầu như bị tê liệt.


Sự gắn bó các hoạt động thống nhất quân - dân dưới sự lãnh đạo của Khu ủy là nét nổi bật trên địa bàn Đống Đa khi bước vào cuộc kháng chiến. Để tiện việc phối hợp chỉ đạo, trụ sở Khu ủy, Ban Chỉ huy Việt Minh Liên khu III và Ủy ban kháng chiến Liên khu III bố trí cùng một khu vực với Tiểu đoàn bộ 523. Lúc đầu ở Trại Tóc (Ô Chợ Dừa) sau chuyển về ấp Thái Hà, rồi về Nhân Mục. Nhờ đó, việc chỉ huy điều động và huy động các lực lượng của ta được thực hiện chặt chẽ hơn.


Trong những ngày đầu kháng chiến, các Ủy ban kháng chiến có ba nhiệm vụ rất nặng nề: tiếp tế lương thực, bổ sung quân số và cứu, tải thương. Để giải quyết nhiệm vụ cứu, tải thương, vấn đề đặt ra là phải có năng lực và đường giao thông. Khi đặt vấn đề đục tường từ nhà nọ sang nhà kia, làm con đường vận động chiến đấu cho bộ đội, di chuyển thương binh, tiếp tế, liên lạc, đảm bảo bí mật an toàn, thì nhân dân từ ngã tư Khâm Thiên tới Ngã Tư Sở đều sẵn sàng. Vì vậy một thành công to lớn của lực lượng tự vệ và nhân dân Đống Đa thời kỳ này là thiết kế được một con đường - đường huyết mạch, đường chiến đấu, đường nhân dân - từ đầu Hàng Bột giáp Hàng Đẫy trở xuống, từ ngã tư Khâm Thiên xuyên qua các nhà số lẻ vào ngõ Trại Khách Thổ Quan, vượt Đê La Thành xuống cánh đồng Xã Đàn và Khương Thượng tới Ngã Tư Sở, ra cánh đồng Kim Giang, cánh đồng Lủ, xuống thẳng Hà Đông, tới An toàn khu.


Các trung đội tự vệ chiến đấu Trung Phụng, Thổ Quan, Nam Đồng, Kim Lũ, v.v... góp phần to lớn vào việc tạo dựng con đường chiến đấu, tiếp tế, tải thương trong những ngày đầu kháng chiến. Chính con đường đó góp phần xứng đáng vào nhiều chiến công oanh liệt của quân dân Đống Đa trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống thực Pháp xâm lược.


Thấy được tác dụng lợi hại của pháo đài Láng, giặc Pháp cho máy bay trinh sát dò xét chỉ điểm cho pháo địch bắn vào. Sáng 22 tháng 12 năm 1946, để tiêu diệt mối đe dọa do máy bay trinh sát địch gây ra, khẩu đội của pháo đài Láng đã xuất sắc bắn trúng máy bay trinh sát địch, xác máy bay rơi ở phố Hàng Bột. Đây là lần đầu tiên ta bắn rơi máy bay địch trên vùng trời Hà Nội. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư khen chiến công của các chiến sĩ pháo đài Láng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #26 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:45:24 pm »

Bị mất một máy bay, ngay đêm hôm đó giặc Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào làng, làm cho một người dân bị chết và một người bị thương. Sau đó mấy ngày địch lại cho máy bay đến ném bom vào pháo đài Láng nhiều lần, có một quả bom trúng khẩu đội số 3, một pháo thủ hy sinh ngay tại chỗ và một pháo thủ bị thương nặng đưa đi cứu chữa sau ít ngày cũng hy sinh. Sau các trận bắn pháo và ném bom của địch, Ban chỉ huy pháo đài phải rút ra đền Ngọ. Ban đêm nhân dân Yên Lãng được huy động vào đắp lại trận địa bị bom đánh phá và đào đắp một pháo đài giả rất công phu ở cánh đồng thôn Hạ, gồm: ụ súng, nòng pháo làm bằng cây cau, pháo thủ giả bện bằng rơm, chòi chỉ huy, hầm để đạn v,v... cũng được làm giả như thật. Sau đó địch cho trinh sát thấy có pháo đài mới liền tập trung bắn pháo và ném bom vào pháo đài giả nên pháo đài thật an toàn hơn trước. Tuy vậy, cuộc chiến đấu ngày càng khó khăn, không có điện, ban đêm anh em phải đốt rơm để lấy ánh sáng nhìn vào kính ngắm, ăn uống hoàn toàn do dân Yên Lãng nuôi, nhiều ngày địch bắn pháo hoặc ném bom ác liệt, cơm không mang vào được. Đội tiếp tế là phụ nữ Yên Lãng, nhiều khi phải gánh cơm tiếp tế cho bộ đội dưới làn pháo của địch. Ông Vũ Quýnh, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ (sau đổi là Ủy ban kháng chiến) thường xuyên dẫn đầu đoàn đại biểu các ngành, các đoàn thể trong xã ban đêm đến pháo đài tặng quà, động viên các chiến sĩ quân đội và tự vệ chiến đấu, bảo vệ pháo đài, lập công xuất sắc.


Ngày 23 tháng 12, trong khi tiến đánh một số vị trí Liên khu I và Liên khu II, quân Pháp cho hai xe tăng từ cửa thành phía Tây chạy ra án ngữ góc đường Hàng Bột - Cát Linh, thỉnh thoáng lại nã đạn vào các vị trí mà chúng nghi là có lực lượng của ta, nhưng dựa vào nhà dân quân ta bắn tỉa, làm địch bị thương và chết một số. Cùng ngày ở Khâm Thiên, nhờ súng lớn ở Ga Hàng Cỏ bắn yểm trợ, địch liên tiếp tiến công vào trận địa ta. Bộ đội và tự vệ đánh trả quyết liệt, buộc chúng phải rút lui. Đến đêm hôm đó, Ban Chỉ huy Đại đội 29 thuộc Tiểu đoàn 523 trực tiếp chỉ huy hai trung đội luồn sâu vào các phố Hàng Đẫy, Cao Bá Quát cùng tự vệ và nhân dân diệt địch. Dọc đường tiến quân, quân ta không gặp một sự kháng cự nào của địch. Trung đội 50 Đại đội 27 cùng tự vệ tiến công Nhà dầu Shell lần thứ hai, địch cố thủ và chuyển quân sang các tầng gác cao bên quán cơm Hỏa Xa và quán trà Phú Xuân bên phố Hàng Lọng (nay là phố Lê Duẩn). Ta lọt vào trong hàng rào dây thép gai, không gặp địch nên rút quân ra ngoài.


Ngày 24 tháng 12, bộ binh cơ giới địch từ nhà Gian Đa đánh nống ra phố Hàng Bột, quân ta nổ súng quyết liệt, chặn đánh địch bằng mọi cách, mọi phương tiện, buộc địch phải tháo chạy. Trong những ngày từ 21 đến 25 tháng 12 năm 1946, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 523 lệnh cho Đại đội 27 chuyển quân từ Ngã Tư Sở lên phố Khâm Thiên để phối hợp chiến đấu với tự vệ. Ngày 25 tháng 12 năm 1946, quân Pháp phun xăng đốt hầm ở trại Cai Mơ (Sinh Từ), 15 đồng chí ta, gồm lực lượng tuyên truyền, tự vệ hy sinh, trong đó có ông Nguyễn Chính - Chủ tịch Ủy ban bảo vệ phố Sinh Từ.


Để tiêu diệt các ổ chiến đấu của địch ở Nhà dầu Shell và quán cơm Hỏa Xa, không cho chúng tiến công ra Ô Chợ Dừa, đêm 24 rạng ngày 25 tháng 12, lực lượng Liên khu III quyết định tập kích Nhà dầu Shell lần thứ ba. Đại đội 27 thuộc Tiểu đoàn 523 được tăng cường một khẩu pháo 37mm với 6 viên đạn và một khẩu trọng liên 12,7mm với 175 viên đạn, phối hợp với đội quyết tử của Tiểu đoàn 20 và 2 trung đội tự vệ chiến đấu của Liên khu III cùng tự vệ Hỏa Xa nhanh chóng triển khai kế hoạch chiến đấu theo hai hướng. Hướng chủ yếu đánh trực tiếp vào Nhà dầu Shell. Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 25 tháng 12, pháo 37mm và trọng liên của ta bắn vào các ụ chiến đấu của địch khống chế sân Nhà dầu. Đội quyết tử làm nhiệm vụ đột kích liên tục xung phong, vượt qua hàng rào cùng các mũi tiến công khác đánh chiếm sân Nhà dầu. Địch điên cuồng từ gác cao quán cơm Hỏa Xa bắn vào quân ta. Ngay lúc đó, thấy một xe thiết giáp của địch tiến vào, đồng chí Giáp - quân khí viên, nhảy lên xe, cướp súng 12,7mm bắn vào quán cơm Hỏa Xa và các ụ súng của địch ở Nhà dầu buộc địch phải tháo chạy.


Hướng thứ yếu là quán cơm Hỏa Xa trong Ga Hàng Cỏ. Sau khi nghe tiếng súng bên Nhà dầu nổ, quân ta áp sát tường nhà, bắt đầu bắn súng và ném lựu đạn lên các cửa sổ ở gác hai rồi vượt tường vào trong sân, đánh vào các nhà. Quân địch kháng cự rất mạnh nhưng không trụ được trước sức tiến công quyết liệt của lực lượng ta nên phải tháo chạy.


Như vậy, trên các hướng, quân dân Đống Đa đều hoàn thành nhiệm vụ theo kế hoạch tác chiến chung. Ta tiêu diệt khoảng 20 tên, chiếm hai ô chiến đấu, phá hủy một xe thiết giáp, một trọng liên 12,7mm, thu hồi một số súng và lựu đạn. Quân ta có 7 đồng chí bị thương. Ngay sau trận đánh, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hà Nội đã đến gặp gỡ và biểu dương các chiến sĩ tham gia trận đánh này.


Trận tiến công Nhà dầu Shell là một trận đánh hay, đạt kết quả khá, có sự phối hợp mật thiết giữa lực lượng chủ lực và tự vệ chiến đấu. Nét độc đáo trong trận này là sự mưu trí, dũng cảm, biết cướp vũ khí và phương tiện địch để đánh lại chúng ngay trong chiến đấu một cách hiệu quả.


Về mặt tổ chức lực lượng cứu, tải thương, tiếp tế, vận chuyển..., Ủy ban kháng chiến Liên khu III và Khu Đống Đa ngoại thành tổ chức được một lực lượng cứu thương từ trong nhân dân lao động, chủ yếu là chị em phụ nữ. Đặc biệt, tập hợp được hàng trăm phụ nữ ở các nhà hát cô đầu, nhà chứa, tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức chị em thành Cô đầu cứu quốc hội phục vụ kháng chiến.


Với những hy sinh quên mình và thầm lặng đó, phụ nữ Đống Đa góp phần xứng đáng vào thành tích chung của quân dân toàn khu. Họ không chỉ là lực lượng chính trong các đội cứu, tải thương, tiếp tế, địch vận... mà còn có nhiều chị em cầm súng trực tiếp đánh giặc.


Chiều 28 tháng 12, thực dân Pháp bất ngờ cho một xe tải quân sự đổ quân xuống bãi Sêptô (nay là Sân vận động Hà Nội). Để dọn đường cho cuộc tiến công vào khu vực Bích Câu, chúng bắn cấp tập đạn cối 81mm vào các trận địa của ta. Lợi dụng lúc địch chưa triển khai xong đội hình tiến công, Đại đội trưởng Lưu Vân chỉ huy một lực lượng tập trung hỏa lực mãnh liệt về phía địch. Sau mấy giờ chiến đấu, hai bên đều bị thương vong một số, quân Pháp buộc phải rút lui, ta vẫn giữ vững trận địa ở đây.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:46:58 pm »

Phát huy thắng lợi của bộ đội chủ lực, lực lượng tự vệ chiến đấu quyết định tập kích Nhà thờ Nam Đồng. Lực lượng quân Pháp đóng giữ ở đây khá đông, lại có một ổ đại liên khống chế cả một vùng rộng lớn, hoàn toàn bất lợi cho mọi hoạt động của tự vệ và Tiểu đoàn chủ lực An Giao. Nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đội tự vệ chiến đấu thuộc Trung đội Thịnh Quang. Lợi dụng đêm gió mùa đông bắc cuối năm, các chiến sĩ tự vệ vượt ao phía sau gò Đống Đa. Nhưng do công tác điều tra nắm bắt tình hình địch không tốt, một tổ 5 người lọt đúng hướng bố trí đại diện của địch ở dãy bờ tre bao bọc phía sau nhà thờ. Tổ tập kích bị thương vong lớn. Đây là một bài học lớn cho lực lượng tự vệ, nhất thiết phải có sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa quân chủ lực với tự vệ chiến đấu trong những trận đánh lớn thì mới thu được kết quả, tránh tổn thất đáng tiếc.


Đúng như nhận định, sau khi có tăng viện, thực dân Pháp tiến hành kiềm chế lực lượng của ta trong nội thành, tập trung lực lượng lớn đánh nống ra các cửa ô và ngoại thành hòng đẩy lùi lực lượng của ta ra xa, cô lập một bộ phận lực lượng của ta đang chiến đấu trong nội thành. Mở đầu chiến dịch đánh nống ra ngoại thành, thực dân Pháp đã chọn Ô Chợ Dừa làm hướng tiến công đầu tiên. Khoảng 5 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1946, khoảng 600 bộ binh, 30 xe tăng, thiết giáp và xe cơ giới tiến công theo đội hình chữ A dọc hai trục giao thông lớn Hàng Bột và Khâm Thiên về hướng Ô Chợ Dừa. Đồng thời, chúng dùng không quân ném bom vào sở chỉ huy của Tiểu đoàn 523 và cơ quan Liên khu III ở trại Tóc.


Về phía ta, bộ đội và tự vệ chiến đấu Đống Đa được Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội thông báo trước tình hình. Đồng thời, qua theo dõi các hoạt động của địch và kết hợp với những tin tức do cơ quan trinh sát cung cấp, quân dân Đống Đa tiến hành công tác chuẩn bị tác chiến một cách khẩn trương, khá chu đáo: ở phía phố Hàng Bột là Đại đội 29 của đồng chí Lưu Vân; phía phố Khâm Thiên là Đại đội 3; ở ụ Ô Chợ Dừa, phố Nam Đồng là Đại đội 4, thuộc Tiểu đoàn 56. Các đơn vị này đều phối hợp với tự vệ khu phố chuẩn bị tác chiến. Vì vậy, khi quân địch chưa tới Ô Chợ Dừa thì bộ đội chủ lực Tiểu đoàn 523 cùng với lực lượng tự vệ từ những căn nhà, góc phố, công sự, ụ chiến đấu ở khắp mọi phía chủ động nổ súng chặn bước tiến của chúng. Bị chặn đánh bất ngờ, địch dùng xe tăng, xe bọc thép, có máy bay chiến đấu yểm trợ vòng qua làng Văn Chương, ra Khâm Thiên đánh thọc sườn lực lượng của ta. Cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt, ta và địch tranh chấp từng căn nhà, góc phố, ụ chiến đấu... Do tương quan lực lượng không cân sức, với ưu thế hỏa lực và sinh lực, sau một ngày đọ sức, đến khoảng 6 giờ tối 30 tháng 12 năm 1946 địch chiếm được trụ sở Công an quận V và nhiều nhà cao tầng ở xung quanh Ô Chợ Dừa, phố Khâm Thiên và Hàng Bột. Phía ta, phòng tuyến bị vỡ, lực lượng bị tổn thất khá lớn: đồng chí Nguyễn Đình Phả - Trung đội trưởng Trung đội 58 hy sinh tại căn nhà đầu phố Hàng Bột; đồng chí Phúc - chiến sĩ tự vệ Thổ Quan - Khâm Thiên cũng hy sinh trên đường rút ra Chùa Bộc. Kinh nghiệm chiến đấu ở Ô Chợ Dừa, Khâm Thiên, Hàng Bột, đặc biệt là những thiếu sót trong việc tổ chức lực lượng phòng thủ ở tất cả các hướng được phổ biến tới toàn Mặt trận Hà Nội, đặc biệt là các lực lượng chiến đấu chưa thành công, khắc phục những thiếu sót, chuẩn bị cho những trận chiến đấu sắp tới. Ngay đêm 30 tháng 12, trên dọc đường Nam Đồng, khu vực ấp Thái Hà, quân ta củng cố các ụ chướng ngại, đặt bom ở cống Nam Đồng, tiếp tục tập kích khiến cho địch phải rút khỏi Ô Chợ Dừa.


Cùng lúc tiến công các vị trí ở khu vực Ô Chợ Dừa, quân Pháp đánh ra Kim Mã, mở hai gọng kìm khép chặt Liên khu III hòng nghiền nát lực lượng vũ trang của Liên khu. Tự vệ Kim Mã dũng cảm chiến đấu chặn bước tiến của địch. Cuộc chiến tuy không ngang sức, nhưng lực lượng tự vệ, bộ phận tiếp tế lương thực, đạn dược vẫn lạc quan và dũng cảm chiến đấu. Bộ Chỉ huy mặt trận Hà Nội, qua theo dõi mấy ngày chiến đấu của toàn mặt trận rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu của các lực lượng chiến đấu. Sau trận ngày 30 tháng 12 ở Ô Chợ Dừa, Bộ Chỉ huy mặt trận nhận thấy, lực lượng Liên khu III, do bị tổn thất, nên sẽ có nhiều khó khăn trong những trận chiến đấu tiếp theo. Mặt khác, Giảng Võ là một vị trí quan trọng của Đống Đa và liên quan tới Mặt trận Hà Nội. Nếu Giảng Võ rơi vào tay địch thì pháo đài Láng sẽ bị uy hiếp. Vì vậy, Bộ Tư lệnh mặt trận Hà Nội điều Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 56 đang hoạt động ở phía Nam Liên khu II tới Giảng Võ cùng phối hợp chiến đấu. Ngay sau khi được điều động, Đại đội 2 nhanh chóng tập kết lực lượng, phối hợp tự vệ chiến đấu thành, tự vệ chiến đấu hai làng Hoàng Cầu và Hào Nam chiếm lĩnh trận địa Đê La Thành vào đêm 1 tháng 1 năm 1947.


Sáng ngày 6 tháng 1 năm 1947, lợi dụng thời tiết mưa phùn, gió bấc, khoảng 1.000 bộ binh địch với sự yểm trợ của xe cơ giới, xe tăng, pháo binh và không quân đánh nống ra phía Đê La Thành, uy hiếp pháo đài Láng, tiến công bao vây làng Giảng Võ, Ô Chợ Dừa. Tuy bị đánh bất ngờ với một lực lượng lớn, nhưng quân ta kiên cường chiến đấu, tổ chức phản kích lại.


Ở đầu dốc làng Hoàng Cầu diễn ra trận đánh giáp lá cà giữa lực lượng ta và địch, trong đó có tiểu đội nữ cứu thương thuộc Đại đội 2 và chị em cấp dưỡng cũng xung phong ra trực tiếp chiến đấu. Quân ta dùng lưỡi lê, kiếm, dao xông ra đánh địch. Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai anh dũng ôm bom ba càng tiêu diệt một xe tăng địch. Tinh thần chiến đấu bám trụ của các chiến sĩ ngoan cường, song do chiến đấu trong một tình thế hoàn toàn bất lợi, bị bao vây bốn mặt, lại không cân sức về lực lượng, Đại đội trưởng Vũ Công Định phải quyết định cho đơn vị phá vòng vây rút ra ngoài. Tiểu đội nữ cứu thương bị thương vong gần hết. Đại đội trưởng Vũ Công Định, Chính trị viên Lê Chí Thực cùng một nữ cứu thương ở lại chiến đấu nghi binh, chặn địch để bảo toàn lực lượng rút ra khỏi làng. Cả ba đồng chí chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh để cho đồng đội rút lui an toàn.


Về phía địch, tuy chiếm được Giảng Võ, nhưng chúng cũng phải đền mạng 30 tên, 1 xe tăng và 1 xe ủi đất bị phá hủy.

Đại đội 2 thuộc Tiểu đoàn 56 nêu cao tấm gương chiến đấu anh dũng ngoan cường, không hề dao động, nhụt chí trước sức mạnh vũ khí của địch và hy sinh gần hết. Bộ Tổng chỉ huy truy tặng Huân chương Chiến sĩ cho các chiến sĩ Đại đội 2. Tại Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ hai, các chiến sĩ Đại đội 2 được nêu gương cho toàn quân học tập.


Cùng sáng ngày 6 tháng 1 năm 1947, địch từ Khâm Thiên, Hàng Bột tiếp tục tiến công chiếm Ô Chợ Dừa. Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 56 phòng ngự ở khu vực này. Địch tập trung tiến công Trung đội 1, bên dãy số lẻ phố Hàng Bột (tức khu vực cơ quan Quận ủy và Ủy ban nhân dân quận ngày nay). Trung đội 1 chiến đấu kiên cường, lợi dụng đường xuyên tường, giành giật với địch từng ngôi nhà, từng căn gác. Chiến sĩ Trần Văn Phúc ném quả đạn pháo từ ban công nhà gác xuống phá một xe ủi đất, làm nhiều tên địch bị chết và bị thương. Đến trưa, địch chiếm được dãy phố bên số lẻ và tiến đánh dãy phố bên số chẵn. Đại đội 4 kịp thời điều động lực lượng đánh chặn khiến địch phải rút về Khâm Thiên.


Mặc dù còn có những hạn chế nhất định trong phối hợp tác chiến và bị tổn thất, song cuộc chiến đấu ở Giảng Võ và Ô Chợ Dừa là một trận đánh phòng ngự cấp đại đội rất kiên cường, nổi bật trong 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô. Các lực lượng nêu cao tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", chiến đấu anh dũng, mưu trí, ngoan cường, gây cho địch những tổn thất nặng nề.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #28 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:48:14 pm »

Đầu tháng 1 năm 1947, trụ sở Khu ủy, Ủy ban kháng chiến Liên khu và sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 chuyển về khu nhà của Hoàng Trọng Phu ở ấp Thái Hà. Các trạm cứu thương, tiếp tế, tổ tuyên truyền cũng đóng quanh khu vực đó. Ban Chỉ huy khu Thăng Long chuyển về đóng ở Giảng Võ. Bộ phận Nhà in báo Thép chuyển từ làng Cót về Tây Mỗ... Việc chuyển trụ sở và vị trí đóng quân của một số lực lượng là căn cứ vào tình hình cụ thể của cuộc chiến đấu lúc bấy giờ, đồng thời cũng đón trước khả năng địch đánh rộng ra vòng cung Bạch Mai - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy. Lực lượng tự vệ Khâm Thiên, Thổ Quan rút về đóng rải rác ở đình làng Khương Trung, Khương Hạ, Thượng Đình và khu vực Ngã Tư Sở để tiếp tục chặn địch đánh nống ra ngoại thành.


Để tăng cường sức mạnh cho Liên khu III và tạo một địa bàn thích hợp trong trường hợp địch liều mạng mở rộng phạm vi chiếm đóng, đầu tháng 1 năm 1947, Ủy ban kháng chiến Hà Nội quyết định sáp nhập Liên khu III với Khu Đống Đa ngoại thành thành Liên khu III - Đống Đa. Đồng chí Đỗ Trình tiếp tục làm Bí thư Liên khu ủy và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu. Địa bàn mới, lực lượng mới là cơ sở tăng cường khả năng chiến đấu, quấy rối tập kích địch của lực lượng vũ trang. Các tổ tuyên truyền, địch vận tuy phải hoạt động trên một địa bàn rộng hơn, khó khăn hơn, song anh em đoàn kết, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tất cả vì mục tiêu đánh Pháp, bảo vệ Thủ đô. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục bổ sung lực lượng và vũ khí, nhất là quân chủ lực, lập những đội tự vệ chiến đấu độc lập, đồng thời thống nhất chỉ đạo, phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang trên địa bàn. Vì vậy, từ giữa tháng 2 đến tháng 3 năm 1947, toàn bộ Tiểu đoàn 56 đóng ở Hà Đông (do đồng chí Anh Đệ làm Tiểu đoàn trưởng) được điều lên thay thế Tiểu đoàn 523 của đồng chí An Giao rút về phía sau củng cố lực lượng.


Ngày 13 tháng 1 năm 1947, tại Ô Chợ Dừa, đồng chí Hoàng Minh Giám - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Văn Trân - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI, đại diện chính quyền ta gặp đại diện quân Pháp với sự có mặt của lãnh sự quán Mỹ, Anh, Trung Hoa dân quốc. Hai bên thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 15 tháng 1 năm 1947 để nhân dân và ngoại kiều tản cư ra ngoài.


Với thái độ ngoan cố, mong muốn sớm làm chủ nội thành bằng cách đánh mạnh ra ngoại thành, ngay trong ngày 15 tháng 1, lợi dụng lúc ta ngừng bắn, thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn, gồm hơn 1.000 bộ binh, 150 xe cơ giới và xe tăng, tiếp tục mở những trận tiến công mới trên đường vành đai Vĩnh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Vọng, Bạch Mai, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy. Sau nhiều giờ chiến đấu quyết liệt, trước sự hung hãn của bộ binh và hỏa lực địch, quân ta ở các chốt điểm trên rút lui để bảo toàn lực lượng. Thực dân Pháp làm chủ tuyến đường vòng cung bao quanh thành phố. Cùng ngày, chúng đánh Nhà thương Vọng (nay là Bệnh viện Bạch Mai), Nhà Vô tuyến điện và các trận chiến đấu ở đây cùng sân bay Bạch Mai diễn ra quyết liệt, ta tiêu diệt gần 200 tên địch, phá hủy 5 xe cơ giới và rút khỏi vòng vây của địch.


Ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch từ Kim Liên tiến đánh Nhà thương Vọng. Lực lượng ta trong Nhà thương lúc này có Đại đội 68 thuộc Tiểu đoàn 64 cùng 3 trung đội tự vệ và khoảng 100 cứu thương, cấp dưỡng dồn từ các nơi về, tổng cộng khoảng 500 người. Khi phát hiện địch từ Kim Liên đánh vào, ta triển khai lực lượng phòng ngự. Ba trung đội tự vệ bố trí ở bãi trống phía Bắc Nhà thương, Đại đội 68 triển khai đội hình bên trong gồm: 1 trung đội bố trí dọc theo tường rào phía Bắc, 1 trung đội ở phía Đông, 1 khẩu đội đại liên bố trí ở chòi cao phía cổng chính, 1 khẩu đại liên bố trí ở sát bờ tường bên đường quốc lộ số 1.


