Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận đánh cuối cùng  (Đọc 3006 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #20 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2026, 05:55:16 pm »

Sau những ngày ném bom của giặc Mỹ đơn vị bác và các đơn vị khác trực tiếp giải quyết hậu quả do Mỹ gây ra. Gặp một người phụ nữ tên là Sang chờ sinh con ở bệnh viện Bạch Mai, cô kể lại:

- Bác Thắng ạ! ở nơi sơ tán không có bệnh viện mà cháu thì gần ngày sinh, lại nghe nói là ngày Giáng sinh Mỹ không ném bom nên cháu về Hà Nội. Lúc máy bay chuẩn bị đánh phá Hà Nội, các bộ phận bệnh viện trung tâm phải sơ tán ra nhiều nơi khác nhau để tiếp tục chữa cho các bệnh nhân. Năm giờ chiều, chồng cháu giúp cháu ngồi lên xe đạp ở yên sau. Cháu ngồi yên vị một tay ôm lấy chồng còn một tay ôm lấy bụng, tìm cách giữ thăng bằng còn đứa con trong bụng thì đạp mạnh làm cháu đau điếng người. Lúc gần đến bệnh viện thì tiếng còi ú báo động liên hồi vang lên. Khoảng cách cứ ngắn lại, chỉ trong nháy mắt tiếng bom nổ ngày một gần. Chồng cháu vất chiếc xe đạp cõng cháu xuống hầm trú ẩn của bệnh viện. Các cô y tá, bác sỹ châm ngọn đèn dầu nhỏ như con đom đóm. Mắt em mờ dần cố nhìn người chồng lần cuối, thấy anh ấy mồ hôi vã ra tái nhợt, nhưng vẫn mỉm cười và nói: "Em ơi! Hãy cố lên con sắp ra đời rồi, ngày mai nó sẽ là một người lính". Nghĩ vậy cháu vững tâm thêm, cảm thấy sinh linh bé nhỏ trong cơ thể sắp ra đời. Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 26-12-1972, con cháu cất tiếng khóc chào đời trong tiếng bom gào đạn rú. Con cháu năng 3.1 kg. Nhưng còn cháu thì bị xuất huyết nặng. Cháu gần như ngất xỉu, chỉ lơ mơ nghe bác sỹ bảo với cô y tá: Cần phải khâu nhanh vết rách âm đạo. Người y tá buồn rầu nói: "Thưa bác sỹ, thuốc tê không còn nữa và chỉ khâu tự tiêu cũng hết rồi. Người bác sỹ nữ khoảng 50 tuổi ngần ngừ một lúc rồi đeo kính. Thế là cuộc phẫu thuật được tiến hành. Cháu thấy rất lo vì ánh sáng không đủ, ngọn đèn leo lét. Cháu cảm thấy tai họa sắp ập đến, nhưng rồi bình tâm lại nghĩ: "Chỗ đau không phải là tim, thận... Nếu có làm sao thì chỉ có đau mà thôi, hoàn cảnh chiến tranh phải cố mà chịu đựng!". Người bác sỹ già phải căng mắt ra mới có thể đặt mũi khâu đúng chỗ. Nhưng chỉ sau một hoặc hai mũi khâu, bác sỹ nhận ra đã bị khâu nhầm. Bác sỹ gọi người y tá trẻ đến giúp sức. Trong khi phẫu thuật, mỗi mũi kim xuyên qua cháu lại gào lên trong đau đớn nước mắt giàn giụa. Cháu cảm thấy mũi kim xuyên qua da thịt, sau đó là sợi chỉ, cứ thế lặp đi lặp lại.


Phẫu thuật xong ôn ổn một tý thì cháu phải tự đi xuống hầm. Cháu phải dò dẫm các bậc tam cấp xuống độ sâu chừng 1.5m. Khi xuống tới bên dưới, cháu thấy mình đang đứng trong một "hầm cóc" hở. Đứng giữa hầm cháu thấy bốn hầm chui, tỏa ra theo bốn hướng - để cho một người chui vào, miệng hầm cao chừng tám mươi phân, nằm cách sàn chính một khoảng cách ngang đầu gối. Các hầm cóc có thể xoay quanh 360 độ để chăm sóc cho bất cứ ai. Trong hầm thiếu oxy nghiêm trọng. Cháu cảm thấy nghẹt thở. Tiếng bom vẫn ầm ầm trên mặt đất, nơi đây tối tăm và ngột ngạt. Trước khi cháu chui vào hốc của mình, cháu nhìn lại thấy hai trong ba hốc đã có người, hốc còn lại là bốn trẻ sơ sinh quấn chăn nằm ngủ chung trong một cái hộp bằng bìa cát tông, trong đó có con trai


Cháu nằm xuống lắng nghe và chờ đợi. Cháu nghe tiếng bom ngày một gần, nổ rất đanh. Trong hầm, bụi và đất rơi xuống mặt. Lúc này cháu thấy ngột ngạt và đau ở vết thương, chân tay tê cóng vì gió rét ở đây đất rất ẩm ướt, cháu chỉ nằm trên tấm chiếu cói đã ngấm nước. Cháu không tài nào chợp mắt được, mê man. Thỉnh thoảng cô y tá hoặc bác sỹ cúi đầu hỏi thăm sức khỏe, cặp nhiệt độ rồi cho uống thuốc. Nhưng cháu thấy kỳ lạ trong tiếng khóc của trẻ, cháu nhận ra ngay đó là con cháu. Con trai cháu khóc gào một cách khủng khiếp như tiếng báo động bom rơi. Đó cũng là đêm kinh hoàng nhất trong đời cháu.


Đến 23 giờ 30 phút, tiếng bom vẫn gầm rú. Cháu được đưa lên mặt đất lúc 7 giờ sáng hôm sau. Sau đó, cháu lại được bố trí trong hầm chữ A, nhưng vẫn còn đau, phải ở thêm hai ngày nữa. Nằm trên mặt đất chốc chốc lại tiếng còi báo động, cháu phải bế con xuống hầm trú ẩn.


Nghe tin cháu ra viện, chồng cháu vội vàng đạp xích lô đến thấy vợ và con, chồng cháu mừng rỡ bế xốc mẹ con cháu nhưng cũng không thể ở lâu trong bệnh viện được, chồng cháu lên xích lô vội vàng đưa hai mẹ con cháu khỏi Hà Nội đến nơi sơ tán.

Rồi sau đó, bác gặp một cô gái tên là Mai, làm nghề nuôi dạy trẻ, cô kể cho bác nghe trường hợp một bé trai chừng chín mười tuổi bị đống đổ nát đè bẹp cả cơ thể bất động. Em nằm sấp, tay phải đang cố kéo chiếc lồng chim vào lòng, hai con chim vành khuyên vẫn đang sống, còn em bé trai đã chết. Cô không cầm được nước mắt khi thấy hành động của em bé trai như vậy.


Hà ạ! Sau cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ từ ngày 18-12-1972 đến 29-12-1972, Hà Nội đã có 533 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn và 1200 ngôi nhà bị hư hỏng nặng. Bác đã đi khắp Hà Nội nhất là khu vực Khâm Thiên. Ở đây, bác đã gặp những người dân, họ nói với bác: "Chúng tôi đắng cay mất mát quá lớn nhưng không vì thế mà chúng tôi trả thù những tù binh là phi công Mỹ. Họ cũng là những nạn nhân của cuộc chiến tranh nên khi họ bị bắt, chúng tôi đã băng bó cho họ".


Những phi công Mỹ bị bắt, sau này họ vẫn không tin rằng bi kịch của họ là kết quả của hành động chủ ý từ những người lãnh đạo Nhà Trắng mà chỉ là những nạn nhân. Một số người đã diễn tả giản dị: "Đó là một tai nạn không may trong một cuộc chiên không may?...".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:32:50 pm »

XIII


"... Hà ạ! Sau khi Mỹ tập kích vào Hà Nội, bác gặp một người đồng hương từng chiến đấu ở miền Nam. Người bạn của bác là Phó Trung đoàn trưởng một trung đoàn đặc công. Người bạn ra Hà Nội công tác đúng vào dịp máy bay đánh vào Hà Nội. Nhìn cảnh hoang tàn đổ nát, Hùng, người bạn của bác đã tâm sự:

"Anh Thắng! Thật đau lòng khi nhìn cảnh tang tóc này. Nhưng Hùng đã nói với mọi người đây là dấu hiệu thất bại của người Mỹ, người Việt Nam mình cố gắng chịu đựng, ngày chiến thắng sẽ không còn xa nữa. Người Việt Nam họ hiểu điều đó nên sẵn sàng hi sinh. Nhiều người dù mới cưới vợ vẫn xung phong ra trận giết giặc. Những người con Việt Nam sẵn sàng hi sinh tất cả, dù chiến tranh có lâu dài đến đâu cũng thực hiện bằng được độc lập, thống nhất đất nước. Người ta sẵn sàng chấp nhận xa cách, lâu dài, dù có hi sinh tính mạng cũng sẵn sàng. Mà những thứ đó không có một người nào ép buộc cả, mọi người đồng lòng tự nguyện tự giác. Trong chiến tranh chống Pháp, có những thanh niên anh hùng đã tự nguyện lấy thân mình lấp lỗ châu mai, lấy thân mình làm giá súng... và ngày nay, khi giặc Mỹ bổ nhào vào trận địa pháo ném bom, những người anh hùng ấy của Tổ quốc lại hô vang: "Nhắm thẳng quân thù mà bắn".


Phi công của quân đội Việt Nam trong chiến đấu dù bị thương nặng, họ không hề nao núng, sợ hãi, dám dùng MuR 21 đâm vào B52 của giặc.

Còn những kẻ xâm lược nói chung, và lính Mỹ nói riêng khó có được đức hi sinh tuyệt vời như những người lính Việt Nam. Mỗi người lính Mỹ chỉ phải tham gia phục vụ một năm tại Việt Nam, mỗi ngày sống họ lại khắc một vạch trên mũ hay ở một chỗ nào đó để ghi nhớ một ngày đau khổ đã qua ở Việt Nam. Họ đã quen cuộc sống có vợ hoặc có bạn tình ở bên cạnh. Tâm trí của người lính Mỹ tập trung vào những vấn đề khác hơn là tập trung vào chiến thắng. Đó là một điểm yếu - rất yếu của lính Mỹ ở Việt Nam, khi chiến tranh kéo dài, người Mỹ sẽ ngày càng mất ý chí chiến đấu.


Người Việt Nam đã nhìn thấy trong tinh thần của người Mỹ vắng bóng sự quyết tâm để đi đến cùng cuộc chiến. Người lính Mỹ sang Việt Nam chỉ tính từng ngày, từng giờ để mau chóng rời khỏi Việt Nam. Người Việt Nam lại quyết tâm bám trụ đến cùng để đánh đuổi giặc Mỹ. Anh Thắng ạ! Ngay từ đầu, Hùng đã nhận thấy lính Mỹ sang Việt Nam thường là những gã trai trẻ dễ tổn thương, đang ngày đêm hướng về gia đình và người thân - Lối sống thực dụng ấy làm yếu đi khả năng thực hiện nhiệm vụ đặt ra trước mặt họ. Hai chiều hướng tinh thần trái ngược ấy hợp lại sẽ là một trong những nguyên nhân tạo ra chiến thắng cho Hà Nội - Việt Nam".


Ngừng một lúc rồi anh Hùng lại kể tiếp câu chuyện lính đặc công trong đó có anh đánh vào kho vũ khí Long Bình:

"Anh Thắng ạ! Căn cứ Long Bình rất lớn, bao trùm một diện tích chừng năm cây số vuông. Nhiều loại đạn dược được vận chuyển từ Mỹ tới đây, từ đạn súng nhỏ nhất tới đạn pháo và cả vũ khí của máy bay. Tại kho này, một trữ lượng vô cùng lớn có đủ khả năng cung cấp khắp các căn cứ của Việt Nam Cộng hòa. Quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã tìm cách làm sao cho kho vũ khí Long Bình trở nên bất khả xâm phạm.


Anh Thắng có biết Mỹ đã tổ chức bảo vệ kho vũ khí như thế nào không? Nếu Hùng nói cường điệu một chút thì con kiến không thể lọt vào được tận trung tâm kho. Căn cứ được bao bọc bởi chín hàng rào kẽm cao hai mét, bên trên chằng chịt thép gai. Từ hàng rào thứ nhất (ngoài cùng) đến hàng rào trong cùng trải dài hàng trăm mét. Khoảng giữa là những gò đất và vùng ngập nước. Khoảng cách giữa hàng rào thứ nhất với hàng rào thứ hai lớn hơn nhiều cự ly giữa các hàng rào còn lại. Ngay bên trong vành đai ngoài của doanh trại là các tháp canh nằm cách nhau 200 đến 500 mét. Cách bố trí này tạo cho những người bảo vệ dễ dàng bắn chéo cánh vào đặc công ta nêu họ đột nhập. Mỗi chốt gác đều có hnh gác 24/24. Ban đêm, đèn pha trên tháp canh liên tục quét cả bên ngoài lẫn bên trong vành đai ngoài từ chập tối tới trời sáng. Nhiều hộp thiếc được buộc vào các hàng rào phía trong để bộ đội mình đột nhập vào sơ ý đụng phải sẽ phát ra âm thanh. Giữa các hàng rào còn có vô số mìn sát thương. Vị trí đặt mìn thường xuyên được thay đổi để đối phương đột nhập không thể phán đoán được. Bẫy pháo sáng cũng được cài nhiều nơi. Khi bị kích hoạt, ống phóng sẽ bắn pháo sáng lên độ cao một trăm mét, rồi một chiếc dù bung ra giúp pháo sáng treo lơ lửng rơi từ từ, soi rọi một vùng rất lớn. Kho đạn được bố trí ra nhiều khu vực để tránh các tai biến. Binh lính liên tục tuần tra xung quanh bằng xe cơ giới, mỗi đợt tuần tra cách nhau năm phút. Sau đó lính tuần tra đi bộ cùng với chó đánh hơi thường xuyên. Cách bố phòng của Mỹ - ngụy tại tổng kho Long Bình khiến quân ta khó lòng mà lọt vào được. Nhưng chính cái đó đã tạo ra một sơ hở, cỏ cây mọc um tùm đã tạo một tấm ngụy trang lý tưởng cho đặc công ta đột nhập vào căn cứ. Đặc công của ta đã dựa vào các nguồn tin mà nhân dân quanh vùng thường xuyên tự nguyện cung cấp tin tức về các hoạt động, những vấn đề đáng khả nghi. Tin tức được lấy qua những người cấp dưỡng, người bán rau quả. Còn đơn vị đặc công tổ chức cài người vảo trong đó hoặc tổ chức các buổi giao lưu, gặp bạn bè hoặc người thân trong kho để thu thập thông tin cần thiết, chẳng hạn như cự ly và các vị trí khu nhà kho. Có cả những sỹ quan Việt Nam Cộng hòa làm việc cho cách mạng cung cấp tình hình.


Một thời gian khá dài thực hiện, tất cả các thông tin về tổng kho Long Bình đã được thu thập một cách đầy đủ chính xác. Trung đoàn đặc công quyết định đánh. Như anh biết đấy, việc tiền trạm là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm, thế mà khi Hùng đưa ra quyết định đó các chiến sỹ đều xung phong để làm nhiệm vụ này.

Hùng chỉ chọn hai người đảm trách, nhằm tránh tổn thất, có nhiệm vụ: Thử hệ thống vành đai phòng thủ và an ninh của căn cứ, thiết lập lối ra vào căn cứ và xác định thời gian thực tế để tiếp cận các mục tiêu bên trong căn cứ để đặt thuốc nổ. Trinh sát xong rút ra để khi đánh hai đồng chí này dẫn đường tiến vào khu căn cứ.


Sau khi hai đặc công trở về an toàn, chúng tôi cho "tập khô" lại một vài lần nữa mà quân địch không biết có "Cộng sản" nằm cách họ khoảng hai mét. Toàn bộ đặc công rút ra an toàn, chỉ chốt lại một đồng chí đặc công trong tổng kho Long Bình - để liên tục theo dõi hoạt động của tổng kho và bực những lối đi mà đặc công đã thiết lập.


Sau hai ngày, đơn vị đặc công nắm chắc là địch không phát hiện được vấn đề gì. Đơn vị đặc công của Hùng bắt đầu hành động.

Tất cả có hai mươi đồng chí tham gia vào chiến dịch. Mỗi tổ có ba hoặc bốn người. Mục tiêu lớn cần mang nhiều chất nổ, vì thế phải tăng thêm người để mang thuốc nổ.

Chừng nửa đêm, toàn đội đã lọt qua hàng rào cuối cùng. Chất nổ được gắn vào thiết bị hẹn giờ. Mi-8, thiết bị chỉ bé bằng ngón tay, cho phép cài thời gian phát nổ chậm để nhóm đặc công có đủ thời gian rút về nơi an toàn sau khi đặt chất nổ vào các kho vũ khí, đội đặc công bắt đầu rút lui ra khỏi khu vực tổng kho Long Bình. Khi trời hửng sáng, Hùng đứng tiên gò đất cao nhìn về căn cứ Long Bình, không khí yên tĩnh đã bị phá vỡ. Một tiếng nổ lớn, nối tiếp là những tiếng nổ lớn khác - tiếp theo đó là một loạt tiếng nổ liên hồi từ đạn dược ở kho Long Bình. Bình minh đến sớm hơn vào buổi sáng ấy, khi có tới 30.000 tấn chất nổ phát hỏa soi sáng cả bầu trời. Nơi Hùng và 20 đồng chí đặc công đứng đất rung chuyển, tiếng chấn động lan xa tới ba mươi cây số.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:40:57 pm »

Dọc đường về đơn vị, Hùng thầm nghĩ hai năm nghiên cứu đánh kho Long Bình đã thành công. Đơn vị đặc công không hy sinh một người nào. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Mỹ quá mạnh nhưng phải đánh Mỹ theo cách của Việt Nam mới thắng được, anh Thắng ạ!


Anh Thắng! Mỹ đánh vào Hà Nội là muốn nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Mỹ đã thất bại rồi, tài sản và người của chúng ta bị tổn thất nhưng ngọn lửa căm thù giặc Mỹ xâm lược càng dâng lên trong lòng người dân Việt Nam.

Anh Thắng ạ! Khi toán quân Mỹ đầu tiên xuất hiện, người Việt Nam đã nhận ra rằng chiến thắng sẽ được quyết định qua việc Việt Nam làm thế nào để đối phó với một kẻ thù có công nghệ và vũ khí hiện đại - Đó là nhiệm vụ cực kỳ gay go đối với một đất nước hạn chế về nguồn lực. Người Việt Nam đã tìm ra cách bổ khuyết cho sự thiếu thốn nguồn lực vật chất bằng cách buộc Mỹ phải thất bại trước cách đánh của người Việt Nam. Họ sẵn sàng chịu đựng gian khổ và hy sinh, kiên cường bất khuất và sáng tạo ra cách đánh. Những người lính đã thể hiện bằng đầu óc sáng tạo khéo léo đáng kinh ngạc trên các chiến trường để đối phó với những lợi thế quân sự của người Mỹ.


Ở dưới mặt đất người chiến sỹ đặt ra câu khẩu hiệu "bám chặt thắt lưng địch mà đánh. Những cách đánh này khiến cho kẻ thù không còn sử dụng được lợi thế vũ khí kỹ thuật hiện đại. Trên trời, không quân tìm lối đánh quần, có lợi thì cất cánh chiến đấu. Nếu không thuận lợi thì phòng tránh sơ tán. Và bí mật bất ngờ xuất hiện.


Mỹ luôn tìm cách duy trì ưu thế về không quân trên bầu trời Bắc Việt Nam. Người Việt Nam quyết tâm biến không phận của mình trở nên đầy bất trắc đối với phi công Mỹ. Hệ thống phòng không độc đáo: Pháo tầng thấp, tầng cao, các trận địa tên lửa thật mà giả, giả lại là thật. Những trạm quan sắt lâu dài bổ trợ đặt ở trên các đồi, nhà cao tầng quan sát máy bay Mỹ để thông báo cho cao xạ tên lửa và máy bay chiến đấu MuR.


Trong cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ phá hoại miền Bắc, người Việt Nam không sợ mà người Mỹ sợ". Nghe vậy bác có phản ứng tự nhiên.

- Sao anh Hùng lại bảo Mỹ sợ Việt Nam? Nếu Mỹ sợ thì đã không dám đánh phá đất nước ta như vậy.

Anh Hùng cười độ lượng và nói:

- Mỹ sợ tính nhân văn của người Việt, mà chính cái đó là cơ sở cho việc chiến thắng về sức mạnh vũ khí và tiềm lực kinh tế. - Nói xong câu ấy anh Hùng lại kể tiếp cho bác nghe một câu chuyện vào thời điểm khác:

"Vào khoảng trung tuần tháng 2 năm 1965, một tốp máy bay phản lực vào đánh phá ở khu vực Đồng Hới, Quảng Bình. Một chiếc F105 bị cao xạ ta bắn rơi, phi công nhảy dù, máy bay đâm xuống đất cách trận địa pháo 700 mét. Sau khi bắt được phi công, dẫn chứng phẫn nộ người cầm quốc, cào xông vào đánh phi công nhưng bộ đội đã ngăn cản và đưa phi công đến nơi an toàn. Họ được trả tự do vào năm 1973.


Rồi một tốp năm máy bay của Hải quân Mỹ vào đánh phá sân bay Đồng Hới, sau khi đánh phá xong bay ra biển, bay rất thấp, cách mặt biển chừng 500 mét bị cao xạ 12 ly 7 và súng trường bắn rơi. Phi công Dickson nhảy dù đã cắm đầu xuống biển. Dân chài nhanh chóng đi tìm nhưng không thấy. Hai ngày sau, ngư dân xã Nhân Trạch, Quảng Bình đã phát hiện xác phi công Mỹ, họ vớt lên bờ chiếc dù đã cuốn chặt Dickson. Nhân dân đã thu được: súng ngắn, tiền Mỹ, hình ảnh gia đình, một chiếc đồng hồ, một lá cờ Mỹ nhỏ, một thẻ quân nhân và một mảnh kim loại khắc thông tin nhân thân và một vài thứ khác. Tất cả được đặt vào trong một hộp ni lông chống thấm. Nhân dân đã đào một hố sâu khoảng 2 mét chôn thi thể cùng các tang vật. Nhân dân và du kích đã khắc bia bằng sơn.

   Tên: Edwarda Dickson.
   Số: 9520447.
   Cấp bậc: Trung úy, Hải quân Mỹ.
   Sinh ngày: 3 tháng 9 năm 1937.
   Nhóm máu: A.

Sau khi chôn cất xong, có một người phụ nữ ngồi thắp hương ngồi bên ngôi mộ của viên phi công, vừa cắm hương chị vừa cầu nguyện cho chiến tranh sớm kết thúc và mong cho linh hồn người lính Mỹ sớm được trở về Mỹ. Thấy vậy Hùng tiến lại gần người phụ nữ và hỏi:

- Thưa chị! Chị có thể cho tôi biết vì sao chị lại thắp hương cầu nguyện cho người lính Mỹ đã ném bom giết hại người Việt Nam?

Người phụ nữ ấy không trả lời và tiếp tục vái lạy, một lúc sau quay lại nói với Hùng:

- Em biết, khi người lính này ở trên trời, họ là con quỷ dữ, nhưng khi đã bị bắt thì họ vẫn là một sinh linh muốn sống, chính lúc đó họ mới biết tội lỗi của mình, không nên có hành động tàn bạo với họ. Còn người phi công này phải nằm xuống ở nơi đất người, họ đau khổ lắm. Nhất là bố mẹ vợ con họ. Em cũng là vợ bộ đội nên thấu hiểu điều đó. Vả lại ngày sinh, năm tháng trùng với chồng em. Chồng em chiến đấu ở miền Nam đã hi sinh vì bom đạn Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa. Bây giờ anh lính Mỹ này chết vào ngày hôm nay. Vậy sự trùng hợp đó là do số phận hay là do chiến tranh?


Và cũng nơi đầy, ngày hôm sau máy Mỹ lại vào ném bom một làng, pháo cao xạ của ta đã bắn rơi hai máy bay, một phi công Mỹ thoát ra biển, còn Lockhard bị bắt giải vào làng. Hùng thấy một người phụ nữ vừa mới cưới chồng xong, nhưng chồng chị đã chết trong đợt không kích đó. Chi đã căm thù đến cực độ khi thấy Lockhard, cầm dao định tấn công. Dân trong làng ôm chặt lấy chị và giải thích cho chị biết rằng khi đang ngồi trên máy bay thì viên phi công kia là kẻ thù của chị và nhân dân nhưng một khi đã trở thành tù binh thì anh ta phải được bảo vệ. Nghe vậy, người phụ nữ bàng hoàng đổ sụp xuống đất khóc, kêu gào... Một người lính, chắc là chính trị viên của đơn vị pháo đó đã an ủi giải thích với chị:

- Chị ơi! Nước Việt Nam không biết bao nhiêu kẻ thù đến xâm lược, người Việt Nam vốn có lòng nhân đạo. Chúng ta không cho phép nỗi đắng cay và lòng hận thù che khuất hi vọng vào tương lai. Nếu cứ chứa chất thù hận thì đâu còn chỗ cho lòng yêu thương hả chị?

Nghe vậy người phụ nữ ngừng khóc. Mọi người nhìn theo chị.

Như thông cảm với hành động của chị phụ nữ, Hùng kể tiếp cho bác nghe một câu chuyện khác: - "Hồi Hùng chiến đấu ở biên giới Việt Lào, máy bay Mỹ ngày đêm dội bom mưa, bão đạn. Thế nhưng quân đội Việt Nam vẫn chiến đấu, chiến thắng. Có lần Hùng được cấp trên điều ra Hà Nội họp, đang nghỉ ở nhà khách có báo động, Hùng chạy ra ngoài thấy lửa phụt ra từ máy bay, phi công Mỹ nhảy dù từ từ rơi xuống một hồ nước nhỏ của Hà Nội. Hùng dương súng lao tới, khi phi công còn lơ lửng ở độ cao khoảng hai trăm mét. Hướng nòng súng về phía phi công đang bất lực, Hùng đặt ngón tay lên cò súng. Rồi bỗng dưng Hừng khẽ buông cò súng, chạy hết tốc lực đến đền Quán Thánh trên đường Thanh Niên. Khi tới bờ hồ, chiếc dù vẫn lơ lửng ở độ cao khoảng một trăm mét. Lúc bây giờ Hùng thoáng nghĩ đến các đồng đội của mình đã chết trong rừng ở đường Chín Nam Lào. Chính những phi công này đã ném bom, gây nhiều tổn thất. Cơn giận trong người ngày một dâng lên. Lúc ấy, Hùng chỉ nghĩ sẽ bắn chết phi công này. Thậm chí Hùng còn muốn phi công này phải chết đau đớn... Tất cả những việc cần làm là siết cò và phi công Mỹ phải chết. Nhưng trong khoảnh khắc, Hùng nhớ ra con người thì ai cũng muốn sống, hơn nữa trong quân đội ta đã có quy định với tù binh, phải đối xử nhân đạo. Hùng đã buông cò và cùng mọi người nhảy xuống hồ vớt phi công Mỹ, lên bờ, băng bó, kiểm tra giấy tờ và biết phi công đó tên là: John Mclain.


Sau khi chiến tranh kết thúc được một thời gian, qua theo dõi báo chí Hùng được biết người phi công đó đã là Thượng nghị sỹ John Mclain.

Thật là tệ hại, chiến tranh đã cướp bao nhiêu mạng sống, giá như hôm đó viên phi công Mỹ không được cứu thoát thì làm gì có Thượng nghị sỹ John Mclain hôm nay.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:41:45 pm »

XIV


"... Hà ạ, bác và anh Hùng đã thức thâu đêm để chuyện trò, đàm luận... Sau đây, bác có thể kể cho Hà nghe những cuộc chuyện trò rất thú vị ấy"

Anh Hùng ạ! Có rất nhiều nguyên nhân khiến người Việt Nam ta thắng Mỹ nhưng có một nguyên nhân quan trọng đó là ngoài tính nhân văn ra, người Việt Nam ta còn một sức chịu đựng vô bờ vô bến - Bác nói. Nghe vậy, anh Hùng suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Cũng cần nói thêm là một trong những nguyên nhân tạo nên sức mạnh động viên được toàn dân tộc lên đường chống Mỹ phải nói đến tài năng của các nhạc sỹ đã làm nên những bài hát rung động lòng người, mỗi khi cất lên người nông dân muốn cày sâu cuốc bẫm, người chiến sỹ muốn lăn mình vào đồn địch. Còn người công nhân muốn lao động suốt ngày đêm để làm ra sản phẩm. Các em nhỏ cắp sách tới trường học thật giỏi. Người phụ nữ "ba đảm đang" thay chồng công việc ở nông thôn, bản làng. Những nhạc sỹ, những nhà văn đã tạo nên một khí phách cho đất nước nhờ sự sáng tạo và sáng tạo để đánh giặc, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. "Tiếng hát át tiếng bom".


Những đoàn văn công dọc đường mòn vào Nam, tới mỗi binh trạm đều dừng lại biểu diễn. Những người lính ở chiến trường họ được tiếp thêm sức mạnh bằng những lời ca thúc giục lòng người hàng ngày đối mặt với cái chết và sự sống, vững bước tiến lên vượt qua mọi gian khổ. Những nghệ sỹ dù ít được trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng chính họ đã truyền cảm xúc cho người chiến sĩ. Một sức mạnh tinh thần vô bờ bến. Tất cả những bài hát, bài thơ, vở kịch đều hướng tới khích lệ tinh thần chiến đấu của bộ đội cụ Hồ.


Người Mỹ khó mà hiểu được một cách cặn kẽ vì sao trong cuộc chiến tranh này, nghệ thuật của Việt Nam có vai trò một cách nỗ lực như vậy. Trong khi đó người lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa cũng có văn nghệ đi theo nhưng họ chỉ được nghe những bài ca sướt mướt, ủy mị, sến... chẳng hạn bài. "Đâu rồi những bông hoa?". Trong khi đó, người lính của Việt Nam lại được nghe những bài ca ái quốc, những khúc hát nói về tình yêu Tổ quốc, niềm vinh quang được cầm súng và được hy sinh cho Tổ quốc, cho đất nước. Những bài hát đã khiến người chiến sĩ càng quyết tâm trong sứ mệnh giành chiến thắng cho dân tộc.

- Đúng vậy - Bác đã nói Hùng - Những công lao của các nghệ sĩ, nhà văn và các đoàn nghệ thuật là vô cùng to lớn đã động viên được mọi tầng lớp vào cuộc chiến đấu. Trong chiến tranh vũ khí và khí tài hiện đại là rất quan trọng - nhưng biết khơi dậy ý chí con người để có sức mạnh tinh thần càng quan trọng hơn để chiến thắng kẻ thù có sức mạnh vũ khí và kinh tế vượt trội. - Ngừng một lúc rồi anh Hùng nói với bác: - Nước Mỹ đã thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Có thể có nhiều nguyên nhân. Nhưng theo Hùng thì người Mỹ đã không hiểu được bản chất, truyền thống của người Việt Nam trước khi tham chiến. Và họ không hiểu được nghệ thuật quân sự của người Việt Nam. Nghệ thuật quân sự ấy là chiến tranh nhân dân - toàn dân, toàn diện. Trong đó nghệ thuật khích lệ tinh thần con người nhất là người chiến sĩ truyền cho họ một nguồn động lực để vượt qua những gian khổ là rất quan trọng.


Anh Hùng ạ! Ngày chúng tôi ở chiến trường có những thời kỳ thiếu thốn đủ đường, đến mức mà ban chỉ huy muốn cho một số phụ nữ chuyển ra Bắc. Nhưng khi họ nghe được tin đó có người đã viết đơn bằng máu xin ở lại. Người Mỹ không hiểu được điều đó. Người Việt Nam thiếu đủ đường, cái chết có thể đến bất kỳ, thế mà họ vẫn trụ lại, không đầu hàng và run sợ trước khó khăn và cái chết. Một đội quân vô hình nhưng vô cùng mãnh liệt hơn cả bom nguyên tử. Đó là sức mạnh tình thần. Người chiến sĩ Việt Nam có thể chết thay cho người khác, có thể nhường khẩu phần ăn cho đồng chí, đồng đội để cứu sinh mạng họ và bảo đảm sức chiến đấu cho nhau. Vào khoảng tháng 3 năm 1967 không quân Việt Nam tổn thất quá lớn. Mỹ đã phát hiện điểm yếu của các loại MuR mà đặc biệt là MuR 17. Có hôm không quân ta xuất kích 8 chiếc MuR 17, bốn chiếc bị Mỹ bắn rơi, bốn phi công hy sinh. Đứng trước một sức mạnh của không quân Mỹ như vậy, những phi công Việt Nam đã kiên cường bất khuất tìm ra cách đánh và cách tránh để cuối cùng không quân Mỹ đã phải nếm đủ mùi đắng cay của không quân Việt Nam... Hàng trăm, hàng nghìn phi cơ Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Những phi công trẻ đã hạ rơi B52, và có phi công đã dám lao mình vào máy B52. Có những phi công nhảy dù rơi vào rừng hơn một tuần, đã tìm đường về với đồng đội để xin vào tiếp tục trực ban chiến đấu. Pháo thủ ngồi trên làn pháo vẫn giương súng trong khi những máy bay phản lực Mỹ ném bom, phóng tên lửa vào trận địa. Chiến sĩ Nguyễn Viết Xuân vẫn hô vang: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!". Và không biết bao nhiêu người con ưu tú quả cảm xuất hiện. Đúng như một người nước ngoài nói: "ở Việt Nam ra đường là gặp anh hùng". Ngày đó trên đường mòn Hồ Chí Minh ác liệt lắm! Có những lần Mỹ đánh bom, đơn vị của đồng chí Nguyễn gần như thất bại hoàn toàn. Nhưng về đơn vị chiến sĩ đó làm một bài thơ ca ngợi sự anh hùng hy sinh của các chiến sĩ ấy. Đơn vị vẫn quyết tâm bám trụ.


Các đoàn văn công lội suối trèo đèo liên tục biểu diễn ở các đơn vị trên chiến trường. Nếu có máy bay ném bom họ tạm nghỉ rồi lại tiếp tục biểu diễn "Tiếng hát át tiếng bom" là như vậy. Tiếng hát như trống trận thúc giục đoàn quân hãy vững bước tiến lên phía trước. Người lính nhận thấy, nếu người trước ngã xuống, người sau lại tiếp bước, chiến đấu đến ngày thắng lợi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:43:33 pm »

Sau chiến tranh, có dịp, Hùng đã kể cho bác nghe về quãng thời gian nhập ngũ trong quân đội của Hùng:

Hùng nhập ngũ, được ở Hà Nội một ngày rồi hành quân vào Nam, mang theo ba lô nặng tới 50 kg là một thách thức thật sự, nhưng phải cố gắng rồi nó cũng quen dần không có gì đáng sợ. Nhưng Hùng sợ nhất là mỗi lần quân số được bổ sung cho số người đã hy sinh. Đơn vị Hùng đóng ở cửa Việt, có nhiệm vụ đánh quân Việt Nam Cộng hòa, bọn này được sự hỗ trợ của Mỹ thường xuyên hoạt động dọc bờ biển, bất thình lình đổ bộ vào đất liền. Nhiệm vụ của đơn vị Hùng là gửi thông điệp cho Hải quân Mỹ bằng cách chứng minh rằng bất kỳ cuộc đổ bộ nào cũng sẽ phải đối đầu với một hỏa lực mạnh của lực lượng quân giải phóng. Trung đoàn Hùng được chia ra nhiều đơn vị chiến đấu, cấp trung đội có nhiệm vụ bắn quấy rối, lợi dụng bóng đêm, các tổ chiến đấu tiến đến vị trí cách mép nước biển chừng một cây số. Để phòng thủ trước bất kỳ cuộc tấn công đổ bộ nào từ biển vào, đơn vị Hùng trang bị sáu xe tăng được chôn ngập xuống cát tới tận tháp pháo, và ngụy trang chu đáo.


Trong sáu chiếc xe tăng của đơn vị Hùng, năm chiếc đã bị Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa bắn hủy. Nhưng đơn vị lại tiếp tục được tăng viện để chiến đấu.

Khi giao tranh tạm ngừng trong chốc lát, cả hai phía tranh thủ chôn cất người chết. Một khu vực ở trên bãi biển được sư đoàn chọn làm nghĩa trang. Có một lần Hùng đi mai táng: Việc chôn cất đồng đội chẳng phải là điều gì lạ đối với Hùng, nhưng khi thực hiện công việc này tại Cửa Việt, Hùng nhận ra một thực tế khắc nghiệt. Không phải là con người mà chính là thiên nhiên đã quật mộ lên. Gió ở Cửa Việt ào ào thổi quanh năm không có gì che chắn. Tàn phá bãi biển, thổi bay lớp cát dày trên bề mặt và làm lộ thiên các thi thể chôn trong lòng đất. Bằng cách đấy, thiên nhiên tại Cửa Việt đã phơi trần sự khủng khiếp của chiến tranh mà con người muốn chôn giấu nỗi đau khổ. Một khi thi thể nào bị lộ thiên đơn vị lại tiếp tục chôn cất. Rất sâu và chu đáo, nhưng vẫn bị gió khai quật lên. Có khi đơn vị phải chôn cất tới hai lần. Chôn cất xong người chiến sĩ ngả mũ mặc niệm rồi lại vào cuộc chiến đấu mới.


Anh Thắng ạ! Chiến tranh đã lùi về quá khứ thế mà những hình ảnh của đồng chí, đồng đội vẫn còn in đậm trong tâm trí Hùng. Nhiều đêm vẫn còn nhìn thấy những gương mặt trai trẻ, non tơ chưa một lần yêu thương. Nghĩ vậy nhiều đêm Hùng không cầm được nước mắt. Họ đã sẵn sàng hy sinh cho dân tộc có một ngày mai sán lạn.


Anh Thắng ơi! Trong chiến tranh có nhiều chiến sĩ em đã chôn cất, một trong những người mà Hùng đau thương vô bờ là Chiến - bạn thân thiết, đã hy sinh ở Cửa Việt. Hùng đã chôn bạn đứng hai lần trước khi được điều động về Bộ Tư lệnh vùng.

Ở chiến trường nhiều đêm Chiến tâm sự với em: "Chiến là đứa con duy nhất trong gia đình, từ lúc ra đời Chiến đã không được sự chăm sóc của cha mẹ. Nghe bà nội nói với Chiến là trước chiến dịch Điện Biên Phủ bố mẹ lấy nhau sinh được cậu ta, gửi nhờ ở nhà một người dân tộc rồi đi chiến đấu. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ bố mẹ Chiến hy sinh. Người dân tộc ở Điện Biên đã liên hệ địa chỉ mà bố mẹ dặn, đưa Chiến về ở Lập Thạnh, Vĩnh Phú. Bà nội nuôi cậu ta ăn học tưởng để vào đại học, nhưng khi tốt nghiệp phổ thông, Mỹ đánh phá ra miền Bắc, năm 1967, Chiến viết đơn bằng máu xin nhập ngũ vào Nam chiến đấu. Có lẽ sự hy sinh của bố mẹ đã thúc giục cậu đi cứu nước. Hồi còn nhỏ em được bà dạy bảo: - "Sống chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà".


Theo nguyện vọng đó, chính quyền địa phương đã chấp nhận cho cậu ta vào quân đội. Chiến sớm dạn dày kinh nghiệm chiến đấu. Vào quân đội cậu gặp phải một trận bom ác liệt đầu tiên, cực kỳ hoảng sợ. Sau một thời gian, cậu nhận ra việc đó là thường xuyên, nếu có chuyện gì xảy ra với bản thân thì những chàng trai trẻ tiếp tục xông lên thay cậu ta chiến đấu.

- Thế em không định lấy vợ hả Chiến? - Hùng hỏi vậy. Chiến nhìn Hùng bằng cặp mắt sáng lên. Và nói với một giọng nuối tiếc, chiến kể tiếp: - Chiến có một cô gái rất xinh đẹp đang học Kinh tế quốc dân năm thứ ba, cậu đã có cảm tình với cô ấy và cô ấy cũng có cảm tình với cậu. Tên cô ấy là Thúy Lan người ở Vũ Thư, Thái Bình. Họ đã gặp nhau trong một trận đánh, cậu ta chủ động bắt chuyện, tỏ tình yêu với cô ấy. Thúy Lan hơn Chiến một tuổi, họ yêu nhau mãnh liệt lắm. Thúy Lan cao bằng cậu, tầm vóc trung bình, có má lúm đồng tiền. Họ đã hẹn cưới nhau ở chiến trường.


Nhưng chuyện yêu đương trong rừng rậm giữa muôn ngàn quân, không hề đơn giản. Và tình hình càng trở nên khó khăn hơn khi đơn vị của Thúy Lan chuyển đến một địa điểm xa hàng chục cây số. Tuy nhiên, khoảng cách không hề ngăn cản tình yêu - nó đơn thuần chỉ là khoảng cách phải vượt qua.


Họ rất yêu nhau, một lần Thúy Lan bị sốt rét, sốt rất nặng, Chiến đến thăm mang theo một ít đường và để ăn. Họ nói chuyện với nhau về những ước mơ tương lai, khi chiến tranh kết thúc. Chiến nói rằng hết chiến tranh về học tiếp ra làm việc có tiền mua một chiếc xe để vợ chồng cùng đi. Mặc dù Lan đang ốm nhưng khi Chiến về, cũng cố gượng dậy. Họ đã ôm hôn nhau thắm thiết. Chiến về đơn vị thì nghe tin đơn vị Lan bị địch tập kích và Lan đã hy sinh. Từ đó trở đi Chiến vẫn chưa yêu ai, chỉ tập trung cho chiến đấu. Những lời kể của Chiến vẫn văng vẳng bên tai Hùng. Cậu ấy đã hy sinh anh dũng trong trận Cửa Việt, em phải chôn cất đến lần thứ ba trước khi về đơn vị mới. Còn sau đó phần mộ của Chiến ra sao đến nay Hùng vẫn không rõ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:45:38 pm »

XV


Bác Thắng gượng ngồi dậy kể tiếp cho Hà:

".. Ở chiến trường thấy cuộc sống trong rừng đầy khó khăn gian khổ, người đàn ông đã khổ, nhưng người phụ nữ còn phải chịu thiệt thòi nhiều hơn vì những năm tháng thanh xuân, tình yêu, nhan sắc của họ vì chiến tranh. Những thanh niên nam nữ có không ít người chưa tốt nghiệp phổ thông đã ra trận chiến đấu, ở lứa tuổi đầy khát vọng. Mà cái khát vọng đầu tiên ở chiến trường là những bức thư được giao liên mang đến cho họ. Nhưng thư đến thì họ đã đi chỗ khác. Có lần đơn vị bác nhận được một bưu kiện của một người chiến sỹ vừa mới hy sinh hôm qua. Trong bưu kiện có một lá thư gửi kèm theo một gói quà. Gói quà gồm một hũ dưa muối - do những chiến sĩ muối, một chiếc khăn tay và một đôi bít tất. Bức thư của một cô gái tên là Liên có đoạn viết: "Em yêu anh lắm, yêu vô cùng nhưng chiến tranh đã làm anh và em xa cách. Trong thời kỳ chiến tranh khắc nghiệt này, em không có gì khác để tặng anh ngoài những món quà nhỏ này. Em gửi tới anh một chút quà để ăn tết. Em Liên".


Sau bác tìm hiểu đơn vị của Liên, đó là một đơn vị phối hợp với các đơn vị khác thực hiện cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 31 tháng 1 năm 1968, đơn vị của Liên di chuyển dọc bờ sông mà không biết rằng họ đã bị lộ. Chỉ sau vài phút, một đơn vị pháo của quân Việt Nam Cộng hòa đóng cách đây vài cây số nhận được tin báo. Khi tiếng nổ xé gió thì đã quá muộn. Liên và một số đồng chí đã hy sinh.


Sống trong môi trường chiến tranh, trong rừng thiêng nước độc, sức khỏe của bao cô gái đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những cô gái đang tuổi dậy thì vừa mới rời ghế nhà trường, sống ở trong rừng lâu ngày da trở nên xanh xao vì sốt rét, nhưng họ vẫn phải vượt lên để chống chọi với cuộc sống, mang vác vũ khí, chống chọi với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Họ phải sống, chiến đấu nhiều năm trong rừng núi. Những cô gái ấy khi kết thúc chiến tranh thì cũng là lúc mà tuổi trẻ, tình yêu cũng đã qua cơ hội...


Những cô gái tuổi đời còn rất trẻ, đầy sức sống, chuyện quan hệ nam nữ là một nhu cầu của cuộc sống. Nhưng kỷ luật chiến trường rất nghiêm ngặt. Quan hệ trai gái, tình dục trước hôn nhân là một điều cấm ky. Hầu hết phụ nữ đã tuân thủ đạo lý đó, sau hòa bình, họ lại về với cuộc sống như muôn vàn người khác. Nhưng một thực tế thật trớ trêu, họ đã đi qua tuổi xuân, quá lứa lỡ thì, họ sống độc thân, bằng cấp, thậm chí không tìm được việc làm. Có lần bác gặp một người chiến sĩ gái, cô tâm sự bằng dòng nước mắt chan chứa:

- Anh Thắng ạ! Tiểu đoàn em có bốn mươi chị em chiến đấu trong chiến tranh luôn giữ gìn sự trong trắng, trở về, muốn tìm một người chồng nhưng không được. Những người đàn ông cùng lớp người thi đã hy sinh, người thì đã lập gia đình. Một số người đàn ông khác họ cho chúng em không bằng cấp, không nghề nghiệp. Thế là hầu hết chị em đành ở vậy, hàng năm tụ họp nói về chuyện năm xưa - chuyện chiến tranh. Nhiều đêm em không tài nào ngủ được nhớ lại chuyện xưa, chuyện cũ. Một buổi chiều khoảng năm 1968 em cùng anh Sáng vào rừng kiếm thức ăn, anh ấy bị rắn cắn. Em lấy thuốc cho anh uống phần còn lại đổ vào vết rắn cắn, em băng chỗ vết thương. Lúc ấy chúng em mới nhận ra là người cùng xã. Chúng em đã yêu nhau trong những năm tháng ác liệt ấy.


Chúng em hứa bao giờ kết thúc chiến tranh bọn em sẽ thành lập gia đình, sinh con và tiếp tục thi vào đại học. Nhưng sau đó, được mấy tháng, anh Sáng hy sinh. Em ở vậy không yêu ai dù có người tỏ tình yêu em, nhưng em không thể!

Chiến tranh qua đi, em được về với quê hương đó là một điều phấn khởi. Em vẫn độc thân. Chính quyền đã tặng cho em một ngôi nhà tình nghĩa. Em sống một mình, hàng ngày em đặt trước bậc thềm nhà một đôi giày, và hai đôi dép nhựa, tối đến em lại cất đi, sáng hôm sau em lại đặt đúng chỗ cũ. Một hôm, có bạn gái già cũng từ chiến trường về vào thăm em và vui vẻ nói với em: "Mày còn hạnh phúc, sau chiến tranh mày về còn có ngôi nhà tình nghĩa, lại có chồng con, còn tao thì khổ lắm". Nói xong cấu ấy chúng em ôm choàng nhau khóc. Sau đó, người bạn gái mới hiểu ra điều em lầm. Ngừng một lúc, rồi người bạn gái nói tiếp: "Có thể về mặt nào đó, mình chịu thiệt thòi, nhưng dù sao mình vẫn còn may mắn sống trở về nơi sinh ra. Còn không biết bao nhiêu bạn gái, bạn trai, đồng đội của chúng ta đã ngã xuống chiến trường đến nay chưa tìm được hài cốt.


Anh Thắng ạ! Ở chiến trường chúng em thiếu đủ thứ: Thiếu lương thực, phải vào rừng kiếm cái gì đó để ăn, có khi tìm được nấm, nhưng lại ăn phải nấm độc, phải nhập viện, thiếu thuốc men, và các nhu yếu phẩm khác, nhưng mọi người vẫn động viên nhau sống chiến đấu cho một ngày mai.


Chiến tranh qua rồi, không có bom rơi, đạn nổ, con người không phải chịu cảnh chết chóc, thật sung sướng. Nhưng cuộc sống thực vẫn còn nhiều khó khăn.

- Thế em làm nghề gì, vốn lấy đâu ra?

Người em gái không nói rất lâu rồi mỉm cười móm méo nói tiếp:

- Như anh biết đấy con người cũng cần có việc làm, sau đó là để tồn tại, sau đó là một niềm vui. Em đã nghĩ ra cách làm.

- Cách làm nào hả em?

- Nói ra cách cũng được, nhưng đơn giản là em ngồi bán cà, bán rau ở góc phố, thu nhập không cao nhưng vẫn có việc làm. Ngồi ở đây em được thấy rất nhiều những toà tháp cao ngất ngưởng. Sao mà họ giàu thế hả anh? Ông Tâm trước đây ở nhà quê đầu đội mũ rơm nay giàu hết chỗ nói - một tòa tháp mười lăm tầng, mỗi tầng 300 m2, mà nghe đâu ông ấy còn có mấy lô đất ở Linh Đàm, Vũng Tàu. Nhìn ra xa một chút, trên đường Trường Chinh lại một tòa tháp của ông Hồng cao ngất ngưởng đứng sừng sững giữa trời cao và không biết bao nhiêu nhà của các vị đại gia khác cứ mọc lên chắn hết những hạt nắng, gió trời của những con người bình dị. Nghe vậy bác hỏi:

- Tuổi trẻ và tình yêu của em đã hiến dâng cho đất nước, anh hỏi thật, nay sống một mình em có buồn không?

- Anh Thắng ạ! Bây giờ bọn em có một nguồn vui khác là hàng năm tập họp lại ở một chỗ nào đó để kể lại những kỷ niệm ở chiến trường, người kể về những ngày chiến đấu ở đường mòn Hồ Chí Minh hay là địa đạo Củ Chi. Nhưng chị em bây giờ cũng bệnh tật ốm đau luôn. Chiến trường vũ khí của Mỹ đã không giết chết bọn em nhưng bệnh tật ốm đau đã làm cho bọn em đứa mất, đứa còn. Một vài năm lại có một bạn gái ra đi.


Hẳn anh còn nhớ Hằng Nga một cô gái xứ Kênh Bắc có dáng dấp mềm mại, tóc đen bóng, da dẻ mịn màng, trắng như trứng gà bóc, đôi mắt long lanh sáng một cách đặc biệt, đường nét thật duyên dáng. Em là phụ nữ còn chết mê chết mệt. Còn bọn con trai các anh thì có khi nhìn thấy là trái tim rạo rực... Ngày Hằng Nga vào chiến trường không biết bao nhiêu người đàn ông ngỏ lời nhưng Hằng Nga vẫn quyết tâm lên đường chiến đấu. Những năm tháng ở trong rừng đã làm Hằng Nga tàn tạ. Hằng Nga mang trong mình một nỗi buồn là căn bệnh sốt rét không thể nào chữa khỏi. Hàng năm phải vào bệnh viện điều trị. Không chồng con lại mắc bệnh, không đủ tiền để chữa, lại chẳng có ai chăm sóc. Bọn em phải thay nhau đến túc trực ở bệnh viện.


Bọn em đến chăm sóc Hằng Nga mới mường tượng ra phần nào xã hội đang biến động, đang phân cách... Ngay cạnh giường của Hằng Nga nằm bên trái là một bệnh nhân có một số phận khác hẳn. Nằm viện họ cũng sướng. Chắc lúc khỏe ở nhà họ sướng hơn. Ông này còn ít tuổi hơn Hằng Nga, chắc là đương chức đương quyền, không rõ là chức gì, nhưng suốt ngày hết đoàn nọ đến đoàn kia tới thăm ông ta. Hoa quả, quà bánh, phong bì... vợ ông ta rất trẻ, đẹp nõn nà, ăn mặc sang trọng nói năng dịu dàng. Bọn em đến chăm sóc Hằng Nga đôi lúc cảm thấy tủi cho bạn mình.


Hằng Nga nằm viện, tất cả mọi việc chăm sóc đều nhờ vào bọn em. Những ngày cuối đời Hằng Nga lúc tỉnh, lúc mê, người phụ nữ trẻ đẹp năm nào, nay nhỏ bé và gầy yếu, không một lời rên la. Ba ngày liền, Hằng Nga trải qua những cơn đau chắc là kinh khủng lắm, mồ hôi túa đầy trán đầy mặt, những ngón tay co quắp như muốn níu giữ cuộc sống mong manh.


Cuối ngày thứ ba thì Hằng Nga ra đi. Cái cơ thể của chị tóp teo nằm im lìm mềm oặt trên giường. Chúng em đứng vây quanh Hằng Nga, bất lực nhìn người đồng chí, người bạn lặng lẽ tắt thở. Bom đạn quân thù không giết được Hằng Nga, nhưng bệnh tật đã cướp đi sinh mạng chị. Tất cả đều do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại. Cũng có thể là sức lực lại thêm hao mòn sau những ngày hòa bình, vất vả chống chèo với cuộc sống. Anh nghĩ xem, Hằng Nga một mình mua rau quả ở quê rồi sáng sớm lên Hà Nội bán bằng xe máy quãng đường 50 km, trưa lại quay về và cứ như thế năm này qua năm khác vất vả với cuộc sống.


Khi các y tá chuyển chị Hằng Nga sang xe băng ca, đưa về phía sau bệnh viện để chờ ngày mai táng. Nhưng rồi đất để mai táng không có mà phải mua, chúng em lại góp nhau người ít người nhiều để có phần đất mai táng cho chị.

Chôn cất xong, chúng em ngồi vây quanh nấm mộ, gió thổi nghiêng ngả và cuốn đi những làn hương thơm lan xa, những hơi khói hương mỏng mảnh lan dần rồi tan biến vào không gian như đã tìm đến một vùng thiêng liêng huyền bí nào ấy! Chúng em luôn nhớ điều mà chị đã nói: "Hãy sống bản lĩnh và vững vàng. Trời không đóng hết mọi cửa với ai đâu. Chúng ta đã chịu đựng mọi khó khăn trong chiến tranh, đói khát, hy sinh này dù khó khăn nhưng lúc nào cũng phải bình thản sáng suốt...".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:48:52 pm »

XVI


"... Hà ạ! Người anh họ của bác tên là Oanh - Trần Oanh cũng phục vụ ở chiến trường miền Nam, giải phóng miền Nam ông Trần Oanh đã về nghỉ hưu mất sức làm ruộng cày cấy, chăm lo việc nhà. Có lần, bác đến thăm khi bác tỏ ra thông cảm những thiệt thòi ông ấy đã phản ứng dữ dội. Ông ấy nói rằng sự hy sinh của ông ấy, của bác chỉ là một sự đóng góp trong số hàng ngàn, hàng vạn người Việt Nam đã chịu đựng mất mát hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ để đất nước thống nhất.

Theo bác nghĩ chiến thắng mà chúng ta giành được có lẽ không chỉ ở trên chiến trường miền Nam, cũng không chỉ là sự thua đau ở miền Bắc của không quân Mỹ - mà còn là những gì diễn ra dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Sự tồn tại của con đường này là một minh chứng về sự hy sinh, tinh thần chiến đấu ngoan cường và quyết tâm không bao giờ tắt của một dân tộc sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh để giành thắng lợi cuối cùng. Những ngày đến thăm Trần Oanh, bác đã được nghe ông ấy kể về câu chuyện của mình.


"Hẳn em còn nhớ năm 1959, anh nhập ngũ và được nhận nhiệm vụ vào tham gia đường mòn này. Bọn anh khởi hành tại rừng Khe Hó dưới chân dãy Trường Sơn, ngay phía Bắc vĩ tuyến 17. Dân đường hành quân cho bọn anh là một thanh niên người Vân Kiều mang theo rựa và nỏ tre có tẩm thuốc độc.


Đơn vị anh chia thành những nhóm nhỏ băng rừng về phía nam. Trời chập tối, bọn anh dừng ở một nương ngô. Một cụ già người Vân Kiều xuất hiện giữa nương ngô, dẫn toán anh về căn chòi nhỏ của mình trên nương rẫy.

Ngày này qua ngày khác, tổ của anh cẩn trọng đi xuyên qua vùng rừng ở sườn đông dãy Trường Sơn tiến xa về phía nam. Sau mỗi đoạn đường, đơn vị anh lại tách ra một nhóm nhỏ lập chốt, để chịu trách nhiệm một khu vực nhất định. Các chốt tiếp vận nằm dưới tán cây rừng, loại chòi được đồng bào dựng lên trông nương rẫy. Ban đêm trong mỗi chòi, chừng năm người ngủ, muỗi, vắt lúc nào cũng như chực ăn thịt các anh. Ngày này qua ngày khác, trên các tuyến đường, những đoàn người miệt mài đi mang trên lưng đạn dược, súng ống và hàng hóa được gói trong những tấm vải không thấm nước... Thông thường, mỗi người cõng chừng 50 kg. Có người cõng tới 80 kg trèo đèo vượt suối trên một chặng đường dài. Cũng cần nói thêm cho em hiểu hồi đầu đường mòn nhỏ hẹp lắm, chứ không phải to như sau này.


Em ạ! Hành quân dọc đường mòn anh phải tự mang theo thức ăn vì thực phẩm khan hiếm nên đơn vị anh phải mang theo mỗi chiến sĩ mang ít nhất mười cân gạo. Còn thực phẩm nói cho oai thôi, bột nước mắm để trong hộp lấy ra một ít trộn với nước để ăn. Đôi khi cũng bắn được nai, trăn, chồn và hổ. Đồng bào dọc đường hành quân, họ rất tốt nhưng nghèo, nhưng họ vẫn sẵn sàng giúp đỡ cho bộ đội.


Sau khi Mỹ phát hiện ra đường mòn, chúng đã ném các loại bom. Trong giai đoạn 1965-1966 hành quân trên đường mòn bọn anh đã bị những trận mưa bom bão đạn dữ dội.

Em ơi! Năm 1959 anh khoác ba lô vào quân ngũ - gần tám năm ở đường mòn - Trường Sơn, không vợ con, không gia đình, họa hoằn lắm mới nhận được tin nhà, còn thân thể ngày một yếu, bệnh tật hoành hành. Nói dũng cảm hy sinh thì dễ nhưng đứng trước cái chết, cái gian khổ thì không đơn giản. Nghĩ về tương lai, anh lại tiếp tục trụ lại "trên đường mòn". Có ở lại mới thấy sự hy sinh của người khác là vô bờ vô bên.


Một thanh niên người mảnh mai, anh ấy đã gùi được 45kg đến 50kg trong vòng 4 năm với 1089 ngày làm việc, đã mang được hơn 55 tấn hàng trên lưng đi qua chặng đường dài 41.025 km tương đương với đi một vòng quanh trái đất theo đường xích đạo.

Thanh niên nam nữ tham gia phong trào thi đua, gùi hàng vào miền Nam ruột thịt. Chiến trường nhiều, đòi hỏi ngày một lớn, người ta đã sử dụng các phương tiện như: Voi, xe đạp thồ hàng, có người chiến sĩ đã thồ một chuyên được từ 100 đến 180kg, và kỷ lục cao nhất là 420 kg. Người lính cứ gồng mình trong bom đạn để đẩy những chiếc xe nặng nề lên dốc, xuống dốc, có những khi xe bị nổ lốp, người ta phải quấn giẻ rồi cuộn chặt dây cao su để tiếp tục vận chuyển, người trước ngã, người sau lại tiếp tục, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.


Em ạ! Có sống ở đường mòn Hồ Chí Minh mới nhận ra bộ đội mình thông minh và sáng tạo. Đường mòn từ Bắc vào Nam có rất nhiều lối ra. Anh được điều về một binh trạm lớn nhất, có ba lối ra - Quảng Nam, Đà Nẵng và Khe Sanh. Sư đoàn của anh có một nhiệm vụ chính - đó là duy trì các hoạt động của binh đoàn và xử lý các tình huống xảy ra trong khu vực.


Sư đoàn anh gồm 8 trung đoàn với tổng số lính là 15.000 người, có nhiệm vụ bảo vệ dòng chảy liên tục của tuyến đường tiếp viện. Bốn trung đoàn công binh có nhiệm vụ sửa chữa đường sá, một trung đoàn phòng không; hai trung đoàn vận tải chuyển quân và thiết bị.


Trên đường mòn, suốt ngày đêm, máy bay Mỹ ném bom bắn phá ác liệt. Những người lính trẻ vẫn hăng hái cho xe chạy. Với một chiếc đèn nhỏ lắp dưới gầm xe. Những người lái xe vẫn vững vàng tay lái vượt qua mưa bom, bão đạn, lên thác xuống ghềnh, vượt qua những tảng đá ngầm. Có nhiều đêm máy bay Mỹ thả pháo sáng như ban ngày. Máy bay Mỹ thường nhằm vào giao lộ ngầm và khúc cua. Những người chiến sĩ vững tay lái băng băng vượt qua. Xe không còn lành và thùng xe găm đạn lỗ chỗ. Nếu một chiếc xe bị hỏng, bộ đội nhanh chóng dỡ hàng và nhanh chóng giải phóng đường cho những chuyến khác tiếp tục tiến lên. Người Mỹ đã phải kinh ngạc, đường Hồ Chí Minh như một con bạch tuộc, cắt vòi này thì vòi khác mọc lên. Máy bay ném bom chặn đường này thì người ta đi đường khác. Nếu nhánh này bị tắc, công binh sẽ lập tức mở một con đường mới. Ai nấy đều quyết tâm duy trì các hoạt động giao thông để nhanh chóng giải phóng miền Nam. Mỹ ném bom hòng ngăn chặn nhưng thất bại đành chuyển sang phong tỏa bằng bom nổ chậm và bom phá.


Bộ đội công binh đã đi tháo gỡ bom nổ chậm để tận dụng các bộ phận của bom - mìn như mạch dây điện... Nhưng tháo gỡ bom mìn là một việc mạo hiểm và gây nhiều thương vong cho bộ đội. Mỹ không phải thả một loại mà nhiều loại khác nhau như: Bom, mìn từ trường và bom thông thường, kíp nổ nhanh, kíp nổ chậm, kíp định giờ. Cho nên việc tháo gỡ là rất khó.


Thời điểm khó khăn nhất là lúc mìn vừa được thả xuống, phải biết có bao nhiêu quả, hoặc loại mìn gì được thả. Mìn thả xuống, có quả nằm sâu xuống đất bùn, đất vùi lấp, để giải quyết được cái đó, bọn anh đã quyết định sử dụng một xe "thử". Anh xung phong ngồi bên cạnh người lái xe tải. Khi bước lên xe anh và lái xe xác định sẽ quyết tử để thông xe. Tài xế cho xe chạy chậm... được một đoạn chừng 150 mét. Đột nhiên, có một tiếng nổ rất lớn. Chiếc xe đã vượt qua khu vực có mìn. Nhưng may thay, quả mìn nằm khá sâu dưới đất nên sức công phá bị giảm, anh và người lái xe vẫn sống.


Sau này, đơn vị anh dùng một nhóm sáu lính công binh - Ba người bên trái và ba người bên phải - để dò mìn. Sau đó dùng xe bọc thép từ trường loại xe này hoạt động rất hiệu quả hiếm khi mất an toàn. Quân đội luôn luôn có một cuộc chiến giữa sự sáng tạo của Mỹ trong việc chế tạo vũ khí hiện đại và sự sáng tạo của người Việt trong việc đối phó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:52:13 pm »

Hoạt động ở đường mòn bị Mỹ đặt thiết bị nghe trộm mà Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mắc-na-ma-ra gọi là hàng rào điện tử. Bọn anh theo dõi chúng được thả xuống một khu vực có chiều rộng tới 100 km2 bao trùm một mạng lưới giao thông đường mòn. Khi phát hiện máy giống như cây rừng, đơn vị tìm cách dồn về một chỗ, cho xe chạy đi chạy lại, mở máy ghi âm có tiếng cười nói, những đoàn quân rầm rập để nghi binh. Người Mỹ tưởng rằng có quân Cộng sản hoạt động ở vùng đó. Khi người Mỹ bị dụ đến thì các đoàn xe của đơn vị anh lại hoạt động hành quân ở nơi an toàn.


Em ạ! Trên đường mòn những ngày đầu đơn vị anh và các đơn vị bạn gặp tổn thất do phương án phòng tránh. Nhưng đến năm 1966 lực lượng đường mòn chuyển sang thời tấn công kết hợp bộ đội phòng không, bộ đội công binh, với một lưc lượng lớn. Quân ta không phòng thủ nữa mà luôn tìm kiếm kẻ thù trên không để đánh. Vũ khí ở Trường Sơn không phải chỉ có súng và pháo phòng không mà còn có cả tên lửa để bảo vệ đường mòn.


Tối 18-6-1972, trung đội anh đã cảnh giác cao độ, phát hiện một chiếc AC-130A. Specữe từ từ tiến vào bắn phá đường mòn. Phi công AC-130A bắn ra một quả pháo để thu hút tên lửa nhiệt, nhưng quả A-T2 vẫn lao vào chiếc "Spectre II". Chiếc C-130A. Spectre của Mỹ bốc cháy.


Anh nghe một tiếng nổ vang dội từ chiếc máy bay AC-130A và chiếc C-130A lao xuống đất vỡ tan.

Em ạ! Người Mỹ đã cố hết sức để ngăn chặn tiếp viện của miền Bắc vào Nam nhưng không thể nào được. Người Việt ngoài việc chiến đấu dũng cảm họ còn rất sáng tạo. Họ đã mở ra nhiều đường, nhiều tuyến, có cầu thật, có cầu giả, đường thật đường giả. Mặc dù Mỹ đã cố gắng hết sức nhưng không thể nào đối phó được.


Anh nghĩ lẽ ra người Mỹ cần phải nghiên cứu lịch sử Việt Nam để từ đó có thể cảnh báo cho giới lãnh đạo thời thập niên 1960 về hệ quả mà lực lượng mặt đất của Mỹ phải gánh chịu khi tham chiến giúp cho người Mỹ hiểu hơn về tính dân tộc và cái chí khí của người Việt Nam. Một đất nước Việt Nam nhỏ bé, tiềm lực kinh tế quốc phòng thấp kém. Nhưng người Việt thông làu lịch sử, họ nhận thấy - bằng sự hiệu quả của đường mòn Hồ Chí Minh - một cơ hội để bắt buộc quân thù phải đánh theo cách mà người Việt Nam muốn. Trong khi đó, những người Mỹ kém may mắn đã không biết rút ra bài học này từ lịch sử Việt Nam.


Em có nhớ không, chúng ta là những người chiến sĩ, sống chết trên đường mòn Hồ Chí Minh. Khi Hiệp định Paris được ký kết, còn gì vui sướng bằng? Bọn anh ôm chầm lấy nhau nhảy tâng tâng và hát những bài ca yêu chuộng hòa bình rồi anh gào lên: "Mẹ ơi lau nước mắt/ Làng ta giặc chạy rồi... "1 (Thơ Tố Hữu).


Em ơi! Đây là một cơ hội để đẩy người Mỹ ra khỏi cuộc chiến, công việc của Việt Nam là do người Việt Nam giải quyết. Đây là một cơ hội để Bắc Nam thống nhất. Ngay sau khi có hiệp định, đường mòn đã có một loạt thay đổi. Các đơn vị được tái tổ chức và giao nhiệm vụ mới. Một số tuyến đường khác được đóng lại, chỉ sử dụng những tuyến đường thuận lợi nhất dẫn tới miền Nam mới được duy trì. Một tuyến là Trường Sơn Tây, vươn tới Lào và Campuchia. Trước khi trở lại Việt Nam. Tuyến thứ hai là Trường Sơn Đông, nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Hai tuyến này được nối với nhau bằng hàng loạt con đường Đông và Tây, các con đường này nhanh chóng được bê tông hóa và cầu sắt xuất hiện.

Em ạ! Thật là sung sướng khi con đường mòn được thông suốt. Anh vui sướng lúc nào cũng ngâm câu thơ của Tố Hữu:
   "Năm mươi sáu ngày đêm
   Khoét núi ngủ hầm
   Mưa dầm cơm vắt".


Đó là thời kỳ chống Pháp, còn bây giờ chống Mỹ, máu của chiến sỹ đổ xuống trộn lẫn với bùn không uổng để ngày mai đây thế hệ con cháu chúng ta được đắm mình trong ánh hào quang. Đây là con đường dẫn tới đất nước độc lập, thống nhất. Anh và em cũng như muôn người Việt Nam có quyền hãnh diện về công sức của mình để phụng sự Tổ quốc.


Em ơi! Trong ngày vui tiến vào Nam đơn vị anh được ngồi trên một chiếc xe tải vẫy cờ, miệng hát vang: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng". Miền Nam bắt đầu chiến dịch giải phóng đất nước, quân và dân ào ào như thác đổ; ngày thất thủ tất cả binh lính ngụy tháo chạy bở lại phía sau, tất cả ào ạt chạy về Sài Gòn. Số binh lính quan chức của Mỹ chưa rút kịp cũng chạy về Sài Gòn. Chỉ thị của trên là để cho Mỹ rời khỏi Việt Nam về nước. Tại sân bay Tân Sơn Nhất, các loại máy bay vận tải cỡ lớn thay nhau hạ cánh để chở những người Mỹ về nước. Một cuộc tiễn đưa người Mỹ và người Việt Nam theo Mỹ lặng lẽ hối hả ra đi, không hề ngoảnh lại.


Không hiểu cảm giác của em thế nào? Còn anh trái tim như vỡ òa ra vì vui sướng và luôn hát:

   "Mẹ ơi! Lau nước mắt
   Làng ta giặc chạy rồi...
   Trâu ta ra bãi ra đồi
1 (Thơ Tố Hữu)
   ..."

Nỗi vui sướng vì miền Nam được giải phóng rất lớn, nhưng cái lớn hơn nữa anh được gặp đứa em ruột - một phi công đã tham gia trong chiến dịch giải phóng thành phố Hồ Chí Minh. Anh đến sân bay Thành Sơn. Hai anh em ôm chầm lấy nhau ngỡ ngàng bởi trong cuộc chiến tranh này hai anh em vẫn sống. Thằng Hán kể về việc không quân dùng máy bay của địch để đánh đuổi Mỹ Ngụy:

Anh ạ! Khi Mỹ - ngụy cố gắng chống đỡ thì binh lính của chính quyền Sài Gòn bắt đầu phản chiến. Không quân Cộng hòa không biết bao nhiêu người đã quay súng về với quân Cách mạng, đã có người lái máy bay F5 ném bom vào dinh Độc Lập, Mỹ - ngụy bỏ chạy để lại ở các sân bay đủ loại máy bay trực thăng HH-53, UH-1, MH1A, C-130, F5, A37...


Các phi công từ miền Bắc vào chỉ sau một vài ngày là điều khiển thành thạo các máy bay của Mỹ. Có lẽ em không tưởng tượng được các phi công của ta có một trình độ nghệ thuật như thế nào đâu? Họ có một bản lĩnh sắt thép, có trình độ cao, tay lái lụa siêu. Tất cả máy bay cùng cất cánh trên các sân bay quần đảo khắp bầu trời. Biên đội hai chiếc, bốn chiếc, rầm rập bay lượn. Còn thằng Hán bốn anh em khác: anh Lộc, anh Từ, anh Thành, anh Mai được phân công lái máy bay A-37, loại máy bay này trông như con "bọ cạp" nó có thể mang tới bốn tấn bom nặng hơn trọng lượng máy bay. Rất cơ động, rất linh hoạt.


8 giờ 30 phút đội hình của thằng Hán vào cấp một, 9 giờ 20 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975 phi đội năm chiếc cất cánh rời sân bay Phù Cát (Phan Rang) chuyển đến sân bay Thành Sơn. Ở đây tốp này được quán triệt: phải đánh thật mạnh, đánh liên tục vào các mục tiêu quan trọng nhưng phải tạo điều kiện cho binh lính Mỹ rút lui một cách an toàn nhất. Cuối cùng quyết định đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, còn các sân bay khác để Mỹ - ngụy rút chạy. Khi đánh vào sân bay đó cũng chỉ đánh vào những kho dự trữ vũ khí, kho hậu cần của địch để tạo ra những đám cháy, tiếng nổ, gây hoảng loạn cho Mỹ - ngụy. Còn các đường băng không được đánh để các loại máy bay chở người sơ tán. Hôm đó trời quang, biên đội năm chiếc A-37. Thằng Hán bay số 2 thỉnh thoảng lại nghiêng cánh xem tình hình ở mặt đất, những đoàn người chạy bộ, dắt díu nhau, xe lớn, xe con nối đuôi nhau vào các sân bay. Họ xô đẩy nhau tranh lên máy bay cỡ lớn, cỡ bé để được thoát thân. Có những người lính cố gắng bám vào càng máy bay. Tại sân bay Tân Sơn Nhất máy bay liên tục cất cánh để đưa người Mỹ về nước.


Trong chốc lát anh thoáng nghĩ mới một ngày hôm qua thôi, họ còn kêu gào Bắc tiến, biến Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Mỹ đã dùng mọi thủ đoạn mánh khóe, mưu mẹo, các binh lực, phương tiện chiến tranh để chiến thắng. Nhưng hàng chục năm nay không giải quyết được việc gì mà đã tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của và người. Để rồi hôm nay phải cuốn gói tháo chạy không kèn, không trống. Em nghĩ, Mỹ là một nước giàu mạnh có một tiềm lực kinh tế nhất nhì thế giới. Nhưng kết cục lại như ngày hôm nay bởi Mỹ không thấu hiểu về lịch sử người Việt Nam, tính cách con người Việt Nam, họ đã làm đúng lời Bác Hồ đã dạy: "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước". Sức mạnh tinh thần lớn hơn tất cả..


Tốp của thằng Hán bay ở độ cao 400 mét, từ Phan Rí, qua Phan Thiết đến cửa sông Sài Gòn rồi quay lại bên trái là sân bay Biên Hòa, bên phải là sân bay Tân Sơn Nhất, biên đội năm chiếc tiến vào rồi kéo lên lấy độ cao một ngàn mét bổ nhào lần lượt trút bom xuống kho vũ tài, kho xăng và các máy bay đang nằm trong ụ. Các căn cứ trong sân bay bốc cháy, ngọn lửa cao ngất ngưởng.


Biên đội năm chiếc A37 của thằng Hán về hạ cánh tại sân bay Thành Sơn an toàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:54:31 pm »

XVII


Còn một chuyện này, bác muốn kể với Hà. Như trên đã kể, người anh họ bác là Trần Oanh, sau mười sáu năm ở chiến trường hôm nay ông ấy được hạ quân hàm về với ruộng đồng nơi sinh ra ông.

Sau chiến tranh Trần Oanh được trở về sống với gia đình, vui sướng lắm, không phải chịu cảnh bom rơi đạn nổ. Cái ước mong của ông là một ngày nào đó được đi tìm đồng đội.

Ông ấy vui sướng khi được gia nhập vào tổ chức tìm kiếm người mất tích (Missing in Action - mia), lại được đi trên đường mòn, một chứng tích cho sức mạnh ý chí của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến vì lý tưởng, bất chấp cái giá phải trả. Đường mòn giờ đây nằm im lìm dưới tán cây rừng, sau một quá khứ với những hoạt động nhộn nhịp. Hàng trăm nghìn chiến sĩ nam và nữ chiến đấu để bảo vệ an toàn cho tuyến đường đã ra đi - Giờ đây canh giữ cho đường mòn là những người đã ngã xuống, có người không bao giờ tìm thấy hài cốt. Cuộc chiến tranh kết thúc năm 1975 về phía Mỹ có rất ít trường hợp mất tích. Còn đối với người Việt Nam, cứ 87 người thì có một trường hợp chịu cảnh mất tích.


Chiến tranh qua rồi, ai mất, ai còn, ai giàu sang, ai nghèo đói: điều đó ông đã hiểu. Nhưng ông thường xuyên mang một ý nghĩ "việc quy tập hài cốt của những người đã hy sinh về cho người thân, gia đình là rất quan trọng đối với người Việt Nam lẫn người Mỹ". Những gia đình đã gửi con ra trận, chiến tranh qua rồi họ muốn mang hài cốt người con đã hy sinh về với quê cha đất tổ, họ muốn đưa hài cốt về chôn tại nơi mà người thân của họ đang sống, linh hồn của người đã chết sẽ được yên nghỉ bên những người thân. Đó là tâm lý của người Việt Nam. Bằng cách này, họ tưởng như linh hồn của người đã hy sinh sẽ còn sống mãi mãi.


Hà ạ! Bác càng nghĩ càng thương những người chiến sĩ Trường Sơn. Họ chịu đựng nhiều gian khổ lắm. Khi đồng đội họ hy sinh, một đám tang chôn vội, chôn vàng, những người chiến sĩ còn sống sót không kịp ngả mũ vĩnh biệt có khi cũng phải ra đi. Cuộc sống của bao chiến sĩ sống ở đấy năm năm, bảy năm... Họ tập đi không dấu chân, không để lại một vết tích gì khi đi qua, những bữa cơm đạm bạc không dám đốt lửa...


Những người chiến sĩ ở đường mòn tự nguyện nhận những điều xấu nhất đến với họ kể cả cái chết, để hôm nay mới có ngày chiến thắng.

Bao nhiêu năm ông Oanh rời khỏi chiến trường về chốn quê nhà, lao động, chắt bóp để có một ít tiền đi tìm đồng đội. Chuyến xe của ông đi trên đường mòn Hồ Chí Minh, không vận chuyển khí tài chiến tranh, mà bây giờ trên xe là những hài cốt của đồng đội vừa tìm thấy như Hà biết đây, việc tìm kiếm hài cốt của một chiến sĩ là rất khó khăn, bởi trong chiến tranh ác liệt, việc chôn cất không có điều kiện được chu đáo, thiếu hồ sơ tài liệu, mặt khác, sau một thời gian dài, cây cối mọc um tùm phủ kín gần toàn bộ đường mòn, khiến cho công việc nhận diện chiến trường xưa càng khó khăn. Bởi vậy ông ấy cùng đồng đội cố gắng tìm kiếm được bộ hài cốt nào hay bộ ấy. Ông phải cố gắng hết sức mình để đưa hài cốt của chiến sĩ về nơi sinh ra họ.


Trên đường hành quân tìm kiếm hài cốt, ông ấy có một linh cảm luôn hiện lên trong tâm thức những người lính đi tìm đồng đội mà người ta gọi là ngoại cảm. Những người ngã xuống ở chiến trường không đơn độc.

Hà ạ! Có một hôm đơn vị ông ây hành quân trên đường mòn bỗng dưng xe khựng lại, người lái xe chữa mãi không được. Ông ấy và đơn vị phải lưu lại ở đấy vào rừng kiếm thức ăn, đột nhiên bắt gặp một nơi chôn cất bảy chiến sĩ, đội tìm kiếm làm thủ tục và đưa bảy đồng chí lên xe. Người lái xe mở máy xe lại nổ rền thật khó hiểu. Ông ấy không tài nào lý giải được.


Sau hiện tượng này, ông ấy có cảm giác linh hồn những chiến sĩ đã ngã xuống khi bảo vệ con đường này không hề chết.

Trần Oanh tham gia cùng đoàn Mia đã góp phần tìm được hơn 1000 hài cốt. Nhưng lại không được đưa về quê cha đất tổ như anh nghĩ vì một phần địa chỉ không rõ ràng, một phần nữa họ yêu cầu đưa về nghĩa trang ở tỉnh Quảng Trị. Đây là nghĩa trang quốc gia lớn nhất nước và là nơi tưởng niệm xứng đáng đối với những người chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Và rồi đây những người chiến sĩ ấy sẽ được người thân đưa về quê cha đất tổ.


Hà ạ! Thế là ông Oanh đã trải qua một chặng đường dài mười sáu năm ở chiến trường và đã tham gia tìm kiếm các hài cốt chiến sĩ. Bây giờ ông ấy không thể đi được nữa.

Bác nhìn ông Oanh với một đôi mắt thắc mắc: - "Sao anh lại không đi nữa? Anh đã có ngoại cảm tìm kiếm các liệt sĩ cơ mà".

"Hiện nay sức khỏe của anh quá yếu, vừa rồi anh ra Hà Nội vào kiểm tra, sau khi siêu âm và làm một số xét nghiệm, Hội đồng y khoa kết luận anh đã bị ung thư gan".

Bác đã trào nước mắt khi nghe tin ấy và động viên ông Oanh: "Anh cứ cố gắng mà điều trị chúng em ở bên anh chăm sóc và bảo nhau góp tiền giúp anh. Thôi anh ạ! Đừng nghĩ giàu nghèo sang hèn. Anh cố gắng mà sống".

Mấy ngày sau bác vào bệnh viện K, thấy mấy đứa em đến thăm ông Oanh và động viên ông ấy khi ốm đau. Nhìn thấy bọn nó, ông Oanh vẫn cười và nói:

- Các em cứ yên tâm đi, làm sao mà anh chết được. Ngày nay khoa học phát triển việc ung thư người ta vẫn chữa khỏi.

Rồi ông Oanh kể cho bác nghe tình hình sức khỏe của ông. Dạo này ông ấy ít ngủ, về đêm ông nghe đài hay xem vô tuyến. Nhiều khi nghe những bài diễn văn của các nhà lãnh đạo anh thấy cũng vui và ước mơ khỏi bệnh, chờ tới ngày đất nước có một xã hội công bằng văn minh "Dân biết dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Công lao, máu của người chiến sĩ không uổng. Nhưng rồi có lúc lại nghe được những tín xấu như: Cô gái trẻ xông vào đánh công an và vụ một thanh niên dám dùng dao giết cả nhà để cướp vàng... Đêm khuya ông không ngủ, nghĩ một bộ phận thanh niên ngày nay hư hỏng thật. Nhưng rồi ông lại nghĩ cái gì làm cho thế hệ trẻ ngày hôm nay như vậy: "Tất cả nhiệm vụ của đất nước bây giờ đặt lên vai thế hệ trẻ, ngày xưa Bác nói: "Đất Việt Nam rừng vàng biển bạc nhưng nay rừng đã bị chặt phá. Còn biển thì tranh chấp".

- Một hôm bác hỏi bác sĩ về bệnh tình của ông Oanh.

Bác sĩ cho biết: "Chúng tôi làm nghề y nên phải cố gắng chữa bệnh tật cho người đau ốm. Những người như các anh là rất quý! Đã gần nửa đời người ở chiến trường. Nhưng thật ra bệnh u gan là rất khó chữa. Muốn kéo dài sự sống là phải có tiền. Bọn tôi sẽ động viên mọi người trong bệnh viện ủng hộ để giúp ông ấy sống thêm được ngày nào hay ngày ây. Ông ấy là tấm gương soi cho thế hệ mai sau".


Thế là ông ấy vẫn tiếp tục tập luyện, uống các loại thuốc lá mà ngày xưa người dân tộc đã dạy. Điều đáng ngạc nhiên là những người mắc bệnh như ông ấy thường kêu la than phiền, nhưng đằng này ông Oanh vẫn cứ bình thản coi như không có gì xảy ra.

Cuộc sống của ông ấy vẫn tiếp tục trong bệnh viện. Nhưng người yếu dần, nhất là những cơn đau thật là kinh khủng. Bác sĩ nói với người nhà ông là ông ung thư gan ở giai đoạn cuối rồi, không còn hy vọng sống. Cần báo cho gia đình người thân càng sớm càng tốt. Nhưng tiếc thay bố mẹ ông đã hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Vợ con không có. Bác sĩ hỏi ông ấy cần báo cho ai nếu gặp khó khăn, ông Oanh hơi cau mày:

- Chẳng cần bác sĩ ạ, đừng làm phiền người khác, đường sá xa xôi tàu xe khó khăn, người ta lấy đâu ra tiền mà đi.

Trước khi ông ấy qua đời muốn nhắc các em một điều là trong cuộc chiến tranh, anh và các em đã góp một phần máu thịt mới có hòa bình hôm nay. Các em cần phải cố gắng rèn luyện, rồi mai đây cuộc đời sẽ khác.

Nói xong, câu đấy cơn đau lại hành hạ, cuối cùng ông Oanh đưa tay lên cao rồi trút hơi tàn.

Thế là ông Oanh qua đời. Chiến tranh lùi về quá khứ, những người chiến sĩ tham gia trong cuộc chiến tranh chống Mỹ rồi sẽ lần lượt ra đi, để lại tất cả cho những người còn sống. Họ sẽ phải gánh vác và xây dựng đất nước như những người đã ngã xuống mong muốn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #29 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2026, 08:56:28 pm »

Vĩ thanh


Hà ạ! Thế là bác đã kể một phần cuộc đời bác trong chiến tranh và sau chiến tranh cho Hà nghe. Lâu nay bác vẫn nghĩ vì sao một đất nước mạnh như Mỹ có tiềm lực kinh tế, quốc phòng, cũng như nghệ thuật quân sự đứng hạng nhất nhì thế giới mà lại chiến bại ở Việt Nam?


Năm 1960, khi bác đang học đại học, trong sinh viên lúc bấy giờ có phong trào tình nguyện vào quân đội tham gia chiến đấu chống Mỹ xâm lược. Là một người con của Tổ quốc, vinh dự được ra trận, bác rất tự hào được cầm súng. Bác được gặp bạn bè các thế hệ ở chiến trường, nhưng một điều bác cũng buồn bởi vì các bạn đã lần lượt ngã xuống trên chiến trường. Số còn sống sót sau chiến tranh tuổi già, rồi bệnh tật cũng lần lượt ra đi.


Điều đó khiến bác đã cố gắng hết sức nhớ lại để kể cho Hà nghe. Trong chiến tranh, kẻ mất người còn nỗi đau chiến tranh đã giáng xuống cuộc đời những người ở cả hai chiến tuyến. Người Mỹ cũng chịu bi kịch chết chóc, và còn mang trên mình những tàn phế của cuộc chiến tranh. Một số binh lính Mỹ đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Những người thân của họ cũng đau khổ. Điều đó có lẽ ai cũng biết nhưng sao lại có chiến tranh? Người gây ra chiến tranh bao giờ cũng thấy mục đích họ muốn làm. Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II loài người nhận thấy chiến tranh là một sự tàn phá và hủy diệt. Khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời đã hình thành phe xã hội chủ nghĩa. Một loạt các nước châu Á, châu Âu hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa. Người ta thường nói: "Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa". Hay nói đứng hơn, Việt Nam bị nước Mỹ chọn để dựng chiến tuyến chống "cộng sản".


Người Mỹ đã không hiểu về lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn được Mỹ giúp đỡ mọi mặt nhưng không ngăn cản được "cộng sản". Mỹ đã trực tiếp tham chiến. Người Mỹ đã khởi nguồn cho sự hiện diện mang tính định mệnh của nước Mỹ tại Đông Nam Á. "Biến Việt Nam về thời kỳ đồ đá". Người Việt Nam sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh như Bác Hồ nói: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Người Việt Nam chiến thắng giặc Mỹ xâm lược bằng ý chí - Sức mạnh tinh thần.


Hà ạ! Đáng lẽ bác phải tự tay viết ra, nhưng như Hà biết đấy sau chiến tranh bác về với ruộng đồng lại mang bệnh "Bakixơn" tay chân run rẩy không viết được. Nhiều năm tháng bác trăn trở về những tồn tại. Người ta nói tìm cách thoát nước cho Hà Nội, nhưng nước vẫn chưa thoát được. Nói chống tham nhũng thì tham nhũng vẫn phát triển. Rồi nói giải phóng ùn tắc giao thông thì giao thông vẫn chưa được cải thiện là bao. Lực bất tòng tâm, bác không lại có vị trí trong xã hội vả lại sức quá yếu. Bác nhờ Hà viết cuốn sách này để bạn đọc chiêm nghiệm quá khứ - hiện tại.


Hà ạ! Một trong những nhược điểm của con người là coi nỗi đau của bản thân luôn lớn hơn người khác. Khi chiến tranh qua rồi một số người được Đảng và Nhà nước giao cho một số vị trí có trọng trách với đất nước, nhưng họ quên mất dưới chân họ là máu và nước mắt của bao người. Họ đặt vợ con gia đình họ hàng và bản thân mình lên trên hết, quan tâm đến mình hơn người khác.


Bác nói với Hà điều này, có sự tỉnh ngộ của người Mỹ về chiến tranh ở Việt Nam. Nhất là phải chứng kiến hậu quả chất độc Mỹ rải xuống Việt Nam, nay thế hệ thứ ba của họ vẫn phải chịu đựng. Chưa kể bom mìn và các chất độc hóa học còn nằm sâu dưới lòng đất Người Việt Nam đau khổ đã đành nhưng người Mỹ cũng đau khổ. Bác ở chiến trường thấy cái chết, sự hấp hối và sự chịu đựng của những kẻ xâm lược và những người bị xâm lược đều như nhau.


Chúng ta là người Việt Nam, rất thấu hiểu người Mỹ, người Mỹ đã phạm nhiều sai lầm trong chính sách về Việt Nam. Người Mỹ đã ủng hộ chế độ thực dân Pháp, đi ngược lại quyền tự quyết của Việt Nam. Sự ủng hộ người Pháp mâu thuẫn với niềm tin của Tổng thống Roosevet rằng sau khi Nhật Bản thất bại, người Pháp không được phép tái áp đặt quyền lực đô hộ tại Việt Nam. Người Mỹ biết điều đó nhưng sao vẫn tiến hành ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau đó trực tiếp tham chiến với "Cộng sản"? Việc Mỹ gây chiến ở Việt Nam có khi cũng là ngộ nhận. Sau khi chủ nghĩa xã hội phát triển sang Cuba, châu Mỹ La Tinh và đang có xu thế lan ra khắp thế giới. Từ nhận thức đó các quan chức Mỹ luôn rao giảng trong cuộc chiến, "Việt Nam là một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm đối với Mỹ và Mỹ chuẩn bị một lực lượng hùng hậu như vậy để chiến đấu, chống lại Việt Nam". Qua tuyên truyền, người dân Mỹ nhận thức được rằng an ninh quốc gia Mỹ đang đứng trước một nguy cơ của "Cộng sản" - mà mũi nhọn là Việt Nam.


Nhưng qua nhiều năm chiến tranh ở Việt Nam người Mỹ nhận thức ra rằng Hà Nội không hề tạo ra một sự đe dọa nào, gián tiếp và trực tiếp đối với nước Mỹ. Nhân dân Mỹ dần dần đã nhận thức được điều đó.

Bác thấy, cuộc chiến Mỹ gây ra tại Việt Nam ngày một dữ dội thì nhân dân thế giới càng kịch liệt phản đối. Nhân dân Mỹ ngày càng nhận thức rõ Việt Nam không có một mối đe dọa nào đối với nước Mỹ. Qua cuộc chiến tranh, người Mỹ đã nhận ra rằng họ đang chiến đấu với một "thế hệ vĩ đại nhất" của Việt Nam - một thế hệ với quyết tâm thống nhất và duy trì sự tồn tại của dân tộc, sẵn sàng đứng lên đánh đuổi hết quân ngoại xâm này đến quân ngoại xâm khác. Người Mỹ cũng nhận ra rằng, dân tộc Việt Nam đã có một Đảng tài tình lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam đưa con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đến bờ của chiến thắng.


Sự cống hiến của bác cũng như muôn người dân Việt Nam khác trong những năm tháng chiến tranh ác liệt là điều bác rất tự hào. Vì người Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Mặc dù chịu nhiều tổn thất, nhưng không có gì hối tiếc.

Người Việt Nam đầy lòng vị tha không phải cùng dòng tộc mà còn vị tha cho kẻ thù. Điều này trở thành một phần văn hóa qua nhiều thế kỷ và có thể thấy rõ qua sự khiêm tốn của người Việt Nam sau mỗi chiến thắng. Họ sẵn sàng bình thường hóa, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước để hướng về tương lai.


Người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, sống khiêm nhường. Người Việt Nam không nuôi dưỡng lòng thù hận đối với Mỹ. Người Việt Nam nghèo nhưng không hèn và người Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình. Quả đất này là mái nhà chung của các dân tộc trên thế giới, cần phải hòa bình hữu nghị, người Việt Nam sẵn sàng bắt tay với người Mỹ với niềm tin mong đợi về một mối quan hệ hòa bình hữu nghị mới.


Hà đã nghe trọn vẹn câu chuyện bác Thắng kể trên giường bệnh, một câu chuyện kể trong hai năm và bắt tay vào viết lại từ tháng 1 năm 1976, trong khi viết Hà thường gặp bác để chỉnh sửa lại những sai sót. Khi Hà chỉnh sửa gần xong thì bác đã phải nhập viện.


Hội chuẩn của y bác sĩ kết luận là bác Thắng bị ung thư xương. Bây giờ thì bác Thắng không nói được nữa vì người ta đã tháo xương hàm, không nói được và cũng chẳng ăn được. Để duy trì sự sống người ta cho bác ăn bằng "xông".

Nhưng Hà vẫn đến trước là để chăm sóc bác Thắng và tranh thủ đọc cho bác nghe. Bác đặt tên tác phẩm của mình là "Trận chiến đấu cuối cùng" có lúc xúc động, bác không nói được chỉ gật gật đầu, nước mắt giàn giụa.

- Sao bác lại khóc? - Hà hỏi vậy - Bác có muốn được xuất bản không?

Nghe vậy bác Thắng nằm ngửa hai tay chắp lại vái lạy lên trời cao. Qua hành động của bác Thắng, Hà hiểu đó là sự mong mỏi của người sĩ quan chiến trường.

- Bác muốn xuất bản cuốn sách này không? - Hà hỏi lại.

Bác gật đầu. Mấy ngày sau, Đỗ Viết Thắng qua đời khi những điều bác muốn nói ra với mọi người vẫn còn ở dạng bản thảo. Nếu một ngày nào đó được xuất bản, Hà sẽ dành một cuốn đến trước mộ bác để đọc cho bác nghe và đốt để nó đi theo hồn bác.
Logged
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM