Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận đánh cuối cùng  (Đọc 3009 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2026, 09:11:19 pm »

- Tên sách: Trận đánh cuối cùng
- Tác giả: Trần Đình Tám
- Nhà xuất bản: Thanh Niên
- Năm xuất bản: 2013
- Người số hóa: giangtvx, thongdiepthoigian
 
 
Đôi lời cùng bạn đọc


Nói đến chiến tranh là người ta hình dung ra sự hủy diệt, tàn phá nặng nề những thành quả mà con người đã xây dựng được, sự mất mát, đau thương, nỗi hận thù sắc tộc, quốc gia v.v... Hậu quả mà chiến tranh để lại có thể 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa mới khắc phục được nhưng có những vết thương lòng thì khó có thể hàn gắn được.


Con người biết điều đó, nhưng chiến tranh vẫn xảy ra trên thế giới này mà những nước lớn có tiềm lực kinh tế, quốc phòng thường hay uy hiếp nước bé, xâm lược nước bé. Đặc biệt là cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam với tương quan lực lượng của hai nước thật là chênh lệch: Mỹ có sức mạnh vô cùng to lớn về kinh tế, quốc phòng, nhưng cuối cùng, Mỹ đã phải thất bại, rút quân về nước. Việt Nam đã chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 đất nước đã thống nhất.


Với những trải nghiệm, vốn sống mà tác giả tích lũy được trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ của dân tộc, thông qua lời kể của các nhân chứng tác giả Trần Đình Tám đã viết cuốn: "Trận đánh cuối cùng" là một tập truyện ký, tái hiện phần nào cuộc chiến tranh ở Việt Nam do Mỹ tiến hành.


Ở tác phẩm này, tác giả không kể về những trận đánh hay tài thao lược quân sự của quân đội và các tướng lĩnh Việt Nam mà giúp chúng ta hình dung phần nào về công tác chuẩn bị, sự công phu, việc đầu tư tốn kém của quân đội Mỹ khi tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng sự công phu ấy, sức mạnh kinh tế và quốc phòng của nước Mỹ đã phải thất bại trước sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn của nhân dân Việt Nam.


Tác phẩm này góp phần sáng tỏ một chân lý mà bao thế hệ người Việt đã minh chứng: Sức mạnh tinh thần, lòng dũng cảm, sự nghiệp chính nghĩa của một đất nước sẽ chiến thắng bất kỳ kẻ thù nào, dù kẻ thù đó được trang bị cả những thứ vũ khí tối tân hiện đại.
   

Những trang viết của nhà văn đưa người đọc trở về với một cuộc chiến tranh đầy máu lửa của một thời đã qua, chứng kiến lòng quả cảm và đức hy sinh tuyệt vời của một dân tộc, dân tộc ấy sẵn sàng chiến đấu, hi sinh tất cả vì độc lập tự do, vì chân lí "Không có gì quý hơn độc lập tự do" mà ông cha ta và Bác Hồ truyền lại đã trở thành chân lí sống của mọi thời đại chúng ta...


Tác phẩm cũng cung cấp cho ta cái nhìn của những người Mỹ có lương tri, sự cảm thông của họ với nỗi đau thương mất mát của người Việt Nam trong chiến tranh... Là nạn nhân của cuộc chiến nhưng với truyền thống nhân đạo cao cả, dân tộc Việt Nam vẫn sẵn sàng xóa bỏ hận thù, "làm bạn với tất cả", với tấm lòng cởi mở, bao dung, nhân hậu, thông qua nỗi đau của mình, để thấy người Mỹ cũng phải chịu khổ đau bởi vì rất nhiều người trong số họ cũng từng là nạn nhân của cuộc chiến tranh ấy.


Cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam đã kết thúc, nhưng đến nay người ta vẫn chưa thống kê được đầy đủ, chính xác những liệt sĩ đã hi sinh ở chiến trường Việt Nam. Sau chiến tranh, người mất, người còn, người tàn phế, người phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chất độc da cam, nhưng chắc chắn người phải chịu đựng nỗi đau lớn nhất là những bà mẹ Việt Nam mà có lẽ cho đến giờ, trong số họ, vẫn còn những bà mẹ vẫn chưa tắt niềm hi vọng đứa con thân yêu của mình trở về...


Chiến tranh chỉ mang lại nỗi đau khổ cho con người. Không ai muốn chiến tranh xảy ra... Quả đất này là mái nhà chung của nhân loại - Đó chính là thông điệp mà tác phẩm này muốn gửi đến bạn đọc. Chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ được độc giả nồng nhiệt đón nhận.


Xin chân thành cảm ơn bạn đọc.
   
NGUYÊN HÀ
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #1 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:48:30 pm »

Một chiều cuối đông năm 2010. Bác Thắng với vẻ mặt không vui lại hay thở dài. Thấy vậy, Hà - người cháu ruột hỏi bác:

- Bác cảm thấy trong người thế nào?

Bác ôm đầu một lúc rồi nói trong nỗi buồn:

- Năm nay bác gần bảy mươi tuổi rồi. Bác đã trải qua một quãng thời gian khá dài, lăn lộn trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Ở lứa tuổi này thường nghĩ về những kỉ niệm. Những năm tháng ở chiến trường miền Nam (1960-1975) bác đã bị nhiễm chất độc hóa học, bác đã nhìn thấy những rừng cây cháy trụi, mùi cỏ khô bị thiêu cháy, cảnh tượng thật điêu tàn, hoang lạnh đến thê lương. Đó là những hình ảnh đầu tiên bác thường nhớ tới. Thế nhưng chiến tranh ác liệt đến thế mà bác vẫn sống trở về với các con. Và cũng rất may, các con bác lại được sinh ra trước khi bác vào Nam chiến đấu. Trong cuộc chiến tranh ác liệt đó lớp lớp thanh niên nam nữ vào chiến trường. Không biết bao nhiêu người đã hi sinh... Những người chiến sỹ cùng chiến đấu với bác, đến nay bác cũng không biết ai còn ai mất, vì tuổi già, bệnh tật...


Dù sao bây giờ nhớ lại cảnh chiến tranh là điều không đơn giản. Khi năm tháng qua đi, cái mới xuất hiện, cái cũ mờ dần. Trong bối cảnh hiện nay, "cơ chế thị trường" mỗi người ít nhiều đều mang tính cá nhân. Có rất nhiều cuốn sử đã ghi chép chân thực quá khứ nhưng một số người chỉ muốn nói quá khứ vĩ đại. Nhiều lúc bác cảm thấy như họ muốn phô diễn một điều gì đó. Bác cảm thấy họ không chú ý đến quá khứ lịch sử, tới những bức xúc với thời cuộc. Tính lịch sử của một thời chiến tranh rất mờ nhạt, đơn giản. Bác thấy trăn trở khi tuổi đã về già. Nếu những chứng nhân không nói gì thì lịch sử cũng không thể cất lên tiếng nói chân thực của nó, thời gian trôi đi, bóng tối phủ lên, quên lãng phủ lên, thì cái thời mở nước, giữ nước chỉ còn lưu lại là những cột mốc của chiến công. Thực tế cuộc sống đã làm cho bác trăn trở, những bóng đổ ấy sẽ bị màn đêm nuốt chửng. Không có cách gì khác. Ký ức của bác đang càng ngày cách xa cái thời điểm mà bác cùng với lớp lớp chiến sỹ lặn lội hi sinh trong chiến tranh, nơi mà không ít đồng đội của bác đã nằm lại đấy. Đến bây giờ, ở đó chỉ còn là cảnh trí, chiến trường rộng lớn từ Mục Năm Quan đến mũi Cà Mau là còn trở lại với bác, lần này qua lần khác như khuôn hình tiêu biểu của một bộ phim.


Những cái ấy nó đã kích động một nơi nào đó trong tâm trí bác - Hãy nhớ đi - Nó nói với bác chiến tranh là một sự hi sinh, đổ máu... Đó là một điều đáng suy ngẫm. Những người cầm súng giết giặc ngoại xâm thắng lợi rồi nay họ ra sao? Hãy nghĩ xem tại sao một cường quốc giàu có như Mỹ, một đất nước nghèo đói như Việt Nam lại dám đánh Mỹ và thắng Mỹ? Đất nước thống nhất là điều vui sướng với tất cả mọi người. Nhưng điều làm tất cả chúng ta đau lòng và suy ngẫm là sự phân hóa người giàu kẻ nghèo vẫn còn tồn tại.


Đó là lý do bác kể về cuộc chiến tranh mà bác đã tham gia. Để suy ngẫm. Có hòa bình hôm nay phải đổi bằng xương, bằng máu thịt. Nhưng ngày hôm nay vẫn còn một số cảnh kẻ tha hồ từng bát người thì khao khát từng ly, của cải vật chất không phải của mọi người mà lại tập trung vào một số người. Điều đó làm chúng ta trăn trở. Chiến tranh xảy ra bất kỳ nơi nào trên thế giới đều làm cho con người đau khổ.


Nói đến đây bác ngước mắt lên nhìn Hà với cặp mắt đầy hi vọng. Hà nói:

- Cháu sẽ viết được những điều ước mong của bác. Nhưng thực sự cũng có những khó khăn vì cuộc chiến tranh đã thuộc về quá khứ. Bác phải chắp nối các mối liên hệ trong chiến tranh của thế hệ bác và thế hệ của cháu, cấu thành một tập ký về chiến tranh. Có lẽ nó sẽ không theo một trật tự thời gian, nhưng có tính lôgic và chân thật.

- Tuy nói vậy, Hà vẫn lo lắng và thầm hứa: "Cố gắng viết để bác yên lòng khi nhắm mắt xuôi tay, không có gì ân hận".

- Bác cứ yên tâm mà nghỉ cho khỏe; sống được lâu hơn nữa. Mọi việc đã có thế hệ con cháu của bác sẽ tiếp tục đảm nhận, gánh vác... Chắc chắn ngày mai đất nước sẽ sán lạn. - Hà nói với bác như vậy.

Bác nở nụ cười tin tưởng:

- Bác rất tin tưởng điều đó. - Nói xong câu ấy bác Thắng ngả lưng nằm xuống giường.

Từ ngày đó, Hà vẫn canh cánh để ghi những điều người bác kể lại. Sau đây là câu chuyện mà Hà đã ghi lại được trên giường bệnh qua lời kể của bác Thắng - một sỹ quan quân đội, cựu chiến binh Việt Nam, người đã từng tham gia trong những ngày cả dân tộc chống lại cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #2 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:50:16 pm »

I

Sau khi Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi bị ám sát, người dân trên thế giới, nhất là nhân dân Việt Nam hy vọng cuộc chiến tranh sẽ sớm kết thúc, nhưng không phải như thế, Tổng thống Giôn-xơn lên nắm quyền, điều đầu tiên của ông ta quan tâm không phải là tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam mà là tiếp tục cuộc chiến xâm lược với quy mô lớn, ác liệt hơn và bắt đầu đưa chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam. Quân đội Mỹ với các nước chư hầu như: Nam Triều Tiên, Úc,... quân đội và các phương tiện chiến tranh Việt Nam ngày một đông có khi tới 55 vạn binh lính. Các loại vũ khí hiện đại nhất của Mỹ được đưa vào miền Nam Việt Nam. Các sân bay của Nhật, Thái Lan tiếp nhận các loại máy bay chiến đấu và các máy bay trinh sát vận chuyển hàng chiến tranh, có cả máy bay ném bom chiến lược B52. Mỹ muốn biến nước ta "về thời kỳ đồ đá" - như họ tuyên bố.


Ngoài biển từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17, Mỹ phong tỏa mìn, ngư lôi, các tàu chiến thường xuyên túc trực ngoài Biển Đông.

Phía Tây từ phía Bắc giáp Trung Quốc đến vĩ tuyến 17 dọc biên giới Lào-Việt, Mỹ thường xuyên thực hiện mưa nhân tạo, thực hiện các chuyến bay để thả các loại hóa học gồm chất bạc và chỉ tạo ra các đám mây lạnh gây ra mưa nhân tạo ngăn chặn các đường tiếp tế trên đường mòn Hồ Chí Minh. Trên mặt đường lầy lội, ươn, trượt, sạt lở và cuốn trôi đi các đoạn cầu gỗ nhỏ bắc qua sông qua suối, Mỹ biết hậu cần quân đội Bắc Việt Nam là dùng các dòng sông chảy vào sông Cửu Long để thả hàng tiếp tế xuống phía Nam. Thông thường, để tiếp tế được đựng trong các hòm gỗ tròn, nếu bị bom thả thì vẫn nổi lềnh bềnh ngập xuống trồi lên. Ngoài ra còn có một mục đích khác làm cho các dòng sông, suối ngập tràn nước biến thành thác lũ, để hàng tiếp tế trôi dạt vào rừng. Một bí mật khác làm thay đổi thời tiết ở biên giới Việt Lào là do đổ xuống hàng tấn hóa chất như loại "Nhũ tương" trên các đường mòn và dọc theo bờ sông, khi đã thấm nước do mưa nhân tạo, loại "Nhũ tương" này gây ra lũ lụt làm cho các đường mòn đầy rẫy chất cát trơn, sụt lở không thể nào đi được. Còn các bờ sông cũng bị sụt lở.


Những hoạt động thả hóa chất hầu hết đều thực hiện ở Bắc Lào trên một phạm vi hạn hẹp biên giới Việt Nam. Nhưng sau đó được mở rộng ra bao gồm cả Đông Nam Lào, khu vực phía Tây Hà Nội và Sơn Tây được mở rộng gấp đôi. Việc thả hóa chất hầu hết vào giữa tháng 3 và tháng 11. Ở Bắc Lào và Bắc Việt Nam có những trận mưa như thác đổ. Việt - Lào đã chịu những trận lụt lớn mà các chuyên viên khí tượng giỏi nhất thế giới cũng không lý giải được tại sao trong một vùng mà năm nay mưa như trút nước, còn năm khác lại ít mưa. Hệ thống máy bay trinh sát SR-71, RF-4, U-2, RPV điều khiển từ xa hoặc máy bay không người lái Bun-pha-lo Huntơ thường xuyên trinh sát khắp trên đất nước, nhất là miền Bắc Việt Nam. Bộ Chỉ huy không lực chiến thuật đặc biệt là không lực thứ 7 của Mỹ đóng ở Sài Gòn, cùng tiến hành trinh sát có người lái ở độ cao thấp như RF-4 hoặc F101.


Máy bay trinh sát SR-71 trinh sát chụp bằng máy ảnh kỹ thuật có tiêu cự dài với tỷ lệ nhỏ, song lại bao trùm một bề rộng 10 dặm trên mặt đất nước ta. Loại máy bay này có thể chụp rất rõ những con đường nhỏ nhất, thậm chí cả nét mặt và cử động của con người rõ nhất. Còn máy bay SR-71 thường xuyên cất cánh từ sân bay Kao-de-na Ô-ki-na-oa, những phim chụp được nhanh chóng gửi về cho các nhà phân tích của DIA trong đội trinh sát kỹ thuật 67 của SAG ở căn cứ Y-ô-kô-ta (Nhật Bản). Kiểm tra xong gửi về Oa-sinh-tơn xem xét kỹ thêm, tìm kiếm những thay đổi trong việc bố trí lực lượng hệ thống phòng thủ và những điều động quân sự của Việt Nam mà ảnh của SR-71 đã chụp được.


Mỹ đã cử những tướng tài sang Việt Nam chỉ huy chiến tranh. Tướng Bờ-léc-bớc đã nhận định vũ khí của Cộng sản còn thiếu và thô sơ, họ rất giỏi dùng chiến tranh du kích để tiêu diệt quân đội Mỹ. Ông ta đã bố trí dọc theo dải Trường Sơn, núi rừng rậm rạp mà Cộng sản có thể lợi dựng hoạt động chống lại quân đội Mỹ. Năm 1966, ông ta đã rời khỏi ủy ban quân sự. Và về Cục thành lập nhóm "Kế hoạch bảo vệ giao thông gọi tắt DCPG. Công việc của nhóm là thiết kế và thiết lập hàng rào điện tử" hay còn gọi là "hàng rào xâm nhập" mà Bộ trưởng Quốc phòng Mắc-na-ma-ra hy vọng lạc quan là không có một tên Việt cộng nào có thể đi qua hàng rào này, cô lập và vô hiệu hóa Bắc Việt Nam chi viện cho miền Nam Việt Nam. Khi các máy dò tìm hàng rào điện tử được triển khai, Mắc-na-ma-ra có một đánh giá tốt về tiềm năng của nó. Những máy dò tìm DCPG triển khai đặt làm những "lính gác" đường suốt ngày đêm dọc theo biên giới Việt Lào với mật độ cao là cứ bốn bụi cây rậm dọc đường mòn Hồ Chí Minh đều có một máy, cột ăng ten giống như cây tự nhiên cắm trổng ở đấy liên lạc với nó suốt ngày đêm để nắm tình hình của đối phương. - Năm 1950, Bơ-léc-bớc một tướng Mỹ được cử đến Việt Nam hoạt động tâm lý chiến đồng thời vẫn là thủ lĩnh Học viện Quân sự Oát-poanh, sau đó ông ta được cử sang Phi-líp-pin để nghiên cứu các chiến thuật quân sự. Năm 1957, ông ta lại được cử sang Việt Nam làm cố vấn cao cấp cho một vị tướng của Việt Nam Cộng hòa chỉ huy vùng châu thổ sông Cửu Long.


Đầu năm I960, Tổng thống Ken-nơ-đi ra lệnh gửi một nhóm quân sự đến nước Lào. Bơ-léc-bớc được giao nhiệm vụ tổ chức đội quân này. Vào năm 1965, khi cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành một cuộc chiến dữ dội. Bơ-léc-bớc về lầu Năm Góc đảm nhận những nhiệm vụ bí mật. Sau khi được giao nhiệm vụ, ông ta trở lại Việt Nam để chỉ huy đơn vị bí mật nhất, mà ít người ở Đông Nam Á biết tới, đó là SOG (là tổ chức OSS hoạt động mật ở Đông Nam Á. SOG là nhóm nghiên cứu và giám sát, còn OSS là cơ quan tình báo chiến lược). Đội quân này đội mũ nồi xanh, có gắn phù hiệu hình sọ người và ngọn lửa đen đang cháy. Họ là những người lính tình nguyện, được CIA tuyển chọn từ lực lượng đặc biệt của bộ binh, không quân, hải quân - SOG đã tham gia những cuộc hành quân nảy lửa, nên khó tin được họ chỉ có chức năng nghiên cứu và giám sát. Người của SOG không đeo phù hiệu công khai ở quân phục. Tổng hành dinh của SOG đặt tại Sài Gòn có khoảng 90 người Mỹ làm kế hoạch tác chiến trong các phân đội của họ ở miền Nam Việt Nam. Tại Nha Trang, SOG có một phân đội không quân. Tại Đà Nẵng có một bộ phận hải quân, ở các nơi khác gọi là Gấu Mèo - gần Long Thành, tỉnh Đồng Nai" đơn vị không quân và bộ binh được đóng ở đó. Trong các đơn vị hành quân của SOG, có từ 350 đến 500 người - đây là lực lượng của Mỹ. Một nhóm khác được đào tạo khoảng 400 đến 500 người Việt Nam thuộc các đơn vị "chuyên viên kỹ thuật", bí mật hành quân vượt sang Lào và Cam-pu-chia. Trước khi phối hợp với SOG hoạt động ở Bắc Việt Nam.


Một vài nhiệm vụ khác của SOG không được đưa ra công khai có liên quan đến vụ tập kích 34 an-pha vào căn cứ ngoài biển Bắc Việt Nam, do ngụy quyền Sài Gòn huấn luyện, thực hiện. Một vài giả thiết cho rằng: Những vụ tập kích đó có thể đã làm bùng nổ sự kiện vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8-1964.


Bờ-léc-bớc một sỹ quan cấp cao chỉ huy một binh chủng hỗn hợp gồm: Hải quân, Lục quân, Không quân quốc tế hoạt động bí mật mà chỉ riêng một nhóm người được biết và trực tiếp báo cáo thẳng tướng bốn sao Oét-mo-len, chỉ huy trưởng quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam. Bờ-léc-bớc có một phụ tá tài năng đó là Si-môn - ông ta là một biệt động quân chiến đấu giàu kinh nghiệm, có hiểu biết tường tận về chiến trường Đông Nam Á, nhất là Bắc Việt Nam. Ông ta đã chỉ huy đơn vị "Sao Trắng" trong hai chuyến đi Lào và Bắc Việt Nam. Ông ta đã tổ chức trên 45 lần các toán biệt kích xâm nhập vào miền Bắc Việt Nam bằng trực thăng. Để Bắc Việt không phát hiện được biệt kích, ông thường thực hiện vào lúc hoàng hôn và rạng sáng. Bờ-léc-bớc chỉ đạo các toán biệt kích rằng: "Sau khi tiếp đất xong chạy vào rừng, nấp vào các bụi cây rậm, chờ Cộng sản họ lùng sục. Khi thấy họ, các anh phục kích lại họ".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #3 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:51:08 pm »

Bờ-léc-bớc chỉ huy SOG từ tháng 5-1965. Lúc này, quân Mỹ đổ bộ xuống Đông Nam Á đã tăng lên từ 22000 cố vấn đến trên 80000 cố vấn. Oét-mo-len và lầu Năm Góc phải tập trung xây dựng một lực lượng hậu cần khổng lồ. Những hoạt động của SOG thầm lặng và ít thấy nhưng nó nằm trong kế hoạch chiến lược chiến tranh ở Việt Nam.


Những hoạt động của SOG gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc, làm cho nghề đánh cá của họ bị ngừng trệ. Những thuyền của SOG bắt ngư dân ở vùng biển từ Vinh, Nghệ An đến khu phi quân sự, đưa về đảo Phượng Hoàng gần Đà Nẵng. Một số thuyền của Bắc Việt chở vũ khí vào Nam bị SOG đánh chìm hoặc bắt sống các tàu đó. Bơ- léc-bớc cho rằng những hoạt động này không tốn kém là bao nhưng hiệu quả lại rất cao, làm cho tâm lý nhân dân và quân đội Bắc Việt Nam hoang mang. Ông ta từ Việt Nam trở về Oa-sinh-tơn khuyên lầu Năm Góc cần phải đẩy mạnh hoạt động chiến tranh tâm lý này.


Ngoài việc đó ra, Bờ-léc-bớc còn lệnh cho không quân Mỹ phá hoại ngay trong lòng Hà Nội bằng việc phá hoại đập Thác Bà điều đó có thể trở thành món hàng mặc cả của thượng cấp còn hiệu nghiệm hơn cuộc "xung phong bằng kỵ binh" vào Cam-pu-chia.

Hà ạ! Quân đội Mỹ và cả lực lượng của Mỹ sang tham chiến ở Việt Nam không những có số lượng đông mà còn được chuẩn bị hết sức chu đáo về mọi mặt. Nhất là lính Mỹ không những có đầy đủ sức khỏe mà còn được chuẩn bị về mặt tâm lý trong những lần khám tuyển sang Việt Nam chiến đấu. Những câu hỏi thử thách phản ứng tâm lý khi tham gia chiến đấu, ví dụ như: "Tôi khám thấy lá gan của anh bị sưng to đây này. Chà, tại sao vậy hả chú lính trẻ đầy tương lai? Ở Việt Nam có nhiều đỉa, anh có sợ không? Anh có sợ thú rừng không? Ở Việt Nam nhiều sông suối; rắn, rết, vắt nhiều vô kể. Anh có biết bơi không? Anh có thể đi bộ trong rừng nhiều ngày được không? Nếu thiếu lương thực anh có thể ăn lá cây rừng trong nhiều ngày được không? Anh có sợ rắn rết không? Da anh trắng hồng đẹp thế này mai sau anh sạm đen lại anh nghĩ sao? Anh có nghĩ gì khi chủ nghĩa Cộng sản bành trướng sang nước Mỹ? Cộng sản không cần nhà cửa, tài sản, vợ con. Họ là những người vô sản. Cộng sản sống kham khổ, mấy người mới bẻ được một cành đu đủ, anh có coi thường họ không? Nếu anh chiến đấu ở Việt Nam bị bắt làm tù binh, họ nhốt anh trong một căn phòng chật chội, đông ngột người, đầy chấy rận, anh có sợ không?"


Cuối cùng hàng năm họ cũng tuyển được hàng trăm, hàng ngàn lính Mỹ đưa sang Việt Nam. Những người lính Mỹ đưa sang chiến trường được chia làm ba loại: Loại tình nguyện, loại không tình nguyện và một loại chống đối.

Sức mạnh chiến đấu của lính Mỹ là bắt buộc theo kiểu Mỹ. Đơn vị bác đã bắt được lính Mỹ, khi hỏi khẩu cung họ khai rằng: Chúng tôi là những học sinh, sinh viên và các thanh niên ở lứa tuổi phải làm nghĩa vụ quân sự được khám tuyển kỹ lưỡng. Sau khi khám tuyển xong lính Mỹ sẽ tập trung về các trại huấn luyện. Tháng đầu tiên họ phải tập thể lực, ăn uống đầy đủ và hướng dẫn luật ở chiến trường Việt Nam. Sau đó, tập luyện thể lực như chạy đường dài, vượt chướng ngại vật, và các bài tập thể dục như hít đất 12 lần, hành quân bộ mang vác nặng vượt suối, trèo đèo. Chương trình luyện tập ngày một nặng. Học lý thuyết và thực hành, xạ kính, hệ thống truyền tín và phương pháp liên lạc, đàm thoại và liên lạc định hướng chiến đấu, cộng thêm chương trình vượt ngục và kiếm sống. Mỗi lính Mỹ được phát một thẻ bằng tiếng Anh và tiếng Việt "Tôi là người Mỹ đề nghị giúp đỡ". Mỗi chương trình huấn luyện kết thúc trước quy định thì phải tập thêm môn điền kinh.


Sau ba tháng tập luyện, ban ngày chuyển sang huấn luyện chiến đấu, ban đêm về xạ kính và nhận dạng mục tiêu trong bóng tối. Cả hai chương trình huấn luyện này được thực hiện trên không và mặt đất. Ngoài ra còn bổ sung chương trình khác như luyện tập di động việt dã, kiểm soát làng xã, lục soát nhà cửa, phá chướng ngại vật và thu dọn chiến trường. Các bài học về cứu thương, cấp cứu nơi trận địa, cách băng bó các vết thương, gẫy chân tay, vận chuyển thương binh, tiêm thuốc an thần. Những bài học này do các bác sỹ từ chiến trường miền Nam Việt Nam về giảng dạy.


Ngoài ra còn có các chương trình huấn luyện đột kích và sử dụng các ám tín hiệu bằng tay. Tất cả chương trình huấn luyện cho lính Mỹ sang Việt Nam chiến đấu, có bài bản, giáo trình biên soạn tỉ mỉ. Nó được đúc rút thực tế từ chiến trường miền Nam Việt Nam.


Mỗi khi quân đội Mỹ tấn công ở bất kỳ nơi nào, chúng đều có tổ chức điều tra cụ thể mọi mặt, xong tiến hành lập sa bàn (sơ đồ chiến đấu) phối hợp luyện tập tác chiến giữa không quân, hải quân, bộ binh và các lực lượng khác. Sau một vài lần diễn tập, người chỉ huy kiểm tra đánh giá kết quả. Nếu kết quả tốt thì chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu. Nếu kết quả không tốt phải tập đi tập lại nhiều lần. Người chỉ huy Mỹ răn dạy lính: "Trong chiến đấu, không được phép có sai lầm".


Trong đội xung kích "cảm tử" của Mỹ có một loại dao đặc biệt để phá tung các chướng ngại vật. Loại dao này giống như mã tấu nhưng lưỡi dày hơn, đầu nhọn hơn. Mỗi người lính mang theo một cơ số đạn dùng cho súng M-16, có một lưỡi cưa của hãng Xít-kim sản xuất. Trong đội xung kích có một vài lính mang súng phóng lựu đạn M-79, trên ba lô có gắn hệ chiếu sáng, mỗi người lính có một đôi kính chống lóa mắt đặc biệt khi chiến đấu ban đêm. Và một số lính mang súng bắn đạn Ria, loại súng này khi bắn ra mỗi viên có thể giết chết một Việt cộng, nếu nằm trong vùng sát thương. Mỗi đơn vị mang theo súng chống tăng loại 66 ly cỡ nhẹ (LAW) để bắn xe tăng trên đường hành tiến.


Ngoài ra còn được trang bị loại ống ngắm bắn ban đêm như loại trong chiến tranh Triều Tiên họ đã dùng có hiệu quả. Ở Việt Nam Mỹ sử dụng loại này rất nhiều. Quân đội Mỹ đã rút kinh nghiệm muốn chống lại Việt cộng, phải ưu tiên chiến đấu ban đêm. Kể từ ngày chiến tranh Triều Tiên cho đến chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ đã chi phi 18.1 tỷ đô la cho việc nghiên cứu cải tiến và phát triển các loại ống ngắm ban đêm. Bỏi vì bóng đêm bao trùm trái đất vào khoảng 50% thời gian mỗi ngày. Việc sử dụng ống ngắm ban đêm là một phương tiện cần thiết cho việc chiến đấu ở Việt Nam.


Các phân đội chiến đấu của Mỹ được trang bị máy truyền tin, đất đối không, đất đối đất, để hỗ trợ tác chiến. Lính Mỹ thường được trang bị máy truyền tín AN-PRC-41, máy AN-PRC-77 và AN-PRC-88 loại máy này truyền tin cầm tay. Còn loại máy truyền tin cấp cứu AN-PRC-90 dài và to bằng bao thuốc. Bởi vậy trong chiến đấu lính Mỹ liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau rất nhanh và hiệu quả.


Hà ạ! Khi Mỹ đánh vào Việt Nam, chúng chuẩn bị khá đầy đủ chu đáo. Ngân sách chuẩn bị cho chiến tranh khó mà tưởng tượng tốn kém là bao nhiêu.

Vào những năm 1970, quân đội Mỹ đã tiêu xài cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên tới gần 10 triệu đô la mỗi ngày.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #4 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:52:18 pm »

II


"Tổng thống Ních-Xơn rời Oa-sinh-tơn đi châu Âu lần thứ hai và đây là lần công du thứ ba ra ngoại quốc kể từ khi ông vào Nhà Trắng. Chuyến đi này sẽ đưa ông ta đến thăm năm quốc gia trong chín ngày gồm: I-ta-lia, Tây Ban Nha, Anh và Ai-xlen. Bí thư phụ trách báo chí của Nhà Trắng Ro-nam Gi-e-gơ-léc đã tuyên bố rằng: "Tổng thống có thể gặp Giáo hoàng Pôn VI và cùng trong ngày hôm đó sẽ viếng thăm hạm đội 6 đang tập trận trên Địa Trung Hải". Trong thông báo chính thức không đề cập đến việc Bộ trưởng Quốc phòng Le-dơ và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Mo-rơ đi theo Tổng thống, nhưng trên thực tế họ có đi cùng.


Hai vị này đã gặp Tổng thống trên chiếm hạm Sơ-pơ-rin Phi-en vào buổi chiéu ngày hôm ấy. Le-dơ và Mo-rơ có trình với Ních-Xơn về đề nghị giải cứu tù binh Mỹ ra khỏi Sơn Tây, một vị trí nằm sâu trên đất Bắc Việt Nam.

Ních-Xơn duyệt qua tình trạng tù binh với hai vị này và nói ông ta chấp nhận việc giải cứu trên nguyên tắc. Nhưng ông ta muốn họ trình bày cho Kít-sinh-giơ rõ mọi chi tiết trước khi ông ta có thể quyết định khi nào thì việc giải cứu được thi hành. Trong khi Le-dơ và Mo-rơ đi thăm Hi Lạp và Man Ta trong ba ngày thì Ních-Xơn đánh diện gọi ngay cho Bờ-xúc-xơ và viên phụ tá là Phi-líp Ba-bíp đến gặp ông ta tại Ai-xlen. Ông ta muốn hai viên chức này cân nhắc mọi điều hơn thiệt trong việc cố gắng tìm cách trao trả tù binh tại bàn hội nghị hơn là việc tổ chức một cuộc tập kích vào Bắc Việt Nam. Mặc dù, ông ta không nói rõ cho họ biết là đang có kế hoạch này. Báo cáo của hai viên chức này không được rõ ràng lắm.


Ngay khi Tổng thống trở về thì Le-dơ, Mo-rơ, Bờ-léc-bớc và Ma No được tín là cuộc tập kích Sơn Tây "có thể" sẽ bị hoãn lại sau ngày 20- 25 tháng 10.

Sau cái chuyến công du của các quan chức cao cấp Mỹ ở nước ngoài thì việc gì sẽ xảy ra cho đất nước Việt Nam đây? Mỹ tiến hành chiến dịch ngoại giao trên thế giới, họ muốn cô lập nước ta, làm những việc mà trước đến nay chưa đội quân nào làm được. Đó là tập kích vào Bắc Việt Nam để giải cứu các phi công Mỹ bị ta bắt khi họ đánh phá miền Bắc.


Tất cả toán giải cứu của tướng Si-môn dùng điểm tâm lúc sáu giờ sáng ngày thứ năm ngày 19 tháng 11; 9 giờ được cấp phát đạn dược và các loại chất nổ. Sau bữa ăn trưa nhẹ, viên chỉ huy công tác tìm kiếm và giải thoát của không quân bắt đầu thuyết trình về công tác này trong vòng 1 giờ. Ông ta chỉ cho các lính Mỹ cách sử dụng máy truyền tín gọi cấp cứu, các loại dấu hiệu để gọi máy bay đến giải thoát và cuối cùng ông ta kết luận: "Đây là tổng quát về công tác tìm kiếm và giải thoát tại vùng đất này". Ông ta không nói cho họ biết là trong trường hợp nếu công tác bị thất bại thì họ có thể dùng đạn hỏa châu nhỏ bằng cái bút có đầu nhọn để giết chết kẻ thù nào đến gần hoặc là phải tự sát.


Vào buổi chiều, cả ba toán xung kích đều ra bãi tập, mỗi toán tập 45 phút dưới sự kiểm soát của Dich Mê-đao, để thử lại các loại vũ khí. Tất cả mọi người cùng với vũ khí đều được chở ra bãi tập bằng xe bịt kín. Cuộc bắn tập này không gay gắt lắm mà chỉ có mục đích để cho mọi người kiểm tra lại vũ khí riêng của mình và điều chỉnh chắc chắn tầm bắn chính xác. Trở về lại doanh trại mọi người vội vàng lau chùi lại vũ khí, vũ khí không được tháo rời ra mà chỉ được thông nòng bằng vải và chất tẩy. Xong việc này thì họ bắt đầu tháo các bao đựng chất nổ để kiểm tra lại lần cuối.


Tối hôm ấy không có chiếu phim sau bữa ăn. Trong thời gian còn lại trước khi đi ngủ, viên trưởng trạm CIA là Róc-tơn từ U-đon (Thái Lan) đến thuyết trình 1 giờ về các kĩ thuật tẩu thoát và vượt ngục. Ông ta là chuyên viên về các hoạt động điệp báo nhưng chỉ nói về hoạt động ở Lào chứ không phải là Bắc Việt Nam. Hầu hết bài thuyết trình của ông ta đều tập trung vào việc chỉ dẫn các dấu hiệu một mà để mọi người có thể sử dụng khi muốn báo hiệu cho máy bay trinh sát biết trường hợp cần được giải thoát hoặc cấp cứu. Sau cùng, Móc-tơn trao cho mỗi người một bản đồ nhỏ bằng nhựa ghi rõ các con đường tẩu thoát và cách thức vượt ngục, cùng với tấm vải nhỏ như khăn mặt của phụ nữ. Đấy là một tấm vải lụa nhỏ có in bản đồ một mặt và một mặt bên kia có gắn một địa bàn tí xíu nơi góc khăn mặt, phía bên bản đồ còn ghi những câu theo cách phát âm tiếng Lào và tiếng Việt, ví dụ như: "Hướng bắc ở đâu?", "Tồi cần nước uống", "Có thể tìm hộ tôi một bác sĩ được không?", "Tôi là người Mỹ"... Đến 9 giờ tối nhóm giải cứu phải tắt đèn không được nói chuyện và đi ngủ.


Ngày hôm sau, trong bữa cơm trưa sớm hơn thường lệ, bác sĩ Ca-ta-do làm cho nhóm này ngạc nhiên khi bắt buộc mỗi người phải uống các viên thuốc ngủ, đích thân ông ta đứng kiểm soát từng người để biết chắc là đã uống xong. Khi Mo-rơ ban hành lệnh xuất phát công tác vào lúc 3 giờ 56 phút chiều hôm ây. Đến 5 giờ chiều là họ được đánh thức dậy để ăn tối. Ca-ta-do khuyên các lính Mỹ nên ăn thật nhiều, vì lẽ họ lên đường sau 5 giờ nữa, đây có thể là bữa ăn cuối cùng trong vòng 12 tiếng đồng hồ sắp tới.


Đến 6 giờ thì Si-môn và Sai-nơ giải thích mọi việc lần cuối cùng. Buổi họp này kéo dài 45 phút. Si-môn nói trước khoảng 3 phút. Lúc này, ông ta mới nói rõ vấn đề: "Chúng ta sẽ đi giải cứu 70 tù binh Mỹ, mà cũng có thể nhiều hơn, tại một trại tù tên là Sơn Tây. Đây là một việc làm mà các tù binh này có quyền đòi hỏi và mong mỏi các đồng đội của họ thực hiện cho được. Mục tiêu ở cách Hà Nội 23 dặm về hướng Tây".


Sau khi Si-môn dứt lời, bầu không khí hoàn toàn im lặng trong một vài giây đồng hồ. Một vài người huýt sáo khe khẽ. Nhưng ngay sau đó thì bất thình lình mọi người đều đứng dậy và vỗ tay vang dội. Những phản ứng của mọi người đồng thời chứng tỏ cho ông biết họ đã sẵn sàng. Si-môn nhớ lại: "Họ đã làm cho tôi sung sướng quá. Họ muốn thi hành công việc đó, việc này đã rõ ràng như vậy, và lạy Chúa, tôi nghĩ là họ được quyền muốn làm việc đó".


Tướng Si-môn còn một điều muốn nói với nhóm giải cứu rằng: "Các anh không được để cho bất cứ việc gì làm xáo trộn công việc này. Nhiệm vụ của chúng ta là đi cứu tù binh. Nếu chúng ta bị sa vào bẫy, sự việc xảy ra mà Cộng sản đã biết chúng ta đến, thì đừng có ai tơ tưởng đến việc thoát ra khỏi Bắc Việt Nam - ngoại trừ trường hợp nếu các anh mọc được cánh để bay ra. Chứng ta ở cách đất nước Lào 100 dặm, đây là một phần đất ở trên thế giới này mà nếu có ai nghĩ đến rút chạy là một điều sai lầm. Nếu có việc tiết lộ tin đã xảy ra thì chúng ta sẽ biết ngay sau khi chiếc trực thăng thứ nhất hoặc thứ ba đáp xuống, đây là thời điểm Cộng sản nghiền nát chúng ta. Nếu có chuyện ấy xảy ra, tôi muốn toàn thể lực lượng này phải siết chặt lại với nhau. Chứng ta sẽ tháo lui về hướng sông Cồn và lạy Chúa, cứ để cho chúng tiến quân trên đồng trống. Cộng sản sẽ trả một giá đắt cho mỗi bước tiến quân qua đoạn đường chó đẻ đó".


Sau khi tất cả lính của Si-môn đã sẵn sàng đeo ba lô lên lưng và đã gửi lại tất cả vật dụng cá nhân - như ảnh gia đình, thư từ, tiền bạc, mọi thứ mà họ cần gửi lại cho người thân - mọi người được đi bằng xe bịt kín đưa đến một nhà kho lớn nhất trong căn cứ. Tại đây một máy bay vận tải loại bốn động cơ C-130 đã chờ sẵn. Mọi người kiểm tra lại lần cuối vật dụng trang bị thì đã gần 1 giờ 45 phút.


Sau cùng các tiểu đội trưởng kiểm tra lại từng vật dụng cụ cá nhân của từng người một: kính đeo mắt ban đêm, máy truyền tin cấp cứu AN-PRC 90, đạn hỏa châu, đèn bấm, túi cứu sinh, đèn cầm tay, găng tay, la bàn và nút bịt lỗ tai. Vào khoảng 10 giờ đêm, mọi người lên máy bay. Việc làm cuối cùng ở trên máy bay là mỗi người tự ngụy trang bằng cách bôi phấn đen và đeo phù hiệu cùng quân hàm lên vai áo. Giờ đây mọi sự che giấu không cần thiết nữa.


Đến 11 giờ 25 phút đêm, một công điện khác được Ma-no gửi đi từ núi Sơn Trà cho biết rằng: Chiếc trực thăng HH-53 cuối cùng đã rời căn cứ xuất phát U-đon. Với tất cả các toán xung kích vào lúc 11 giờ 18 phút do máy bay vận tải C-130 dẫn đầu.

Cuộc tập kích của Mỹ vào trại tù binh Sơn Tây nơi giam giữ các phi công Mỹ bắt đầu mở màn".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #5 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:56:43 pm »

III


"... Khi máy bay gần đến Sơn Tây, Đô-nô-hiu cho chiếc trực thăng HH-53 mang mật danh "Quả táo thứ 3" vòng ngoặt lại ra khỏi đội Lính. Chiếc máy bay này do ông ta chịu trọng trách. 105 chiếc khác cất cánh từ các căn cứ không quân tại Thái Lan và từ ba tàu sân bay tại Vịnh Bắc Bộ để tập trung vào mục tiêu trong một chiến dịch dữ dội nhất vào ban đêm tại chiến trường Việt Nam.


Đô-nô-hiu và các trực thăng tiến công bay phía sau đang hạ thấp xuống một cách vội vàng qua những đám mây bay rải rác ở độ cao 2000 trên bầu trời sông Hồng. Khi hạ thấp xuống còn độ 500 bộ cách mặt đất, Đô-nô-hiu thấy rõ các điểm định hướng đúng như bản đồ đã ghi rõ đấy là sông Đà cách mục tiêu 10 dặm về hướng Tây, hồ nhỏ cách đấy 7 dặm và sau cùng là sông Cồn với nhánh sông quanh gấp về hướng Bắc, khi còn cách hai dặm phía Nam Sơn Tây. Đô-nô-hiu cho trực thăng bay chậm lại với tốc lực 80 knốt1 (1 knốt = 1852 km). Trong khi đó chiếc Com-bát Ta-lon C-130 bay vụt qua và tách rời khỏi đội hình trực thăng. Hai chiếc trực thăng còn lại mang mật danh "quả táo thứ tư" và "quả táo thứ năm". Vút bay cao lên 1500 bộ để thi hành nhiệm vụ như máy bay thả hỏa châu dự bị trong trường hợp hỏa châu và pháo súng do chiếc C-130 thả xuống bị bịt ngòi hoặc lệch xa vị trí.


Bây giờ là 2 giờ 15 phút sáng thứ bảy ngày 21 tháng 11, giờ Hà Nội. Năm giây đồng hồ quan trọng nhất của cuộc đời Đô-nô-hiu đang đến, sau 16 năm và 6300 giờ bay trực thăng.

Ông ta là người đầu tiên bay đến trại tù Sơn Tây. Chiếc máy bay trực thăng mang mật danh "Quả táo thứ ba" bay sát ngọn cây với tốc độ hai hải lí, sẽ bay xuyên qua khoảng giữa hai vọng gác ở vách tường hướng tây trong doanh trại Sơn Tây. Hai khẩu súng Gắt-linh giống như hai khẩu súng đại bác, mỗi khẩu được gắn vào phía bên hông của trực thăng sẽ nhả đạn và bắn ra những đường đạn có làn ánh sáng với số lượng khoảng 4.000 viên một phút, để làm sụp đổ các chòi gác và doanh trại lính gác ở phía ngoài cửa chính nơi hướng Đông. Đô-nô-hiu không được phép bắn vào chòi gác tại cửa chính này, vì lẽ cơ quan DIA đã cho ông ta biết trước có thể dưới chòi gác đó có một chỗ chật hẹp dùng để giam cách ly phi công Mỹ bị kỷ luật. Nếu bắn trong thời gian này có thể giết hại phi công là những người mà họ đang cố gắng giải cứu cho được.


Khi vị trí trại tù hiện ra trước mặt thì bầu trời trên vùng Sơn Tây bỗng chợt lóe sáng lên. Chiếc máy bay bắn hỏa châu C-130 đã thi hành nhiệm vụ vào đúng thời điểm. Đô-nô-hiu và phi hành đoàn có thể mở mắt trong một khoảng khắc nếu họ nhìn thẳng vào các đốm lửa hỏa châu sáng rực ấy. Đô-nô-hiu có thể nhìn thấy các loại đạn hỏa châu cách doanh trại Sơn Tây về phía Đông và phía Nam hai dặm, tựa hồ như đang có một cuộc chiến lớn bùng nổ trên mặt đất.


Trong những giây đồng hồ cuối cùng khi sà xuống trại tù Sơn Tây thì một trường hợp căng thẳng lại xảy ra - Suýt sai mục tiêu. Trong khi đang cố gắng hướng cho máy bay về đúng mục tiêu giữa ánh sáng nhấp nháy liên tục của đèn báo hiệu truyền tải và giữa những tiếng nổ của đạn hỏa châu từ chiếc C-130 bắn ra. Đô-nô-hiu và Oan-đê-rôn quên lưu ý việc gió xoay chiều và thiếu các định hướng chính xác trên mặt đất. Chiếc máy bay trực thăng của họ bị gió thổi tạt về phía Nam khoảng 200 ya-dơ1 (Ya-dơ bằng 0.9144 mét). Bây giờ ông ta thấy ngay các chòi gác trên vách tường hướng Tây của trại tù Sơn Tây, nhưng các cây cối ở trong trại có vẻ cao to hơn ông ta tưởng. Mọi người quên các loại cây cao từ 40 đến 50 bộ, được chụp ảnh và tháng 6 vừa qua bây giờ đã cao vọt lên qua các trận mưa mùa hè trước ngày cuộc tập kích mở màn.


Đô-nô-hiu kéo ngay cần lái tổng hợp để cho các cánh quạt hạ thấp trực thăng xuống, rồi bình tĩnh hạ lệnh cho phi hành đoàn: "Đúng 10 giây nữa, sẽ nổ súng". Nói xong, ông ta lướt nhẹ cho trực thăng sát ngọn cây trong doanh trại đồng thời bấm vào nấc truyền tín, hô to: "Chuẩn bị bắn".


Đô-nô-hiu thấy cảnh tượng cả một vọng gác hướng Tây Bắc bị sụp đổ xuống ngay trong nháy mắt, các cột trụ 4x4 inh-sơ bị bắn nát như cám. Vọng gác hướng Tây Nam và doanh trại lính gác cũng bị sụp đổ tan tành. Các xạ thủ của Đô-nô-hiu là trung sỹ Dêm-rô-giơ và An-gút-so-oen thét lên trong máy truyền tin: "Trúng rồi! Trúng rồi! Đổ nát rồi!", Đô-nô-hiu tăng tốc lực quay mũi trực thăng về hướng Bắc và bay cao lên, tìm một cánh đồng ruộng nhỏ ở hướng Đông bên hồ. Tại đây ông ta đáp xuống và ngồi chờ, cách mục tiêu chỉ có một dặm rưỡi về hướng Tây. Ông ta chỉ còn có việc ngồi chờ cho đêh khi quân lính của Si-môn và các tù binh được giải thoát ra khỏi trại giam. Và Oan-đơ-rôn mở tăng thêm âm lượng các máy truyền tin. Trong suốt 27 phút còn lại, cả hai người phải dò tìm tất cả các làn sóng truyền tin để theo dõi hành động của Si-môn và các toán tập kích trong trại Sơn Tây. Sau suốt 3 giờ yên lặng, bây giờ tất cả máy truyền tín đồng loạt vang lên. Đô-nô-hiu cố gắng nghe tất cả.


Chiếc trực thăng nhào xuống ngay trong trại Sơn Tây dữ dội quá, dữ dội hơn Đích Mê-đao đã tưởng, trong khi đó ông ta cố nằm sát người xuống sàn máy bay trên một chiếc đệm để khỏi bị bật ngửa lên. Mê-đao không biết rõ sự việc xảy ra như thế nào nhưng viên phi công H.Ka-len suýt nữa không điều khiển chiếc trực thăng mang mật danh "Quả táo thứ nhất" vào giây phút cuối, khi bay sát ngọn cây và bị vướng vào dây phơi quần áo mắc qua sân trại, như là sân bóng chuyền.


Viên phi công phụ của Ka-len là He-rơ Gien-đơ còn nhớ rõ có một ngọn cây cao tới 150 bộ. Cây này bị cắt phăng ra như một ngọn cỏ. Thân cây, cành lá tung tóe khắp nơi. Một tiếng ầm vang lên rung chuyển cánh quạt trực thăng bị hỏng và cả thân trực thăng đổ nhào xuống. Trong khi cánh quạt còn quay tiếp những vòng cuối và chặt đứt một cây to gần đây. Cả chiếc trực thăng lồng lộn dữ dội và nghiêng về phía bên phải từ 30 đến 40 độ, rồi đổ ào xuống đất.


Sự va chạm quá nặng làm cho một bình chữa cháy văng ra và đập vào chân viên kĩ sư cơ khí của Ka-len là Vrai-tơ làm anh ta vỡ cổ chân. Trong khi đó trung úy Góc-ge Pét-ri, một sĩ quan mũ nồi xanh 31 tuổi, tóc vàng cũng bị hất tung ra khỏi trực thăng. Mặc dù anh ta không phải là người đầu tiên được phép nhảy ra. Sau này anh ta giải thích "Sự va chạm ấy đã ném tôi ra khỏi máy bay".


Đích Mê-đao vùng ngay dậy và chạy thoát ra cửa sau đuôi trực thăng, tay bấm vào loa phóng thanh. Ngay trong thời điểm đó, chiếc loa này còn quan trọng hơn bất cứ loại vũ khí nào mà ông ta được trang bị. Ông ta bắt đầu phát thanh với giọng bình tĩnh: "Chúng tôi là người Mỹ, xin các anh cúi xuống. Chúng tôi là người Mỹ. Đây là một cuộc giải cứu. Chúng tôi đến đây để cứu các anh ra khỏi chỗ này".


Tiếng nói của ông ta vang vọng khắp nơi trong doanh trại tù binh.

Nhưng không có tiếng trả lời.

13 người còn lại trong toán xung kích của Mê-đao chia nhau chạy đến các phòng giam và cổng trại chính. Khi tiếng động cơ của chiếc trực thăng HH-3 tắt ngấm thì trại tù Sơn Tây lại vang lên những tràng súng tự động. Mê-đao vẫn ngồi quỳ một chân và phát thanh thêm một lần nữa: "Chúng tôi là người Mỹ. Chúng tôi đến đây để cứu các anh...". Trong khi đó, chuyên viên truyền tín của ông ta báo cho Si-môn biết qua làn sóng chỉ huy: "Kế hoạch, đây là thằng bé mặt xanh. Chúng tôi đã vào tới nơi rồi".


Ba phút đã trôi qua, một tiếng nổ ầm từ phía bức hướng Nam đã quật ngã Mê-đao xuông đất nhưng ông ta yên tâm khi nhìn thấy một lỗ trống thật to nơi vách tường. Như vậy có nghĩa là toán yểm trợ của Si-môn và toán chỉ huy của Sai-nơ đã đổ bộ an toàn xuống vòng ngoài doanh trại và đã phá nổ vách tường. Lỗ trống nơi vách tường này dùng để đưa tù binh thoát ra ngoài cho nhanh chóng. Lúc đó Mê-đao thấy một toán người chạy băng qua lỗ trống và họ vội vàng đặt mình trong tư thế chiến đấu ở ngay trong doanh trại.


Nhưng Mê-đao đã nhầm. Toán lính này không phải của Si-môn mà tất cả đều là người của Sai-nơ.

Si-môn đã đổ bộ nhầm mục tiêu, cả ông ta và 21 người lính, lực lượng lớn nhất trong cuộc tập kích Sơn Tây này đã đổ bộ xuống cách xa mục tiêu 400 mét về hướng Nam, tại một vị trí mà các chuyên viên tình báo đã cố ghi dấu trên bản đồ là "Trường trung học".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #6 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:58:10 pm »

Thật mỉa mai vì cách ba ngày trước đó, các chuyên viên tình báo đã căn dặn Si-môn và các phi công trực thăng đừng bị nhầm lẫn vị trí mục tiêu với trường học này. Cả hai địa điểm to bằng nhau, con kênh đào ở hướng Bắc trường trung học có thể bị nhầm lẫn với sông Cồn. Khi con sông này quẹo về hướng Đông đứng ngay lúc chảy về hướng Bắc của Sơn Tây, nếu như có gió nhẹ thổi từ đồng bằng sông Hồng lên thì đội hình trực thăng có thể bị thổi bay lạc hướng Nam độ một vì trăm ya-dơ trên đường bay. Gần đến doanh trại Sơn Tây. Đô-nô-hiu bị thổi tạt về hướng Nam với chiếc trực thăng HH-3 của ông ta và luôn cả H.Ka-len cũng bị tạt về hướng đó, nhưng cả hai đều kịp thời thay đổi lại đường bay để hướng về đúng vị trí. Đô-nô-hiu muốn dùng máy truyền tin để gọi các chiếc trực thăng bay sau đề phòng có thể bị nhầm lẫn, nhưng ông ta quyết định giữ im lặng vì không muốn gây tiếng động trong mỗi giây phút bất ngờ này. Trong khi đó ở phía sau, Uốc-rít-tôn đã bị gió thổi lạc hướng và vì có lẽ đang cố gắng chăm chú tìm chỗ đáp xuống phía ngoài doanh trại hướng Nam nên không thấy Ka-len thay đổi đường bay vào giây cuối.


Trong khi ấy, tại địa điểm trường trung học phía Nam Sơn Tây, khi chiếc trực thăng vừa đáp xuống thì sau một, hai giây Si-môn biết ngay đã có trở ngại. Xung quanh cơ sở này có dây thép gai bao bọc, mặc dù toàn thể doanh trại và khu vực phía ngoài trồng có vẻ giống như là trại Sơn Tây. Súng cá nhân đã bắt đầu nhả đạn xung quanh ông ta. Nhưng có một điều khác thường là ông ta không nghe tiếng của Mô-đao hét lên qua loa phóng thanh. Như vậy có nghĩa là Si-môn đã đổ bộ nhầm vị trí.


Si-môn quay lại phía chuyên viên truyền tin là trung sĩ Oam-tơ Mi-lơ đang sẵn sàng chấp nhận mọi lời quở trách về việc đáp sai vị trí này. Tên trung sĩ này đã làm việc với Si-môn tại Lào và 3 năm ở trung tâm biệt kích biết rõ tính tình của Si-môn. Si-môn thét to lên: "Gọi chiếc trực thăng chó đẻ đó lại đây ngay. Nói với Sai-nơ chuyển gấp sang "Kế hoạch màu xanh". Xong ông ta quay lại một chuyên viên truyền tín khác là trung sĩ Đa-vít Ních-ken-sơn và ra lệnh: "Mở đèn chớp sáng và ghi dấu lại cho đúng vị trí đổ bộ".


Trong khi đó chiếc trực thăng của Bo-rít-tôn đang quần ở phía trên, thấy rõ súng đạn nổ về hướng Bắc cách nơi của ông ta đã thả Si-môn xuống 400 mét liền hiểu ngay mình đã đáp nhầm chỗ. Ông ta tự nghĩ đấy là một sai lầm không thể tin nổi.

Trong khi Bơ-rít-tôn cố gắng đáp trực thăng xuống giữa vùng đạn lửa dày đặc thì toán yểm hộ của Si-môn đang làm cho cơ sở trường trung học biến thành ngon lửa bùng cháy. Si-môn nghĩ rằng có thể một vài làn đạn đã châm ngòi các thùng chứa xăng. Toán lính của ông ta chỉ sử dụng súng cá nhân, không dùng chất nổ. Những cuộc tấn công đã xảy ra thật dữ dội - vì lẽ nếu không hành động dữ dội và nhanh chóng thì không giành được yếu tố bất ngờ. Không ai hiểu được họ đã làm cách nào để bắn sụp bức tường phía Nam doanh trại mà lại không dùng đến chất nổ. Sau khi bắn đổ nát bức tường xong, cả toán lính của Si-môn chạy ập vào sân trại và bắt đầu nhả đạn. Chỉ sau 5 phút mà cả cơ sở bùng cháy như một ngọn đuốc lớn.


Trong khi Bờ-rít-tôn đáp trực thăng xuống để bốc toán lính của Si-môn lên giống như đáp xuống giữa một kho đạn đang bùng cháy - và chở họ đến địa điểm đổ bộ tại Sơn Tây, Si-môn liên lạc truyền tin với những chiếc máy bay khác để bảo đảm thêm an toàn. Có nghĩa là gọi thêm lực lượng oanh kích đoạn đường phía chân cầu nằm giữa trại từ Sơn Tây và trường Trung học. Lính của ông ta vừa tiếp tục bắn phá để chống lại, vừa nhảy lên chiếc trực thăng HH-53 của Bơ-rít-tôn. Cuộc tập kích Sơn Tây đã bắt đầu được 8 phút.


Đến phút thứ chín, Si-môn liên lạc với Mê-đao và Sai-nơ để chỉ thị cho hai người trở lại kế hoạch trước, 30 giây đồng hồ sau, Bơ-rít-tôn thả Si-môn và toán lính xuống vòng ngoài trại Sơn Tây. Ông ta đã thực hiện được kỉ lục mới: Ba lần lên xuống máy bay trong ba cuộc xung kích với 9 phút rưỡi. Theo đúng kế hoạch ngay sau khi thả toán lính xuống thì ông ta vội bay đến chỗ chờ đợi. Toán phá hoại của Si-môn vội vàng chạy ào đến vị trí để đập phá làm sụp chiếc cầu tại hướng bắc trại tù, trong khi lính của Sai-nơ thi hành cho xong những điều cần phải làm theo đúng phương án đã định: Phá sụp trạm điện và cột đèn ở ngoài doanh trại, thanh toán luôn trạm bơm nước nằm trên kênh đào phía Tây Nam trại tù.


Trong khi đó, tại trại tù, Đích Đê-đao và toán lính của ông ta do không bị thay đổi kế hoạch hành động nên vẫn đang cố gắng thanh toán các ổ đề kháng và lục soát các phòng giam. Họ đã bắn phá dữ dội và đổ bộ xuống một cách bất ngờ nhất. Ổ đề kháng nặng nề nhất của đối phương là khẩu AK-47 đặt gần giếng trong sân trại. Toán của Sai-nơ cũng phải đương đầu với sự chống cự dữ dội khác từ một khu nhà ở vào hướng Nam của một bức tường hướng Tây trong doanh trại. Sau khi đã kiểm soát từng phòng giam này đến phòng giam khác, toán lính của Mê-đao báo cáo là không có phi công Mỹ ở đây. Sau 10 phút tập kích, Mê-đao liên lạc truyền tin với làn sóng chỉ huy: "Rê hoang, đây là thằng bé xanh. Đến lúc này thì xin báo cáo không có ai cả". Báo cáo xong ông ta chạy đến từng phòng giam một để đích thân kiểm soát một lần nữa. Một phút sau anh ta lại báo cáo tiếp: "Kiểm soát chấm dứt. Không có ai cả. Trại tù Sơn Tây hoàn toàn trống rỗng".


Si-môn ra lệnh cho một trong những người chụp ảnh chạy về phía các phòng giam để chụp các phòng trông. Sau đó ông ta gọi một chiếc A-1 đến oanh tạc chiếc cầu ở phía Bắc. 14 phút sau cuộc tập kích đã qua, ông ta lại ra lệnh cho một chiếc trực thăng HH-53 từ điểm hẹn đến đáp xuông tại vị trí Sơn Tây. Ông ta chỉ thị cho Ních-ken-sơn bắn hỏa châu để chỉ định phương hướng. 18 phút 50 giây của Bơ-rít-tôn bay trở lại Sơn Tây và đáp xuống một cánh đồng lúa hướng Đông Nam doanh trại độ 150 bộ. Si-môn ra lệnh cho Mê-đao và 12 binh sỹ lên trực thăng và cộng thêm ba nhân viên phi hành đoàn là Ka-len, Gen-dơ và Vơ-rai-tơ từ chiếc: "Quả táo thứ nhất" chuyển qua. Sai-nơ cũng được lệnh cho toán lính lên trực thăng, ngoại trừ toán an ninh và sỹ quan Kiểm soát.


Nhiệm vụ của các sỹ quan Kiểm soát này đếm từng người một khi họ lên trực thăng để thoát khỏi trận địa Si-môn phải rời khỏi Sơn Tây với đông đủ số người như khi đến. Viên sỹ quan Kiểm soát báo cáo: "Đếm đủ 26 người, đếm đủ số". Si-môn ra hiệu cho chiếc trực thăng thoát nhanh ra khỏi miền Bắc Việt Nam. Bơ-rít-tôn cho "Quả táo thứ nhất" cất cánh và hướng về phía Tây.


22 phút sau cuộc tập kích, Si-môn gọi thêm một chiếc trực thăng HH-53 nữa đáp xuống. Bây giờ còn lại 33 người ở Sơn Tây.

Đến lúc này thì các loại tên lửa đất đối không của Bắc Việt nổ ầm ầm trên khắp bầu trời tại khu vực mục tiêu. Đường bay của các tên lửa sáng lóe, vụt thẳng lên xuyên qua vùng trời Bắc Việt Nam. 27 phút đã trôi qua, toàn thể 30 người trong các toán xung kích của Si-môn, Sai-nơ và Mê-đao đã lên chiếc trực thăng HH-53 thứ hai. Si-môn nói với viên phi công là A-lê-sơn: "Đếm 33, đếm 22. Rồi chiếc trực thăng cất cánh về biên giới Lào. Si-môn cảm thấy nhẹ nhõm khi được báo cáo chỉ có một người bị thương. Đó là một trung sĩ bị loét da ở đùi.


Khi chiếc HH-53 rời khỏi Sơn Tây độ 6 phút thì mới nghe tiếng nổ vang trong khu vực mục tiêu. Các túi chất nổ phá chiếc trực thăng HH-3 đúng thời điểm.

Tất cả các nhóm xung kích của Si-môn và toàn thể phi hành đoàn của Bơ-rít-tôn tưởng như đã thi hành nhiệm vụ của mình một cách hoàn hảo. Chỉ có môt điều đáng đau khổ cho nước Mỹ là không có một phi công Mỹ nào được cứu thoát để theo về với ho. Vì một lẽ là Quân đội Nhân dân Viêt Nam đã biết sớm hay muộn Mỹ cũng tập kích vào Sơn Tây nên số giặc lái của Mỹ đã được họ sơ tán đến nơi khác!


Đó chính là điều phi thường, một chiến công mà quân đội Việt Nam đã làm được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #7 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 08:59:20 pm »

IV


Việc tập kích vào trại tù binh Sơn Tây được Mỹ chuẩn bị rất chu đáo nhưng cuối cùng đã bị thất bại thảm hại. Nhưng nước Mỹ vẫn không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta.

Sau thất bại ấy, Bộ Tổng Tham mưu hỗn hợp của Mỹ đã dành nhiều thời gian nghiên cứu trong một quá trình dài để hoạch định một phương án hành động ngay sau khi cuộc tập kích Sơn Tây chấm dứt. Sau khi cuộc tập kích vào Sơn Tây bị thất bại, Mỹ đã lo lắng gần như tuyệt vọng trong việc giải quyết vấn đề tù binh ở Bắc Việt Nam. Bởi vậy Lầu Năm Góc sẵn sàng đề nghị việc tái diễn một cuộc tập kích như Sơn Tây. Nhưng trên một địa bàn rộng lớn và có nhiều rắc rối hơn. Đầu năm 1972, các vị tư lệnh trong Bộ Tổng Tham mưu hỗn hợp của Mỹ đã họp mặt để xem xét kế hoạch này. Mo-rơ nghĩ đây là một kế hoạch tốt cho nên đã mời Le-đơ đến tham dự buổi họp thứ nhì vào đầu tháng 5.


Trong thời gian này chỉ còn 62600 lính Mỹ ở tại Việt Nam, nhưng số tù binh Mỹ tăng lên 525 người và 1150 bị mất tích ở Đông Nam Á, Tổng thống Ních-sơn hạ lệnh bắt đâu tiến công dữ dội miền Nam Việt Nam, tiếp tục thả ngư lôi phong tỏa cảng Hải Phòng. Các cuộc tấn công bằng lực lượng không quân đến miền Bắc Việt Nam ngày một ác liệt, Mỹ đã dùng sức mạnh tổng lực của không quân, máy bay chiến lược B52 ném bom đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác suốt ngày đêm, đi cùng với nó, Mỹ yêu cầu Bắc Việt Nam thảo luận về vấn đề tù binh. Nhưng Bắc Việt Nam từ chối thảo luận về vấn đề phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc. Hoa Kỳ thất vọng vì máy bay chiến lược B52 và các loại máy ném bom khác vào miền Bắc có đi không về. Nhân dân Việt Nam một lòng một dạ quyết theo Đảng, Bác Hồ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Mỹ bị nhân dân thế giới phản đối ngay cả, nhân dân Mỹ cũng biểu tình phản đối nhà cầm quyền.


Các vị tư lệnh hỗn hợp của Mỹ đã sẵn sàng lưu tâm đến bất cứ kế hoạch nào có thể đem được các tù binh Mỹ bị bắt về nước.

Kế hoạch được soạn thảo đầy đủ, tỉ mỉ đến nỗi các sơ đồ chi tiết đặt ống cống tại trại tù. Hỏa Lò đã nhờ được các chuyên viên họa đồ và kỹ sư Pháp, người đặt các ống cống hàng bao năm trước đây thuật lại.

Một cuộc tập kích như vậy sẽ là một "trò chơi" ngoài sức tưởng tượng, có thể coi là một canh bạc. Các chuyên viên kế hoạch biết trước sẽ có nhiều binh sĩ Mỹ tập kích chết hơn là số tù binh được cứu thoát, và Mỹ cũng không biết rõ được từng địa điểm một có giam giữ tù binh Mỹ. Cơ quan CIA chỉ có thể xác định được 9 địa điểm trong số 13 trại tù mà Bắc Việt Nam đã từng sử dụng hoặc đang sử dụng. Kế hoạch cũng có dự kiến chỉ giải thoát được số tù binh tại các trại tù đã được xác định mà thôi. Mỹ suy luận rằng sau cuộc đại tập kích này Hà Nội sẽ trao trả những tù binh nào còn sót lại mà các toán tập kích đã không thể tìm ra địa điểm để giải cứu được.


Các toán biệt kích này sẽ được hoạt động tự do hơn là các toán biệt kích trước đây của Si-môn. Nhiệm vụ của họ không những chỉ lo việc cứu càng nhiều tù binh càng tốt mà lại còn cố lo bắt cóc được viên chức cấp cao của Bắc Việt Nam - cấp bậc càng cao thì càng có giá trị và áp giải những người bị bắt cóc này ra khỏi Việt Nam. Sau đó Bắc Việt Nam sẽ được mời thảo luận việc trao đổi giữa các tù binh còn sót lại với những cán bộ cao cấp bị bắt và như vậy canh bạc sẽ đảo ngược.


Mặc dù kế hoạch này đã được triển khai đến mức một sư đoàn lính thủy đánh bộ sẵn sàng xuống tàu và các lực lượng khác sẵn sàng lên đường, nhưng cuối cùng lệnh xuất phát tối hậu đã không được ban ra. Một trong những chuyên viên trong kế hoạch này sau này có nói là theo quan điểm của ông ta thì một cuộc tập kích như vậy sẽ không tránh khỏi thất bại. Vì thế, tất cả đều chỉ là những kế hoạch ma...


Trên thực tế cuộc chiến tranh kéo dài thêm 11 tháng nữa mới chấm dứt. Mỹ phải cuốn cờ về nước. Quân đội Việt Nam Cộng hòa tan rã. Bắc - Nam thống nhất một nhà. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chiến thắng của dân tộc. Nói đến đây bác Thắng trầm tư suy nghĩ rồi nói tiếp:

- Đây là một huyền thoại chiến tranh thế giới, một đất nước nghèo, công nghiệp chưa phát triển, thế mà chiến thắng được hai cường quốc là đế quốc Mỹ và đế quốc Pháp. Người ta có thể đánh giá ở những góc độ khác nhau về chiến công của Việt Nam. Nhưng theo bác, nhân dân Việt Nam chiến thắng là do lòng yêu nước nồng nàn, có một sức mạnh tinh thần to lớn, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người trước ngã xuống, người sau lại tiếp bước, không sợ gian khổ và hi sinh - Nói đến đấy, bác Thắng dừng lại một lúc suy nghĩ và lại kể tiếp về quãng thời gian đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #8 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 09:00:36 pm »

V


Hà ạ! Chiến tranh đã lùi xa, những người chiến sĩ, đồng đội của bác đã hi sinh, có thể bác không nhớ hốt được. Thật sự, ngay cả nữ chiến sĩ mà bác yêu quý nhất bác cũng không còn nhớ rõ từng chi tiết trên khuôn mặt. "Không nhớ ngay lập tức từng chi tiết trên khuôn mặt ấy - ít nhất là như thế. Bác chỉ còn nắm giữ được cái phông, đơn thuần cảnh trí.


Bác phải chắp nối các hình ảnh vào với nhau: Bàn tay mềm mại nóng ấm của người chiến sĩ; cầm vào tay mát như thạch; một cái thùy châm tròn trịa bé tí tẹo ở chính giữa hai lông mày, nó giống cô gái Ấn Độ, bộ quân phục màu cỏ úa, thói quen của người chiến sĩ ấy khi muốn diễn đạt một điều gì đó bắt đầu trong tư thế nhìn nghiêng. Người chiến sĩ gái ấy được sinh ra cùng quê với bác, Nam Liên - Nam Đàn - Nghệ An. Tên cô gái ấy là Thu Hằng, đã tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội. Chiến tranh ngày một ác liệt, cô đã xung phong vào quân đội ngày 13 tháng 5 năm 1966.


Dọc đường hành quân vào Nam chiến đấu, Thu Hằng thường đi cạnh bác, đôi khi quay đầu sang hỏi bác một điều gì đó giọng run run, rồi mỉm cười, hơi nghiêng đầu một chút và nhìn sâu vào mắt bác như đang cố dõi một con cá nhỏ vừa bơi vụt qua một vùng nước của con suối trong vắt.


Dù sao, nhớ gương mặt của từng chiến sĩ là khó với bác mà còn mất thời gian. Khi năm tháng qua đi, cái mới xuất hiện, cái cũ cứ mờ dần. Quãng thời gian ấy cứ kéo dài ra mãi, bác có thể kể hết cho Hà nghe không?

Một điều làm bác nhớ mãi là hình ảnh của nữ chiến sĩ Thu Hằng và lời nói của cô ngày ấy: "Thủ trưởng Thắng có tin tưởng là ta sẽ thắng Mỹ trong cuộc chiến tranh này không?"

Hằng hỏi bác với một vẻ mặt thật khó tả, nó muốn nói một điều gì đó sâu kín gấp gáp, đôi mắt cô long lanh như ứa lệ rồi nuốt khan nước bọt một hồi lâu, người bần thần nói tiếp:

"Thủ trưởng cho em cầm tay, dù chỉ một lần thôi. Em biết trước sau rồi em cũng chết và có lẽ cả thủ trưởng nữa. Nhưng cuối cùng rồi ta sẽ chiến thắng". Nói xong câu ấy Hằng dừng lại một lúc rồi đặt tay lên vai bác. Bàn tay nóng ấm như muốn kéo bác vào lòng mình. Nhưng nghĩ sao Hằng đứng lại và ngắm nhìn bác. Đôi mắt đẹp của Hằng nhìn bác một lúc lâu, rất lâu. Rồi bỗng dưng Hằng vít cổ bác xuống, kiễng chân và hôn bác, giọng thì thào: "Thủ trưởng ơi! Em yêu thủ trưởng lắm". Lúc đó, bác bàng hoàng ngỡ ngàng như người mộng du. Không biết thật hay là mơ đây? Nếu bây giờ bác kể lại có lẽ chẳng ai tin. Nhưng ngày đó bác nghĩ mình là cán bộ, Hằng là một cô gái trẻ xinh đẹp, có bằng cấp nhưng vì chiến tranh Hằng phải ra trận. Nghĩ vậy bác đã nói:

- Cảm ơn Hằng! Nhưng không được đâu. - Nói rồi, bác quyết tâm đứng dậy:

- Em thật không hiểu nổi anh, chiến tranh khắp đất nước, nhà máy, xí nghiệp, nhà trường chúng ta, phải chiến đấu nhưng cuộc sống vẫn cứ phải sống. Anh là ai? Anh có phải là đàn ông không? - Nói xong câu ấy Hằng đứng dậy, quay mặt đi không thèm nhìn bác và bắt đầu nức nở khóc. Bác tiến đến ôm lấy Hằng, Hằng vùng vằng bỏ đi chỗ khác.


Bác nhìn Hằng bằng một đôi mắt hốt hoảng, luyến tiếc, trong ánh mắt ấy muốn nói với Hằng chuyện ấy không được, nó sẽ khủng khiếp lắm, vì đây là chiến trường, vì bác là một cán bộ, đảng viên đang dẫn đầu một đơn vị ra trận. Cách đây mấy giây thôi đôi mắt huyền nhung của Hằng đầy tình cảm thế mà bây giờ nhìn bác không chớp, ứa lệ. Bác nhìn đôi mắt ấy và bỗng run lên. Đôi mắt bác vốn sắc lẹm đầy khí phách thế mà lúc này đây ứa lệ, tha thiết vô cùng, bác nói:

- Xin em hãy thông cảm cho anh. Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước tàn khốc lắm. Nếu trong chiến tranh tình ái lứa đôi xảy ra thì sao? Lớp lớp thanh niên nam nữ đang rầm rập ra trận. Họ cũng như chúng ta, muốn có tình yêu, có lứa đôi, trong nhà lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Nhưng giặc Mỹ không cho người Việt Nam hưởng những điều lành dị đó, những thứ mà tạo hóa ban tặng. Như em biết đây, đất nước ta bốn bề nằm trong một biển lửa. Dân tộc việt Nam không chịu chết mà sẵn sàng hy sinh để chiến thắng Mỹ. Anh không phải không quý em, anh yêu em vô cùng - Nói xong câu ấy không hiểu sao bác lại khóc. Những giọt nước mắt chảy qua gò má xuống miệng mặn chát. Bao nhiêu nỗi đau khổ từ đâu cứ đè lên trái tim và khối óc bác. Bác căm thù giặc Mỹ. Bác khóc rồi kể về nỗi khát khao tình yêu đôi lứa của con người.


Hằng ngẩng đầu lên lấy một viên đá ném về phía trước rồi tiến về phía bác nói:

- Anh ơi đất nước ta từ ngàn xưa đến nay có gây chiến với ai đâu, nước ta nghèo nhưng không hèn, kẻ thù nào đến cũng bị dân tộc Việt Nam đánh bại. Nước Mỹ cách nước ta nửa vòng trái đất, chẳng có ai làm hại Mỹ, thế mà Mỹ lại bao vây bốn bề tàn phá đất nước ta? Sao đời bất công thê? Em hiểu, anh khóc, em khóc vì nỗi thương đau không phải cuộc đời mình mà là cho cả dân tộc.

Hằng đứng dậy run rẩy bước tới bên bác nói tiếp:

- Thôi, bây giờ không phải là lúc yếu đuối, ủy mị mà phải tiếp tục vững bước chiến đấu.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #9 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 09:01:52 pm »

VI


"Đơn vị bác phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn. Hàng chục ngàn bộ đội đã lưu thông trên đường mòn Hồ Chí Minh. Ớ giai đoạn đầu, hệ thống hàng rào điện tử của địch cũng không phát hiện được. Du kích bộ đội miền Nam được trang bị súng ống và đồ quân trang, quân dụng ngày một tốt lên. Khi chính quyền Sài Gòn và Mỹ phát hiện Bắc Việt tiếp viện cho miền Nam Việt Nam bằng con đường mòn Hồ Chí Minh, chúng đã tăng cường đánh phá suốt ngày đêm. Trong giai đoạn 1965, 1966, chỉ có bốn mươi phần trăm lượng xe hàng hóa tới đích. Nhưng Mỹ có đánh phá thế nào đi nữa thì con đường này không khác gì dòng nước chảy từ trên đồi cao xuống: Nếu gặp vật cản trước mặt, dòng chảy bị gián đoạn trong chốc lát - nhưng không bao giờ ngừng chảy - rồi tiếp tục vươn qua các chướng ngại vật để chảy xuống.


Có lần Hằng tâm sự với bác:

- Anh ạ! Khi cái chết từ xa thì không sợ, nhưng khi cái chết đến gần thì cũng sợ. Mà có lẽ chẳng riêng mình em. Anh Thắng! Em muốn tâm sự thực lòng cùng anh. Ngày nào cũng vậy trên đường mòn Hồ Chí Minh cũng có máy bay B52 và các loại máy bay khác bắn phá rải bom. Nhiều đồng đội, bạn bè của em hi sinh ngay trước mặt em. Hai mươi bốn tiếng đồng hồ là em có hai mươi bốn tâm trạng khác nhau, không phải là không có lúc em đã đã nghĩ tới chuyện đảo ngũ, nhưng sau đó em lại tự sỉ vả mình và quyết tâm ở lại đơn vị tham gia chiến đấu cùng đồng đội.


Hà ạ! Con bác là lính không quân chiến đấu ở miền Bắc đỡ vất vả hơn những người lính chiến đấu ở chiến trường nhiều lắm. Những người lính chiến trường ngoài hứng chịu bom đạn, còn phải hành quân trong rừng rậm. Không lối đi, không điện, không đèn... vách núi dựng đứng... bệnh tật hoành hành. Người ta ước lượng bệnh tật đã giết chết tới mười phần trăm số người phục vụ trên đường mòn. Họ vừa hành quân vừa cõng hàng tấn vũ khí, đạn dược hàng hóa vào Nam. Nhiều người đã gục xuống vì đuối sức.


Bác vừa chỉ huy vừa hành quân ít khi tắm rửa (nước đâu mà tắm). Bác chẳng hiểu vì sao đi ngoài cứ ra máu, thì ra lũ vắt đã bám vào hậu môn cắn. Phải mất nhiều ngày mới chữa khỏi. Trong rừng rậm, người chiến sỹ vừa phải đối mặt với kẻ thù, vừa phải đối mặt với tất cả sinh vật lớn nhỏ - kiến, đỉa, rắn độc, thú dữ.... Tất cả những con vật đó đã có thể hủy diệt sự sống của những người lính bất cứ lúc nào.


"Mấy năm ở chiến trường, người lính thiếu thốn đủ đường, khi đi dọc đường mòn, ngoài việc mang vác vận chuyển hàng hóa vẫn phải mang lương thực, thực phẩm cho cá nhân nữa. Các binh đoàn thường xuyên không có thực phẩm để cung cấp nên bộ đội dọc đường hành quân phải tự tìm dự trữ thức ăn cho mình. Những người chiến sỹ phải chuẩn bị tâm lý không có hàng tiếp tế trong một thời gian dài. Khi đi mang theo bột nước mắm, khi dùng thì chan nước để ăn, thường xuyên ăn rau rừng và đôi khi bắt được thú rừng. Dọc đường đi đôi khi gặp voi, nai, trăn, chồn và hổ... Lính của bác nhiều khi sống lâu trong rừng phần thì đói phần thì thiếu. Một lần mấy anh lính trẻ đưa quần áo vào bản của người dân tộc để đổi thuốc lá hoặc trái cây để ăn. Nhưng những người dân tộc không dùng những thứ đó.


Lực lượng chủ yếu của quân đội ta bám trụ dọc đường mòn Hồ Chí Minh nam giới, ít chiến sĩ gái. Nhiều người ba năm không nhìn thấy bóng phụ nữ, dù chỉ là trong vở kịch hay trong bộ phim nào đó. Rồi có thời gian, đơn vị phải tìm những thanh niên có hình hài giống con gái, có tiếng nói nhẹ nhàng vào vai với một vở kịch nào đóng vai con gái. Một đêm, đơn vị bác nhộn được một tin có đơn vị bộ độ nữ hành quân qua đường 12. Nhiều chàng trai háo hức được ngắm nhìn phụ nữ, dù phải mất cả hai giờ leo núi. Sau khi xuống núi, họ lại gặp phải sương mù dày đặc, mọi người chẳng thấy được những chiến sĩ kia, dù trong khoảng khắc. Thế đành phải hài lòng với việc nghe được tiếng nói của các cô gái ở phía bên kia.


"Trên đường mòn Hồ Chí Minh, thật khó tìm ra những bệnh viện điều trị bệnh cho chiến sĩ, nhưng khó khăn nhất là các phương tiện cứu chữa người bị thương, ốm đau. Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến việc cứu chữa thương binh, một mặt tăng tinh thần chiến đấu, đồng thời tăng lực lượng cho quân đội. Nhưng do không có điều kiện thuận lợi nên thương binh phải mất hàng ngày, thậm chí hàng tuần mới được chăm sóc. Ngay cả khi có cơ sở y tế, sự khan hiếm thuốc men và y cụ đã ngăn trở công việc điều trị cho bệnh nhân. Đội ngũ y tế phải tự nỗ lực để bù đắp cho thiếu thốn khi có thể, còn khi không thể thì người thương binh buộc phải chịu đựng. Dù lực lượng quân y đã được mở rộng đáng kể so với hồi đánh Pháp, nhưng thực tế thương vong do công nghệ vũ khí của Mỹ hiện đại và điều kiện chiến trường xa xôi đã khiến các bệnh viện quá tải, y bác sĩ làm việc với mức tối đa.


Những thiết bị y tế của Việt Nam do Liên Xô và các nước giúp quá cồng kềnh và nặng, nhưng phần lớn y cụ đều mất mát trong quá trình vận chuyển. Chỉ có khoảng một phần mười tới đích... và cũng không còn nguyên bộ. Chẳng hạn, máy X-quang tới nơi thì thiếu cái này cái khác.


Bệnh viện trạm xá 211 thường xuyên bị máy bay đánh phá nên thường xuyên phải di chuyển. Nơi ở lâu nhất được một năm, thường chỉ ở được hai đến ba tháng là phải chuyển.

Việc sơ tán một bệnh viện thật không đơn giản chút nào. Mỗi khi sơ tán bệnh viện với khoảng 400 nhân viên, cùng với khoảng 1.000 đến 1.800 người bệnh. Việc đảm bảo hậu cần, nơi ăn ở, khu chữa bệnh có rất nhiều công việc phải làm: Đào hầm hào, che giấu phương tiện máy móc, sơ tán bệnh nhân khu vực điều trị dưới hầm. Mỗi hầm chữ A tránh bom có độ sâu hai mét, sức chứa chừng bốn đến năm người. Để lập được một bệnh việc với khoảng 1.000 bệnh nhân và 400 nhân viên đòi hỏi phải đào chừng 280 hầm hở và hầm chữ A. Những công việc đó lại dồn vào các nhân viên y bác sỹ. Làm xong một căn cứ mới mất chừng một tháng.


Bệnh viện được bố trí trong một khu rừng rất rộng, mỗi hầm trú ẩn cách nhau không quá ba mươi mét để tránh bom. Nếu một quả bom rơi xuống làm sập một hầm. Vì thế muốn đi thăm bệnh nhân, đôi khi phải mất một ngày mới đi khắp bệnh viện được.

Bệnh viện được bố trí cách khu chiến sự một khoảng cách an toàn. Việc canh gác bảo vệ an ninh, và kể cả chiến đấu là do các y bác sỹ, các nhân viên đảm nhiệm. Không có đơn vị bảo vệ bệnh viện.

Bệnh viện trong rừng rậm rạp, các vọng gác được thiết lập trên cây để quan sát máy bay, việc quan sát mặt đất lại khó khăn - Mỹ thường dùng trực thăng để thả các toán lính xuống đánh phá bệnh viện. Cây cối rậm rạp tới mức nhiều khi các vọng gác không thể phát hiện được trực thăng vì nó bay sát ngọn cây rồi thả lính biệt động xuống. Nếu nổ súng thì Mỹ sẽ gọi hàng đoàn trực thăng tới bao vây bệnh viện. Khi lính đổ bộ từ trực thăng xuống mặc áo chống đạn, tiếp đất xong số lính này lại bắn yểm hộ cho các toán lính khác nhảy dù xuống. Họ không nhảy bằng dù mà dùng thang dây từ máy bay tụt xuống. Bệnh viện không có lực lượng chiến đấu nên phải hết sức bí mật. Nếu bị lộ là đơn vị lại phải di chuyển.
Logged
Trang: 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM