Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:50:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ức về Thượng tướng Lê Ngọc Hiền  (Đọc 2978 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2026, 09:08:30 pm »

Lần này cuộc phản công và tiến công chiến lược đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của bọn Pôn Pốt phản động, bảo vệ vững chắc Tổ quốc ta và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt là một cuộc chiến đấu hoàn toàn khác, chưa có tiền lệ trong lịch sử quân đội ta, xét về đối tượng tác chiến, mục tiêu và lực lượng sử dụng, sự liên minh chiến đấu giữa ta và bạn, đặc điểm chiến trường, bối cảnh quốc tế... Được sự chỉ đạo sát sao của cấp trên, anh Lê Ngọc Hiền và cơ quan tham mưu đã đi sâu nghiên cứu, quán triệt những tư tưởng, quan điểm cơ bản của lãnh đạo, lắng nghe ý kiến của đông đảo cán bộ, khẩn trương xây dựng kế hoạch chiến lược, thể hiện được quyết tâm và trí tuệ của tập thể cán bộ có trách nhiệm. Bản kế hoạch chiến lược đã hình thành.


Tháng 12 năm 1978, anh Lê Ngọc Hiền đã báo cáo trước lãnh đạo Đảng bản kế hoạch chiến lược của tiền phương Bộ Quốc phòng, của Bộ Tổng tham mưu, được tiếp thu những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo rất cơ bản và toàn diện của lãnh đạo để hoàn chỉnh bản kế hoạch và triển khai thực hiện.


Vì nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của nhân dân Campuchia và Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23 tháng 12 năm 1978, quân đội ta đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân Pôn Pốt, sau đó chuyển sang tiến công cùng với các lực lượng vũ trang của bạn, được sự ủng hộ của nhân dân Campuchia đang khát khao được giải phóng đánh tan lực lượng quân sự gồm 23 sư đoàn quân Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Campuchia.


Sau một thời gian ngắn ở Campuchia, do yêu cầu tình hình chung anh Lê Ngọc Hiền trở về công tác ở Bộ Tổng tham mưu. Đầu năm 1987, anh Hiền lại được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia thay anh Đoàn Khuê về Bộ giữ chức Tổng Tham mưu trưởng.


Tình hình chiến trường Campuchia lúc này đã chuyển sang một cục diện mới. Ta và bạn đã giành được thắng lợi quan trọng có ý nghĩa chiến lược trong mùa khô 1984-1985 đập tan toàn bộ hệ thống căn cứ của Pôn Pốt và các phái Khmer phản động trên tuyến biên giới phía tây, tây nam, tây bắc Campuchia, buộc địch phải chuyển hướng chiến lược. Nhiệm vụ của quân tình nguyện và chuyên gia lúc này là tâp trung giúp bạn giành thắng lợi cơ bản cả ba mục tiêu chiến lược đưa cách mạng Campuchia tiến tới ổn định vững chắc, bạn tự đảm đương nhiệm vụ. Các đơn vị ta tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng, phối hợp và dìu dắt bạn chiến đấu. Bạn đã tự đảm đương được một phần quan trọng các khu vực trong nội địa và ta đang từng bước bàn giao cho bạn tự đảm đương tuyến biên giới. Anh Hiền đã cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh quân tình nguyện và các cơ quan đi kiểm tra các mặt trận, chỉ đạo việc đánh địch và giúp các bạn xây dựng bàn giao từng vị trí, từng địa bàn cho bạn. Với tác phong sâu sát, cụ thể, thận trọng và quyết đoán, anh Hiền đã đi nhiều nơi, từng mặt trận nội địa đến tuyến biên giới đánh giá tình hình cụ thể địch, bạn, ta trên từng khu vực và trên toàn chiến trường, lắng nghe ý kiến cán bộ, chiến sĩ, làm việc với bạn rất chân thành, trân trọng bạn, động viên bạn tự tin thay thế quân tình nguyện Việt Nam nhất là ở những vị trí suy yếu.


Theo kế hoạch thống nhất giữa ta và bạn, đến năm 1987 lực lượng cách mạng Campuchia tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ đất nước, quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục rút cho đến năm 1990 thì hết. Nhưng đến năm 1988, việc thực hiện ba mục tiêu chiến lược đã đạt được kết quả tích cực, lãnh đạo hai Đảng nhất trí rút quân tình nguyện và chuyên gia về nước sớm hơn thời gian dự định. Ngày 30 tháng 8 năm 1988, lễ tiễn trọng thể Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam và các cơ quan về nước đã diễn ra tại sân bay Pôchentông, Phnôm Pênh trước 5 vạn nhân dân Campuchia và hàng trăm nhà báo trong và ngoài nước. Cùng thời gian đó ở các hướng khác, 5 vạn quân tình nguyện cũng hoàn thành nhiệm vụ trở về Tổ quốc. Ngày 26 tháng 9 năm 1989, những lực lượng cuối cùng của quân tình nguyện đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ, trở về Tổ quốc. Lễ tiễn đưa quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Phnôm Pênh và các địa phương đã được chính quyền các cấp và đông đảo nhân dân Campuchia tổ chức trọng thể, cảm động. Đó là những cuộc biểu dương lực lượng vô cùng ấn tượng, thể hiện tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, trải qua bao thăng trầm, sóng gió vẫn đơm hoa kết trái.


30 năm đã trôi qua kể từ ngày 7 tháng 1 năm 1979 lịch sử, ta giúp bạn giải phóng Phnôm Pênh khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về tình bạn, tình đồng chí thắm thiết giữa anh và tôi còn ghi sâu trong tâm trí tôi. Nhớ mãi anh Lê Ngọc Hiền, một người chỉ huy tài năng và bản lĩnh, tận tụy hết lòng vì công việc, sống giản dị, chân thành, giàu lòng nhân hậu, gần gũi với đồng chí, đồng đội, người được nhiều cán bộ, chiến sĩ hết lòng quý mến.

L.H
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:56:38 pm »

NHỚ MÃI NGƯỜI ANH,
NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, ĐỒNG ĐỘI TRÊN CÙNG CHIẾN TRƯỜNG

Trung tướng PGS-TS. Nguyễn Hải Bằng
(Nguyên quyển Giám đốc Học viện Quốc phòng,
nguyên Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu.
Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh)


Tôi trở thành cấp dưới trực tiếp của anh Lê Ngọc Hiền hơi muộn. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh chiến đấu ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, còn tôi chiến đấu ở chiến trường rừng núi biên giới phía Bắc. Chỉ biết anh sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, trong các lớp tập huấn, hội nghị huấn luyện toàn quân. Cũng chỉ thực sự quen thân anh khi tôi và anh cùng chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Tôi vào chiến trường cuối năm 1964, còn anh được bổ sung vào chiến trường đúng thời kỳ khó khăn nhất, ác liệt nhất sau Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Và cùng từ đó, anh mang tên Bảy Hiền, gọi theo tập quán của đồng bào Nam Bộ, không hiểu do anh là con thứ bảy, trong gia đình hay trong Bộ Tham mưu Miền lúc bấy giờ đã có các anh từ thứ hai đến thứ sáu nên anh lấy thứ bảy cho khỏi trùng lặp. Thời gian này, tôi là cán bộ cấp dưới trực tiếp của anh, lúc đó anh đảm nhiệm chức danh Tham mưu phó, tôi giữ chức Trưởng phòng Quân huấn. Được biết trước đây anh từng phụ trách công tác huấn luyện toàn quân nên tôi muốn gặp anh để hỏi về công tác huấn luyện bộ đội. Tuy gặp anh thường xuyên trong các cuộc giao ban hàng ngày, nhưng bận triển khai công việc nên chỉ có thể gặp anh vào tôi thứ 7 hàng tuần. Mỗi lần đến gặp anh tôi đều rủ mấy anh em trưởng phó phòng trong Bộ Tham mưu Miền cùng đi, hồi đó chúng tôi còn rất trẻ, chỉ ngoài 30 tuổi, quyết tâm nhiệt huyết không lo, nhưng trình độ công tác tham mưu còn nhiều bất cập.


Cũng lạ, chiến trường miền Đông Nam Bộ vốn nổi tiếng là nơi mật độ bom đạn dầy đặc không nơi nào sánh kịp. Nhưng đến tối thứ 7 hàng tuần bỗng dưng giảm hẳn cứ như kẻ địch đơn phương ngừng chiến. Chúng tôi phải lựa chọn thời điểm này để thư giãn bớt áp lực công việc trong tuần; đồng thời đến thăm anh vừa để nghe anh truyền đạt những kinh nghiệm công tác ở cơ quan Tham mưu chiến lược. Chúng tôi gặng hỏi nhiều lần, nhưng anh đều khiêm tốn từ chối với lý do: "Mình mới ngoài Bắc vào chưa hiểu biết hết tình hình chiến trường chưa thể đóng góp ý kiến với các anh được, tốt nhất chúng ta nên trao đổi một số vấn đề mà mọi người chúng ta đang rất quan tâm". Rồi anh nói tiếp: "Theo mình có hai vấn đề, một là làm thế nào để công tác tham mưu của chúng ta có chất lượng và hiệu quả cao nhất trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, khó khăn thiếu thốn trăm bề như hiện nay; hai là phải có cách đánh như thế nào để tiêu diệt địch đúng với chức năng nhiệm vụ của binh đoàn chủ lực, nhưng giảm được thương vong tổn thất nhất cho bộ đội.


Với hai chủ đề anh Bảy nêu lên, chúng tôi bước vào tranh luận hết tối thứ 7 tuần này đến tối thứ 7 tuần khác. Vật chất chẳng có gì chỉ với ấm trà Blao Lâm Đồng, một bịch thuốc rê tự quấn lấy. Chúng tôi say sưa tranh luận, mỗi người trình bày quan điểm của mình cùng những giải pháp để thực hiện những quan điểm đó, hết sức tự do tư tưởng, chỗ nào còn thiếu thì tập thể bổ sung thêm, không đi lạc sang những vấn đề khác. Có hôm quá hăng hái tự dưng chuyển sang đề tài món ăn đặc sản của Hà Nội, anh Bảy liền cắt ngang để chuyển về trọng tâm cũ. Mỗi buổi tranh luận như vậy, anh Bảy đều có kết luận sơ bộ để chúng tôi về vận dụng trong cơ quan và chỉ đạo hướng dẫn đơn vị thực hiện.


Qua những buổi sinh hoạt dân chủ đó nổi lên những quan điểm của anh là công tác tham mưu phải đề cao tính tổ chức, tính kế hoạch và nhất là công tác tham mưu chiến lược cũng như chiến thuật, cũng phải có tác phong cụ thể tỉ mỉ, chuẩn xác; chống mọi biểu hiện tùy tiện, đại khái, thiếu kế hoạch. Còn vấn đề thứ 2 thuộc tư tưởng tác chiến, cách đánh thì phải lấy đánh nhỏ tiêu diệt nhỏ từng trung đội, đại đội quân Mỹ là chính. Trong tình hình hỏa lực của quân đội Mỹ rất mạnh như hiện nay, ta cứ máy móc tìm diệt tiểu đoàn Mỹ là không thực tế, vừa phải tập trung nhiều lực lượng trong một khu vực hẹp dễ gây thương vong lớn cho bộ đội, vừa mất thời gian chuẩn bị dài dễ bỏ lỡ thời cơ. Những quan điểm trên đây của anh Bảy rất phù hợp với điều kiện chiến trường lúc đó mà còn có giá trị thực tiễn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chúng tôi - những cán bộ ở chiến trường miền Đông Nam Bộ ngày đó đánh giá cao những buổi gặp mặt do anh Bảy chủ trì. Những kết luận của anh trong các cuộc trao đổi đã giúp chúng tôi vận dụng có hiệu quả trong công tác, nâng cao trình độ thực sự. Những buổi gặp mặt đó đã trở thành lớp bồi dưỡng kiến thức tại chức độc đáo cho một số anh em chủ trì của cơ quan Tham mưu Miền, mà công đầu thuộc về anh Bảy.


Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đội ngũ cán bộ tại chỗ đã trưởng thành nên nhiều anh em miền Bắc bổ sung cho chiến trường miền Đông Nam Bộ hồi đầu những năm 60 được trở về hậu phương lớn công tác. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà nhiều anh em cứ nằm dài ở Trạm 66 hết tháng này sang tháng khác chờ tổ chức sắp xếp công tác. Anh em nằm đợi nóng ruột nên đề nghị tôi đến gặp trực tiếp anh Bảy để phản ánh tâm tư, xem anh Bảy có cách gì giúp anh em không. Lúc này, anh Lê Ngọc Hiền đã được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Cục trưởng Cục Tác chiến. Tôi đến gặp anh Bảy báo cáo lại tình hình của anh em, anh rất bức xúc về vấn đề này. Anh xin danh sách kèm lý lịch trích ngang của anh em, những người nào anh đã biết rồi thì không cần lý lịch trích ngang nữa, để anh trực tiếp liên hệ với các cơ quan hữu quan giải quyết. Tôi thuộc diện chiến trường cử đi học nên không phải nằm chờ.


Chỉ sau thời gian ngắn, một số anh được anh Bảy nhận thẳng về Cục Tác chiến công tác, số còn lại lần lượt được điều động về các đơn vị, các nhà trường. Rất tiếc, có vài người do không hiểu sự chậm trễ đó là tác phong quan liêu tắc trách của mấy anh cán bộ thuộc cơ quan nghiệp vụ mà ngộ nhận rằng mình lăn lộn vào sống ra chết ở chiến trường đến nay được về hậu phương thì tổ chức lại đối xử theo kiểu "vắt chanh bỏ vỏ" nên tủi thân, bỏ mọi chế độ chính sách với hai bàn tay trắng tự bỏ về nhà làm ruộng, lo củng cố gia đình, khi tổ chức phát hiện gọi lên dứt khoát không trở lại nữa.


Sau đó, vì điều kiện không thể trực tiếp gặp anh Bảy, anh em nhờ tôi chuyển lời cảm ơn của họ đến anh Bảy đã vì anh em mà phải chạy đôn chạy đáo hết cơ quan này đến cơ quan khác để lo sắp xếp công tác cho họ. Qua đó cũng thấy ở anh Bảy một tinh thần trách nhiệm cao, một tình thương yêu đồng chí, đồng đội không khi nào phai nhạt.


Thế rồi, vận may lại đưa đẩy anh Lê Ngọc Hiền và tôi cùng tham gia chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975. Lúc đó, anh có nhiệm vụ giúp đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng - đại diện Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tại Sở Chỉ huy Tiền phương của Bộ Tổng Tư lệnh bên cạnh Sở Chỉ huy chiến dịch. Còn tôi dẫn Sư đoàn bộ binh 316 thuộc lực lượng dự bị chiến lược từ Nghệ An vào tăng cường cho chiến dịch. Gặp nhau dọc đường tay bắt mặt mừng, anh nói vui:

- Không hiểu trái đất tròn thế nào mà chúng mình hay chạm trán nhau ở những nơi nóng bỏng.

Rồi anh rỉ tai tôi nói nhỏ về nhiệm vụ của Sư đoàn sắp tới đảm nhiệm trận then chốt quyết định mở đầu chiến dịch tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 23 ngụy, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Anh dặn tôi phải tuyệt đối giữ bí mật không được nói lộ với bất cứ ai kể cả các anh chỉ huy Sư đoàn, sau này gặp nhau ở khu tập kết, chúng ta sẽ trao đổi kỹ về nhiệm vụ của Sư đoàn. Khi tới khu tập kết chiến dịch, tôi tìm gặp anh Hiền, nội dung anh trao đổi với tôi nhiều nhất vẫn là cách đánh của Sư đoàn nên như thế nào với nhiệm vụ mới rất nặng nề, nhưng cũng rất vinh dự này. Anh bảo:

- Trước đây chúng ta đã trao đổi với nhau về cách đánh quân Mỹ phải lấy đánh nhỏ diệt nhỏ làm chính, nhưng tình hình bây giờ đã thay đổi cơ bản rồi. Mỹ chịu thua rút quân, hỏa lực giảm, cho phép ta tập trung các binh đoàn chủ lực lớn đánh hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn từng sư đoàn ngụy, giải phóng từng thị xã, thành phố để sớm kết thúc chiến tranh.


Nhiệm vụ của Sư đoàn bộ binh 316 là phải tiêu diệt lớn địch, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Như chúng ta đều biết năm 1972 đánh thị xã Bình Long chưa thành công, một trong những nguyên nhân chính là chúng ta đột phá từ ngoài vào trong theo kiểu đánh bóc vỏ nên không đủ sức đánh chiếm mục tiêu chủ yếu nằm sâu bên trong.


Lần này, chúng ta nên bỏ mục tiêu vòng ngoài, tập trung lực lượng bí mật luồn sâu đánh thẳng vào mục tiêu trọng yếu nằm sâu bên trong. Sau đó quay ra tiêu diệt các mục tiêu vòng ngoài còn lại.

Tôi hoàn toàn nhất trí với cách đánh mà anh Bảy gợi ý và cũng trao đổi quan điểm của mình. Tôi nói:

- Đối với bộ binh đơn thuần thì thực hiện cách đánh này không khó, chắc chắn sẽ làm được. Những với các binh chủng như xe tăng, pháo xe kéo, làm thế nào để đưa được binh khí kỹ thuật vào bên trong mà không bị vòng ngoài của địch phát hiện ngăn chặn, đấy là vấn đề cực kỳ khó khăn, ta phải tìm cách giải quyết.


Anh Bảy và tôi trao đổi rất lâu về các biện pháp ngụy trang nghi binh tiếng động và tổ chức cơ động lực lượng như thế nào để các binh chủng kỹ thuật kịp thời vào chiến đấu chi viện cho bộ binh đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu nằm sâu bên trong thị xã.

Sau giải phóng Buôn Ma Thuột, tôi gặp lại anh Bảy Hiền ở Sở Chỉ huy chiến dịch. Anh rất vui và khen ngợi Sư đoàn 316, mặc dầu mới chân ướt chân ráo vào chiến trường hãy còn lạ nước lạ cái nhưng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Tôi cũng nói lời cảm ơn anh vì trong thành tích to lớn của Sư đoàn, có công đóng góp không nhỏ của anh.


Giờ đây, anh Lê Ngọc Hiền đã đi xa. Ngày tháng có thể phôi pha, nhưng trong lòng những cựu chiến binh của chiến trường miền Đông Nam Bộ năm xưa mãi mãi nhớ anh, một người không chỉ giỏi về công tác chỉ huy tham mưu, mà còn là một mẫu mực về phẩm chất đạo đức, suốt đời cống hiến cho cách mạng, cho quân đội, thủy chung với đồng đội, với bạn bè.

N.H.B
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:58:20 pm »

VỊ TƯỚNG VỚI NHỮNG ĐÒN ĐÁNH HIỂM HIỆU QUẢ CAO

Trung tướng Khuất Duy Tiến
(Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3
Nguyên Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu
Nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1)


Tôi biết anh Lê Ngọc Hiền từ thời kháng chiến chống Pháp vì cùng một Đại đoàn 320. Anh trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, tôi là chiến binh Trung đoàn 48, tuy không trực tiếp dưới quyền chỉ huy của anh, nhưng cánh lính chúng tôi hâm mộ anh qua những trận đánh nổi tiếng và chiến công vang dội của Trung đoàn 64 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp tổ chức chỉ huy. Tôi xin kể một số trận điển hình.


1. Trận bất ngờ tập kích tiêu diệt đội biệt kích Hổ xám do tên Văng-dăng-be trực tiếp tổ chức chỉ huy (tên này là con nuôi tướng Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi). Quân đội Pháp từng tuyên dương tên này là một anh hùng trẻ tuổi, có lòng dũng cảm phi thường. Sào huyệt của chúng đóng tại nhà Tế bần nằm sâu trong thành phố Nam Định. Vòng ngoài là vành đai đồn bốt bao quanh. Với quân số 140 tên hầu hết là bọn lưu manh đâm thuê, chém mướn có nợ máu với nhân dân, chúng gây nhiều tội ác đẫm máu có nợ máu với nhân dân, chúng gây nhiều tội ác với đồng bào làng xóm hai bờ sông Hồng, có lần chúng vượt sâu vào vùng tự do 20 km gây tội ác.


Theo chỉ đạo của Mặt trận và Đại đoàn, đáp ứng yêu cầu bức thiết của nhân dân, chỉ huy Trung đoàn 64 nghiên cứu kỹ nắm chắc địa hình, tình hình hoạt động của địch, phát hiện đầy đủ sự sơ hở của chúng. Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền tổ chức một đội đột kích gọn nhẹ, chọn lựa một số cán bộ, chiến binh gan dạ, dũng cảm, linh hoạt, biên chế đội hình thành hai trung đội, mỗi trung đội do một đại đội trưởng đảm nhiệm. Cán bộ tiểu đoàn xuống làm đội trưởng và Trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy trận đánh.


Đêm mồng 5 tháng 1 năm 1952 Đội bí mật vượt qua các tuyến phòng vệ của địch bất ngờ tập kích vào vị trí tế bần. Sau 15 phút chiến đấu, ngoài một số tên nổ súng chống cự bị tiêu diệt ta bắt sống 100 tên, thu 180 súng tiểu liên, 16 trung liên, 30 súng ngăn, 2 cối 60mm. Tên chỉ huy Văng-đéc-béc bị diệt ngay từ loạt đạn đầu. Quân ta 3 đồng chí bị thương.


2. Trận tập kích tiêu diệt đội biệt kích do tên Rút-cô-ni chỉ huy tại vị trí Lạc Tràng ở sâu trong thị xã Phủ Lý (Hà Nam).

Đêm mồng 7 tháng 2 năm 1952 quân ta bí mật vượt qua các tuyến phòng vệ của địch bất ngờ nổ súng tấn công. Tên Rút-cô-ni chết tại chỗ, bắt gọn 111 tên, thu 8 trung liên, 75 tiểu liên, 40 súng trường, 6 súng cối 60mm. Quân ta an toàn tuyệt đối.

Sau hai trận tiêu diệt 2 đội biệt kích ác ôn trong một tháng khiến nhân dân rất phấn khởi, lực lượng vũ trang địa phương hăng hái sát cánh cùng bộ đội giết giặc lập công. Địch hoang mang, lo sợ, tên trưởng Công an tỉnh Hà Nam bỏ trốn, hơn 100 lính nguy và vệ sĩ ở huyện Thanh Liêm, Bình Lục (Hà Nam) bỏ ngũ, nhiều tên mang súng ra đầu hàng.


3. Trận tiêu diệt cứ điểm Đào Thành đóng chốt ngay trên công chặn dòng nước tưới làm khô héo hơn 3 vạn mẫu ruộng của 3 huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân tỉnh Thái Bình. Theo yêu cầu của Thường vụ Khu ủy Tả ngạn, Bí thư Đỗ Mười và chấp hành chỉ thị của Đại đoàn đêm 6 tháng 2 năm 1952, để giữ bí mật bất ngờ, Trung đoàn 64 cử Tiểu đoàn 706 từ địa bàn huyện Lý Nhân (Hà Nam) hành quân gấp vượt sông Hồng. Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1952, ta bất ngờ tấn công tiêu diệt cứ điểm Đào Thành.


Trận đánh diễn ra quyết liệt đến chiều cùng ngày mới kết thúc. Ta làm chủ trận địa, mở cống Đào Thành đưa nước sông Luộc vào kênh Sa Lung, cứu sống 3 vạn mẫu ruộng. Nhân dân vô cùng phấn khởi kéo nhau đi phá đồn địch, đưa nước vào ruộng. Nhiều cụ già sai con cháu lấy bình nước về thắp hương trên bàn thờ khấn vái tổ tiên mừng "nước Cụ Hồ". Phát huy thắng lợi, quân dân Thái Bình bức rút và tiêu diệt thêm 5 cứ điểm, mở rộng vùng căn cứ phía bắc Thái Bình.


4. Trận tiêu diệt cứ điểm Đục Khê (Mỹ Đức, Hà Đông)

Mở màn hoạt động Xuân - Hè 1953, Trung đoàn 64 nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Đục Khê do một đại đội địch chiếm đóng. Đây là một chốt trên tuyến phòng thủ sông Đáy có hệ thống công sự kiên cố và nhiều lớp rào thép gai bao quanh, liên kết với cứ điểm boong-ke Yến Vĩ nhằm ngăn chặn giao thông vùng du kích nam tỉnh Hà Đông với vùng tự do, biến nơi này thành vành đai trắng khiến hàng vạn mẫu ruộng màu mỡ bỏ hoang hoá.


Trung đoàn 64 sử dụng Tiểu đoàn 722 tăng cường 1 đại đội sơn pháo, đêm 4 rạng ngày 5 tháng 4 năm 1953, bí mật chiếm lĩnh trận địa, bất ngờ nổ súng áp đảo. Sau 40 phút chiến đấu ta làm chủ trận địa, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch.

Ngày hôm sau, địch cấp tốc điều đại đội com-măng-đô số 25 đến khôi phục trận địa. Ngay đêm đó, vẫn Tiểu đoàn 722 bất ngờ tập kích tiêu diệt gọn, buộc địch phải bỏ ý định chiếm lại.


5. Trân phục kích táo bạo bất ngờ của Tiểu đoàn 706 do Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền trực tiếp đốc chiến tại đoạn đường cầu Chân Chim - Đồng Mít (Mỹ Đức, Hà Đông) ngày 7 tháng 10 năm 1952 bằng hình thức độn thổ. Sau 30 phút chiến đấu, ta diệt gọn đại đội lính Âu-Phi, bắt 35 tên, thu toàn bộ vũ khí, ta bị thương 2 đồng chí.

Trận đánh hiệu suất cao, rút được nhiều bài học giá trị được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu "Tiểu đoàn Đồng Mít" cho Tiểu đoàn 706.


6. Trận phục kích Tứ - Đền.

Trong chiến dịch Hoà Bình 1952 địch chiếm Chợ Bến, đường 21, thuộc huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Đông. Chúng tung quân lùng sục vùng Tứ Đền - Chợ Bến và tuyên bố đã đánh bật Trung đoàn 64, cắt đứt mũi gươm của Việt Minh kề ven sườn mà lúc nào cũng có thể thọc ra đường số 6.

Ngày 16 tháng 11 năm 1952 Tiểu đoàn 722 tổ chức phục kích tại Tứ Đền dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền.

Trận đánh diễn ra hết sức bất ngờ với kẻ địch, sau 40 phút chiến đấu, ta diệt gọn 2 đại đội Âu Phi trong đó có tên quan tư Đờ-vanh-xen chỉ huy và toàn bộ cơ quan tham mưu tiểu đoàn thuộc Trung đoàn lê dương số 3 (2/3 REI).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 04:59:44 pm »

7. Trận phục kích táo bạo, bất ngờ trên địa bàn Mạo Chử. Làng Mạo Chử nằm giữa đường số 1 và đường 21, thuộc vành đai trắng tuyến phòng thủ sông Đáy của địch, cách thị xã Phủ Lý 3 km, bao quanh có các cứ điểm Sở Kiện, Bình Lục, Kỳ Cầu, Cõi.

Địa điểm phục kích được chọn là cánh đồng cỏ lác hoang hoá. Tận dụng yếu tố bất ngờ, đêm 14 tháng 11 năm 1952, một đại đội thuộc Tiểu đoàn 738 bí mật ém sẵn cách đường 100m. Như thường lệ, hàng ngày địch vẫn dùng một đại đội tuần tra kiểm soát đoạn đường này. Đúng 8 giờ sáng, địch lọt vào trận địa, quân ta bất ngờ nổ súng vây chặt diệt gọn, bắt sống 30 tên thu 100 súng các loại. Ta bị thương 2 đồng chí.


Tiếp đó, ta tận dụng thời cơ và địa hình làng Mạo Chử, phục lại đánh quân ứng viện, diệt thêm 100 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Trận đánh táo bạo hiệu suất cao được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Tiểu đoàn Mạo Chử cho Tiểu đoàn 738.

Qua một số trận đánh, trong điều kiện hạn hẹp tôi chưa thể phân tích chi tiết. Song mỗi trận đánh do anh Lê Ngọc Hiền tổ chức chiến đấu đều để lại những dấu ấn đậm nét từ cách đánh giá tình thế chiến trường, phân tích địch ta, lựa chọn phương thức tác chiến biến hoá khiến kẻ địch luôn bị rơi vào bất ngờ trở tay không kịp. Có anh Hiền chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ yên tâm, dũng cảm đánh và chiến thắng.


Trung đoàn 64 Đại đoàn 320, suốt thời kỳ đánh sâu vào địch hậu đồng bằng, với những chiến công xuất sắc, đã hai lần được Bác Hồ gửi thư khen và tặng danh hiệu "Trung đoàn dũng cảm đánh hăng". Cả ba tiểu đoàn đều được Bộ Tổng tư lệnh tặng Huân chương Quân công cao quý và ghi danh: Tiểu đoàn Đồng Mít, Tiểu đoàn Hưng Công, Tiểu đoàn Mạo Chử.


Trong thời kỳ chiến đấu chống Pháp, anh Lê Ngọc Hiền là một trong số cán bộ có nhiều công lao xây dựng truyền thống "Dũng cảm đánh hăng", "Quyết thắng" của trung đoàn 64, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế tiếp ngưỡng mộ, yêu qúy và học tập.

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, anh Lê Ngọc Hiền được điều lên Bộ Tổng tham mưu công tác, tôi đã là cán bộ trung, cao cấp quân đội. Anh em có nhiều điều kiện gặp nhau qua các chương trình huấn luyện bộ đội, tập huấn cán bộ, tổng kết chiến dịch, các trận đánh lớn, qua các dịp anh xuống truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh. Mặt khác, là bạn chiến đấu Sư đoàn 320 vốn đã hâm mộ anh từ lâu nên tình cảm giữa chúng tôi ngày càng gắn bó và có nhiều điểm tương đồng.


Tôi nhớ mãi hình ảnh của anh trong thời gian chuẩn bị và thực hành chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.

Chiến dịch Tây Nguyên thời kỳ đầu vào tháng 2 năm 1975 chỉ khoanh trên địa bàn nam Tây Nguyên (nên lấy tên là Chiến dịch 275). Thời gian này tôi là Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên. Mọi công việc triển khai công tác chuẩn bị, từ đầu quý III năm 1974 đến đầu tháng 1 năm 1975, các phương án tác chiến, các kế hoạch đang triển khai dồn dập, chúng tôi nhận được bức điện: "Ngày 21 tháng 1 năm 1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng từ miền Bắc vào phổ biến chỉ thị bổ sung của Thường trực Quân ủy Trung ương về chiến dịch Nam Tây Nguyên" cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên. Đây là lần thứ ba nhiệm vụ chiến dịch được Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh từng bước bổ sung hoàn thiện. Và cũng từ ngày đó, anh Hiền thường xuyên bám sát Bộ Tư lệnh và cơ quan Tham mưu Mặt trận. Mỗi khi thảo luận ý định, kế hoạch, phương án tác chiến cho tới khi xây dựng xong kế hoạch tác chiến, Bộ tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên báo cáo thông qua Đại tướng Văn Tiến Dũng - Phó Bí thư Quân ủy Trung ương đại diện Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh.


Tôi nhớ trong thời gian từ cuối tháng 1 năm 1975. Sau khi anh Hiền truyền đạt chỉ thị bổ sung nhiệm vụ của Quân uỷ, tại Bộ chỉ huy Mặt trận diễn ra nhiều cuộc thảo luận quán triệt nhiệm vụ bổ sung, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến. Tất cả đều tập trung xoay quanh phương án đánh chiếm Buôn Ma Thuột - Mục tiêu then chốt quyết định - Trận then chốt quyết của chiến dịch bằng tập trung lực lượng chủ yếu đánh chiếm Buôn Ma Thuột khi địch chưa phòng ngự dự phòng; đồng thời tập trung trí tuệ xây dựng phương án đánh chiếm Buôn Ma Thuột khi địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự dự phòng.


Để đảm bảo chắc thắng trong công tác chuẩn bị phải lấy phương án tác chiến đánh Buôn Ma Thuột địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự dự phòng, dự kiến đầy đủ các tình huống có thể xảy ra để ứng phó trong quá trình thực hành chiến dịch.

Các kế hoạch, các phương án, các tình huống chiến dịch được thảo luận rất sôi nổi. Phương án thuận, phương án nghịch được bàn đi, bàn lại rất kỹ. Các buổi thảo luận quan trọng đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của anh Hiền như một thành viên của cơ quan chiến dịch.


Tôi nhớ buổi thảo luận cuối cùng tưởng có thể kết thúc vào lúc 21 giờ nhưng lại phát hiện vấn đề mới cần thảo luận rõ thêm. Mọi người đều nghĩ chắc 23 giờ xong. Anh Hiền còn bao thuốc lá bỏ ra tuyên bố hút hết bao này chắc kết thúc, nhưng thực tế đến 1 giờ 30 phút sáng hôm sau mới hoàn tất: "Phương án đánh Buôn Ma Thuột được xây dựng hoàn chỉnh".


Trong thời gian diễn biến chiến dịch

(Từ 4.3 đến 3.4.1975)

Sau đợt nghi binh thắng lợi, chủ lực của chiến trường đã chuyển từ Bắc Tây Nguyên tập trung xuống Nam Tây Nguyên triển khai lực lượng áp sát các mục tiêu theo nhiệm vụ:

+ Từ ngày 4 đến 9 tháng 3 năm 1975, thực hiện các bước tạo thế chốt đường 19 và đường 21, chia cắt Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Khu 5; cắt đứt đường 14 ngăn chặn địch cơ động đường bộ từ Bắc xuống Nam Tây Nguyên. Tập kích bằng đặc công và pháo binh và thị xã Kon Tum, Pleiku; đánh chiếm quận lỵ Thuần Mần (8-3); tiêu diệt quận lỵ Đức Lập (9-10.3).

+ Tập trung lực lượng mạnh tấn công đánh chiếm Buôn Ma Thuột hoàn thành trận then chốt quyết định thứ nhất, của chiến dịch. Đòn đánh hiểm bất ngờ thắng giòn giã (10-11.3).

+ Tiếp đến trận tiêu diệt lực lượng sư đoàn 23 nguy phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột bằng đổ bộ đường không, hoàn thành trận then chốt quyết định thứ hai của chiến dịch, trên địa bàn ta đã định trước (từ 12- 18.3.1975).

+ Để bảo toàn lực lượng còn lại, quân đoàn 2 ngụy bỏ Gia Lai, Kon Tum rút chạy về đồng bằng theo đường số 7. Trước thời cơ lớn, Sư đoàn 320 và lực lượng tăng cường truy kích thần tốc tiêu diệt quân đoàn rút chạy của địch, giải phóng Cheo Reo - Củng Sơn (từ 17-23.3.1975) - Hoàn thành trận then chốt thứ 3 của chiến dịch.

Cùng thời gian này Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 271 thừa thắng giải phóng thị xã Kon Tum, Plei Ku, Gia Nghĩa, biến chiến dịch Nam Tây Nguyên thành chiến dịch toàn Tây Nguyên, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên. Khuếch trương chiến quá, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1975, quân ta tiến xuống đồng bằng ven biển Khu 5, tiêu diệt, lữ đoàn dù 3, trung đoàn bộ binh 40, liên đoàn biệt động quân 24... cùng đơn vị bạn giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh...


Chiều 25 tháng 3 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền rất hào hứng điện cho chúng tôi: "Quân dân Tây Nguyên đã điểm rất đúng huyệt, đánh những đòn hiểm, thực hiện rất hoàn hảo ba trận then chốt quyết định, biến chiến dịch Nam Tây Nguyên thành chiến dịch toàn Tây Nguyên đại thắng, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên mở rộng tới ven biển Khu 5". Anh nói tiếp: "Chiến thắng này chắc chắn tạo ra thời cơ mới!" (Thực tế chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng "đã mở ra bước ngoặt đưa cuộc chiến tranh từ chiến dịch tấn công có ý nghĩa chiến lược thành tổng tiến công chiến lược toàn chiến trường miền Nam").
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2026, 05:01:30 pm »

Thời gian chuẩn bị và thực hành chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 12-4 đến 30-4-1975)

Ngày 12 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 3 "Đảm nhiệm hướng tấn công chủ yếu nhất của chiến dịch từ hướng tây bắc vào Sài Gòn với nhiệm vụ:

- Thực hiện trận đánh thôi động tiêu diệt căn cứ sư doàn 25 ở Đồng Dù; chặn và tiêu diệt lực lượng sư đoàn 25 từ Củ Chi đến Trảng Bàng không cho địch chạy về Sài Gòn.

- Tổ chức lực lượng đột kích mạnh thọc thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất; phát triển hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm bộ Tổng tham mưu ngụy... phát triển hiệp đồng với quân bạn đánh chiếm dinh Độc Lập...

- Giữ vững các khu vực mục tiêu đã giao sau khi đã chiếm, bảo vệ kho tàng, ổn định trật tự an ninh"...

Bước vào chiến dịch, 23 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, anh Lê Ngọc Hiền điện trực tiếp cho anh Vũ Lăng - Tư lệnh Quân đoàn 3: Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giao thêm cho Quân đoàn 3 nhiệm vụ đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy vào sáng 30 tháng 4 năm 1975, coi đây là nhiệm vụ chính thức.


Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Lê Ngọc Hiền trên cương vị Tham mưu trưởng chiến dịch thường xuyên theo sát Quân đoàn 3 suốt quá trình diễn biến chiến đấu tiêu diệt địch, đánh chiếm các mục tiêu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh nhận xét: "Quân đoàn 3 đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, có thể nói hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt xuất sắc".


Theo dõi công việc của anh Hiền, tôi thấy rõ trong quá trình chuẩn bị và tổ chức thực hành tác chiến anh nắm rất chắc ý định và chỉ thị của Tư lệnh chiến dịch và bám sát tình hình diễn biến, phát triển các hướng, các mũi tấn công của chiến dịch, tổng hợp đánh giá kết quả khái quát các tình huống đang diễn biến, chuyển đạt chỉ thị của Tư lệnh chiến dịch gọn, rõ, kịp thời, tạo thuận lợi cho các hướng các mũi chiến dịch phát triển nhịp nhàng ăn khớp, nhất là hướng Quân đoàn 3.


Với hướng Quân đoàn 3, anh phấn khởi khi nhận được các báo cáo: đã hoàn thành trận đánh thối động chiếm căn cứ sư đoàn 25 nguỵ ở Đồng Dù và các lực lượng còn lại của sư đoàn này. Đòn thọc sâu mãnh liệt của Sư đoàn 10 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; cùng Quân đoàn 1 đánh chiếm Bộ tổng tham mưu nguỵ và anh hào hứng thông báo các bước tiến quân trên các hướng, đặc biệt vui sướng báo tin Quân đoàn 2 đã hoàn toàn chiếm dinh lũy cuối cùng của nguỵ quyền, cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên dinh Độc Lập.


Sau này khi tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh anh nói lại với tôi về tâm sự và đánh giá thành công vĩ đại của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và nhận xét ý định táo bạo, sự chỉ đạo sắc bén, tổ chức thực hành sáng tạo, điểm đúng huyệt với những đòn đánh hiểm tạo nên đại thắng.


Anh thích thú nói về đánh chiếm Sài Gòn (thủ đô của nguỵ quyền) một thành phố lớn đông dân cư, nhiều mục tiêu trọng yếu của cuộc tổng tấn công quyết thắng: "Thế mà thành phố hầu như còn nguyên vẹn, tính mạng tài sản của nhân dân được bảo toàn! Hay thật, độc đáo thật! Một tác phẩm quân sự đáng được trân trọng. Một bài học sáng giá về đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật chỉ đạo, thực hành chiến tranh nhân dân Việt Nam. Bài học lịch sử sâu đậm sắc nét mang tính kế thừa truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam kiên cường bất khuất từ ngàn xưa "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Anh nói tiếp: "Những nhà sử học, nhà quân sự học, các nhà văn học nghệ thuật chắc chắn sẽ có nhiều tác phẩm trên nhiều loại hình phong phú hiện nay và mai sau!..."


Tiếp theo là cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Campuchia thoát nạn diệt chủng Pôn Pốt. Anh đảm nhiệm trọng trách Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia năm 1987 (Tư lệnh 719) và Phó Đại diện Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Campuchia năm 1988.


Đến khi anh về nghỉ hưu (giữa năm 1995) anh có nhiều thời gian suy nghĩ, trao đổi với nhiều người, khảo sát lại các thời điểm chiến lược, các diễn biến chiến dịch, các trận đánh lớn trên các chiến trường, các thời khắc lịch sử anh đã chứng kiến, tổng hợp và phân tích, tham gia nghiêm túc vào tổng kết chiến tranh... Những buổi nói chuyện riêng tư, anh nói rất say sưa những tâm tư thầm kín, những tư duy của mình chưa được bộc lộ một cách tự nhiên như bản sắc con người của anh.


Anh say sưa ca ngợi đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược chiến tranh nhân dân và nghệ thuật tổ chức thực hành chiến lược chiến tranh nhân dân.


Tôi hỏi anh đã viết hồi ký chưa? Anh thản nhiên nói: tổ cũng muốn viết, nhiều lúc đã phác thảo đề cương đơn giản, mấy lần gạch xoá cuối cùng thôi không viết nữa! Viết về mình thì tốt nhất bằng truyền dạy con cháu mình nên người xây dựng gia đình có gia phong tốt đẹp trở thành tế bào hữu ích cho xã hội; còn viết về đất nước về quân đội, về các vĩ nhân thì nhiều người đã viết, nhiều sách nhiều tài liệu phong phú lắm rồi.


Có lần mình định viết những suy nghĩ và lòng thán phục của mình đối với những người học trò xuất chúng của Bác Hồ là những nhà chiến lược cách mạng Việt Nam xuất sắc, nhà chiến lược quân sự lỗi lạc đã chỉ đạo và tổ chức thực hành chiến lược quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi vĩ đại. Nhưng mình không phải nhà văn nên cách thể hiện của mình nó lủng củng, dài dòng, có lần viết được vài tờ rồi lại thôi.


Tôi động viên anh cứ viết, không ngắn thì dài, không gọn thì lê thê, lủng củng, miễn là bộc lộ được suy nghĩ, tâm tư, chính kiến của mình. Không đăng báo, không in sách, để lại thành gia bảo cho cháu con mãi mãi sau này, chúng nó truyền cho nhau bằng chữ viết của ông ta, cụ ta đấy; tâm tư, quan điểm, chính kiến, suy lý của cụ kỵ ta thời đó và lịch sử thời đó - đấy không những là của báu của gia đình mà còn là báu vật của quốc gia!


Anh cười: Cậu nói cứ như mình là một vĩ nhân, mình chỉ là một anh tham mưu quèn! Song tớ sẽ tìm cách viết, khi nào sức khoẻ tốt, đầu óc nhẹ nhõm sẽ viết. Tôi bảo: Anh nói qua băng ghi âm để lại cũng được, cần gì phải viết, lúc nào thấy có việc cần viết thì mở băng ghi. Anh à lên một tiếng: - Được đấy, tớ sẽ làm thử xem!


Bẵng đi một thời gian, chợt đến ngày anh lâm bệnh nặng. Hôm đó vào khoảng cuối năm 2005 tôi đến thăm anh, không ngờ đây là lần cuối anh em còn nói chuyện được với nhau (tuy là nói chuyện nhưng anh nói không rõ lời nữa rồi!). Anh nắm tay tôi rất chặt nói không rõ lời, những vẫn tỉnh táo bình thản. Tôi động viên anh với những lời tâm tình anh em. Tôi nói chúng mình tuổi đã cao bệnh tật là khó tránh, gia đình và tổ chức hết lòng hết sức chạy chữa, có thể qua khỏi, có thể cầm cự kéo dài, cũng có thể Bác Hồ quyết định triệu tập về bên Bác! Chúng ta vui vẻ tuân theo, đó là quy luật tất nhiên!


Chúng ta thanh thản ra đi từ giã cái hành tinh đẹp đẽ này, từ giã Tổ quốc Việt Nam ngàn lần yêu qúy, từ giã cái gia đình hạnh phúc ngàn lần thương yêu và tự hào rằng "ta đã dâng cả cuộc đời cho cách mạng, cho Đảng, cho nhân dân, cho cháu con, dòng họ, quê hương và vui mừng là con cháu ta những người kế tiếp ta đã trưởng thành đủ sức để đóng góp với đời - cuộc ra đi này cũng nhẹ nhõm như khi ta nhập ngũ - nhập ngũ lần thứ hai của cuộc đời phải không anh!"


Anh nắm thật chặt tay tôi với cặp mắt sáng rực trên môi nở nụ cười và mấp máy câu nói: "Cuộc đời anh em ta thật đẹp!"

Đấy là nụ cười chiến thắng của người chiến thắng, của vị tướng gắn với những đòn đánh hiểm, những trận đánh hiệu quả cao, những chiến công vang dội - Tự hào với sự hiến dâng cả cuộc đời mình cho cách mạng - cho Tổ quốc.

K.D.T
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:42:25 pm »

THƯỢNG TƯỚNG LÊ NGỌC HIỀN, NGƯỜI CÁN BỘ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC, NGƯỜI CHỈ HUY SÂU SÁT CHIẾN TRƯỜNG

Trung tướng Hoàng Nghĩa Khánh
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Lần đầu tiên, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi ta mở chiến dịch phản công chiến lược, đánh bại các binh đoàn cơ động (GM) của quân viễn chinh Pháp tiến công ra chiếm thị xã Hòa Bình và đường số 6.

Đồng thời đây cũng là lần đầu tiên, ta đưa cả Đại đoàn 320 và một bộ phận Đại đoàn 316 vào mở cuộc tấn công lớn vào địch hậu nam-bắc sông Hồng của Liên khu 3 và nam-bắc sông Luộc ở Quân khu Tả Ngạn để phối hợp với chiến trường chính ở Hòa Bình đường số 6.


Trong lúc chiến dịch phản công ở Hòa Bình đường số 6 đang phát triển mạnh mẽ, tôi là phái viên tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu mang một bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh chiến dịch vào địch hậu châu thổ sông Hồng đưa cho đồng chí Văn Tiến Dũng - Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 để đẩy mạnh tác chiến ở địch hậu hơn nữa, phát triển chiến tranh nhân dân, mở rộng các căn cứ du kích trong lòng địch và phối hợp với chiến trường chính ở Hòa Bình đường số 6.


Trước khi vượt sông Hồng sang Thái Bình đưa thư cho đồng chí Văn Tiến Dũng, qua Trung đoàn 64 đang tác chiến ở Đại Hoàng, Nam Định, lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 của Đại đoàn 320 vào cuối năm 1951.

Từ cơ quan Đại đoàn bộ 320 trở lại nam sông Hồng, tôi đi cùng đồng chí Lê Ngọc Hiền theo dõi và tham gia một số trận đánh của Trung đoàn 64 ở hữu ngạn sông Hồng.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, Bộ Tổng tham mưu chuyển về thủ đô Hà Nội. Đến năm 1960, tôi lại được gặp và làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền, khi đó là Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Những năm 1988-1999, tôi cùng anh Hiền làm công tác tổng kết của Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi hai người về nghỉ hưu.


Vậy là tôi đã gặp và cùng làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền trong gần 50 năm, tuy có quãng thời gian cả hai người đi học ở nước ngoài hay đi các chiến trường, không được làm việc cùng với nhau, nhưng tôi có những ấn tượng, cảm nhận:

Đồng chí Lê Ngọc Hiền là một cán bộ chỉ huy dũng cảm, bình tĩnh, đi sâu sát các đơn vị ở các chiến trường nóng bỏng!

Từ khi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Đại đoàn 320, chỉ huy bộ đội trong các trận đánh đồn ở thị xã Phủ Lý, các trận tiêu diệt các đồn bót địch, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích trong địch hậu, quần lộn với các binh đoàn cơ động của quân Pháp, khi chúng rút quân ở Hòa Bình về tiến hành các cuộc càn quét liên tiếp ở tả, hữu ngạn sông Hồng, đồng chí đã dũng cảm chỉ huy giữ vững các vùng được giải phóng.


Khi lên làm Cục trưởng Cục Tác chiến, đồng chí Lê Ngọc Hiền đã nhiều lần đi truyền đạt các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cho các Tư lệnh chiến trường trong những thời điểm chiến tranh đang diễn ra khẩn trương ác liệt. Đồng chí cũng có từng thời gian đi sát các đơn vị chiến đấu và tham gia chỉ huy các mặt trận.


Là phái viên đặc biệt vào Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, đồng chí đã ở lại một thời gian dài làm Tham mưu phó tác chiến Miền, tham gia chỉ huy trong các chiến dịch ở B2, ỏ Campuchia (Chen La 1-2) và tham mưu trưởng trong các chiến dịch ở Bình Long, An Lộc (Nam Bộ). Sau đó, đồng chí được điều ra làm Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu.


Trong chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, đồng chí thường xuống các đơn vị thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị và kiểm tra các nơi vừa mới bị địch thả bom bắn phá, ác liệt lúc khói lửa còn bốc cháy!


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đồng chí là "trợ thủ đắc lực" cho Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trong chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Trong cuộc phản công chiến lược giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng của bọn phản động Pôn Pốt, đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Tham mưu trưởng trực tiếp giúp đồng chí Lê Trọng Tấn về nghiên cứu kế hoạch chiến dịch, về thực hành chiến dịch. Đồng chí đã cùng một số cán bộ tác chiến và Quân chủng Phòng không - Không quân đi trực thăng tới các mũi thọc sâu của Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ đốc chiến vào thủ đô Phnôm Pênh.


Có lần chiến sự đang diễn ra gay go ác liệt, trực thăng của đồng chí Lê Ngọc Hiền bị quân Pôn Pốt ở mặt đất bắn lên. Chờ mãi đến 5 giờ chiều không thấy trực thăng về, đồng chí Lê Trọng Tấn rất sốt ruột, không ăn cơm chiều, buồn bã đi lại dọc sân bay để mong ngóng đón chờ đoàn cán bộ và đồng chí Hiền, một người chỉ huy xông xáo dũng cảm trở về.


Đồng chí Lê Ngọc Hiền là một cán bộ tham mưu chiến lược, say sưa, miệt mài nghiên cứu kế hoạch chiến lược và là "tay hòm chìa khóa" của Tổng hành dinh.

Là một Cục trưởng lâu năm nhất ở Bộ Tổng tham mưu, sau này là Tổng Tham mưu phó phụ trách tác chiến, đồng chí Lê Ngọc Hiền được tham gia dự thảo và được dự họp làm thư ký nhiều lần với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương khi bàn về các vấn đề chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và làm các văn bản kế hoạch chiến lược qua các cuộc chuyển biến chiến lược, đồng chí nắm và hiểu biết sâu về tham mưu chiến lược. Anh em thường nói đùa: đồng chí Lê Ngọc Hiền là "một kho tư liệu", là một "tay hòm chìa khóa" ở Tổng hành dinh.


Với tinh thần làm việc, phục vụ tận tụy các đồng chí lãnh đạo Đảng và Bộ Quốc phòng, đồng chí Lê Ngọc Hiền ngày đêm suy nghĩ về tham mưu chiến lược. Bất kỳ lúc nào thủ trưởng, cấp trên gọi là đồng chí có mặt ngay để nghe chỉ thị và nghiên cứu các vấn đề chiến lược và đồng chí cũng thường xuyên bàn bạc, tranh thủ ý kiến các đồng chí Cục phó hay cán bộ tác chiến có liên quan để nghiên cứu tìm ra kế hay và thi hành các chỉ thị, các ý kiến hướng dẫn của các đồng chí lãnh đạo. Đồng chí là một thủ trưởng Cục Tác chiến được cấp trên tin cẩn nhất và được các thủ trưởng cấp dưới (Tư lệnh Quân khu, mặt trận) rất tín nhiệm thường hỏi và tranh thủ ý kiến của đồng chí trong các vấn đề về chiến lược, về chủ trương liên quan đến Quân khu, mặt trận mình phụ trách.


Với tinh thần tích cực, cường độ lao động cao, "miệng nói tay làm", không kể ngày nghỉ, giờ nghỉ, đồng chí Lê Ngọc Hiền thường có mặt ở Sở chỉ huy Cục Tác chiến, tất cả để phục vụ chiến trường, tất cả cho bộ đội giành thắng lợi, ít thương vong.

Với tác phong công tác thận trọng và tỉ mỉ, anh em trong cơ quan khi thảo các công văn hay bức điện để thông qua đồng chí Lê Ngọc Hiền để gửi các đơn vị, đồng chí đọc rất kỹ, có khi yêu cầu cán bộ phải sửa chữa nhiều lần, có người cũng tự ái. Nhưng anh em cũng rất thương đồng chí. Nhiều lần vào những ngày cơ quan nghỉ việc, nhưng đồng chí Lê Ngọc Hiền vẫn đạp xe một mình vào phòng làm việc. Có những buổi tối, đồng chí mải mê làm việc quá khuya, tận 2, 3 giờ sáng vẫn chưa về ngủ. Mắt đỏ hoe, ngồi viết hay đọc tài liệu, ngủ gật lên, gật xuống, anh em khuyên đồng chí về nghỉ, giữ gìn sức khỏe nhưng đồng chí vẫn cặm cụi làm việc.


Đi chiến trường B2 lâu, khi ra miền Bắc đồng chí Lê Ngọc Hiền được cấp trên cho nghỉ một tuần, nhưng mới được 5 ngày do yêu cầu nhiệm vụ, đồng chí đã phải vào cơ quan làm việc suốt ngày đêm. Gần đây tôi được đọc cuốn "Anh và Thư", cuốn tự truyện của chị Lương Ngọc Thư - vợ anh kể lại có thời điểm "anh chỉ có mặt ở nhà vào bữa ăn", nhiều bữa ăn nữa ở gia đình không có mặt anh..., đặc biệt tôi rất cảm động khi xem bức ảnh "cháu Lê Ngọc Đức chưa một ngày được gặp ông".


Đồng chí Lê Ngọc Hiền có lối sống giản dị, anh bình tĩnh xử lý, kể cả với những người khi có thái độ, ý kiến không đồng tình với mình, giữ gìn đoàn kết nội bộ, đó cũng là một đức tính tốt đẹp mà anh em trong cơ quan thường ca ngợi anh. Cùng vì vậy mà cuộc sống với vợ con trong gia đình anh rất vui vẻ, hạnh phúc, con cháu anh đều thành đạt, phương trưởng.


Anh Lê Ngọc Hiền ra đi vào ngày 18 tháng 4 năm 2006, nhưng cho đến nay, chúng tôi và gia đình anh vẫn nhớ mãi hình ảnh thân yêu, đức tính nhân hậu của anh.

H.N.K
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:44:13 pm »

THƯƠNG NHỚ ANH LÊ NGỌC HIỀN

Trung tướng Vũ Cao
Nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Trong ba cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc có năm lần tôi được làm việc với anh Lê Ngọc Hiền.

Lần thứ nhất vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, anh Lê Ngọc Hiền và tôi cùng ở Trung đoàn 34 Nam Định. Lúc đó anh là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 75, ông Mai Cánh làm Tiểu đoàn trưởng, tôi làm Trung đội trưởng hỏa lực của tiểu đoàn có nhiệm vụ chiến đấu trong nội thành Nam Định. Khi nổ súng tiến công, Tiểu đoàn 75 nhanh chóng đánh chiếm sở mật thám, nhà công sứ, Tòa thị chính, tạo thế cho trung đoàn ngày đầu toàn quốc kháng chiến, làm địch bất ngờ, thất bại, tinh thần dao động...


86 ngày dêm, Trung đoàn 34 cùng công nhân nhà máy sợi và nhân dân Nam Định liên tiếp tiến công vây hãm địch. Quân Pháp ở Bắc Bộ phải tổ chức hai cuộc phản công bằng "thủy, lục, không quân" để giải vây cho Nam Định nhưng đều bị thất bại. Trung đoàn 34 được Bác Hồ tặng danh hiệu "Trung đoàn Tất Thắng"!


Để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài, Trung đoàn 34 rút ra ngoại thành Nam Định. Tôi được điều động về Ninh Bình làm Chính trị viên Đại đội bảo vệ khu căn cứ, xa anh Hiền từ đó.

Tiểu đoàn phó Lê Ngọc Hiền rất trẻ, để lại nhiều ấn tượng tốt với hàng ngũ cán bộ lúc đó về tính tình điềm đạm, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, tác phong nhanh nhẹn gần gũi mọi người, gương mẫu trong sinh hoạt, được anh em quý mến.

Năm 1966, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, tôi được điều vào chiến trường Quân khu 4 làm Trung đoàn trưởng pháo binh cơ giới. Tôi gặp lại anh Lê Ngọc Hiền trong chiến đấu ỏ mặt trận Đường 9 - Khe Sanh,... khi đó anh giữ chức Phó Tư lệnh B5.


Nhớ lại những ngày đầu kháng chiến ở Thành Nam - Nam Định đã 20 năm (1947-1967) khi gặp lại, anh vẫn giữ tính điềm đạm, trong công việc, lúc trao đổi, anh phát biểu say sưa, rõ ràng khi đánh giá địch ta, tính thuyết phục cao, có vấn đề tranh luận ý kiến trái ngược nhau anh giữ bình tĩnh kiên nhẫn, trình bày ý kiến của mình rõ ràng hơn để thuyết phục người nghe, sau đó anh tóm gọn thống nhất vấn đề....


Những năm 70, sau chiến dịch, các cơ quan, lực lượng cơ động của Bộ được lệnh rút ra chuẩn bị nhiệm vụ cho chiến dịch mới. Quảng Trị và đường 9 giao lại cho các lực lượng tại chỗ của Quân khu 4 tổ chức các trận đánh, giữ thế chiến trường.

Ngày 25 tháng 1 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341 Quân khu 4.

"Bộ trực tiếp trang bị vào tham gia chiến đấu ở chiến trường B2.

- Ngày 10 tháng 2 năm 1975, Sư đoàn phải hoàn thành công tác chuẩn bị.

- Ngày 15 tháng 2, đơn vị đi đầu xuất phát vào chiến trường. Ngày 30 tháng 2 năm 1975, đơn vị đi đầu vào vị trí tập kết ở Phước Long".

- Ngày 3 tháng 2, kỷ niệm thành lập Đảng, toàn Sư đoàn tổ chức lễ xuất phát.

- Ngày 7 tháng 3 năm 1975, Trung đoàn 273 hành quân đi trước, nhiệm vụ thay cho Sư đoàn 9 phòng ngự tại xóm Rốt, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, đường 13.


Lần thứ ba, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền ở miền Đông Nam Bộ (B2) với cương vị Tham mưu phó Miền, rồi Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc họp giao nhiệm vụ. Bất ngờ gặp lại nhau, anh hỏi tôi: "Cậu ở pháo binh sang Sư đoàn 341 bao giờ?". Tôi trả lời về Sư đoàn 341 từ ngày thành lập 23 tháng 1 năm 1972, nhưng sang bộ binh kinh nghiệm quá ít, chiến trường mới nên bỡ ngờ, nhờ anh chỉ đạo. Anh nói: "Địch, địa hình ở miền Đông Nam Bộ có khác ở Quảng Trị, ta vừa đánh, vừa rút kinh nghiệm. Với Vũ Cao có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, từ người lính lên đại đội trưởng pháo binh, ở Điện Biên Phủ, rồi chiến đấu ở chiến trường ác liệt Quảng Trị thì khó khăn, bỡ ngỡ trên chiến trường mới Đồng bằng Nam Bộ chắc chắn sẽ vượt qua.


Bộ Tham mưu Miền và Quân đoàn 4 tổ chức một đoàn do cán bộ các cục và những trợ lý ở chiến trường lâu năm xuống giới thiệu kinh nghiệm công tác tổ chức bảo đảm, kinh nghiệm nắm địch phối hợp với lực lượng tại chỗ.

Lần thứ tư, tôi gặp anh Lê Ngọc Hiền tại miền Đông, anh ân cần trao đổi với tôi những kinh nghiệm chỉ huy, quan hệ nắm địch, đặc điểm địa bàn, giúp tôi hiểu và quen biết với chiến trường mới. Sau ngày chiến đấu ở Quảng Trị đến nay đã gần một chục năm. Thấm thoát anh Lê Ngọc Hiền và tôi đã gần 50 tuổi. Chúng tôi vẫn nhớ những kỷ niệm xưa. Tác phong của anh Hiền vẫn nhanh nhẹn, thể hiện tầm cỡ chiến lược sắc sảo. Anh được mọi người khen ngợi có tóc phong sâu sát "mắt thấy, chân tới, tai nghe". Trước trận đánh, anh xác định phái đi trinh sát nhìn tận nơi. Chân phải đi tới trận địa dự kiến bố trí lực lượng. Tai phải nghe được ý kiến về địch, về ta. Tính bình tĩnh - điềm đạm - lắng nghe là phương pháp tốt nhất của người chỉ huy, của người làm công tác tham mưu.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất. nước thống nhất chúng tôi gặp nhau ở giữa Sài Gòn - Gia Định, mừng vui vô hạn. Quân đoàn 4 được Bộ giao nhiệm vụ quân quản, trong đó có Sư đoàn 341 phụ trách quân quản 3 quận: quận 3, quận 11, quận Bình Thạnh.


Trong thời gian làm nhiệm vụ quân quản, Sư đoàn 341 đã góp phần xây dựng tổ chức chính quyền cách mạng từ đường phố, phường, quận, ổn định an ninh trật tự xã hội, đời sống của nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã tổ chức cho nhân dân học tập về đường lối chính sách vùng mới giải phóng của Cách mạng. Tổ chức đưa dân di vùng kinh tế mới. Tổ chức các đoàn thể quần chúng. Tổ chức học tập chính sách của cách mạng cho binh lính, sĩ quan, công chức của chế độ cũ. Sư đoàn được trên đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. "Vào thành vững như thành", được nhân dân tin tưởng và quý mến.


Song song với nhiệm vụ quân quản ở thành phố Sài Gòn - Gia Định, Sư đoàn 341 được giao nhiệm vụ xây dựng khu kinh tế nông nghiệp chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV.

Ba tháng lao động, toàn Sư đoàn đã bỏ ra 19 vạn ngày công đào đắp 3 vạn mét khối đất, san mặt bằng hai vạn mét vuông đắp thành 24 cái ao nuôi cá với tổng diện tích 17 héc-ta. Xây dựng 10 dãy nhà nuôi lợn, nuôi gà. Trại lợn có hơn 2.000 con 900 nái đẻ, có trại gà 2 vạn con có máy ấp gà và 2.000 con bò. Xưởng sửa chữa vũ khí, nhặt, mua thêm máy móc đã sản xuất ra máy: tách hạt, máy xay, máy nghiền máy trộn, máy sấy... để chế biến thức ăn gia súc tại khu căn cứ Long Bình và một nông trường ở đồn điền "ông Quế" 800 héc ta trồng ngô, sắn để chế biến thức ăn cho gia súc, trại cá. Ngoài việc nuôi cá mè, cá chép, cá trắm cỏ... đơn vị còn xây bể ấp cho cá mè, cá chép, cá trắm đẻ để bán cá giống cho nhân dân địa phương...!


Nhân ngày kỷ niệm 19 tháng 8 và Quốc khánh 2 tháng 9, Thượng tướng Chu Huy Mân - Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến thăm và kiểm tra Sư đoàn 341. Sau khi nghe báo cáo của Tư lệnh Sư đoàn, đồng chí đi thăm các đơn vị sẵn sàng chiến đấu và các đơn vị làm kinh tế, Thượng tướng hỏi một chiến sĩ làm kinh tế: Hiện nay quân đội ta có mấy nhiệm vụ? Người chiến sĩ trả lời: Báo cáo Thủ trưởng, có hai nhiệm vụ, "Sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:46:00 pm »

Ngày 28 tháng 8 năm 1977, tôi được cơ quan Bộ thông báo: Đồng chí Thượng tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thay mặt Quân ủy Trung ương xuống giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341. Thành phần đoàn còn có Phó Tổng Tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, đồng chí Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.


Sau khi nghe lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn báo cáo, đồng chí Thứ trưởng giao nhiệm vụ:

"Sư đoàn 341 chuyển từ đơn vị thường trực sẵn sàng chiến đấu sang xây dựng kinh tế. Tổ chức thành các nông trường, làm cơ sở để đưa dân vào, lập thành những khu kinh tế mới. Địa bàn khu La Ngà thuộc tỉnh Đồng Nai. Khi cần chiến đấu sẽ trở về đội hình Quân đoàn 4. Trước mắt, vì tình hình biên giới căng thẳng và phức tạp. Bộ quyết định điều một Trung đoàn bộ binh đi làm nhiệm vụ ở Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang".


Ngày 20 tháng 9 năm 1977, bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đồng loạt xua quân tiến công lấn chiếm trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Ngày 28 tháng 9 năm 1977, Sư đoàn trưởng và Chính ủy Sư đoàn 341 đi nghiên cứu địa hình La Ngà, Sông Ray để dự kiến quy hoạch những khu kinh tế thì nhận được điện hỏa tốc: lên Tiền phương Bộ ở Tân Sơn Nhất nhận nhiệm vụ...

Tôi và Chính ủy Phạm Thành Minh từ La Ngà về ngay Sở chỉ huy Tiền phương của Bộ. Đồng chí Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, thay mặt Bộ Tổng Tham mưu, nói: "Bọn Pôn Pốt đã tràn sang phía Tây Nam, tỉnh Tây Ninh. Tình hình hết sức nghiêm trọng". Bộ đã thông báo cho Tổng cục Kinh tế biết:


Sư đoàn 341, tạm thời dừng làm kinh tế, cơ động lên tỉnh Tây Ninh làm dự bị cho Quân đoàn 4. Khi nào hoàn thành nhiệm vụ thì trả Sư đoàn về làm kinh tế. Trước mắt tổ chức hai tiểu đoàn, ngày 30 tháng 9 năm 1977, có mặt ở huyện Bến Cầu!.

Nghe đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng giao nhiệm vụ xong, tôi đề nghị xin cho nghỉ mấy phút để lãnh đạo chỉ huy Sư đoàn hội ý trao đổi quán triệt nhiệm vụ và có ý kiến đề nghị với Bộ. Trong lúc nghỉ, tôi tranh thủ báo cáo với anh Lê Ngọc Hiền, qua thái độ, thấy anh có thể đồng ý với những đề xuất của Sư đoàn. Họp tiếp, tôi xin phát biểu trước:

- Tình hình, âm mưu địch, Sư đoàn nhất trí với chủ trương của Bộ. Xin đề nghị, hôm nay Sư đoàn có Trung đoàn 270 đang đứng chân ở Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Đơn vị trực thuộc và Trung đoàn pháo binh 55 đã giải tán tổ chức thành Đội sản xuất. Sư đoàn hiện nay rất phân tán. Quân số, sau chiến dịch chưa được bổ sung. Súng, pháo đã thu lại đưa về kho của Bộ ở Long Bình.

- Xin Bộ cho lực lượng toàn Sư đoàn hiện có lên Tây Ninh làm dự bị cho Quân đoàn, lực lượng mạnh hơn, sẵn sàng chiến đấu tập trung hơn.

- Xin cho Sư đoàn tổ chức lại Trung đoàn pháo binh, Tiểu đoàn trinh sát, Tiểu đoàn thông tin. Tiểu đoàn công binh... Đề nghị Bộ cấp phát trang bị và bổ sung tiêu hao trong chiến đấu cho Sư đoàn, đặc biệt cho Sư đoàn thêm thông tin vô tuyến (PRC); xin đủ xe cơ động.

- Sư đoàn hứa với Bộ chỉ 30 tiếng đồng hồ sẽ có mặt ở Tây Ninh, sẵn sàng chiến đấu!

Đồng chí Lê Ngọc Hiền nghe tôi và Chính ủy Sư đoàn báo cáo thêm về tình hình tư tưởng bộ đội. Đồng chí cho hội nghị nghỉ giải lao và vào phòng sở chỉ huy liên lạc, làm việc với cơ quan Bộ. Sau đó, hội nghị tiếp tục, đồng chí nói:

- Tôi điện xin ý kiến của Bộ, Bộ đồng ý, phê chuẩn đề nghị của Sư đoàn trưởng và Chính ủy Sư đoàn 341. Bộ chỉ thị, Cơ quan Bộ, Sư đoàn khẩn trương tổ chức lực lượng và trang bị cho sư đoàn hoàn thành đúng thời gian, sẵn sàng chiến đấu.

Ngay trong đêm 28 tháng 9, các bộ phận làm kinh tế của Sư đoàn 341 từ Sông Ray, La Ngà, Long Khánh, Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về đơn vị củng cố tổ chức, chuẩn bị mọi việc cho sẵn sàng cơ động. Hàng ngày, tôi trực tiếp báo cáo với anh Lê Ngọc Hiền về tình hình chuẩn bị hành quân của Sư đoàn.


Sáng 30 tháng 9 năm 1977, bình minh vừa bừng sáng, 1.204 xe ô tô chở cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341 vào vị trí tạp kết ở hai huyện Bến Cầu và Trảng Bàng. Tôi trực tiếp gặp anh Lê Ngọc Hiền báo cáo: Sư đoàn hành quân an toàn - Trước giờ Bộ quy định (24 giờ/ 30 giờ). Anh Hiền rất vui, đã có lực lượng dự bị sẵn sàng ...


Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341 căm thù bọn phản bội gảy nhiều tội ác với đồng bào ở biên giới. Trung đoàn 266 của Sư đoàn được lệnh tiêu diệt toàn bộ quân địch thuộc trung đoàn 182 chủ lực của Pôn Pốt đang chiếm đóng ở xóm Cây Me - Thúc Múc. Trung đoàn 266 bí mật bao vây và tiến công tiêu diệt trung đoàn 182, nhưng rất tiếc không diệt gọn vẫn còn để một số tên luồn lách chạy về Pavec.


Những ngày tiếp theo, Sư đoàn 341 cùng với lực lượng của Sư đoàn 7 tiêu diệt một bộ phận quân địch ở Pavar 1 và 2, ở Chi Pu - Pray Kôki và giữ bàn đạp để tiến công.

Ngày 26 tháng 12 năm 1977, ta tiến công trên toàn tuyến, Sư đoàn 341 đã tiêu diệt một bộ phận của sư đoàn 3 Pôn Pốt, thu 1 xe Jeep, 1 bản đồ, 1 cặp tài liệu, trong đó có 1 tài liệu nghị quyết, của trung ương Pôn Pốt và của quân khu 203. "Xác định Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp"... Thu 3 xe ôtô GMC, 2 khẩu pháo 105 ly. Những tài liệu thu được đã khẳng định, làm rõ bộ mặt phán bội của bè lũ Pôn Pốt - Iêng Xari.


... Ngày 12 tháng 5 năm 1985, sau khi Quân đoàn 4 hoàn thành nhiệm vụ ở khu vực tỉnh Bát Tam Băng - Poi Pét... tôi nhận được điện điều động của Bộ về nhận công tác ở Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 13 tháng 5, tôi từ Poi Pét về Phnôm Pênh. Ngày 14 tháng 5, tôi bàn giao công việc và ngày 15 tháng 5, thì về Hà Nội.

Ngày 16 tháng 5, tôi vào báo cáo với Bộ và nhận nhiệm vụ Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu.

Trong ba cuộc chiến tranh (chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và làm nhiệm vụ quốc tế), tôi được nhiều lần làm việc với đồng chí Lê Ngọc Hiền, một vị tướng, một cán bộ tham mưu điềm đạm, chiến đấu dũng cảm, kiên quyết, mưu trí, tác phong gương mẫu, gần gũi mọi người, được anh em quý mến!


Về sau, tôi lại được về công tác với đồng chí Lê Ngọc Hiền ở cơ quan Tổng hành dinh. Tôi nhớ mãi anh - vị tướng đã cống hiến suốt đời trong Quân đội nhân dân Việt Nam!.

V.C
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:49:10 pm »

THEO ANH HIỀN ĐI "CHỐNG GIẶC NƯỚC"

Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại
Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu


Anh Lê Ngọc Hiền đi xa đã được mấy năm, song trong lòng tôi mỗi khi nhớ tới anh vẫn vô cùng thương tiếc. Tôi và anh Ngô Quang Hậu là hai cán bộ của Cục Tác chiến đã trực tiếp công tác và chiến đấu dưới sự chỉ huy của anh suýt soát mười lăm năm trời. "Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình". Kỷ niệm "vui buồn, sướng khổ" cùng nhau, biết bao điều muốn nói. Trong đó, có một điều tôi không bao giờ quên là kỷ niệm cùng anh đi "cứu đê Nội Doi" mà chúng tôi thường nói đùa là đi "chống giặc nước!"


Đó là vào tháng 7 năm 1986, thời kỳ trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội đổi mới. Lúc đó đất nước ta đang ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội nặng nề nhất. Đời sống của nhân dân, cán bộ, bộ đội vô cùng khó khăn. Thêm vào đó chiến tranh vẫn diễn ra khá quyết liệt trên chiến trường Campuchia và trên biên giới phía Bắc thuộc Vị Xuyên - Hà Giang...


Giữa lúc đó, thì nước lũ lớn kéo về, tương đương như cường độ lũ của năm 1971. Đứng trên mặt đê các sông Đuống, sông Cầu, sông Thương, sông Cà Lồ, ta có thể "khỏa nước rửa chân" được. Nguy cơ vỡ đê là cực lớn. Mà vỡ đê lúc đó thì hậu quả về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội sẽ vô cùng tai hại...


Lúc đó tôi là Trưởng phòng Chiến trường Cục Tác chiến, anh Trần Văn Biền là Đại tá Phó phòng. Phòng của tôi là cơ quan trực tiếp phục vụ Bộ Tổng Tham mưu trong việc chỉ đạo chỉ huy tác chiến trên các mặt trận (về phần lực lượng Lục quân). Nhiệm vụ kiêm thêm nhưng cũng chẳng nhẹ nhàng gì, là cùng với Phòng Quân chủng, vạch kế hoạch chống lụt bão hàng năm thông qua Bộ, rồi tiếp tục điều động bố trí lực lượng và phục vụ Bộ trong việc chỉ huy các lực lượng bộ đội ứng cứu khi có tình huống khẩn cấp cần hộ đê, cứu đê và cứu dân.


Hiểu rõ tình hình chung và trách nhiệm của mình, tất cả các đơn vị được phân công hộ đê đã có mặt trên các đoạn đê được phân công ngay từ lúc lũ bắt đầu về và chuẩn bị với cố gắng cao nhất. Các sĩ quan phụ trách từng vùng đi về kiểm tra liên tục. Ở Sở chỉ huy, ngoài các sĩ quan trực tác chiến, các sĩ quan phụ trách chống lũ lụt cùng thay nhau trực 24/24 giờ.


Cho đến trước khi sự cố "cống Nội Doi" xảy ra hai ngày, tất cả các hướng đều đã đứng vững và nước lũ bắt đầu chững lại, có chiều hướng rút. Mọi người mừng hết chỗ nói. Tôi tranh thủ cùng hai sĩ quan hướng Tây Bắc lên Vị Xuyên nắm lại tình hình, việc ở nhà tạm giao cho anh Biền phụ trách. Thượng tướng Phùng Thế Tài vốn phụ trách khối quân chủng cũng có việc khẩn phải vào Nam mấy ngày. Anh vốn kiêm nhiệm Phó ban Chống lụt bão Trung ương, là người chỉ huy cao nhất, trong toàn quân về phòng chống lụt, bão, nay có việc phải vắng mặt, mọi việc đều do anh Hiền kiêm thêm. Anh Hiền lúc đó là Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách về chỉ đạo, chỉ huy tác chiến.


Tối hôm đó, ở Vị Xuyên (Hà Giang) về khá muộn, song tôi vẫn vào sở chỉ huy ngay để nắm tình hình. Mọi việc vẫn có vẻ "xuôi chèo mát mái", tuy nhiên do linh tính hay sao, tôi vẫn sốt ruột ở lại trực luôn, thay cho anh Biền. Thế rồi sự việc bất ngờ xay ra vào thời điểm, địa điểm và cả hình thức nữa, cũng bất ngờ luôn.


Đúng 5 giờ sáng, cơ quan của Ban chống lụt bão Trung ương, gọi điện khẩn cấp. Tôi cầm máy gặp anh Đông, chuyên viên, người đã cùng chúng tôi công tác nhiều năm. Anh thông báo: "Đê sông Cầu có thể vỡ, yêu cầu Bộ Quốc phòng tham gia cứu gấp". Hỏi kỹ lại mới biết là cửa cống Nội Doi, ở hạ nguồn sông Cầu, cách Đáp Cầu 6 ki-lô-mét, có hiện tượng rò rỉ nước từ chiều tối qua, địa phương đã phát hiện, sử dụng lực lượng tại chỗ, gồm cả bộ đội và dân công khắc phục không được. Ban chỉ huy chống lụt bão Trung ương đã cử một Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và một đoàn chuyên viên xuống hiện trường ngay trong đêm. Nghĩ rằng có thể khắc phục sự cố được nên chưa yêu cầu Bộ Quốc phòng, nhưng đến 4 giờ sáng thì cửa cống bị vỡ, nước chảy ào vào nội đồng, đê bị sạt lớn, nay nguy cơ vỡ đê là rất lớn... Anh Đông liên tục xin lỗi vì thông báo muộn.


Vốn dĩ đê sông Cầu và các cống, suốt cả mùa khô đã được kiểm tra, tu bổ, gia cố khá vững, nên lực lượng mạnh nhất của bộ đội ở đó không có, chỉ có lực lượng học viên của Trường Hạ sĩ quan Hậu cần tham gia, quân số khoảng 200 người, nhưng gần một nửa là nữ.

Tôi quay điện báo cáo gấp cho anh Hiền, đồng thời lệnh cho các phương tiện trực ứng cứu (ô tô, tàu thuyền, trực thăng) sẵn sàng lên đường. Chỉ sau 10 phút, anh đã có mặt. Nghe tôi báo cáo tóm tắt trên bản đồ bố trí các lực lượng chống bão lụt, anh Hiền rất băn khoăn "tại sao lại thông báo chậm thế, "để nước đến chân" mới nhảy thế này?".


Anh chỉ thị: "Ta phải lên tận nơi và giải quyết tại chỗ!" và hỏi tôi: "Đi bằng cách nào, dùng ôtô có biển báo ưu tiên được không?". Tôi đề nghị đi bằng trực thăng, hiện đã điều về sân Bộ Tư lệnh Không quân ở Bạch Mai. Đi ôtô mà tắc đường ở cầu Long Biên (lúc đó chưa có cầu Chương Dương) và ở cầu Đuống (cũ) thì gay lắm. Anh đồng ý ngay và hạ lệnh lên đường. Tôi chỉ kịp nhờ trực ban báo cáo cho Cục trưởng và điều đồng chí trung tá Phạm Đình Thanh, một chuyên gia xây dựng công trình của Phòng, đi theo để tư vấn cho chúng tôi về chuyên môn. Giải quyết rất nhanh vậy mà khi trực thăng nổ máy cất cánh, tôi nhìn đồng hồ đã là 6 giờ 30 phút.


Chỉ 8 phút sau, chúng tôi đã tới hiện trường, song phải vòng đi, vòng lại cũng mất 8 phút trực thăng mới hạ cánh được trên một doi đất cao vì chung quanh toàn nước.

Trong khi máy bay đang lượn vòng tìm bãi đáp, chúng tôi tranh thủ quan sát hiện trường từ trên cao. Mới nhìn qua đã thấy "dựng tóc gáy". Cả một quãng đê sông Cầu khá kiên cố, đã bị khoét sâu tới nửa, trên một đoạn dài khoảng 15 mét, trông như một chiếc "răng sâu" khổng lồ. Ở giữa là cống Nội Doi đã bật nắp, nước từ sông phóng ào ào vào nội đồng. Đúng là cảnh "tháo cống". Chung quanh, một số bộ đội đang lăn những "sọt đá" khối, mỗi sọt hàng tấn đá, vậy mà chỉ một loáng nó đã bị vuốt dài xuyên qua cống vào nội đồng, nhẹ nhàng như một quả bóng bầu dục đang trôi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 16 Tháng Chín, 2026, 06:51:03 pm »

Khi chúng tôi tới cửa cống, một đồng chí đại úy chỉ huy trưởng lực lượng chạy ra chào và báo cáo. "Anh chị em đã có mặt từ tôi hôm qua, ngay khi được báo động, và hiện nay vẫn đang cố gắng hết sức để lấp cửa cống". Nhìn thoáng qua đã biết mọi người kiệt sức rồi. Khi được hỏi lực lượng dân công đâu thì được biết đêm qua được huy động khá đông, song trời tối, chỉ huy lộn xộn, nên rất vướng víu, đến khi cửa cống bị vỡ, thì mọi người bỏ về hết để lo sơ tán gia đình. Khi hỏi tới cán bộ địa phương đâu, thì cũng vừa lúc có bốn người mặc thường phục tới. Anh Hiền và chúng tôi nhận ra ngay là anh Quất - Bí thư Tỉnh ủy, anh Mai Thúc Lân - Chủ tịch ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Bắc1 (Nay là tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang) và hai đồng chí thư ký.


Chủ tịch tỉnh, giọng Quảng Nam2 (Anh Mai Thúc Lân về sau là Phó Chủ tịch Quốc hội) khàn đặc, chắc vì phải hò hét, chỉ huy suốt đêm nói không ra tiếng. Anh Quất - Bí thư cho chúng tôi biết, vì đây không phải là trọng điểm nên toàn huy động lực lượng tại chỗ là chính. Lúc đầu mọi người làm rất hăng, nhưng đến khi có nguy cơ vỡ đê, họ bỏ chạy về để lo sơ tán vợ con gia đình, không cản nổi. Trước tình hình đó, các anh đã phái tất cả cán bộ Tỉnh, Huyện đi huy động lực lượng cơ động ở nơi khác, song đã trên hai giờ rồi vẫn chưa có tin, chỉ còn lại lực lượng của Trường Hạ sĩ quan Hâu cần. Hỏi đến đồng chí Thứ trưởng và đoàn chuyên viên của Bộ Thủy lợi, thì được biết các anh đó đang ở trên một chiếc ca nô lớn đậu trên thượng nguồn, cách đó vài trăm mét, tất cả chúng tôi đều đến gặp với mục đích chính là nhờ tư vấn về kỹ thuật để tính kế điều quân, phương tiện và tìm biện pháp khắc phục. Tuy nhiên, các anh cũng bí. Ý kiến duy nhất là muốn cứu được đê thì trước hết phải bịt được công, rồi mới chữa đê sạt. Điều đó thì chẳng cần chuyên môn cao, ai cùng thấy, song khi hỏi: "Làm thế nào để bịt cống" thì vẫn chỉ là đổ các rọ đá hộc để giảm tốc cho nước rồi lấp công, nhưng kết quả như thế nào thì nhìn trên hiện trường đã rõ. Chúng tôi chào tạm biệt, rồi quay về hiện trường để bàn với các anh ở địa phương. Tiễn chúng tôi lên mặt đê là một anh chuyên viên đã già. Vẻ mặt rất chất phác, thật thà nhưng rất đau khổ, anh nói với đoàn chúng tôi:

- Tôi làm nghề đê điều đã mấy chục năm, tình hình này thì đê vỡ mất thôi không cứu nổi đâu, bây giờ là phải lo cứu dân cho đờ tổn thất thôi!

Tôi cảm ơn anh vì lời nói thật đó, song riêng anh Hiền không trả lời, môi mím chặt. Đã từng chiến đấu và công tác với anh từ miền Đông Nam Bộ, tôi chả lạ gì tính nết anh. Chắc chắn là anh quyết tâm cứu đê đến cùng, chứ không chịu bó tay như vậy.

Một cuộc hội ý ngắn của chúng tôi với các anh địa phương và đồng chí đại úy diễn ra ngay sát cửa cống Nội Doi... Anh Hiền nêu ý kiến:

- Dùng máy bay trực thăng lớn Mi-6, cẩu một xe tăng T34 hỏng ở nhà máy gần đó, thả chẹn ngay cửa cống để sau đó đổ đá chèn chung quanh.

Chúng tôi đề xuất ngay là không được, vì thả một khối sắt trên 30 tấn, bằng dây đung đưa đúng cửa cống trong điều kiện nước xoáy, gió to là cực khó, chỉ cần một sơ xuất nhỏ, đập vào cửa cống là coi như phá đê luôn. Phương án đó được đồng ý bỏ luôn.

- Đánh chìm một sà lan dọc theo đê, trước cửa cống để dùng phần nổi của sà lan chặn bớt áp lực nước, để thả đá lấp cửa cống.

Phương án này rất khả thi, song anh Phạm Đình Thanh, chuyên viên công trình cho biết, muốn đánh chìm sà lan đúng chỗ phải là công binh có tay nghề cao, lớp học viên này không làm nổi. Vả lại số anh chị em này thực sự đã kiệt sức và cần thay phiên.

Anh Hiền hỏi chúng tôi: "Bây giờ điều lực lượng nào?". Đã thống nhất với anh Thanh, tôi đề nghị "Điều Binh đoàn Hương Giang vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ" và sử dụng lần lượt, vì chỉ có một binh đoàn tinh nhuệ nhất mới làm nổi. Binh đoàn này đã tham gia giải phóng Huế, Đà Nẵng và đánh thắng trận cuối cùng, bắt Tổng thống Dương Văn Minh.


Anh lại hỏi: "Tại sao cần báo động cả một binh đoàn lớn như vậy?". Tôi trình bày phương án cụ thể: Hiện trường chỗ hàn khẩu chỉ cần một tiểu đoàn nhưng phải là công binh tinh nhuệ, còn cần hai tiểu đoàn, một đứng ở Trường Sĩ quan Công binh ở ngay thị xã Đáp Cầu để xúc đóng đất ở đồi cao ngay trong trường, một tiểu đoàn vận chuyển bằng đường sông xuống, vì trên đê hiện nay dân chạy lên trú ở đó phòng đê vỡ, không vận chuyển bằng xe tải được, mà xe chở quá nặng có khi làm sạt vỡ đê thêm. Còn toàn binh đoàn, lực lượng đã rải trên các vùng đê được phân công suốt từ Lục Nam, Phủ Lạng Thương đến Phả Lại, chỉ còn lực lượng dự bị ở nhà song cần được nâng cấp báo động để sẵn sàng cứu dân, nếu đê vỡ. Với tình hình hiện nay, nếu đê sông Cầu vỡ thì dân sẽ ào lên đê, không loại trừ vỡ dây chuyền, cả ở đê các sông Đuống và sông Thương, uy hiếp cả Hà Nội. Sở chỉ huy tiền phương của binh đoàn nên đặt ở Đáp Cầu.


Nghe trình bày xong, anh Hiền từ tôn trả lời, nét mặt vô cùng đăm chiêu:

- Tôi hoàn toàn đồng ý với các anh, ngay lúc mới tới, tôi cũng đã nghĩ như vậy, song điều động cả một binh đoàn vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu toàn bộ là quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, với sự đồng ý của Hội đồng Quốc phòng, có nghĩa là phải hỏi ý kiến các đồng chí Thường vụ Bộ Chính trị và Thường trực Chính phủ. Với chức danh như tôi nếu làm là vượt quyền rất lớn, hơn nữa ở đây lại rất gần Hà Nội. Tuy nhiên với tình hình hiện nay nếu về xin ý kiến đã thì sẽ không kịp, mà nếu tự ý làm sai thì "tội thật không nhỏ".

Tôi báo cáo lại với anh "Việc giữ cho đê không vỡ bây giờ chỉ tính giờ chứ không còn tính ngày. Nếu ta bay thẳng lên sở chỉ huy binh đoàn chỉ mất 10 phút. Nếu điều động nhanh, chỉ một giờ sau, ta có lực lượng ứng cứu ngay. Còn nếu bay về Hà Nội thì phải về đỗ Bạch Mai, rồi về xin ý kiến đủ thì coi như để cho đê vỡ, việc gấp lắm, xin anh quyết định cho".

Tôi về Cục Tác chiến từ tháng 3 năm 1975, với thâm niên ở Tổng hành dinh 11 năm, tôi rất biết về kỷ luật trong việc điều quân tự tiện mà sai lầm. Kỷ luật nhẹ là "giáng cấp, cách chức", nếu nặng có ảnh hưởng lớn thì phải ra "Tòa án binh", nên rất thông cảm với anh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM