2. Trận vận động chiến Hoàng Dương - Tử DươngBước sang năm 1950, quân Pháp ngày càng khó khăn, buộc phải rút quân khỏi Bắc Kạn, một số đồn lẻ ở Cao Bằng, dồn lực lượng về giữ Đông Khê, Thất Khê; tập trung lực lượng đẩy mạnh càn quét mở rộng chiếm đóng vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Về phía ta, cuộc kháng chiến đã có những bước phát triển.
Nhằm thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng "Tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang Tổng phản công", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh Tổng động viên với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Để chuẩn bị lực lượng đón thời cơ mới, các Đại đoàn chủ lực được thành lập. Tiếp sau Đại đoàn 308, ngày 10 tháng 3 năm 1950, Bộ quyết định thành lập Đại đoàn 304 (gồm Trung đoàn 9, Trung đoàn 57 của Liên khu 4 và Trung đoàn 66). Theo quy định tháng 4 năm 1950 phải hoàn thành, nhưng do địch đang mở rộng vùng chiếm đóng ra phía nam đồng bằng Bắc Bộ nên Trung đoàn 66 phải ở lại cùng địa phương đánh giặc, bảo vệ nhân dân, vì vậy không thể về tập trung đúng thời gian Đại đoàn quy định.
Thời gian này, Tiểu đoàn Lê Lợi đang đứng chân ở Hà Đông sẵn sàng đánh quân địch nông chiếm ra vùng tự do thuộc hai huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức. Tại đây, quân Pháp đã chiếm Vân Đình, ngã tư Vác, Viên Nội, làng Miêng. Ngoài lực lượng đồn trú, chúng có một tiểu đoàn Áu-Phi cơ động do tên đại úy Pơ-ti chỉ huy.
Tại vị trí đóng quân ở khu vực các làng Đức Thụ, Lai Thụ, Lê Xá, huyện Mỹ Đức, Tiểu đoàn Lê Lợi đã được chính quyền và bộ đội tại chỗ (Đại đội 29 thuộc Trung đoàn 48) cung cấp cho tình hình địch. Trên cơ sở đó, Tiểu đoàn lập kế hoạch tác chiến tại khu vực đoạn đường đê từ Tử Dương đến Hoàng Dương (huyện Ứng Hoà), Sau đó cho bộ đội tập luyện trên thực địa theo phương án. Mặt khác, phái một tổ trinh sát theo dõi bám địch, nhất là bám sát tiểu đoàn cơ động của địch ở Ba Thá, Quán Tròn.
Rạng sáng 12 tháng 5 năm 1950, địch sử dụng một đại đội thuộc tiểu đoàn cơ động (khoảng 80 tên do trung úy Beng-déc chỉ huy) từ Ba Thá tiến công ra hướng Kênh Đào, Đoan Nừ theo đường đê hữu ngạn sông Đáy. Trên đường tiến quân, chúng bị du kích và lực lượng cảnh giới của Đại đội 29 đánh ngăn chặn làm chậm tốc độ hành tiến. Gần trưa mới địch mới đến Kênh Đào, Đoan Nữ, nên chúng quay về. Để tránh bị đánh, địch không quay về theo đường cũ mà lội qua sông Đáy và theo đường đê tả ngạn sông Đáy rút về Ba Thá.
Khoảng 10 giờ sáng 12 tháng 5 năm 1950, được tin báo cáo tình hình địch của trinh sát tiểu đoàn và thông báo của cảnh giới địa phương qua mạng điện thoại, Ban chỉ huy Tiểu đoàn lệnh ngay cho các đại đội nhanh chóng cơ động từ vị trí trú quân lội qua sông Đáy, đoạn Áng Hạ, nhanh chóng triển khai đội hình bao vây tiến công địch.
Ban chỉ huy Tiểu đoàn qua sông trước. Tại một vị trí cao trên đê gần làng Vĩnh Hạ (nơi đội hình các đại đội phải đi qua), Tiểu đoàn trưởng gặp chỉ huy từng đại đội để giao nhiệm vụ bổ sung, điều chỉnh nhiệm vụ tác chiến (theo kế hoạch đã chuẩn bị thì sẽ đánh địch từ hướng Ba Thá xuống theo đê tả ngạn sông Đáy, nhưng nay sẽ đánh địch trên đường từ Kênh Đào quay về Ba Thá).
Đi đầu là Đại đội 14 (Đại đội trưởng Tống Trần Thuật, Chính trị viên Nguyễn Xuân Mậu, Đại đội phó Đàm Thế Viêm), tiến qua làng Tử Dương đánh chặn đường địch rút và chặn quân tiếp viện từ hướng Ba Thá xuống. Tiếp đến là Đại đội 42 (Đại đội trưởng - Quốc Biên, Chính trị viên - đồng chí Lập, Đại đội phó đồng chí Chung - người Nhật) tiến qua cánh đồng giữa hai làng Hoàng Dương, Tử Dương chiếm đê cao, đánh ép địch ra bờ sông. Đại đội 28 (Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi - người Nhật, Chính trị viên đồng chí Tuất, đại đội phó Mai Hiền) tiến qua làng Nghi Lộc và Hoàng Dương đánh khoá đuôi địch. Trung đội cối 81mm của Tiểu đoàn bố trí ở Vĩnh Hạ chi viện cho các đơn vị.
Khoảng 13 giờ 30 phút, bắt đầu có tiếng súng nổ. Cụ thể như sau:
- Đại đội 28: một trung đội bám được lên đê đầu làng Nghi Lộc thì bị địch phát hiện bắn đồng chí Khá trung đội trưởng hy sinh. Đại đội trưởng Hoàng Văn Thi điều ngay khẩu đại liên 30-M2 lên bắn quét dọc đê, buộc quân địch ở mặt đê phải dạt hết về vườn chuối phía bên kia đê ven bờ sông. Đồng thời cối 81mm tiểu đoàn đã bắn trúng bến lội của địch.
Hai trung đội vận động qua làng Hoàng Dương đã đánh bật một toán quân nhỏ ở đầu làng và tiến lên đê. Dưới sự chi viện của hoả lực đại liên, toàn đại đội tiếp tục tiến công địch đang cụm lại khu vườn chuối, diệt và bắt gọn một trung đội địch, số còn lại chạy về phía Tử Dương.
- Đại đội 14: khi nghe tiếng súng nổ ở hướng Hoàng Dương, đại đội mới đến làng Cao Lâm, Ban chỉ huy Đại đội động viên anh em vận động nhanh hơn để kịp hiệp đồng. Khi trung đội đi đầu lên đến đê, phát hiện một tốp lính da đen đang tìm chỗ đặt khẩu trung liên gần khu Chợ Tía, Đại đội phó Đàm Thế Viêm dùng cácbin diệt tên xạ thủ. Địch bắn trả và cho quân tràn sang chiếm khu lò gạch đầu làng Tử Dương, hòng co cụm cố thủ tại đó để chờ quân cứu viện từ Ba Thá xuống. Lúc này quân ngụy đóng ở nhà thờ làng Miêng bắn sang phía Tử Dương để yểm trợ.
Đang lúc địch đánh trả quyết liệt, thì đồng chí Minh trung đội phó và đồng chí Giao liên lạc hy sinh. Lực lượng đại đội đã lên đủ. Đại đội trưởng Tống Trần Thuật tổ chức hoả lực chi viện cho bộ đội tiến công vào khu lò gạch nơi địch cố thủ. Mấy khẩu súng phóng lựu của ta đã bắn rất trúng, ghìm đầu địch xuống. Nắm thời cơ này trung đội trưởng Lê Trung Cơ đã dẫn bộ đội xung phong lên nhanh chóng chiếm được khu lò gạch, diệt và bắt gọn 2 trung đội cùng tên chỉ huy Beng-déc.
- Đại đội 42: tuy phải vận động qua cánh đồng trống trải giữa hai làng Hoàng Dương - Tử Dương, song nhờ có yểm trợ hoả lực của Đại đội 14, 28 và cối 81mm của Tiểu đoàn nên vẫn lên chiếm được đê mà ít thương vong. Khi chiếm được mặt đê, đại đội đã phát huy hoả lực bắn mạnh vào khu lò gạch và khu vườn chuối khép chặt địch trong vòng vây, buộc địch phải ra đầu hàng.
Trận đánh kết thúc lúc 14 giờ 30 phút. Vừa lúc đó một cơn mưa rào ập xuống nên máy bay địch không thể đến chi viện, chỉ có một chiếc Đa-kô-ta bay qua khu trận địa, song máy bay địch không bắt liên lạc được với quân địch ở mặt đất nên đã bay đi.
Cùng lúc này, Tiểu đoàn trưởng Lê Ngọc Hiền đã có mặt trên đê, nơi xảy ra trận đánh, lệnh cho các đơn vị thu dọn chiến trường, kiểm tra trận địa, giải quyết thương binh tử sĩ, thu hồi chiến lợi phẩm và giải tù binh về phía sau.
Một đoàn tù binh, giày treo trên cổ, do bộ đội ta áp giải qua khu vực Đức Thụ lúc còn ban ngày. Nhân dân ra hoan hô, úy lạo bộ đội. Một số đồng bào vùng địch tạm chiếm tản cư ra đây, còn nhận mặt một số tên giặc trong đám tù binh trên đã từng gây tai hoạ cho xóm làng mình.
Kết quả trận đánh: diệt gọn đại đội địch (chết 7, bị bắt 81, trong đó có tên chỉ huy Beng-déc). Thu 1 đại liên, 6 trung liên, 7 tiểu liên, 1 súng ngắn, 50 súng trường, 1 máy phôni và nhiều đạn dược. Phía ta, hy sinh 3, bị thương nhẹ một số đồng chí.
Sau trận này, Tiểu đoàn Lê Lợi được Bộ Tổng Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
Nếu như trận Đồng Bến là trận công đồn ban đêm ở địa hình rừng núi thì trận Hoàng Dương - Tử Dương là trận đánh vận động ban ngày ở địa hình đồng bằng và cũng là trận đánh vận động đầu tiên tiêu diệt gọn một đại đội địch của Tiểu đoàn Lê Lợi1 (Tuy trước đó, Tiểu đoàn có đánh một số trận khi quân địch nống ra vùng tự do như trận Cổ Đam, Ninh Bình (12-12-1947); trận Giao Cù, Nam Trực, Nam Định (5-1-1948); trận đánh địch nhảy dù xuống vùng Chanh, Chè, Thanh Liêm, Hà Nam (12-1948) nhưng chưa thực hiện được tiêu diệt gọn).
45 năm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong cuốn hồi ký "Chiến đấu trong vòng vây" đã nhận xét: "... Đây là trận vận động chiến xuất sắc ở huyện Ứng Hoà thuộc tỉnh Hà Đông". Trong một cuộc nói chuyện với cán bộ, Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng nói, đại ý: "Trận Hoàng Dương - Tử Dương là một trận vận động chiến tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ. Các học viện, nhà trường cần lấy trận này làm chiến lệ để cán bộ học tập".
Mặc dầu quy mô trận đánh không lớn như những chiến công lẫy lừng mà các đơn vị trong quân đội sau này đã giành được, nhưng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cao nhất của quân đội ta đã có nhận xét như trên vì nó diễn ra trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang chuyển sang giai đoạn mới "phản công, tiến công địch". Phương châm, phương thức tác chiến cũng đã chuyển từ "du kích - vận động chiến" sang "đẩy mạnh vận động chiến", đánh những đòn tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch, song song phát triển đều khắp chiến tranh du kích trên các chiến trường, nhất là các mặt trận vùng sau lưng địch.
Trong phạm vi Tiểu đoàn Lê Lợi cũng vậy (có thể rộng ra là cả Trung đoàn 66). Những năm tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này trong chống đế quốc Mỹ xâm lược, Tiểu đoàn (Trung đoàn) cũng đâ tiến hành nhiều trận đánh tập trung tiểu đoàn hoặc trung đoàn tiêu diệt hàng tiểu đoàn địch. Nhưng trận Hoàng Dương - Tử Dương là mở đầu xây dựng nên truyền thống đó. Tiếp đến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, có thể nói những trận đánh của Tiểu đoàn, Trung đoàn diễn ra ở thung lũng Ia-đơ-răng, Plây Me, Đắc Tô, Tân Cảnh (Tây Nguyên)... cũng mang dáng dấp truyền thống từ Đồng Bến, Hoàng Dương - Tử Dương năm xưa.
Và khi kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, vinh dự cho Tiểu đoàn Lê Lợi (trong đội hình Trung đoàn 66) được tham gia đánh chiếm dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày nay Ban Liên lạc truyền thống Tiểu đoàn Lê Lợi chúng tôi đã chọn ngày 25 tháng 11 hàng năm (ngày chiến thắng Đồng Bến) để họp mặt. Và ngày đó không ai có thể quên được anh Lê Ngọc Hiền, người Tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều công lớn lao trong xây dựng truyền thống chiến đấu của Tiểu đoàn Lê Lợi.
Hà Nội, 6-7-2009
N.T.L