Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:34:25 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn từ đồng đội và người thân  (Đọc 3276 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:29:10 pm »

Có lần đang bàn cách đánh đồn địch nhưng do ta thiếu hỏa lực nên rất khó khăn, anh nói với tôi một câu mà đến nay tôi còn nhớ mãi: "Nếu đánh giặc dễ thì người nông dân đã làm rồi, cần gì đến những cán bộ quân sự được đào tạo rèn luyện như tụi mình". Tôi thấy ở anh một cán bộ chỉ huy đầy tâm huyết, rất tin tưởng và yêu thương chú trọng bồi dưỡng những cán bộ trẻ có năng lực và có ý chí chiến đấu. Tôi là một trong những người được anh quan tâm bồi dưỡng trong thực tiễn, dù lúc ấy tôi không phải là cán bộ đơn vị chủ lực của quân khu, mà chỉ là cán bộ đơn vị địa phương Tỉnh đội Mỹ Tho. Với cương vị là Tham mưu trưởng Quân khu 8, anh góp ý kiến với Ban chỉ huy Tỉnh đội Mỹ Tho sử dụng đơn vị tôi vào những đợt thọc sâu xuống vùng Phú Mỹ, Tân Hương, nam thị xã Tân An từ 7 - 10 km (trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 - 1973) để căng kéo địch. Không phụ lòng tin của anh và của cấp trên tôi đã tận dụng mọi thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn, đã chỉ huy đơn vị bám trụ suốt 3 tháng ròng, cơ động đánh nhỏ lẻ có trận diệt một đại đội địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được tỉnh và Bộ Tư lệnh quân khu đánh giá cao. Đến năm 1973, tôi được bổ nhiệm Tham mưu phó Tỉnh đội phụ trách Tác chiến, lại có điều kiện gặp anh thường xuyên hơn. Sự giúp đỡ, bồi dưỡng cua anh và các chú, các anh trong Tỉnh ủy, Tỉnh đọi là điều kiện thuận lợi để tôi ngày càng trưởng thành trong đời binh nghiệp.


Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, Quân khu 8 tổ chức hội nghị tổng kết. Trước Tư lệnh quân khu và lãnh đạo các địa phương Khu 8, đồng chí Tham mưu trưởng Trần Minh Phú nói vui: Lẽ ra phải gọi chiến dịch này là chiến dịch "Nguyễn Văn Huệ" vì nó kéo quá dài hơn 1 năm, thật bất ngờ mọi người cười rất thoải mái. Cũng trong hội nghị này anh đã phân tích vai trò của bộ đội chủ lực (có Sư đoàn 5 chủ lực R) để lãnh đạo địa phương đánh giá cho đúng. Mặc dù thời kỳ này chủ lực rất khó tổ chức một trận đánh then chốt vì vậy có một số người suy nghĩ: chiến dịch Nguyễn Huệ không đạt mục tiêu đề ra. Tôi nhớ anh Sáu Phú phân tích vai trò của bộ đội chủ lực trong thế trận "da báo". Chủ lực ta xuống chiến trường trọng điểm là tạo thế và lực cho lực lượng địa phương phát huy sức mạnh chiến đấu trong chiến tranh du kích, mà theo anh là một bước ngoặt ở đỉnh cao của chiến tranh nhân dân địa phương. Cách nhìn của anh Sáu Phú về chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương rất khách quan. Tùy tình hình và điều kiện cụ thể để sử dụng lực lượng nào chủ yếu, vai trò vị trí của mỗi lực lượng có một vị trí khác nhau, mà có chung một mục tiêu phải chiến thắng kẻ thù. Ở anh không có khái niệm "tranh công đổ lỗi, khen chê theo cảm tính" mà rất bao dung.


Kỷ niệm của tôi với anh Sáu Phú trong thời kỳ chống Mỹ là như vậy, nhưng đó là những kỷ niệm trong chiến đấu, còn khi hoà bình Sư đoàn 8 lên làm kinh tế khai hoang Đồng Tháp Mười, lúc này sáp nhập Quân khu 8 vào Quân khu 9. Các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công thành tỉnh Tiền Giang tôi giữ chức Tham mưu phó phụ trách Tác chiến tỉnh mới. Có lần tôi được Tỉnh đội phân công đi kiểm tra 2 tiểu đoàn của tỉnh làm kinh tế. Lúc đầu rất khó khăn, không biết làm lúa trên đất chua phèn như thế nào (tuy xuất thân từ nông dân nhưng anh và tôi đều đi tham gia kháng chiến từ nhỏ) không có kinh nghiệm gi về sản xuất lúa. Khi đến thăm anh ở Lò Gạch, hiểu những khó khăn của anh em, mở đầu anh bảo: "Mày muốn biết làm lúa trên đất phèn ở đây thì đi tìm mấy ông già nông dân mà hỏi thì làm được thôi". Thật là thực tiễn, tuy giản đơn mà chúng ta lại học ở anh một bài học trên mặt trận sản xuất.


Một lần khác khi tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 Sư đoàn 339 đứng chân hoạt động trên đường 56 (Pua Sát), lúc này anh Sáu Phú là Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979, gặp tôi anh tâm sự: "Anh nhớ chú mày quá nhưng không có điều kiện, anh đi chuyến này vào đây là mong gặp chú em", rồi anh trải lòng mình với tôi về những trăn trở suy nghĩ về tình hình tư tưởng bộ đội, anh nêu ra nhiều ý kiến phân tích sát với thực tế. Anh bảo: Hồi tụi mình đánh Mỹ được trang bị như bây giờ chắc chúng bại trận sớm hơn năm 1975. Chú mày cần chú ý, có trang bị vũ khí tốt chưa đủ, mà phải làm công tác tư tưởng tốt thì đơn vị mới hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tôi tin ở anh là một người anh, người chỉ huy quân sự năng động, đồng thời là một cán bộ làm công tác chính trị rất sâu sắc.


Dù trong lao động sản xuất, xây dựng đơn vị hay làm công tác giúp bạn, anh đều nêu cao trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, làm hết sức mình, không so đo, tính toán. Tôi đã nghe nhiều nhận xét về anh, một cán bộ tài năng, có năng lực toàn diện, nhưng luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu cấp dưới.


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Campuchia về nước (năm 1989) anh giữ cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 phụ trách mảng công tác quân sự địa phương, thì tôi là Phó chỉ huy trưởng và sau đó là Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Tiền Giang. Được cùng anh nghiên cứu tổ chức diễn tập chuyển phương thức từ xây dựng pháo đài cấp huyện sang "Khu vực phòng thủ", nhiệm vụ A2 phòng chống chiến lược phá hoại nhiều mặt. Là một cán bộ quân sự chỉ huy bộ đội chủ lực hầu như chuyên về Tác chiến chính qui, nhưng ở anh đã nghiên cứu công tác quân sự địa phương khá sâu, anh phân tích đóng góp vào phương án phòng thủ (khu vực) phù hợp, chính là một bước ngoặt trong tư tưởng chỉ đạo chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Năm 2004 tôi với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 phụ trách mảng quân sự quốc phòng địa phương (đúng vị trí công tác của anh trước đây trong những năm 1989 - 1995) tôi càng hiểu sâu thêm những đóng góp của anh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới.


Kỷ niệm về tướng Trần Minh Phú đối với tôi rất nhiều. Nhớ về anh lòng tôi mãi mãi trào dâng một niềm kính phục và lúc nào cũng tôn vinh anh là một tấm gương sáng để noi theo. Một con người lúc sinh thời đã sống cống hiến hết mình cho quân đội cho lực lượng vũ trang Quân khu 9, cho quê hương đất nước, thật đáng tự hào và ngưỡng mộ biết bao và đối với tôi, anh là một vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân mà tôi tôn kính.

Nguyễn Văn Lưỡng (Sáu Lưỡng)
Phó Tư lệnh Quân khu 9
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:32:02 pm »

VÀI KỶ NIỆM VỀ "SƯ PHỤ" CỦA TÔI

Thiếu tướng Hồ Văn Sanh


Người xưa có câu: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", ý muốn nói rằng, ai dạy cho mình một chữ là thầy mình, mà nửa chữ cũng là thầy mình! Trên tinh thần đó, tôi tôn anh bạn Sáu Phú của tôi lên làm "Sư phụ" thì chẳng có gì quá đáng, vì anh đã dạy cho tôi lắm cái hay trong cuộc sống đời thường và trong nhiệm vụ cách mạng.


Không biết do cái duyên gì mà tôi và Sáu Phú thường ở chung đơn vị, khi tập kết ra Bắc, lúc ở chiến trường miền Nam, khi đi học ở Hà Nội và suốt cả quá trình làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia. Có lúc tôi là "sếp" của anh, có lúc anh là thủ trưởng của tôi, nhưng dù ở cương vị nào, chúng tôi vẫn là "bồ" của nhau, vì chúng tôi khá "hợp gu" nhau trong nhiều mặt. Có lẽ, tôi và anh có nhiều cái "gien" giống nhau, nhưng tôi ngẫm ra, nhiều cái "gien" của anh to khỏe hơn, của tôi thường bị còi xương ốm đói, nên anh có nhiều điểm vượt trội mà tôi phải bái phục!


Có lần tôi nói với Sáu Phú: "Tôi sống với anh nhiều hơn sống với bà xã nhà tôi!". Điều này có hơi quá, nhưng đúng là tôi có nhiều thời gian sống với anh. Trong quá trình ấy, tôi thấy anh là một vị "hảo hán" rất "chịu chơi" trong nhiệm vụ, với bạn bè một "tip" người mà năm xưa được mệnh danh là "anh Hai Nam Bộ"! Sáu Phú là một "anh Hai Nam Bôn tương đối hoàn chỉnh rất biết ăn, biết nói và biết làm. Đồng thời cũng dám ăn, dám nói và dám làm chịu chơi mà có khi kẹt cũng đôi lần... "chơi chịu".


Mỗi lần nhắc đến Sáu Phú, bạn bè thường nói đến thành tích chiến đấu của anh. Tôi cũng vậy nhưng tôi thường nhớ đến những chuyện vui mà Sau Phú là một kho tàng, với nhiều chuyện tiếu lâm luôn luôn được anh cải tiến, nâng cao, tô màu, phóng đại nên rất hấp dẫn. Trong các cuộc giao lưu, "loạn đàm" với bè bạn, nơi nào có Sáu Phú thì nơi đó rôm rả thu hút khách xung quanh với nhiều chuyện trên trời dưới đất, Âu - Á, cổ kim, có thật mà như bịa, bịa mà rất vui. Khi làm nghĩa vụ quốc tế, chính cái cởi mở cái vui tính của Sáu Phú là một thế mạnh để làm công tác dân vận và để gần gũi, "xáp vô" với cái ông bạn cũng rất thích thư giãn sau những chuyến công tác và những trận chiến đấu. "Lục Tà" Sáu Phú nói với bạn bằng miệng, bằng tay, bằng mắt, bằng cả toàn thân, vậy mà bạn rất thông cảm và rất thích gần gũi. Vui là vậy, nhưng khi cần thì Sáu Phú đấu tranh rất thẳng thắn, không khoan nhượng, có lý, có tình, có tính thuyết phục, có tính nguyên tắc cao. Anh cũng là một "cây" lý luận. Điều này đã được chứng minh trong các lớp học chính trị, các cuộc sinh hoạt về chủ trương, nghị quyết của Đảng. Sáu Phú là một cán bộ khá toàn diện.


Tôi còn nhớ mấy việc, chứng tỏ "Sư phụ" tôi từ nhỏ đến lớn luôn là một cán bộ xông xáo, nhạy bén nhiệt tình.

Năm ấy, sau đợt thi đua trong huấn luyện trên quê hương miền Bắc, Ban tổng kết thi đua của Trung đoàn 660 chọn cuối cùng được 2 đại đội để bình lấy một, tặng huân chương. Đó là Đại đội 4 của Sáu Phú và Đại đội 3 của Tiểu đoàn 1.

Các vị "chức sắc" ở trung đoàn bàn mãi mà không quyết định được đại đội nào trội hơn. Các vị đành hoãn cuộc họp. Đồng chí Tham mưu trưởng trung đoàn cười hì hì nheo mắt một cái, nói với hội nghị:

- Sẽ có cách phân rõ ai hơn, nhứt định là có cách, có cách!

Sáu Phú (lúc ấy còn mang cái tên cúng cơm là Trần Văn Nhiên) rất nhạy cảm với cái nheo mắt của đồng chí Tham mưu trưởng, anh cười hề hề và lặp !ại: có cách! có cách!

Đêm ấy, anh tổ chức sinh hoạt văn nghệ, giữ tòan bộ đơn vị trong doanh trại và ngủ đúng giờ. Đến 10 giờ, cấp trên xuống báo động. Đơn vị tập hợp chỉnh tề sau 5 phút. Trong khi đó, ở Đại đội 3 cùng có lệnh báo động. Sau 10 phút, một số lính mới từ căn tin chạy về, áo quần xốc xệch. Đó là hiệu quả của cái nheo mắt của đồng chí Tham mưu trưởng mà Sáu Phú đã giải mã được và biến thành thủ khoa trong đợt thi đua. Trong cuộc họp đánh giá kết quả, Sáu Phú nhìn Năm Thành, Đại đội trưởng Đại đội 3, nheo mắt một cái kèm theo mấy tiếng hì hì. Năm Thành cũng là một "anh Hai Nam Bộ", hầm hừ nói:

- Cái thằng khôn vặt, giỏi cho ngươi! Ta chịu thua lần này, nhưng đừng vội mừng, lần sau, ngươi sẽ biết tay ta.

Hồi ấy, toàn trung đoàn chúng tôi chỉ có một cái loa công cộng nên anh em ít được nghe tin tức và nghe văn nghệ. Sư phụ Sáu Phú tôi lại có cách: Anh vận động anh em lên núi liên tục 3 ngày chủ nhật đốn củi về bán cho nhà bếp. Thế là có đủ tiền đi rinh về một cái radio hiệu Ôriôngtông mới cảo của Hungari. Để có 10 cục pin cung cấp cho nó, anh lại cho nhà bếp nuôi một con heo con. Khi khối pin trong máy sụt thế thì cục pin sống ngoài chuồng đã đủ cái thế để bán cho nhà bếp, để thay vào.


Nhờ có cái Ôriôngtông này, xê bốn (Đại đội 4) lúc nào cũng vui, thu hút được nhiều quan khách ở đơn vị bạn. Học tập cách làm của xê bốn, nhiều đơn vị khác cũng vác dao lên núi và một số máy ôriôngtông lại được mang về từ Hà Nội để đưa tiếng cười lên khắp núi đồi, nơi đơn vị đóng quân.


Cũng nên nhắc qua về việc "dám ăn" của "Sư phụ" tôi, anh to người nên ăn khỏe và ít khi để cho cái đói hoành hành. Lúc ấy ở trung đoàn có cái căn tin thứ bảy thường có vài món nhậu, hợp gu nhứt là hột vịt lộn.

Có đêm lũ về, cầu sập - ấy vậy mà "Sư phụ" tôi dám "liều mạng" lội qua sông để mang về vài chục hột vịt lộn để cho một số "lãng tử" giải sầu trên các ngọn đồi, rồi cùng nhau hợp xướng "từ là từ phu tướng..." của bác Sáu Cao Văn Lầu trong bài Dạ cổ hoài lang, hay bài "Sầu vương biên ải" mà nghệ sĩ Út Trà Ôn đã làm rơi biết bao giọt lệ. Đó là một kiểu sanh hoạt của sư phụ tôi trong một thời "ngày Bắc, đêm Nam".


Về cái "ăn", Sáu tôi có quan điểm "muốn ăn phải lăn vào bếp" và Sáu thường nghêu ngao câu Kiều được cải biên: "Nghề ăn cũng lắm công phu, muốn ăn ngon phải bỏ công ra làm". Thấm nhuần quan điểm trên, Sáu vượt sông là phải.

Những việc trên, tôi không cho là chuyện "khôn vặt" như anh bạn Năm Thành. Tôi nghĩ đó là những cái cần có của một người chỉ huy, như sự nhạy bén trong tư duy, sáng kiến trong công việc, tính chủ động, tính chịu khó... "Sư phụ" tôi có những cái đó từ lúc thiếu thời, để đến khi "thừa thời", ông đã thành một người chỉ huy giỏi và được một cái "thiếu" khác là... Thiếu tướng trong quân đội ta. Những cái "nhạy" của "Sư phụ" tôi đã biểu lộ trong một tình huống sau đây:


Năm 1989, sau khi rút quân về nước, bọn Pônpốt trở lại có ý định chiếm Bát Đom Bong rồi thừa cơ đánh thẳng vào thủ đô Phnông Pênh. Các đơn vị bạn lúng túng, bạn yêu cầu ta cho một lực lượng sang giúp để giải quyết tình thế. Sáu Phú đang tập huấn ở Hà Nội, được quyết định đi ngay sang Campuchia. Tôi cũng được cùng đi với anh (bằng máy bay). Đến nơi, ta mới có một tiểu đoàn trinh sát.


Đến Bát Đom Bong sau khi làm việc với bạn, Sáu Phú phân công đơn vị đi "biểu dương lực lượng", cho xe đi các nẻo đường. Riêng anh thì công khai đến thăm các gia đình Việt kiều và các bà con ở địa phương. Sau đó tin đồn vang: Việt Nam trở lại. Rõ ràng có "Lục tà" Sáu Phú - mà "Lục tà" (Ông lớn) này đi thì tất nhiên có nhiều quân lắm.


Lúc này địch đã đến cua chữ V, cách thị xã Bát Đom Bong không xa, chúng dừng lại để củng cố, chuẩn bị tấn công. Nhưng sau đó, chúng rút về biên giới, trong khi nhiều đơn vị của ta đã trở lại chiến trường với cái tên là "Quân đặc biệt". Các đơn vị bạn đã đứng lại được, cùng ta cứu một bàn thua trông thấy. Suy ra trong cái thắng lợi này có cái tài nghi binh của "Sư phụ" tôi, nhờ đọc Tam quốc diễn nghĩa mà bắt chước kế của Khổng Minh ngồi đàn trên cái thành không mà đối phương phải chạy.


Sư phụ Sáu Phú tôi là một cán bộ có nhiều tài nhưng cũng không tránh khỏi một số tật. Ông bà ta thường nói: "Có tài thì hay có tật", đó cũng là thói thường. Cái tật của Sáu tôi có thể thông cảm được vì nó... nhỏ xíu hà! Nhiều người tài ít, tật nhiều mới là đáng sợ.


"Sư phụ" Sáu Phú của tôi đã "ra đi", dù tuổi của anh còn kém cái "U 80" đã quá đát của tôi. Tôi tiếc thương anh, nhưng làm sao cưỡng lại được quy luật. Tôi mong ngày nào gặp lại anh, tôi sẽ được cùng anh ở một đơn vị nào đó để cùng nhau làm cách mạng, và tôi vẫn tiếp tục tôn anh là... "Sư phụ"!

Hồ Văn Sanh
Nguyễn Phó Tư lệnh Chính trị MT 979
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:34:39 pm »

NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

Đại tá Nguyễn Minh Tua
Anh hùng LLVT


Anh Trần Minh Phú (Sáu Phú) và tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời chiến đấu giải phóng miền Nam (1960 - 1975). Tuy anh Sáu Phú mất đã 5 năm nhưng mỗi khi nhớ về những đồng đội là lòng tôi lại trào dâng với bao kỷ niệm khó quên về một người cán bộ chỉ huy quân sự tài năng ở Tiểu đoàn 261 anh hùng. Gần đây chị Sáu Phú gặp tôi có gợi ý cố gắng nhớ và viết lại vài câu chuyện chiến đấu mà tôi và anh Sáu đã trải qua gắn bó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Ngày 20 tháng 7 năm 1959, tôi vinh dự nhập ngũ vào Tiểu đoàn 502 thuộc tỉnh Kiến Phong nay là tỉnh Đồng Tháp. Tôi ở đại đội của Út Thu, đại đội này anh Út Thu là Đại đội trưởng, anh Hồng là Đại đội phó. Tình hình hoạt động của quân địch lúc này sư đoàn 7 ngụy càn quét đánh phá ác liệt vào Đồng Tháp Mười, cuối tháng 9 năm 1959, đại đội Út Thu phục kích Gò Quản Cung nhằm mùa nước nổi, chúng có một tiểu đoàn địch càn vào vị trí đại đội của tôi đang đóng quân, Út Thu ra lệnh nổ súng giằng co hơn một tiếng đồng hồ, toàn thể đơn vị xung phong tiêu diệt tiểu đoàn này, bắt sống 105 tên, thu hơn 100 súng các loại. Chiến thắng này có ý nghĩa quan trọng bẻ gãy ý đồ của địch càn quét sâu vào vùng căn cứ của ta. Phát huy thắng lợi Tiểu đoàn 502 lập nhiều chiến công to lớn đẩy mạnh đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, làm tan rã hàng ngũ địch, mở rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười. Sau đó được Bộ Tư lệnh Quân khu 8 rút một trung đội của đại đội Út Thu lên lập thành tiểu đoàn chu lực của quân khu, tôi với cương vị là Tiểu đội trưởng cùng đi với trung đội này. Ngày thành lập Tiểu đoàn 261 là ngày 2 tháng 1 năm 1961 tại địa điểm Chấp Tre Hội đồng Sầm giáp ranh giữa hai tỉnh Long An và Kiến Tường, là đơn vị chủ lực đầu tiên của Quân khu 8 thời chống Mỹ. Với niềm vui phấn khởi ngày thành lập tiểu đoàn, chúng tôi bắt tay nhau thân thiết cùng với các chiến sĩ trẻ tuổi từ 18 đến 20 của quê hương đồng khởi Bến Tre, Mỹ Tho, Long An, Kiến Tường, Kiến Phong v.v... cùng nhau hẹn ước quyết tâm chiến đấu đến ngày toàn thắng.


Biên chế Ban chỉ huy Tiểu đoàn 261 lúc này là anh Tám Dần - Tiểu đoàn trưởng, anh Ba Tam - Chính trị viên tiểu đoàn, anh Ba Đào - Tiểu đoàn phó. Ở Đại đội 1 có anh Út Thu - Đại đội trưởng. Trong thời gian ngắn, tiểu đoàn tiếp tục học tập và huấn luyện kỹ, chiến thuật, tổ chức bắn đạn thật đạt kết quả tôt. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng về phát triển lực lượng vũ trang, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 261 quân khu điều động anh Hai Hoàng đảm nhiệm Tiểu đoàn trưởng, anh Tư Nam phụ trách Chính trị viên tiểu đoàn, anh Sáu Phú phụ trách Tiểu đoàn phó 1, anh Út Thu được trên quyết định lên làm Tiểu đoàn phó 2, bổ sung anh Tư Huệ về làm Đại đội trưởng Đại đội 1. Từ đây tôi được sống và chiến đấu dưới quyền chỉ huy của anh Sáu Phú. Qua năm tháng với bao kỷ niệm có lẽ sẽ không phai mờ trong tâm trí tôi về một người chỉ huy quân sự có tài năng như anh Trần Minh Phú.


Trước tình hình diễn biến phức tạp trên chiến trường, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" diễn ra vô cùng ác liệt, anh Sáu Phú là người kiên định vững vàng, định hướng cho bước đi vững chắc của Tiểu đoàn 261 là: Tích cực rèn luyện ý chí chiến đấu, thực hiện khẩu hiệu đề ra, tiểu đoàn "đi là chiến thắng, nổ súng là diệt gọn quân địch" anh luôn làm tốt công tác đảng, công tác chính, trị. Anh thường nói trong các cuộc họp cán bộ, gợi ý với đồng chí Tư Nam - Bí thư Đảng ủy tiểu đoàn lấy tiêu chuẩn số 1 để kết nạp Đảng là dũng cảm trong chiến đấu, mạnh dạn đề bạt cán bộ trong từng chiến dịch; trong chiến đấu phải hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Tôi còn nhớ rất rõ ý kiến anh Sáu Phú phát biểu trong cuộc họp Đảng ủy của tiểu đoàn: trước tình hình âm mưu thủ đoạn của Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chúng dùng 55 vạn quân Mỹ đổ bộ trên chiến trường miền Nam Việt Nam, năm 1967 tổ chức cuộc càn quét 1 Gian-xơn-xi-ty. Do đó trong lãnh đạo cần xây dựng tiểu đoàn có bản lĩnh chiến đấu kiên định, tấn công và tấn công liên tục để tiêu diệt địch, bồi dưỡng và phát triển lực lượng ta từ một tiểu đoàn rồi thành ba tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn mạnh nhất của quân khu.


Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị của quân khu Tiểu đoàn 261 được giao thần tốc hành quân từ vùng 4 Kiến Tường đến Gò Công hơn 50 km, được anh Hai Hoàng - Tiểu đoàn trưởng và anh Sáu Phú trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 261 phục kích trên lộ Gò Công. Sáng ngày 3 tháng 1 năm 1962, tiểu đoàn biệt kích ngụy do tên Thịnh đại úy chỉ huy, lọt vào ổ phục kích của ta. Tiểu đoàn 261 bao vây quân địch, nổ súng hơn nửa tiếng đồng hồ, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, toàn thể tiểu đoàn dũng cảm xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch, ta bắt sống 50 tên địch, thu 180 khẩu súng các loại trong đó có một khẩu súng đại liên; ta hy sinh 4 đồng chí, bị thương 9 đồng chí. Đến 18 giờ cùng ngày tiểu đoàn làm lễ truy điệu cho những đồng chí hy sinh, anh Sáu Phú lấy khăn lau nước mắt và trực tiếp tiễn đưa 4 chiến sĩ (Thanh, Hùng, Công, Vinh) về nơi an nghỉ cuối cùng. Trận này tôi bị thương cánh tay trái nhưng vẫn bám đơn vị tiếp tục chiến đấu. Thắng lợi to lớn của Tiểu đoàn 261 đã tạo cho đơn vị có nhiều uy tín và gắn bó trong nhân dân, tích cực hành quân luồn sâu vào hậu cứ của địch. Vì vậy khi địch nghe tiếng Tiểu đoàn 261 đã bỏ đồn trốn chạy.


Quá trình chiến đấu gần gũi bên anh Sáu Phú càng thấy rõ ở anh con người chỉ huy thể hiện có bốn chữ mà tôi nói và viết lên đây không hết, tôi không phải nhà văn, còn học vỡ lòng chỉ có đánh giặc là được, mong các tướng lĩnh và bạn bè chí cốt với anh Sáu Phú viết lên giùm làm tư liệu học tập người chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 261, bốn chữ đó la: "đức độ, tài năng". Đức độ của anh Sáu Phú thể hiện rõ nét ở trong chiến đấu, trong xây dựng lực lượng vũ trang từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh và trưởng thành chiến đấu thắng lợi. Anh Sáu luôn gần gũi sâu sát với cán bộ và chiến sĩ, mỗi khi anh em sai lầm khuyết điểm, anh không dùng đao to búa lớn, mà anh thường rỉ tai, nhỏ nhẹ tâm tình chỉ bảo cho anh em có phương hướng sửa chữa tiến bộ. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ càng thấy thương mến người chỉ huy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 hơn. Trong trận chiến thắng Ấp Bắc ngày 2 tháng 1 năm 1963, quân địch dùng xe tăng, xe bọc thép, quân Mỹ ồ ạt tấn công vào trận địa phòng ngự của Đại đội 1 Tiểu đoàn 261, đồng chí Bảy Đen - Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy luôn tâm niệm khẩu hiệu: "Tiểu đoàn 261 đi là chiến thắng, nổ súng là diệt gọn quân địch", "Cán bộ chiến sĩ còn một viên đạn cuối cùng, một hơi thở cuối cùng cũng phải giữ vững trận địa". Chiến thắng Ấp Bắc có ý nghĩa lớn, làm thất bại chiến thuật "thiết xa vận", "trực thăng vận", "bủa lưới phóng lao" của Mỹ - ngụy mở ra một khí thế mới cho toàn chiến trường miền Nam có quyết tâm thắng Mỹ.


Cán bộ và chiến sĩ Tiểu đoàn 261 vô cùng phấn khởi được Bộ Tư lệnh quân khu trao tặng lá cờ quyết chiến quyết thắng, từ bãi biển Hi-rông từ Cu Ba đến với tiểu đoàn vào ngày 2 tháng 1 năm 1964 anh Sáu Phú thay mặt tiểu đoàn nhận lá cờ này và tuyên thệ hứa hẹn trước quân khu tại xóm Đào, kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc Cai Lậy - Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang). Càng vinh dự tiểu đoàn càng mở nhiều đợt tấn công quân địch trên khắp tỉnh Mỹ Tho - Bến Tre - Long An - Kiến Tường - Kiến Phong v.v...


Tranh thủ mọi lúc mọi nơi anh Sáu Phú kể chuyện truyền thống, tinh thần giúp đỡ lớn lao của quân dân Cu Ba trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước đến ngày toàn thắng. Anh kể chuyện thành tích của đồng chí Nguyễn Văn Tư ở Mỏ Cày - Bến Tre nuôi ong vò vẽ đánh giặc trở thành Anh hùng quân đội, trí thông minh sáng tạo của dân tộc Việt Nam biết tận dụng mọi thứ có trong tay để trở thành sức mạnh, vũ khí đánh giặc, làm cho kẻ thù khiếp sợ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:36:15 pm »

Quân dân tỉnh Bến Tre ướp khô hơn 1.000 con ong vò vẽ gởi tặng nhân dân Cu Ba được triển lãm tại bãi biển Hi-rông nhân dịp ngày 5 tháng 1 năm 1969 tôi được đi Cu Ba, chị Hà Thị Quế - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam làm trưởng đoàn đến chào mừng đồng chí Phi đen, được đến thăm quân đội lữ đoàn xe tăng và nhân dân Cu Ba tại bai biển Hi-rông, tham quan sa bàn chiến đấu điều khiển bằng điện, chiến thắng bãi biển Hi-rông và xem sa bàn cùng bản đồ chiến thắng Ấp Bắc, chứng kiến thấy được khoảng 1.000 con ong vò vẽ gắn trong tủ pha lê được nhân dân tỉnh Bến Tre trao tặng, các nhà báo phóng viên Mỹ, Đức, Anh, Canada quây quần bên tôi và phỏng vấn về loại vũ khí đánh giặc của Việt Nam là bằng con ong vò vẽ và vũ khí thô sơ đã từng làm quân địch khiếp sợ.


Trước yêu cầu cách mạng, lực lượng vũ trang quân khu phải có những trận đánh lớn tiêu diệt quân địch nằm trong công sự vững chắc, lúc này càng thấy rõ tài năng của anh Sáu Phú sau khi anh nhận mệnh lệnh của quân khu sử dụng lực lượng Tiểu đoàn 261 và Tiểu đoàn 514 của tỉnh Tiền Giang tập kích tiêu diệt chi khu trù mật Hậu Mỹ thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho.


Anh Sáu Phú tổ chức đoàn cán bộ đi nghiên cứu chi khu này suốt ba đêm liền, cùng với chúng tôi bò qua 6 hàng rào kẽm gai của địch đến tận bờ thành căn cứ, nhận thấy chi khu này rất rộng ở chiều dài 900 mét, chiều ngang 600 mét, chung gom dân lập ấp chiến lược trên 3.000 gia đình ở đây, bên trong chúng xây dựng công sự vững chắc theo hình chữ nhật chiều dài 300 mét, chiều ngang 200 mét. Qua nghiên cứu phát hiện địch bố trí 3 tuyến phòng ngự vững chắc, tuyến tuyền duyên chúng bố trí hỏa lực mạnh đan chéo sẽ tiêu diệt khi đối phương tấn công vào; tuyến hai địch phòng ngự bảo vệ trận địa pháo binh, kho hậu cần xăng dầu; tuyến ba chúng sẽ co cụm phòng thủ bảo vệ sở chỉ huy có 4 cố vấn Mỹ và thông tin điện đài. Thực hiện quyết tâm chiến đấu của quân khu, anh Sáu Phú dùng ba đại đội cùng với Tiểu đoàn 514 của tỉnh Mỹ Tho tiêu diệt chi khu Thiên Hộ - Hậu Mỹ, anh Sáu Phú và anh Tư Nam, Chính trị viên Tiểu đoàn 261 quyết định giao nhiệm vụ cho tôi (Nguyễn Minh Tua) chỉ huy xung kích 1 gồm 47 tay súng, một lá cờ Quyết chiến Quyết thắng vừa mới nhận và một chiến sĩ liên lạc trực tiếp theo tôi mang theo một máy PRC25 để liên lạc với Sở chỉ huy mặt trận, lúc này tôi quá lo lắng, tư tưởng có dao động nhưng nhờ anh Sáu Phú và anh Tư Nam gọi tôi lên tiểu đoàn liên tục động viên cần bình tình, xử lý tốt các tình huống dự kiến trong chiến đấu. Đúng 18 giờ ngày 9 tháng 4 năm 1964, tiểu đoàn hành quân chiếm lĩnh trận địa an toàn. 0 giờ ngày 10 tháng 4 được lệnh nổ súng, pháo binh cấp tập bắn vào cứ điểm của địch, đặc công mở cửa rào, xung kích 1 tràn vào chiến đấu tiêu diệt quân địch. Bộ đội ta vượt qua tuyến 1 và tuyến 2 chọc thẳng vào trung tâm sở chỉ huy, tuyến 3 quân địch co cụm chống trả quyết liệt. Lúc này tôi nhận điện thoại của đồng chí Sáu Phú động viên liên tục nhờ thế phấn khởi, toàn thể cán bộ chiến sĩ xung kích 1 nhanh chóng dũng cảm đánh chiếm toàn bộ Sở chỉ huy và cắm lá cờ quyết chiến quyết thắng trên tầng lầu của Mỹ, trong đó có 2 tên Mỹ chết tại chỗ, còn lại 2 tên cố vấn đầu hàng, quân ta triển khai nhiều mũi tấn công nở hoa trong lòng địch, phối kết hợp liên lạc từ bên trong đánh ra bên ngoài đánh vào tiêu diệt toàn bộ cứ điểm này và giải phóng hơn 3.000 dân ở đây chúng tôi thật vô cùng phấn khởi. Trận này đồng chí trung đội trưởng Trung đội 1 hy sinh, hướng tấn công vào Sở chỉ huy địch anh em xung kích 1 do tôi chỉ huy 7 đồng chí bị thương, đồng chí Út 18 tuổi hy sinh, 6 giờ chiều cùng ngày toàn thể tiểu đoàn chúng tôi làm lễ truy điệu, anh Sáu Phú người chỉ huy tiểu đoàn quyết đoán trong chiến đấu, đứng trước hàng quân lấy khăn lau nươc măt khóc mãi cho đến giờ phút tiễn đưa 2 đồng chí về nơi an nghỉ cuối cùng.


Phát huy chiến thắng Tiểu đoàn 261 hành quân về giải phóng toàn bộ hệ thống đồn bót Vĩnh Kim và lãnh đạo xây dựng ý chí quyết tâm tiểu đoàn cho trận đánh lớn tập kích quân địch nằm trong công sự vững chắc đó là căn cứ Đá Xanh bà con thường gọi là cái tên là Chùa Phật Đá nằm trên kinh Nguyễn Văn Tiếp xóm Đào thuộc Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Qua 4 đêm nghiên cứu anh Sáu Phú trực tiếp lặn lội qua sông vào mục tiêu nắm được chúng bố trí xây dựng nhiều lô cốt công sự bằng đá xanh, lực lượng có 1 đại đội rất ác ôn, nhân dân yêu cầu tiêu diệt bọn lính này, sau khi trở về, đơn vị hạ quyết tâm chiến đấu, tất cả cán bộ đi trinh sát của tiểu đoàn đều chọn hướng tấn công chủ yếu là trên đất liền chiều dài gần 40 mét, có 5 lớp rào kẽm gai và bùng nhùng mới đến bờ thành của đồn địch, anh Sáu Phú phân tích triển khai hướng tấn công chủ yếu ở đấy thì quá xa phải qua nhiều chướng ngại vật không đạt yếu tố bất ngờ, có thể tình huống xảy ra thương vong lớn.


Kết luận của anh Sáu Phú bỏ hướng tấn công chủ yếu trên đất liền mà chọn hướng tấn công chủ yếu là từ dưới sông đánh lên tuy rất táo bạo nhưng sẽ đạt yếu tố bất ngờ hơn, chỉ có 2 hàng rào kẽm gai đến bờ thành lô cốt của địch. Qua phân tích và kế hoạch hợp đồng tác chiến của anh Sáu Phú anh em càng tin tưởng hơn. Sử dụng lực lượng lấy Trung đội 2 của Đại đội 1 làm xung kích 1 do đồng chí Nguyễn Minh Tua làm chỉ huy trưởng, cộng 3 chiến sĩ đặc công mang 3 trái bọc phá mỗi trái 10 kí-lô-gam với 8 chiếc xuồng ba lá, đúng 7 giờ tối ngày 9 tháng 8 bộ 1 phận xung kích 1 chúng tôi xuống xuồng bơi theo con rạch nhỏ Tân Hòa Đông rồi đến kinh Nguyễn Văn Tiếp ngang cứ điểm Đá Xanh chiếm lĩnh trận địa an toàn, một điều khó khăn nhất với chúng tôi là khi nổ súng 8 chiếc xuồng ba lá phải vượt qua con kênh nguy hiểm vì chiều ngang con kênh hơn 60 mét, độ sâu từ 5 đến 8 mét nước chảy rất mạnh, xoáy ốc. Biết khó khăn anh Sáu Phú đã làm công tác tư tưởng bằng cách phân tích rõ ưu thế của ta nếu giữ được bí mật tuyệt đối, qua đó củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ. Tôi rất phục anh Sáu là một cán bộ quân sự nhưng hiểu tư tưởng anh em và có cách giải quyết thật là chu đáo. Kết quả đúng giờ G nổ súng hỏa lực ta bắn cấp tập, đặc công mang trái bọc phá lặn qua sông châm điện nổ tung 2 hàng rào kẽm gai của địch, lúc này 8 chiếc xuồng ba lá như mũi tên vượt sông đánh chiếm bờ thành tiêu diệt lô cốt đầu cầu, triển khai lực lượng xung kích dũng cảm chiến đấu nở hoa trong lòng địch, hơn nửa tiếng đồng hồ căn cứ Đá Xanh bị ta tiêu diệt hoàn toàn, thu toàn bộ vũ khí và trang bị của địch, bắt sống 9 tù binh, guân ta bị thương nhẹ 2 đồng chí, không có ai hy sinh.


Thắng lợi to lớn của trận này được anh Tám Phương tức đồng chí Lê Quốc Sản - Tư lệnh Quân khu 8 khen ngợi Tiểu đoàn 261 đánh nhanh, diệt gọn quân địch, đơn vị không có thương vong. Được sống chiến đấu dưới quyền anh Sáu Phú tôi càng hiểu và khâm phục tác phong chỉ huy sát chiến trường nắm vững các đối tượng tác chiến mạnh yếu của địch, tổ chức chiến đấu tốt công tác bảo đảm trước, trong, sau chiến đấu Quán triệt tốt, tính nguyên tắc hợp đồng chặt chẽ giữa bộ binh xung kích, đặc công, pháo binh thông tin liên lạc. Nắm vững thời cơ, giờ G, bí mật bất ngờ nổ súng. Dũng cảm xung phong tiêu diệt gọn quân địch, giành thắng lợi lớn, ta ít thương vong. Đó là lý tưởng của người chỉ huy tài năng của anh Sáu Phú, xứng danh bộ đội cụ Hồ.


Anh Sáu Phú, Tiểu đoàn trưởng nhiều năm gắn bó với Tiểu đoàn 261 rồi tiến lên trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 8 rồi lên Thiếu tướng Tư lệnh phó quân khu, sự trưởng thành và tiến bộ đó toàn thể cán bộ trong quân khu mừng sao kể xiết.


Tin buồn anh Sáu Phú lâm bệnh nặng được Bộ Tư lệnh quân khu và các bác sĩ giỏi hết lòng cứu chữa, do cơn đau tim đột ngột anh Sáu Phú vĩnh biệt hồi 11 giờ ngày 5 tháng 4 năm 2003 thọ 73 tuổi.

Về dự lễ truy điệu anh, kính cẩn thắp một nén nhang trong hàng ngàn nén nhang khói hương nghi ngút tiễn đưa anh về nơi vĩnh hằng, yên giấc ngàn thu.

Cho phép tôi thay mặt cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn Ấp Bắc cùng gia đình anh Sáu tỏ lòng biết ơn Bộ Tư lệnh Quân khu 9, quân và dân Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Kiến Tường, An Giang, Đồng Tháp mang về đây những viên gạch hồng xây nên ngôi mộ anh Sáu Phú đẹp ý, tình người.

Nguyễn Minh Tua
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:39:17 pm »

NGƯỜI TIỂU ĐOÀN TRƯỞNG MỘT THỜI ĐÁNH GIẶC

Đại tá Phan Chiến


Đồng chí Trần Minh Phú (Sáu Phú), người cán bộ chỉ huy tài ba một thời trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở miền Nam đầy hy sinh gian khổ, tôi có dịp sống chiến đấu cùng anh trong thời gian không dài chỉ từ 1963 – 1975, với cương vị anh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 (anh hùng) là một đơn vị nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Khu 8. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 t tưởng chính trị vững vàng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc. Có được thành tích như vậy có phần đóng góp rất to lớn của người Tiểu đoàn trưởng Trần Minh Phú.


Anh là người chỉ huy đầy mưu mẹo, khôn khéo với tư tưởng tiến công đã truyền vào từng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 261 Hi-rông "Đi là chiến thắng, đánh là tiêu diệt địch". Đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt mà anh luôn quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn. Còn về cuộc sống đời thường anh là người chỉ huy, người đồng chí "buồn cùng chia, vui cùng sẻ" hòa đồng thương yêu mọi người.


Tiểu đoàn 261 là tiểu đoàn chủ lực Quân khu 8 đầu tiên thành lập trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (tháng 2 năm 1961) nên được trang bị binh khí kỹ thuật khá mạnh của thời đó, vũ khí chủ yếu là súng Mỹ thu từ chiến lợi phẩm. Tiểu đoàn được quân khu tăng cường các đại đội như: Đại đội 268 ĐKZ 75 ly Đại đội phòng không 12,8 ly, Đại đội đặc công 314 có lúc đảm nhận một hướng chiến dịch được tăng cường các Đại đội súng cối 120 ly. Bản thân tiểu đoàn ngoài 3 đại đội bộ binh ra còn có Đại đội 4 ĐKZ 57, Đại đội 5 đặc công, Đại đội 6 súng cối 82 ly và Đại đội 7 súng máy tiểu liên, quân số chung lên đến cả 1.000 người. Đơn vị có truyền thống sẫn sàng phối hợp các đơn vị địa phương, dân quân du kích mở một hướng chiến dịch "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, mở màn, mở rộng vùng kháng chiến giải phóng quê hương xây dựng chính quyền nhân dân".


Với nghệ thuật chỉ huy bất kỳ trong hình thức chiến đấu nào cũng giành thắng lợi như: phục kích, tập kích, công đồn đả viện, đánh công kiên như có dêm cùng lúc gỡ 3 đồn địch: Đồn Cầu Nò, đồn Bình Thạnh, dồn Ông Hổ ở huyện Bình Đại - Bến Tre...

Anh Trần Minh Phú là người chỉ huy vốn được đào tạo ở miền Bắc, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường miền Nam sau những năm Đồng khởi anh có những thực tế nhận định đánh giá về địch, nên trong suốt thời gian giữ cương vị là Tiểu đoàn trưởng chỉ huy đánh đâu thắng đó, gây cho địch nhiều hoang mang, khiếp sợ, buộc địch phải bị động đối phó mà vẫn không sao tránh những trận thua tan tác, nên địch dùng thủ đoạn mua chuộc và chúng treo giá nếu ai giết được đồng chí Sáu Phú chúng thưởng hàng triệu đồng. Có một việc mà tôi còn nhớ mãi địch tìm cách giết anh Sáu Phú bằng quân sự không được, chúng tổ chức cho bọn tay sai mật đóng giả thành dân mở tiệc chiêu đãi cán bộ đại đội Tiểu đoàn 261 sau trận đánh thắng lợi, chúng làm thịt chó mời trong bữa tiệc đó có tôi cùng dự, tất cả đều uống rượu đế, chỉ có ít chai bia, họ nói cái này có ít quá Tư nhường cho các anh (tức 4 đồng chí chỉ huy tiểu đoàn), nhưng với đức tính hòa đồng với anh em, đồng chí Trần Minh Phú kiên quyết từ chối nếu ít thì cũng chia chủ nhà và khách cũng uống mới vui, cuối cùng chúng phải mang vào cất không thực hiện được thủ đoạn (vụ án sau đó ta bắt thì chúng mới khai ra, ta mới biết).


Nhờ cách sống hòa đồng, ngon cùng chia, đói cùng nhường, gần gũi gắn bó với người chỉ huy và anh em cán bộ, chiến sĩ đều quý mến nhau. Trong chiến đấu sẵn sàng hy sinh để cứu bạn, trong suốt thời gian anh chỉ huy anh em đơn vị không ai muốn chịu chuyển đơn vị khác hoặc đi học, sợ khi ra trường chuyển đơn vị khác, thậm chí đi dưỡng bệnh cũng không ai muốn xa đơn vị, xa người chỉ huy là anh Sáu Phú mà anh em yêu mến, kính phục.   


Anh là người chỉ huy cao nhất của Tiểu đoàn 261, sau mỗi trận đánh anh cho bộ đội nghỉ ngơi vài ngày để kiểm điểm rút kinh nghiệm, củng cố kiện toàn bổ sung vũ khí trang bị, điều chỉnh cán bộ học tập chính trị, riêng anh cùng một số cán bộ tác chiến, trinh sát tiếp tục lên đường chuẩn bị chiến trường cho những trận đánh tiếp sau. Nên lúc nào cũng có nhiều phương án chủ động đánh địch trên địa bàn quân khu.


Tôi còn nhớ khi triển khai nhiệm vụ anh nói: "Ta đánh chỗ có địch, còn địch đánh ta thì đánh vào chỗ không có ta", và anh ít khi chấp nhận phải phòng ngự chống càn, vì địch có quân đông, trang bị hỏa lực mạnh, nhiều binh chủng hợp thành thủy lục, không quân nhiều bom pháo dội vào đội hình ta không tránh khỏi thương vong nên anh rèn luyện sức cơ động của bộ đội bằng đôi chân, đánh phía bắc cơ động phía nam; đánh phía tây bộ đội cơ động phía nam, linh hoạt luôn gây cho địch nhiều bất ngờ. Nhờ vậy mà suốt thời kỳ anh chỉ huy ít khi phải chấp nhận phòng ngự chống càn.


Tình hình phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ quân khu cần có những quả đấm mạnh hơn, phải thành lập trung đoàn, anh được nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Đồng Tháp lúc bấy giờ mới chia tay anh và nhiều đồng chí đi nhận nhiệm vụ khác nhau của trung đoàn, mỗi người một nhiệm vụ khác nhau theo sự phát triển và trưởng thành của cán bộ, nhưng cũng thỉnh thoảng gặp nhau rồi anh về nhận nhiệm vụ Tham mưu quân khu...


Cho đến chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng Mùa xuân năm 1975, thành lập Sư đoàn 8 bộ binh bấy giờ mới có dịp gặp người chỉ huy cũ năm xưa cùng đánh trận cuối cùng vào sư đoàn 7 bộ binh ngụy ở căn cứ Đồng Tâm thành phố Mỹ Tho, kết thúc 30 năm chiến tranh giành độc lập thống nhất nước nhà.


Đất nước vừa được yên thì bọn Pônpốt - Iêng xary sang lấn chiếm biên giới Tây Nam, sư đoàn lại lên đường giữ vững đất đai biên cương Tổ quốc và giúp bạn giải phóng Campuchia, anh lại tiếp tục ở chiến trường với cương vị là chỉ huy tiền phương Quân khu 9. Do yêu cầu nhiệm vụ tôi chia tay anh trên chiến trường Campuchia về Quân khu 7.


Năm 1989, có dịp gặp lại anh Sáu Phú tại Hà Nội cùng dự hội nghị tập huấn toàn quân chỉ trong vài ngày thì anh được quân khu giao nhiệm vụ trở lại chiến trường Campuchia làm nhiệm vụ theo yêu cầu. Cho đến khi quân tình nguyện về nước được biết anh với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9 với quân hàm thiếu tướng. Tôi cảm thấy thật xứng đáng và vô cùng tự hào có những người đồng đội như anh, một cán bộ quân sự tài năng, đức độ của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.


Đến khi anh nghỉ hưu và lâm bệnh, tôi có đến thăm anh ở Viện 175 khi được tin anh từ trần tôi đang công tác tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng về kịp để chào vĩnh biệt người anh, người đồng chí người chỉ huy với niềm thương tiếc vô hạn. Tôi nghĩ phải có nhiều bài viết về anh để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu về một vị tướng của lực lượng vũ trang Quân khu 9. Giá trị của lịch sử đơn vị gắn liền với bao võ công oanh liệt của những người chỉ huy như anh, không bao giờ là cũ. Không thể chìm vào im lặng của dĩ vãng được, quý lắm, giá trị vô cùng.


Phan Chiến
Chủ tịch Hội CCB tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:42:04 pm »

NHỚ MÃI ANH SÁU PHÚ,
NGƯỜI BẠN NGƯỜI ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI

Đại tá Nguyễn Xuân Phán


Trước khi vượt lộ 4 về đơn vị, tôi được nghỉ tai trạm giao liên Tân Phú thuộc huyện Cai Lậy, tình Mỹ Tho. Thật là thỏa mãn ao ước bấy lâu nay, chân đi tận nơi, mắt thấy tại chỗ địa danh Ấp Bắc, nơi ghi dấu chiến thắng vang dội làm nức lòng cả nước và bạn bè thế giới với trận đánh bại các chiến thuật tân kỳ "trực thăng vận và thiết xa vận" của địch lần đầu tiên đưa ra thử nghiệm ở chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Tôi vẫn tâm niệm được vinh dự đứng trong đội hình của Tiểu đoàn Hi-rông mà không biết Ấp Bắc coi như thiếu hẳn một mảnh truyền thống để học tập và động viên mình.


Trưa hôm sau, lợi dụng khoảng thời gian giữa hai đợt tuần tra của tàu địch, tôi được một nữ giao liên đóng vai người bán cá chở qua sông Hàm Luông về Mỏ Cày (Bến Tre), nơi Tiểu đoàn 261 đang đứng chân.

Các đồng chí trong Ban chỉ huy và anh em tiểu đoàn bộ đón tôi trong niềm hân hoan như đứa em, người anh đi xa lâu ngày mới về. Người đầu tiên ra tận bến xuồng gặp tôi là anh Sáu Phú. Anh ôm chầm lấy tôi và gỡ chiếc ba lô con cóc trên vai tôi anh xách tay vừa đi vừa hỏi chuyện gia đình tôi và bà con ngoài Bắc. Chúng tôi hân hoan trò chuyện đến tận chiều tối thì anh Sáu cùng đồng chí liên lạc dẫn tôi về nhà má Bảy nghỉ. Biết tôi còn bỡ ngỡ nhiều với chiến trường sông nước, anh Sáu Phú trao đổi kinh nghiệm chiến trường với tôi đến tận khuya và hẹn ngày mai hàn huyên tiếp.


Sáng hôm sau, khoảng 9 giờ, theo quy luật thường hết giờ địch càn quét, tôi được tham dự cuộc họp tiểu đoàn từ cán bộ trung đội trở lên để nghe anh Hai Hoàng, Tiểu đoàn trưởng (người đã chỉ huy trận Ấp Bắc) phổ biến nhiệm vụ. Lần đầu tiên tôi được giao trực tiếp chỉ huy một trận đánh ở đồng bằng sông rạch. Anh Sáu Phú ngồi cạnh tôi thỉnh thoảng thì thầm trò chuyện nhất là khi anh Hai giới thiệu trận đánh này do anh Năm ngoài Bắc mới vô chỉ huy điều nghiên, anh Sáu lại cười động viên: không phải chúng tôi thử anh đâu nhé, tin tưởng lắm đấy. Chúng tôi được quân khu giới thiệu: anh thời kỳ chống Pháp đã ở Sư đoàn 320 hoạt động ở đồng bằng sông Hồng gần đây lại về Sư đoàn 330 (Nam Bộ) ngoài ấy. Anh là người miền Bắc đầu tiên về 261 đấy. Lần chuẩn bị chiến trường này anh có dịp gặp anh Ba Sơn, Tham mưu phó quân khu, cũng là cán bộ gốc 330 mới về Nam hơn năm nay, anh Năm càng có điều kiện để trao đổi và tích lũy kinh nghiệm.


Sau hơn nửa tháng chuẩn bị, tôi đã chỉ huy đơn vị, cùng quân dân Bình Đại (Bến Tre) tiêu diệt một số đồn bót địch, phá tan hai ấp chiến lược, giải phóng hai xã cách thị trấn hơn một cây số đường chim bay, đưa thế chiến tranh nhân dân địa phương lên một bước mới. Vậy là tôi đã không hổ danh lính 261, không phụ lòng tin của các anh Hai Hoàng, Sáu phú những người ngay từ đầu đã coi tôi như ruột thịt trong nhà.


Gần 12 năm (1963 - 1975), ở chiến trường Quân khu 8 (miền Trung Nam Bộ), tôi đã có 10 năm ở cùng Tiểu đoàn 261A, Trung đoàn 1 Đồng Tháp, Tham mưu quân khu với anh Sáu Phú. Không hiểu duyên nợ thế nào mà chúng tôi cảm thấy gần gũi thân thiết tâm đầu ý hợp; trận đánh nào chúng tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ. Tôi còn nhớ lúc bấy giờ anh Bảy Sỹ (Nguyễn Văn Sỹ) - Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng quân khu thường có nhận xét: trận nào Năm Phán điều nghiên, Sáu Phú chỉ huy thì quân khu rất yên tâm và tin tưởng. Trong trận đánh quân Mỹ đêm 17 rạng 18 tháng 11 năm 1967 - trận đánh Mỹ lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long trả thù cho Chê-ghê-ra-va (Chê hy sinh ở Bolovia ngày 5 tháng 10 năm 1967) đã để lại trong tôi ấn tượng đặc biệt. Lúc bấy giờ, tôi và một số cán bộ đại đội đã chuẩn bị về Bến Tre nhận Tiểu đoàn 2 "Thép" để thành lập Tiểu đoàn 261B (Hi-rông B), nhưng anh Sáu ở Bộ chị huy tiền phương quân khu đề nghị chúng tôi ở lại d261A (Hi-rông A) chỉ huy trận này. Ta đã tiêu diệt cơ bản tiểu đoàn 3 lữ đoàn 2 sư đoàn 9 Mỹ ở đập Ông Tải, Hậu Mỹ Nam (Cái Bè - Mỹ Tho), thu 112 súng các loại, đơn vị được tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.


Không những riêng tôi, mà với các đồng chí khác mới bổ sung về đơn vị, nhất là các đồng chí vừa từ miền Bắc vào đều được anh Sáu Phú phổ biến kinh nghiệm chiến trường để hoàn thành nhiệm vụ Anh là người hiểu biết thông thạo địa hình sông rạch hầu hết các tỉnh trong quân khu, nhất là Bến Tre, Mỹ Tho. Anh còn rành đội ngũ cán bộ tỉnh đội huyện đội và các đơn vị địa phương nên khi anh phổ biến nhiệm vụ, kinh nghiệm, ai cũng thỏa mãn ít có thắc mắc.


Anh Sáu Phú là người thẳng thắn bộc trực, nhưng lại rất sâu sắc tình nghĩa, chỉ huy chiến đấu thì hết sức kiên quyết linh hoạt, xử lý tình huống kịp thời, giành thắng lợi giòn giã. Chúng tôi rất quý cái chất "Anh Hai" của anh và rất phục tư duy sắc sảo, khả năng cầm quân của anh. Về cuộc sống hàng ngày của anh cũng hết sức giản dị nên cán bộ, chiến sĩ cũng dễ gần gũi, có gì đời tư anh cũng tâm sự hết mình với anh em.


Những kỷ niệm của tôi đối với anh Sáu Phú không những chỉ có trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước và kể cả khi hòa bình thống nhất đất nước. Thời kỳ này tuy "người Nam kẻ Bắc" nhưng chúng tôi vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau.

Những tháng năm lăn lộn trên chiến trường Khu 8 đã để lại nhiều kỷ niệm để chúng tôi tự hào để mà yêu, mà nhớ, để mà hoài niệm theo độ lùi thời gian. Tôi nhớ nhất một kỷ niệm đẹp, hay nói đúng hơn, đó là nghĩa cử của người lính từng vào ra sinh tử với nhau, đó là dịp cuối năm 1975 đầu 1976 Quân khu 9 (lúc này Quân khu 8 đã sáp nhập vào Quân khu 9) bầu chọn Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, anh Sáu điện ra Bắc đề nghị tôi vào để anh cùng một số cán bộ Quân khu 8 cũ giới thiệu. Thú thực, tôi vô cùng cảm động trước tấm lòng thịnh tình của anh và các anh trong đó, song tôi xin từ chối đề nghị đồng chí Năm Thời (tức Lê Hữu Thời) người Bến Tre.


Viết về anh Trần Minh Phú, người chỉ huy tác chiến rất kiên quyêt mưu mẹo, người cán bộ đời thường có cuộc sống giản dị, liêm khiết chí công vô tư lúc đương chức thật khó, bởi anh không thích người khác khen mình, kể cả người bạn gần gũi như tôi.

Giờ đây, anh đã là người thiên cổ, nhưng tình bạn, tình đồng chí giữa anh Sáu và tôi mãi mãi không phai mờ. Tôi chỉ ân hận một điều, đó là năm 2003 anh qua đời tôi không vào được, phải mấy tháng sau.


Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2008
Đại tá Nguyễn Xuân Phán
Nguyên cán bộ Quân khu 8 thời chống Mỹ
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:44:06 pm »

NHỮNG KỶ NIỆM VỀ ANH SÁU PHÚ

Đại tá Lê Văn Tân


Cuối năm 1977 đầu năm 1978 tình hình chiến sự trên tuyến biên giới Tây - Nam diễn biến phức tạp; cấp trên quyết định điều động Trung đoàn 18 sư đoàn 325 (làm nhiệm vụ giúp bạn Lào, mới về nước) vào tham gia chiến đấu bảo vệ Hà Tiên - Kiên Giang; một địa bàn chiến lược quan trọng phía tây - nam của Tổ quốc. Cuối năm đó trung đoàn về trong đội hình Sư đoàn bộ binh 8, lúc này anh Sáu Phú đã rời đơn vị đi học, tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Tuy chúng tôi những người lính mới về đội hình sư đoàn, chưa được gặp mặt anh Sáu Phú, nhưng qua đồng chí, đồng đội từng gắn bó với anh trong chiến tranh đã kể lại và dành cho người Sư đoàn trưởng của mình những tình cảm chân thành và sự kính trọng sâu sắc.


Năm 1982, tôi mới có dịp diện kiến anh Sáu Phú trong hội nghị quân chính của sư đoàn tại Căm Pốt. Lúc này anh Sáu Phú về dự với cương vị Phó Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Là lần đầu tiên gặp và đã nghe kể nhiều chuyện về anh, nên tôi chú ý quan sát: Trong hội nghị, anh lắng nghe những ý kiến phát biểu của cán bộ cấp dưới nhất là các đơn vị cơ sở, ngoài hội nghị anh tâm sự rất thân tình với anh em. Anh có giọng nói truyền cảm luôn cuốn hút người nghe, những vấn đề cán bộ cấp dưới đề cập trong hội nghị được anh phân tích một cách thấu đáo và đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện chiến trường và thực tiễn tình hình của đơn vị lúc bấy giờ.


Năm 1985, tôi được điều về công tác tại Phòng Tác chiến Mặt trận 979, trong thời điểm ta bạn đã cơ bản hoàn thành các bước tiến công và làm chủ tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan. Các căn cứ lớn như Các Đa Mon (căn cứ của trung ương Pônpốt) Sóc San (căn cứ chỉ huy của Srây Ka) và một số căn cứ cấp sư đoàn ở tây Pua Sát, tây bắc Kô Kông v.v... bị ta tiến công triệt phá, tiêu diệt một phần sinh lực địch, số còn lại chạy qua bên kia biên giới lập căn cứ chống phá lâu dài. Với cương vị Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979 trong chiến công chung của lực lượng vũ trang ta và bạn có sự góp công góp sức rất lớn của anh Sáu Phú.


Mới về nhận công tác tại phòng tác chiến Mặt trận 979, để có điều kiện làm quen với công việc tôi được giao đảm nhiệm trực ban tác chiến tại Sở chỉ huy Mặt trận 979. Chỉ huy sở Mặt trận là một căn nhà cấp bốn, các gian chính giữa được bố trí phòng họp báo giao ban; một đầu nhà là phòng làm việc, phòng nghỉ của anh Sáu Phú - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng và đầu còn lại là phòng làm việc của trực ban tác chiến. Để kịp thời chỉ huy và chỉ đạo các đơn vị, theo quy định của Tư lệnh mặt trận duy trì chế độ họp báo giao ban hàng ngày vào buổi sáng. Với trực ban tác chiến, ngoài việc theo dõi thường xuyên bám sát tình hình các đơn vị, chiều tối đôn đốc các đơn vị để nắm và tổng hợp tình hình có lúc đến nửa đêm. Hôm sau trực ban tác chiến lại dậy sớm tiến hành các bước: bổ sung chấn chỉnh nội dung bao cáo kiểm tra lại địa danh, tác nghiệp lên bản đồ xong trước giơ giao ban. Ngày đầu làm nhiệm vụ tôi dậy sớm hơn thường lệ để tiến hành các bước chuẩn bị tại phòng họp báo giao ban. Đang mải mê với công việc thì anh Sáu Phú bất ngờ bước vào, tôi chưa kịp đứng dậy chào, thì anh đã xua tay bảo không sao. Anh hỏi: tình hình các đơn vị? Tôi báo cáo sơ bộ tình hình các mặt từ biên giới vào tới nội địa cho anh nghe. Nghe xong, anh hỏi: Cậu mới ở Sư đoàn 8 về phải không? tôi đáp: vâng ạ; anh bảo làm cán bộ Tác chiến vất vả lắm, là những người luôn đi trước về sau, thức khua, dậy sớm, cố gắng nâng cao trình độ tổng hợp tình hình, nội dung phải ngắn gọn nhưng đầy đủ và chính xác; khi báo cáo phải rõ ràng phối hợp nhịp nhàng giữa nói và chỉ bản đồ. Về sau tôi mới biết, đã thành thông lệ, anh thường sang trực ban tác chiến nắm tình hình trước khi họp báo giao ban.


Thực hiện chủ trương của trên, đưa chủ lực ta và bạn đứng hẳn trên tuyến biên giới; huy động mọi nguồn lực xây dựng tuyến phòng thủ (Mật danh gọi là K5) nhằm mục đích ngăn chặn có hiệu quả âm mưu của địch đưa lực lượng, phương tiện vào sâu trong nội địa; tạo điều kiện cho bạn xây dựng thực lực cách mạng ngày càng phát triển đủ sức đảm đương nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Những ai đã từng chiến đấu giúp bạn ở Campuchia thời kỳ này mới thấu hiểu nỗi khó khăn vất vả gian khổ mà bộ đội ta và bạn phải chịu đựng. Các đơn vị ta và bạn vừa mới cơ động chiến đấu liên tục trong suốt mùa khô, không được nghỉ ngơi, sức khỏe giảm sút, quân số hao hụt chưa được bổ sung nay tiếp tục trụ lại xây dựng tuyến phòng thủ trên một địa bàn rừng sâu, núi cao, địa hình hiểm trở nạn sốt rét, nhất là sốt rét ác tính hoành hành, cơ sở vật chất bảo đảm từ ăn mặc, thuốc chữa bệnh v.v... thiếu thốn, đường vận chuyển tiếp tế từ phía sau ra phía trước rất khó khăn, lại xa dân, xa hậu phương. Trong lúc ta và bạn bằng mọi nỗ lực cố gắng bịt chặt biên giới, thì ngược lại địch cũng liên tục đánh phá để soi mở hành lang vận chuyển hàng tiếp tế cho lực lượng của chúng ở nội địa. Vì vậy cuộc chiến đấu của bộ đội ta và bạn trên tuyến biên giới lại càng gian khổ khó khăn và không kém phần ác liệt. Trước tình hình đó, các anh: Sáu Phú, Hai Dương Tử, Năm Thông, cả ba cán bộ là Phó Tư lệnh mặt trận phân công nhau lên biên giới trực tiếp bám trụ dài ngày để chỉ đạo các đơn vị ta và bạn đánh địch, xây dựng tuyến phòng thủ trên từng hướng từ Bến Đá - Kô Kông, lên cao điểm 1271, qua đồi Chu, đồi Thum, cửa khẩu 301 đến Ô Đa, Pai Lin (Bát Đom Bong) với chiều dài gần hai trăm năm chục cây số.


Được Phòng Tác chiến phân công, tôi có dịp đi cùng với anh Sáu Phú kiểm tra tình hình và điều chỉnh đội hình đứng chân của các đơn vị trên hướng Bát Đom Bong. Thời điểm này là giữa mùa mưa năm 1985. Đến thị xã Bát Đom Bong, đoàn chúng tôi tổ chức hành quân bằng xe tải theo trục lộ 10 đến cua chữ V rẽ sang đường 10b, những chiếc xe Zin 131 oằn mình trườn qua những "ổ gà", "ổ voi" như những ao nước trên con đường quân sự làm gấp đến Vườn Cam, ngầm Săng Ke rồi An Đông nơi Sở chỉ huy Sư đoàn 330 đứng chân. Làm việc với chỉ huy sư đoàn, góp ý kiến về điều chỉnh đội hình, kế hoạch xây dựng các cụm điểm tựa của ta và bạn ở trên tuyến đường biên, lực lượng cơ động cho phía trước và chốt giữ bảo vệ tuyến hành lang ở phía sau, rồi anh trực tiếp đi kiểm tra các đơn vị đang bám trụ ở Ô Đa, Tà Sanh, Tức Sóc, cửa khẩu 301. Lên các chốt trên các điểm cao 412, 343, 509, 563, anh kiểm tra từng ụ súng từng đoạn chiến hào, góp ý cho anh em làm các thiết bị bắn đêm v.v...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:45:20 pm »

Tôi còn nhớ, thời điểm đoàn lên kiểm tra, địch đang tăng cường bâu bám đánh phá ở phía sau, nhất là trên tuyến đường 10b từ cua chữ V đến An Đông và từ Bãi Tăng đi Tà Sanh, Tức Sóc, bằng các thu đoạn phục kích, tập kích hỏa lực, cài mìn đánh phá giao thông v.v... nhằm co kéo lực lượng ta giảm áp lực trên tuyến biên giới, tạo điều kiện cho chúng soi mở hành lang, đưa hàng vào nội địa. Phân tích tình hình anh kết luận: Do ta tổ chức bảo vệ chốt đường và hoạt động đánh địch đã thành quy luật, nên địch biết cách đề phòng, không bị tiêu hao lực lượng, nên chúng ngày càng lấn tới. Rồi anh chỉ đạo cho sư đoàn và các đơn vị có liên quan trong khu vực, tăng cường lực lượng bí mật phục kích vào hai thời điểm: Nhá nhem tối và rạng sáng hôm sau (nhưng phải tổ chức nghi binh đánh lừa địch thật tốt mới có kết quả) vì chúng đã bố trí hệ thống đài quan sát ở gần, ở xa (kể cả nghe lén điện thoại, thông qua các tuyến đường dây dã chiến) để theo dõi chặt chẽ các hoạt động của ta và bạn. Hai thời điểm trên địch sẽ rất chủ quan vì cho rằng: Thời điểm nhá nhem tối bộ phận hoạt động ban ngày đã về mà lực lượng phục kích ban đêm chưa ra và rạng sáng hôm sau thì ngược lại.


Đúng như dự đoán, chỉ một tuần sau khi triển khai, ta tổ chức phục kích đánh liên tiếp bốn năm trận liền, tuy diệt không nhiều địch nhưng đã làm cho chúng phải co lại không dám lộng hành như trước.

Mùa mưa năm 1986, lợi dụng khu vực tiếp giáp giữa hai đơn vị của ta và bạn chốt giữ, địch tổ chức đánh chiếm một số điểm cao từ nam 1271, 971, 789, bình độ 700 đến đồi Không Tên do Sư đoàn 4 bạn đảm nhiệm, nhằm tạo thế đứng vững chắc làm đầu cầu đưa lực lượng, vật chất vào nội địa.


Địa hình khu vực này rất phức tạp, phía tây dãy cao điểm là đất Thái Lan được chúng cho là "vùng đất thánh" từ trước tới nay ta và bạn chưa khi nào đụng tới (Vì rất nhạy cảm về chính trị và ngoại giao) sườn phía đông dãy cao điểm dốc đứng, nhiều khe suối tạo thành hệ thống vật cản trên hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Ta và bạn đã tổ chức nhiều đợt phản kích nhằm khôi phục lại trận địa, nhưng không đạt kết quả như mong muốn.


Anh Sáu Phú - Phó Tư lệnh mặt trận được phân công lên biên giới trực tiếp chỉ huy các lực lượng ta và bạn khôi phục lại các trận địa đã mất.

Đến khu vực Bảy Nhà (Sư đoàn bộ Sư đoàn 339 đứng chân) vừa nắm tình hình vừa bàn biện pháp xử lý với đội ngũ cán bộ chủ trì. Được hỏi, nhiều cán bộ đã có ý kiến rất thẳng thắn: nếu cứ đánh vỗ mặt như vừa qua thì rất khó khăn, có đánh thắng thì tỷ lệ thương vong sẽ rất cao; tại sao ta không đưa lực lượng luồn ra phía sau, qua đất Thái Lan để đánh? Sao lại phải sợ? bọn họ cho mướn đất để địch lập căn cứ, thì ta có quyền đánh, đồng thời cũng là lời cảnh báo cho họ biết đừng dung túng bao che cho bọn diệt chủng làm "đất thánh". Anh Sáu Phú vừa đồng tình vừa cảm thông nỗi bức xúc với anh em cán bộ cấp dưới; vì chính anh đã thấy và nhiều lần đề xuất với cấp trên, nhưng vẫn chưa được chấp thuận. Sau khi nắm tình hình, làm việc với cán bộ Tham mưu cùng đi để thiết lập Sở chỉ huy tiền phương và lên phương án đánh địch. Anh trực tiếp viết diện về Tư lệnh Mặt trận 979 và cơ quan 719 với nội dung rất kiên quyết. Điện gửi đi, anh và cán bộ ở tại Sở chỉ huy tiền phương với tâm trạng thấp thỏm trông chờ. Nhưng lần này thì khác, chẳng những Bộ Tư lệnh 979 mà cả cơ quan 719 ủng hộ và đề nghị, cuối cùng được trên chấp thuận.


Thế là trong một thời gian ngắn với kiến thức quân sự và tài thao lược của anh, tổ chức bộ phận nghi binh đánh lừa địch ở chính diện, đưa phần lớn lực lượng bí mật luồn ra phía sau, bất ngờ nổ súng làm rối loạn đội hình địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các hướng, mũi phát triển tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, triệt phá nhiều kho tàng, thu nhiều súng đạn, khôi phục và làm chủ hoàn toàn tuyến biên giới từ đồi Chu, đồi Thum đến đồi Không Tên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.


Phòng Tác chiến Mặt trận 979 thời kỳ đó anh em cán bộ hầu hết quê ở phía Bắc xa gia đình, xa vợ con. Trong điều kiện khó khăn chung của đất nước, với cán bộ như chúng tôi phải dành dụm chắt bóp lắm trong hai năm mới đủ tiền trang trải cho một đợt phép về thăm quê. Công việc của chúng tôi thì vô cùng vất vả, khi vào chiến dịch thì không kể ngày đêm, nhưng chỉ cần một sai sót nhỏ thì đã có chuyện; có anh đã phải trả giá đắt, bằng cả sinh mệnh chính trị của mình. Anh em chúng tôi thường nói vui: nghề tác chiến "quyền rơm vạ đá". Tuy không nói ra nhưng anh Sáu Phú rất hiểu, cảm thông và sẻ chia với anh em chúng tôi. Trong những lúc ngập đầu với công việc, được anh Sáu ghé thăm động viên cả tinh thần và vật chất. Nhận từ anh khi thì một thùng mì cua, một cây thuốc hút hay một giỏ trái cây, vài lít rượu đế của chị Sáu gửi qua để bồi dưỡng cho anh, anh lại gửi lại cho chúng tôi. Chúng tôi hiểu và cảm phục anh, về vật chất tuy không lớn lắm nhưng nó gửi gắm vào đấy cả một tấm lòng của người cán bộ chỉ huy cấp trên đối với cấp dưới, là tình anh em đồng chí, đồng đội.


Sau này tôi về công tác tại Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân khu 9, lại có dịp phục vụ anh nhiều hơn. Trong công việc cùng như trong cuộc sống đời thường anh Sáu Phú vẫn vậy, một người chỉ huy tài năng đức độ gắn bó thủy chung với anh em, đồng đội đồng chí.

Cần Thơ, tháng 10 năm 2008
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:47:47 pm »

ANH SÁU PHÚ - SUI TÔI

Đại tá Nguyễn Hồ


Những năm tôi làm Giám đốc Công ty 404, thì anh Sáu Phú là Phó Tư lệnh Quân khu 9, mối quan hệ giữa tôi và anh là cấp trên và cấp dưới. Tuy anh là Phó Tư lệnh quân khu, nhưng anh không phụ trách về kinh tế, nên ít có dịp tiếp xúc làm việc với nhau nhiều chỉ có lúc rảnh rỗi tôi và anh hay gặp nhau hàn huyên tâm sự một cách vui vẻ. Tôi mến anh từ hồi anh còn chiến đấu giúp bạn ở Campuchia vì con người anh rất bình dân và giản dị, thoải mái, cởi mở dễ gần gũi với anh em. Tôi thích nhất là khi vui hứng anh hay hát những bài ca tiền chiến của nhạc sĩ Lê Thương như bài: "Hòn Vọng phu": "Lịnh vua hành quân trống kêu dồn, quan với quân lên đường..." mỗi lần ai hát bài hát ấy là tôi nhớ đến anh, và sau đó là những câu chuyện phiếm ai cũng rất mê anh kể có duyên, hài hước; nếu những ai mới tiếp xúc lần đầu cũng đều có cảm tình mến mộ.


Kỷ niệm của anh Sáu Phú thì nhiều lắm, nhưng tôi xin kể hai kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên:

Thứ nhất là khi tôi chưa làm sui với anh:

Dạo đó Công ty 404 xây dựng được trạm trực ở thành phố Hồ Chí Minh mà chính tôi là người xin đất của Quân khu 7 để cất trạm, chỗ trạm ở khá rộng rãi khang trang, để dễ bề giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước. Do vậy mà tôi và anh Sáu Phú đi công tác lên thành phố thường hay ghé đó để nghỉ ngơi. Mặt khác vì nhờ vả Công ty 404 gửi gắm hai đứa con ăn ở nơi đó để học đại học cho đỡ chi phí; mướn nhà; ghé trạm cũng có hai cái lợi là anh em vừa làm việc chung lại vừa thăm hai con mình ăn ở học hành như thế nào? Thật sự lúc đó tôi ít lưu tâm để ý tình cảm riêng tư của chúng nó vì một phần tôi tin tưởng con gái tôi tuổi còn nhỏ đang thời kỳ học hành chắcnó chưa để ý chuyện yêu đương; còn anh Sáu thì anh phát hiện khá tế nhị thế nào đó. Nên có một lần đồng chí Tám mập (Đức Em), Trưởng trạm 404, thỏ thẻ tâm sự với tôi: Kỳ rồi ông Sáu Phú lên đây có kêu tôi dặn dò khá tỉ mỉ "Chú mày ở đây phải có trách nhiệm với thằng Phúc (con anh Sáu) và cháu Bích (con Bảy Hồ) không để tụi nó làm chuyện gì không hay, nếu để xảy ra chuyện gì bậy bạ làm mất uy tín của tao chỉ có nước "đội quần với thiên hạ" nghe Tám. Hoặc mày không ngăn chặn có chuyện gì thì tao không gặp mặt ông Bảy Hồ nữa.


Nghe đồng chí Tám thuật lại câu chuyện anh Sáu Phú dặn, tôi càng cảm phục một con người quá tinh tế, phát hiện vấn đề khá nhạy cảm mà lẽ ra tôi phía đằng gái phải biết sớm hơn anh, dặn dò đồng chí Tám trước anh, dù sao đồng chí Tám cũng là cấp dưới trực tiếp của tôi, dễ nói chuyện hơn anh nhiều.


Sau này trở thành sui gia với anh Sáu Phú tôi mới thấy sự sáng suốt tin tưởng chu đáo của anh đã răn đe dạy dỗ con anh, nên chúng nó đã gìn giữ cho nhau để đến ngày vui thật sự cho hai gia đình.

Kỷ niệm thứ hai là chính thức làm sui với anh:

Lẽ đời anh là cấp trên, tôi là cấp dưới, tuổi tác tôi cũng nhỏ hơn anh nhiều, anh có đầy đủ uy tín nói chuyện hôn nhân cho hai đứa hoặc chỉ cần thông qua một người môi giới như anh Ba Phương là được rồi (anh Ba Phương nguyên là Phó Giám đốc lương thực Tiền Giang đã nghỉ hưu ở gần nhà anh, giữa anh và anh Ba Phương thân nhau như ruột thịt). Song anh không làm thế mà anh nhờ đồng chí Ba Quân - Giám đốc Công ty 404 thường xuyên thăm dò dư luận phía nhà gái để anh bước tới, mặt khác anh còn thận trọng nhờ thêm anh Sáu Thọ - lúc đó là Chủ tịch tỉnh Tiền Giang, anh Chín Lợi - Phó Tư lệnh quân khu nói chuyện thêm về hôn nhân của hai chúng nó. Qua những việc làm của anh tôi càng rõ một con người xử sự ở đời thường rất chân lịch sự, không ỷ quyền, ỷ thế, biết tôn trọng phía nhà gái, bởi vậy khi trở thành sui gia tôi rất quý trọng anh ở nhân cách đối nhân xử thế, từ đó
tôi suy luận ra rằng: Ở đời thường anh còn làm như huống chi ở cấp chỉ huy, được cấp trên, cấp dưới thương yêu quý trọng là phải lẽ lắm.


Tôi rất tiếc thời gian làm sui với anh quá ngắn ngủi (chỉ hơn một năm) mà anh đà sớm ra đi. Anh sui ơi! nay không còn được nhìn mặt thằng cháu nội của anh nay vừa 4 tuổi, nó rất kháu khỉnh tinh nghịch, dễ thương. Ai gặp nó cũng khen đáo để nói nó giống hệt ông nội hồi còn trai trẻ. Còn riêng tôi thì được thằng cháu ngoại trai duy nhất trong 3 cháu ngoại nên cháu rất được nuông chiều của bà nội và ông bà ngoại, cháu có cái tên khá ấn tượng là Trần Nguyễn Anh Khôi để kỷ niệm sui gia hai họ Trần - Nguyễn.

Nguyễn Hồ (Bảy Hồ)
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2026, 08:23:54 pm »

NHỚ VỀ CẬU TÔI


Thời gian thấm thoát trôi nhanh quá, mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng mỗi lần về quê đi ngang qua bờ dừa này, nó cũng giống như những bờ dừa khác nhưng sao tôi thấy bồi hồi xúc động, những kỉ niệm bé thơ lại hiện về trong kí ức.


Ngày xưa, nơi đây có một ngôi nhà lá bé nhỏ nằm bên những gốc dừa lão cao ngất; bây giờ nhớ lại tôi còn thấy sợ, tôi thầm cảm ơn những trái dừa có mắt nhân từ. Không biết ngôi nhà có tự bao giờ nhưng từ khi biết cảm nhận được tôi thấy mình đã sống ở đây với ông bà ngoại và cậu tôi đó là (Trần Nhiên) Thiếu tướng Trần Minh Phú sau này, nhưng thỉnh thoảng cậu mới về thăm nhà. Mỗi lần cậu về tôi mừng rỡ chạy lúp xúp, quấn quýt theo chân cậu, vòng tay bé nhỏ ôm chặt cái đùi to trắng muốt, lúc đó tôi chỉ cao có bấy nhiêu, cậu tôi âu yếm nựng nịu và nói: "Cái mặt giống hệt trái bần dĩa". Tôi không hiểu đó là trái gì mãi đến sau này trên đường về quê bằng đò máy thấy những nhánh bần gie ra sông, trái nó lớn lắm và dẹp như cái dĩa bàn, tôi mỉm cười nhớ lại sự so sánh ngộ nghĩnh của cậu tôi. Tuy xuất thân trong một gia đình bần cố nông nhưng cậu không vạm vỡ như một nông dân mà có nét "Trương Phi", hiên ngang và oai phong như con nhà quyền quý. Dáng dấp cao lớn như người châu Âu, nước da trắng mịn màng, dáng đi như hổ, dáng ngồi như thạch giọng nói ấm nhưng vang xa. Tôi nghe kể cậu tôi đi bộ đội rất sớm, mới 16 tuổi; ông bà tôi nhớ lắm thỉnh thoảng ông bà tôi làm chiếc bánh bao ngon đi thăm cậu, đi bộ đội rồi mà ông tôi vẫn còn hôn hoài. Cậu kể lúc đó mắc cỡ cứ nói "Ba kì quá!". Từ lúc bé thơ ở làng quê Châu Hòa, cậu tôi đã nổi tiếng là "Năm Nhiên đẹp trai, thông minh nhất", trò chơi nào cậu tôi cũng chiến thắng. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ dáng dấp của cậu tôi lúc còn thanh niên cổ quấn khăn rằn, vai đeo súng. Cậu là hình ảnh tiêu biểu của anh "Bộ đội Cụ Hồ" mà nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca:

   "Hoan hô anh giải phóng quân!
   Kính chào anh con người đẹp nhất,
   Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
   Sống hiên ngang bất khuất trên đời
   Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi"...



Từ nhỏ, tôi đã xem cậu như người cha kính yêu của mình. Có lẽ vì thương cảm cho đứa cháu sớm mồ côi cha, không ở gần mẹ, vừa thôi nôi đã sống với ông bà ngoại nên cậu cưng tôi nhất nhà. Vì thế hễ lâu không thấy cậu về tôi nhớ lắm cứ theo hỏi ông bà. Bà tôi trả lời: "Cậu đi tập kết hai năm sau độc lập mới về". Với trí óc non nớt tôi không hiểu nổi hai từ "tập kết" và "độc lập" là gì nhưng tôi mừng lắm cứ gặp ai cũng khoe "hai năm nữa độc lập cậu năm về". Thế rồi thời gian cứ trôi đi, mãi tới năm tôi 11 tuổi, gia đình tôi tản cư ở Phú Hưng thì được tin mừng cậu tôi đã về Nam rồi và đã về tới Châu Hòa. Tôi thấy hồi hộp vui sướng lạ thường vì được đi thăm cậu. Sau bao năm xa cách, bây giờ gặp lại người thân yêu nhất tôi mừng lắm vì ngày cậu đi, tôi mới 4 tuổi. Gặp lại cậu là tôi nhận ra ngay vì hình ảnh hiên ngang oai hùng đó đã in sâu vào đầu óc non nớt của tôi tự thuở nào. Cậu ôm chầm lấy tôi hôn khắp đầu, khắp trán, tôi sung sướng hạnh phúc như được sống trong vòng tay của người cha thân yêu, cái tình phụ tử mà tôi không có được. Từ ngày cậu trở về Nam chiến đấu, tôi là người đi thăm cậu nhiều nhất, tiếc là ông tôi qua đời sớm nên không thấy được ngày vinh quy của con trai, một sĩ quan trẻ tuổi.


Chiến tranh mỗi lúc một ác liệt hơn, khoảng cách thăm cậu càng cách xa dần. Tôi còn nhớ năm học lớp 10, khoảng năm 1969 - 1970 tôi cùng bà ngoại theo cô giao liên đi thăm cậu. Tôi mặc chiếc áo trắng, tay xách cặp như đang đi học. Trên đường đi phải khéo léo tránh những tai mắt của "chiêu hồi". Cô dẫn tôi đến Nhị Quý rồi xuống ghe đi một đỗi, sau đó qua cánh đồng rộng đến nhà anh Sáu anh. Hôm đó trời mưa nhiều mà phải lội ruộng sống ở thành thị lâu rồi, chân không lấm đất, nhưng được gặp cậu thì tôi phấn khởi lắm không sợ máy bay hay bom đạn gì cả, cố gắng lội nhanh theo anh Nhành. Chốc, chốc anh thương tình dừng lại tôi mà trách: "Mầy đi lâu quá!". Cuối cùng, tôi và ngoại cũng đến một ngôi nhà lá ẩn dưới lùm cây có cậu tôi ra đón. Cậu hôn tôi như thời thơ ấu, tôi thấy mình bé nhỏ lạ thường mặc dù lúc này tôi đã là một thiếu nữ. Đêm đó tôi ngủ sớm bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng trò chuyện của bà và cậu. Gà gáy sáng tôi và bà phải chia tay cậu, vừa ra khỏi nhà chừng 100 m, tôi trượt té xuống sình, bà mắng tôi một trận nhưng cậu thì dịu dàng vỗ về: "Có đau không con gái, vô gốc dừa thay đồ đi con". Ngoài chiến trận câu tôi là anh hùng nhưng trong gia đình cậu tôi rất dịu dàng, vui vẻ. Thế rồi thời gian trôi đi, chiến tranh càng ác liệt hơn, đôi chân cậu tôi đi khắp nẻo đường Nam Bộ, còn tôi vào sư phạm Vĩnh Long, mỗi lần xe đò đi ngang qua Nhị Quý - nơi đơn vị của cậu Nhiên hoạt động mà tôi có lần được vào thăm tôi đều dõi mắt nhìn theo thương nhớ...


Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, gia đình tôi được sum họp, cậu tôi trở về oai vệ lạ thường, mặc dù đã hơn tứ tuần nhưng cậu tôi vẫn còn đẹp lắm, có lẽ vì thế mà cậu mắc "cái nạn đào hoa" cũng phải. Cậu tôi kể chuyện hay lắm, có những câu chuyện chiến trường sao mà khủng khiếp hơn cả trong phim. Còn chuyện lúc nhỏ tôi đã quên rồi nhưng cậu vẫn nhớ, cậu kể trước khi tập kết có lần cậu về thăm nhà thì tên trưởng đồn dẫn lính tới, cái nhà lá bé nhỏ quá không có chỗ nấp, cậu vội vã chung dưới gầm giường; ông tôi liền chạy ra cửa dã lã nói chuyện với chúng; còn tôi khum dưới đất miệng la: "cậu Năm ơi, cậu Năm" cậu tôi quýnh quá vội moi cục đất táng vào "trái bần dĩa"; tôi đau quá khóc ngất. Sau này, mỗi lần kể lại cậu nói "Thấy nó khóc thương hết sức". Tôi nghe kể cũng tự trách mình còn chút nữa hại chết cậu rồi.


Đất nước đã hoàn toàn giải phóng, nước nhà độc lập rồi, những bạn đồng liêu với cậu đa số đã "gác súng" để về tỉnh làm nhiệm vụ của một "quan văn" nhưng có lẽ cuộc đời binh nghiệp đã gắn liền với số phận nên cậu tôi vẫn còn tiếp tục đánh giặc. Năm 1976, cậu thì trấn biên cương, mợ thì đau bệnh nên gởi bé Hạnh vừa tròn 4 tuổi về ở với tôi. Nhìn Hạnh tôi thấy thương vô cùng. Tôi mồ côi thiếu thốn tình thương phải rồi, còn Hạnh con nhà "quan" lỡ ra trong thời chiến, từ thuở nằm nôi đã sống ở chiến trường, mới 18 tháng gởi về nhà bác, đến khi gặp lại cha thì không nhận ra, run sợ khóc thét lên không dám đến gần. Hòa bình rồi mà cũng không sống gần cha mẹ phải về ở với chị. Con bộ đội thời chiến chinh sao mà tội nghiệp quá! Nhìn những đứa con của cậu tôi, con nhà tướng mà phải vất vả cực nhọc, tôi thương chúng vô cùng.


Thế rồi những năm 1980, cứ mỗi lần nghỉ hè tôi lại về Tiền Giang sống chung với mợ. Suốt mỗi mùa hè, tôi chỉ được gặp cậu một lần, đó là lúc cậu từ Campuchia về thăm nhà, có khi chỉ được ít hôm thì có điện khẩn phải đi ngay. Chiến trường Campuchia càng ác liệt thì cậu càng ít về hơn. Suốt cuộc đời cậu tôi gắn liền với trận mạc. Trên đầu, sau ót cậu tôi có những vết sẹo đến phát sợ, thế mà trước khi rút quân về nước cậu tôi còn phải trả cái nợ chiến tranh bằng những vết thương cuối cùng ở chân vì bị phục kích trên đường trở lại chiến trường Campuchia.


Hơn 50 năm binh nghiệp, chiến trường là nhà cậu tôi về hưu ở tuổi 70, thế nhưng tôi thấy cậu có vẻ còn tiếc lắm. Có lẽ vì làm việc quá sức nên lúc về già cậu tôi mắc nhiều chứng bệnh khó trị. Cậu qua đời sau cơn bệnh nặng, tôi đau lòng lắm. Thế là từ nay tôi vĩnh viễn mất cậu rồi. Chắc cậu tôi ra đi thanh thản lắm vì đã làm tròn nợ núi sông. Ngôi đình làng Châu Hòa lại viết thêm tên một vị thần mới "Thiếu tướng - Trần Nhiên".


Vĩnh biệt cậu, người Bộ đội Cụ Hồ, cậu đã ra đi rồi nhưng hình ảnh cậu và những chiến công hiển hách vẫn sống mãi với bạn bè, với những người thân với non sông đất nước.


Viết xong tháng 4 năm 2008
Nguyễn Thị Đẹp - Bến Tre
(Cháu ruột gọi ông Sáu Phú bằng cậu)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM