CHƯƠNG II
XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, PHỐI HỢP VỚI BỘ ĐỘI CHỦ LỰC GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG VÀ CHI VIỆN CHO CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta có những thuận lợi mới; thế và lực của ta ngày càng mạnh sau những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao.
Các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta; tạo nên thời cơ triển vọng hết sức thuận lợi cho công cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Nắm chắc tình thế và thời cơ thuận lợi, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Lê Hồng Phong I trên địa bàn miền Tây Bắc, mục đích của chiến dịch được Bộ tổng Tư lệnh đề ra: "Tối thiểu làm tan rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, lấy ảnh hưởng chính trị với quốc tế và nhân dân để nuôi dưỡng lực lượng ta, tối đa là khôi phục lại Lào Cai, mở thông đường quốc tế
1 (Chỉ thị về nhiệm vụ tác chiến mặt trận Lê Hồng Phong số 13/CT 63 ngày 25-2-1950 của Bộ tổng tham mưu), Bộ tổng tham mưu xác định nếu có điều kiện thuận lợi mới giải phóng Lào Cai"
2 (Chỉ thị về nhiệm vụ tác chiến mặt trận Lê Hồng Phong số 13/CT 63 ngày 25-2-1950 của Bộ tổng tham mưu).
Bộ chỉ huy mặt trận và Bộ Tư lệnh đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ tổ chức tiến công địch ở Tây Bắc, hướng chính là Lào Cai.
Tỉnh Yên Bái được tham gia phối hợp hoạt động với bộ đội chủ lực quấy rối tiêu hao địch ở các huyện Văn Bàn; đặc biệt ở khu đồn Võ Lao, đồn Minh Hương, đồn Ca Vịnh (Trấn Yên), bảo vệ kho tàng ở Bảo Hà, phối hợp với Trung đoàn 165 đánh đồn Nghĩa Đô (hướng thứ yếu của chiến dịch).
Ngoài việc chỉ đạo hoạt động quân sự phối hợp, Tỉnh uỷ Yên Bái chủ trương huy động nhân tài vật lực của địa phương phục vụ cho chiến dịch; đồng thời đẩy mạnh công tác chống càn xây dựng phát triển cơ sở rộng khắp trong vùng địch tạm chiếm. Đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc, khuyếch trương thắng lợi, tiếp tục củng cố phát triển tổ chức Đảng, chính quyền lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng. Đến đầu tháng 2 năm 1950 các công tác chuẩn bị chiến dịch đã hoàn thành, ta thực hiện nổ súng đánh địch. Ngày 08-2-1950 Chiến dịch Lê Hồng Phong bắt đầu.
Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, Trung đoàn 102 được tăng cường thêm tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn sơn pháo nổ súng tiến công đồn Phố Lu. Sau 2 đợt chiến đấu ác liệt kéo dài 6 ngày đêm, ta làm chủ hoàn toàn thị trấn Phố Lu, địch bị thiệt hại nặng: 2 đại đội bị loại khỏi vòng chiến đấu (trong đó có tên đồn trưởng Gôchiê) ta thu toàn bộ vũ khí khí tài
1 (Theo lệnh chiến đấu: 1945 - 1954 Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu xuất bản năm 1957).
Trên hướng Nghĩa Đô - hướng thứ yếu của chiến dịch tình hình chiến sự diễn ra phức tạp, trong suốt 17 ngày từ ngày 7 đến 24 tháng 2 Trung đoàn 165 ba lần tấn công đều không thành công, ngày 24-2 địch tăng cường một tiểu đoàn biệt kích dù cho Nghĩa Đô; tuy vậy Nghĩa Đô vẫn bị ta uy hiếp mạnh, ngày 10-3 địch buộc phải rút khởi Nghĩa Đô và Bắc Hà, ta giải phóng Nghĩa Đô phía tả ngạn sông Hồng của Yên Bái không còn một đồn địch.
Thực hiện nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với chiến dịch, Đại đội 97 và 2 trung đội bộ đội địa phương huyện Văn Bàn đã hoạt động kiềm chế địch ở Ca Vịnh, Phong Dụ, Khe Cốc; tranh thủ lúc địch ở đồn Ken, Cóc, Võ Lao, Phong Dụ đang hoang mang dao động các đại đội 96, 97 của tỉnh vào giải phóng một nửa xã Phong Dụ, một phần thôn ba xã, các làng Võ Lao của người H’mông và người Dao, làng Cam Cọn (xã Kim Sơn).
Nhân dân các huyện Lục Yên, Văn Bàn, Trấn Yên đã có nhiều đóng góp cho chiến dịch. Riêng huyện Lục Yên đóng góp 10.000 ngày công, tổ chức 1 đại đội tải thương nữ 100 người, cung cấp 300 tấn thóc. Huyện Văn Bàn cung cấp 20 thuyền ván, 300 mảng cho bộ đội hành quân qua sông, sửa chữa 6 km đường, ủng hộ 11.753 đồng, 270 kg thóc gạo và 35 chiếc khăn tay. Huyện Trấn Yên tổ chức 25 đội vận tải tiếp tế mỗi đội có từ 5 - 15 người, ủng hộ 22.181 đông, 74 kg gạo, một số trâu bò lợn gà.
Tháng 4-1950, địch cho quân nhảy dù chiếm Nghĩa Đô, tăng cường càn quét phá các cơ sở của ta ở Võ Lao, mở rộng vùng kiểm soát của chúng lên tận các rẻo cao của người H’mông, tiến hành lập tề ở Võ Lao, Minh Lương, Dương Quỳ.
Trước tình hình đó, đại đội 85 chủ trương đánh địch để duy trì và củng cố cơ sở kháng chiến; 5 giờ ngày 6-6-1950 dưới sự chỉ huy của đồng chí Hoàng Trung Bảo bộ đội ta nổ súng tập kích địch ở vọng tiêu Khe dài ba xã. Sau 16 phút chiến đấu bộ đội ta diệt gọn vọng tiêu, diệt 4 tên trong đó có tên Fò Lý Fo - tên chỉ huy tề gian ác, bắt sống 2 tên thu 5 súng trường. Thắng lợi trên đã làm tăng thêm tinh thần chiến đấu của bộ đội, làm nức lòng nhân dân địa phương và phá âm mưu lập tề tại ba xã, cắt đứt đường hành lang cửa ngõ của đồn Cóc và đường từ Phong Dụ đi Võ Lao.
Ngày 17-6-1950, 1 trung đội địch có 4 Pháp chỉ huy từ Đồng Bồ nống ra càn quét, cướp phá thóc của dân ở thôn Đông Me xã Đại Lịch. Tại đây chúng bị Đại đội 86 phục kích, bị đánh bất ngờ địch không kịp chống đỡ, vội vàng tháo chạy toán loạn, để lại 4 xác chết, 4 tên bị thương. Thắng lợi này khẳng định bộ đội địa phương có đủ khả năng để tập phục kích, lực lượng địch ở ngay gần sát đồn.
Tháng 6-1950, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch biên giới đánh địch ở hướng Cao Bằng, Lạng Sơn; Lào Cai và Yên Bái tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến đấu phối hợp với quân và dân Cao Lạng
1 (Chiến dịch Biên giới (01- 10) ta diệt và bắt sống khoảng 8.300 tên địch, 8 tiểu đoàn Âu Phi và 2 tiểu đoàn ngụy; mở thông đường biên giới Yên Bái, Lào Cai đã hoàn thành tốt nhiệm vụ nghi binh đánh lừa địch).
Trong chiến dịch biên giới; Yên Bái - Lào Cai có nhiệm vụ nghi binh, thu hút và kiềm chế quân ứng chiến của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, Yên Bái - Lào Cai đã tích cực chuẩn bị xây dựng nhiều lán trại, kho tàng dọc đường giao thông, kết nhiều bè mảng trên sông để đánh lừa địch. Do làm tốt công tác nghi binh nên trước khi quân ta nổ súng đánh đồn Đông Khê địch vẫn tưởng rằng hướng chính của chiến dịch là Lào Cai, Yên Bái nên chúng tăng cường quân ứng chiến lên Lào Cai, cử tên Quan 5 Côtxtơ ở khu Tây Bắc lên trực tiếp chỉ huy mặt trận này.