Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Trị - Thiên 1972  (Đọc 2853 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 09:04:58 pm »

- Tên sách: Chiến dịch Trị - Thiên 1972
- Tác giả: Thiếu tướng Nguyễn Quang Bắc
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2022
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI CẢM ƠN


Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, tôi xin chân thành cảm ơn Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, Đại tá Nguyễn Văn Thực, Đại tá Nguyễn Hữu Tuấn, GS.TS. Hồ Tú Bảo, Đại tá Đặng Trực Ngôn, Trung tướng Đỗ Phúc Hưng, nhà văn Nguyễn Như Thìn, thầy giáo Nguyễn Hổng Cẩm, Đại tá Đào Trường Thắng, thầy giáo Vũ Thạch Lương, Đại tá Đỗ Minh Quang, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính - những cán bộ, chiến sĩ đã trực tiếp tham gia Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972; Thượng tá ThS Trần Thị Hà, vợ Đại tá TS. Lê Đông Hải - con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn; GS.TS. Bùi Chương, Đại tá Bùi Chuẩn - các con trai Trung tướng Trần Quý Hai, Đại tá Nguyễn Việt Sơn - con trai Đại tá Nguyễn Việt, chị Nguyễn Thị Vân - con dâu Trung tướng Vương Thừa Vũ, bạn Trần Kiến Quốc - con trai Thiếu tướng Trần Tử Bình, ThS. Nguyễn Nam Hải, Thượng tá Cao Thị Thảo - con gái Liệt sĩ Thượng tá Cao Bá Đổng, Thiếu tướng Nghiêm Triệu Dương - con trai Liệt sĩ Trung tá Nghiêm Kình, bạn Nguyễn Văn Thắng - con trai Thượng tướng Song Hào, bạn Nguyễn Thế Bắc - con trai Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, TS. Võ Hạnh Phúc, ThS. Trương Ngọc Anh - con và cháu gái Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bạn Lê Tự Thành - con trai Trung tướng Lê Tự Đồng, PGS.TS. Phạm Hồng Quang - con trai Trung tướng Phạm Hồng Sơn, Đại tá Hoàng Quốc Hùng - con trai Đại tướng Hoàng Văn Thái, chị Văn Tuyết Mai - con gái Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tá ThS. Võ Minh Đạo - con trai Thiếu tướng Võ Văn Vinh, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, Đại tá Từ Đễ, TS. Cao Viết Sinh, Đại tá TS. Phan Thành Công - con trai Thiếu tướng Phan Khắc Hy, PGS.TS. Cao Bảo Vân - con gái Trung tướng Cao Văn Khánh, Đại tá TS. Bùi Mạnh Quân - con trai Thiếu tướng Bùi Thúc Dưỡng, Trung tướng GS.TSKH. Nguyễn Công Định - con trai Thiếu tướng Nguyễn Công Trang, TS. Hoàng Nam Tiến - con trai Thiếu tướng Hoàng Đan; Thiếu tá NCS. Nguyễn Văn Hiến... đã giúp tôi về tư liệu, xác minh thông tin trong quá trình làm sách.


Đặc biệt, cảm ơn Đại tá TS. Bác sĩ Nguyễn Tăng Lực, người bạn thân từ Trường Văn hóa Quân đội - Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi, đã tha thiết động viên tôi dành thời gian viết về Chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, có ý nghĩa rất quan trọng này.

Xin chân thành cảm ơn các anh trong Think Tank VINASA và Viện Khoa học Công nghệ VINASA đã luôn quan tâm và khích lệ tôi.

Xin cảm ơn Đại tá ThS. Trần Thị Bích Huệ, Giám đốc Thư viện Quân đội, Thiếu tá Phạm Thị Hoài, Trung tá Nguyễn Thị Hồng Duyên và cán bộ, nhân viên Phòng Phục vụ bạn đọc, Thư viện Quân đội - Tổng cục Chính trị đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm kiếm, đọc sách và ngồi làm việc suốt gần bốn tháng vào thời gian chống dịch Covid-19 nghiêm ngặt ở Hà Nội.


Rất cảm ơn Tiến sĩ Lịch sử Nguyễn Kim Dung đã góp nhiều ý kiến chuyên môn để hoàn thiện bản thảo cuốn sách này. Nhân đây, cũng xin cảm ơn cô Kim Dung đã giúp đỡ gia đình trong quá trình tổ chức bản thảo Nhật ký Quảng Trị 1972 của ông Lê Quang Đạo, bố chúng tôi.


Xin cảm ơn Giám đốc Khúc Thị Hoa Phượng cùng Lãnh đạo và Ban Biên tập Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam đã tạo điều kiện để cuốn sách sớm đến được với bạn đọc.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ tình cảm với gia đình tôi:

Lòng biết ơn tôi kính dành cho mẹ - nhà văn Nguyệt Tú. Tình yêu thương, lời căn dặn của bà phải xuất bản sách để tri ân bố và đồng đội đã khiến tôi quyết tâm dồn hết sức biên soạn hai cuốn sách Nhật ký Quảng Trị 1972 và chiến dịch Trị - Thiên 1972. Dù đã gần 100 tuổi nhưng với tấm lòng và kinh nghiệm nhiều năm làm xuất bản, bà đã góp nhiều ý kiến quý, khiến tôi ngạc nhiên và thán phục.

Anh Nguyễn Quang Thắng đã luôn động viên tôi, dành nhiều thời gian đọc, góp ý) sửa chữa tỉ mỉ và hoàn thiện bản thảo này.

Chị cả Nguyên Nguyệt Tĩnh - đồng biên soạn cuốn Nhật ký Quảng Trị 1972 và em Nguyễn Quang Tuệ luôn khuyến khích, hỗ trợ tôi.

Tôi rất cảm ơn vợ tôi - Hoàng Thị Thu Hà cùng các con đã động viên, giúp đỡ, dành thời gian cho tôi tập trung viết sách. Đặc biệt, con gái Nguyễn Hoàng Nguyệt Ánh đã dành nhiều công sức giúp tôi xử lý hình ảnh tư liệu. Niềm vui từ các cháu Vy và Nam thương yêu cho tôi nhiều cảm hứng và nhiệt huyết viết cuốn sách này, mong được góp sức vào những điều ý nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #1 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 06:56:25 pm »

LỜI MỞ ĐẦU


Cuốn sách này được chắp bút từ ý tưởng ban đầu là tóm tắt diễn biến Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, như một phần phụ, giúp người đọc dễ theo dõi các sự kiện ghi trong cuốn sách Nhật ký Quảng Trị 1972 của ông Lê Quang Đạo, bố tôi. Nhật ký Quảng Trị 1972 được biên soạn với phần chính là "Nhật ký Ng. Bắc 72" mà ông viết trên chiến trường Quảng Trị, trong thời gian tham gia chỉ huy Mặt trận Trị - Thiên.


Tuy nhiên càng tìm hiểu, nhiều vấn đề hóc búa và hấp dẫn càng thôi thúc tôi đi sâu nghiên cứu có hệ thống Chiến dịch lịch sử này. Tôi tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu về Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 và nhận thấy, cho đến nay, chưa có cuốn sách nào nghiên cứu toàn diện, xuyên suốt Chiến dịch này từ thời gian chuẩn bị, ngày mở đầu 30/3/1972 cho đến ngày kết thúc 31/1 /1973. Phần lớn thông tin về Chiến dịch Trị - Thiên nằm trong các tài liệu tổng kết, sách lịch sử, các công trình nghiên cứu của các cơ quan Bộ Quốc phòng gồm Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, các học viện, nhà trường và các đơn vị tham gia. Những tài liệu này chủ yếu được lưu hành trong Bộ Quốc phòng; những người ngoài quân đội muốn nghiên cứu về lịch sử quân sự, cựu chiến binh và bạn đọc phổ thông ít có cơ hội tiếp cận. Các cơ quan nghiên cứu ngoài quân đội như Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng thực hiện một số công trình nghiên cứu về Chiến dịch Trị - Thiên 1972 nhưng theo hướng tóm lược hoặc đi sâu vào một số vấn đề cụ thể. Bên cạnh đó, những trang sử, hồi ký, câu chuyện của thế hệ cha anh, của bạn bè đã từng chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên luôn khiến tôi xúc động và thấy cần biên soạn một cuốn sách tổng hợp, có hệ thống về Chiến dịch Trị - Thiên 1972.


Năm 1954, ngay sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập và o bế chính quyền Sài Gòn thân Mỹ, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam; biến miền Nam Việt Nam thành chiến tuyến ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân hai miền Nam, Bắc bắt đầu. Đến năm 1972, sau hơn 17 năm đối đầu, có thể nói, cuộc chiến tại Trị - Thiên là cuộc chiến tranh tổng lực, quy mô lớn, ác liệt, dài ngày nhất và là trận chiến cuối cùng giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với liên quân Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cả thế giới dõi theo cuộc đọ sức mang tính sống còn này. Có thể nói, sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, đầy là một trận quyết chiến chiến lược điển hình về nghệ thuật quân sự, phương tiện và phương thức chiến tranh hiện đại nhất của loài người. Trận chiến này đã đẩy rất nhanh chiến tranh Việt Nam lên cấp độ cao nhất, đến ngưỡng sức chịu đựng của Mỹ. Nó khiến cho Tổng thống Mỹ Richard Nixon buộc phải đưa ra quyết định liểu lĩnh, bằng mọi giá dùng sức mạnh giành thắng lợi cuối cùng để rút quân khỏi miền Nam Việt Nam trong danh dự. Vì vậy, Mỹ tiến hành cuộc tiến công hủy diệt, hòng đánh sập ý chí của miền Bắc bằng tập kích B-52 vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các khu công nghiệp, đầu mối giao thông chiến lược. Trên bàn đàm phán, chiến thắng quân sự trở thành áp lực lớn nhất đối với những thỏa thuận mang tính quyết định của cả hai phía về tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam.


Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Chiến dịch này đã tập hợp sức lực và trí tuệ của mấy thế hệ. Những người lính can trường qua bao cuộc chiến đã để lại xương máu của mình trên mảnh đất này. Những thanh niên mới mười tám, đôi mươi đã vĩnh viễn gửi lại tuổi thanh xuân nơi Quảng Trị. Bao người lính, suốt cuộc đời in hằn vết thương và ký ức chiến tranh, vẫn khắc khoải nhớ về đồng đội nơi chiến trường năm nào. Mỗi con người quyết từ đó cần được khắc ghi vào lịch sử. Vậy nên, cuốn sách ra đời còn là tâm sức của cá nhân tôi, một người lính Quân đội nhân dân Việt Nam, muốn làm một việc có ý nghĩa để tri ân và tôn vinh những chiến sĩ đã chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị, trong đó có những người bạn học thời phổ thông và đại học của tôi.


Để thực hiện mục đích này, cuốn sách được biên soạn dựa trên các nguồn tài liệu: các sách lịch sử, tổng kết của các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam như Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Học viện Quân sự cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng), Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Cục Quân y, Đoàn 559, các quân binh chủng (Phòng không - Không quân, Không quân, Hải quân, Pháo binh, Tăng - Thiết giáp, Đặc công, Công binh, Thông tin, Hóa học), các đơn vị (từ cấp sư đoàn đến cấp trung đoàn, lữ đoàn) và Tỉnh đội Quảng Trị tham gia Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972. Các công trình nghiên cứu của cơ quan nghiên cứu ngoài quân đội: Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh; tiểu sử, hồi ký, bài viết... của những người lính từng chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên, đặc biệt là tư liệu của các vị lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của Chiến dịch (Đại tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Trần Quý Hai, Trung tướng Lê Quang Đạo,...) cùng nhiều bài báo, trang thông tin điện tử... Nhiều cuộc trao đổi trực tiếp với một số tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch như: Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, Đại tá Nguyễn Văn Thực, Trung tướng Đỗ Phúc Hưng, Đại tá Nguyễn Hữu Tuấn, GS.TS. Hồ Tú Bảo, Đại tá Đặng Trực Ngôn, thầy giáo Vũ Thạch Lương, Đại tá Đào Trường Thắng, Đại tá Đỗ Minh Quang, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính... để thu thập thông tin, xác minh tư liệu và củng cố những luận điểm nêu ra trong cuốn sách. Một số sách, bài viết của các tác giả Mỹ và những người bên kia chiến tuyến giúp góc nhìn của cuốn sách tường tận, khách quan hơn và mô tả diễn biến trận chiến sát thực hơn.


Cuốn sách Chiến dịch Trị - Thiên 1972 được bố cục như sau:

Lời mở đầu

Chương I: Chủ trương - quyết tâm và kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972.

Chương II: Chiến dịch Trị - Thiên: Thời kỳ chủ động tiến công (30/3 - 27/6/1972).

Chương III: Chiến dịch Trị - Thiên: Thời kỳ tác chiến phản công, phòng ngự giữ vững vùng giải phóng (28/6/1972 - 31/1/1973).

Chương IV: Tổng kết Chiến dịch Trị - Thiên 1972.

Thay lời kết.

Phụ lục: Thống kê lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội Sài Gòn trên chiến trường Trị - Thiên.


Cuốn sách là một bức tranh toàn cảnh về Chiến dịch Trị - Thiên 1972 chân thực, sinh động và chi tiết đến từng đơn vị tham gia chiến đấu. Chiến dịch Trị - Thiên 1972 là trận chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của các sư đoàn bộ binh chủ lực với các binh chủng, bộ đội địa phương, dân quân du kích và phong trào nổi dậy của nhân dân. Diễn tiến cuộc chiến đấu của các đơn vị được khắc họa xuyên suốt hai thời kỳ của chiến dịch: Chủ động tiến công (30/3 - 27/6/1972) và Tác chiến phản công, phòng ngự giữ vững vùng giải phóng (28/6/1972 - 31/1/1973).


Cuốn sách cố gắng nói lên sự tham dự và đóng góp của các cá nhân cụ thể đã chiến đấu và hy sinh trên chiến trường Trị - Thiên, góp máu xương cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và vì hòa bình của Tổ quốc. Tuy nhiên, sách không thể tập hợp tất cả các anh hùng chiến sĩ tham gia Chiến dịch mà chỉ có thể khái lược về một số cá nhân được các tài liệu lịch sử tin cậy ghi chép. Cuốn sách cũng chú thích sơ lược về nhiều cán bộ chỉ huy, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều đơn vị tham gia Chiến dịch.


Việc tiếp cận và xác thực tài liệu gốc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn về hoạt động trên chiến trường của liên quân này không được nhiều. Vì vậy, đối với phía Mỹ và quân đội Sài Gòn, cuốn sách chưa thể đi sâu mô tả cụ thể, chi tiết như phía Quân đội nhân dân Việt Nam. Khắc họa toàn diện một Chiến dịch lịch sử rất lớn là việc không dễ dàng, rất cần góc nhìn thấu đáo, tường tận từ cả hai phía tham chiến. Tác giả hy vọng các nhà nghiên cứu và những người nhiệt tâm với lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục khai thác, xử lý các tài liệu, đặc biệt tư liệu lưu trữ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong Chiến dịch Trị - Thiên 1972, để bổ sung nhận thức về Chiến dịch này. Qua đó, người đọc sẽ hiểu rõ hơn quy mô, ý nghĩa, tầm quan trọng, sự khốc liệt của Chiến dịch Trị - Thiên 1972 với cả hai phía, giúp lý giải sâu sắc và khách quan những sự kiện đến nay vẫn còn nhiều tranh luận.


Xin Kính tặng bố Đạo và đồng đội cuốn sách này nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1921-2021) và 50 năm ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (2/5/1972 - 2/5/2022). Cuốn sách nhằm tôn vinh và tri ân các anh hùng, liệt sĩ, các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng cùng tất cả các cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích, dân công... đã tham gia Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972.


Hy vọng, khi đọc sách, mỗi người tính từng tham gia Chiến dịch Trị - Thiên 1972 có thể tìm thấy lại dấu chân của mình trong trận chiến.

Cuốn sách Chiến dịch Trị - Thiên 1972 cùng với Nhật ký Quảng Trị 1972 được xuất bản cũng dành tặng các bạn trẻ, giúp hiểu thêm tầm vóc to lớn của Chiến dịch Trị - Thiên 1972 được tạo nên bởi sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha ông, vì hòa bình, độc lập dân tộc. Đồng thời, mong muốn các bạn có thêm tri thức quân sự để đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Do thời gian hoàn thiện bản thảo rất gấp cùng những hạn chế trong quá trình biên soạn, cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự cảm thông, chia sẻ và ý kiến quý báu của bạn đọc để hoàn thiện cuốn sách trong những lần xuất bản sau.

Tác giả
NGUYỄN QUANG BẮC
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #2 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:00:30 pm »

CHƯƠNG I
Chủ trương - quyết tâm và kế hoạch
tiến công chiến lược năm 1972


I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1. Tình hình chung

Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giành thắng lợi rất to lớn về mặt chiến lược. Ta đã giáng cho địch một đòn rất mạnh và bất ngờ. Hệ thống chính trị - quân sự của chính quyền Sài Gòn lung lay khi chiến tranh đã ở mức cao nhất. "Chiến tranh cục bộ" bị thất bại, Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược, thực hiện "phi Mỹ hóa chiến tranh", sau đó là "Việt Nam hóa chiến tranh", chấp nhận đàm phán ở Hội nghị Paris. Nhưng bên cạnh thắng lợi đó, ta cũng mắc những khuyết điểm như không sớm chuyển hướng về nông thôn, vẫn tiếp tục tiến công vào đô thị khi không còn thời cơ. Lực lượng ta ngày càng hao hụt, đế địch phản công chiếm lại vùng nông thôn và một phần rừng núi, đẩy chủ lực ta ra khỏi các địa bàn chiến lược từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970. Từ đó, Mỹ đánh giá cao quân đội Sài Gòn, cho rằng có thể thay thế được quân Mỹ, lại đánh giá thấp khả năng phục hồi của ta, nên đẩy mạnh thực hiện chiến lược mới nhằm các mục tiêu "Hủy diệt - Giành dân - Bóp nghẹt"1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.7).


Tổng thống Nixon hy vọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" thành công, Mỹ có thể rút quân ra khỏi cuộc chiến trong danh dự mà vẫn giữ được chính quyền Sài Gòn. Vì vậy, lập trường của Mỹ rất ngoan cố. Những năm 1970-1971, Hội nghị Paris gần như không có tiến triển, rơi vào bế tắc. Trên chiến trường, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 đã đánh bại một bước căn bản và có khả năng đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ về quân sự2 (Học viện Quân sự cao cấp, Ban Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Những sự kiện quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr.227). Cùng với thắng lợi trên các chiến trường Campuchia và Tây Nguyên (vùng ba biên giới), quân và dân ba nước Đông Dương đã đập tan các cuộc tiến công quy mô lớn nhất với những cố gắng cao nhất của đế quốc Mỹ kể từ khi Nixon lên cầm quyền. Lực lượng cơ động tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn - "xương sống" của kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" đã bị quân và dân ba nước bẻ gãy. Chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Học thuyết Nixon" của Mỹ bị thất bại một bước nghiêm trọng3 (Viện Sử học - Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập 13, Từ năm 1965 đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, tr.336-337).


Cuối năm 1971, quân Mỹ ở Nam Việt Nam đã cơ bản chấm dứt vai trò chiến đấu trên bộ. Từ tháng 7 năm 1971, các Bộ Tư lệnh dã chiến Mỹ ở các quân khu (trừ Quân khu 4) đã đổi thành Bộ Yểm trợ Lục quân. Quân số Mỹ tham chiến ở Việt Nam cao nhất là 568.000 quân (năm 1969). Qua 10 đợt rút quân, bắt đầu từ ngày 8 tháng 6 năm 1969 đến ngày 31 tháng 1 năm 1972, tổng số quân Mỹ chỉ còn 139.000 gồm 104.513 lục quân, 26.898 không quân, 7.061 hải quân và 528 thủy quân lục chiến. 30 trong tổng số 34 lữ đoàn đã rút. Tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ đóng ở Đường 9 là đơn vị cuối cùng rút khỏi Trị - Thiên4 5 (Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.561; Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn 3 Sư đoàn 324, Lịch sử Trung đoàn bộ binh 3 Sư đoàn 324 (1950-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.80).


Tương quan lực lượng địch - ta và cục diện chiến trường đã có những thay đổi quan trọng theo hướng có lợi cho cách mạng các nước Đông Dương. Trước thất bại quân sự ở Đông Dương cùng sức ép trong nước, tại cuộc đàm phán ở Paris, đại diện chính quyền Mỹ đã không còn đòi hỏi hai bên Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng rút quân nữa; tuyên bố sẵn sàng đề ra thời hạn cuối cùng cho việc rút quân Mỹ. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng trên chiến trường chưa có sự thay đổi về cơ bản, điều kiện chưa đủ để cuộc đàm phán tại Paris có chuyển biến đáng kể.


Chính quyền Nixon vẫn tăng cường các hoạt động quân sự, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhằm chia rẽ và gây nhiễu loạn hậu phương quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 7 năm 1971, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger bí mật thăm Trung Quốc; tháng 10 năm 1971, Kissinger đi Trung Quốc lần thứ hai để chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng thống Nixon6 (Viện Sử học - Nguyễn Văn Thật (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập 13, Từ năm 1965 đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, tr.336-337).


Tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao nhằm cô lập cách mạng Việt Nam, tháng 2 năm 1972, Nixon đến Trung Quốc. Mỹ và Trung Quốc ra "Thông cáo chung Thượng Hải". Thông cáo có đoạn ghi rõ: "Mỹ khẳng định mục tiêu cuối cùng là rút hết các lực lượng và cơ sở quân sự của Mỹ ra khỏi Đài Loan. Trong khi chờ đợi, tùy theo tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi (có nghĩa là chiến tranh Việt Nam kết thúc), Mỹ sẽ dần dần giảm lực lượng và cơ sở Mỹ ớ Đài Loan"7 (Viện Sử học - Nguyễn Văn Thật (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập 13, Từ năm 1965 đến năm 1975, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014, tr.349).


Tổng thống Nixon ngoan cố duy trì địa vị thống trị của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tiếp tục kéo dài chiến tranh nhưng "thay đổi màu da xác chết". Ý đồ và âm mưu thực sự đối với Việt Nam trong thời gian này của Tổng thống Nixon đã được Daniel Ellsberg tiết lộ trong cuốn sách Hồ sơ mật Lầu Năm Góc và Hồi ức về chiến tranh Việt Nam (Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers) xuất bản năm 2002 tại Mỹ8 (Daniel Ellsperg (1931): Tốt nghiệp Đại học Harvard với bằng Tiến sĩ kinh tế năm 1962, làm việc tại cơ quan RAND Corporation (Viện Nghiên cứu chính sách của Chính phủ Mỹ), rồi sang Việt Nam với vai trò Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Về nước năm 1967, ông làm việc trong Nhóm nghiên cứu đặc biệt về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara. Do vị trí công tác, ông được trực tiếp nghiên cứu các tài liệu tối mật của Nhà Trắng và bất ngờ phát hiện ra sự thật cùng những gian dối của giới cầm quyền Mỹ trong chủ trương phát động, mở rộng và đẩy cao cường độ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, từ cái gọi là Sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng 8 năm 1964, cho đến việc tạo cớ đưa quân chiến đấu vào chiến trường miền Nam Việt Nam, thực hiện các chiến dịch "tìm diệt" và chống đỡ cơn bão phản chiến trong lòng nước Mỹ sau đó. Tận mắt chứng kiến sự thật về cuộc chiến tại Việt Nam và những "vở kịch" (theo cách nói của ông) vì mưu lợi cá nhân của một số quan chức cao cấp thuộc Chính phủ Mỹ đương thời, Ellsberg đã thay đổi hoàn toàn lập trường chính trị, quyết định sao chụp 7.000 trang tài liệu trong Hồ sơ Lầu Năm Góc và công bố trên New York Time. Daniel Ellsberg, Hồ sơ mật Lầu Năm Góc và Hồi ức về chiến tranh Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.5).


Trên thực tế, hầu hết người Mỹ đã mong cuộc chiến tranh kết thúc từ rất lâu trước khi bộ hồ sơ được công bố. Thậm chí nhiều người còn coi cuộc chiến là "phi đạo đức"; "Cuộc chiến chưa và còn lâu mới kết thúc. Cuộc chiến sẽ lại leo thang"; "Bắt chấp ý kiến của đa số, Tổng thống vẫn tiếp tục cuộc chiến bằng cách giảm số lượng bộ binh nhưng tăng tần suất ném bom, trong khi liên tục thuyết phục dư luận rằng ông ấy sắp đạt được thỏa thuận. Trong vài tháng tiếp theo, ông ấy vẫn tiếp tục làm như vậy. Tháng Một năm 1972, ông ấy tiết lộ về việc đã có những trao đổi bí mật và một đề nghị "hào phóng" giả tạo mà ông ấy thừa biết là Hà Nội sẽ không chấp nhận"; "Từ đầu tháng Tư, tôi đã dự liệu về hoạt động thả thủy lôi ở Hải Phòng và tôi chắc rằng điều này sẽ đi kèm việc đánh bom không hạn chế nhằm vào Bắc Việt Nam, bao gồm cả sử dụng máy bay B-52. Tôi chẳng thể làm gì thêm sau những cảnh báo trước đó của minh. Tuy vậy, đã đến lúc tôi công bố những tài liệu cuối cùng tôi có được về cuộc chiến. Đó là bản lược trình Nghiên cứu An ninh quốc gia số 1 (NSSM-1) và Tài liệu dự trình phương án lựa chọn. Tôi đã muốn công bố những tài liệu này vào mùa Thu năm trước ngay sau khi Hồ sơ Lầu Năm Góc được công bố... ít nhất thì chúng cũng cho thấy Nixon đã dự tính thả thủy lôi ở Hải Phòng từ đầu năm 1969..."9 (Daniel Ellsberg, Hồ sơ mật Lầu Năm Góc và Hồi ức vì chiến tranh Việt Nam (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr.606-609).


Sự hiếu chiến và tham vọng chiến tranh của Nixon đã đẩy cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào một thời kỳ đặc biệt. Trên chiến trường; chúng ta cần phải nhanh chóng huy động toàn lực thực hiện những đòn tiến công quân sự đối đầu trực diện trên quy mô lớn với cấp độ quyết liệt nhất để chặn đứng âm mưu và phá vỡ thế lực địch. Chiến trường ác liệt không chỉ ở miền Nam mà có thể mở rộng ra miền Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #3 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:02:51 pm »

2. Tình hình Quảng Trị sau năm 1954

Vị trí địa lý

Tỉnh Quảng Trị nằm trên dải đất hẹp miền Trung, diện tích 4.886km2, dân số trên 500.000 người, gồm các dân tộc Kinh, Pa Cô, Vân Kiều, Tà Ôi. Người Kinh đa số sống ở vùng đồng bằng, giáp ranh, tập trung trong các thị trấn, thị xã. Phía Bắc, Quảng Trị giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Savanakhệt (Hạ Lào).


Thực hiện Hiệp định Geneva năm 1954 về lập lại hòa bình ở Việt Nam, tỉnh Quảng Trị bị chia làm hai phần, sông Bến Hải nằm trên vĩ tuyến 17 là ranh giới. Nam Bến Hải thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, gồm các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa, Hải Lăng, Triệu Phong và các thị xã Quảng Trị, Đông Hà. Thị xã Quảng Trị là thù phủ của tỉnh với dân số khoảng 250.000 người. Bắc Bến Hải là huyện Vĩnh Linh, dân số khoảng 9.000 người thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 16 tháng 6 năm 1955, Chính phủ ra Nghị định thành lập Đặc khu Vĩnh Linh, đơn vị hành chính ngang với tỉnh; dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương, có thị trấn Hồ Xá. Tỉnh Quảng Trị trở thành khu vực địa đầu trong cuộc đối chọi giữa hai chế độ chính trị đối lập của hai miền Nam, Bắc; đồng thời, là quyết chiến điểm ác liệt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Cuộc đấu tranh về mọi mặt đều diễn ra quyết liệt, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ chính trị ở hai miền10 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết Tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.9-11).


Địa hình

Địa hình tỉnh Quảng Trị chia làm ba vùng rõ rệt: vùng rừng núi, vùng trung du (giáp ranh) và vùng đồng bằng hẹp ven biển. Vùng rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất đai của tỉnh, có nhiều núi cao, rừng rậm, càng đi về phía Tây giáp nước Lào, đi vào chân dãy Trường Sơn, càng có nhiều núi cao, địa hình hiểm trở. Đây là căn cứ địa cách mạng của tỉnh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vùng trung du là vùng giáp ranh chạy dọc tỉnh, gồm các dãy đồi trọc cây lúp xúp, nằm giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng đô thị. Dân cư thưa thớt, kinh tế nặng về tự cung tự cấp nhưng là vùng tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Nơi đây, địch dựng nhiều căn cứ quân sự để ngăn chặn lực lượng vũ trang ta xuống đồng bằng và đô thị hoạt động. Vùng đồng bằng ven biển dài và hẹp, tuy diện tích nhỏ nhưng dân cư tập trung đông, có nhiều đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh. Tại đây, địch tập trung xây dựng một hệ thống căn cứ quân sự lớn và bộ máy chính quyền mạnh nhằm kìm kẹp đồng bào ta, chống phá phong trào cách mạng, ngăn chặn ảnh hưởng trực tiếp của miền Bắc xã hội chủ nghĩa.


Thời tiết

Khí hậu Quảng Trị chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm, trời thường nắng nóng, có gió Tây nóng và khô. Nhiệt độ trong ngày thường từ 37°c đến 38°C, có ngày lên đến 40°C. Sông suối khô cạn. Mùa mưa từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau, mưa dầm dề, có khi kéo dài hàng tháng. Bão lụt thường xảy ra vào các tháng 9, 10, 11. Sông suối ngập lụt, đường sá lầy lội. Xe cơ giới hoạt động rất khó khăn, nhất là trên các đường đất mới mở.


Giao thông

Với chiều dài khoảng 70km, chỗ rộng nhất khoảng 50km, Quảng Trị có ba đường giao thông bộ chính là quốc lộ 1A chạy suốt từ Bắc vào Nam. Song song với đường 1A có đường sắt Bắc - Nam, nhưng đã bị phá hỏng trong chiến tranh. Cùng với trục quốc lộ 1A, ở ven biển có tỉnh lộ 68 chạy dọc từ Quảng Trị vào cửa Thuận An, tỉnh Thừa Thiên. Phía Tây có đường 15A, 15N chạy từ phía Bắc qua đường số 9 vào A Sầu, A Lưới nối với quốc lộ 14 và vào Quảng Nam. Bắc Quảng Trị có quốc lộ 9 nối quốc lộ 1A từ ngã ba Đông Hà lên Khe Sanh, Lao Bảo, sang tỉnh Savanakhệt (Lào). Đường 64 từ thị xã Quảng Trị ra Cửa Việt và nhiều đường ngang từ vùng rừng núi về trung du do ta mới mở để cơ động lực lượng, phục vụ chiến trường và chiến đấu.


Chính quyền Sài Gòn dựa vào hệ thống sông Thạch Hãn, cải tạo nhiều chỗ để thuyền, ca nô, tàu nhỏ đi lại dễ dàng. Ở cửa sông, xây dựng cảng Cửa Việt, tàu thuyền từ biển qua cảng Cửa Việt lên thị xã Quảng Trị, Khe Sanh. Vùng đồng bằng ven biển còn có một số sông nhỏ chạy ngang dọc. Có thể cơ động được các loại xuồng máy như: sông Bến Ngự, sông Vĩnh Định, sông Nhùng.


Chính quyền Sài Gòn còn cho xây dựng nhiều sân bay dã chiến như La Vang (Nam Quảng Trị 1,5km), Khe Sanh, Ái Tử. Các sân bay này máy bay quân sự, kể cả các loại máy bay phản lực có thể lên xuống13 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết Tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 11-12).


Tình hình kinh tế - chính trị - quân sự

Phía Bắc giới tuyến 17 là Đặc khu hành chính Vĩnh Linh. Trước năm 1954, tình hình kinh tế - xã hội của Vĩnh Linh có rất nhiều khó khăn. Đời sống nhân dân rất khổ cực, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, 90% dân số mù chữ. Thị trấn bị tàn phá nặng nề, làng xóm tiêu điều xơ xác. Sau hòa bình lập lại năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính sách của Nhà nước, nhân dân Vĩnh Linh đã xây dựng quê hương ngày một đổi mới, cuộc sống mỗi ngày tốt đẹp hơn.


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Vĩnh Linh có vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là đầu mối chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, vừa là hậu phương trực tiếp của Mặt trận Quảng Trị. Đồng bào Vĩnh Linh vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới, vừa phải đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt của Mỹ. Địch đã giội xuống mảnh đất nhỏ hẹp này hơn nửa triệu tấn bom đạn, bình quân mỗi người dân Vĩnh Linh chịu 7 tấn. Nhưng quân dân Vĩnh Linh bám trụ kiên cường, vừa sản xuất vừa chiến đấu và bảo đảm giao thông.


Quân dân Vĩnh Linh đã đào các giao thông hào thông nối thôn, xã nối xã thay cho các con đường trên mặt đất. Đã làm 65.600 căn hầm chữ A, 31.000 căn hầm vuông, 84.000 căn hầm cá nhân, 96.000 hầm tập thể, 25.700 hầm gia súc, đào xuyên vào lòng đất 30.550m địa đạo. Có nơi cả làng sống và hoạt động dưới địa đạo (làng địa đạo) như ở thôn Vĩnh Mốc xã Vĩnh Thạch. Địa đạo thôn Vĩnh Mốc có 4 nhánh đường hầm tổng chiều dài hơn 2.000m, với 3 tầng hầm; tầng sâu nhất cách mặt đất 18m. Trong địa đạo có giếng nước để ăn uống, tắm giặt, có hầm bệnh xá, nhà hộ sinh; kho lương thực, kho vũ khí, hầm ở của từng gia đình, bếp nấu, nhà tắm, nhà vệ sinh v.v...


Ở phía Nam giới tuyến, đối lập với Vĩnh Linh, Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng hàng loạt căn cứ quân sự liên hoàn vững chắc vừa để ngăn chặn miền Bắc tiến công; vừa hô hào sẵn sàng: "lấp sông Bến Hải, mở đường Bắc tiến".

Mỹ và chính quyền Sài Gòn chia nhỏ các huyện, xã cũ thành các quận, xã mới; củng cố hệ thống chính quyền địa phương để kìm kẹp đồng bào, tiến hành "tố Cộng, diệt Cộng". Cùng với củng cố chính quyền ở các cấp, hàng loạt căn cứ quân sự được xây dựng phục vụ cho các sư đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn cùng nhiều đơn vị quân địa phương, cảnh sát, mật vụ chốt giữ trên địa bàn tỉnh.


Trong chiến lược "Chiến tranh cục bộ" Mỹ đưa vào Quảng Trị hơn 2 vạn quân Mỹ với các đơn vị sừng sỏ như Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ, Lữ đoàn 2 của Sư đoàn 1 bộ binh cơ giới, 2 lữ đoàn của Sư đoàn kỵ binh không vận 101, Lữ đoàn 26 hải quân thuộc Hạm đội 7 và các đơn vị pháo binh, công binh, xe tăng, vận tải. Địch xây dựng các căn cứ quân sự dày đặc, vững chắc, làm thành nhiều tuyến phòng ngự, đặc biệt là hàng rào điện tử "McNamara" ở phía Nam giới tuyến để "chặn bằng được mọi nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào Nam"14 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết Tác chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 13-15).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #4 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:10:23 pm »

II. CHỦ TRƯƠNG CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta trong năm 1971, việc Mỹ rút quân về nước (chỉ còn khoảng 1/4 so với lúc cao nhất) và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1972, đã tạo tình thế thuận lợi mới cho ta đẩy mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao lên một tầm cao mới.


Đến năm 1972, Hội nghị Paris đã kéo dài gần 4 năm, đang ở thời điểm quyết định: chuẩn bị ký hiệp định để lập lại hòa bình bằng một giải pháp chính trị. Mỹ ngoan cố "thương lượng trên thế mạnh", tìm cách đẩy mạnh đánh phá trên chiến trường, xúc tiến ngoại giao con thoi, cố thắng trên bàn hội nghị để xuống thang trong danh dự.


Tình hình chính trị, quân sự trên đặt ra yêu cầu mới cho cuộc chiến đấu trong năm 1972. Nhiệm vụ quân sự cẩn có đòn tiến công mạnh tạo chuyển biến cục diện chiến trường, đáp ứng kịp thời đấu tranh ngoại giao, đưa cuộc kháng chiến của Việt Nam và nhân dân hai nước Lào, Campuchia tiến lên một bước mới15 (Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.562).


"Tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp đề ra chù trương mới cho cách mạng miền Nam. Sau khi phân tích những diễn biến mới của cục diện chiến trường Việt Nam và Đông Dương, Bộ Chính trị khẳng định: Chúng ta đã đánh bại một bước căn bản và có khả năng đánh bại hoàn toàn chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ của quân và dân ta là: "Kịp thời nắm bắt thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tấn công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1912, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài""16 (Viện Lịch sử Đảng, Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập III, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr.584).


Thực hiện nhiệm vụ này, Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu đã nghiên cứu 3 hướng chiến lược: Bình Long (miền Đông Nam Bộ), Kon Tum (Tây Nguyên), Trị - Thiên. Khi đó có nhiều ý kiến khác nhau về chọn hướng tiến công chiến lược chính:

- Chọn Tây Nguyên, vì có điều kiện đánh tiêu diệt lớn và địa hình thuận lợi, nhưng triển khai binh khí, trang bị và phương tiện bị hạn chế, hậu cần - kỹ thuật chưa "lót ổ" tốt.

- Chọn miền Đông Nam Bộ, sát Sài Gòn, nơi hiểm yếu, nhưng vì ở xa nên việc cơ động binh khí kỹ thuật, lực lượng lớn không kịp thời, có nhiều khó khăn.

- Chọn Trị - Thiên sẽ thuận lợi, nhưng là đánh "vỗ mặt".

Các phương án này được đề đạt lên Tổng Tham mưu trưởng cân nhắc.

Tháng 7 năm 1971, trên cơ sở kết quả công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1972, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, thực hiện quyết tâm "đánh bại về cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và mọi âm mưu của địch". Mục đích cuộc tiến công chiến lược: tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, tạo bước ngoặt cục diện chiến trường, buộc địch chấp nhận giải pháp chính trị; đồng thời, cũng chuẩn bị sẵn sàng tiếp tục kháng chiến nếu địch cố kéo dài chiến tranh. Cuộc tiến công chiến lược dự kiến trên ba hướng như Cục Tác chiến đề đạt, nhưng lấy miền Đồng Nam Bộ là hướng chủ yếu, Trị - Thiên là hướng thứ yếu quan trọng.


Đầu năm 1972, Quân ủy Trung ương quyết định chọn Trị - Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu ý kiến: cần xây dựng đường vòng phía Tây để đánh "vu hồi chiến dịch" kết hợp với hướng tiến công chính diện. Nhưng theo dự định trước đó, Trung đoàn công binh 7 đã được điều vào làm đường ở Tây Nguyên nên đưa ra chậm. Vì vậy, khi tiến công chiến lược mở màn, đoạn đường vu hồi chiến dịch trên hướng tiến công chủ yếu (động Ông Do, 367...) chưa làm xong17 (Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.562-564).


Ngày 11 tháng 3 năm 1972, Thường vụ Quản ủy Trung ương ra Nghị quyết về kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972: "Hướng Trị - Thiên là hướng tiến công chính, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hướng quan trọng và sẵn sàng đưa một bộ phận chủ lực thọc sâu xuống đồng bằng khi có thời cơ"18 (Sư đoàn 304, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập 1 (1950-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.512). Như vậy, "Trị - Thiên, từ vị trí là hướng phối hợp quan trọng được chuyển thành "hướng chiến lược chủ yếu" nhằm tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới"19 (Đảng bộ Quân khu 4, Lịch sử Đảng bộ Sư đoàn 324 (1955-2010), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.194).


Để việc chỉ đạo và tiến hành các chiến dịch trên 3 hướng chiến lược phối hợp nhau chặt chẽ, Tổng hành dinh ở Hà Nội do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, trực tiếp chỉ đạo. Giúp Bộ trưởng điều hành có Thiếu tướng Trần Quý Hai, Tổng Tham mưu phó. Sở Chỉ huy cơ bản chiến lược ở Bộ Tổng Tư lệnh phục vụ cho sự chỉ đạo chung 3 chiến dịch trên 3 hướng chiến trường do Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Vũ Lăng20 (Vũ Lăng (1921-1988): Cục trưởng Cục Tác chiến (1970-1973), Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, Tư lệnh Quản đoàn 3 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Giám đốc Học viện Lục quân (1977-1988). Thượng tướng (1986)), Cục phó Cục Tác chiến Đại tá Lê Hữu Đức21 (Lê Hữu Đức (1925-2018): Cục trưởng Cục Tác chiến (1973-1979), Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 4, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng (1990-1996). Trung tướng (1988)) phụ trách và toàn thể cán bộ Phòng B. Thiếu tướng Trần Sâm22 (Trần Sâm (1918-2009): Tổng Tham mưu phó (1965-1974), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (1974-1975), Bộ trưởng Bộ Vật tư (1976-1982), Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế (1982-1986). Thượng tướng (1986)), Tổng Tham mưu phó, cũng xuống làm việc trực tiếp bên cạnh Sở Chỉ huy Cục Tác chiến để tham gia ý kiến và chỉ đạo việc tăng cường chi viện cho các chiến trường23 (Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.568-569).


Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên gồm 14 người do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn (bí danh là Hải), Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo (bí danh là Bắc); Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị làm Chính ủy24 (Ngày 6 tháng 8 năm 1972, Quân ủy Trung ương quyết định Thiếu tướng Trần Quý Hai, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu phó thay Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh Chiến dịch, Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thay Thiếu tướng Lê Quang Đạo làm Chính ủy Chiến dịch. Lê Quang Đạo, Nhật ký Quảng Trị 1972, Nxb. Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, 2022, tr. 109-110). Các Phó Tư lệnh Chiến dịch: Đại tá Cao Văn Khánh, Đại tá Giáp Văn Cương, Đại tá Doãn Tuế, Đại tá Phạm Hồng Sơn, Đại tá Lương Nhân25 (Lương Nhân: Đại tá Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Thiếu tướng (1974)), Đại tá Nguyễn Anh Đệ26 (Nguyễn Anh Đệ (1925-1985): Đại tá, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng B5; Cục trưởng Cục Quân lực (1974); Phó Tư lệnh Quân khu 3; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1 (1977); Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh (1979); Tư lệnh Binh chủng Đặc công (1983). Trung tướng (1984)). Các Phó Chính ủy: Đại tá Lê Tự Đồng, Đại tá Hoàng Minh Thi. Quân ủy Trung ương thành lập Đảng ủy Chiến dịch gồm 18 người, chỉ định Ban Thường vụ 8 người, Bí thư Đảng ủy Lê Quang Đạo, các Phó Bí thư Lê Trọng Tấn và Lê Tự Đồng; Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Hồ Sĩ Thản27 (Hồ Sĩ Thản (1913-1995): Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, Đảng ủy viên Mặt trận Trị - Thiên (1972); Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình - Trị - Thiên (1975-1987); Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII) là Đảng ủy viên.


Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, làm đại diện Quân ủy Trung ương trực tiếp theo dõi chỉ đạo hướng chiến lược Trị - Thiên28, 29 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr. 14-15, Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.569).


Ngày 23 tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm tiến công chiến lược 1972 (7 ngày trước khi ta nổ súng mở màn Chiễn địch Trị - Thiên) với 4 nhiệm vụ:

1/ Tiêu diệt phần lớn lực lượng quân sự địch ở Trị - Thiên, cơ bản diệt cho được 2 sư đoàn và đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn khác.

2/ Phối hợp tiến công quân sự và quần chúng nổi dậy ở nông thôn đồng bằng, đẩy mạnh phong trào đô thị và công tác binh vận, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận lực lượng bảo an dân vệ, phong vệ dân sự, đánh bại kế hoạch bình định của địch.

3/ Giải phóng phần lớn địa bàn Trị - Thiên, khi có điều kiện kiên quyết giải phóng toàn bộ 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên.

4/ Tiêu diệt, phân tán, giam chân, thu hút lực lượng địch để phối hợp với các chiến trường khác trên toàn miền Nam, góp phần giành thắng lợi chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Trong 4 nhiệm vụ trên, nhiệm vụ thứ nhất là quan trọng bậc nhất, nhiệm vụ thứ hai là rất quan trọng.

Phương châm chỉ đạo Chiến dịch của Quân ủy Trung ương: phải nắm thật vững vấn đề đánh tiêu diệt, không cho địch co cụm lớn; phối hợp chặt chẽ giữa các hướng, kết hợp tốt giữa đòn tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng và binh vận30 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.14-15).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #5 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:12:31 pm »

III. QUYẾT TÂM VÀ KẾ HOẠCH CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG CỦA ĐẢNG ỦY VÀ BỘ TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH

1. Tương quan lực lượng ta và địch

a. Lực lượng địch

Lực lượng địch ở Trị - Thiên có 2 sư đoàn bộ binh tăng cường (8 trung đoàn bộ binh và 27 tiểu đoàn), 4 tiểu đoàn và 94 đại đội bảo an, 302 trung đội dân vệ, 5.100 cảnh sát, 13 tiểu đoàn và 5 đại đội pháo binh (258 khẩu), 3 thiết đoàn (184 xe tăng, thiết giáp). Quân địch bố trí phòng thủ trên 2 hướng Quảng Trị và Thừa Thiên, lấy Quảng Trị làm trọng điểm, hình thành 3 tuyến theo chiều sâu gồm:


Tuyến ngoài: vùng giáp ranh giữa ta và địch từ Biển Đông đến biên giới Việt - Lào, có nhiệm vụ phát hiện nhằm ngăn chặn, phá chuẩn bị của ta từ xa. Lực lượng bảo vệ chủ yếu là không quân, pháo binh, biệt kích.

Tuyến phòng thủ cơ bản: nằm giữa tuyến ngoài và tuyến phòng thủ dự bị, có các điểm cao, căn cứ quan trọng như 367, động Ông Do, 52, 365, 548, 597, 241... và các căn cứ Dốc Miếu, Quán Ngang, Cửa Việt. Có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc tiến công của ta, bảo vệ các thị xã, căn cứ, đường giao thông quan trọng và các vùng được "bình định".


Tuyến phòng thủ dự bị và phía sau: khu vực rộng từ đường số 1 ra Biển Đông là chính, chủ yếu là các thị xã, thị trấn và các hậu cứ: Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, Huế. Tuy là tuyến dự bị nhưng địch tổ chức phòng thủ như những tuyến cơ bản31, 32 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.17-18; Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.566-567).


Tổ chức phòng thủ cụ thể trên 2 tuyến cơ bản và dự bị như sau: Ở Quảng Trị, lực lượng chủ lực có 5 trung đoàn bộ binh (Sư đoàn 3 và 2 Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147,258), tổ chức thành 5 khu vực trung đoàn:

Khu vực Trung đoàn 57, từ Quán Ngang đến Dốc Miếu; Quán Ngang là điểm then chốt. Khu vực Trung đoàn 2, từ miếu Bái Sơn đến Cồn Tiên; miếu Bái Sơn là điểm then chốt. Khu vực Trung đoàn 56, từ điểm cao 241 đến Tân Lâm, 544; điểm cao 241 là điểm then chốt. Khu vực Lữ đoàn 147, từ Mai Lộc, Động Toàn, điểm cao 365, đến Phượng Hoàng; Mai Lộc là điểm then chốt. Khu vực Lữ đoàn 258, từ Tân Điền đến động Chiêm Giòng, điểm cao 367; Tân Điền là điểm then chốt.


Khu vực then chốt dự bị của Sư đoàn 3 là Đông Hà, Ái Tử, La Vang. Riêng Ái Tử có kho dự trữ từ 2 đến 3 tháng của khu vực Quảng Trị.

Ở Thừa Thiên, địch có 3 trung đoàn bộ binh (thuộc Sư đoàn 1) tổ chức thành 3 khu vực trung đoàn: Khu vực Trung đoàn I, giữ Đồng Lâm, Củng Giáp, Ca Puy, Đồng Lầm là điểm then chốt; Khu vực Trung đoàn 3, giữ đường 12, tổ chức Hiệp Khánh, Hòn Vượn thành điểm then chốt; Khu vực Trung đoàn 54, giữ La Sơn, Tân Ba, La Sơn là điểm then chốt. Trung đoàn này là dự bị của Sư đoàn 1. Khu vực then chốt dự bị của Sư đoàn 1 bao gồm Phú Bài, Gia Lê, Huế, Thuận An. Phú Bài là nơi tập trung kho lớn nhất của khu vực Trị - Thiên33 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.18-19).


Địch xây dựng và củng cố liên tục tuyến phòng thủ Trị - Thiên trong gần 20 năm, gồm nhiều công sự vững chắc, tạo nên ba tuyến bố trí theo chiều sâu. Tuyến ngoài được hỏa lực không quân, pháo binh chi viện. Tuyến phòng thủ cơ bản phía sau là tuyến ngăn chặn chủ yếu, gồm nhiều khu vực phòng thủ then chốt có thể độc lập tác chiến. Tuyến phòng thủ dự bị tổ chức vững chắc như tuyến cơ bản. Quân địch ở đây còn được sự yểm trợ tối đa của không quân có cả máy bay B-52 và yểm trợ thường xuyên của pháo hạm từ 7 đến 8 tàu khu trục Mỹ từ ngoài biển bắn vào34 (Lịch sử Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam (1945-1975), Hà Nội, 1991, tr.282).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #6 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:16:34 pm »

b. Lực lượng ta

Tình hình nhân dân

Nhân dân Trị - Thiên có truyền thống yêu nước, cảm tình với cách mạng, nhưng phần lớn bị địch kìm kẹp. Từ giữa năm 1968 đến năm 1970, do địch ráo riết càn quét, bình định, cơ sở chính trị của ta bị vỡ nhiều, phong trào chiến tranh du kích giảm sút. 80% - 90% hộ gia đình có quan hệ ít nhiều với chính quyền và quân đội Sài Gòn. Sau chiến thắng Đường 9 - Nam Lào (1971), cơ sở chính trị và phong trào quần chúng nhìn chung rất yếu. Số thôn xã quần chúng làm chủ hoặc tranh chấp với địch ít. Cơ sở Đảng ít, chưa chuẩn bị tốt việc nổi dậy của quần chúng35 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.20-21).


Tình hình lực lượng vũ trang

Lực lượng bộ đội chủ lực dự định sử dụng trong Chiến dịch này gồm có:

- Trên hướng Quảng Trị:

Bộ binh: 3 sư đoàn chủ lực cơ động 30436 (Sư đoàn 304 (tên truyền thống Đoàn Vinh Quang): tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Tư lệnh Sư đoàn Thượng tá Hoàng Đan (1970-1973) Chính ủy Thượng tá Tạ Hồng Thanh (7/1970-1/1973)), 30837 (Sư đoàn 308 (tên truyền thống Đại đoàn Quân Tiên phong): tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Tư lệnh Thượng tá Trương Đình Mậu (7/1971-4/1972), Trung tá Đào Đình Sung (Quyền Tư lệnh: 4/1972 - 7/1972), Thượng tá Nguyễn Hữu An (7/1972 - 1/1973); Chính ủy Thượng tá Nguyễn Hùng Phong (1969-1973)), 32438 (Sư đoàn 324 (tên truyền thống Sư đoàn Ngự Bình): thuộc Mặt trận B5 tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Tư lệnh Thượng tá Chu Phương Đới, Chính ủy Thượng tá Nguyễn Xuân Trà) (thiếu Trung đoàn 3); 2 Trung đoàn độc lập 4839 (Trung đoàn 48 (tên truyền thống Trung đoàn Thạch Hãn): thuộc Sư đoàn 320B, trực thuộc Mặt trận B5 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Thiếu tá Lê Quang Thúy (11/1971 - 9/1972), Trần Minh Vân (10/1972 - 10/1974); Chính ủy Trần Quang Tùy (11/1971 - 5/1972), Phan Trần Thắng (6/1972-1973)), 2740 (Trung đoàn 27 (tên truyền thống Trung đoàn Triệu Hải): thuộc Mặt trận B5 tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Trung tá Phạm Minh Tâm và Chính ủy Trung tá Nguyên Võ Hiển); 4 Tiểu đoàn độc lập 2, 3, 15, 47. Tổng cộng 34 tiểu đoàn.


Đặc công: 9 tiểu đoàn: 3 tiểu đoàn thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công (d25, d31, d35) và 2 tiểu đoàn của 2 sư đoàn chủ lực (d ĐC19/f308, d ĐC19/f304). 4 tiểu đoàn của Quân khu Trị - Thiên (d3, d7, d12, d33)41 (Bộ Tư lệnh Đặc công, Biên niên sự kiện, Lịch sử Binh chủng Đặc công Quân đội nhân dân Việt Nam (1967-1997), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.52).


Pháo binh: 6 trung đoàn pháo xe kéo (38, 164, 368, 45 và 2 trung đoàn của các Sư đoàn 304, 308), 1 trung đoàn pháo mang vác (84), 2 đại đội B-7242 (B-72: Tổ hợp tên lửa chống tăng điều khiển bằng dây 9K11 do Liên Xô chế tạo. (tên Liên Xô: "Malyutka", Mỹ ký hiệu AT-3, NATO: "Sagger", Việt Nam: B-72). B-72 gồm: bàn điều khiển, hòm đạn kiêm bệ phóng và tên lửa. Đặc tính: khối lượng phóng 11,3kg, đường kính thân đạn 120mm, dài 880mm; đầu đạn lõm, ngòi áp điện; động cơ tên lửa hai tầng; nhiên liệu rắn; cự ly phóng 500-3.000m, xuyên giáp 400mm. Sử dụng lần đầu tiên ở chiến trường Việt Nam năm 1972. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.39) (tên lửa diệt xe tăng). Tổng cộng 7 trung đoàn và 6 đại đội, gồm 390 khẩu pháo các cỡ từ 85mm, 100mm, 122mm và 130mm, cối cỡ lớn 120mm và 160mm. Ngoài ra còn có một số tiểu đoàn, đại đội pháo binh của địa phương (Vĩnh Linh và Quảng Trị).


Cao xạ, tên lửa: 1 sư đoàn (367) trong đội hình chiến đấu và 2 sư đoàn (365 và 377) bảo vệ hậu phương chiến dịch, 2 Trung đoàn tên lửa 27543 (Trung đoàn tên lửa 275 thuộc biên chế Sư đoàn phòng không 377), 236B44  (Trung đoàn tên lửa 236B (Sư đoàn 361) gồm 2 Tiểu đoàn 62, 64 và một dây chuyền sản xuất đạn gọn của Tiểu đoàn kỹ thuật 65 được điều từ Thanh Hóa vào Quảng Bình để phối hợp với Sư đoàn 365 tham gia Chiến dịch Trị - Thiên 1972. Dẫn theo Lịch sử Sư đoàn phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.169) (thiếu 2 tiểu đoàn), 5 tiểu đoàn và 10 đại đội cao xạ của 3 sư đoàn, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ của 2 trung đoàn pháo binh, nhiều trung đội 12,7mm của dân quân từ các tỉnh miền Bắc vào.


Tăng, thiết giáp: Trung đoàn 203 gồm 3 tiểu đoàn với 78 xe tăng. Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 gồm 2 tiểu đoàn với 58 xe tăng, thiết giáp các loại (gồm 16 PT-85, 36 BTR; 50 PK, 21 L-63, 4 PT-85 FR, 57 xe ô tô).

Công binh: 2 trung đoàn công binh công trình (219, 229), 6 tiểu đoàn công binh khác gồm 3 tiểu đoàn độc lập (30, 46, 1d/271) và 3 tiểu đoàn của 3 sư đoàn bộ binh.

Hóa học: 4 đại đội, trong đó có 3 đại đội của 3 sư đoàn bộ binh.

Thông tin: 5 tiểu đoàn (3 tiểu đoàn của 3 sư đoàn).

Vận tải: Tiểu đoàn 32 vận tải của B5 và 14 đại đội vận tải ô tô của các binh chủng (chưa kể lực lượng vận tải thô sơ).

Hải quân: Đoàn 126 hải quân (1A) (đây chính là Đoàn 126 đặc công nước của Quân khu Trị - Thiên) và Khu vực 5 hải quân (K5).


- Trên hướng Thừa Thiên:

Bộ binh: Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 và Trung đoàn 6 độc lập.

Đặc công: 3 tiểu đoàn (3, 7, 12).

Pháo binh: 1 tiểu đoàn Đ-7445 (Đ-74, pháo nòng dài cỡ 122mm, tầm bắn 24.000m, do Liên Xô chế tạo từ năm 1958. Khối lượng pháo ở thế chiến đấu 5.500kg, ở thể hành quân 5.550kg. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr,313), 1 tiểu đoàn súng cối 120mm và 1 đại đội B-72.

Cao xạ: 1 tiểu đoàn cao xạ 37mm và 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ 14,5mm.

Công binh: Trung đoàn Công binh 414 và 2 tiểu đoàn công bình độc lập.

Thiết giáp: 1 tiểu đoàn.

Thông tin: 1 tiểu đoàn.

Vận tải: 1 tiểu đoàn ô tô 38 xe (dùng được 20 xe).


Lực lượng vũ trang địa phương tham gia chiến dịch:

Quảng Trị: 2 tiểu đoàn, 5 đại đội bộ đội địa phương tỉnh, 8 đại đội biệt động, 1 tiểu đoàn đặc công (d10); 6 trung đội bộ đội địa phương của huyện Hướng Hóa, mỗi huyện Hải Lăng và Triệu Phong có từ 1 đến 2 trung đội.

Thừa Thiên: 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, 2 tiểu đoàn đặc công (d1, d2), Tiểu đoàn 582 chuyên đánh giao thông, 10 đại đội bộ đội địa phương các huyện (mỗi đại đội khoảng 30 chiến sĩ)46, 47 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.21-23; Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.566-568).


Không quân: hoạt động trong phạm vi 300km bán kính (từ Thọ Xuân, Anh Sơn, Vinh). Đối tượng là đánh B-52, C-130. Máy bay MIG hoạt động chủ yếu ở bờ Bắc vĩ tuyến 17. Máy bay cánh quạt lót ổ ở Tà Cơn, Đồng Hới, đột nhập, thọc sâu, đánh bằng bay thấp ngoài biển, rút nhanh, đánh nghi binh. Phải hiệp đồng với tên lửa và cao xạ, chỉ hoạt động khi thời tiết tốt48 (Cục Tác chiến, Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.568).


Trong Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, lực lượng Quân chủng Phòng không - Không quân tham gia gồm các Sư đoàn phòng không 367, 363, 365, 377... Sư đoàn phòng không 367 (Tư lệnh Đinh Đình Sành, Chính ủy Hoàng Khoát) có nhiệm vụ bảo vệ các Sư đoàn bộ binh 324, 304, 308, 325. Sư đoàn phòng không 365 (Tư lệnh Nguyễn Văn Giáo, Chính ủy Cao Văn Chấn) có nhiệm vụ bảo vệ hậu phương trực tiếp của Chiến dịch, đặc biệt đánh và khống chế máy bay B-52, đồng thời sẵn sàng vươn sâu vào chiến trường, phát triển thế tiến công và bảo đảm cho các binh chủng bạn chiến đấu. Sư đoàn phòng không 363B (Tư lệnh Trần Nhẫn49 (Trần Văn Nhẫn (1927): Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân (1977-1980), Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (1983-1995). Trung tướng (1989)), Chính ủy Đinh Phúc Hải) bảo vệ hậu phương chiến dịch, nối trực tiếp với hậu phương chiến lược ở Quảng Bình. Sư đoàn phòng không 377 (Tư lệnh Nguyễn Hữu Ích, Chính ủy Lương Tý) bảo vệ giao thông tuyến hành lang 559, để trực tiếp bảo đảm hậu cần cho Chiến dịch Trị - Thiên. Các Trung đoàn radar 290, 291 bảo đảm radar cho tác chiến phòng không chiến dịch.


Tham gia Chiến dịch còn có lực lượng không quân tiêm kích MIG-21 của Binh chủng Không quân triển khai ở các sân bay Anh Sơn, Thọ Xuân, Vinh, Đồng Hới, Gát (Khe Gát)...50 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-2013), Quyển một: Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.763).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #7 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:20:03 pm »

2. Quyết tâm và kế hoạch tiến công chiến dịch

a. Quyết tâm chiến dịch

Ngày 15 tháng 3 năm 1972, Đảng ủy Mặt trận tổ chức họp phổ biến nhiệm vụ chiến dịch tại khu rừng ở Bãi Hà, bờ Bắc sông Bến Hải, Vĩnh Linh. Bãi Hà Nội tiếng thu hút những trận bom B-52 rải thảm. Sau cuộc họp, cơ quan chỉ huy chiến dịch nhanh chóng chuyển vào vùng núi Ê Ne, cách đó 10km. Tạm thời dọc bờ sông Bến Hải yên tĩnh. Những trận bom rải thảm sẽ quay trở lại khi Chiến dịch mở màn.


Sau lần Sở Chỉ huy Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh bị trúng bom B-52 năm 196851 (Trong chiến dịch mang mật danh Arc Light, cứ 90 phút lại có một đội 3 chiếc B-52 bay đến vùng trời Khe Sanh. Loại máy bay khổng lồ này có thể đem theo 27 tấn bom. Máy bay thả bom từ độ cao hơn 30.000 bộ (hơn 9.000m), đủ để dưới mặt đất không thể nghe hay nhìn thấy... Trong suốt 77 ngày của cuộc bao vây, B-52 đã bay 2.500 chuyến, thả hơn 53.000 tấn bom. Cuộc oanh kích dữ dội nhất trong chiến dịch Arc Light và cuộc chiến Việt Nam tính đến lúc đó là một phần trong Hành quân Niaraga xảy ra vào ngày 30 tháng 1 năm 1968. Có vẻ như Trạm bắt sóng radio đã phát hiện ra Sở Chỉ huy quân đội Bắc Việt Nam của chiến dịch tấn công Khe Sanh. Nhưng không ai dám chắc là có đúng hay không, dù sao thì cả khu vực đã bị rải thảm B-52 hai lần trong một ngày". Trích lời dịch thuyết minh trong phim tài liệu Chiến tranh Việt Nam - Cuộc vây hãm Khe Sanh của Mỹ. Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=vog_Xg_lyLA), công tác bảo vệ an ninh rất được coi trọng. Do không còn thời gian xây dựng nên một cơ sở tiền phương của Quân khu 4, xây dựng từ hồi Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, được chọn làm Sở Chỉ huy. Vị trí này nằm trên sườn ngọn núi cao, rừng cây đại ngàn chưa có dấu vết bom đạn, chứng tỏ chưa bị địch nghi ngờ52 (Hữu Mai, Người lữ hành lặng lẽ, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2021, tr.434, 439).


Thiếu tướng Lê Quang Đạo, chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy, viết về phiên họp đầu tiên của Đảng ủy Chiến dịch: 16/3. Họp Đảng ủy phiên đầu tiên hoàn toàn nhất trí với Nghị quyết Trung ương, Chỉ thị Quân ủy và Quyết tâm cơ bản. Tranh luận thì cũng còn ý kiến khác nhau về mức độ giữa phương án cũ và phương án mới. Nhưng các vấn đề cơ bản thì rất nhất trí53 (Lê Quang Đạo, Nhật ký Quảng Trị 1972, Nxb. Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội, 2022, tr.22-23).


Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm: "Trong khoảng thời gian 20 đến 25 ngày tiến công, tiêu diệt cho được 4 đến 5 trung đoàn địch, thực hiện nổi dậy giải phóng Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên. Đây là chiến dịch tiến công quan trọng với lực lượng và phương tiện rất lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng diễn ra trên một không gian rộng, thời gian tương đối dài"54 (Sư đoàn 304 Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, Lịch sử Sư đoàn 304, Tập 1 (1950-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr.516).


Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương mở hai chiến dịch kế tiếp nhau:

- Chiến dịch 1: giải phóng Quảng Trị. Trong chiến dịch này, hướng chính là Quảng Trị, hướng phối hợp là Mặt trận Thừa Thiên.

- Chiến dịch 2: cùng với chiến trường Trị - Thiên sẽ phát triển thắng lợi, giải phóng thừa Thiên - Huế55 (Sư đoàn 324, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992, tr. 124).


b. Cách đánh của Chiến dịch

Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định các điểm cơ bản sau:

Phương thức tiến hành chiến dịch

Tập trung giải quyết ba vấn đề: Đánh vỡ tuyến phòng thủ bên ngoài gồm các cứ điểm Cồn Tiên, miếu Bái Sơn, 544, Động Toàn... mở cửa, nhanh chóng đưa lực lượng vào tiến công Đông Hà, Mai Lộc, Ái Tử...; Đánh vỡ hệ thống pháo binh địch; Đánh bại quân cơ động ứng chiến cỡ tiểu đoàn, trung đoàn địch.


Sẽ tổ chức tiến công trên bốn hướng: lấy hướng Tây và Tây Bắc để mở cửa và đột phá chủ yếu; hướng Đông là hướng thọc sâu; hướng Nam là hướng chia cắt chiến dịch, cắt tiếp tế vận chuyển của địch.

Chiến dịch mở đầu bằng pháo binh tiêu diệt các trận địa pháo chủ yếu của địch và kiềm chế chặt các trận địa pháo ở tung thâm chiến dịch. Đồng thời, đột phá vào phía Tây và Tây Bắc diệt các cứ điểm 544, Động Toàn, nhanh chóng hình thành thế bao vây các cứ điểm Mai Lộc, 241, để đánh viện. Ở phía Bắc, diệt cứ điểm Cồn Tiên, tạo bàn đạp triển khai binh khí kỹ thuật. Ở phía Đông, cắt đường tiếp tế Cửa Việt, diệt Duyên đoàn 11 và Giang đoàn 90. Diệt ác trừ gian, phát động quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Ở phía Nam vây ép cứ điểm động Ông Do, đánh địch tăng viện từ phía Nam ra.


Sau khi diệt một số cứ điểm vững chắc ở vòng ngoài, chiếm địa bàn có lợi, tùy tình hình diễn biến khi đó; sẽ dùng lực lượng dự bị chiến dịch (bộ binh và xe tăng) tiến công tiêu diệt địch ở miếu Bái Sơn, sau đó thọc sâu đánh thẳng vào Đông Hà hoặc Ái Tử. Nếu địch ở tung thâm mạnh hoặc co cụm lớn, phải tiến hành bao vây, tổ chức đánh dứt điểm, tiêu diệt gọn từng mục tiêu...56 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.25-26).


Các khu vực (hướng) tiến công và nổi dậy

Khu vực tiến công chủ yếu của Chiến dịch là khu vực phòng ngự phía Tây Bắc và Tây của địch. Các cứ điểm phải tiêu diệt là 544, Đầu Mầu, Động Toàn, Cồn Tiên, miếu Bái Sơn, 241, Mai Lộc. Khu vực trọng điểm để tiêu diệt quân địch lên phản kích là Cam Lộ, Thiện Xuân, Tân Kim, làng Nút, Động Ngô.


Khu vực tác chiến phối hợp là khu Bắc, khu Đông và khu Nam. Các mục tiêu cần tiêu diệt là đội hải thuyền Cửa Việt, một số đội bảo an, dân vệ. Các mục tiêu đánh phá, bao vây, uy hiếp là Dốc Miếu, Quán Ngang, động Ông Do.

Khu vực nổi dậy, trên cơ sở thắng lợi quân sự, đưa quần chúng nổi dậy giải phóng các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, chuẩn bị điều kiện giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị. Phát triển thắng lợi giải phóng Thừa Thiên. Lúc đầu tập trung chỉ đạo hai huyện Gio Linh, Cam Lộ và một phần phía Bắc huyện Triệu Phong. Tiếp theo chỉ đạo huyện Hải Lăng và một phần còn lại huyện Triệu Phong57 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.26).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #8 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:22:30 pm »

c. Bố trí lực lượng

Để thuận tiện chỉ huy hiệp đồng tác chiến, ngoài hướng phối hợp Thừa Thiên ra, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định chia thành 4 cánh:

Cánh Bắc, gồm Sư đoàn bộ binh 308 (thiếu 1 trung đoàn), Trung đoàn bộ binh 48, Trung đoàn bộ binh 27, Tiểu đoàn đặc công 33, Tiểu đoàn 15 độc lập; Trung đoàn pháo xe kéo 164 (thiếu 1 tiểu đoàn), có 24 khẩu pháo 130mm và Đ-74; Trung đoàn pháo mang vác 84 (thiếu 1 tiểu đoàn) có 16 khẩu ĐKB58 (ĐKB. Pháo phản lực mang vác 1 ống phóng, cỡ 122mm, tầm bắn khoảng 7.000-11.000m, đặt trên giá ba chân do Liên Xô chế tạo theo yêu cầu của Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ĐKB được dùng rộng rãi để pháo kích các sân bay, căn cứ, kho tàng, cụm lực lượng đối phương. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb, Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.360) và H1259 (Pháo phản lực bắn loạt, 12 ống phóng cỡ 107mm, kiểu K63 của Trung Quốc, tầm bắn khoảng 8.000m. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.433), 8 khẩu cối 160mm và 120mm; Trung đoàn pháo cao xạ 284; Tiểu đoàn pháo cao xạ 75; Tiểu đoàn xe tăng 512 (thiếu) thuộc Trung đoàn xe tăng 203; 1 Tiểu đoàn hộ binh cơ giới (bí danh A7); 2 tiểu đoàn công binh (thuộc hai Trung đoàn 239 và 229); 1 trung đội trinh sát, 1 trung đội súng phun lửa60 (Súng phun lửa: hỏa khí sát thương bằng luồng lửa phụt ra do nhiên liệu bị khí nén (hoặc khi thuốc phóng) đẩy ra và tự bốc cháy (hoặc được một mồi cháy nhờ bộ phận đánh lửa ở miệng vòi phun). Tùy theo loại súng và hỗn hợp cháy được sử dụng, chiều dài luồng lửa có thể đạt 30-300m. Súng phun lửa đầu tiên xuất hiện trong quân đội Đức (1915). Quân Pháp và Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.878); 1 trung đội trinh sát hóa học. Chỉ huy Sư đoàn 308: Tư lệnh Thượng tá Trương Đình Mậu và Chính ủy Thượng tá Nguyễn Hùng Phong61 (Nguyễn Hùng Phong (1927-2018): Chính ủy Sư đoàn 308 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 1 (1973-1976); Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị (1977-1979); Bí Thư Đảng ủy, Chính ủy Quân đoàn 2 (1979-1981); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 3 (1981); Phó Bí thư Đảng ủy, Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 1 (1981-1991). Trung tướng (1986)).


Cánh Bắc do Phó Tư lệnh Chiến dịch Đại tá Phạm Hồng Sơn62 (Phạm Hồng Sơn (1923-2013): Đại tá Phó Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Phó Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng B70, Phó Tư lệnh Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971), Viện phó Học viện Quân sự cấp cao (1978); Viện phó Viện Chiến lược Quân sự (1990). Trung tướng (1982)) và Phó Chính ủy Đại tá Hoàng Minh Thi63 (Hoàng Minh Thi (1922-1981): Đại tá, Phó Chính ủy Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Viện phó Học viện Chính trị quân sự (1973-1975); Phó Chính ủy, Chính ủy Quân đoàn 1 (1974-1978); Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh; Tư lệnh Quân khu 4 (1978- 1981), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV (1978- 1981). Thiếu tướng (1974)) trực tiếp chỉ huy với bộ phận cơ quan nhẹ giúp việc, có nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng vũ trang; địa phương, tiêu diệt 2 trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn và một bộ phận của Thiết đoàn 11 và Thiết đoàn 20; tiêu diệt một số cứ điểm ở phía ngoài (544, Đồi Tròn, Đông Mã, Cồn Tiên); nhanh chóng bao vây tiến tới tiêu diệt căn cứ ở miếu Bái Sơn, Quán Ngang; tích cực diệt viện ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc, Tần Kim, Thiện Xuân, Lăng Cô, Gia Bình...; sau đó tranh thủ phát triển thắng lợi của Cánh Tây bằng cách đưa lực lượng dự bị chiến dịch tiến công đánh chiếm động Đông Hà và sẵn sàng lực lượng để hỗ trợ các đơn vị bạn đánh Ái Tử, Quảng Trị64 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.26-27).


Bắc Quảng Trị - hướng tiến công chính của Sư đoàn 308 trong Chiến dịch là địa bàn chiến thuật quan trọng của địch, có nhiều điểm phòng ngự kiên cố: Cồn Tiên, Dốc Miếu, miếu Bái Sơn... Đông Hà là một căn cứ quân sự liên hợp nằm ở trung tâm Bắc Quảng Trị, ở ngã ba đường 1 và đường số 9. Phía Bắc có sông Cam Lộ chảy ra Cửa Việt, phía Đông tựa vào sông Thạch Hãn; phía Nam qua sông Vĩnh Phước là căn cứ Ái Tử; phía Tây là vùng cỏ tranh cây cối lúp xúp trải dài tới tận Mai Lộc, Cam Lộ, có nổi lên những điểm cao đột xuất nằm trên núi Quai Vạc và động Lôn. Địa hình thuận lợi cho triển khai binh lực đánh hiệp đồng binh chủng. Do yêu cầu giữ bí mật, Sư đoàn không được tiến hành trinh sát trước, mà phải tiến công trong hành tiến khi chiến dịch đã mở màn. Đây là khó khăn lớn. Tuy nhiên, Đảng bộ thị xã Đông Hà đã giúp đỡ Sư đoàn, cử cán bộ địa phương65 (Trong cuộc tiến công giải phóng Đông Hà, Đảng bộ thị xã Đông Hà đã cử nữ du kích Hồ Thị Bích Loan và bác Già du kích đến dẫn đường cho đơn vị. Hồ Thị Bích Loan đã anh dũng hy sinh khi vào tiếp quản Đông Hà) đến cung cấp tin tức về địa hình, về địch và dẫn đường cho bộ đội chiến đấu66 (Lịch sử Sư đoàn 308, Quân Tiên phong, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.244-245).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2026, 07:27:49 pm »

Nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị:

Trung đoàn 27, bao vây tiêu diệt cứ điểm 544, làm chủ Động Mã (ngày N + 2)67 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.27). Bước vào Chiến dịch, Trung đoàn 27 được tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 3 của Mặt trận, Tiểu đoàn 1 pháo mang vác của Trung đoàn 84, 5 khẩu súng phun lửa và 2 đại đội 12,7mm, có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ 544 (Phu Lơ), Đồi Tròn và các khu vực xung quanh trong hệ thòng phòng ngự chủ yếu của địch ở đường số 9, nhằm mở cửa phía Bắc, bảo đảm đưa lực lượng của Chiến dịch vào triên khai chiến đấu68 (Sư đoàn 320B, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.33). Chỉ huy Trung đoàn 27: Trung đoàn trưởng Trung tá Phạm Minh Tâm69 (Phạm Minh Tâm (1930-2020): Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Tư lệnh Quân đoàn 14, Quân khu 1; Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 1 (1981-1990); Phó Tổng thanh tra Quân đội, nay là Thanh tra Bộ Quốc phòng (1990-1992). Trung tướng (1989)) và Chính ủy Trung tá Nguyễn Võ Hiền.


Trung đoàn 48, đánh địch đến ứng cứu giải tỏa ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc, Tân Kim70 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.27). Trung đoàn 48 được tăng cường Tiểu đoàn công binh 15, Tiểu đoàn 75 súng phòng không 12,7mm, Tiểu đoàn 33 đặc công và một số lực lượng địa phương Quảng Bình, Vĩnh Linh, có nhiệm vụ tiến công giải phóng huyện lỵ Cam Lộ và căn cứ Cồn Tiên, tạo bàn đạp thọc sâu theo đường quốc lộ số 9 để phối hợp với Sư đoàn 308 đánh vào thị trấn Đông Hà71 (Sư đoàn 320B, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.33). Chỉ huy Trung đoàn 48: Trung đoàn trưởng Trung tá Lê Quang Thúy72 (Lê Quang Thúy: Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Phó Tư lệnh Sư đoàn 320B trong Chiến dịch Trị - Thiên 1972, Tư lệnh Sư đoàn 320B (1976-1978). Đại tá) và Chính ủy Trung tá Trần Quang Tùy73 (Trần Quang Tùy: Trung tá Chính ủy Trung đoàn 48, Phó Chính ủy Sư đoàn 320B, trong Chiến dịch Trị - Thiên 1972; Chính ủy Sư đoàn 320B (1977-1978); Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương. Thiếu tướng).


Đoàn bộ binh 31 gồm Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 3 độc lập, Tiểu đoàn đặc công 33, bao vây diệt Cồn Tiên, đánh địch ứng cứu giải tỏa ở khu vực Dốc Miếu, Cồn Tiên và bảo vệ trận địa pháo ở Lăng Cô.

Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) bao vây diệt miếu Bái Sơn cho đến ngày N + 5.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên, các đơn vị phát triển tiến công theo phương hướng: Trung đoàn 27 áp sát Đầu Mầu, tạo điều kiện cho Trung đoàn 974 (Trung đoàn 9 (tên truyền thống Trung đoàn Quang Trung): thuộc Sư đoàn 304, tham gia Chiến dịch Trị - Thiên (1972) với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Lê Quang San, Chính ủy Phạm Đức) (Sư đoàn 304) diệt Đầu Mầu và dùng một bộ phận chiếm lĩnh núi Kiếm, sau đó phát triển diệt Cam Lộ hoặc có thể trở thành đội dự bị chiến dịch. Trung đoàn 48 phát triển xuống hướng núi Kiếm, đánh địch từ Đông Hà ra ứng cứu giải tỏa hoặc có thể bao vây diệt Cam Lộ.


Sư đoàn 308 đúng ngày N + 5 phải tiêu diệt miếu Bái Sơn, sau đó dùng một lực lượng bộ binh lót sẵn ở Tây và Bắc Đông Hà, chỉ huy Trung đoàn bộ binh cơ giới (A7) phát triển tiến công Đông Hà và phối hợp với Trung đoàn 6675 (Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 tham gia Chiến dịch Trị - Thiên năm 1972 với lãnh đạo, chỉ huy: Trung đoàn trưởng Đặng Đình Hồ và Chính ủy Nguyễn Hải Hùng) (Sư đoàn 304) hoặc Trung đoàn 1 (Sư đoàn 324) đánh chiếm Ái Tử.


Trung đoàn bộ binh cơ giới (A7) tập kết ở khu vực Cẩm Phô, có thể sử dụng theo 2 phương án, trên 2 hướng Đông và Tây. Phần lớn tiến theo đường 11, 42 và 76, một bộ phận tiến theo hướng Đông để vào bao vây Ái Tử76 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hướng tiến công chiến lược Trị Thiên năm 1972, Hà Nội, 1987, tr.27-28).


Trên hướng Bắc và hướng Đông do Sư đoàn 308 đảm nhiệm, có Tiểu đoàn 28 Trung đoàn 241 và Trung đoàn 284 (Sư đoàn phòng không 365). Một bộ phận của Trung đoàn 284 là lực lượng dự bị chiến dịch77 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân (1963- 2013), Quyển một: Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-1977), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr.769-770).


Cánh Tây, gồm Sư đoàn 304 (đủ 3 Trung đoàn 9, 24, 66); Trung đoàn pháo binh 38 (có 20 khẩu 130mm và Đ-74); 4 Trung đoàn pháo cao xạ 230, 232 và 241 (thiếu 2 tiểu đoàn) và 280 (thiếu) cùng 2 tiểu đoàn tên lửa, 1 trung đội A-7278 (A-72: tổ hợp tên lửa phòng không vác vai kiểu 9K32 và 9K32M của Liên Xô (tên Liên Xô: "Strela 2", NATO: "Grail", ký hiệu Mỹ: SA-7, Việt Nam: A-72). Là tên lửa tự dẫn hồng ngoại, đường kính ống phóng 100mm, chiều dài ống phóng 1.490 (1.500)mm, đường kính tên lửa 72mm, chiều dài tên lửa 1.423 (1.440)mm, đầu đạn kiểu chạm nổ mảnh, khối lượng 0,37kg, ngòi chạm nổ. Diệt mục tiêu ở cự ly xa nhất 3.400 (4.200)m, độ cao 50-1.500 (2.300)m. Tại Việt Nam, A-72 bắt đầu được sử dụng năm 1972 và đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.18.), Tiểu đoàn xe tăng 307 (thiếu 1 đại đội tăng PT-85); 1 đại đội xe tăng thuộc Tiểu đoàn 512; 2 trung đội súng phun lửa và trinh sát hóa học, một tiểu đoàn công binh thuộc Trung đoàn 229. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 phụ trách chỉ huy cánh với chỉ huy là Tư lệnh Thượng tá Hoàng Đan79 (Hoàng Đan (1928-2003): Thượng tá Tư lệnh Sư đoàn 304 trong Chiến dịch Trị - Thiên (1972). Tham gia các Chiến dịch: Đường 9 - Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971); Tham mưu trưởng Phó Tư lệnh Quân đoàn 1 (1973); Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 (1974); Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975); Viện phó Học viện Quân sự cấp cao (1976); Tư lệnh Quân đoàn 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn (1979); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1 (1981); Cục trưởng Cục Khoa học - Công nghệ - Môi trường quân sự, Bộ Tổng tham mưu (1990); Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2015). Thiếu tướng (1977)) và Chính ủy Thượng tá Tạ Hồng Thanh. Có nhiệm vụ chung tiến công phá vỡ tuyến phòng ngự phía Tây của địch tiêu diệt Động Toàn, Ba Tum, vây ép Ba Hồ, đánh địch đi ứng cứu giải tỏa quanh Động Toàn, Ba Tum; sau đó phối hợp với cánh Bắc chiếm núi Kiếm, bao vây tiến đến tiêu diệt các cứ điểm 241, Mai Lộc, nắm thời cơ diệt Đầu Mầu, sẵn sàng đưa lực lượng tiêu diệt Ái Tử.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM