nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:39:51 pm » |
|
- Tên sách: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào - Tác giả: Setein Tonnesson - Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia - Sự thật - Năm xuất bản: 2013 - Người số hóa: macbupda, nhinrathegioi
Dịch giả và hiệu đính:
Lê Đức Hạnh - Phạm Đức Tuệ
Nguyễn Văn Sự - Nguyễn Xuân Thắng
Kính tặng Philippe Devillers, là người mà năm 1946 đã có mặt ở Việt Nam, năm 1952 xuất bản cuốn Histoire du Viet-Nam (Lịch sử Việt Nam), năm 1968 tới Oslo kêu gọi phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông là nguồn cảm hứng để tôi viết cuốn sách này và cũng chính ông đã chỉnh sửa nó suốt từ năm 1981 bằng cách chỉ dẫn tôi tìm kiếm trong tài liệu lưu trữ, tới năm 1988, cho ra đời cuốn Paris - Saigon - Hanoi (Paris - Sài Gòn - Hà Nội) và cho tới nay, ông vẫn trăn trở với câu hỏi điều gì thực sự đã xảy ra ngày 19 tháng Mười hai đó.
Loạt sách "Philip E. Lilienthal biên tập"
Cuốn sách này nằm trong loạt sách vinh danh Philip E. Lilienthal, biên tập viên của Nhà xuất bản Đại học California. Trong thời gian làm việc tại đây (1954-1979), ông đã trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực sách nghiên cứu về châu Á bởi chất lượng công việc xuất sắc và sự ưu ái dành cho các tác giả trẻ. Yêu quý và ngưỡng mộ biên tập viên ấy, bạn bè, gia đình, các tác giả và các tổ chức đã cùng nhau lập Quỹ Lilienthal để tài trợ cho việc xuất bản loạt sách theo phong cách phản ánh thị hiếu và thẩm mỹ của Lilienthal.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:40:56 pm » |
|
LỜI NHÀ XUẤT BẢN Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kết thúc 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân và hàng nghìn năm áp bức của chế độ phong kiến. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây nhân dân ta thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Trong một khoảng thời gian ngắn kể từ sau ngày giành được độc lập, từ tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã giành được những thành quả lịch sử quan trọng, xây dựng được cơ sở vật chất, cơ sở xã hội và cơ sở pháp lý cho chính quyền, tạo dựng sức mạnh to lớn của dân tộc trên nền tảng dân chủ nhân dân, với những dấu ấn quan trọng, như lần đầu tiên Quốc hội được dân bầu theo phổ thông đầu phiếu chính thức ra đời; đặc biệt là sự ra đời Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu khuôn khổ pháp lý, nền tảng, định hướng phát triển lâu dài để xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng cũng trong khoảng thời gian này, bối cảnh đất nước ta trong tình thế thật hiểm nghèo. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời đã phải đối mặt cùng một lúc với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Thù trong, giặc ngoài đe dọa nghiêm trọng nền độc lập non trẻ của đất nước ta. Phát xít Nhật tuy đã bại trận nhưng vẫn còn lực lượng tàn quân không nhỏ ở nước ta; 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch mà dân ta lúc đó gọi là "quân Tàu ô" do tính ô hợp của chúng tràn vào phía bắc vĩ tuyến 20 dưới chiêu bài giải giáp quân Nhật mưu toan "diệt Cộng, cầm Hồ", ở phía Nam quân Pháp núp sau quân Anh với âm mưu chuẩn bị gây chiến hòng chiếm nước ta một lần nữa. Bên cạnh đó còn đủ loại các lực lượng phản động thuộc các đảng phái chính trị như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng... Ngày 23-9-1945, tiếng súng Nam Bộ kháng chiến bùng nổ. Chính quyền nhân dân vừa mới thành lập đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, tình thế đất nước "ngàn cân treo sợi tóc". Với tinh thần dù hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đứng lên chiến đấu anh dũng dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã chiến thắng giặc đói, giặc dốt, giặc ngoài thù trong, đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo. Năm 1946 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son đáng ghi nhớ. Để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tiến hành thương lượng với Chính phủ Pháp đi đến ký hai văn kiện quan trọng: Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 nhằm đẩy nhanh quân Tưởng về nước; Tạm ước ngày 14-9-1946 nhằm tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến toàn quốc mà ta dự đoán chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới. Vì chúng quyết tâm giành lại quyền thống trị ở Việt Nam và toàn bộ Đông Dương với bất cứ giá nào. Đêm 19-12-1946, tiếng súng đại bác của ta từ pháo đài Láng đã nổ vang rền, mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Nguồn gốc sâu xa, nguyên nhân trực tiếp và diễn biến của sự kiện 19-12-1946 ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu lịch sử trong nước và nhiều người trong giới sử học nước ngoài dày công nghiên cứu, tìm hiểu trong suốt mấy chục năm qua và đã cho ra đời nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu, sách báo, tư liệu... xoay quanh chủ đề này. Cuốn sách Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? của Stein Tonnesson, nhà sử gia nổi tiếng người Nauy, nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo, là một trong những tác phẩm đó. Với mong muốn cung cấp thêm những tư liệu của một nhà nghiên cứu sử học phương Tây về cuộc thương thuyết Việt - Pháp với bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và quá trình dẫn đến sự kiện ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, qua đó giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật cho ra mắt bạn đọc cuốn sách này qua bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Để viết cuốn sách này, Stein Tonnesson sưu tầm, sử dụng nguồn tài liệu chủ yếu được khai thác từ các kho lưu trữ của các nước phương Tây, kết hợp với tư liệu của Pháp và Việt Nam, để dựng lại bức tranh khá chi tiết mô tả các diễn biến của mối quan hệ Việt - Pháp - Hoa trong suốt 16 tháng (8-1945 - 12-1946), trong đó có hai sự kiện quan trọng nổi bật là Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và ngày 19-12-1946 lịch sử. Dựa trên nguồn tư liệu do cá nhân nghiên cứu và khai thác được, Stein Tonnesson đã phác họa một bức tranh khởi điểm chiến tranh Đông Dương rất phức tạp và đầy kịch tính. Trong nội dung sách, xuất phát từ chỗ đứng và lập trường của mình, tác giả có những luận giải, đánh giá về một số sự kiện, nhân vật khác với đánh giá của chúng ta, như chủ trương giải tán Đảng cuối năm 1945, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và một số nhà lãnh đạo Việt Nam (Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp,...) trong những năm 1945-1946; vai trò của Quốc dân Đảng trong diễn tiến của lịch sử Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, sự kiện quân đội Việt Nam nổ súng vào đêm 19-12-1946... Ngoài ra còn có một số tư liệu, thời gian tác giả đưa ra không khớp với tư liệu chúng ta hiện có. Tôn trọng chính kiến của tác giả và để bạn đọc thuận tiện nghiên cứu, tham khảo, chúng tôi cố gắng giữ nguyên luận chứng của tác giả và chỉ lược bớt một số đoạn cần thiết, đồng thời khẳng định rằng các luận chứng đó không phản ánh quan điểm của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 9 năm 2013 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:41:58 pm » |
|
LỜI TỰA CỦA CÁC BIÊN TẬP VIÊN LOẠT SÁCH Các nhà sử học đã viết vô số sách tiếng Anh về những sự kiện đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đầu thập niên 1960 và còn nhiều cuốn sách hơn nữa viết về Việt Nam đang xuất hiện. Có điều thật lạ là không nhiều học giả nghiên cứu về sự bùng nổ của cuộc chiến tranh đầu tiên ở Đông Dương những năm 1945- 1946 giữa Pháp và Việt Nam, bất chấp việc cả hai cuộc chiến này hợp lại thành một trong những cuộc chiến tranh dài nhất, quan trọng nhất và tàn khốc nhất trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Chính vì vậy, nghiên cứu sâu của Stein Tonnesson về chủ đề này có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? trình bày chi tiết, sắp xếp lại các sự kiện, các quyết định và con người đã đưa nước Pháp vào cuộc chiến tranh đầu tiên trong số hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài chống lại nước Pháp. Ngay từ năm 1952, nhà nghiên cứu người Pháp là Philippe Devillers đã có ý nghĩ rằng giải thích chính thức của Pháp về lý do bùng nổ chiến tranh, đổ lỗi hoàn toàn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không đầy đủ và thuyết phục. Người Pháp, đặc biệt là các quan chức Pháp tại Đông Dương cũng phải chịu trách nhiệm về việc này. Lập luận của Devillers căn cứ vào nghiên cứu về Việt Nam trong những năm 1945-1946, qua các cuộc phỏng vấn với nhiều người Pháp và người Việt Nam nắm giữ những vị trí ra quyết định và nhờ tiếp cận được với những tài liệu nội bộ tại Paris. Hầu như không ai khuấy lên vấn đề này cho tới thập niên 1980. Cùng với việc mở các hồ sơ liên quan tại các kho lưu trữ ở Pháp, Anh và Mỹ, Stein Tonnesson không những có thể khẳng định nhiều kết luận của Devillers mà ông còn đi xa hơn nữa* (Devillers đã xuất bản một số sưu tập các tài liệu nội bộ chứng minh (theo quan điểm của ông) trách nhiệm của Pháp về sự bùng nổ cuộc chiến tranh. Philippe Deviilers: Paris - Saigon - Hanoi: les archives de guerre 1944-1947 (Paris: Gallimard/Julliard, 1988). Trong quá trình nghiên cứu trải dài hơn hai thập niên, Tonnesson đã nghiên cứu tỉ mỉ một lượng tài liệu lưu trữ đồ sộ về khởi điểm chiến tranh cất giữ tại Ban Lịch sử quốc phòng, Bộ Ngoại giao, và đặc biệt là ở Trung tâm lưu trữ hải ngoại, ông cũng nghiên cứu, tuy với khối lượng hạn chế hơn, các tài liệu lưu trữ tại Hà Nội và sử dụng nhiều nguồn tài liệu nguyên thủy cũng như nguồn kể lại của Việt Nam. Nhờ đó, ông đã xuất bản một tác phẩm có tính chất tiên phong, uyên bác và chứa lượng thông tin lớn dựa trên những nghiên cứu của mình, cả bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Căn cứ vào những tài liệu mới được tiết lộ ở một số nước, Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? thể hiện một nghiên cứu độc đáo và xuất sắc khó sánh kịp về khởi thủy của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất** (Theo cách nói của các học giả phương Tây (BT)), cuộc chiến tranh dọn đường cho chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Tonnesson phơi bày thái độ của các nhà chức trách Pháp tại Đông Dương quyết tâm chà đạp lên chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ chối đề nghị đàm phán và cố tình dồn Việt Nam vào chân tường, nếu không nói là dồn vào bẫy. Ý đồ đen tối của họ là muốn phía Việt Nam nổi giận, tạo cho giới chức Pháp tại Đông Dương cái cớ mà họ cần để kéo nước Pháp vào chiến tranh. Ngày 19 tháng Mười hai 1946, họ đã được thỏa mãn: phía Việt Nam tấn công. Nhiều câu hỏi quan trọng liên quan đến quá trình ra quyết định của phía Việt Nam trong thời gian máy tuần trước thêm chiến tranh còn chưa có lời đáp. Lời đáp cho những câu hỏi đó phụ thuộc vào những tài liệu lưu trữ còn đang bị khóa chặt. Mặc dù vậy, trong lúc này, Tonnesson đã cung cấp cho chúng ta tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về những điều xảy ra trong khoảng thời gian 10 tháng bấp bênh từ tháng Hai đến tháng Mười hai 1946. Cuốn sách này sẽ rất có ích cho những độc giả quan tâm đến các chủ đề: Việt Nam, Pháp, quốc tế, thuộc địa, hậu thuộc địa, giải phóng thuộc địa và chiến tranh ở Việt Nam. Dù sao đi chăng nữa, khởi điểm của chiến tranh năm 1946 chẳng qua là sự biến đổi "từ Đông Dương thành Việt Nam", từ một lãnh thổ thuộc địa thành một quốc gia có chủ quyền. Cuộc chiến đẫm máu và lâu dài bắt đầu tháng Mười hai năm đó ngay từ đầu đã có tầm cỡ toàn cầu, lôi kéo các cường quốc cùng như những tác nhân trong khu vực. Không như tất cả những cuốn sách khác từng được biết đến Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào? cho thấy cuộc chiến đó đã được thai nghén và ra đời như thế nào. Christopher Goscha, Đại học Québec ở Montréal Fredrik Logevall, Đại học Cornell
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:42:52 pm » |
|
LỜI TỰA Trong một bài phát biểu đáng nhớ tại Đại học Johns Hopkins tháng Tư 1965, Thượng nghị sĩ Mỹ J. William Fulbright bày tỏ sự phản đối đối với điều mà ông gọi là "chứng vĩ cuồng" nguy hiểm mới xuất hiện trong chính quyền Johnson. Vào thời điểm đó, Tổng thống Lyndon B. Johnson vừa mới bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam với hy vọng khiến chính quyền miền Bắc từ bỏ cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Việt Nam. Hành động của Pháp năm 1946 cũng gần giống như vậy, khi lần đầu tiên nước Pháp thực dân phải đối phó với phong trào "phi thực dân hóa", và cuốn sách viết về hành động của Pháp năm 1946 cũng có thể đặt tên là "Chứng vĩ cuồng". Tháng Tám 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, tiếp theo việc Mỹ lấy lại Philippin và Anh lấy lại Miến Điện (nay là Mianma). Chính phủ Pháp ngay lập tức tính đến chuyện tái lập chủ quyền của Pháp trên toàn cõi Đông Dương, một vùng đất bị Nhật Bản chiếm trước đó sáu tháng. Cả Anh, Trùng Khánh (Trung Quốc) và Mỹ lúc đó đều không phản đối yêu sách này của Pháp. Để thể hiện sự thiết lập chủ quyền, Pháp bổ nhiệm Tướng Philippe Leclerc là người đứng đầu lực lượng viễn chinh Pháp và Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu là Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Còn làm gì tiếp với Đông Dương thì Pháp sẽ tính sau. Ngày 11 tháng Ba 1945, ngay khi còn dưới ách đô hộ của Nhật Bản, Việt Nam đã "tái khẳng định quyền được độc lập" của mình. Cùng ngày Nhật đầu hàng, ngày 2 tháng Chín 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trước một cuộc mít tinh lớn tại Hà Nội rằng "Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập" và "quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"* (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr. 3), mặc dù cần phải để Trung Quốc và Anh vào Việt Nam trong vài tuần để đưa quân Nhật về nước. Trong một bức thư cảm động ngày 20 tháng Tám, hoàng đế Việt Nam là Bảo Đại đã cảnh báo nhà lãnh đạo Pháp Charles de Gaulle: "Xin ngài hiểu cho rằng phương tiện duy nhất để giữ gìn lợi ích của nước Pháp và ảnh hưởng tinh thần của Pháp ở Đông Dương là công nhận hoàn toàn nền độc lập của Việt Nam và từ bỏ ý tưởng lập lại chủ quyền của Pháp hay chế độ cai trị của Pháp ở đây dưới bất kỳ hình thức nào... Sẽ không ai tuân lệnh cho dù ngài có đặt được bộ máy cai trị của Pháp ở đây, và mỗi ngôi làng sẽ trở thành một thành lũy kháng chiến... Chúng ta có thể hiểu nhau dễ dàng biết bao và trở thành bạn bè, chỉ cần ngài ngừng nuôi hy vọng trở thành ông chủ của chúng tôi một lần nữa". Lời cảnh báo này rơi tõm vào khoảng không. Pháp đã trở lại và trong vòng ba tháng, với sự giúp đỡ của Anh, Pháp đã chiếm lại miền Nam Việt Nam. Nhưng Pháp định làm gì để lấy lại miền Bắc, trong khi miền Bắc vẫn còn nằm trong vòng kiểm soát của quân Tàu Tưởng? Với hy vọng quân Tưởng sẽ nhanh chóng rút lui, Pháp chuẩn bị cho "Chiến dịch Bến Tre" - đây là chủ đề mà Stein Tonnesson yêu thích. Mặc dù vậy, với kinh nghiệm chiến tranh du kích ở Nam Kỳ, Tướng Leclerc cho rằng chỉ cần trình diễn một chút sức mạnh là đủ. Ông ta toan tính cho quân đổ bộ vào Hải Phòng trong khi Jean Sainteny với tư cách Ủy viên Cộng hòa Pháp sẽ gợi ý Hồ Chí Minh "đầu hàng trong hòa bình". Canh bạc của Leclerc thất bại. Quân Tưởng chùng chình không chịu rút, giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh khỏi phải lựa chọn giữa đầu hàng hay rút về miền núi. Việc này cũng mở đường cho một thỏa hiệp lẽ ra có thể đưa đến qua trình phi thực dân hóa một cách hòa bình ở Việt Nam. Câu chuyện này được Stein Tonnesson kể lại và diễn giải trong phần đầu của cuốn sách. Giới chức Pháp không chấp nhận thất bại nhẹ nhàng này. Họ muốn nền cộng hòa của Hồ Chí Minh tiếp tục lệ thuộc về kinh tế và chính trị vào nước Pháp và đặc biệt là họ cho rằng sự thống nhất của Việt Nam dưới chế độ cộng sản là không thể chấp nhận được. Với hy vọng thuyết phục Hồ Chí Minh từ bỏ Nam Kỳ, d'Argenlieu đề nghị thành lập một Liên bang Đông Dương gồm bốn nước, nhằm mục đích giữ chân chính quyền Hồ Chí Minh ở miền Bắc và chỉ đợi quân Tưởng rút là xóa sổ chính quyền này. Nhưng nhờ Hiệp định sơ bộ ký giữa Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng Chín, quân du kích lại giành được quyền kiểm soát mạnh mẽ vùng nông thôn, làng mạc Nam Kỳ. Trước nguy cơ Sài Gòn sụp đổ, d'Argenlieu quyết định tấn công miền Bắc, trung tâm quyền lực của Việt Minh. Nhưng ông ta phải hành động khẩn trương. Cũng như các tướng lĩnh của mình, d'Argenlieu tin rằng họ sẽ thắng miền Bắc trong vòng hai tháng. Hai mươi năm sau, một kịch bản tương tự lại diễn ra. Trước tình hình khủng hoảng chính trị tại Sài Gòn, và nhất quyết không chịu để miền Nam vào tay cộng sản, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định ném bom miền Bắc vào tháng Ba 1965. Khi đó tôi đang ở Massachusetts. Trên máy bay, tôi nghe thấy ai đó nói với bạn mình rằng: "Chỉ trong vòng sáu tuần là Hà Nội sẽ quỳ gối xin hàng!". Lần lượt Pháp và Mỹ dấn sâu vào chiến tranh ở Việt Nam với niềm tin vào một chiến thắng nhanh chóng, nhưng cuối cùng thì cả hai đều thua trận, sau khi hàng triệu nam giới, phụ nữ và trẻ em đã thiệt mạng. Lời cảnh báo của Bảo Đại đối với de Gaulle đã trở thành một điều tiên tri. Một bí mật quan trọng mà cuốn sách này tiết lộ là sự thất bại của hệ thống tình báo. Hầu hết báo cáo của Phòng Nhì Pháp (tình báo quân đội) và các cơ quan khác đều chính xác về tổ chức, nhân sự, và thậm chí cả các nguồn lực của Việt Minh. Tuy nhiên, họ không bao giờ hiểu được bản chất và chiều sâu của lòng ái quốc cũng như quyết tâm của nhân dân Việt Nam. Cuốn sách của Stein Tonnesson là kết quả của nhiều năm dày công nghiên cứu, tìm tòi trong các tài liệu lưu trữ của Pháp, Anh và Mỹ, cũng như những cuộc phỏng vấn người trong cuộc còn sống, đã khẳng định chắc chắn trách nhiệm của Pháp trong những sự kiện thảm khốc này. Tôi gặp Stein Tonnesson lần đầu tiên 27 năm trước đây, và tôi vui mừng là tôi đã giúp ông tìm ra con đường của mình trong mê cung này. Stein Tonnesson đã cho ra đời một kết quả nghiên cứu xuất sắc. Ông đã giành được sự ngưỡng mộ của tôi nhờ khả năng giải mã những tình huống phức tạp và rút ra ý nghĩa của hàng ngàn trang tài liệu lưu trữ, rồi diễn đạt điều đó một cách giản dị, trong sáng. Đây là một câu chuyện hồi hộp đến nghẹt thở. Chúc độc giả chia sẻ cảm giác hồi hộp đó. Philippe Devillers Paris, ngày 19 tháng Mười hai 2008
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:43:57 pm » |
|
LỜI CẢM ƠN Cuốn sách này hình thành theo ba giai đoạn. Ban đầu tôi viết một luận án thạc sĩ ở Đại học Oslo năm 1981-1982 và xuất bản nó dưới dạng một báo cáo cho Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo năm 1984. Tôi xin cảm ơn những người đã đưa tôi đến với tư duy lịch sử và cách làm việc với tài liệu lưu trữ: thầy hướng dẫn của tôi ở Đại học Oslo là Helge O. Pharo; thầy hướng dẫn của tôi tại Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế là Marek Thee quá cố; David G. Marr, người đã cư xử với tôi y như tôi đã là một nhà nghiên cứu có tiếng tăm khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên trong kho lưu trữ thuộc địa của Pháp; Alain Ruscio và Odette Vilmont, là người tôi có thể thảo luận bất kỳ một chi tiết nào về các sự kiện năm 1946; và trên hết là Philippe Devillers, người đã tiếp tôi tại Paris tháng Mười 1981, điểm lại cho tôi những kinh nghiệm và nghiên cứu của ông về giai đoạn 1945-1946 và hướng tôi đi đúng đường trong mớ tài liệu lưu trữ. Cả ông, Marr và tôi đều không thể thực hiện nghiên cứu của mình nếu thiếu sự giúp đỡ của các nhân viên lưu trữ. Những người bạn tốt của tôi trong số các nhân viên lưu trữ đã cho tôi sự giúp đỡ vô cùng quý báu trong cả giai đoạn đầu cũng như giai đoạn sau của nghiên cứu. Rất tự nhiên, tôi chọn Lucette Vachier ở Trung tâm lưu trữ hải ngoại tại Aix-en-Provence để cảm ơn đại diện cho tất cả các nhân viên lưu trữ ở đó. Giai đoạn thứ hai, tôi viết một cuốn sách bằng tiếng Pháp trên cơ sở luận văn thạc sĩ của mình, cuốn sách này được Nhà xuất bản l'Harmattan xuất bản tại Paris năm 1947 dưới cái tên Déclenchement de la guerre d'Indochine: Les vepres tonkinoises du 19 décembre 1946 (Khởi đầu chiến tranh Đông Dương: Tiếng chuông chiều Bắc Kỳ ngày 19 tháng Mười hai 1946). Trong giai đoạn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ của Bruno Metz, là người không chỉ dịch bản thảo của tôi từ tiếng Anh sang tiếng Pháp mà còn đóng góp cho tôi những gợi ý xác đáng về nội dung và lập luận, cũng như sự giúp đỡ của biên tập viên của tôi, Alain Forest, người đã công phu tổ chức lại cuốn sách này và làm cho nó dễ đọc hơn. Tôi cũng xin cảm ơn Hội đồng nghiên cứu Nauy đã hỗ trợ tôi cũng như việc xuất bản cuốn sách; cảm ơn Học viện nghiên cứu quốc phòng Oslo, cơ quan tôi làm việc vào thời gian đó. Xin cảm ơn Huỳnh Kim Khanh quá cố, người đã kết nối tôi với Nhà xuất bản l'Harmattan sau khi thảo luận với Pierre Brocheux và Daniel Hémery ở Đại học Paris VII tại Jussieu; cảm ơn Denis Pryen ở Nhà xuất bản l'Harmattan, người đã dễ dàng cho phép tôi xuất bản một phiên bản tiếng Anh mới, cập nhật hơn của cuốn sách mà nhà xuất bản này đã xuất bản năm 1987. Giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của quá trình hình thành cuốn sách này, tôi có một khoảng thời gian dài làm việc về những chủ đề khác như cách mạng Việt Nam năm 1945, sự hình thành các quốc gia ở Đông Nam Á trong hai thập niên 1940 và 1950, và lịch sử tranh chấp Biển Đông. Năm 1989, tôi đến thăm Việt Nam lần đầu tiên và được tiếp đón rất trọng thị tại Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Sử học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam và Khoa sử - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đặc biệt, tôi muốn cảm ơn các bạn của tôi ở Học viện Quan hệ quốc tế, nhất là Lưu Đoàn Huynh, Nguyễn Vũ Tùng, Dương Quốc Thanh và Hoàng Anh Tuấn, những người luôn luôn sẵn sàng tiếp đón và giúp đỡ tôi. Từ sau năm 1989, tôi còn đến Việt Nam nhiều lần nữa và có nhiều cơ hội thảo luận kết quả nghiên cứu về những câu hỏi về khởi điểm của chiến tranh Đông Dương năm 1946 với các nhà nghiên cứu sử quân đội, ngoại giao và chính trị, trong đó có Bùi Đình Thanh, Dương Kinh Quốc, Trịnh Đào Hùng, Dương Trung Quốc và đặc biệt là Đinh Xuân Lâm, người đã dành thời gian dịch cuốn sách tiếng Pháp của tôi sang tiếng Việt trong khi chính ông đang rất bận rộn với nghiên cứu về Việt Nam thế kỷ XIX. Tôi cũng đã có hân hạnh được kết bạn và thảo luận về lịch sử Việt Nam với các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam được quốc tế công nhận như Pierre Brocheux, Laurent Césari, William J. Duiker, Charles Fourniau, Lloyd Gardner, Daniel Hémery, Gary Hess, Robert J. McMahon, Irene Norlund, Phan Huy Lê, Alain Ruscio, Masaya Shiraishi, Anthony Short, Hugues Tertrais, Ralph B. Smith quá cố, Judith Stowe, Martin Stuart-Fox và Marilyn Young, cũng như có cơ hội tham gia hai cuộc hội thảo Việt - Mỹ, tại đây một nhóm người trong đó có cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara thảo luận về bi kịch Việt Nam và những bài học với các nhà ngoại giao và sĩ quan Việt Nam. Trở lại năm 1982, David Marr, Alain Ruscio, Odette Vilmont và tôi là các nhà sử học nghiên cứu hồ sơ về Đông Dương thuộc Pháp, trong khi phòng đọc tài liệu lưu trữ về thuộc địa có đông đảo các nhà nghiên cứu về Bắc Phi nghiên cứu lịch sử của chính nước họ. Chúng tôi tập trung vào các thế giới khác nhau. Vào giờ giải lao, tôi nói rất nhiều về vị quan chức thuộc địa Pháp Léon Pignon tới mức một người Pháp nghiên cứu về Bắc Phi, Olivier Vergniot gọi tôi là "Pignon bé con" (Little Kernel). Thập niên 1990, không khí nghiên cứu giảm sút, các nhà nghiên cứu về Bắc Phi giảm dần ở các phòng đọc. Tôi nhớ họ, nhưng tôi vui mừng thấy một thế hệ mới các nhà nghiên cứu sử Việt Nam từ nhiều nước lại lấp đầy các phòng đọc và hội thảo khoa học, họ viết ra những bài viết, luận án, sách báo tuyệt vời. Họ là Mark Bradley, Robert Brigham, Chen Jian, Anne Foster, Ilya Gaiduk, Gilles do Gantes Christopher Giebel, Christopher E. Goscha, François Guillemot, Andrew Hardy. Eric Jennings, Pierre Journoux, Vladimir Kolotov, Agathe Larcher. Phillippe LeFailler, Lin Hua, Fred IiOgevall, Shawn McHale, Nguyễn Văn Kỳ, Man Olsen, Qiang Zhai, Sophie Quinn-Judge, Martin Shipway, Martin Thomas, Frédéric Turpin, Claire Trần Thị Liên, Benoit de Tréglodé, Daniel Varga và Peter Zinoman. Đây là tôi chỉ liệt kê một số người ở đây. Tháng Hai 2008, Claire Trần Thị Liên tổ chức một hội thảo ở Paris về Việt Nam năm 1946, mời Philippe Devillers và tôi làm diễn giả. Nếu cần nêu đặc biệt tên ai đó trong số những người trẻ tuổi, tôi xin nhắc đến Frédéric Turpin. Đó là một trong những nhà sử học về Việt Nam mà tôi chưa từng gặp mặt, nhưng tôi hết sức ngưỡng mộ 666 trang cuốn De Gaulle, les gaullistes et l'Indochine, 1940-1956 (De Gaulle, những người gôlít và Đông Dương, 1940-1956) do Nhà xuất bản Les Indes savantes xuất bản tại Paris năm 2005. Năm 2001, tôi trở thành Giám đốc Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Oslo, nơi tôi làm việc khi còn là sinh viên đại học những năm 1981-1982 và làm nghiên cứu sinh những năm 1988-1991. Khi Chris Goscha và Fred Logevall liên lạc với tôi năm 2005 để hỏi liệu tôi có muốn viết một cuốn sách mới cho Nhà xuất bản Đại học California dựa trên cơ sở báo cáo năm 1984 và cuốn sách tiếng Pháp năm 1987 của tôi hay không. Thoạt đầu tôi nghĩ rằng không thể nào sắp xếp để làm điều đó mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ của tôi ở Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế, nhưng Phó Giám đốc Viện là Kristian Berg Harpviken đã đồng ý lãnh đạo Viện trong thời gian công việc của tôi căng thẳng nhất, đồng thời Chris Goscha và Fred Logevall khuyến khích tôi và cho tôi những lời khuyên bổ ích, nhờ đó tôi đã cố gắng vượi qua giai đoạn 3 của việc viết cuốn sách này, kết hợp hai bản thảo ban đầu, dịch ngược từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, bổ sung một chương dựa trên một bài báo về thỏa thuận ngày 6 tháng Ba 1946 mà tôi đã đăng, bổ sung các thông tin mà các đồng nghiệp của tôi đã xuất bản từ sau thập niên 1980, viết Lời giới thiệu và Kết luận hoàn toàn mới. Trong giai đoạn 3 này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trên hết đối với Chris và Fred, nhưng tôi cũng biết ơn không kém đối với Philippe Devillers và David Marr, những người đã đọc và bình luận bản thảo của tôi. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ông Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội, ông Triệu Văn Hiển, Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và ông Phạm Quốc Quân, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử, vì đã cung cấp cho tôi những bằng chứng mới vào mùa hè năm 2007, đã cho phép tôi sử dụng tài liệu của họ và cho phép tôi sao chụp lại một số hiện vật trưng bày để dùng làm hình ảnh minh họa. Tôi xin cảm ơn một người họ hàng của tôi là Tor Fuglevik đã chụp ảnh bức tranh được dùng để làm trang bìa của cuốn sách này, cảm ơn Trần Kiều, một nhân vật lãnh đạo trong số Việt kiều tại Nauy cũng như người bạn của tôi là Hà Hoàng Hợp ở Hà Nội, cả hai người đã giúp tôi đọc một số văn bản quan trọng bằng tiếng Việt và cho tôi những lời khuyên bổ ích. Hai nguồn tài liệu quan trọng về quá trình ra quyết định của phía Việt Nam trong các cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuốn hồi ký gần đây nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một cuốn tiểu sử mới về cuộc đời Tướng Giáp của nhà sử học Việt Nam Trần Trọng Trung. Tôi trân trọng cảm ơn ông Trần Trọng Trung về những cuộc thảo luận với ông trước đây, cảm ơn Tướng Giáp vì đã dành thời gian đọc tác phẩm của Devillers và của tôi; vì đã dũng cảm đập lại những chất vấn của chúng tôi trong một vài cuộc phỏng vấn và sau này là trong hồi ký của ông; vì đã thẳng thừng nói với tôi vào ngày 18 tháng Chín 1992 rằng "chúng tôi" tự quyết định ngày 19 tháng Mười hai 1946; vì đã cho phép tôi tham dự buổi hội thảo mà tại đó, ngày 23 tháng Sáu 1997, ông bác bỏ ý kiến của Robert McNamara là cả hai bên, chứ không chỉ một mình người Mỹ, đã phạm sai lầm trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam; và cảm ơn ông vì đã tiếp tôi tại nhà của ông vào ngày 20 tháng Mười hai 2005 để bày tỏ ước nguyện hòa bình của một "lão chiến binh".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:51:43 pm » |
|
LỜI GIỚI THIỆU Giữa trận chiến, trong mắt của những con người căm ghét nhau chỉ có kẻ thù là nguyên nhân duy nhất của mọi đau khổ họ phải chịu; nhưng mãi về sau, khi cơn giận dữ đã cạn đi, nỗi căm hờn đã lắng xuống, nhà sử học thường nhận ra rằng mỗi bên trong cuộc chiến chỉ đúng có một nửa, mà một bên thì có lẻ đã quá cứng rắn, trong khi bên kia thì dường như quá kiêu ngạo. Sâu xa hơn nữa, nhà sử học phát hiện ra rằng điều đưa con người ta đến chỗ đối chọi nhau ghê gớm đến thế chỉ là một sai lầm, mà sai lầm tai hại đó đáng lẽ đã có thế tránh được. Herbert Butterfield: Lịch sử quan hệ con người Butterfield gọi hiện tượng này là "yếu tố bi thảm trong xung đột của loài người" và cho rằng lịch sử của tất cả các cuộc xung đột đều đi theo cấu trúc này nếu sau một thời gian người ta nhìn nhận, đánh giá và sắp xếp lại các sự kiện 1. Chiến tranh tàn phá Việt Nam trong hơn 40 năm liền. Không một nước nào khác phải chịu thương vong nhiều đến thế kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong vòng năm tháng đầu năm 1945, phần vì máy bay Đồng minh ném bom làm gián đoạn giao thông vận tải, phần vì Nhật Bản và Pháp không ưu tiên vận tải gạo, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 1 triệu người ở miền Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam 2. Đây là thảm họa đầu tiên trong hàng loạt thảm họa nhân tạo xảy ra sau đó. Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, từ năm 1945 tới 1954, khoảng 365.000 người đã bị giết, trong đó phía Pháp mất 40.000 người, phía chống Pháp mất 200.000 người và 125.000 người là dân thường, chưa kể những người gián tiếp thiệt mạng vì chiến tranh 3. Từ thời điểm Hiệp định Giơnevơ năm 1954 chia cắt Việt Nam thành hai miền cho tới khi chiến tranh giữa hai miền bắt đầu năm 1959, hàng vạn người đã bị giết ở miền Bắc trong cải cách ruộng đất (1954-1956) và ở miền Nam do chính sách đàn áp cộng sản, tội phạm và giáo phái tôn giáo, cũng như trong cuộc chiến giành quyền kiểm soát Lào. Còn có nhiều ý kiến khác nhau về con số thương vong trong chiến tranh ở Việt Nam (1959-1975). Thường người ta cho rằng con sô này bị phóng đại, nhưng tất cả mọi người đều nhất trí rằng số thương vong lớn tới mức bất ngờ. Theo một nghiên cứu chi tiết về thương vong từng năm của Micheal Clodfelter và nhiều nguồn khác, Bethany Lacina ước tính miền Bắc Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam mất tới hơn 1 triệu quân. Miền Nam mất khoảng 250.000 quân, 46.122 lính Mỹ bỏ mạng trên chiến trường trong tổng số nạn nhân Mỹ là 58.153 người, và các nước khác trên cùng chiến tuyến với miền Nam Việt Nam mất hơn 5.000 người trong chiến tranh. Ngoài ra, chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của khoảng 65.000 dân thường miền Bắc Việt Nam và 650.000 dân thường miền Nam Việt Nam. Con số người chết vì chiến tranh lên tới hơn 2 triệu người, nhiều hơn bất kỳ một cuộc chiến tranh nào khác kể từ năm 1945 4. Nếu kể cả thương vong trên các chiến trường Lào và Campuchia với số người thiệt mạng ở mỗi nước xấp xỉ bằng nhau thì phải tính thêm tổng cộng khoảng nửa triệu người chết. Chỉ vẻn vẹn có ba năm sau khi chiến tranh ở Việt Nam kết thúc và hai miền Nam - Bắc thống nhất, Việt Nam lại một lần nữa rơi vào xung đột vũ trang, lần này là với quân Khơme đỏ. Việt Nam tiến vào Campuchia những ngày cuối năm 1978 rồi hành động ở biên giới phía Bắc Việt Nam từ tháng Hai đến tháng Ba 1979. Trong 10 năm tiếp theo, thế cờ đã đảo ngược: Việt Nam tiến hành truy quét quân Khơme đỏ phản động ở Campuchia, trong khi Thái Lan, Mỹ... cung cấp vũ khí, chỗ ẩn náu và các hình thức hỗ trợ khác cho Khơme đỏ. Trong bối cảnh đó, người ta cho rằng xung đột vũ trang ở Campuchia từ năm 1979 đến 1989 đã cướp đi ít nhất 150.000 sinh mạng và khoảng 80.000 dân thường thiệt mạng vì mìn, những quả mìn rải rác ngày nay vẫn tiếp tục làm hoen ố cảnh vật bình yên của Campuchia, sát hại hoặc gây tàn tật nhiều trẻ em. Thế nhưng tấn thảm kịch của cuộc chiến tranh này (1978-1989) bị che lấp bởi vụ diệt chủng mà Khơme đỏ gây ra trước đó, vụ diệt chủng đã cướp đi sinh mạng của khoảng hơn 2 triệu người trên tổng số 7-8 triệu dân. Cuối cùng, Chiến tranh lạnh kết thúc đã đem lại hòa bình cho Đông Dương. Năm 1989, quân Việt Nam rút khỏi Campuchia và Hiệp định Paris về Campuchia được ký năm 1991. Bốn năm sau, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ và đồng thời gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), một tổ chức được thành lập năm 1967 với mục đích có phần là ngăn cản sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Tính tới năm 2009, Việt Nam đã ra khỏi chiến tranh được 20 năm. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao, văn hóa, thương mại với tất cả các nước láng giềng và các nước đối địch trước đây, thậm chí đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hai thập niên hòa bình vừa qua đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của đa số dân trong tổng số hơn 85 triệu người Việt ở Việt Nam và ngày càng đẩy mạnh hoạt động trao đổi giữa người Việt ở Việt Nam với 2,5 triệu người Việt ở nước ngoài 5. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài bao gồm nhiều người có nguồn lực đáng kể đã rời Việt Nam trong hoặc sau thời gian chiến tranh cùng con cháu họ. Người Việt ở hải ngoại, hay còn gọi là Việt kiều, giờ đây là một nguồn vốn và kỹ năng vô giá rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam. Cũng chính vì muốn làm sáng tở những điều đã châm ngòi chiến tranh ở Việt Nnm, chúng tôi thấy cần phải làm sáng tỏ tính chất của nền hòa bình ở Việt Nam từ năm 1989 tới nay.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:54:45 pm » |
|
Liệu chuỗi chiến tranh liên tiếp ở Việt Nam có một điểm bắt đầu hay không? Anthony Short đặt câu hỏi này trong cuốn The Origins of the Vietnam War (Nguồn gốc chiến tranh ở Việt Nam) được ông viết năm 1989, đúng vào thời điểm cuộc chiến tranh cuối cùng đi vào giai đoạn kết thúc. Ông điểm lại lịch sử bắt đầu từ việc Pháp đặt chế độ thực dân ở Việt Nam (1858-1885) và phân tích bản chất chế độ cai trị thực dân của Pháp dựa trên nền tảng là trồng cây cao su, lao động cưỡng bức, buôn bán thuốc phiện và thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước, song song với việc xây dựng các cơ sở hiện đại, đường bộ và đường sắt kết nối các vùng của Đông Dương. Short khẳng định rằng "có lẽ đầu tiên phải tìm kiếm nguồn gốc chiến tranh trong mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam"6. Tiếp theo, ông mô tả bằng cách nào mà sự cai trị thực dân của Pháp tiếp tục được thực hiện trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng (1941-1945) và Nhật Bản đã tiến hành đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 như thế nào. Vụ đảo chính này dẫn đến một khoảng trống quyền lực, chính khoảng trống đó tạo ra thời cơ cho Việt Nam độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh) do nhà cộng sản dày dạn kinh nghiệm Hồ Chí Minh đứng đầu xây dựng một mạng lưới tổ chức rộng khắp trên toàn Đông Dương. Ngày 15 tháng Tám 1945, Nhật đầu hàng chính là tín hiệu kêu gọi tổng khởi nghĩa với lực lượng nòng cốt là những người cộng sản, đưa đến kết quả là sự khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc khởi nghĩa này nhanh chóng được biết đến với tên gọi "Cách mạng Tháng Tám". Thời khắc quan trọng nhất của Cách mạng Tháng Tám là ngày 2 tháng Chín 1945, thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trước đông đảo nhân dân tập trung tại Hà Nội. Ngày đó bây giờ là Quốc khánh của Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra hết sức nhanh chóng và tương đối hòa bình, mặc dù một số lãnh đạo bảo thủ theo phái Tờrốtxki đã bị loại bỏ.
Có thể lập luận rằng chuỗi chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu cùng với việc quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn tháng Chín và quyết định trao vũ khí cho tù binh chiến tranh của Pháp sau khi đưa họ ra khỏi trại tù binh của Nhật. Chớp thời cơ, ngày 23 tháng Chín 1945, những tù binh này tấn công lật đổ chính phủ cách mạng ở Sài Gòn. Vụ đảo chính châm ngòi cho cuộc thảm sát dân thường Pháp ngày 26 tháng Chín tại khu Cité Héraud. Trong số nạn nhân có Peter Dewey, con trai của một thượng nghị sĩ Mỹ nổi tiếng, người này trở thành người Mỹ đầu tiên thiệt mạng ở Việt Nam7. Sau đó, Pháp, Anh và Nhật tiến hành chiến dịch bình định, giết và tước vũ khí của các nhà cách mạng dân tộc ở Campuchia, miền Nam Việt Nam và Nam Lào. Sau giai đoạn ngắn bị xáo trộn, cộng sản nằm vùng và những người dân tộc chủ nghĩa khác đáp trả bằng chiến thuật du kích và ám sát nhằm gieo rắc kinh hoàng cho những kẻ hợp tác với Pháp. Không phải là không có cơ sở để cho rằng chiến dịch này là khởi điểm của "Ba mươi năm chiến tranh"8 ở Việt Nam, như ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn hồi ký gần đây của ông. Tuy nhiên, vào năm 1946, không có điều kiện, hoàn cảnh nào bắt buộc các bên phải lao vào một cuộc chiến tranh kéo dài đến như vậy. Ngày 6 tháng Ba 1946, nhằm tái lập sự hiện diện của Pháp ở Bắc Đông Dương lúc đó đang bị Trung Quốc chứ không phải là Anh chiếm đóng, Pháp đã ký một hiệp định sơ bộ với Hồ Chí Minh. Suốt chín tháng sau đó, các đại diện Đệ tứ Cộng hòa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cùng tồn tại. Quá nửa đêm 14 rạng sáng 15 tháng Chín, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký một bản tạm ước đề ngày 14 tháng Chín, có hiệu lực ngày 31 tháng Mười, trong đó có điều khoản ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Nhà sử học Pháp Alain Ruscio cùng kết luận rằng một chuỗi các vụ việc chứ không phải một sự kiện đơn lẻ đã châm ngòi cho chiến tranh:
Chúng ta hãy chú ý tới cả chuỗi các sự kiện chứ đừng chú ý tới một sự kiện đơn lẻ nào. Từ tháng Ba 1945 tới mùa hè năm 1947, các sự kiện xảy ra liên tiếp như một chuỗi các mắt xích, có sự kiện mang tính chất bước ngoặt, có sự kiện là hậu quả của sự kiện khác, nhưng hầu hết chúng (mà không phải tất cả) có tầm quan trọng gần như nhau. Lần theo những mắt xích này, chúng ta sẽ thấy chiến tranh đi từ chỗ ít có khả năng xảy ra đến chỗ đe dọa xảy ra, và cuối cùng trở nên không thể tránh khỏi. Gần nửa thế kỷ sau, mặc dù một vài sự kiện nào đó có vẻ nổi bật hơn các sự kiện khác, chúng ta vẫn phải nhìn tổng thể cả quá trình này9.
Trong cuốn sách này, xuất phát điểm của tôi là "chính sách thỏa hiệp" (politique d'accord) mà hai bên tìm cách áp dụng năm 1946 đáng lẽ có thể đem lại một kết quả tốt đẹp là ngăn chặn được chiến tranh, và cho tới tận ngày 19 tháng Mười hai 1946 vẫn còn có thể ngăn chặn chiến tranh. Do vậy, nguyên nhân trực tiếp gây ra các cuộc chiến tranh liên miên từ đó về sau không phải là do thực dân Pháp đã cai trị Đông Dương trong một thời gian dài, hay do Nhật đảo chính Pháp vào tháng Ba 1945, cũng không phải là do Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam hay thậm chí sự đàn áp dã man của Pháp và Anh trong giai đoạn 1945-1946 ở miền Nam. Nguyên nhân cũng không phải là mùa hè năm 1946, đàm phán Pháp - Việt đã thất bại, vả lại các cuộc đàm phán Pháp - Việt đã không hoàn toàn thất bại, mà hai bên đã đạt được một bản tạm ước. Đúng hơn, nguyên nhân trực tiếp của các cuộc chiến tranh Việt Nam là sự đổ vỡ trong quan hệ hợp tác Việt - Pháp trong khoảng thời gian tháng Mười một - Mười hai 1946 và hai bên đánh nhau trên đường phố Hà Nội trong vòng 2.003 giờ tính từ ngày 19 tháng Mười hai 1946. Đó là ngày chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ, khởi đầu cho chuỗi các cuộc chiến tranh liên tiếp gây ra những hậu quả bi thảm không chỉ cho người dân Việt Nam và các nước láng giềng, mà cả đối với Pháp, Mỹ và toàn thế giới.
Đây không phải là một cuốn sách lịch sử quân sự, mà là một nghiên cứu mang tính học thuật từ góc độ chính trị về nguyên nhân và hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc chiến tranh. Nó tìm câu trả lời cho hai câu hỏi: Tại sao chiến tranh không nổ ra vào ngày 6 tháng Ba 1946, ngược lại khủng hoảng nghiêm trọng lại được giải quyết bằng việc ký một hiệp định hòa bình? Và tại sao chiến tranh lại bùng nổ vào ngày 19 tháng Mười hai? Chương kết sẽ đề cập câu hỏi ai và bằng cách nào có thể tránh được chiến tranh. Phần tường thuật của cuốn sách kể lại giai đoạn từ tháng Hai 1946 tới tháng Giêng 1947 nhưng không đi sâu vào chi tiết những cuộc đàm phán kéo dài giữa Pháp và Việt Nam diễn ra từ tháng Tư đến tháng Năm ở Đà Lạt, một thành phố nhỏ ở cao nguyên Trung Bộ Việt Nam và ở Fontainebleau, miền Nam nước Pháp trong khoảng từ tháng Bảy đến tháng Chín. Thay vào đó, cuốn sách tập trung vào những cuộc khủng hoảng ngay trước và sau những cuộc đàm phán thất bại đó, trong đó một dẫn đến Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, một dẫn đến đổ máu để giành giật từng ngôi nhà, góc phố Hà Nội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:57:10 pm » |
|
Cuốn sách này lật lại hai kết luận mà người ta vẫn cho là đúng. Thứ nhất là nhiều người tin rằng Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba phản ánh việc phe cải cách tự do hoặc những người theo khuynh hướng thực dụng đang tạm thời chiếm ưu thế trong hàng ngũ lãnh đạo của Pháp, rằng chính những người này hiểu sự cần thiết phải nhân nhượng chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam về thỏa hiệp với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách này chỉ ra rằng ngay từ ngày 6 tháng Ba, Pháp đã chuẩn bị sẵn sàng để gây chiến với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rằng Pháp đã chơi một canh bạc lớn bằng việc đưa cả một đội quân xâm lược tới thành phố cảng Hải Phòng. Đây không chỉ là một màn trình diễn sức mạnh, mà còn là một phần của một cuộc hành quân đã được tính toán kỹ càng để giành quyền kiểm soát các trung tâm lớn ở miền Bắc, trong đó có Hà Nội. Tới cảng Hải Phòng sáng ngày 6 tháng Ba, hạm đội Pháp rơi ngay vào bẫy của quân Tưởng. Pháp chắc mẩm Tàu Tưởng sẽ giúp quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc theo Hiệp ước Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai, nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch đã lừa Pháp. Khi tàu chiến Pháp tiến đến gần cảng Hải Phòng, quân Tưởng đã sẵn sàng chống lại nếu Pháp tấn công và thực sự là đã bắn vào tàu Pháp. Đồng thời, họ ép cả Chính phủ Việt Nam và đoàn đàm phán của Pháp ở Hà Nội ký một thỏa hiệp nhân danh hai nước. Cả Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều không ở vị trí có thể công khai đối đầu với Tàu Tưởng, vì vậy dưới sức ép của Tàu Tưởng, họ đành phải đặt bút viết lên giấy trắng mực đen những điều thỏa hiệp mà cả hai bên đều hy vọng là về sau có thể giũ bỏ. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba là một nền hòa bình mong manh do Tàu Tưởng dựng lên.
Kết luận thứ hai được nhiều người công nhận là Việt Nam đã có chủ ý tính toán trước khi quyết định bất ngờ tấn công Pháp và làm bùng nổ chiến tranh ngày 19 tháng Mười hai. Việt Nam hoàn toàn không phủ nhận điều đó, mặc dù Việt Nam hành động như vậy là để đáp trả việc Pháp chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn vào tháng Mười một. Trong quá trình chiến tranh Đông Dương, một số nhà nghiên cứu nổi tiếng đã nhìn nhận lịch sử như vậy, tuy nhiên luôn luôn có một trường phái khác nhấn mạnh rằng Việt Nam đã bị khiêu khích và phỏng đoán rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không kiềm chế được sự phẫn nộ của các nhà lãnh đạo dưới quyền khác10. Gần đây, xu hướng cho rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về các vụ tấn công ngày 19 tháng Mười hai đã mạnh lên nhờ một số bài viết của các sử gia Việt Nam và của chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau khi để nhiều người đặt dấu hỏi suốt một thời gian dài về sự kiện ngày 19 tháng Mười hai, Tướng Giáp mới lên tiếng và tự hào tuyên bố rằng quả thật Việt Nam đã quyết định nổ súng đầu tiên11. Tướng Giáp khẳng định rất vững chắc cả trong cuốn hồi ký của ông và trong những lần trao đổi với tác giả cuốn sách này rằng ông - hay "chúng tôi", theo cách nói của ông - đã quyết định nổ súng đầu tiên: "Nếu chúng tôi đợi thêm thì Pháp có thể đã tấn công chúng tôi", ông nhận định như vậy năm 1992. "Nếu có bất kỳ sai lầm nào thì đó là chúng tôi đã đợi quá lâu".
Cuốn sách này lật lại kết luận của đa số về ngày 19 tháng Mười hai và chứng minh rằng ngày hôm đó đáng lẽ ra chiến tranh có thể tránh được. Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, mặc dù được ký dưới áp lực của Trung Quốc, đã tăng niềm tin và sức mạnh cho các nhà lãnh đạo Pháp và Việt Nam muốn tránh đổ máu và tránh cái giá về chính trị và tiền bạc cho một cuộc chiến tranh lâu dài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. Người đứng đầu Chính phủ Pháp vào thời điểm chiến tranh bùng nổ, cựu chiến binh Đảng Xã hội (SFIO) Léon Blum, cũng có khuynh hướng theo đuổi hòa bình, và Marius Moutet, Bộ trưởng Hải ngoại thuộc SFIO, người đã ký Tạm ước với Chủ tịch Hồ Chí Minh đêm 14 rạng ngày 15 tháng Chín, tiếp tục bảo vệ "chính sách thỏa hiệp" của ông ta. Những kẻ hiếu chiến chủ chốt, những người phải chịu trách nhiệm không phải chỉ đối với việc chiếm Hải Phòng vào tháng Mười một, mà cả đối với việc chiến tranh nổ ra ở Hà Nội là nhóm ba người, còn gọi là "Tam đầu chế" ở Sài Gòn, gồm Cao ủy, Đô đốc George Thierry d'Argenlieu, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương - Tướng Jean-Etienne Valluy và ủy viên Cố vấn chính trị Léon Pignon, người muốn cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền Việt Nam do cộng sản lãnh đạo. D'Argenlieu lúc đó không chỉ tuân theo hướng dẫn và mệnh lệnh từ Chính phủ Pháp đương nhiệm mà còn tìm cách thực hiện ước nguyện của người thầy đáng kính của ông ta - cựu lãnh đạo Pháp đã từ chức vào tháng Giêng 1946 là Tướng Charles de Gaulle. Khi việc Pháp chiếm Hải Phòng không phá vỡ ngay lập tức quan hệ Pháp - Việt, họ âm mưu gây thêm áp lực đối với chính phủ Hà Nội, nhằm mục đích chia rẽ giữa những người "trung hòa" và những người "cực đoan", hoặc khiêu khích Việt Nam nổ súng. Tình báo Pháp biết rằng Việt Nam đã chuẩn bị sẵn một kế hoạch tấn công và thực tế Pháp đã mua được một bản sao kế hoạch tấn công đó. Nhóm Tam đầu chế Pháp sốt ruột chờ đợi phía Việt Nam hành động. Mặc dù Paris đang ngập trong khủng hoảng nội các và bất đồng trong nội bộ chính phủ, ngày 12 tháng Mười hai, vị thủ tướng sắp rời nhiệm sở là Georges Bidault vẫn gửi một bức điện nói rõ với Sài Gòn là ông ta không đồng ý với chính sách hiếu chiến mà giới chức Pháp tại Sài Gòn theo đuổi, tiếp đó một đại diện của Tam đầu chế nhận được chỉ thị rằng Pháp không được phạm lỗi gây ra bất kỳ "vụ việc" nào nữa. Suốt ba tuần sau khi "mất" Hải Phòng, phía Việt Nam vẫn tự kiềm chế. Hồ Chí Minh liên tục kêu gọi Pháp, Trung Quốc và Mỹ can thiệp để vãn hồi hòa bình. Chắc hẳn không bao lâu sau Léon Blum sẽ đáp lại một cách tích cực lời kêu gọi đó, nếu như quân đội Việt Nam không tấn công vào đêm 19 tháng Mười hai ấy.
Ngày 17 tháng Mười hai, chính phủ mới của Blum với toàn bộ là thành viên SFIO, trong đó Blum là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, chiến thắng trong cuộc bỏ phiêu tín nhiệm của Quốc hội Pháp. Ngay ngày đầu tiên nhận bàn giao từ người tiền nhiệm Georges Bidault, ngày 18 tháng Mười hai, Blum quyết định cử Moutet tới Hà Nội thực hiện sứ mệnh hòa bình, nhưng đã quá muộn. Chiều ngày 19 tháng Mười hai, điều gì đó không ổn đã xảy ra giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam trong cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng ở một làng nhỏ ngoại ô Hà Nội. Quyết định của họ vẫn còn là một điều bí ẩn, nhưng quân của Tướng Giáp đã gấp rút chuẩn bị tấn công quân Pháp. Có thể Tướng Giáp đã ra lệnh cho quân của ông đánh phủ đầu vì nhầm tưởng Pháp sắp tấn công, cũng có thể ông bị các nhà lãnh đạo thiếu kiên nhẫn khác thúc ép phải hành động. Nhưng lúc đó có lẽ ông đã phạm sai lầm lớn nhất trong đời mình, khi nổ súng đúng vào lúc Việt Nam có cơ hội phơi bày sự xấu xa của chế độ thực dân trước một chính phủ Pháp tương đối biết điều, cũng như trước nhân dân Pháp và nhân dân toàn thế giới. Thay vào đó, giờ đây thế giới lại lên án Việt Nam gây hấn trước. Tướng Giáp đã bước thẳng vào cái bẫy mà Tam đầu chế giăng sẵn* (Quan điểm riêng của tác giả (BT)).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 07:59:24 pm » |
|
Những cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã bắt đầu như vậy đó. Không dễ dàng thiết lập lại các dữ liệu và còn nhiều điều phải tiếp tục khám phá, nhất là ở phía Việt Nam, thế nhưng chúng tôi không tiếp cận được nguồn tài liệu lưu trữ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguồn tài liệu sử dụng để viết cuốn sách này chủ yếu là tài liệu của Pháp, tuy nhiên tôi cũng sử dụng một số tài liệu của Anh và Mỹ. Chính vì không tra cứu được các tài liệu của Việt Nam, những phán đoán của tôi về chính sách và quyết định của Việt Nam dựa trên sự kết hợp của các báo cáo tình báo Pháp, sách và hồi ký của người Việt, chủ yếu là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và một số cuộc phỏng vấn với các cựu chiến binh và nhà sử học Việt Nam. Tưởng Giới Thạch đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ sự việc, nhưng tôi cũng không tham khảo được nguồn lưu trữ Trung Quốc. Tuy vậy, tôi có thể dựa vào nghiên cứu của King C. Chen và Lin Hua. Lin Hua đã nghiên cứu tài liệu lưu trữ tại Đài Loan - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Pháp12.
Sinh viên ngành lịch sử khi theo đuổi chủ đề giải quyết khủng hoảng chính trị luôn phải vẽ sơ đồ hệ thống ra quyết định của chính phủ cần nghiên cứu của mình trước khi sinh viên đó bắt đầu tra cứu tài liệu lưu trữ. Như vậy, họ mới có thể bắt đầu với các hồ sơ của những cơ quan ra quyết định ở cấp cao nhất và giấy tờ của những người ra quyết định tối cao, rồi sau đó mới tiếp tục lần xuống các cấp thấp hơn nếu có thời gian. Điều tối quan trọng là không nên sử dụng hệ thống phân loại hồ sơ hiện tại làm căn cứ, mà phải tìm ra nơi cất hồ sơ hoạt động của những người và tổ chức quan trọng nhất. Tìm thấy những bản sao của cùng một tài liệu ở các nguồn lưu trữ khác nhau hay trong hồ sơ của các cơ quan khác nhau là việc bình thường, điều đó phản ánh chu trình lịch sử của các tài liệu đó. Quả thật, nhiều lúc ta phát hiện được những điều rất thú vị khi biết thời điểm, người nhận cũng như ý kiến bình luận của mọi người về một bản sao của một tài liệu được gửi cho các cơ quan khác nhau của chính phủ.
Khi hồ sơ của Việt Nam được công khai, ta cần hết sức chú ý tới thư từ, giấy tờ của các thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tài liệu của ban tham mưu quân sự của Tướng Giáp và tài liệu tổ chức đảng dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Trường Chinh. Hồ sơ của Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ Việt Nam cũng quan trọng, về sau, Pháp lấy được một số hồ sơ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cất giữ tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại ở Aix-en-Provence (được gọi là hồ sơ chính phủ thực tế). David G. Marr từ Đại học Quốc gia Ôxtrâylia đã nghiên cứu các hồ sơ này. Việc những hồ sơ này vẫn còn nguyên vẹn, không bị hủy khi Pháp giành được quyền kiểm soát Hà Nội dường như chứng tỏ cuộc tấn công của Việt Nam mới được chuẩn bị trước đó chưa lâu, và cho đến phút cuối cùng, Việt Nam vẫn để ngỏ phương án tiếp tục điều hành chính phủ từ trụ sở các bộ đóng tại Hà Nội. Mặc dù vậy, trong những hồ sơ này không có giấy tờ của các lãnh đạo cấp cao nhất. Những hồ sơ quan trọng nhất hoặc đã bị hủy hoặc được các vị lãnh đạo đảng mang tới các địa điểm sơ tán trong chiến tranh Đông Dương. Chắc chắn nhiều tài liệu đã bị thất lạc, nhưng khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho phép nghiên cứu tài liệu lưu trữ của Đảng tại Hà Nội, rất có thể họ vẫn còn giữ một số tài liệu đặc biệt có ý nghĩa, có thể chỉ các nhà lãnh đạo Đảng được phép tiếp cận.
Ở Pháp, hai hồ sơ hoạt động cấp cao nhất là hồ sơ của Văn phòng Thủ tướng, ban đầu được lưu giữ tại khách sạn Matignon, sau đó được chuyển về Cục Lưu trữ quốc gia ở Paris (ký hiệu F60 C3035). Không may là những hồ sơ này không nói gì nhiều về chính sách đối với Đông Dương thuộc Pháp thời kỳ 1946, nhưng ta có thể thấy một vài bức thư thú vị và các tài liệu khác trong số giấy tờ riêng của Georges Bidault, các giấy tờ này cũng được lưu tại Cục Lưu trữ quốc gia (ký hiệu 457AP). Giấy tờ riêng của Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet được lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại ỏ Aix-en-Provence (ký hiệu PA28) cũng có một số tài liệu hay.
Những hồ sơ đồ sộ và quan trọng nhất về Đông Dương từ năm 1946 là hồ sơ của ủy ban liên bộ về Đông Dương (Cominindo) do Tướng De Gaulle thành lập ngày 15 tháng Hai 1945 nhằm mục đích điều phối chính sách của Chính phủ Pháp đối với Đông Dương, do đích thân Thủ tướng làm Chủ tịch ủy ban. Ban Thư ký ủy ban có trụ sở gần văn phòng của chính De Gaulle tại Bộ Quân sự (phố St. Dominique). Năm 1981, khi tôi lần đầu đến Paris để lục lọi trong tài liệu lưu trữ, dường như không ai biết hồ sơ của Cominindo nằm ở đâu. Có người bảo tôi rằng hồ sơ của Cominindo đã bị lẫn lộn trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Hải ngoại Pháp ở số 27, phố Oudinot. Thay cho những hồ sơ đó, tôi được phép tiếp cận một tập hồ sơ gồm bản sao của tất cả các bức điện được trao đổi giữa Sài Gòn và Bộ Hải ngoại ở Paris trong năm 1946. Đọc hết tất cả các bức điện đó là không thể, nhưng tập hồ sơ các bức điện chỉ cho thấy một vài phát hiện liên quan đến giai đoạn khủng hoảng từ tháng Mười một đến tháng Mười hai, trong thời gian này, thời gian biểu chính xác rất quan trọng. Có một điều rất thú vị là xem bức điện nào được coi là hỏa tốc, và mất bao nhiêu lâu những bức điện đó mới tới nơi nhận. Ngày nay, không còn hồ sở Đông Dương ở phố Oudinot nữa. Năm 1986, chủng đã được chuyển tới Trung tâm lưu trữ của Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence để lưu trữ cùng với các tài liệu được chuyển lại từ Đông Dương sau khi chế độ thực dân kết thúc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
nhinrathegioi
Thành viên

Bài viết: 1062
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2026, 08:01:39 pm » |
|
Tôi nghĩ là muốn tìm được chỗ để hồ sơ của Cominindo thì trước hết phải tìm được ra cơ quan nào đã tiếp quản công việc của Cominindo sau khi nó bị giải tán. Tháng Hai 1947, Moutet nhận ghế Chủ tịch Cominindo, khi đó nhân viên Ủy ban và hồ sơ tài liệu được chuyển từ phố St. Dominique về phố Oudinot. Tuy vậy, trong bối cảnh Đông Dương thuộc Pháp đã biến thành ba nước "liên hiệp" (Campuchia, Lào và Việt Nam), tháng Bảy 1950, một bộ mới được thành lập - Bộ Các nước liên hiệp, có trụ sở ở phố Lille, thế là hồ sơ của Cominindo lại bị chuyển chỗ. Ba năm sau, ba nước Đông Dương không còn là nước liên hiệp nữa và được công nhận hoàn toàn độc lập. Một lần nữa, người ta lại chuyển những tài liệu lưu trữ đó, lần này đến Bộ Ngoại giao ở Quai d'Orsay. Nhưng Bộ Ngoại giao không có đủ chỗ, nên người ta quyết định chuyển những tài liệu trước năm 1945 ngược trở về phố Oudinot, tại đây các tài liệu này được nhập vào hồ sở Đông Dương của Bộ Hải ngoại, làm thành hồ sơ nền mới về Đông Dương (INF). Đến năm 1986 thì Hồ sơ nền mới về Đông Dương được đưa tới Trung tâm lưu trữ Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence. Đối với một nhà sử học, việc xác định nguồn gốc của một giấy tờ hay tài liệu trong Hồ sơ nền trước năm 1945 có phải là từ Bộ Thuộc địa (từ tháng Giêng 1946 đổi tên thành Bộ Hải ngoại) hay từ Cominindo là cả một vấn đề. Bộ Ngoại giao giữ tất cả những tài liệu từ năm 1945 trở đi, chúng được xếp vào một hồ sơ riêng, gọi là Hồ sơ nền về các nước liên hiệp. Trong đó có mớ tài liệu lưu trữ của Cominindo, mà những năm 1985-1989, khi tìm bới ở đó thì tôi thấy là một mỏ vàng chưa ai khám phá, thậm chí nhân viên lưu trữ cũng chưa có thời gian xử lý, phân loại. Thực ra mãi tới năm 2007, các nhà nghiên cứu mới có thể tiếp cận rộng rãi một số tập hồ sơ quan trọng nhất mà tôi sử dụng trong nghiên cứu này, vì khi đó mới hết hạn không công khai hồ sơ 60 năm. Hồ sơ nền về các nước liên hiệp là xuất phát điểm quan trọng nhất đối với bất kỳ người nào muốn tìm hiểu về chính sách của Pháp tại Đông Dương trong giai đoạn từ năm 1944 đến 1947. Có vấn đề là các nhân viên lưu trữ đã đánh số lại các tập tài liệu trong Hồ sơ nền về các nước liên hiệp và Hồ sơ về châu Á của Bộ Ngoại giao (còn gọi là Hồ sơ châu Á - Thái Bình Dương), cho nên không may là các số hiệu tài liệu tham khảo mà tôi đã ghi lại trong những năm 1980 giờ đây không còn đúng nữa. Xin độc giả lượng thứ cho việc tôi đã không đánh số lại được tất cả các hộp tài liệu và tập hồ sơ nêu trong cuốn sách này, nhưng có thể chuyển số hiệu tài liệu tham khảo của tôi thành số hiệu mới bằng cách đối chiếu số cũ với hệ thống đánh số phân loại mới với sự giúp đỡ của nhân viên lưu trữ. Trong số các bộ và các cơ quan khác có đại diện tại Cominindo, bộ quan trọng nhất là Bộ Hải ngoại Pháp, Bộ Ngoại giao, các bộ thuộc lĩnh vực quốc phòng (Bộ Hải quân, Bộ Không quân, Bộ Lục quân, Bộ Quốc phòng), các tham mưu trưởng, Bộ Tổng Tham mưu quốc phòng và Cục Tình báo nước ngoài và phản gián. Hồ sơ của Cục Tình báo nước ngoài và phản gián có lẽ vẫn nằm trong tay cơ quan tình báo trung ương của Pháp và không tiếp cận được. Hồ sơ của Bộ Tổng Tham mưu quốc phòng được cất giữ tại Ban Lịch sử Lục quân ở lâu đài Vincennes, Paris. Hồ sơ này (ký hiệu 4Q) chứa những tài liệu quân sự cấp cao nhất liên quan đến Đông Dương và hết sức có ý nghĩa đối với nghiên cứu của tôi. Không may là hầu hết các sinh viên không biết đến sự tồn tại của hồ sơ 4Q hay không được phép tiếp cận nó. Thường thì họ được hướng dẫn tìm kiếm trong đống hồ sơ đồ sộ ký hiệu 10H, bao gồm các hồ sơ quân đội Pháp từ Đông Dương đưa về 13. Nếu cần tìm hiểu quyết định của cấp cao nhất, ta nên bắt đầu với hồ sơ 4Q trước rồi mới phiêu lưu vào hồ sơ 10H. Các hồ sơ dân sự từ Đông Dương đưa về Pháp nằm tại Trung tâm lưu trữ Bộ Hải ngoại ở Aix-en-Provence, nhưng đáng buồn là trong đó không có nhiều giấy tờ của Cao ủy Georges Thierry d'Argenlieu. Có lẽ ông ta đã mang theo những tài liệu đó khi chức Cao ủy của ông bị người khác thay thế vào tháng Giêng 1947. Cuốn Chronique d'Indochine (Biên niên sử Đông Dương) của d'Argenlieu được biên soạn trên cơ sở một bộ sưu tập tư nhân đồ sộ, nó được xuất bản năm 1985, sau khi ông qua đời. Năm 1991, gia đình d'Argenlieu trao các giấy tờ của ông cho Cục Lưu trữ quốc gia Pháp và năm 2000, Cục Lưu trữ đã hoàn tất việc kiểm kê những giấy tờ này (hồ sơ mang tên Tài liệu của George Thierry d'Argenlieu, ký hiệu 517AP). Khi viết cuốn sách này, đáng lẽ tôi phải tra cứu những tài liệu đó, như Frédéric Turpin đã tra cứu và sử dụng trong nghiên cứu của ông về de Gaulle và chính sách Đông Dương của những người ủng hộ de Gaulle11, nhưng tôi đã không có đủ thời gian làm vậy. Theo những gì tôi biết, hồ sơ hay nhất ở Aix-en-Provence là hồ sơ của Léon Pignon, Cố vấn chính trị của d'Argenlieu rồi sau đó trở thành Cao ủy vào năm 1948. Léon Pignon giữ một hồ sơ khổng lồ gồm báo cáo tình báo, bị vong lục và báo cáo về những diễn biến chính trị năm 1946, trong đó có cả những báo cáo và thư từ do chính ông ta viết. Một nhân vật quan trọng nữa ở phía Pháp là Jean Sainteny, tên khai sinh là Jean Roger. Với tư cách đại diện toàn quyền Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Bộ, Sainteny đã điều hành cuộc đàm phán dẫn đến các Hiệp định Pháp - Việt ngày 6 tháng Ba. Giấy tờ riêng của Sainteny hiện giờ đang được Tổ chức chính trị học quốc gia cất giữ ở Paris. Tư liệu của ông cực kỳ có giá trị và là cơ sở quan trọng để Philippe Devillers viết bộ sách tư liệu chú dẫn mang tên Paris - Saigon - Hanoi: Les archives de la guerre, 1944-1947 (Paris - Sài Gòn - Hà Nội: Tư liệu chiến tranh, 1944-1947), xuất bản năm 1988. Kết quả nghiên cứu tài liệu lưu trữ của tôi là một bảng kê chi tiết, sắp xếp theo trình tự thời gian về sự hình thành các quyết định. Ký hiệu tài liệu tham khảo dẫn chiếu đến các tài liệu lưu trữ và các nguồn khác trong bảng kê đó không được thống nhất cho lắm. Hầu hết nguồn tài liệu tham khảo của tôi là bằng tiếng Pháp và một số rất ít bằng tiếng Việt. Khi trích dẫn các tài liệu nói trên, tôi sử dụng bản dịch tiếng Anh. Các bạn có thể đọc những đoạn trích bằng ngôn ngữ trong bản gốc và một số lời bình trong các chú giải đầy đủ hơn trên trang web của tôi, địa chỉ là www.cliostein.com, tại đây các chú giải được đánh số trùng với chú giải trong sách. Mục đích của cuốn sách này không phải là giới thiệu những tài liệu mới, mà chủ yếu là sửa chữa những sai lầm trong cách hiểu sự việc hiện tại. Mục đích nữa là vạch trần thủ đoạn mà những kẻ phá hoại gặp thời sử dụng để ngăn cản các nhà lãnh đạo của họ thực hiện nhiệm vụ cao cả nhất của mọi chính phủ: bảo vệ hòa bình.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|