Lúc 5 giờ sáng 15 tháng I năm 1947, quân Pháp dùng máy bay, pháo 75mm, cối 81 mm bắn phá dữ dội vào Nhà thương. Sau đợt bán phá, địch cho 8 xe tăng, thiết giáp, cùng 10 xe vận tài chở khoàng 300 lính Âu - Phi tiến đến. Khi cách 300m chúng triển khai lực lượng rồi dồn hàng trăm dân thường lên phía trước để đỡ đạn cho chúng.


Bộ đội và tự vệ của ta trong bệnh viện dùng súng trường bắn chỉ thiên và dùng loa kêu gọi bà con chạy tản ra xung quanh. Địch dùng súng máy bắn vào dân rồi mở cuộc tiến công. Quân ta chờ địch đến gần, bất ngờ dùng đại liên bố trí trên chòi cao phía cổng bệnh viện bắn vào đội hình địch, diệt hàng chục tên, số sống sót phải tháo chạy. Sau 6 lần liên tục tiến công không thành, địch tiếp tục dùng pháo binh và máy bay bắn phá ác liệt.


Đến 11 giờ, một cách quân địch gồm 500 tên có 8 xe tăng đi cùng sau khi đánh chiếm Vĩnh Tuy và ngã tư Trung Hòa, theo đường Đại La đánh vào Nhà thương Vọng. Khi xe tăng địch húc đổ tường đột phá vào hướng Đông Nam, tổ bom ba càng của ta lao ra phá hỏng 1 xe tăng địch. Quân địch tiếp tục xông lên. Quân ta kiên cường chiến đấu, trụ bám trong từng căn nhà để ngăn chặn địch. Đến 18 giờ, các lực lượng của ta rút về hướng Khương Thượng, sân bay Bạch Mai. Trong trận này ta diệt khoảng 200 tên địch. Phía ta có 50 bộ đội và tự vệ anh dũng hy sinh.


Đêm 15 tháng 1 năm 1947, Bộ Chỉ huy mặt trận điều các tiểu đoàn 13, 16 và 212 bất ngờ tiếp cận tập kích và quấy rối các vị trí địch ở Khâm Thiên, Ô Chợ Dừa, Ga Hàng Cỏ... gây cho chúng nhiều tổn thất. Công tác địch vận của ta phối hợp chặt chẽ, kịp thời với việc tập kích tiêu hao sinh lực địch, khiến chúng mệt mỏi, hoang mang.


Dịp Tết Đinh Hợi, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, quân dân Liên khu III - Đống Đa vẫn tổ chức đón tết cổ truyền với đầy đủ hoa, bánh chưng, chè lam, rượu, thịt. Có gia đình ở Ngã Tư Sở ủng hộ cả tạ gạo và 1 con lợn làm sẵn cho chiến sĩ ăn tết. Đội kịch Thăng Long dàn dựng vở "Tiễn chồng đi trận" do đồng chí Giao sáng tác, tổ chức biểu diễn phục vụ bà con và các đơn vị đang chiến đấu trên địa bàn, góp phần quan trọng tiếp thêm sức mạnh và cổ vũ tinh thần chiến đấu, phục vụ chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.


Nhìn chung, từ khi quân Pháp mở chiến dịch đánh ra cửa ô, quân dân Liên khu III - Đống Đa chiến đấu hết sức mưu trí, dũng cảm, ngoan cường. Trong cuộc chiến đấu không ngang sức, các đơn vị chiến đấu của ta được nhân dân ủng hộ, che chở, chặn địch từng bước, quyết bám trụ từng ngôi nhà, góc phố. Chính vì vậy, tuy địch chiếm được đường vành đai thành phố, trong đó có các điểm chốt giữ của Liên khu III - Đống Đa, nhưng ta cũng loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 650 tên, phá hủy nhiều xe thiết giáp, xe cơ giới, thu hồi nhiều súng đạn của địch. Đặc biệt, lực lượng của ta ở vòng ngoài vẫn được bảo toàn. Ngay cả pháo đài Láng, một vị trí chiến đấu liên tục kể từ đêm 19 tháng 12 năm 1946, thường xuyên bị địch bắn phá, tuy đạn hết, lương cạn, nhưng vẫn kiên cường bám trụ và chiến đấu. Đến ngày 11 tháng 1 năm 1947, bộ đội pháo đài Láng mới được lệnh rút lui về phía sau, mang theo khẩu pháo có 1 bánh xe mới được tăng cường.


Đêm 17 tháng 2 năm 1947, một đêm mưa phùn gió rét, khắp các cửa ô, nông thôn ngoại thành rền vang tiếng súng. Các lực lượng Liên khu III - Đống Đa mở các mũi tiến công nghi binh, quấy rối, thu hút lực lượng địch ở khu vực Láng, Cầu Giấy tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi địa bàn Liên khu I. Sau đó, từ đêm 18 đến rạng sáng 19 tháng 2 năm 1947, với sự giúp đỡ của nhân dân, du kích Tứ Tổng (nay là phường Tứ Liên, quận Tây Hồ), Tàm Xá, Xuân Canh, Trung đoàn vượt qua sông Hồng an toàn. Cuộc rút quân thần kỳ của quân dân Liên khu I thắng lợi vẻ vang trong sự yểm trợ, phối hợp tác chiến phân tán, thu hút lực lượng địch của quân dân Liên khu III - Đống Đa và Liên khu II.


Kể từ 20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng nổ phát súng đầu tiên mở đầu Toàn quốc kháng chiến đến ngày 19 tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", quân dân Liên khu III - Đống Đa luôn sát cánh với Liên khu II và các quận ngoại thành, phối hợp chặt chẽ với Liên khu I, làm tròn nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Khu ủy XI giao cho, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân Thủ đô, kiên cường đánh địch, kìm chân địch trong 60 ngày đêm; góp phần quan trọng bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài; làm thất bại âm mưu hòng nhanh chóng tiêu diệt lực lượng ta và các cơ quan Trung ương ở Hà Nội, khiến cho địch bị tổn thất đáng kể về người và trang bị, vũ khí.


Qua chiến đấu ác liệt dài ngày, quân và dân Liên khu III - Đống Đa được thử thách, ngày càng vững vàng, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với khí thế mới. Tổ chức lực lượng vũ trang phát triển mạnh, đảng viên, cán bộ, đoàn viên các đoàn thể cứu quốc đều được rèn luyện, sẵn sàng đảm nhiệm những công việc nặng nề hơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #29 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2026, 08:55:47 pm »

3. Phát triển và đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn quận Đống Đa (1947- 1950)

Để mở rộng phạm vi chiếm đóng và tiêu diệt, đẩy lùi lực lượng ta, quân Pháp tập trung lực lượng đánh mạnh ra ngoại thành Hà Nội nhất là về phía Tây Nam, theo trục Đường số 1 và Đường số 6.

Nhằm ngăn chặn bước tiến của quân thù, tạo thêm thời gian cho việc củng cố hậu phương, Thành ủy và Khu ủy XI chỉ đạo các lực lượng tự vệ Liên khu III - Đống Đa và các khu vực ven nội thành tiếp tục chiến đấu kìm giữ chân địch. Ở Liên khu III - Đống Đa, các đại đội tự vệ của Ga Hàng Cỏ, tự vệ Khu phố Văn Miếu, Khâm Thiên, tự vệ Khu Đống Đa bố trí bám đánh địch trên đường Ô Chợ Dừa - Ngã Tư Sở, chặn đánh địch ở Mọc Quan Nhân, Cự Lộc, Chính Kinh, Kim Lũ. Ở phía Tây Bắc, tự vệ ta cũng chặn đánh địch ở dọc sông Nhuệ. Ở phía Nam, ta đánh địch trên Đường số 1 từ Giáp Bát xuống Văn Điển, quân ta ra sức chiến đấu, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, bất lợi cho ta nên vẫn không cản được giặc, phải rút lui dần ra ngoại thành, sang đất Hà Đông, Sơn Tây.


Do vị trí chiến lược quan trọng của Hà Nội, thực dân Pháp quyết tâm xây dựng Hà Nội thành một căn cứ quân sự mạnh, trung tâm đầu não xâm lược ở chiến trường Bắc Bộ, chiến trường được chúng coi là cái "nút" quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Đồng thời, Hà Nội cũng trở thành thủ phủ của "Liên bang Đông Dương", trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của chế độ thực dân mà Pháp dựng lại bằng sức mạnh quân sự trong vùng chiếm đóng. Trên địa bàn Đống Đa, chúng ra sức củng cố, tăng cường lực lượng tại các đồn bốt, trấn giữ các cửa ngõ ra ngoại ô như Vọng, Ngã Tư Sở, Mọc, Cầu Giấy...


Từ cuối tháng 2 năm 1947, với tinh thần "Tản cư là kháng chiến", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", không chỉ có nhân dân trong các đường phố khu vực nội thành mà cả nhân dân các làng ven nội thành, nhất là những nơi gần Đường số 6, sân bay Bạch Mai, Ngã Tư Sở, nơi địch chiếm đóng, đều tản cư ra các vùng ngoại thành, bất hợp tác với giặc. Lúc này, cư dân trong thành phố còn lại rất ít, các hoạt động kinh doanh, sản xuất bị ngưng trệ, phố xá đổ nát ngổn ngang, đầy bóng dáng quân xâm lược hung hãn đeo trang bị vũ khí quanh người. Các làng xóm ven nội cũng tiêu điều vắng lặng, ruộng vườn, nhà cửa bị cướp phá tan hoang.


Sau các trận đánh chặn, cầm chân bước. tiến của quân Pháp, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được lệnh rút khỏi địa bàn nhằm bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Song vì hoàn cảnh khẩn trương, do địch đánh mạnh vào khu vực Đống Đa, nơi có Đường số 6 nối Hà Nội với Hà Đông, có sân bay Bạch Mai là những chỗ địch rắp tâm chiếm giữ bằng mọi giá, và một phần cũng do ta chưa dự liệu được đầy đủ mọi tình huống cho việc rút lui, nên khi ra khỏi thành phố, lực lượng bị phân tán ra nhiều nơi. Khu vực các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa đến tản cư là các huyện Thanh Trì, Thanh Oai, Hoài Đức, Đan Phượng (thuộc Hà Đông). Đây là bốn huyện có nguồn lực khá dồi dào, lại sát với ngoại thành Hà Nội nên trở thành hậu phương hết sức thuận lợi cho Mặt trận Hà Nội trước mắt cũng như lâu dài.


Nhằm khắc phục tình trạng phân tán và để thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ, tháng 3 năm 1947, theo chủ trương của Khu ủy và Ủy ban kháng chiến Khu XI, các cơ quan, đơn vị của Liên khu III - Đống Đa được lệnh quy tụ về tập kết ở Thanh Oai, lấy vùng Cự Đà - Khúc Thủy làm trung tâm. Cũng thời gian này, năm khu ngoại thành Hà Nội được tổ chức lại cho phù hợp với tình hình mới. Khu Lãng Bạc và Đại La sáp nhập thành quận IV, khu Mê Linh và Đề Thám sáp nhập thành quận VI. Khi tập kết về Thanh Oai, các lực lượng Liên khu III - Đống Đa được sáp nhập lại, đổi thành quận V của Hà Nội.


Địa bàn hoạt động của quận V là một khu vực rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng của mặt trận phía Tây và Tây Nam Hà Nội. Phía Nam Hà Nội, bắt đầu từ Ngã Tư Vọng, dọc theo đường quốc lộ 1 đến Văn Điển, ven sông Nhuệ qua Đa Sĩ, Mậu Lương, Hống về Rùa rồi qua Trừ, Chẩy, Từ Châu; phía Tây Nam Hà Nội, từ Hà Đông xuống Ba La, Thạch Bích, dọc theo bờ sông Đáy đến Chuông, Miêng, ngã tư Vác, vòng sang Đồng Quan, Tía.


Ở vùng ngoại thành bị quân Pháp tạm chiếm, quận IX hoạt động trong phạm vi từ Ngã Tư Vọng vòng sang Ngã Tư Sở theo đường Láng qua Cầu Giấy, xuống Dịch Vọng, Mễ Trì đến phía Bắc Đường số 70.

Trong các phố nội thành Hà Nội, do hoàn cảnh đặc biệt nên hoạt động của các lực lượng quận V đan xen với các quận IV và quận VI nên lúc này không xác định ranh giới cụ thể.

Theo chủ trương chung của Thành ủy và Ủy ban kháng chiến thành phố (Khu XI), nhiệm vụ chủ yếu của quận V lúc này là nhanh chóng tập hợp, chấn chỉnh đội ngũ, kiện toàn các cơ quan Đảng, chính quyền, các đoàn thể và xây dựng phát triển lực lượng trên đất Thanh Oai. Đồng thời vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn đứng chân, vừa tích cực hoạt động quấy rối, tiêu hao sinh lực địch ở các vùng tạm bị chiếm, nắm tình hình nhân dân, tình hình địch để từng bước gây dựng lại cơ sở kháng chiến trong lòng Hà Nội.


Với tinh thần khẩn trương, chỉ trong một thời gian ngắn, các cơ quan dân, chính, đảng của quận V được thành lập và củng cố. Lúc này, đồng chí Minh Quang được Khu ủy phân công làm Bí thư Quận ủy thay đồng chí Đỗ Trình đi nhận công tác khác. Sau một thời gian ngắn, đồng chí Minh Quang được điều lên công tác ở Khu XI, đồng chí Nguyễn Kỷ được phân công làm Bí thư Quận ủy. Quận Ủy viên là các đồng chí Hồ Trúc, Hà Đăng Ấn, Lê Quân... Ủy ban kháng chiến quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch. Đảng đoàn của Mặt trận Liên Việt do đồng chí Ước làm Chủ nhiệm. Phụ nữ quận do đồng chí Nguyễn Kim Phượng (Vân) làm Bí thư. Bên cạnh đó, quận còn thành lập các bộ phận chuyên trách về từng mặt công tác như: Ban Quân báo do đồng chí Lê Trần Lợi (Sáng) phụ trách, Ban Tiếp tế do đồng chí Ước phụ trách, Ban Tuyên truyền xung phong do đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh phụ trách, Ban Ca kịch do đồng chí Nguyễn Kim Quế phụ trách. Đội Úy lạo thương binh có các đồng chí Thái Tiên, Hồng Ngọc tham gia.


Đây là đợt chấn chỉnh tổ chức, sắp xếp lực lượng có ý nghĩa then chốt, đặt cơ sở cho guồng máy kháng chiến quận V hoạt động phù hợp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, tiếp nối bước đi thắng lợi của Liên khu III - Đống Đa trong những ngày đầu oanh liệt bước vào cuộc kháng chiến. Quá trình sắp xếp, chấn chỉnh đó diễn ra nhanh gọn, để lại những kỷ niệm tốt đẹp trong ký ức mọi người. Đặc biệt là sự lưu luyến chia tay nhau khi đi nhận nhiệm vụ mới.


Trong đợt chấn chỉnh này, nhiều cán bộ, chiến sĩ được bổ sung vào Vệ quốc đoàn, một số đồng chí sang quân báo... Đồng thời, quận cũng tiếp nhận lực lượng mới cấp trên cử về, trong đó có đồng chí Lê Thanh (Quận đội trưởng), đồng chí Lê Tuấn (Quận trưởng Công an). Nhiều thanh thiếu niên tình nguyện đi theo kháng chiến như Phạm Vũ Kiếm, Đoàn Đình Hải, Diệu Tân, em Toán; nhiều chị em phụ nữ do hoàn cảnh trước Cách mạng Tháng Tám, vốn là những "con sen", "cô đầu" từng hăng hái, dũng cảm tham gia chiến đấu trong những ngày khởi chiến ở nội thành, nay cũng thoát ly khỏi thành phố gia nhập hàng ngũ kháng chiến trong sự đón nhận trìu mến, tin tưởng của mọi người.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM