Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:27:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng  (Đọc 3746 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2026, 09:03:06 pm »

- Tên sách: Yên Bái lịch sử nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và chiến thắng
- Tác giả:
- Nhà xuất bản:
- Năm xuất bản: 1997
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
   THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY VÀ ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH

TRỰC TIẾP TIẾP CHỈ ĐẠO
   Đại tá: NGUYỄN ĐÌNH XANH
   Thượng tá: PHẠM NGỌC ĐOÀN
   Thượng tá: NGUYỄN TIẾN NGUYỆT

NGƯỜI VIẾT
   NGUYỄN XUÂN LÝ
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2026, 09:03:52 pm »

LỜI GIỚI THIỆU


Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, Đảng ủy Quân khu và Tỉnh uỷ về tổng kết biên soạn lịch sử kháng chiến; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã tổ chức nghiên cứu biên soạn cuốn "Yên Bái nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu - chiến thắng".

Cuốn lịch sử đã cố gắng tái hiện chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng quyết liệt, sôi nổi, anh dũng hào hùng của Đảng bộ, quân và dân Yên Bái qua các thời kỳ cách mạng của Đảng.

Là tỉnh miền núi, nhiều dân tộc, địa hình hiểm trở, địa bàn chiến lược quan trọng của miền Tây Bắc, tỉnh trung gian của Quân khu; Yên Bái đã vượt qua bao nhiều gian khổ, khó khăn thách thức cùng với quân và dân cả nước tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền (tháng 8-1945) tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954) và kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ 1975 đến nay.


Trong suốt nửa thế kỷ qua, Đảng bộ, quân và dân Yên Bái đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào thực tiến địa phương "vừa kháng chiến vừa kiến quốc", "vừa sản xuất vừa chiến đấu" đã lập được nhiều chiến công, thành tích to lớn, viết tiếp trang sử truyền thống oanh liệt của quê hương; Nửa thế kỷ ấy có biết bao sự tích anh hùng và những tấm gương hy sinh oanh liệt cho sự toàn thắng của cách mạng.


Được sự giúp đỡ của Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Quân khu, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Bộ chỉ huy quân sự xuất bản cuốn lịch sử nửa thế kỷ xây dựng chiến đấu và chiến thắng của tỉnh để phục vụ kịp thời và vận dụng phát triển kinh nghiệm vào xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; giáo dục bồi dưỡng, cổ vũ động viên cán bộ, đảng viên, chiến sỹ, nhân dân các dân tộc; trước hết là thế hệ trẻ trong tỉnh niềm tự hào và quyết tâm giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, di sản vô giá của quê hương, anh dũng sáng tạo vượt qua nguy cơ thách thức, đoàn kết xung quanh Đảng, nêu cao tinh thần, ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", kiên quyết chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ quê hương, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.


Mặc dù Ban lịch sử tổng kết đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu biên soạn thể hiện chân thực những sự kiên lịch sử, song đây là một công trình khoa học do vậy trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những khuyết nhược điểm, mong được các đồng chí, các bạn phê bình góp ý kiến để cuốn lịch sử của tỉnh ngày càng hoàn chỉnh.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc !

ĐẢNG UỶ QUÂN SỰ TỈNH
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 10:50:22 pm »

MỞ ĐẦU
YÊN BÁI ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC QUAN TRỌNG
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH ANH HÙNG


I- ĐẤT NƯỚC - CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG:

Yên Bái là tỉnh miền núi nhiều dân tộc ở phía Tây Bắc Tổ quốc, nằm sâu trong căn cứ địa Việt Bắc, cách thủ đô Hà Nội 150 km.

Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Đông giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phú, phía Tây giáp Sơn La. Yên Bái có một vị trí địa lý quan trong mà lịch sử hình thành gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Từ xa xưa Yên Bái đã nổi tiếng là mảnh đất trù phú và tươi đẹp với những con người cần cù trung hậu, dũng cảm và giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh rộng 6.807 km2, dân số trước cách mạng tháng 8 có khoảng 10 vạn người, tính đến cuối năm 1990 dân số toàn tỉnh phát triển tới 604.062 người, thuộc 30 dân tộc anh em chung sống với nhau từ lâu đời1 (Mật độ dân số bình quân 126 người/1km2).


Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc do yêu cầu phục vụ nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử cũng như yêu cầu chiến lược của cách mạng như nhiều tỉnh khác, Yên Bái đã qua nhiều lần thay đổi về địa danh, địa giới, diện tích.

Thời kỳ các vua Hùng phần lớn đất đai Yên Bái nằm trong bộ Tân Hưng; thời phong kiến Bắc thuộc nằm trong vùng đất Tượng Quân, Giao Chỉ rồi Phong Châu; đến thế kỷ thứ XI (đời Lý) thuộc đất Châu Đăng; sang thế kỷ XV (đời Lê Thánh Tông) đổi thành phủ Quy Hoá thuộc tỉnh Hưng Hoá.


Năm 1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái từ đó cho đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Yên Bái không có sự thay đổi lớn về địa lý hành chính.

Sau khi miền Bắc được giải phóng (1955) theo quyết định của Trung ương khu tự trị Tây Bắc được thành lập, 2 huyện Văn Chấn, Than Uyên được chuyển thành các châu của khu Tây Bắc, năm 1956 huyện Yên Bình (Tuyên Quang) được sáp nhập vào tỉnh Yên Bái, năm 1962 tỉnh Nghĩa Lộ được thành lập, các châu Văn Chấn, Than Uyên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Phù Yên, Bắc Yên trở thành các huyện của tỉnh Yên Bái.


Năm 1976 tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 tỉnh: Yên Bái, Nghĩa Lộ, Lào Ca ; 2 huyện Phù Yên và Bắc Yên được chuyển trở lại tỉnh Sơn La.

Năm 1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn được chia thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai.

Tỉnh Yên Bái ngày nay gồm 2 thị xã và 7 huyện với 178 xã phường, trong đó 2 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải là huyện vùng cao và 3 huyện: Lục Yên, Văn Chấn, Văn Yên có một số xã vùng cao.

Mặc dù phải trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính do điều kiện lịch sử chi phối; Yên Bái vẫn giữ được bản sắc dân tộc và truyền thống của một tỉnh miền núi.

Sau khi chia tỉnh, Yên Bái đã nhanh chóng đi vào ổn định hoà nhập chung vào công cuộc đổi mới của Đảng, tạo thành một khối đoàn kết nhất trí cùng cả nước vững bước đi lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Yên Bái là tỉnh có địa hình địa vật phong phú, đa dạng vừa mang đầy đủ đặc điểm vùng rừng núi nhiệt đới vừa mang nhiều nét riêng biệt độc đáo của vùng lãnh thổ phía Tây Bắc Tổ quốc; có núi cao rừng rậm, vực sâu, dốc lớn, sông dài suối rộng - dài đan dày sen kẽ với những miền thảo nguyên, những thung lũng rộng lớn những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, bản làng trù phú.


Bên hữu ngạn sông Hồng có những dãy núi cao hùng vĩ trùng điệp, quanh năm mây phủ với những đỉnh cao chót vót: Phu Luông 2.985 mét, Lùng Củng 2.913 mét, Xu Phin 2.874 mét, phía Đông sông Hồng và sông Chảy là chân của dãy núi Tây Côn lĩnh với nhiều dãy núi ken dày nối tiếp nhau. Các dãy núi ở đây đều chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam nên ở Yên Bái ít bị gió bão.


Trong các dãy núi cao, qua kiến tạo lâu đời của thiên nhiên đã hình thành nhiều hang động kỳ thú, độc đáo, một số hang động rộng có thể trú quân cả tiểu đoàn hoặc dùng làm trạm phẫu thuật, kho tàng; đồng thời có thể xây dựng thành các sở chỉ huy để tiến hành kháng chiến rất thuận lợi, trong thời bình có thể cải tạo trở thành những nơi du lịch đặc sắc.


Nằm lọt giữa những dãy núi cao bao bọc xung quanh là cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha, được xếp hàng thứ 2 trong số những cánh đồng trù phú, giàu đẹp của vùng Tây Bắc. Dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Chảy có những cánh đồng tuy hẹp hơn nhưng đất đai rất phì nhiêu màu mỡ thuộc các huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên và Văn Yên.


Do được thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ vùng Yên Bái là một trong những nơi sớm xuất hiện đời sống của người nguyên thuỷ. Qua khảo cứu, tìm kiếm và khai quật, các nhà khảo cổ đã tìm thấy các dấu vết người thượng cổ ở Tân Lập (Lục Yên), các gia cầm hoá thạch ở Hang Hùm (Lục Yên), công cụ băng đá ở Hang Thẩm Thoóng (Văn Chấn); đặc biệt là chiếc thạp đồng ở (Đào Thịnh, Trấn Yên)... minh chứng tổ tiên ta từ ngàn xưa đã biết lựa chọn vùng đất Yên Bái để cư trú và sinh tồn.


Yên Bái có một hệ thống sông suối, khe ngòi lớn, nhỏ tạo thành một mạng lưới dày đặc; với 2 dòng sông lớn: sông Hồng và sông Chảy, sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua tỉnh Lào Cai chảy về Yên Bái với chiều dài 131 km. Sông Chảy cũng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc qua Lào Cai vào Yên Bái dài 122 km; sông Hồng và sông Chảy chảy qua địa phận Yên Bái thuộc miền thượng và trung du, so với hạ lưu sông ở đây hẹp hơn, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, lắm ghềnh thác, lưu tốc lớn, nhiều vực xoáy nên rất hạn chế việc giao thông bằng đường thuỷ. Về mặt phòng thủ đất nước, núi non hiểm trở, sông lớn, suối dài, nhiều ghềnh thác sẽ gây cho quân xâm lược rất nhiều khó khăn trong việc tiến quân và tiếp tế; ngược lại rất thuận lợi trong tổ chức phòng thủ, tổ chức căn cứ du kích, sở chỉ huy, cơ động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương tại chỗ1 (Đường 13A ta đã xây dựng cầu Yên Bái bắc qua sông Hồng, cầu Ngòi Lâu và cầu Tô Mậu bắc qua sông Chảy trên đường từ ngã ba Khánh Hoà vào huyện lỵ Lục Yên).


Yên Bái có nhiều suối ngòi, có một số ngòi lớn như ngòi Thia (đài 165 km), ngòi Hút (dài 140 km), ngòi Lao (dài 69 km)... về mùa mưa vượt qua các ngòi suối gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt gặp những trận lũ rừng lớn có khi phải 2-3 ngày nước mới rút, người mới qua được; những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn cho cả ta và địch trong chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 10:51:33 pm »

Sông ngòi ở Yên Bái có nguồn thuỷ năng rất lớn, sau kháng chiến chống thực dân Pháp miền Bắc được giải phóng; trên sông Chảy ta đã xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà công suất 108 ngàn KW và hàng chục trạm thuỷ điện nhỏ, hàng ngàn thuỷ điện mi ni, bước đầu phục vụ đắc lực cho sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân trong tỉnh và công nghiệp ở miền xuôi; hệ thống sông ngòi ao hồ ở Yên Bái còn cung cấp môt nguồn thuỷ sản lớn; đặc biệt là hồ Thác Bà với diện tích 20 vạn ha, 3 tỷ m3 nước hàng năm cung cấp cho địa phương hàng chục nghìn tấn tôm cá tươi và còn là nơi nghỉ mát, du lịch đây thú vị.


Yên Bái khí hậu tương đối đặc biêt, vừa khí hậu nhiệt đới lại có khí hậu á nhiệt đới á ôn đới, nhiệt độ trung bình từ 18 đến 22 độ C; Yên Bái hầu như không có gió bão, lượng mưa hàng năm tương đối lớn - trung bình từ 1.425mm đến 2.762 mm/năm.

Yên Bái có điều kiện thuận lợi trong việc phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc, hàng vạn ha rừng chủ yếu là tre nứa với nhiều loại gỗ quý: đinh, lim, sến, táu, vàng tâm; đặc biệt là các loại gỗ quý như pơ mu ở Trạm Tấu, Văn Chấn, quế ở Văn Yên và các loại đặc sản khác.


Trong lòng đất Yên Bái có sắt, cao lanh, garapít, mica, than vàng; đặc biệt là vùng đá quý Lục Yên.

Tóm lại: rừng núi Yên Bái vừa tươi đẹp, vừa có giá trị về kinh tế quốc phòng, là một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng đã và sẽ góp phần làm giàu đẹp quê hương, đất nước và bảo vệ vững chắc khu vực cửa ngõ miền Tây Bắc Tổ quốc.

Yên Bái có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ tương đối phát triển, 70% số xã có đường ô tô vào tới xã; nhưng trước cách mạng và trong kháng chiến chống thực dân Pháp giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Ngoài đường xe lửa Hà Nội - Côn Minh chạy qua tỉnh, có đường quốc lộ 13A từ miền núi chạy về xuôi gặp đường số 2 và đường tỉnh lộ sang Tuyên Quang; với đường giao thông hạn chế có tính độc đạo nên trong chiến tranh việc làm chủ các huyết mạch giao thông chính có tầm chiến lược quan trọng đặc biệt. Trong kháng chiến chống Pháp chỉ cần khống chế làm chủ các con đường độc đạo trên đã làm cho hoạt động của đối phương bị tê liệt trên một phạm vi rộng. Còn đối với quân và dân ta việc đi lại tiếp tế chủ yếu bằng mang vác, gùi thô nên nhịp độ kháng chiến ở địa phương ngày càng phát triển.


Từ sau ngày giải phóng đến nay mạng lưới giao thông thuỷ bộ liên hoàn, thuận tiện cho việc giao lưu, cơ động sang tỉnh bạn và về thủ đô Hà Nội. Trong chiến tranh chống phá hoại của đế quốc Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tháng 2-1979 hệ thống đường giao thông đã góp phần quan trọng cho việc cơ động vận chuyển xe pháo đạn dược đáp ứng yêu cầu của chiến tranh.


Hệ thống Bưu điện viễn thông của tỉnh cũng có bước phát triển nhảy vọt, đảm bảo việc thông tin giao dịch trong nước và đàm thoại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Khi chiến tranh xảy ra mạng lưới Bưu điện cũng đáp ứng được với yêu cầu lãnh đạo chỉ huy chiến đấu.


Yên Bái là một tỉnh dân tộc miền núi rất đa dạng về dân cư và xã hội.

Trải qua hàng nghìn năm sinh tồn và phát triển xã hội các dân tộc Yên Bái cho đến trước cách mạng tháng 8 đã có sự phân hoá giai cấp sâu sắc ở các dân tộc vùng thấp, có đủ thành phần xã hội1 (Địa chủ, phú nông, tư sản, tiểu tư sản, trung nông, bần nông, cố nông, công nhân). Ở các dân tộc vùng cao, quan hệ xã hội lại khác, vừa mang tính chất phong kiến vừa mang màu sắc chế độ tù trưởng, tộc trưởng những tàn dư này thể hiện rõ trong mối quan hệ gắn bó mật thiết trong nội bộ dòng họ, dân tộc, tôn sùng người đứng đầu bộ tộc, đứng đâu dòng họ. Về kinh tế các dân tộc đều mang tính chất tự cung tự cấp, nhiều dân tộc phần đông chưa biết chữ. Thực dân Pháp và các thế lực phong kiến phản động ở địa phương lợi dụng sự thấp kém lạc hậu của các dân tộc này để thực hiện chính sách ngu dân, chia để trị; đưa dân tộc này đi đàn áp dân tộc khác gây mối hận thù lâu dài. Hầu hết người Kinh vốn quê ở các tỉnh miền xuôi bị thực dân phong kiến áp bức bóc lột nặng nề phải rời bỏ quê hương lên miền núi định cư tìm kế sinh sống. Nhóm người Kinh qua năm tháng dần dần tụ lại ở dọc ven sông Hồng, sông Chảy hình thành những làng mạc đông đúc trù phú.


Về phong tục tập quán, đến trước cách mạng tháng 8 phần lớn các dân tộc có nhiều hủ tục mê tín dị đoan rất nặng nề, chỉ sau ngày miền Bắc được giải phóng các hủ tục lạc hậu mới dần dần được xoá bỏ.

Về tôn giáo: số người theo đạo Thiên chúa giáo chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu hình thành theo dọc sông Chảy, ở thị xã Yên Bái, Nghĩa Lộ, Văn Yên, Trấn Yên.

Trải qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và gũi nước, cùng những truyền thống quí báu của dân tộc, nhân dân Yên Bái xây dựng nên nhiều truyền thống vẻ vang oanh liêt. Truyền thống nổi bật nhất là tinh thần yêu nước quật cường, bất khuất, mưu trí sáng tạo, kiên quyết đấu tranh với mọi loại kẻ thù xâm lược nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác.


Nằm ngay cửa ngõ, yết hầu của miền Tây Bắc Tổ quốc, Yên Bái trải qua bao thăng trầm của lịch sử đã viết lên bao trang sử hào hùng trong sự nghiệp chống ngoại xâm: bọn xâm lược phương Bắc trước đây nhiều lần tiến theo con đường độc đạo dọc theo sông Chảy hùng hổ tiến vào nước ta qua đất Yên Bái, nhưng đã bao lần xác quân xâm lược đã phơi đầy trên đất Yên Bái anh dũng; nhiều vị anh hùng thuộc đất Yên Bái mãi mãi còn lưu truyền trong nhân dân.


Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra trên đất Yên Bái, tuy cuối cùng đều bị thất bại nhưng các cuộc nổi dậy ấy đã nói lên tinh thần thà chết chứ không chịu làm nô lệ.

Năm 1258 nhân dân các dân tộc vùng Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Bình đã tham gia chiến đấu dưới sự chỉ huy của anh em tù trưởng Hà Bồng, Hà Đặc anh dũng đánh trả quân Nguyên Mông khi chúng xâm lược nước ta.

Năm 1285, nhân dân các dân tộc Yên Bái theo Chiêu Văn Vương, Trần Nhật Duật đứng lên chặn đánh quân Nguyên Mông ở trại Thu Vật (Yên Bình) làm kinh hồn bạt vía quân thù.

Cuối thế kỷ IXX thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn ươn hèn đầu hàng giặc cam tâm làm tay sai cho giặc.

Năm 1873, thực dân Pháp đánh ra miền Bắc và đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, nhân dân các dân tộc vùng Yên Bái cùng với quân thập đạo châu kéo về tham gia bảo vệ kinh thành Hà Nội thất thủ. Những tấm gương chiến đấu quên mình của các nghĩa sỹ đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước trong nhân dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 10:52:39 pm »

Tháng 10 năm 1885 thực dân Pháp đánh chiếm Yên Bái:

Quê hương tuy bị giặc chiếm đóng nhưng các cuộc nổi dậy của nhân dân từng vùng trên đất Yên Bái vẫn liên tiếp nổ ra.

Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của tuần phủ Nguyễn Quang Bích; cuộc khởi nghĩa nổ ra ngay năm 1885 và kéo dài suốt 7 năm cho đến năm 1892 mới bị dập tắt. Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ ở vùng Văn Chấn, Trấn Yên và hữu ngạn sông Hồng, nghĩa quân Nguyên Quang Bích cùng các lãnh binh ở Văn Chấn như: Vương Văn Doãn, Phạm Văn Tế, Phạm Thọ, Đặng Tiến Lộc, Đồng Phúc Thỉnh đã mở nhiều trận chiến đấu ác liệt với địch ở Tuần Quán, Đèo gỗ, Khe thác... có lần đánh tan cả đoàn thuyền 13 chiếc của địch ở đoạn sông giữa khu vực Trái Hút - Bảo Hà (19-10-1889) cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã gây cho địch nhiều thiệt hại.


Sang đầu thế kỷ XX Yên Bái vẫn tiếp tục nổ ra nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân dưới sự lãnh đạo của các nghĩa sỹ yêu nước.

Cuộc bạo động do Lý Minh, Triệu Tài Lộc, Triệu Kiếm Tiên cầm đầu nổ ra ở Lục Yên tháng 10-19141 (Cuộc bạo động tháng 10-1914 còn gọi là cuộc, khởi nghĩa Giáp Dần vì nó xảy ra vào năm Giáp Dần) là một trong những cuộc nổi dậy gây tiếng vang lớn. Từ tổng Trúc Lâu (Lục Yên) nghĩa quân tiến về đánh đồn Trái Hút (19-10), đồn Bảo Hà (21-10), đồn Lục Yên (22-10); cuộc bạo động thất bại, bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, chúng đã xử tử 67 nghĩa quân nhằm khủng bố tinh thần của quần chúng2 (Ngày 02-12-1944 thực dân Pháp xử bắn 39 người ở nghĩa địa Tây Yên Bái, tiếp theo ngày 14-4-1945 chúng xử bắn 28 người ở Phú Thọ). Thực dân Pháp bắt bớ tàn sát dã man song vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân các dân tộc trong tỉnh.


Sau khi tạm ổn bộ máy cai trị ở địa phương thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách khai thác thuộc địa; chúng ráo riết bắt phu làm đường, khai thác hầm mỏ, cướp đất lập đồn điền. Để thực hiện chính sách khai thác thuộc địa thực dân Pháp tiến hành mở đường bộ Ba Khe đi Nghĩa Lộ, mở đường xe lửa Yên Bái đi Lào Cai làm cho dân chúng trong vùng phải lao động phá rừng, phá núi làm đường vô cùng nặng nề, khổ cực, nhiều người bị chúng đánh đập bắt lao động khổ sai kiệt sức phải bỏ xác chốn rừng sâu.


Dưới chế độ áp bức bóc lột nặng nề, hà khắc của thực dân Pháp nhiều cuộc đấu tranh của công nhân làm đường sắt, công nhân làm hầm mỏ, đồn điền ở Yên Bái đã nổ ra đòi cải thiện chế độ lao động, đòi tăng lương giảm giờ làm. Nông dân ở nhiều nơi như: Ẩm Phước, Mông Sơn (Yên Bình), Nga Quán, Cổ Phúc (Trấn Yên) cũng liên tiếp đứng lên đấu tranh chống bắt lính, bắt phu, cướp đất lập đồn điền. Những cuộc đấu tranh này đã làm cho thực dân Pháp hết sức lúng túng. Trong thời kỳ này các phong trào yêu nước ở các tỉnh miền xuôi đã có ảnh hưởng tới địa phương.


Năm 1924 ở thị xã Yên Bái đã xuất hiện một tổ chức yêu nước trong lớp nhất trường tiểu học Pháp Việt (Thanh niên đoàn) gồm 22 người, hoạt động được một thời gian ngắn thì bị lộ, bọn mật thám Pháp truy lùng ráo riết họ phải đổi thành đội bóng đá để tiếp tục tuyên truyền phổ biến các bài ca yêu nước trong thanh niên.


Ngày 9-2-1930, Yên Bái nổ ra cuộc khởi nghĩa lốn do Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu - các lãnh tụ của Quốc dân đảng lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng ra đời vào năm 19271 (Việt Nam Quốc dân đảng thành lập ngày 25-12-1927 do Nguyễn Thái Học làm lãnh tụ) với mục đích đánh đổ thực dân Pháp, xây dựng xã hội dân chủ tư sản; do tổ chức kết nạp các thành viên không chặt chẽ, hoạt động có nhiều sai lầm để cả bọn mật thám, chỉ điểm luồn lách chui vào tổ chức; đồng thời không đi vào vận động, nắm quần chúng nhân dân lao động nên vào những năm 1928 - 1930 Quốc dân đảng bị thực dân Pháp khủng bố đàn áp dữ dội có nguy cơ tan rã hoàn toàn. Trước tình hình đó các lãnh tụ Quốc dân đảng chủ trương bạo động với ý nghĩa cầu may hoặc là thành công hoặc là liều mạng sống thác với giặc để lại tiếng thơm lưu truyền trong đời.


Cuộc khởi nghĩa nổ ra đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 2 năm 1930 tại thị xã Yên Bái; quân khởi nghĩa đánh chiếm được đồn Thấp diệt và làm bị thương trên 10 binh sỹ địch nhưng không chiếm được đồn Cao nơi lính Lê Dương đóng do một tên Trung tá Pháp chỉ huy; không vận động lôi kéo được lính khố xanh tham gia, không có quần chúng ủng hộ, lực lượng tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa xây dựng được lực lượng, nắm chưa vững thời cơ do manh động nên khi thực dân Pháp phản kích cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp dã man, cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, hàng trăm người bị bắt, bị xử tử hình trong dó có lãnh tụ đảng Nguyễn Thái Học..


Cuộc bạo động Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân đảng tan rã; đồng thời cũng chấm dứt vai trò chính trị của một Đảng đại diện cho chủ nghĩa quốc gia tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuộc bạo động Yên Bái tuy thất bại song đã gây được tiếng vang lớn, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tinh thần quả cảm, gương hy sinh anh dũng của các nghĩa sỹ đã cổ vũ thêm ý chí, niềm tin trong nhân dân các dân tộc Yên Bái đứng lên tìm đường giải phóng khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị. Từ đây cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của cách mạng nước ta chuyển sang một bước ngoặt mới.

Cũng từ đây cuộc đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước của đồng bào các dân tộc Yên Bái dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Xứ uỷ Bắc Kỳ và Tỉnh uỷ đã nhanh chóng giành được thắng lợi. Lực lượng vũ trang Yên Bái được ra đời và tôi luyện trưởng thành trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 11:09:51 pm »

II - CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG THÁNG 8 VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam kéo dài suốt trên 70 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngay sau khi ra đời Đảng đã tập hợp và phát động được đông đảo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh, làm dấy lên hai cao trào cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939; đây là hai cuộc "tổng diễn tập" cách mạng đầu tiên chuẩn bị cho cao trào 1939 - 1945 và thắng lợi của cách mạng tháng 8.


Ở Yên Bái một số thanh niên người thị xã được đi học hoặc làm ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền xuôi đã tìm học và cất giấu một số sách báo cách mạng bị thực dân Pháp cấm lưu truyền. Tiêu biểu trong nhóm này có anh Đỗ Văn Đức người thị xã, tháng 4-1930 Đức cùng những người khác đã tập hợp được 17 người thị xã thuộc các thành phần thanh niên học sinh, binh lính tổ chức thành một nhóm đọc sách báo bí mật và tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước trong những người thân quen1 (Dẫn theo tài liệu "Lịch sử cách mạng tháng 8 tỉnh Yên Bái" do Ban lịch sử Đảng của tỉnh xuất bản năm 1971. Về vai trò của anh Đỗ Văn Đức và những người trong nhóm chúng tôi chưa tìm được thêm tài liệu cụ thể về các nhân vật này); Nhóm này hoạt động đến đầu năm 1931 ra được vài số "Học sinh báo" và một vài lần rải truyền đơn thì bị lộ, thực dân Pháp đã thẳng tay khủng bố, bắt giam và xử tử một số đồng chí, nhóm yêu nước này bị tan rã1 (Báo "Đông Pháp" số ra ngày 12 và 13-10-1931 có đăng tin xử vụ án Cộng sản ở Yên Bái nhưng chúng tôi chưa có đủ tài liệu làm cơ sở để kết luận nhóm này là một tổ chức có lãnh đạo chỉ đạo của tổ chức cấp trên hay là hoạt động tự phát).


Thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương 1936 - 1939, các sách báo công khai của Đảng được lưu hành ở thị xã Yên Bái, đã có tác động đến các tầng lớp công nhân, nông dân, học sinh và viên chức trong khu phố. Thời kỳ này một số cán bộ của Đảng như các đồng chí Đào Duy Kỳ, Nguyễn Đức Quy đã đến Ngòi Hóp (Trấn Yên) và một vài nơi khác để tuyên truyền cách mạng trong nhân dân. Tuy thời gian hoạt, động không lâu và chưa xây dựng được cơ sở đã phải rút nhưng các đồng chí đã gây được một ảnh hưởng lớn, bước đầu làm cho quần chúng hiểu và có cảm tình với cách mạng.


Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, tháng 9-1940 Phát xít Nhật vào Đông Dương, trước tình hình mới Đảng đã họp các Hội nghị Trung ương lần thứ VI (tháng 11-1939) và lần thứ VII (11-1940), Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần sau bổ sung cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần trước và đều nhấn mạnh vấn đề chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược. Hội nghị xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu lúc này của cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ giải phóng dân tộc; tích cực chuẩn bị cho vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.


Ở Bắc Bộ, khoảng giữa năm 1940 khu D được thành lập2 (Khu D gồm các tỉnh dọc đường xe lửa Hà Nội - Lào Cai và hai tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang) tháng 10-1940 Ban cán sự khu D cử cán bộ từ cơ sở ở Cát Trà (Cẩm Khê) Phú Thọ lên Lào Cai, Yên Bái xây dựng cơ sở cách mạng. Các đồng chí Hoàng Ngọc Chương (nam) và Yên (nữ) được cử lên Lào Cai tìm bắt liền lạc với một quần chúng cảm tình ở Phố Mới (thị xã Lào Cai), lên được ít ngày thấy quần chúng này có nhiều hiện tượng khả nghi theo bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản động các đồng chí lại quay về xuôi. Tiếp đó đồng chí Chương lại lên các đồn điền Cổ Phúc và Ngòi Hóp (Trấn Yên, Yên Bái) tuyên truyền trong anh chị em công nhân thành lập được hội Ái Hữu; nhưng trên đường đồng chí về khu họp đến thị xã Yên Bái đồng chí lại bị bắt, sau đó các hội Ái Hữu ở Cổ Phúc và Ngòi Hóp không còn cán bộ chỉ đạo cũng ngừng hoạt động.


Cùng thời gian trên đồng chí Trần Thị Minh (tức Trinh) được Bạn cán sự khu D phân công lên Yên Bái dựa vào quần chúng cảm tình với cách mạng có quan hệ gắn bó với cơ sở của ta ở Cát Trù tổ chức được 3 tổ "Thanh niên phản đế" gồm 13 người ở Hiền Lương, Nãng Xã (Hạ Hoà, Phú Thọ) và Linh Thông (Trấn Yên, Yên Bái)1 (Nữ đồng chí Trần Thị Minh đã dựa vào chị Hang và gia đình ở Hiền Lương (Hạ Hoà, Phú Thọ) tổ chức được các tổ chức thanh niên phản đế do các đồng chí Đào Đình Bảng ở Linh Thông (Trấn Yên), Nguyễn Bội Vũ và Phạm Minh Đức (tức Thuần) ở Hiền Lương, Năng Xá (Hạ Hoà)), các tổ chức "Thanh niên phản đế" này dùng hình thức dạy hát và học hát những bài ca yêu nước để tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho thanh niên, thu hút số anh em nhiệt tình, tích cực vào hội phản đế. Các tổ chức "Thanh niên phản đế" đã mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng Yên Lập (Phú Thọ), Vân, Vân Hội (Trấn Yên, Yên Bái). Có lần họ đã tổ chức dán áp phích, rải truyền đơn ở xã Hiền Lương và thị xã Phú Thọ kêu gọi nhân dân đoàn kết chống thực dân phong kiến. Thanh niên phản đế được nghiên cứu về cách mạng tư sản dân quyền (cách mạng dân tộc dân chủ) và đã chuẩn bị vận động nhân dân đòi thực dân Pháp và chính quyền tay sai cho lập một trường dạy học tư để cán bộ khu D lên dạy học có điều kiện tuyên truyền và phát triển cơ sở cách mạng. Các tổ chức "Thanh niên phản đế" hoạt động đến đâu năm 1941 thì bị lộ, thực dân Pháp và tay sai bắt giam số thanh niên này, cơ sở thanh niên bị vỡ, phong trào cách mạng vùng này tạm thời bị lắng xuống1 (Trong cuộc họp của TNPĐ ở đình Hiền Lương có tên ăn trộm nằm trong hậu cung mà anh không biết. Sau tên này lại đi ăn trộm và bị bắt, y đã khai ra những người dự họp và nội dung cuộc họp trên để được xin giảm tội).


Tháng 12-1941 đồng chí Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài đã từ Trung Quốc trở về Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Tháng 5-1941 Người chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Hội nghị nhấn mạnh "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đạt dưới sự dinh tư, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được (Những sự kiện LSĐ - Tập I (1920 - 1945) NXB Sự Thật - Hà Nội 1976, tr. 510). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc chống thực dân Pháp và phát xít Nhật lấy tên là "Việt Nam độc lập đồng minh hội" gọi tắt là Việt Minh; các tổ chức quần chúng trước lấy tên là "Hội phản đế" nay ở trong Mặt trân Việt Minh lấy tên là các đoàn thể cứu quốc, Hội nghị nhận định "Với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa lớn"1 (Sách đã dẫn, tr.518).


Vấn đề dân tộc trước được nêu trong khuôn khổ toàn Đông Dương nay đặt vấn đề dân tộc trong mỗi nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia với tinh thần phong trào ba nước phải dựa vào nhau, thúc đẩy và giúp đỡ nhau. Hội nghị còn đề cập đến vấn đề gấp rút đào tạo cán bộ và tăng thêm thành phần giai cấp vô sản trong Đảng, "lấy vận động công nhân làm công việc đầu tiên trong công việc tổ chức quần chúng của Đảng ta"2 (Tr.512).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 11:10:56 pm »

Tháng 2-1943 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp, sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước - Hội nghị nhận định "Phong trào cách mạng Đông Dương có thể bỗng chốc tiến bằng những bước nhảy cao"3 (Tr.564). Hội nghị quyết định đẩy mạnh công tác mở rộng mặt trận Việt Minh, tăng cường công tác xây dựng căn cứ địa ở nông thôn, rừng núi, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị đầy đủ tinh thần và vật chất cho cuộc khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn này.


Sau Hội nghị đồng chí Hoàng Quốc Việt - Uỷ viên Ban thường vụ Trung ương Đảng đã trực tiếp lên Phú Thọ, Yên Bái nghiên cứu tình hình; đồng chí nhận định khu vực nằm ở tây bắc Phú Thọ và đông nam Yên Bái - nơi trước đấy có các tổ chức "Thanh niên phản đế" địa thế khá hiểm trở, địch ít chú ý, là một vùng yên tĩnh khá an toàn. Từ địa bàn này cơ sở cách mạng có thể phát triển rộng ra hai tỉnh Yên Bái, Phú Thọ sang tỉnh Sơn La, vào vùng Nghĩa Lộ, khi cần ta có thể rút về đây để giữ bí mật và bảo toàn lực lượng. Qua khảo sát thực tế đồng chí Hoàng Quốc Việt quyết định xây dựng khu vực này thành căn cứ cách mạng dự bị cho Trung ương trước mắt. Đây cũng là căn cứ để đón các đồng chí từ trong tù Sơn La vượt ngục ra ngoài hoạt động và làm nơi che giấu cho số cán bộ hoạt động ở miền xuôi bị lộ lên ăn ở và học tập trong thời gian chờ đợi sự phân công mới của Trung ương và Xứ uỷ. Đối với hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ xây dựng cơ sở khu vực này cũng nhằm phát triển phong trào chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương.


Tháng 10-1945 đồng chí Hoàng Quốc Việt phân công đồng chí Bình Phương lên bắt liên lạc với đồng chí Trần Quang Bình1 (Đồng chí Trần Quang Bình sau là Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện) (tức Đặng Văn Dĩ) là một cán bộ của Đảng ở tù ra đang bị thực dân Pháp quản thúc ở Năng Xã (Hạ Hoà, Phú Thọ), nhiệm vụ của hai đồng chí là thực hiện chủ trương trên của Ban thường vụ Trung ương.


Dựa vào các cơ sở thanh niên phản đế thời kỳ (1940 - 1941) ta đã xây dựng được các cơ sở Việt Minh ở Năng Xã, Hiền Lương, Đồng Luận, Bình Trà (Hạ Hoà, Phú Thọ), Linh Thông, Bảo Hưng, Vân, Vân Hội, Đồng Yểng, La Băng La (Trấn Yên, Yên Bái). Từ đó phát triển rộng ra các thôn khác thuộc tổng Động Lâm (Hạ Hoà, Phú Thọ). Lương Ca, Giới Phiên (Trấn Yên, Yên Bái) khu căn cứ cách mạng Vân, Hiền Lương được hình thành.


Ở các huyện, thị xã khác cơ sở cách mạng củng được xây dựng và phát triển.

Tại Văn Chấn từ mùa hè 1944 thực dân Pháp và chính quyền tay sai đã bắt dân nộp tre, đi phu, lập "căng" Nghĩa Lộ chuẩn bị đưa số tù chính trị ở căng Bá Vân (Thái Nguyên) sang. Tháng 1-1945 thực dân Pháp thực hiện việc chuyển căng, gần 100 tù chính trị trong đó có các đồng chí đảng viên chi bộ căng Bá Vân bị giải bộ từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ, trên đường đi mặc dù chân tay bị xiềng xích, có lính áp giải đi kèm anh chị em vẫn hát vang những bài ca cách mạng và hô các khẩu hiệu đấu tranh. Ở những chặng đường nghỉ gặp quần chúng nhân dân đi qua các đồng chí tù nhân đã tranh thủ tuyên truyền trước nhân dân, lớn tiếng lên án chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh giành độc lập và giải thích các chủ trương chính sách của Mặt trận Việt Minh. Các việc làm trên đã có tác động rất lớn cổ vũ lòng yêu nước và gây niềm tin tưởng trong nhân dân. Ở căng Nghĩa Lộ một số đồng chí được địch cho ra ngoài phố mua bán các thứ hàng cần thiết cho anh em cũng đã tranh thủ tuyên truyền giác ngộ được một số chị em tiểu thương. Qua những chị em này nhiều thanh niên và viên chức nhỏ đã có cảm tình với cách mạng, chi bộ ở căng Nghĩa Lộ đã ra báo "Đường Nghĩa" để tuyên truyền giáo dục ý thức cách mạng cho quần chúng và đã có kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa.


Đầu 1945 đồng chí Nguyễn Duy Thân1 (Đồng chí Nguyễn Duy Thân sau là ủy viên Ủy ban hành chính Bắc Bộ) (tức Linh) là cán bộ của Đảng mới thoát ngục Sơn La được Xứ uỷ cử lên phụ trách thay đồng chí Bình Phương chuyển đi công tác ở nơi khác; đồng chí Thân đã tiếp tục phát triển cơ sở ở Hạ Hoà (Phú Thọ), Trấn Yên (Yên Bái) và thị xã Yên Bái, riêng ở thị xã đồng chí Thân đã liên lạc được với đồng chí Nguyễn Hữu Minh (tức Minh Đăng), một số thanh niên cảm tình của Đảng qua đồng chí Minh đã bắt mối được với đồng chí Mai Văn Ty (tức Công) công nhân làm ở đề pô Yên Bái là đối tượng kết nạp Đảng từ những năm 1939 - 1940 ngày còn hoạt động bí mật trong nghiệp đoàn in Nhà máy in Viễn Đông (EEEO). Sau khi hai đồng chí Mai Văn Ty và Nguyễn Hữu Minh được kết nạp vào Đảng phong trào công nhân và thanh niên thị xã có những bước chuyển biến mới và phát triển ngày càng mạnh. Ngoài các hội viên cứu quốc, rất nhiều công nhân, thanh niên và viên chức nhỏ bước đầu được giác ngộ sẵn sàng đi theo Mặt trận Việt Minh.


Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính hất cẳng Pháp để độc quyền cai trị Đông Dương, thực dân Pháp bất lực và ươn hèn đã nhanh chóng đầu hàng Nhật bán rẻ Đông Dương cho bọn phát xít. Nhân dân ta lâm vào cảnh "một cổ hai tròng" vừa chịu sự đô hộ của thực dân Pháp vừa chịu sự đè nén của phát xít Nhật, mặc dù đã cam chịu đầu hàng bán rẻ quyền lợi cho phát xít Nhật nhưng trong lòng bọn thực dân Pháp vẫn vô cùng cay cú và căm tức bọn phát xít, chỉ đợi dịp là lại nhảy bổ vào cắn xé lẫn nhau. Tình thế cách mạng đã chuyển sang một giai đoạn mới để kịp thời phân hoá kẻ thù và tranh thủ lôi kéo những người căm ghét Nhật, có cảm tình với cách mạng trong hàng ngũ Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp và ra Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"; đây là một chỉ thị đúng đắn và kịp thời của Đảng trước tình thế mới, đã có tác động to lớn và sâu rộng làm dấy lên một cao trào kháng Nhật cứu nước ngày một mạnh mẽ trong toàn dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #7 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 11:12:10 pm »

Sau ngày Nhật đảo chính bọn Pháp ở thị xã Yên Bái phải rút vào Nghĩa Lộ, lúc này thực tế quyền cai quản thuộc địa đã vào tay Nhật và Pháp buộc phải từng bước nhượng bộ, vì thế bọn Pháp phải luôn sống trong một tình trạng nơm nớp lo sự, vừa lo đối phó với cách mạng vừa lo đối phó với Nhật. Trước tình hình đó các đồng chí tù nhân ở chi bộ căng Nghĩa Lộ đã chủ động tranh thủ đặt vấn đề với bọn Pháp đang cai quản căng cũng phối hợp đánh Nhật với điều kiện Pháp phải thả tất cả tù chính trị, nhưng chúng không chịu chấp thuận mà chỉ muốn ta cử một số anh em thạo tiếng Pháp cùng chúng thám thính quân Nhật. Việc thương lượng không kết quả các đồng chí ở căng Nghĩa Lộ lại tích cực chuẩn bị chờ thời cơ mới. Ngày 17 tháng 3 năm 1945 bọn Pháp định chuyển số anh em tù chính trị đi nơi khác để đưa tù thường phạm vào, cả nhà tù nổ ra cuộc đấu tranh chống di chuyển tù nhân. Tên phó sứ Pen-ki-ê (Pelkiei) và tên đồn trưởng Xi-vê (Civet) vào trong căng kiểm tra, thấy chúng chỉ có vài người đi theo một vài anh em đã xông vào vật tên phó sứ buộc tên này phải thả hết tù chính trị nhưng bọn địch đã nổ súng chống trả. Nhân lúc bọn địch bị rối loạn và hoang mang anh em tù nhân đã phá căng chạy ra ngoài, hơn mười đồng chí chạy thoát một số đồng chí bị hy sinh, cuộc phá căng tự phát ngoài dự kiến của chi bộ tuy không hoàn toàn thắng lợi nhưng đã bổ sung cho phong trào hơn 10 cán bộ. Đồng thời đã nâng cao được tinh thần yêu nước và lòng căm thù địch của nhân dân địa phương.


Cuối tháng 3 năm 1945 đồng chí Ngô Minh Loan (tức Hoàng Quang Minh) được Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ giao nhiệm vụ lên Yên Bái, Phú Thọ thay đồng chí Thân tiếp tục xây dựng và phát triển khu căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở hai tỉnh Yên Bái, Phú Thọ. Đồng chí Nguyễn Duy Thân được điều về nhận nhiệm vụ mới hoạt động trong phong trào học sinh sinh viên ở thành phố.


Đến tháng 5 năm 1944 cơ sở Việt Minh từ khu Vân - Hiền Lương đã phát triển rộng ở hầu khắp các xã trong huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) phủ Trấn Yên (Yên Bái) và trên đường vào Nghĩa Lộ. Trong khu căn cứ chính quyền địch bị tan rã, nhiều ký hào, lý dịch được giác ngộ đã ngả theo hoạt động cho Việt Minh. Một số xã đã có tổ chức dân quân tự vệ, ở thị xã Yên Bái tháng 4-1945 đồng chí Ngô Minh Loan được uỷ quyền của cấp uỷ đã kết nạp đồng chí Nguyễn Văn Trí (tức Trí Dũng) vào Đảng và quyết định thành lập chi bộ thị xã Yên Bái gồm 3 đảng viên, đồng chí Mai Văn Ty được cử làm Bí thư1 (Chi bộ thị xã Yên Bái là chi bộ đầu tiên của tỉnh Yên Bái, chi bộ đã lãnh đạo cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Yên Bái, 3 đồng chí trong chi bộ này đều đã hy sinh, đồng chí Mai Văn Ti sau cách mạng Tháng 8 được phân công phụ trách an ninh của tỉnh đã bị bọn VNQDĐ sát hại hồi tháng 9-1945 tại Phố Mới (Lào Cai), đồng chí Nguyễn Trí Dũng cũng bị bọn phản động VNQDĐ bắt và sát hại tháng 11-1945 tại thị xã Yên Bái, đồng chí Nguyễn Hữu Minh năm 1947 phụ trách huyện Văn Bàn bị giặc Pháp bắt do địch tra tấn dã man đồng chí đã hy sinh vào năm 1949). Sau khi được thành lập chi bộ đã củng cố các đoàn thể cứu quốc... tuyên truyền phát triển ảnh hưởng của cách mạng, xây dựng cơ sở trong bảo an binh, tổ chức đưa một số cán bộ thoát khỏi nhà tù Yên Bái sang khu căn cứ Vân - Hiền Lương bổ sung cho phong trào2 (Tháng 6-1945 đưa các anh Trần Đức Bắc, Tiến (Lãnh, Chi, Mỹ) sang khu Vân, tháng 7-1945 đưa Nguyễn Phúc Nguyên là bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình 1930 - 1931 sang Lương Tâm (Trấn Yên) tham gia lãnh đạo khởi nghĩa của tỉnh).


Cuối tháng 4-1945 đồng chí Mai Văn Ti bí thư chi bộ thị xã Yên Bái được đồng chí Ngô Minh Loan phân công phụ trách công tác an ninh, đồng chí Ti đã dựa vào quan hệ cùng ngành đường sắt lên đê pô xe lửa Phố Mới (thị xã Lào Cai) tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho công nhân và tổ chức được ở đây một tổ chức Việt Minh làm nhiệm vụ theo dõi bọn Việt Nam quốc dân đảng đang theo đường qua Lào Cai từ Vân Nam (Trung Quốc) luồn vào nước hoạt động.


Phong trào cách mạng ở hai tỉnh Yên Bái và Phú Thọ vẫn tiếp tục phát triển. Riêng ở hai huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) và Trấn Yên (Yên Bái) đến tháng 6 năm 1945 cơ sở Việt Minh đã lan rộng ra 40 làng với 2 vạn dân. Tại căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương số hội viên cứu quốc phát triển lên 756 người; nhân dân các dân tộc nhiệt tình ủng hộ Mặt trận Việt Minh lương thực, thực phẩm, tiền bạc, cả số vũ khí gồm trung liên, súng trường lấy được của Pháp khi chạy Nhật bỏ lại dọc đường. Tầng lớp hào lý cũng tích cực đóng góp với cách mạng như chánh tổng Lương Ca để ta sử dụng kho thóc ở Vân Hội 40 tấn, chánh tổng Hậu Bổng ủng hộ cách mạng một số tiền rất lớn (500 đồng tiền Đông Dương).


Thực hiện Nghị quyết hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (15 tháng 4 năm 1945) đáp ứng nguyện vọng của quần chúng ngày 14-6-1945 trong một cuộc mít tinh lớn tại chùa Hiền Lương (Hạ Hoà, Phú Thọ) có đông đảo hội viên cứu quốc và nhân dân các làng Hiền Lương, Năng Xã, Tiểu Phạm, Linh Thông, Bình Kiện tham gia. Đội du kích tập trung của khu căn cứ cách mạng Vân - Hiền Lương được thành lập lấy tên là đội du kích Âu Cơ . Đội du kích Âu Cơ tiền thân của bộ đội địa phương tỉnh, lúc đầu có 23 người, vũ khí gồm 1 trung liên, 11 súng trường do nhân dân lấy được của Pháp ủng hộ và các loại vũ khí thô sơ như: dao, gậy, mã tấu. Ngày 15-6-1945 đội vào làng Đông Yểng huấn luyện chính trị, quân sự, nhân dân ở đây tuy nghèo nhưng rất mực thương yêu du kích. Ngoài việc giúp đỡ nơi an nghỉ, ủng hộ lương thực, thực phẩm đồng bào còn thường xuyên thăm hỏi động viên du kích. Đối với những chiến sĩ ốm đau đồng bào chăm nom cơm cháo và tự động lên rừng tìm thuốc chữa bệnh nên bệnh tật mau lành.


Ngày 19-6-1945 du kích đang tập luyện thì được nhân dân báo tin tri phủ Trấn Yên cùng một trung đội bảo an tiến vào làng Vân, ta cho liên lạc mật báo cáo chánh tổng Lương Ca (cơ sở của ta) tìm cách giữ chân chúng lại qua đêm; đồng thời cho du kích hành quân cấp tốc đến làng Vân bí mật phục kích. Rạng sáng ngày 20 tháng 6 năm 1945 du kích nổ súng, bị đánh bất ngờ chúng hoảng hốt xô nhau chạy lên khu rừng sau nhà, ta bao vây gọi hàng và buộc viên tri phủ phải nhận 3 điều kiện:

1- Không được khủng bố và đàn áp phong trào cách mạng.

2- Trả lại tiền thuế thu của dân.

3- Trả lại tự do cho các cán bộ cách mạng hiện còn bị giam giữ.


Tiếp đó ta mở vòng vây cho chúng về phủ, ta cũng không tước vũ khí của chúng để bọn Nhật khỏi nghi ngờ, sau đó một tuần lễ chi bộ thị xã vận động quần chúng làm áp lực buộc viên tri phủ Trấn Yên phải trả lại tự do cho 3 cán bộ của ta. Các đồng chí này lại được cơ sở đưa qua sông sang khu căn cứ. Đa số lính bảo an được ta tha hiểu được chính sách khoan hồng đã hăng hái tuyên truyền gây thanh thế cho Việt Minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 11:13:59 pm »

Thắng lợi của trận đánh đầu tiên của du kích đã gây được lòng tin với nhân dân và LLVT địa phương, nhân dân trang khu cân cứ và các làng Đại Lịch, Ca Vịnh, Lương Tâm, Lương An ủng hộ bộ đội du kích trâu, bò, gạo, tiền... Một số làng thành lập đội tự vệ, du kích phấn khởi hăng say luyện tập và canh gác tuần phòng. Lính đóng các tổng Lương Ca, Giới Phiên, Động Lâm tự động mang súng về hàng; một số xin gia nhập du kích, một số thanh niên thị xã và cơ sở của ta trong bảo an binh cũng sang khu căn cứ xin tham gia lực lượng vũ trang do đó đội du kích Âu Cơ đã phát triển tới 127 người1 (Theo tài liệu tổng hợp chiến khu Vân - Hiền Lương của Ban nghiên cứu LSĐ tỉnh Yên Bái, bản đánh máy lưu tại bộ phận nghiên cứu LSĐ tỉnh Hoàng Liên Sơn). Nhân đà thắng lợi trên cán bộ ta đã về Văn Lãng (Hạ Hoà) tịch thu tiền thuế của lý trưởng, tước vũ khí của tên đội Dương ở đồn điền Thanh Lương (Phú Thọ). Các tổ chức cứu quốc cũng được phát triển, một số hội viên cứu quốc trong các làng đã có khoảng 500 người.


Ngày 27 tháng 6 năm 1945, một toán lính Nhật 22 tên do tên quan hai chỉ huy, có tên thông ngôn người Việt đi cùng theo đường quốc lộ 13 Yên Bái - Nghĩa Lộ qua làng Mỵ vào Vân Hội ra Hiền Lương hòng tìm diệt đội du kích của ta. Được nhân dân bám sát và báo cho ta biết là địch lấy thuyền của dân đi từ Vân Hội ra Hiền Lương, sau khi cân nhắc kỹ Ban chỉ huy đội du kích đã chọn trận phục kích ở Đèo Giang - một vị trí hiểm trở nằm án ngữ trên đường từ Vân Hội ra Hiền Lương. Đoạn ngòi này có bờ thẳm nước sâu, du kích chọn gò Vải đặt trung liên, từ trên gò cao này có thể quan sát suốt 1km mặt ngòi. Các chiến sĩ du kích được bố trí theo tổ "chim sẻ", mỗi tổ 3 người. Ngoài 2 tổ lên núi cao còn các tổ khác bí mật phục kích dọc bờ ngòi, 16 giờ cùng ngày 3 thuyền địch xuất hiện, đợi chúng lọt sâu vào trận địa phục kích ta mới nổ súng theo hiệu lệnh, tổ súng máy và các tổ "chim sẻ" nhất loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ bọn Nhật trên sông rối loạn không kịp ứng phó, kết quả ta diệt được 2 tên Nhật trong đó có tên quan hai chỉ huy. Du kích không bị thương vong người nào, trận đánh chỉ diễn ra chớp nhoáng trong khoảng 10 phút. Sau khi du kích rút bọn Nhật mò xác 2 tên đưa về trường làng Động Lâm hoả thiêu. Sáng 28-6-1945 chúng buộc phải quay về Yên Bái.


Sau 2 trận thắng lợi liên tiếp thanh thế của đội du kích càng lớn, lính bảo an tiếp tục đảo ngũ hoặc mang súng ra hàng, bọn Nhật không dám sục sạo nghênh ngang như trước nữa. Thanh niên các xã phấn khởi tình nguyện xin vào du kích, nhân dân càng nhiệt tình ủng hộ cách mạng, các làng trong khu căn cứ Vân - Hiền Lương tổ chức hệ thống báo động dây chuyền. Với tinh thần cảnh giác cao nhân dân đã phát hiện và giúp du kích bắt giữ 2 tên do thám của Nhật từ Phù Yên (Sơn La) luồn sang hoạt động, an ninh trong vùng được giữ vững. Qua tuần tra canh gác du kích đã phát hiện và cảnh cáo một số tên lưu manh giả danh Việt Minh để đi bức cướp của dân, thời gian này cơ sở Việt Minh ở huyện Hạ Hoà (Phú Thọ) đã phát triển rộng khắp; đồng chí Ngô Minh Loan giao cho đồng chí Trịnh Xuân Tiến1 (Đồng chí Trịnh Minh Tiến là cán bộ của Đảng lên hoạt động ở vùng Đan Hà, Đan Thượng (Hạ Hòa) từ tháng 4-1945) phụ trách các cơ sở Việt Minh Hạ Hoà, đội du kích Âu Cơ cũng từ Đồng Yểng chuyển ra Vân.


Phong trào chống Nhật cứu nước chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ngày càng phát triển không ngừng. Chính quyền tay sai của địch ở các cháu, phủ, huyền trong tỉnh tỏ ra hoang mang cực độ. Thời gian này nạn đói khủng khiếp do đế quốc Nhật, Pháp gây ra đang đe doạ nghiêm trọng tính mạng hàng chục vạn quần chúng; Trung ương Đảng ra chỉ thị phá kho thóc của địch để cứu đói cho dân. Các đội du kích, tự vệ dưới sự chỉ đạo của các cơ sở Việt Minh đã cùng nhân dân tổ chức nhiều đợt phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo nạn đói tạm lắng xuống, nhân dân rất phấn khởi và càng tin tưởng ở Việt Minh. Trước yêu cầu của nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở địa phương, khi thời cơ đến Xứ uỷ cử đồng chí Bình Phương lên phụ trách hai tỉnh Phú Thọ, Yên Bái. Đồng thời Xứ uỷ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái do đồng chí Ngô Minh Loan làm Bí thư, các đồng chí Bình Phương và Đỗ Quang Ẩm làm uỷ viên1 (Ngày 30-6-1945, ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Yên Bái).


Ngay sau khi ra đời Ban cán sự liên tỉnh đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc vũ trang khởi nghĩa và thành lập Uỷ ban quân sự cách mạng của liên tỉnh gồm các đồng chí Ngô Minh Loan (chính uỷ), Bình Phương (chỉ huy trưởng) và Tràn Đức Sắc (uỷ viên).

Đầu tháng 7-1945 khí thế cách mạng của quần chúng tiếp tục dâng cao, Ban cán sự liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái họp chủ trương:

1- Gấp rút củng cố lực lượng và phát triển quần chúng, mở rộng khu căn cứ cách mạng.

2- Tổ chức các Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời ở các xã trong khu căn cứ.

3- Biên chế lại du kích 230 người thành trung đội và phân công, để một bộ phận nhỏ ở lại bảo vệ khu căn cứ còn đại bộ phận lực lượng tiến vào giải phóng Nghĩa Lộ, lấy nơi này làm bàn đạp để phát triển sang châu, huyện lân cận.


Thực hiện chủ trương trên, ngay sau cuộc họp của Ban cán sự lực lượng vũ trang ta đã tiến theo 3 mũi vào hội quân ở Ba Khe, sau đó tiến thẳng vào Nghĩa Lộ, 3 mũi tiến quân được phân công nhiệm vụ: một mũi qua làng Đồng Phú ra Đồng Đá Trắng nếu gặp địch ở ngoài thì đánh cảnh cáo, một mũi qua các làng Vân, Dọc, Thiến Kháo sang Ca Vịnh, một mũi qua làng Vân, Dọc, qua Mỵ. Cả ba mũi sau đó cùng gặp nhau ở Ba Khe.


Trên đường tiến quân cả ba mũi không gặp sức kháng cự nào của địch, các đồn bảo an đã rút trước khi du kích đến. Riêng bảo an đồn Lương Tâm, Ca Vịnh khi rút chạy không kịp mang theo cả vũ khí, ta thu được 27 khẩu súng trường. Kết hợp với nhiệm vụ vào giâi phóng Nghĩa Lộ du kích đã phá các kho thóc của địch ở Mỵ (500 tấn), Ca Vịnh (500 tấn), Sơn Lục (100 tấn), Bản Hốc và Gốc Bắng (1.000 tấn) chia cho dân. Cuộc tiến quân vào Nghĩa Lộ trở thành cuộc biểu dương lực lượng cách mạng, du kích đi đến đâu đều tổ chức giải thích chủ trương chính sách của Mặt trận Việt Minh và thành lập các đoàn thế cứu quốc đến đó.


Ngày 6-7-1945 sau khi hội quán ở Ba Khe lực lượng ta tiến vào Nghĩa Lộ, trước đó tri châu Đặng Phạm Lộc đã cho vợ con trốn và y chuẩn bị trốn theo. Cơ sở ta ở Nghĩa Lộ đã nắm được tình hình thuyết phục y đầu hàng cách mạng vì vậy khi ta đến ngòi Thia đã thấy Đặng Phạm Lộc cùng quản Nhương - quản bảo an mang cờ trắng ra hàng và đón ta vào Nghĩa Lộ (châu lỵ châu Văn Chấn). Nhân dân Nghĩa Lộ đã treo cờ đỏ sao vàng nồng nhiệt đón quân ta vào tiếp quản. Ta thu hồi toàn bộ sổ sách giấy tờ của chính quyền cũ cùng 60 súng trường, 14 hòm đạn, 20 hộp thịt và 1 kho thóc 1.000 tấn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #9 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2026, 11:15:18 pm »

Ngày 18-7-1945 tại cuộc mít tinh thành lập Uỷ ban làm thời châu Văn Chấn có đông đảo nhân dân thị trấn Nghĩa Lộ và đại biểu nhân dân các làng bản ta tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, giới thiệu chính quyền mới của châu Văn Chấn ra mắt nhân dân và phổ biến 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Uỷ ban nhân dân lâm thời châu Văn Chấn là tổ chức chính quyền cách mạng cấp huyện đầu tiên được thành lập ở tỉnh Yên Bái và cũng là chính quyền cấp huyện đầu tiên của cả vùng Tây Bắc.


Cùng lúc ta tiếp quản Nghĩa Lộ, quân Nhật tiến vào đóng tải Mỵ, được tin báo ta để một bộ phận nhỏ ở lại thị trấn, một bộ phận hành quân ra Cửa Nhì bố trí đánh Nhật, lực lượng còn lại theo đường tắt ra Mỵ bố trí phía trên các đồi cao bắn nghi binh. Nghe súng nổ bốn bề quân Nhật tưởng quân ta đông hốt hoảng rút chạy về thị xã Yên Bái.


Sau ngày tiếp quản châu Văn Chấn đồng chí bí thư Ban cán sự liên tỉnh quyết định thành lập một đoàn cán bộ xuống xây dựng chính quyền các xã. Đồng thời cho tổ chức huấn luyện quân sự, chính trị cho đội du kích tập trung và mở một lớp đào tạo tiểu đội trưởng 15 ngày ở Cửa Nhì. Đội du kích Âu Cơ phát triển tới 500 người với 300 súng gồm các loại súng trường, tiểu liên, trung liên.


Ở huyện Lục Yên, một số cán bộ Việt Nam giải phóng quân của chiến khu Hoàng Hoa Thám từ Hàm Yên (Tuyên Quang) sang xây dựng cơ sở Việt Minh và tổ chức đội du kích Cổ Văn hồi trung tuần tháng 6-1945 vẫn ở lại dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng. Đội du kích Cổ Văn khi thành lập ở rừng sim thôn Từ Hiến1 (Thôn Từ Hiến thuộc xã Mường Lai, huyện Lục Yên) mới có 24 người với 17 súng, lúc này đã phát triển tới 50 người. Đội đã được nhân dân giúp đỡ làm lán trại, cho gà, vịt, thóc gạo làm lương ăn, với phương châm tích cực tự học, tự rèn nên đội du kích đã nhanh chóng trưởng thành về chiến thuật, kỹ thuật. Đội tổ chức phá kho thóc của Nhật ở Vĩnh Lạc và kho thóc của một tên địa chủ ở làng Sông cứu đói cho dân. Đội du kích Cổ Văn còn liên lạc với đơn vị Việt Nam giải phóng quân của đồng chí Trần Thế Môn lúc này đang ở Binh Hạnh (phủ Yên Bình) bàn kế hoạch phối hợp đánh đồn Lục Yên.


Ngày 6-7-1945 dưới sự chỉ huy của đồng chí Anh một cán bộ Việt Nam giải phóng quân, đội du kích Cổ Văn kéo quân qua chợ Ngọc vào Bình Hạnh gặp đơn vị giải phóng quân của đồng chí Môn hành quân từ Bình Hạnh qua chợ Ngọc thẳng đường Yên Bình - Lục Yên và chân đèo Uông. Khi nghe quân cách mạng kéo đến tên Nghiêm chỉ huy đồn hoảng sợ vội vã xin đầu hàng, kê khai số lượng binh lính và vũ khí trong đồn và biên thư nộp đơn cho quân cách mạng1 (Trung đội của đồng chí Xuân cùng với trung đội của đồng chí Trần Thế Môn tiến vào giải phóng Lục Yên).


Ngày 8-7-1945 du kích kéo vào châu lỵ Lục Yên, ở đây quản thị cũng đã tự nguyện đem nộp toàn bộ số vũ khí của lính khố xanh lính cỏ và lính bảo an phố gồm 70 súng trường, 2 súng ngắn và nhiều đạn dược. Quản lý 3 lính khố xanh xin đi theo quân cách mạng, còn các anh em binh lính khác xin về làm ăn với gia đình.


Cuộc khởi nghĩa ở châu Lục Yên thắng lợi, ngày 10-7-1945 ta thành lập Uỷ ban nhân dân lâm thời châu và các xã; chính quyền mới cách mạng liên tổ chức cứu đói cho dân, xây dựng cơ sở Việt minh và thành lập các đội tự vệ chiến đấu ở các xã trong toàn châu. Đội du kích Cổ Văn được nhiều thanh niên tích cực tham gia nhân dân nhiệt tình ủng hộ đã phát triển khá nhanh, đến cuối tháng 7-1945 đội đã có gần 200 chiến sỹ.


Tại phủ Yên Bình, từ sau ngày Nhật đảo chính đến tháng 6 năm 1945 đơn vị Việt Nam giải phóng quân của khu Nguyễn Huệ do đồng chí Hoàng Văn Xuân chỉ huy đã xây dựng được cơ sở Việt minh ở các xã nằm dọc ven hai bờ sông Chảy, một số nơi đã tổ chức được tự vệ. Ngày 14-6-1945 đơn vị phối hợp với tự vệ các làng Yên Mỹ, Mỹ Gia phá kho thóc chợ Ngọc và tiến đánh đồn chợ Ngọc, đồn này nằm ở xã Bình Mục chỉ có lính dõng và bảo an do tên bang tá Nguyễn Văn Khang chỉ huy. Lực lượng ta bí mật bao vây rồi nổ súng, trước khí thế của quân cách mạng toàn bộ lính dõng và bảo an vội vã nộp súng đầu hàng, tên bang tá Khang có nhiều nợ máu với dân - tay sai đắc lực của Nhật bị chính quyền cách mạng trừng trị. Tiếp đó các đơn vị Việt Nam giải phóng quân đã tổ chức được Uỷ ban nhân dân ở các xã Cẩm Nhân, Mỹ Gia, Bình Mục, Phúc Ninh, Chợ Ngọc, Tích Trung, Yên Thành, Am Phước... củng cố đoàn thể cứu quốc và các đội du kích, vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất xây dựng cuộc sống mới ở địa phương1 (Khi giải phóng huyện Yên Bình có 2 trung đội GPQ do đồng chí Trần Thế Môn và đồng chí Hoàng Văn Xuân chỉ huy, sau khi giải phóng được các xã vùng thượng huyện Yên Bình ta tiến hành lập huyện Toàn Thắng thuộc xã Tú Lĩnh huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) và huyện Quyết Thắng ở vùng Hà Tuyên. Đồng chí Trần Thế Môn sau này là Thiếu tướng - chánh án Tòa án quân sự Trung ương, đồng chí Hoàng Văn Xuân sau là Thiếu tướng).


Đến trung tuần tháng 7-1945 hầu hết các xã hai bên tả hữu ngạn sông Chảy đều tổ chức xong chính quyền cách mạng. Cùng lúc này tin châu Lục Yên được giải phóng vang dội đến Yên Bình, trước tình hình đó bọn cầm đầu chính quyền tay sai của Nhật ở địa phương càng hoang mang dao dộng; tên tri phủ Nguyễn Văn Hậu cùng một số nha lại bỏ trốn, bọn lính cơ gửi giấy cho cán bộ xin đầu hàng. Ngày 17-7-1945 hàng trăm quần chúng và tự vệ xã Yên Bình cùng với một đội du kích, 1 tiểu đội giải phóng quân tiến vào giải phóng Yên Bình và tiếp nhận sự đầu hàng của địch, 5 lính cơ xin theo ta, số còn lại xin trở về quê quán. Ta thu hơn 50 khẩu súng, cuộc khởi nghĩa ở Yên Binh đã thắng lợi (Trong 5 lính cơ theo ta có Vũ Nhung sau này làm Tỉnh đội trưởng Yên Bái (1949-1952)).


Để đề phòng khả năng bọn Nhật vào đàn áp, ta bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu, đồng thời vận động nhân dân các xã dọc đường Nhật có thể tiến vào thực hiện vườn không nhà trống, ngả cây to ven đường làm chướng ngại vật và đào hào cản địch. Tuy nhiên bọn Nhật mặc dù đã bại trận sắp sửa đầu hàng đồng minh nhưng lực lượng của chúng ở đây vẫn còn rất mạnh. Sau khi Yên Bình khởi nghĩa thắng lợi, Nhật tạm thời chiếm lại được phủ lỵ và dựng lên bộ máy chính quyền tay sai mới...
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM