Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận đánh cuối cùng  (Đọc 3007 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2026, 09:02:55 pm »

Có một bác sỹ tâm sự với bác: Chúng ta sống trên Trường Sơn giống như Robinsơn Crusoe ở trên đảo hoang ấy. Điều kiện làm việc của bác sỹ thiếu đủ đường, không có dao phẫu thuật, các bác sỹ phải ứng biến trong hoàn cảnh khắc nghiệt, phải sử dụng mảnh kim loại, thường là từ số bom không phát nổ của Mỹ. Chúng tôi phải lấy kim loại từ những quả bom đó để làm dao mổ và một số thiết bị khác. Có nhiều khi phải dùng vỏ đạn pháo, hoặc mảnh nhôm từ xác máy bay. Tất cả các nhu cầu về y tế được đáp ứng theo kiểu này - từ thiết bị phẫu thuật, hộp diệt trùng y cụ, ống nghe... Nghĩ một lúc rồi bác sỹ ấy kể tiếp: - ở đời kể ra cái khó lại ló cái khôn. Người Mỹ ghét cay ghét đắng người Việt Nam nhưng vô tình lại cung cấp vật liệu quan trọng để bệnh viện chế tác ra những dụng cụ như: Pháo sáng người Mỹ thả xuống vào ban đêm để quan sát hoạt động của quân Bắc Việt đã cung cấp vật liệu cho nhiều ứng dụng: Ống pháo sáng được dùng làm ống nghe; dây dù được tách ra để làm chỉ khâu y tế, vải dù để băng bó, nắm cơm...


Trên đường mòn Hồ Chí Minh, máy bay Mỹ bị lực lượng ta bắn rơi rất nhiều. Mỗi khi phát hiện máy bay rơi, người ta đến tìm kiếm những vật liệu còn sót lại để dùng - dây điện được tháo từ máy bay, sau đó tách vỏ cao su ra khỏi lõi kim loại, vỏ cao su dùng làm ống truyền tĩnh mạch. Nói đến đây bác Thắng cười: "Người Mỹ giúp chúng ta rất nhiều trong thời buổi thiếu thốn thiết bị". Nghe vậy Hà hỏi:


- Nếu như người Mỹ không "giúp" thì họ có thể vượt qua được không hả bác?

Bác Thắng nhìn Hà với một vẻ dí dỏm:

- Nếu Mỹ không "giúp" chúng ta thì ta phải tự sáng tạo ra chứ! Ví dụ như thiếu ống tiêm thì nhặt các vỏ trai về đập nhỏ và đốt lò, sau đó có thợ thổi thành ống tiêm. Hoặc thiếu cồn sát trùng, các dược sỹ vào gặp người dân tộc hỏi họ, họ chỉ cho cách làm ra cồn. Họ thường nấu rượu - rượu gạo, rượu sắn. Bộ đội nắm được cách làm ra cồn từ chất men, từ cây sắn.


... Các dược liệu của quân y viện 211 sử dụng chất liệu thảo mộc để chữa bệnh, do người dân tộc dạy. Một số cây gây mê, gây tê, gây buồn ngủ để cắt cơn đau. Nhưng cũng có mấy loại cây cho nhiều vitamin. Bệnh viện rất cần điện họ đã dùng máy phát quay tay thành máy đạp bằng chân. Hoặc có những đoàn xe của địch mà ta thu được, dùng lấy dầu của địch để phát máy nổ.


Trước khi nhập ngũ bộ đội được khám sức khoẻ và thử máu phân loại nhóm máu rồi ghi vào thẻ quân nhân. Việc làm đó vào đây mới thấy tác dụng lớn vô cùng. Khi chiến sỹ bị thương phải cấp cứu thì các bác sỹ phải phẫu thuật ngay nếu thiếu máu thì đội ngũ nhân viên thường xuyên hiến máu trực tiếp từ người cho bệnh nhân. Trước khi rời khỏi Hà Nội các y bác sỹ đã kiểm tra nhóm máu nên họ biết rằng mình có thể hiến cho bệnh nhân nào. Tại bệnh viện 211 có nhiều nhân viên đã hiến máu đến sáu, bảy lần.


Ở chiến trường có một thứ không thiếu đối với bệnh viện là thương binh. Bộ đội ta đã trở thành nạn nhân của một danh sách vũ khí kinh khủng trong kho của Mỹ. Thương binh đáng sợ nhất là bị bom bi gây ra. Nếu ai đó nhìn thấy quả bom bi phát nổ, bạn sẽ không nghĩ rằng con người có thể sống sót trong phạm vi bán kính một trăm mét. Khi bom nổ, hàng trăm mảnh đạn nhỏ phóng ra. Có trường hợp người bị thương vì bom bi, y bác sỹ cũng phải bó tay vì viên bi vào cơ thể một lỗ nhỏ nhưng sau đó di chuyển rất nhanh đến chỗ khác. Nhưng sau đó bệnh viện cũng tìm được cách cứu chữa cho các chiến sĩ...


Bệnh viện ở chiến trường làm việc suốt ngày đêm để cứu chữa cho chiến sỹ. Có nhiều bác sỹ phải mổ, phải làm việc suốt để phẫu thuật. Nhiều khu mổ nằm trên mặt đất, bom rơi xung quanh. Rồi một ngày một ca mổ nằm lộ thiên, bỗng có một chiếc máy bay trực thăng bay trên đầu bắn đạn khói. Ca mổ phải nhanh chóng xuống hầm vừa xong thì máy bay phản lực đến ném bom bắn phá. Sau khi đã xuống hầm, tiếp tục mổ vừa lúc kết thúc ca mổ xong chuyển đến hầm hậu phẫu, thì máy bay phản lực Mỹ từ trên cao bổ nhào phóng tên lửa trúng vào cả bệnh viện.


Hà ạ! Quân của bác sống trong rừng rậm mới thấy được nỗi khắc nghiệt của rừng thẳm. Sống trong rừng không phải chỉ đối phó với giặc Mỹ mà còn một loại địch lăm le phục khích khắp nơi. Đó không phải là đội quân của những chiến binh hai chân, mà rất nhiều chân, thêm vào nạn dịch bệnh gây ra bao nỗi khổ sở cho người lính sống trong rừng, các loại cầm thú như: Hổ, rắn, voi, to ăn, khỉ độc... Các loại sâu bọ không bao giờ bỏ qua cho những ai bước chân vào lãnh địa rừng thiêng nước độc của chúng.


Bác chỉ nói một loại sâu bọ cho Hà nghe thôi cũng đủ kinh sợ rồi. Đó là "bét" có rất nhiều loại "bét" ở trong một vùng, một số loại sống trên cây, một số loại sống dưới đất. Khi bị đốt người ta thường lôi ra nhưng đầu chúng vẫn cắm vào da thịt, thật kinh khủng. Khi hành quân qua, chúng nhảy lên chân, lên người đốt. Những con "bét" này có thể chui vào tai, vào mũi...


Có một chiến sỹ của bác khỏe mạnh bỗng dưng máu mũi, máu tai chảy ra đưa vào viện người ta phát hiện "bét" đã chui vào làm tổ ở đấy. "Bét" trong rừng không ít, nó đi hàng đàn rào rào. Chứng có mặt khắp nơi. Nếu dừng lại để bắt con này thì con khác nhảy vào cắn. Vì thế người lính phải hành quân rất nhanh qua những khu vực có "bét". Bét là một loại rất sợ nước. Nếu nhẩy xuống nước khỏi "bét" thì những con đỉa to nhỏ hàng đàn lao tới.


Trong rừng, nhất là các tuyến đường hành quân, Mỹ phải rải rất nhiều mìn lá, nó giống như lá cây khô, một số loại mìn có từ tính, có loại khi dẫm phải mìn sẽ nhảy lên cao và phát nổ. Ký hiệu "Boumcing Betty" "Betty nhảy nhót". Khi bị kích hoạt, lò xo bên trong sẽ bật ngay khi chiến binh nhấc chân, quả mìn bật lên ngang tầm thắt lưng và phát nổ. Người chiến sỹ rất khó phát hiện loại mìn này. Nhưng khi nhỡ đạp phải thì cứ đứng như vậy, mìn sẽ nổ và bị mất một hoặc hai chân như không.


Ngoài ra còn có mìn lá, hình dạng kích thước giống như lá thật. Loại mìn này rất khó phát hiện, chúng gây ra chết chóc hoặc thương tích nghiêm trọng. Có một loại mìn lá được thả xuống từ máy bay, sau khi chạm đất, nó bắn hàng hoạt sợi dây ra tứ phía. Người chiến sỹ rất khó lòng phát hiện những sợi dây này - chúng rất mảnh. Khi người chiến sỹ thấy quả mìn bỏ chạy theo hướng khác nhưng có thể vấp vào sợi dây và kích mìn nổ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:32:00 pm »

VII


"Sống chiến đấu trên đường mòn Hồ Chí Minh thật khốc liệt vì bom đạn Mỹ đã đành, nhưng có những cái khi nghe vô lý nhưng thực tế đơn vị bác đã gặp phải. Sau một ngày hành quân hết nước, gặp một dòng suối trong, thế là mọi người thi nhau uống, tắm và nấu ăn. Chiều hôm sau khi hành quân ngược thì thấy xác chết của lính Mỹ... Hành quân thiếu rau phải ăn rau tàu bay, lá sắn và một số loại rau cỏ khác có thể ăn được. Sau một thời gian, khoảng hai năm thì lính của bác mắc bệnh tiêu chảy hàng loạt có chiến sĩ chết, có người hôn mê, hoặc sốt cao. Bệnh viện 211 đã khám nghiệm tử thi thấy ruột của người chiến sĩ đã bị quá mỏng. Nhiều người đã bị thủng ruột do tiêu chảy. Thật khủng khiếp... Đến năm 1970 dịch bệnh giảm đi được một phần.


Do ăn uống kham khổ có nhiều bệnh nhân thiếu vitamin, A và B. Thiếu vitamin B có thể khiến người ta chết vì bệnh tim... Thiếu vitamin A gây cho người ta khô mắt, dẫn đến mù...

Ở rừng núi và khắp vùng Tây Nguyên bệnh sốt rét hoành hành. Bất cứ ai lên Tây Nguyên đều bị sốt rét hành hạ từ ba đến sáu tháng. Một bác sỹ nổi tiếng, là chuyên gia chống sốt rét được điều vào Nam để tìm kiếm phương cách tốt nhất để điều trị sốt rét. Trước khi hoàn thành cuộc nghiên cứu, bác sỹ đó cũng đã hy sinh vì bệnh sốt rét.


Trong đơn vị bác đã xuất hiện nhiều ca ung thư gan, phải chuyển ra Bắc điều trị và sau này bác mới biết Mỹ đã phun chất độc rất nhiều. Những chiến sỹ hoạt động trên chiến trường ăn uống kham khổ lại phơi nhiễm chất độc sẽ dần bị suy giảm... hệ thống miễn dịch... Bác nghĩ rằng có ai đó còn ghi ngờ có thể kiểm chứng bằng khám nghiệm xương của người chết trong chiến tranh, bằng cách này người ta có thể đo được lượng hóa chất vẫn còn nằm trong mô xương.


Hà ạ! Chiến tranh ở Việt Nam thật ác liệt. Các đơn vị bác chiến đấu ở đường mòn Hồ Chí Minh, nếu không biết cách phòng tránh thì máy bay Mỹ có thể phát hiện và thả bom. Máy bay B52 thường xuyên ném bom hầu như đêm nào cũng có.

Dọc đường hành quân các đơn vị trước đã chuẩn bị những trạm nghỉ chân có các hầm chữ A, trong mỗi hầm có một cái xẻng.

Sau khi B52 ném bom vào đơn vị, nơi trú ẩn, hết một đợt thì các chiến sĩ lại liên lạc với nhau. Nếu sập hầm họ sẽ xúm lại đào cứu giúp nhau. Nhưng thường là máy bay ném bom ít lần sập hầm.

Mỗi người lính khi ngồi vào hầm trú ẩn phải bịt tai, không ngồi dựa lưng vào vách hầm, ngồi xổm, cánh tay buông song song với mặt đất, tay chân phải ở xa nhau đề phòng hầm bị sập, để tạo ra những ô trống chứa không khí nếu hầm bị sập.

Rất nhiều trường hợp bị sập hầm được cứu sống. Trường hợp của ba cô gái người Hà Tĩnh tuổi mới 18, khi B52 đến ném bom, ba cô cùng xuống một lần - hầm sập, ba cô được cứu sống, nhưng một cô bị giập thận. Bệnh viện 211 đã ra sức cứu chữa nhưng khó hồi phục. Người chiến sĩ ấy là Hoàng Lan, biết mình không thể sống được, cô ấy nói muốn gặp bác. Bác vào viện thấy Hoàng Lan người gầy xọp đi và đi tiểu ra máu nhiều. Bác nhìn người chiến sĩ và không cầm được nước mắt. Thấy vậy Hoàng Lan nói trong hơi thở:

"Thủ trưởng ạ! Đến ngày thắng lợi cuối cùng không còn lâu nữa nhưng không phải một sớm một chiều mà còn phải chịu đựng nhiều hy sinh. Em biết, thắng lợi rồi sẽ đến. Nhưng em muốn nhờ... Em muốn nhờ thủ trưởng một việc, khi em qua đời thủ trưởng cho anh em chôn cất cẩn thận, để ngày hòa bình người thân và tổ chức có thể tìm hài cốt của em đưa về quê cha đất tổ. Em nói thực bấy lâu nay chôn cất người chết quá sơ sài, đánh dấu không rõ ràng. Ngày mai có hòa bình không tìm được phần mộ đâu - Nói đến đây, Hoàng Lan lịm dần rồi hy sinh.


Trước đây, đơn vị bác chôn cất chiến sỹ không có tấm bia trên mộ hoặc đánh dấu trên những ngôi mộ. Người ta thường vẽ sơ đồ, đánh dấu trên thân cây gần đó. Nhưng một thời gian cây phát triển lên, rồi thời tiết khắc nghiệp khiến các vết khắc trên cây không còn. Bây giờ chôn cất Hoàng Lan bác không làm theo phương pháp đó. Đơn vị lấy một mảnh giấy ghi tên, ngày sinh, quê quán của cô rồi bỏ vào lọ penicillin bọc kín nilong, đưa vào quan tài bằng tre chôn cất


"... Nghe Hoàng Lan nói những lời trước khi hấp hối, bác nhớ lại một câu chuyện khác, một câu chuyện về một người lính Mỹ sắp chết. Sau một trận đánh, quân ta thắng, đơn vị bác quay lại thu dọn chiến trường, những ngôi nhà cháy chỉ còn lại những khung gỗ lim đen sẫm, đứng trơ trọi trên nền đất, không có một bóng người, chỉ còn xác lính Mỹ và cả đồng đội của bác, ngổn ngang...


Bác cho đơn vị thu dọn và chôn cất người chết xong. Bác vẫn tiếp tục đi, mùi thuốc súng đạn, máu người lênh láng. Bác cùng đi với chiến sỹ Bắc đã tốt nghiệp đại học Ngoại ngữ khoa tiếng Anh. Tổ của Bắc gồm năm người đi xuống một triền dốc. Bắc khựng người lại khi nghe thấy tiếng khóc. Người hay là ma đây? Trận đánh đã diễn ra ba ngày rồi sao vẫn có người sống? Bác cúi xuống vạch bụi cây ra, đột nhiên kêu lên? "Ôi! Có người...! Một người lính Mỹ vẫn còn sống!". Tổ của bác rẽ bụi cây ra thấy một người lính Mỹ nằm co ro, ngón tay trỏ vẫn để vào cò súng có lẽ đạn đã hết từ bao giờ.


Người lính Mỹ nhìn bác với một cặp mắt rất kỳ lạ. Bác nhìn người lính Mỹ rồi kêu lên:

- Nhanh lên, phải cứu... cứu gấp!

Người lính Mỹ nhìn bác rồi rút ra một thẻ bằng tiếng Anh và tiếng Việt: "Tôi là người Mỹ đề nghị giúp đỡ...". Bác nhìn người lính một thoáng rồi nói:

- Chúng tôi không cần những thứ này. Người Việt sẵn sàng giúp đỡ. Chiến sỹ Bắc dịch cho lính Mỹ nghe xong, anh ta nhìn bác với cặp mắt tin tưởng. Sau khi băng bó, chúng tôi chuyển lính Mỹ về bệnh viện 211. Bệnh viện đã tận tình cứu chữa nhưng vết thương quá nặng. Bác nói với bác sỹ Thuận:

- Các anh cố gắng cứu sống người lính Mỹ này, họ sang đây không có người thân, không gia đình. Họ đã khắc từng ngày lên vành mũ để chờ ngày về nước. Việc cứu người là không chiến tuyến.

Nghe vậy, bác sĩ nói lại với bác:

- Thưa thủ trưởng! Điều đó chúng tôi đã được cấp trên căn dặn từ ngày khoác ba lô vào Nam chiến đấu. Nhưng người lính Mỹ này bị thương quá nặng, ở chiến trường không chữa được đã đành, kể cả bệnh viện New York cũng bó tay. Nhưng chúng tôi quyết tâm còn nước còn tát.

Nghe vậy bác quay lại người phiên dịch:

- Đồng chí ở lại đây để giúp người lính Mỹ và cần phải tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ. Nếu người lính Mỹ không sống nổi thì sau này chúng ta tìm cách báo cho người nhà của họ.

Những ngày ở lại với người lính Mỹ, chiến sĩ Bắc nói lại cho bác biết: "Tên của người Mỹ ấy là Wiliam Elerbê, vợ của anh ấy Marian Bell. Người lính Mỹ đến miển Nam Việt Nam vào mùa thu năm 1968. Đến Việt Nam nhiều lúc anh ấy nhớ nhà và đau khổ, sợ hãi đến tuột cùng cái hố chiến tranh, hình ảnh cỗ máy xay người đang ngày ngày hiện ra trong đầu anh ấy - Wiliam Elerbê đêm đêm thương vợ, nhớ con đến cồn cào. Anh ấy đang sống trong một gia đình yên ấm, thế mà phải ra đi. Bạn chiến đấu của anh ấy đã chết từ trận trước. Hiện nay, anh không bạn bè thân thích. Sống và chiến đấu ở chiến trường Việt Nam thật kinh khủng, vũ khí thô sơ, thiên la địa võng, rừng núi chập chùng, có nhiều sông ngòi kênh rạch, ao chuôm, nhiều loại côn trùng đáng sợ, các loại cầm thú như: Hổ, báo, trăn, lợn rừng, rắn sẵn sàng tấn công con người.


Còn nói về quân giải phóng của ta thì họ nhanh như con sóc, xuất hiện bất thần như có phù phép, lúc tín báo có "Việt cộng", hành quân đến chẳng có ai... Nhưng khi nói không thì lại xuất hiện. Những người dân bình thường thì không tài nào phát hiện được họ là ai. Vậy mà, một em bé chăn trâu rất hiền lành nhưng lại là một du kích dẫn lính Mỹ vào cạm bẫy.


Nói về vũ khí thì quân đội giải phóng thua Mỹ hàng tỷ lần. Họ chỉ có vũ khí thông thường. Nhưng điều đáng làm cho anh ta sợ nhất là: Hầm chông, bẫy chông, ong vò vẽ... giăng khắp nơi không biết đường nào mà lần. Mỗi khi nghĩ đến đời binh nghiệp ở Việt Nam, anh ta lại khóc. Anh bạn chí thân của anh ấy thường nói: "Khóc được là tốt".


Nhiều đêm, anh ta nằm mơ lúc thì thấy một viên đạn trúng vào đầu, lúc vào tím. Có nhiều đêm nằm mơ thấy có người nói chuyện với anh ấy trong bóng tối: Họ nói với anh ấy như kiểu cây cối rì rầm trong gió ban đêm.

Ngày anh ấy lên máy bay xa nước Mỹ đến với đất nước Việt Nam có nghĩa là anh ấy xa nơi yên bình giàu có, xa vợ con mái ấm gia đình. Khi ngồi trên máy bay anh ấy thấy khó hiểu làm sao - khó hiểu quá. "Đất nước Mỹ từ xưa nay có ai động đến đâu. Sao người Mỹ lại sang Việt Nam, đánh người Việt Nam? Người Mỹ nói là để ngăn chặn Cộng sản bành trướng sang nước Mỹ - Có phải thế không?". Câu hỏi đó cho đến tận giờ phút này anh ta vẫn chưa trả lời được. Anh ta nằm bất động và trút hơi tàn cuối cùng".


Bệnh viện 211 đã tập trung cứu chữa cho người lính Mỹ nhưng không cứu được vì anh ta bị thương quá nặng lại mây ngày không được ăn uống.

Sau khi anh ta chết, đơn vị bác đã chôn cất chu đáo. Bác đã ghi số hiệu đầy đủ bỏ vào lọ penicillin chôn cùng để nay mai chiến tranh kết thúc thi hài người lính Mỹ được đưa về Tổ quốc".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:35:25 pm »

VIII


"Hà ạ! Bác là người lính chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn, vùng rừng núi phía Nam, phía Bắc, gần mười năm trời. Ngày 30-4-1975, nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều đêm trong giấc ngủ, bác bỗng choàng dậy - Thật hay là mơ? - Thật rồi chẳng phải mơ đâu! Bác sung sướng về chuyện "huyền thoại" Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Điều đó có lẽ nhiều người không tin vì vũ khí của quân đội Việt Nam chỉ có những loại vũ khí cũ hồi chiến tranh chống Pháp để lại như An-2, Li-2, Ili-14 và AK-18. Sau này có thêm các loại máy phản lực như: Muf-17, Mur-17, Muf-19, Mut-21, P-94, P-96.


Cao xạ chỉ có 12 ly 7, pháo 37, pháo 57, sau này mới có pháo 100, tên lửa SA-2, SA-3, tên lửa vác vai A-72. Những loại vũ khí này so với chiến tranh thế giới thứ hai đã có nhiều loại lạc hậu, chưa nói đến chiến đấu với Mỹ. Hơn nữa nước ta không có nền công nghiệp quốc phòng, phần lớn nhờ vào viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác.

Chưa kể về kinh tế nước Việt Nam vốn là một nền công nghiệp lạc hậu so với nước Mỹ là một cường quốc đứng nhất nhì thế giới.

Mỹ quyết tâm đánh thắng Việt Nam. Họ đã vận dụng các kỹ thuật hiện đại. Thế mà cuối cùng họ phải thất bại. Điều đó khiến họ cần phải suy ngẫm vì sao lại như vậy?

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ hầu như gia đình nào cũng sự mất mát, rất nhiều gia đình, nhiều làng xã bị đạn bom Mỹ san phẳng. Nhưng may mắn, bác vẫn còn sống.

Tháng 6 năm 1968, trung đoàn của bác đang chiến đấu ở tỉnh Bến Tre - một khu vực đã bị "chất độc cam" làm trơ trọi cỏ cây. Mỹ đã thả thiết bị nghe trộm phát hiện trung đoàn của bác đang hành quân. Lúc phát hiện thấy đơn vị đang tiến vào một khu vưc trống trải, bác lệnh cho đơn vị sơ tán. Ngay lập tức, một chiếc trực thăng sà xuống. Giống như con đại bàng thấy mồi. Đơn vị ẩn nấp xong còn bác đang chỉ huy đơn vị. Bác chạy tìm nơi ẩn nấp máy bay đã sà xuống trên đầu. Bác vừa nhìn và chạy, tim đập dồn dập khi ngoái cổ lại nhìn thấy một người lính Mỹ đứng trên cửa máy bay, giương khẩu súng M-79 nhắm thẳng vào bác. Ngày thường, bác hay nói nửa đùa nửa thật thật nếu có chết thì cũng phải hô được "Đảng muôn năm!". Nhưng lúc này chỉ tập trung chạy vào một cái hang, nó cách xa bác gần một trăm mét, không kịp nữa rồi! Tiếng "phụt" từ khẩu súng M-79 vọng lại. Bác nằm lăn trên bãi trống. Nhưng may thay quả đạn rơi cách bác một mét nhưng không hề nổ. Bác không tin vào mắt mình, quả đạn nằm bên, cách chưa đầy một mét. Thật may thay, đó là quả đạn hỏng. Nếu không thì làm gì bác còn sống hôm nay, hả Hà?


Rồi một lần nữa, mà bác không nhớ rõ cụ thể năm nào. Khi lục quân Mỹ mở chiến dịch Crimp. Nhiệm vụ của chiến dịch này là Mỹ vây đánh khu vực địa đạo Củ Chi. Bác chỉ huy ba mươi người. Khi quân Mỹ xông tới, đơn vị bác chiến đấu và liên tục di chuyển khiến kẻ địch hoang mang, khiếp sợ. Nhưng sau đó một đoàn xe tăng lao tới bắn pháo vào lực lượng của bác. Đơn vị bác phải rút vào địa đạo thì cửa hầm bị sập, không có lối ra, lại thêm không khí trong hầm rất ít vì chỉ có những lỗ thông hơi. Đơn vị bác bị vùi trong một đoạn đường hầm dài chừng 100 mét.


Bác thầm nghĩ thế là cả đơn vị đã bị "chôn sống", làm sao mà lên được mặt đất? Quân Mỹ ở phía trên hầm chắc cũng nghĩ đơn vị bác đã chết rồi nên đã bỏ đi nơi khác.

Lúc này đây bác mới cảm phục những người chiến sỹ trẻ, họ rất bình tình trước nguy nan... Bác họp đơn vị bằng cách người nọ nói cho người kia là phải đào hầm chui lên mặt đất tiếp tục chiến đấu.

Trong hầm không có một tí ánh sáng, dưỡng khí rất ít, người trước đào người sau chuyển đất ra phía sau và cứ như thế thay nhau đào bằng những dụng cụ thô sơ như mũ sắt, dao găm. Cả đơn vị cắm cúi đào lên phía trên, họ biết rằng đó là hướng đi duy nhất, cả đơn vị vừa đào vừa lắng nghe những động tĩnh trên mặt đất, khi biết chắc cách mặt đất hai mươi phân. Bác lấy lưỡi lê chọc một lỗ nhỏ để cho không khí tràn vào. Nhưng cái chính là để nghe động tĩnh của Mỹ. Khi biết chắc Mỹ không có, bác chọc tầng đất cuối, anh em bò lên nằm nghỉ một thoáng rồi nhanh chóng phối hợp với đơn vị bạn đánh từ phía sau, lính Mỹ hoảng loạn tháo chạy và đơn vị bác bắn cháy một xe tăng. Rồi rút lui vào rừng.


Bác đã sống ở địa đạo khá lâu và cũng nhờ địa đạo mà bác thoát chết nhiều lần. Có lần tưởng chết nhưng lại được sống. Bác từ trong địa đạo lần mò cửa hầm, với tay tìm tấm gỗ dùng làm nắp, bác từ từ đứng dậy, khẽ đẩy chiếc nắp gỗ hé lên và thò đầu ra quan sát xung quanh trước khi chui ra. Nhưng khi bác vừa mới đứng dậy thì giật mình vì có tiếng động mạnh từ trong hầm vọng ra, con gà sống từ đấy phóng ra. Con gà vừa chạy vừa kêu quang quác vỗ cánh rồi chạy thoát. Bác bắt đầu lo lắng, không phải vì việc con gà mất mà trực thăng Mỹ biết có người sẽ đến.


Con gà chạy ra khiến viên phi công trực thăng phát hiện, đã bay vòng đi vòng lại rất nhiều lần. Sau thời gian dài quần đảo trực thăng bay đi. Khi biết máy bay không còn nữa, bác cùng với một cán bộ đẩy cửa hầm ra ngoài, nhanh chóng chạy vào khu rừng gần đây, nhưng chưa kịp hành quân thì đạn pháo 175mm từ ngoài câu vào địa đạo. Bác cùng đồng đội quay vào địa đạo. Đồng chí kia kịp vào, còn bác thì bị một quả pháo 175mm nổ rất gần, bác bị thương. Bác ngục ngã bất tỉnh. Lúc đấy, bác lơ mơ thấy có một người với tay từ địa đạo kéo vào.


Sau một thời gian khá dài nằm điều trị ở bệnh viện 211 bác lại được tiếp tục hành quân chiến đấu. Có lúc bác cũng cảm thấy thương con gà, nhưng không có dịp quay trở lại địa đạo. Cần nói thêm cho Hà biết là ở dưới địa đạo bộ đội vẫn chăn nuôi.

Hà ạ! Sau bao nhiêu năm Mỹ - ngụy đánh với quân đội ta không thu được kết quả nên đã chuyển hướng vừa đánh vừa đàm phán. Tại Hội nghị Paris, phái đoàn của Mỹ đưa ra nhiều yêu sách vô lý. Đoàn Việt Nam đều bác bỏ. Ở chiến trường miền Nam, Mỹ bắt đầu mở chiến dịch "Chiêu hồi" hay "Open Arm" (Mở rộng vòng tay). Mỹ - ngụy đã xây dựng những biệt thự sang trọng để cho những sỹ quan Cộng hoà ở, có công ăn việc làm cho vợ con họ, hưởng lương tối hậu.


Tính hiệu quả của chương trình chiêu hồi trong nội bộ Mỹ còn nhiều tranh cãi, nhưng có lẽ thành công lớn nhất đối với Mỹ là chương trình gây ra một mối nghi ngờ trong lòng những người Cộng sản, bởi vì việc theo dõi và phát hiện người nào thiếu bản lĩnh chiến đấu là việc không đơn giản.


Nhưng Mỹ đã nhầm, bộ đội Việt Nam, họ chiến đấu hy sinh vì độc lập thống nhất đất nước. Bác Hồ đã dạy "giàu sang không thể quyến rũ, uy vũ không thể chuyển lay". Chương trình chiêu hồi của Mỹ đã thất bại.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:36:45 pm »

Vài tuần khi quân Mỹ tấn công vào Campuchia, bác cùng với một tổ bảo vệ cho một sỹ quan cao cấp Việt Nam đối Svay Riêng từ ba ngày trước. Sỹ quan cao cấp vì công việc nên đã lưu lại quá thời gian cho phép.

Sáng 17 tháng 5, sỹ quan cao cấp họp bàn kế hoạch tác chiến với các lực lượng chiến đấu phía Tây Nam đến hai giờ sáng. Khi về họ chia ra làm hai hướng khác nhau: Cấp phó của sỹ quan cao cấp đi về một hướng. Còn bác và cấp trưởng đi về một hướng.

Trên đường về căn cứ của quân giải phóng bác nghe thấy tiếng máy bay trực thăng trên đầu, một chiếc, hai chiếc. Thấy tình hình không được ổn, bác và đồng chí cấp trưởng cùng với hai đồng chí khác chui vào nơi trú ẩn và chờ đợi.

Sau nửa tiếng, quân Mỹ đã có mặt khắp nơi, bác biết đã lọt vào giữa một trận càn lớn nhưng bác không ngờ rằng mục đích của địch lần này là tìm kiếm bắt đồng chí cán bộ cao cấp của ta.

Từ nơi ẩn nấp, bác quan sát được các hoạt động của địch, mọi người trong tổ của bác nằm im nghe ngóng.

Tình trạng ấy kéo dài trong nhiều giờ, máy bay trực thăng quần đảo trên đầu, mặt đất lính Mỹ lùng sục khắp nơi. Bác rất lo vì lính Mỹ có chó nghiệp vụ đi cùng. Trời! Giá như lúc này có thuốc chống chó. Nếu không thì có xà phòng bôi vào cũng được. Nhưng khi đi bác không nghĩ tới chuyện này nên chẳng mang gì cả. Tổ bác nằm im không động cựa, không nhúc nhích. Nếu địch phát hiện, nếu điều đó xảy ra thì tổ của bác sẽ chiến đấu không cho địch bắt. Sau một thời gian khá dài, thấy bầu trời yên tĩnh, bác ló mặt nhìn qua miệng hố, cẩn thận quan sát trong khu vực, biết chắc quân Mỹ đã rút lui. Bác thông báo cho mọi người chuẩn bị hành quân. Trong khi rút lui bác rất lo lắng không hiểu toán kia có an toàn không?


Nhưng sáng 18 tháng 5, người sỹ quan cấp phó đã tới chỗ quân Việt Nam Cộng hòa để đầu hàng theo chương trình Chiêu hồi. Quân Việt Nam Cộng hòa lập tức thông báo cho người Mỹ. Mỹ nhận định tốp của bác đang hành quân trong rừng, quân Mỹ đã phản ứng kịp thời, mở một đợt càn và lục soát khẩn cấp.


Sau này, bác mới biết tên sỹ quan phản bội đã có chuẩn bị trước nên đã chuyển vợ con từ Mỹ Tho, lên Sài Gòn, chuẩn bị đào ngũ mà ta không nắm kịp thời... Bác nghĩ đây là một sự sơ hở của phía ta nhưng chỉ là một trường hợp cá biệt.

Hà ạ! Tuyệt đại đa số chiến sĩ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Bác còn nhớ đơn vị hành quân trong những khu rừng rậm rạp, hành quân kéo dải, có lúc phải lê từng bước vì vừa đói rét, vừa bệnh tật. Sau này, bác muốn cho một số chiến sĩ ra Bắc, nhưng họ quyết không đi, không một ai rời hằng ngũ chiến đấu. Bác vẫn nhớ như in người chiến sỹ gái tên là Thu Hằng đã nói với bác:

"Dù em có mệt mỏi đến đâu, cũng phải dấn bước chiến đấu, vì miền Nam đang kêu gọi, cả đất nước đang sục sôi chống Mỹ xâm lược". Nói xong câu ấy, Hằng nhìn bác và nói tiếp: - Nếu em hy sinh nhờ thủ trưởng giúp em hai việc có được không?

- Xin em cứ nói đi. Đối với chiến sỹ trăm ngàn việc anh cũng cố gắng giúp.

- Không nhiều việc thế đâu thủ trưởng ạ! Một là thủ trưởng mãi mãi cho em chiến đấu ở miền Nam... Hai là thủ trưởng luôn nhớ tới em lúc sống chiến đấu cũng như lúc đã hi sinh.

- Anh hứa sẽ làm tròn hai điều mà Hằng yêu cầu.

Hằng mỉm cười bước đi và không nói gì thêm.

Những tia nắng nhảy nhót trên vai người chiến sỹ ấy. Tiếng trọng pháo của địch từ ngoài biển bắn vào vang dội cả một khu rừng, cả hai bước vội trên một triền dốc thoai thoải, cách nhau một vài bước chân.

Thế rồi ngày hôm sau chiến đấu, Hằng bị thương rất nặng. Biết mình không sống được, Hằng nói với bác những lời cuối cùng:

- Em là một bác sỹ đa khoa, em mơ ước học xong sẽ được trở về quê hương chữa bệnh cứu người, nhưng em chưa giúp được gì cho người thân ruột thịt... mà đã phải hy sinh. Em mong anh sẽ trả thù cho em...

Nói rồi cô thanh thản ra đi. Kết thúc chiến tranh, bác mới nghe người ta thông báo có khoảng hơn hai triệu dân thường thiệt mạng chưa nói đến sự hi sinh của các chiến sỹ trên chiến trường. Nhưng điều đau thương nhất là chất độc da cam đã để lại một hậu quả vô cùng lớn lao mà người Việt Nam phải gánh chịu trong nhiều thế hệ".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:39:32 pm »

IX


Hôm nay, bác sẽ kể cho Hà nghe một câu chuyện khác.

"... Vợ chồng ông Nhơn và bà Mè là những nhà giáo. Họ sinh được bốn người con trai: Sanh, Tài, Đại, Đạo và hai người con gái. Trong những năm đất nước bị chia cắt hai miền Nam Bắc, ông Nhơn dạy học và quản lí một trường học ở Chợ Lớn, ngoại ô Sài Gòn. Nhưng vì trường dạy cho học sinh những tư tưởng yêu nước, cách mạng nên chính quyền Sài Gòn bắt phải đóng cửa. Gia đình họ chuyển vào Sài Gòn sống với người thân. Tại đây, họ trở thành một cơ sở kiên trung của cách mạng. Năm 1960, khi chính quyền Sài Gòn đang chuẩn bị bắt các cơ sở cách mạng vì các hoạt động chống chính quyền, gia đình họ phải rời thành phố về tỉnh Trà Vinh. Là nhà giáo nên các con họ sớm nhận thức ra con đường cách mạng.


Năm 1964, chiến tranh ở miền Nam ngày một lan rộng khắp nơi. Chính quyền Sài Gòn thẳng tay trừng trị những người có liên quan đến Cộng sản. Gia đình ông bà quyết chuyển đến vùng căn cứ của mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam - Tổng hành dinh nằm trong rừng sâu, bên ngoài Sài gòn. Nơi này nằm tại tỉnh Tây Ninh, được biết đến với cái tên gọi "Chiến khu R".


Các con trai của gia đình ông bà tham gia và quân giải phóng. Bà Mè không nói ra nhưng rất tự hào về những đứa con đi chiến đấu với giặc Mỹ, mặc dù bà Mè cũng rất lo lắng việc sống chết của các con.

Cuối tháng 2 năm 1968, bà Mè đang làm việc tại chiến khu R cùng với anh em cơ quan. Bác nhớ rõ đó là một ngày đẹp trời, trong ngôi nhà nhỏ, bà đang kiểm tra lại phần công việc đã làm và dự định làm những công việc tới. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn lịch sử mang tính chất quyết định. Nghe tiếng gõ cửa, bà mở cửa, bác bước vào. Bà Mè nhận ra ngay bác - người bạn chiến đấu của vợ chồng bà. Nhưng hôm nay vẻ mặt của bác không vui. Bác ngồi vào bàn, bà Mè nhìn vào đôi mắt của bác một hồi lâu rồi nói với một giọng bồn chồn.

- Anh Thắng có tin gì xấu sao?

Ngẫm nghĩ một lúc rồi bác lựa lời báo cho bà Mè:

- Bà Mè ạ! Không biết tôi nói tin xấu này bà có chịu được không?

Nghe vậy, bà run rẩy biết là một điều bất hanh đã đến với các con bà. Một lúc sau bà bình tĩnh lại và nói với một giọng bình tĩnh:

- Anh Thắng ạ! Có điều gì không hay đến với các con em ở mặt trận thì cứ báo cho em hay. Em biết rằng cuộc chiến này, những người lính khó lòng thoát khỏi bom đạn của giặc Mỹ.

Bác nuốt khan nước bọt một hồi lâu và cất lời:

- Bà Mè ạ! Tài, con trai của bà đã anh dũng hi sinh đúng vào lúc con trai lớn Sanh cũng bị thương, tại An Lạc, quận Bình Thanh trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân.

Bà Mè run rẩy, loạng choạng rồi ngất xỉu. Một lúc sau, khi bà tỉnh lại, bà nói với bác:

- Anh có nghe nhầm không? Làm gì có chuyện hai đứa con em cùng bị một lúc. Chắc là anh có gì đó lầm lẫn?

Nghe vậy bác nghĩ nên nói thật cho bà biết thì hay hơn. Nghe bác nói xong, thật kinh ngạc, bà Mè nói:

- Anh Thắng ơi! Hai đứa con em là chiến sỹ của anh, bây giờ một đứa đã hi sinh rồi, dù có buồn đau đến mấy cũng không giải quyết được gì. Em hi vọng anh sẽ trả thù cho đứa con em. Còn vợ chồng em, dù đau đớn, cũng quyết không vì thế mà tuyệt vọng.

Được hơn một tuần sau, bác nghe tin bà đã bình phục được ít nhiều, nhưng một tin đau khổ khác lại đến với bà. Đại con trai thứ ba, 22 tuổi bị địch giết ở Vĩnh Long trong khi đang làm nhiệm vụ. Còn Đạo 20 tuổi, bị thương nặng, nhưng nhờ bệnh viện tập trung cứu chữa nên đã qua khỏi. Đơn vị quyết định chuyển Đạo về công tác tại chiến khu R để động viên bố mẹ. Nhưng trong chuyến đi về chiến khu R của Đạo, dọc đường đi bị một quả đạn M-79 bắn nổ rất gần, nhiều mảnh đạn bay vào mặt và mắt Đạo, nhưng anh không chết.


Sau ngày giải phóng đất nước, bác lại có dịp vào thăm gia đình bà Mè. Bà nhìn bác rồi nói:

- Anh Thắng! Anh vẫn còn sống đấy à? Anh thật may mắn và cao số. Bây giờ hòa bình, không có đạn, cuộc sống cũng đã đổi thay nhiều lắm, dù ăn bát cháo cũng sướng.

Nói xong câu ấy, bà giã trầu, miệng nhai trầu rồi kể tiếp: Như anh Thắng biết đấy, ba đứa con em hi sinh ở mặt trận còn thằng Đạo bị thương tàn tật.

Ngày đó em còn khỏe, cũng cố gắng làm ăn và tưởng là sinh thêm một đứa nữa để tiếp tục cho nó ra trận. Nhưng chiến tranh đã kết thúc rồi, thật may mắn vì không còn ai phải ra trận nữa. Bây giờ, ngồi nghĩ lại quá khứ chiến tranh mà lạnh toát cả người.

Bà nói:

- Bây giờ có hòa bình rồi, có phải ăn bát cháo cũng sướng. Vừa rồi em vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Bác ngồi trầm tư suy nghĩ; bà Mè là một người mẹ tiêu biểu cho bao nhiêu người mẹ Việt Nam. Bác hiểu thấu tâm tư của những người mẹ, người cha khi các con mình đối mặt với chiến tranh, có con ngã xuống trên chiến trường và chẳng thể đưa hài cốt con tới nơi an nghỉ cuối cùng. Và không biết bao nhiêu bà mẹ ngày đêm trông chờ tin tức của con qua chương trình "Đi tìm đồng đội". Bà Mè cũng như muôn vàn người mẹ khác. Nghĩ vậy, bác hỏi bà Mè:

- Sau những mất mát của gia đình, chị có căm ghét giặc Mỹ lắm không?

Bà ngừng nhai trầu suy nghĩ một lát rồi nói:

- Ngày đầu em cũng căm thù giặc Mỹ lắm, họ từ một nơi xa xăm đến Việt Nam bắn giết những đứa con mà mình đẻ ra. Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về bi kịch của bao gia đình, bao bà mẹ Việt Nam. Nhưng rồi cái nỗi đau ngày tháng cứ dằn vặt, em có lúc tưởng chừng như không sống nổi. Qua những nỗi đau của mình mới thấy thông cảm cho những bà mẹ Mỹ khi không tìm thấy hài cốt của con để đưa về nước. Những đứa con yêu quý của họ mãi mãi nằm trên đất nước Việt Nam mà không tìm thấy. Em nghĩ rằng cần phải tìm hài cốt của lính Mỹ đưa về cho các bà mẹ Mỹ đang trông chờ khắc khoải. Còn câu hỏi có ghét Mỹ không? Thực ra trong chiến tranh thì có. Còn bây giờ khi đất nước ta đã hòa bình, em không muốn bất cứ nơi nào có chiến tranh bởi chiến tranh đưa lại cho người chiến thắng và kẻ thất bại một nỗi đau vô bờ. Nỗi đau đó có ở cả hai phía...".


Sau chiến tranh, người ta mới có dịp kể nhiều câu chuyện về các bà mẹ Việt Nam. Không nhớ là vào năm nào bác có dịp đến Bảo tàng Quân đội thấy có nhiều Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mặc dù trong bảo tàng chưa phải là toàn bộ danh sách liệt kê, nhưng ngần ấy cũng đã làm cho bác trào nước mắt. Những người mẹ chịu cảnh người đầu bạc khóc những người con ở chiến trận ra đi mãi mãi không về với gia đình. Bà Nguyễn Thị Điển có chồng và ba con trai là liệt sĩ. Bà Trần Thị Tràng - có chồng và năm người con là liệt sĩ, còn một người con bị thương mất khả năng lao động. Bà Huỳnh Thị Tân - có năm người con hy sinh tại chiến trường...


Nhìn những bức ảnh, những lời chỉ dẫn ở bảo tàng, bác không tài nào đứng vững phải ngồi xuống nhớ lại cảnh chiến tranh năm nào. Khi những người đồng đội của bác ngã xuống bác thấy đau đớn mấy ngày không ăn, không ngủ được. Còn người mẹ mất từ ba người con trở lên thì làm sao mà họ chịu nổi? Rõ ràng những bà mẹ chịu đau khổ trong chiến tranh đã đành. Nhưng nỗi đau sau chiến tranh mới là điều đáng sợ. Chiến tranh qua rồi nhưng những người mẹ tóc bạc vẫn đứng ngóng trông con về, mặc dù biết con đã hy sinh. Vì tình yêu đất nước, họ sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng hi sinh để đổi lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Có lẽ chính những suy nghĩ này mà bao người dân Việt Nam đã đứng vững suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.


Hà ạ! Không ít lần bác đến thắp hương ở tượng đài tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Bác chắp tay, nắm hương cháy mà không thể nào bước lên để cắm vào tượng đài, nơi có bát nhang. Ai đã từng lăn lộn ở chiến trường miền Nam mới thấy những đứa con của mẹ Thứ dũng cảm biết ngần nào. Nỗi đau xót của mẹ Thứ là lớn lao. Rồi đến bà Nguyễn Thị Rành, mất đi tám đứa con và hai người cháu. Những đứa con ra trận lần lượt hi sinh, bà lại gửi tiếp cháu ra trận chiến đấu. Chừng nào giặc Mỹ còn ở trên đất nước Việt Nam. Bà thường nói: Đất nước Việt Nam là của người Việt Nam, không thể có ai xâm chiếm được. Dù nỗi đau của bà Rành ngày một tăng nhưng ước mơ chiến thắng về ngày mai không bao giờ tắt. Những thông điệp này đã được nêu lên trong bức thư gửi cho con của các Bà mẹ Việt Nam anh hùng mà lúc được đọc trong bảo tàng


Mỹ càng ngày càng tìm cách tìm đánh tàn ác hơn, khốc liệt hơn nhưng lòng dân Việt Nam càng dũng cảm và càng sẵn sàng hi sinh. Thật không có một loại vũ khí nào mạnh hơn là sức mạnh tinh thần và ý chí con người. Bà mẹ Nguyễn Thị Loan khi đứa con trai yêu quý của bà vừa mới hi sinh, bà chỉ còn lại một đứa con trai. Nó là tộc trưởng của một họ, là nòi giống cuối cùng của gia đình nhưng sau khi Lê Viết Dũng hi sinh bà đã tự làm đơn cho đứa con trai Lê Viết Hùng nhập ngũ chiến đấu và anh cũng đã hi sinh.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:40:37 pm »

Hà ạ! Sức chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam âm thầm lặng lẽ mà vô cùng to lớn. Không phải chỉ riêng những người phụ nữ là toàn bộ người dân Việt Nam. Nếu Hà có điều kiện đi khắp đất nước thì hầu nhau ở làng nào, xã nào, từ miền ngược đến miền xuôi, cũng có những người phụ nữ có chồng, có con đã hy sinh anh dũng cho Tổ quốc.


Trong chiến tranh, lực lượng thanh niên, người còn sức ra trận, còn ở làng quê phụ nữ và những người già cả ra đồng cày cấy, chăn nuôi trồng trọt họ gửi ra mặt trận sức người và sức của, "xe của qua nhà không tiếc".

Ở hậu phương phải ăn sắn, ăn khoai hay là hạt bo bo thay cơm. Nông dân cày cấy dựa vào ánh trăng. Nếu làm ruộng ban ngày là bị máy bay Mỹ ném bom. Mục tiêu quân sự đánh, dân sự cũng đánh - người dân Việt Nam phải sơ tán vào rừng núi.

Những em nhỏ phải sơ tán vào rừng để học. Dân sơ tán vào khu rừng rậm, thỉnh thoảng lại bị dội bom. Người lớn, đào hầm cho các em nhỏ. Về sau các em nhỏ phải tự đào hầm trú ẩn. Những em nhỏ phải đào hầm thường xuyên vì ở nơi này bị lộ, địch đánh phá lại chuyển đến nơi khác, lại phải đào hầm.


Lương thực mang đi không được nhiều, các em không đủ gạo và thực phẩm. Nhiều lúc hết lương thực, thực phẩm các em lại phải tự kiếm đồ ăn. Mỗi khi đói, các em phải vào rừng kiếm trái cây. Những người lớn đã dạy các em vào rừng kiếm sống qua ngày. Các em nhỏ có thể ăn nhiều loại trái cây. Đôi khi các em cũng đọc sách "kiếm sống trong rừng" - một loại sách viết cho lính Mỹ, trong đó mô tả cặn kẽ các loại nấm ăn được, không ăn được, sách dạy của Mỹ về cách bẫy bắt thú rừng nhỏ. Những khi đói, các em phải ăn rắn và bọ cạp. Có hai loại bọ cạp trong rừng. Một loại rất độc. Đó là loại bọ cạp nhỏ, màu nâu. Loại ăn được khá lớn dài khoảng một tấc, màu đen. Bọ cạp núi rất dễ bắt. Chúng nó bò lúc nhúc quanh hầm trú ẩn. Có một ít thịt trong càng của nó, khoảng nửa thìa, thịt có mùi vị giống tôm. Càng là bộ phận duy nhất có thể ăn được.


Hà ạ! Khi bác tiếp xúc với những em nhở trong rừng, có em gầy gò, bệnh sốt rét hành hạ, ăn uống kham khổ thế mà nó vẫn chăm chỉ học tập. Ở trong rừng giáo viên thiếu nên nhiều thầy cô phải dạy suốt ngày đêm. Sách giáo khoa thiếu, các thầy cô phải tự nhớ lại những năm học ở cấp một hai, viết ra rồi dạy cho học sinh.


Trẻ thơ được sơ tán trong rừng. Còn bố mẹ người lớn phải ở nhà vừa chiến đấu vừa lao động sản xuất. Mỗi khi có tiếng máy bay Mỹ gầm rú, ném bom, những đứa trẻ thường lo lắng, có khi hoảng sợ. Khi nghe tin bố mẹ an toàn thì các em lại thở phào. Nhưng cũng có một số em không may mắn, bố mẹ em bị chết bom. Tuy vậy, bác thấy các em đó đều cố gắng vượt qua, bình thản, động viên nhau lúc hoạn nạn. Thầy cô, người lớn quan tâm động viên những em có cha mẹ chết, cả lớp trẻ động viên an ủi và chăm sóc em ấy trước khi cho em ấy biết tin buồn đó. Chúng cố gắng không nhắc lại tin buồn. Tất cả người lớn và các em nhỏ thường xuyên bận rộn với những việc làm hàng ngày đến mức không có thời gian nghĩ đến những chuyện khác. Kể cả bi kịch gia đình. Các em tự chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để nguôi ngoai những nỗi đau khổ do chiến tranh gây nên.


Hà ạ! Bác còn nhớ, một em nhỏ tâm sự với bác: "Bác Thắng ạ! Có một đêm cháu nằm, linh cảm thấy một điều gì đó không ổn. Hôm sau, khi cháu ngủ lơ mơ thấy một người cán bộ đến gặp người phụ trách cháu. Lúc đó người phụ trách tưởng cháu ngủ rồi. Cháu cố gắng giữ im lặng nghe họ nói chuyện. Cháu nghe họ nói về cái chết của các anh cháu. Cháu lặng lẽ khóc ròng và thầm hứa sẽ cố gắng học tập để sớm vào quân đội chiến đấu với giặc Mỹ".


Nghe vây, bác hỏi nó:

- Sao cháu không hỏi lại người chỉ huy mà cứ lặng lẽ chịu đựng khóc thầm.

Cháu nuốt khan một hồi lâu rồi kể tiếp:

- Hỏi làm gì hả bác! Người phụ trách cháu cũng vừa nhận được tin buồn như cháu. Cháu muốn nuốt hận thù để nuôi ý chí chiến đấu. Mà hầu như bọn cháu đứa nào cũng có nỗi đau do giặc Mỹ gây nên. Sau cái đêm biết tin các anh cháu mất, cháu lại lên cơn sốt rét và được chuyển đến bệnh viện. Cháu nằm trong căn hầm chữ A. Đột nhiên máy bay đến ném bom gần đó. Sau khi cắt cơn sốt rét, cháu lại tiếp tục đi học. Lần ấy, bom lại rơi trúng trường học, cháu được tin mười ba em nhỏ và hai cô giáo đã bị chết.

Bác hỏi nó:

- Các cháu sống trong rừng, máy bay thường xuyên ném bom, ăn uống không có gì, bệnh tật hoành hành như vậy, cháu nghĩ sao?

- Nghĩ sao ư? Thật ra những cái bác nói thật đáng sợ, nhưng cái đáng sợ nhất là mất Tổ quốc, chúng cháu phải bảo nhau khắc phục khó khăn để tiếp tục chiến đấu lâu dài với bọn Mỹ bác ạ!

- Thế cháu không nhớ cha mẹ, quê cha đất tổ, anh chi em và bạn bè hay sao? - Bác hỏi.

Cháu nở nụ cười hồn nhiên và kể tiếp:

- Có chứ! Ngày đầu nhớ nhà lắm - Không hẳn là nhớ cha mẹ mà nhớ mọi người trong gia đình, bà con cô bác. Có nhiều lúc cháu nhớ buồn cười lắm. Nhớ thương con mèo, con chó mỗi khi có tiếng máy bay gầm rú thế mà con mèo ngơ ngác kêu meo meo, còn con chó thì sủa náo loạn. Nhưng bây giờ sống trong rừng lâu ngày nên cũng đã quen dần rồi bác ạ! Sau một thời gian ở trong rừng, bọn cháu đã quen cuộc sống trong rừng... Nói xong câu ấy nó ngập ngừng một thoáng rồi nói tiếp: - Bây giờ cháu xin phép bác để vào học.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:43:29 pm »

X


Nhìn đứa trẻ thoăn thoắt chạy vào trường, bác thấy một cảm giác đau xót, không hiểu rồi đây cuộc đời của cháu bé sẽ ra sao? Và bác bắt đầu nghĩ về những đứa trẻ trên thế giới này.

Hà ạ, lúc nghe em bé kể về những nỗi khổ của tuổi thơ em, lúc đó bác không cầm được nước mắt. Em bé hỏi: "Sao bác lại khóc?"

Thật sự bác không thể trả lời rành rẽ được, khóc vì thương em bé cũng có mà thương cho dân tộc mình thật nhiều. Quả đất này là mái nhà chung của loài người. Có nước giàu nước nghèo là lẽ tất nhiên. Nhưng cớ sao nước giàu lại đi đánh nước nghèo như Việt Nam? Nước Mỹ là một cường quốc. Còn Việt Nam là một nước nghèo, lại chậm phát triển mọi mặt do chiến tranh liên miên. Sao Mỹ lại dùng sức mạnh quân sự, vũ khí tiêu diệt một đất nước mà từ khi loài người xuất hiện đến giờ người Việt Nam chưa có một lời nói, một hành động nào chống lại Mỹ? Điều vô lí đó đến bây giờ bác mới nhận ra.


Nước Mỹ có một lịch sử may mắn. Từ khi độc lập, thường dân nước này không phải sống những ngày chiến tranh. Nước Mỹ không có chiến tranh xảy ra. Ngoại lệ duy nhất là cuộc chiến tranh năm 1812, khi quân Anh đổ bộ vào nước Mỹ, bắn phá Nhà Trắng và nhiều dinh thự khác.


Sự hội tụ của yếu tố địa lí, quá trình phát triển khá chậm của công nghệ vũ khí tầm xa trong phần lớn lịch sử nhân loại, cùng việc phát triển khả năng tự vệ từ xa - hàng rào ngăn chặn bên ngoài biên giới quốc gia - đã giúp nước Mỹ, che chắn cho dân thường khỏi phải chịu đựng sự khắc nghiệt của chiến tranh mà các nước khác phải chịu. Có lẽ vận may ấy đã khiến người Mỹ quên rằng chiến tranh thật khốc liệt đối với dân thường, một khi người dân ở ngay trong vùng chiến trận.


Nghĩ vậy, bác mới thấy hai sinh linh giống nhau nhưng có hai cuộc đời khác nhau. Những đứa trẻ trên đất Mỹ sống sung sướng. Trẻ em Mỹ hằng ngày đi lại có bố mẹ đưa đón, hoặc ngồi trên tuyến xe buýt tới lớp đúng giờ trong phòng học có điện sáng, có điều hòa nhiệt độ, tan học về nhà với. bố mẹ được ăn ngon mặc đẹp, đến các bể bơi, các cung thể thao, mùa hè có thể đi nghỉ khắp nơi trên thế giới. Trẻ em Mỹ được học về các môn khoa học, cách vui chơi để tâm hồn thanh thản. Trẻ em Mỹ được sống ấm cúng trong một gia đình có cha mẹ, ông bà... sớm hôm có nhau. Trẻ em Mỹ có một cuộc sống sung sướng vô bờ bến, có lúc tính dậy ngỡ không phải là sự thật.


Từ năm 1812, Mỹ không bị ai xâm chiếm hoặc thiệt hại gì về người và của cải. Có lẽ vậy mà một số người Mỹ đã trở nên vô cảm trước các tai họa mà nước xâm lược có thể gây ra chăng?.

Hà ạ, bác nhớ thời kỳ đơn vị bác đóng quân ở Quảng Bình cách một trường học khoảng 50 ki lô mét. Bác và các đồng chí trong đơn vị thường đến giúp các em và thầy cô đào hầm.... Những em nhỏ Việt Nam trong chiến tranh thường phải sơ tán vào rừng núi hay những vùng nông thôn hẻo lánh hoang vu để học. Cách xa những nơi thường xuyên bị máy bay ném bom. Phòng học là những hầm chống bom đạn được đào sâu hơn hai mét, đủ rộng để chứa đủ 35 học sinh. Phía trên hầm làm khung bằng tre nứa hoặc gỗ rồi lấp lá lên, xong dùng đất sét trộn với rơm phủ lên một lớp dày để có thể che chắn được bom đạn. Lớp có một cửa hầm thông với địa đạo ngoằn ngèo kéo dài hàng trăm mét. Khi có máy bay, học sinh và cô giáo chuyển xuống địa đạo để tránh máy bay Mỹ ném bom. Hầm địa đạo được đào bằng bàn tay của học sinh và thầy cô giáo, đôi khi cũng có sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh.


Thường ngày học sinh đi học từ sáng tinh mơ nhưng phải mang vòng ngụy trang. Các em kết những thanh tre nhỏ hình ông sao rồi cắm lá cây che kín người, máy bay Mỹ từ trên trời nhìn xuống tưởng là cây trồng tự nhiên. Nếu khi có máy bay đến thì nằm úp sấp mặt xuống đất để máy bay Mỹ không nhìn thấy. Sau những buổi học các em vẫn tham gia hoạt động tập thể như cày cây, làm ruộng. Ngoài ra có chương trình tập cứu thương, băng bó khi bị thương. Có lần các em đã băng bó cho một phi công Mỹ nhảy dù xuống bị gãy chân.


Trong chiến tranh, các cơ sở y tế hầu như không có, các thầy cô đã lồng ghép vào chương trình nhiều bài giảng, nhiều ví dụ thực tế, các vấn đề thường gặp hằng ngày như dùng bát úp vào vết thương thủng ở bụng để không cho ruột chảy ra ngoài, garo cầm máu, sử dụng các loại lá cây chữa bệnh cầm máu; dùng những thanh tre nẹp lại khi bị gãy chân tay hoặc xương sống.


Những em học sinh nam cũng như nữ khi học xong cấp ba đều tình nguyện đi vào chiến trường để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Học sinh sơ tán vất vả hết chỗ nói, mỗi ngày chỉ có hai bữa ăn trưa và chiều. Suất ăn chẳng có gì, mỗi em được cấp một nắm cơm gói trong những tấm vải dù của Mỹ, cần nói thêm dù Mỹ thả xuống trong rừng rơi rất nhiều. Cơm nắm trong vải dù được lăn tròn, nện chặt làm như vậy cơm sẽ lâu thiu. Khi đến vùng sơ tán tìm măng rừng để nấu, nhưng bộ đội ở rừng đông nên việc tìm măng ăn không phải là dễ. Các em có thể ăn lá sắn thay rau nhưng ăn nhiều sẽ ngộ độc. Một vài lần hiếm hoi cũng được ăn dưa muối. Ngày đầu các đơn vị bộ đội đóng quân gần đó cũng săn được thú rừng nên cũng cung cấp một ít cải thiện, nhưng về sau bom đạn Mỹ giết sạch, hay là thú bỏ chạy trốn đi đâu mất. Mỗi khi hành quân chuyển địa điểm học tập, một lớp thường có hai thầy hoặc cô đi cùng, những người lớn thường vừa dẫn học sinh vừa cảnh giới mặt đất và máy bay trên không. Nhưng nhiều lúc cũng không nghe thấy vì rừng quá rậm rạp. Những thầy cô thường dự đoán khu vực có khả năng máy bay ném bom để dẫn các em đi theo lối khác hoặc cho các em dừng lại để nghe ngóng tình hình lúc đó mới dám vượt qua bằng cách đi nhanh hoặc chạy qua khu vực nguy hiểm. Trong khi di chuyển thường là không có hầm hào, nếu có máy bay các em nấp gốc cây hay tảng đá.


Học sinh sơ tán như vậy nhìn chung cũng an toàn, thỉnh thoảng có một vài trường hợp đau lòng, có em đạp phải mìn lá. Khi nhấc chân quả mìn bay lên gần đầu em rồi nổ, chết ngay, cả lớp vây quanh than khóc, có em ngất lên ngất xuống. Các thầy cô chẻ cây tre đan thành cáng khiêng em đi chỗ khác để chôn cất. Những em nhỏ nước mắt ròng ròng chảy. Bác nhìn các em nhỏ mà lòng quặn đau vô cùng. Rồi mấy em bé nói với bác: "Bạn cháu chết hôm nay, ngày mai chúng cháu lớn lên ra trận sẽ tiêu diệt giặc Mỹ để trả thù". Thế đấy bom đạn Mỹ có thể giết chết người nhưng không thể nào giết chết ý chí của bao thế hệ người Việt Nam.


Các em nhỏ đi sơ tán trong rừng thật đáng sợ nhiều thứ, trong đó cái đáng sợ nhất là biệt kích. Biệt kích địch thường được trực thăng thả xuống để cài cắm vào khu vực rừng núi.

Lại nói về biệt kích, từ năm 1961, Cục Tình báo Trang ương Mỹ triển khai chương trình bí mật, đưa biệt kích Việt Nam Cộng hòa đột nhập vào lãnh thổ Bắc Việt Chiến dịch này, được lầu Năm Góc tiếp quản năm 1964, đến năm 1968 đã thất bại nặng nề khi gần 500 lính biệt kích bị giết, bị bắt hoặc trở thành điệp viên hai mang. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Roberrt S. Macnamara và cựu Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Việt Nam, tướng William C. Wesmoreland, đã bị chỉ trích nặng nề về chiến dịch trên.


Có lần bác được chứng kiến một toán biệt kích thả xuống. Chứng vô cùng hốt hoảng vì biết chắc là mảnh đất Việt không dung thứ chúng, sớm muộn rồi chúng cũng bị bắt. Ngay khi tiếp đất chúng đã đưa hai tay lên trời đầu hàng. Các chiến sỹ biên phòng bắt đưa về đồn xét hỏi.


Những đứa trẻ sơ tán sợ nhất là mưa to, lũ quét. Khi nghe tiếng nước chảy ầm ầm thì cũng là lúc nước ập đến, trong trường hợp đó các em phải trèo lên những tảng đá to hay những cây cổ thụ. Có nhiều khi đang ở mùa hanh khô thế mà bỗng dưng mưa ào ào như trút nước. Sau này người ta mới biết Mỹ đã thả hóa chất tạo nên những cơn mưa nhân tạo. Mấy lần bác gặp những toán học sinh ướt như chuột ngồi co ro trên tảng đá. Bác hỏi vì sao như vậy, các em bảo: "Mưa quá to, nước sông lớn không biết bơi lội. Phải ngồi chờ bao giờ nước rút mới tiếp tục hành quân". Thật nguy hiểm, các cháu không biết bơi, dòng sông trở nên rộng hơn, nước chảy xiết. Những thầy cô buộc một đầu dây vào gốc cây rồi bơi qua bên kia buộc vào thân cây cổ thụ. Những đứa trẻ một tay cầm ba lô làm phao, tay kia nắm vào dây để qua sông, qua suối. Ba lô được cho vào một bọc vải nhựa không cho nước vào để làm phao cứu sinh. Những công việc này các em được thầy cô huấn luyện rất kỹ để thích nghi với hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Vì thế, các em nhỏ sau khi học xong cấp ba thường có đầy đủ bản lĩnh vào quân đội chiến đấu".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:47:32 pm »

XI


Những ai chưa từng đến Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nhất là từ ngày 5-8-1964 đến hết cuộc chiến tranh thì khó lòng thấu hiểu được sự tàn ác của chiến tranh như thế nào. Các thành phố, thị xã, thị trấn bất cứ lúc nào cũng có tiếng còi ú, báo động: "Đồng bào chú ý máy bay địch đang tiên vào thành phố". Người già yếu bệnh tật dìu nhau xuống hầm cùng với những cháu nhỏ. Những người còn sức lao động nhanh chóng ra các trận địa, các chốt bắn máy bay bằng các vũ khí thông thường. Người nông dân cày cấy trên đồng ruộng súng quàng vai, khi có máy bay dừng công việc lên bờ hay tập trung vào một cụm chờ máy bay đến vừa tầm là nổ súng. Không quân Mỹ thường lợi dụng khí hậu xấu hay là trời sắp tối, nhất là vào khoảng buổi trưa từ 12 giờ đến 15 giờ. Máy bay đi từng đàn, ít nhất là tám chiếc, có lần đến 36 chiếc tấn công nhiều hướng, nhiều độ cao khác nhau. Chúng thường lợi dụng những hôm trời đầy mây mù và mưa to.


Bác được nghe kể, có lần ở vùng quê Nghệ An, một người vợ có chồng vừa hy sinh trong một cuộc đụng độ trên trận địa pháo với không quân Mỹ, chị luộc quả trứng để thắp hương, thấy khói, một máy bay từ đâu tới ném một quả bom tấn, cả làng biến thành một cái ao sâu tới ba bốn mét. Tất cả dân làng và cả đám tang cũng bị xóa sạch. Nay chỉ còn lại một hồ ao. Người ta đặt tên cho cái hồ đó là: "Hồ Tang thương". Hầu hết, các làng mạc và thị trấn, thị xã của miền Bắc đều bị Mỹ phá hủy. Hôm bác đi công tác ở Thành phố Vinh gặp ngưòi quen, ông già món mém kể:


- Anh Thắng ạ! Tôi không nhớ rõ ngày nào nhưng hình như vào tháng 5-1967, lúc đó tôi bị đau không sơ tán được, phải xuống hầm trú ẩn kiên cố. Thế mà suốt mấy ngày, mấy đêm, hết đợt máy bay này đến đợt máy bay khác thay nhau dội bom. Khi tiếng bom không còn nữa, tôi bò lên thấy một cảnh tượng thật kinh khủng, nhà kiên cố và nhà tạm trở thành những đống gạch đỏ khè, máu người chết, khói bom đạn bốc lên kinh hoàng, ở đâu đó những ngôi nhà bằng gỗ cháy còn trơ lại bộ khung nhưng trên những cột, kèo vẫn tiếp tục cháy. Tôi nghe tiếng con chó ư ử? Chó khóc sao? Mà nó khóc thật, đôi mắt đỏ hoe, thấy tôi nó vẫy đuôi rồi trườn đến. Trận bom đã làm con chó gẫy mất một chân. Con chó cà nhắc cứ bới đào mặc dù tôi đã gọi nó nhiều lần: Vàng... Vàng lại đây. Nó nhìn tôi rồi lại nhìn xuống ngôi nhà của gia chủ bị bom đánh sập. Tôi đến gần con chó ve vẩy đuôi rồi nhìn xuống đống gạch đổ nát. Cái gì đây? Có tiếng người sao? Tôi nín thở. Đúng có tiếng người mỗi lúc một yếu dần, mồ hôi tôi toát ra đứng nghe tiếng người đang kêu gào trong lòng đất Những tiếng người đã tắt... Lực lượng cứu hộ đã không cứu được gia đình họ. Tôi muốn tìm đâu để mua một vài nén hương thắp cầu mong phù hộ cho những người còn sống. Nhưng năm tháng chiến tranh chẳng có gì để mua. Tôi đành quỳ xuống "vái lạy". Anh Thắng! Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đâu phải chỉ có Thành phố Vinh mà ở nơi nào cũng vậy thôi - Chiến tranh là tàn phá".


Nghe ông già kể làm bác bồi hồi nhớ lại chiến dịch Linebacker II, đây là một chiến dịch lớn nhất đánh vào Hà Nội trái tim của Tổ quốc. Mỹ đã chuẩn bị tổng cộng 207 chiếc B52 và 2000 máy bay chiến thuật để tham gia vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972.


Hà ạ, ngày đó (ngày 18 tháng 12 năm 1972), Tổng thống Nixơn ra lệnh mở chiến dịch Linebacker, mà sau đó được biết với tên gọi "Trận oanh tạc Giáng sinh" nhằm vào Hà Nội, Hải Phòng. Chiến dịch được không lực Hoa Kỳ tiến hành cho đến ngày 29 tháng 12 năm 1972.


Hà ạ! Tháng 6-1972, bác được điều về Bộ Tư lệnh Thủ đô để tham gia chỉ huy chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và giải quyết các hậu quả của chiến tranh nên nhiều việc bác biết rất rõ.

Đây là một cuộc huy động máy bay lớn nhất trong lịch sử thế giới. Mỹ đã sử dụng một đội ngũ phi công khá đông, để luân phiên lái cùng một máy bay, để liên tiếp dội bom suốt ngày đêm vào Hà Nội, Hải Phòng. Ban ngày là máy bay cường kích chiến thuật và tiêm kích, ban đêm là B52 và F111. Suốt mười ngày của chiến dịch, một loạt mục tiêu quân sự như sân bay, trận địa pháo cao xạ và tên lửa phòng không, đường sắt, kho bãi và các mục tiêu khác bị dội bom suốt ngày đêm.


Có ai đó nói mục tiêu của cuộc tấn công chỉ là làm tê liệt lực lượng quân sự của Bắc Việt. Nhưng không phải như vậy, dân thường đã bị tấn công vì không có một loại máy bay nào có thể ném bom bắn phá đúng mục tiêu dự định. Những nhà quân sự Mỹ thừa biết rằng xác suất sai lệch khi bắn phá là rất lớn. Hơn thế nữa những loại máy bay ném bom lại bị lực lượng phòng không Bắc Việt tấn công thì làm sao mà đánh đúng mục tiêu mà Mỹ muốn.


Việc Mỹ đánh phá Hà Nội, Hải Phòng thì các nhà lãnh đạo tài tình của Đảng và Chính phủ ta đã nhận định được. Nhân dân sơ tán gần như triệt để, chỉ còn lại những người ở lại chiến đấu, sản xuất, hệ thống hầm hào chuẩn bị khá chu đáo.

Hà Nội, Hải Phòng trên đường phố, ngõ ngách đâu đâu cũng có hầm hào trú ẩn được chia ra làm ba loại.

- Phần lớn là hầm cá nhân hình tròn bằng ống cống hay là gạch xây, có thể trú ẩn được một hoặc hai người, được bố trí dọc hai bên đường phố ngõ ngách. Khi có máy bay người ta xuống hầm đậy nắp lại, phía nắp có hai lỗ bé để làm thông hơi và chỗ để kéo đậy mở nắp hầm.

- Một loại hầm trú ẩn hình tam giác có độ sâu chừng một mét, phía trên dùng một dàn mái làm bằng tre, nhồi bùn và rơm đắp lên, chứa chừng khoảng 10 người.

- Một loại nữa là hầm theo kiểu dích dắc. Kiểu hầm này cũng có mái che bằng rơm nhồi với bùn đắp lên hình chữ A. Đây là một loại hầm có thể chứa được hơn 30 người.

Những ngày đế quốc Mỹ chuẩn bị đánh vào Hà Nội, ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội chủ trương sơ tán người và các phương tiện ra khỏi Thủ đô, chỉ trừ lại một lượng rất ít để đảm bảo chiến đấu. Những ngày này Hà Nội vắng tanh, vắng ngắt, không có tiếng ồn ào, chỉ có chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu với giặc Mỹ. Nhưng một điều bất ngờ, không hiểu từ đâu người ta nghe tin ngày Giáng sinh người Mỹ sẽ không ném bom vào dịp này. Vậy là, một số người Hà Nội đã trở về để lấy lương thực thực phẩm và thăm lại những người đang trụ lại. Vậy mà Mỹ vẫn ném bom huỷ diệt cả phố Khâm Thiên.


Mỹ mở chiến dịch đánh vào Thành phố Hà Nội bằng một lực lượng không quân mạnh nhất. Với 207 chiếc B52 và 2000 chiếc máy bay chiến thuật. Hà Nội lại quyết tâm biến không phận của mình trở nên đầy bất trắc đối với phi công Mỹ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã biết kế hoạch của đối phương nên chuẩn bị khá đầy đủ, chu đáo.


Máy bay Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc từ ngày 5 tháng 8 năm 1964. Những trận đánh của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng từ 18 tháng 12 đến 29 tháng 12 năm 1972, đây là một trong những đòn giáng trả nặng nề nhất của quân đội Việt Nam mà người Mỹ gọi là "Giáng sinh ác mộng ở Hà Nội".


Trong những ngày đầu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, người Việt Nam còn dùng đến cả súng trường để đối phó với máy bay Mỹ. Sau đó đến các loại súng phòng không pháo 57 mm. Rồi người Việt Nam được trang bị tên lửa đất đối không. Có tên lửa rồi những người Việt Nam vận dụng tất cả mọi người, tất cả những người cầm súng cùng bắn máy bay Mỹ - Chiến tranh nhân dân.


Trong cuộc chiến chống xâm lược của đế quốc Mỹ người Việt Nam buộc phải nghiên cứu thật kỹ mới có khả năng chống lại kẻ xâm lược. Ván cờ đó, người Việt Nam đã phát triển lên một tầm cao mới gọi là nghệ thuật chiến tranh nhân dân.

Người Việt Nam có một lịch sử chống ngoại xâm lâu đời. Họ đã có hàng nghìn năm, chống phong kiến phương Bắc rồi chống Pháp, sau đó là đế quốc Mỹ. Người ngoài cuộc sẽ khó mà hiểu được làm sao người Việt Nam có một nền kinh tế lạc hậu, công nghiệp quốc phòng hầu như không có, thế mà hoàn thành sứ mệnh lịch sử giao cho.


Không quân Mỹ khi tiến đánh miền Bắc Việt Nam thường bay theo nhiều hướng khác nhau. Máy bay Mỹ thường cất cánh từ tàu sân bay, sau đó bay dọc bờ biển, tìm đến một cửa sông lớn rồi theo dòng sông xâm nhập vào đất liền, khi bay trên các dòng sông với độ cao cực thấp.


Nếu cất cánh từ Thái Lan và một vài sân bay khác thì đi dọc theo biên giới Việt Lào rồi tiến vào Hòa Bình, Suối Rút.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:52:24 pm »

Có mấy loại gây nhiễu ra đa là nhiễu từ các máy phát, và nhiễu tiêu cực, Mỹ còn tung lên bầu trời Bắc Việt những sợi dây bằng thiếc, bạc làm ra đa khó bắt được mục tiêu.

Hệ thống phòng không của miền Bắc được bố trí theo từng trạm, phối hợp tác chiến trên không theo từng hướng, từng độ cao. Đóng mở các loa để không quân cất cánh chiến đấu. Các hợp đồng này tạo ra bức tường lửa ở những nơi máy bay Mỹ đi qua. Trên mặt đất, bố trí ba hoặc bốn khẩu súng cao xạ một cụm, súng AK-47 tập trung bắn ở độ cao 300 mét; súng máy từ 300 mét đến 1000 mét; pháo cao xạ và tên lửa bao quát ở độ cao trên 1000 mét.


Máy bay Mỹ khi vào đánh phá thường bay theo đội hình 4 chiếc đến 36 chiếc, ở nhiều độ cao khác nhau. Máy bay tiêm kích bom thường bay độ cao thấp. Đối với MuR và pháo phòng của ta không chủ yếu đánh loại tiêm kích bom. Cho nên khi phi công MuR đánh máy bay cường kích lại gặp ngay tiêm kích. B52 thường đi đội hành ba chiến một, hai bên có tiêm kích yểm hộ.


Trong chiến tranh nhân dân ta áp dụng rất nhiều phương pháp để chống lại Mỹ. Trên các khe núi, bờ sông có những chốt phòng không. Khi Mỹ sử dụng máy bay F111, người dân đã quan sát chiến thuật và hành trình của nó. Dân quân tự vệ đã dùng vũ khí thông thường bắn hạ máy bay F111.


Ngày 24 tháng 7 năm 1965, miền Bắc Việt Nam bắt đầu triển khai tên lửa đất đối không SA-2 vào hệ thống phòng không. Các phi công Mỹ bị bất ngờ. Bộ đội tên lửa của ta đã bắn một phi đội F4 ở cách Hà Nội 60 km về phía Tây. Ba chiếc F4 rơi.

Ngày hôm sau, Mỹ tập kích, trận địa tên lửa hôm trước đã bắn rơi ba máy bay F4. Nhưng khi đến thì trận địa tên lửa đã không còn. Thay vào đó là cao xạ, khi máy bay Mỹ bay ở độ cao thấp, súng cao xạ đã bắn cháy năm máy bay Mỹ.

Hà ạ, người Việt Nam đã tạo ra những trận địa tên lửa cao xạ giả bằng các vật liệu như tre nứa giống như thật. Ngay tướng Willim W.Maimer, Phó Tư lênh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự của Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa về không quân (MACV) cũng phải thừa nhận: "Số lượng các căn cứ tên lửa đất đối không(SAM) của Bắc Việt Nam khá ổn định trong một suốt thời gian dài, khoảng 175 hay 200 căn cứ. Ông ta chưa bao giờ nghĩ rằng con số này là một mối đe dọa thực sự bởi có nhiều căn cứ được xây dựng hôm nay nhưng hôm sau lại bỏ trống. Mặc dù máy bay trinh sát của Mỹ đã tăng cường do thám nhưng cũng rất khó để biết được có bao nhiêu căn cứ hoạt động thật sự".


Quân ta dùng máy bay Mi6 cẩu những MuR hỏng ra đặt trong ụ sẵn sàng chiến đấu ở gần sân bay. Các phi công Mỹ đến đánh phá. Nếu còn chiếc nào chưa bị phá hủy hoặc hư hỏng thì sửa lại. Ngày hôm sau lại cẩu đặt vào chỗ khác ở một sân bay nào đó, máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện lại tiếp tục đánh. Cứ như thế công việc cẩu máy bay hỏng và làm máy bay giả ở các sân bay đã đánh lừa được không quân Mỹ. Còn máy bay tốt được cẩu vào các làng bản nơi hẻo lánh cất giấu, khi cần cẩu ra chuẩn bị chiến đấu trong một thời gian ngắn.


Xưởng bảo dưỡng định kỳ máy bay được làm một tấm bạt cỡ lớn giống như cây cỏ tự nhiên. Nếu từ trên cao nhìn xuống giống như ruộng lúa nương ngô. Khi đưa máy bay vào một lực lượng nâng cột chống lên để giữ mái che, xưởng bảo dưỡng máy bay cũng thường xuyên di động trong sân bay. Nên số máy bay tốt bị địch đánh phá trên sân bay rất hiếm khi.


Những trận địa tên lửa giả thì quân ta dùng vật liệu thông thường mô phỏng giống như tên lửa. Trận địa pháo dùng tre để tạo ra giống như thật được bố trí những nơi mà Mỹ cho là thật. Cho nên khi máy bay Mỹ đến thường bị những trận địa thật tiêu tiệt. Tiêu diệt xong, trận địa thật lại di chuyển.


Một máy bay MuR 21 bí mật được chuyển vào sân bay Dừa Lạng - Anh Sơn - Nghệ An đã cất cánh đánh vào đội hình ba chiếc B52 đang ném bom rải thảm ở Trường Sơn. MuR 21 đã bắn bị thương nặng một chiếc, số B52 còn lại bỏ chạy. Và rồi hai chiếc MuR 17 bí mật chuyển vào đường 15 Quảng Bình chờ sẵn đánh vào 6 khu trục của hạm đội 7 làm cháy và bị thương nhiều chiếc khác.


Trong cuộc chiến tranh chống sự phá hoại của đế quốc Mỹ, không quân Mĩ và không quân Việt Nam đã đưa nhiều phương pháp và đối pháp vào sử dụng.

Việc bắt kịp năng lực và chiến thuật của không quân Mỹ là một thách thức lớn đối với quân đội Việt Nam. Người Mỹ không những có nhiều loại máy bay và cách vận dụng chiến thuật cũng khá sắc sảo. Người Mỹ luôn thay đổi chiến thuật để khiến người Việt Nam bối rối. Vì thế người Việt Nam phải nắm bắt để thay đổi cách đánh. Dù người Mỹ có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì người Việt Nam vẫn có thể điều chỉnh cách đánh cho phù hơp với cách đánh của họ.


Tên lửa SA-2 của Việt Nam có hiệu quả, nhưng khi phóng phải có ra đa dẫn tên lửa, Mỹ đã chế tạo thiết bị điện tử tự động gắn trên máy bay để định vị chỗ tên lửa phóng lên và phát xung làm mất điều khiển của ra đa mặt đất của quân đội Việt Nam. Nhưng SA-2 vừa được phóng ra ấy "bị mù", biến quả tên lửa đang điều khiển thành một quả tên lửa không điều khiển. Ra đa và tên lửa SA-2 thường được đặt một chỗ, phi công Mỹ có thể phóng tên lửa không đối đất phá hủy cả hai cùng một lúc. Trong hoàn cảnh ấy, người đi săn cướp - tức dàn tên lửa - đã trở thành kẻ bị săn tìm, bị máy bay Mỹ tiêu diệt. Người Việt Nam đã đủ sớm phát hiện những chiến thuật của Mỹ đang sử dụng. Không quân Việt Nam đã đưa ra đối pháp của mình để triệt phá chiến thuật của Mỹ.


Khi có máy bay Mỹ vào đánh phá, bộ đội tên lửa Việt Nam hướng về phía có mục tiêu và phóng tên lửa không điều khiển. Sau khi quả SA-2 đạt được một độ cao nhất định nào đó thì cho ra đa phát sóng điều khiển. Thường cuối hành trình của tên lửa bộ đội mới phát sóng điều khiển tới mục tiêu. Bằng cách làm như vậy khiến phi công Mỹ không có đủ thời gian để định vị nơi phát ra sóng điều khiển.


Người Việt Nam đã dày công nghiên cứu mọi hành vi của Mỹ để chống lại sự vượt trội về công nghệ của Mỹ. Đây là một việc làm đầy khó khăn gian khổ nhưng người Việt Nam đã làm được.

Khi những toán quân Mỹ đầu tiên xuất hiện, người Việt Nam nhận ra rằng muốn chiến thắng một đế quốc có công nghệ cao và tiềm lực kinh tế, quốc phòng nhất nhì thế giới - Đây là một nhiệm vụ cực kỳ gay go vì đất nước chúng ta hạn chế về nguồn lực - thì người Việt Nam phải chấp nhận trường kỳ kháng chiến, chịu đựng gian khổ, muôn dân vắt óc suy nghĩ sáng tạo và luôn làm theo những lời dạy của Đảng và Bác Hồ. Người Việt Nam đã thể hiện sự hy sinh, lòng dũng cảm đáng kinh ngạc trên chiến trường để chiến thắng đế quốc Mỹ".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:54:16 pm »

XII


"... Hà ạ! Sau khi biết Mỹ sẽ ném bom tàn phá Hà Nội, Hải Phòng, người Việt Nam đã tập trung các lực lượng phòng không tên lửa, máy bay về bảo vệ Hà Nội dày đặc. Ngày đó bác được phân công trở về Hà Nội phụ trách một đơn vị của quân khu Thủ đô trực tiếp chuẩn bị lực lượng chiến đấu và phóng tránh sơ tán người và các phương tiện ra Hà Nội. Bác nhìn người Hà Nội gồng gánh ra đi mà buồn vô hạn.


Một ngày đầu tháng 12 năm 1972, trời mưa lây phây, gió mùa Đông Bắc thổi về lạnh buốt, từng đoàn người rời bỏ nơi chôn nhau cắt rôn ra đi. Một ông già khoảng 80 tuổi quàng một chiếc khăn chiên, tay chống gậy, ông cụ vừa đi vừa nói với bác:

- Tôi già rồi sớm hay muộn rồi cũng chết, sao Mỹ không để cho tôi chết ở trên mảnh đất của tôi được sinh ra.

Bác chưa kịp nói thì mấy đồng chí dân quân tự vệ đang dìu ông cụ, bằng giọng nói vui đùa đã trấn an ông:

- Ông ơi! Ông cần phải sống để nuôi các cháu khôn lớn tiếp tục đánh Mỹ. Đất nước Việt Nam là của người Việt Nam, đâu có phải ao nhà của Mỹ mà chiếm hả ông?

Ông già không nói gì rồi bước cùng với người phụ nữ và những đứa cháu ra đi. Bác tiến đến gần cầm tay hai ông cháu:

- Ông ơi! Cháu biết rời khỏi Hà Nội là vất vả nhưng nếu ở lại thì bom Mỹ sẽ tàn phá. Ông cần phải sống làm chỗ dựa cho các cháu.

Ông ngoái cổ lại hỏi bác:

- Thế cháu không đi sơ tán à!

- Vâng! Cháu phải ở lại tổ chức lực lượng đánh trả giặc Mỹ - Bác nói vậy. Ông già nhìn bác với một cặp mắt đau buồn, chắc lo ngại cho bác. Bác giúp ông bà cụ và các cháu lên xe sơ tán về vùng rừng núi.

Hà Nội vào những ngày đó từng đoàn người đi bộ, đi bằng xe đạp, có những ông già, bà lão ngồi trên xe đạp để con cháu dắt xe ra khỏi Hà Nội. Hầu như hành trang của họ chẳng có gì, vài cái chăn, cái chiếu, nhà khá giả thì có chiếc xe đạp, vài con gà mái đang nuôi. Họ không muốn để lại vì sợ bom Mỹ cướp mất.


Bác đứng như trời trồng, khi thấy mọi người hối hả sơ tán. Thật là buồn và đau lòng khi thấy mọi người ra đi. Họ bước đi một bước lại ngoái đầu lại nhìn. Người Việt Nam - người Hà Nội vốn luôn gắn mình với cội rẽ, nơi cha ông tổ tiên đã sinh ra họ. Sắp đến ngày giặc Mỹ tuyên bố ném bom, mọi người khăn gói ra đi. Lòng buồn nhưng rồi bác cảm thấy vui vui vì hiểu rằng họ ra đi để giành sự sống cho ngày mai, tiếp tục chiến đấu bảo vệ đất nước Việt Nam.


Rồi một đêm vắng, bác nằm trong lòng Hà Nội thầm nghĩ: "Giá như nước Việt Nam có máy bay, có bom nguyên tử, và có tiềm lực mạnh như Mỹ thì đế quốc Mỹ có làm được gì Việt Nam không? Chắc chắn là không. Nước Mỹ là một nước lớn sao dám ngang nhiên tàn nhẫn làm những điều như vậy? Ngày mai đây thắng Mỹ, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển kinh tế, chế tạo vũ khí nguyên tử sang tiêu diệt nước Mỹ cho hả giận. Nhưng rồi bác nghĩ lại, người Việt Nam vốn trọng nhân nghĩa. Giặc nước ngoài đến xâm lược bị nhân dân Việt Nam đánh bại rồi nhưng vẫn bỏ qua quá khứ, để hướng về tương lai, dùng ân trả oán mới hết nợ". Bác đã nghĩ sai, trong lúc tức giận.


Rồi một ngày trời đẹp thấy một số người dân Hà Nội kéo về, bác ngạc nhiên hỏi họ:

- Mỹ đang chuẩn bị đánh vào Hà Nội, sao các bác lại về?

Một người trung niên nói với bác:

- Nghe người ta nói Tổng thống Níchxơn tuyên bố có thể ngừng ném bom trong ngày Giáng sinh. Chúng tôi tranh thủ về để lấy thêm lương thực. Nguồn tin đó người ta đã rỉ tai nói với nhau. Ngày Giáng sinh năm 1972, người ta hy vọng có một khoảng thời gian tạm ngừng ném bom. Một số người dân mất cảnh giác. Trong lúc đó, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom rải thảm Hà Nội, Hải Phòng.


Vào lúc 5 giờ chiều ngày 18 tháng 12 năm 1972, một thông báo khẩn cấp: "Máy bay ném bom của Mỹ sắp sửa dội bom xuống Hà Nội. Những người làm nhiệm vụ chiến đấu sẵn sàng bắn trả, tiêu diệt giặc Mỹ. Những người không có nhiệm vụ phải khẩn trương sơ tán". Nhưng số người về Hà Nội hôm trước cũng chưa kịp trở về nơi sơ tán. Đó là một tổn thất cho người Hà Nội. Nhất là phố Khâm Thiên.


Tiếng còi ú báo động liên hồi vang lên lúc 20 giờ 15 phút, mọi người vào vị trí chiến đấu, số còn lại xuống hầm trú ẩn.

20 giờ 45, những trận mưa bom rào rào xuống Hà Nội mỗi lúc một gần vào trung tâm, tiếng bom nổ rung chuyển, quần áo mặc trên người như muốn xé ra từng mảnh, những cột khói bốc lên đen ngòm cao ngất, đất đá, gạch ngói tung lên trời rồi lại rơi ầm xuống đất. Những ngôi nhà năm tầng, ba tầng cũng phải đổ gục xuống, có những tảng bê tông to hàng tấn cũng bay lên trời cao. Bom đạn từ máy bay B52 trên trời ném xuống không biết bao nhiêu. Từ dưới đất, các loại súng, pháo cao xạ, tên lửa bắn lên đỏ rực trời. Những máy bay phản lực MuR 21, MuR 17, MuR 19 được lệnh xuất kích từ các sân bay vút lên trời cao cắt chéo, bủa vây những máy bay Mỹ.


Đêm đầu tiên không biết bao nhiêu máy bay B52 rơi, có chiếc rơi cắm xuống hồ Ngọc Hà.

Sáng tinh mơ ngày hôm sau, máy bay tiêm kích như F4, F105... từng đoàn bay từ ngoài biển vào thay nhau rải bom vào lòng Hà Nội. Cứ thế từ ngày 18 đến hết ngày 29-12-1972 máy bay Mỹ thay nhau, đêm thì B52, ngày thì máy bay ném bom chiến thuật thay nhau ném bom vào Hà Nội.


Hà ạ! Với tổng số 207 chiếc B52 và 2000 máy bay chiến thuật đã tham gia đánh phá Hà Nội. Nhưng người Hà Nội vẫn kiên cường chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay B52 và máy bay chiến thuật trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng.

Hà Nội - Việt Nam vẫn anh dũng kiên cường bất khuất đánh trả giặc Mỹ, buộc Mỹ đến hết ngày 29-12-1972 phải ngừng đánh phá. Nếu tiếp tục nữa, số máy bay B52 và máy bay chiến thuật của Mỹ sẽ bị bắn rơi hết. Hỏa Lò, Hà Nội những ngày đó tiếp nhận nhiều phi công Mỹ.


Sau cuộc tập kích đánh vào Hà Nội, một số kẻ phản động lưu vong ở nước ngoài tưởng là Thủ đô Việt Nam thành tro bụi nhưng không, Việt Nam vẫn đứng vững, mặc dù không tránh khỏi tổn thất về người nhất là Khâm Thiên có 283 người chết, 266 dân thường bị thương và 178 trẻ em trở thành mồ côi. Những cái chết của nhiều sinh linh bé nhỏ đã được ghi lại bằng phim ảnh trong hệ thống lưu trữ của Hà Nội.


Những cuộc tập kích bằng không quân Mỹ vào Hà Nội phải trả giá rất đắt, nhiều máy bay bị bắn rơi và phi công Mỹ bị bắt. Viên phi công Mỹ mà bác gặp là Herry Euimell đã bị phi công MuR 21 bắn rơi.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM