Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:09:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào  (Đọc 5612 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #10 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 09:55:51 pm »

Chương 1
SỰ VA CHẠM GIỮA CÁC NỀN CỘNG HÒA


Chuỗi chiến tranh Đông Dương bắt đầu như một vụ va quệt giữa hai nền cộng hòa mới mẻ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đệ tứ Cộng hòa Pháp, cả hai nền cộng hòa đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luồng tư tưởng xã hội và cộng sản, đồng thời cố gắng xây dựng sự đồng thuận rộng khắp với các nhóm ái quốc phi cộng sản. Cả hai nền cộng hòa này đều mong muốn hiện đại hóa Đông Dương thông qua công nghiệp hóa, thương mại và các cơ quan đại diện. Cả hai đều có khuynh hướng ngả theo ý tưởng xây dựng một diễn đàn chính trị chung cho người Việt, người Lào, người Khơme và các dân tộc thiểu số miền núi, để họ dẫn dắt nhau trong công cuộc hiện đại hóa. Cả hai đều đồng ý rằng Liên bang Đông Dương cần phải nằm trong một Liên hiệp Pháp mới và tiếp tục liên kết với Pháp trong một gia đình các quốc gia tiến bộ.


Điều đã khiến hai nền cộng hòa này va chạm không chỉ là việc Việt Nam độc lập, mà dù có sự xung đột gay gắt giữa một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết đòi Pháp công nhận chủ quyền và quyền quản lý của mình, và một bên là Pháp khăng khăng duy trì chủ quyền và sự quản lý của Pháp ở các thuộc địa. Một vấn đề cũng khó khăn nữa là giới hạn địa lý của đất nước Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám bắt nguồn từ Bắc Đông Dương, khu vực mà Pháp gọi là Bắc Kỳ, nhưng các nhà cách mạng luôn luôn trung thành với tư tưởng thống nhất một đất nước Việt Nam trải dài tới mũi Cà Mau. Họ dự định trao cho đất nước Việt Nam thống nhất này vai trò đầu tàu trong công cuộc hiện đại hóa toàn bộ Đông Dương, với tư cách là nước lớn nhất và phát triển nhất trong ba nước Đông Dương.


Pháp bác bỏ tư tưởng dân tộc của Việt Nam. Họ sử dụng từ "Việt Nam" một cách miễn cưỡng, thay vào đó họ gọi người Việt - dân tộc chiếm đa số trong xứ bảo hộ Bắc Kỳ, xứ An Nam và xứ Nam Kỳ - là "Annammít". Những người ủng hộ de Gaulle cũng như các nhà cải cách thực dân cánh hữu đều cương quyết cho rằng không nên để cho "Annammít" thống trị một Đông Dương hiện đại, dân chủ, mà phải xây dựng nó dựa trên năm đơn vị riêng rẽ gồm Campuchia, Lào, Nam Kỳ, An Nam và Bắc Kỳ. Từ "Việt Nam" là tác phẩm của phong trào dân tộc không theo cộng sản, chịu ảnh hưởng của Trung Quốc trong những năm 1920-1930, trong khi thời kỳ đó phe cộng sản chủ yếu sử dụng từ "Đông Dương". Pháp chấp nhận từ "Việt Nam" với suy nghĩ rằng Việt Nam là một tên mới chỉ dùng để chỉ Bắc Kỳ mà thôi, cùng lắm thì bao gồm cả nửa phía Bắc của An Nam. Pháp phản đối việc thống nhất ba miền, trong đó người Việt chiếm đa số gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ mà người Việt dân tộc chủ nghĩa thích gọi là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Từ "Bộ" chính là một cách nói lên rằng các miền Bắc, Trung, Nam đều thuộc về một quốc gia. Đối với Pháp, còn một vấn đề nữa là Nam Kỳ - vùng đất hiện đại và phát triển nhất về kinh tế của Đông Dương còn có quy chế là một thuộc địa hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp và quy chế này chỉ có thể thay đổi theo một quyết định của Quốc hội Pháp1.


Nam Kỳ là phần đầu tiên của Đông Dương bị Pháp biến thành thuộc địa và đầu năm 1945, Pháp vẫn thiết kế Nam Kỳ là nền móng của một Liên bang Đông Dương dân chủ dưới sự định hướng và dẫn dắt của Pháp. Sài Gòn sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế của Đông Dương; Huế và Hà Nội bị coi là lạc hậu hơn và chịu ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc; Phnôm Pênh và Viêng Chân thậm chí còn kém phát triển hơn nữa và sẽ cần sự bảo hộ của Pháp một thời gian dài.


Cách mạng Tháng Tám 1945 đã cho ra đời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố đại diện cho một nước Việt Nam có chủ quyền và có quyền được độc lập. Căn cứ quyền độc lập của Việt Nam không phải chỉ là các nguyên tắc chung, mà còn dựa trên những sự kiện thời sự. Bảo Đại - vị hoàng đế An Nam được Pháp bảo vệ, đồng thời có quyền quản lý trên danh nghĩa đối với Bắc Kỳ - đã giành được độc lập trên danh nghĩa sau khi Nhật hất cẳng Pháp vào tháng Ba 1945. Tháng Tám 1945, khi tự nguyện thoái vị, Bảo Đại nhường lại quyền lực cho nền cộng hòa dân chủ non trẻ. Do đó, trong bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng đọc trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng Chín 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không tuyên bố, mà khẳng định nền độc lập của Việt Nam. Một thời gian ngắn trước khi Bảo Đại thoái vị, chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được từ tay Nhật một thứ mà Pháp luôn luôn không chịu từ bỏ: chủ quyền đối với cả Nam Kỳ mà cho tới lúc đó vẫn trực tiếp nằm dưới sự đô hộ của Pháp và thậm chí ngay cả Bảo Đại cũng không có quyền gì. Nhật làm thay đổi tình hình đó vào đầu tháng Tám 1945 trước khi Nhật đâu hàng Đồng minh, và khi cuộc cách mạng diễn ra ở cả ba miền Việt Nam, những người đứng đầu cuộc khởi nghĩa ở thủ phủ của Nam Bộ - tức Sài Gòn - không thành lập một nhà nước riêng của mình, mà tự coi là đại diện cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời có thủ đô là Hà Nội.


Pháp không dính dáng đến các cơ sở cách mạng ở miền Nam nhưng dự định thiết lập một hệ thống mới với mức độ tự chủ cao cho cả năm dân tộc Đông Dương. Các chính trị gia Pháp tự cho là mình đại diện cho một "nước Pháp mới", với sứ mệnh tái sinh không chỉ bản thân nước Pháp mà cả đế quốc Pháp trước kia bằng cách chuyển đổi nó thành một khối Liên hiệp Pháp vững chắc. Tâm trạng của Pháp có thể tóm gọn lại trong một cụm từ theo cách gọi của một nhà nghiên cứu là "lạc quan kiểu mẫu quốc", nghĩa là Pháp hy vọng quá trình xây dựng Hiến pháp cho mẫu quốc sẽ song hành một cách hòa bình với quá trình xây dựng Hiến pháp cho cả đế chế2. "Nước Pháp mới" là từ mà SFIO, Đảng Cộng sản (PCP") và cả phái de Gaulle đều dùng để chỉ đất nước mà họ tạo nên sau khi thống chế Philippe Pétain bị loại khỏi chính phủ Vichy và quân Đức bị đuổi khỏi Paris mùa hè năm 1944, một "nước Pháp mới" do Tướng Charles de Gaulle lãnh đạo cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946.


"Nước Pháp mới" vẫn tồn tại cho tới khi Đệ tứ Cộng hòa được thành lập xong với Hiến pháp mới có hiệu lực kể từ ngày 24 tháng Mười hai 1946. Một số chính trị gia Pháp có ảnh hưởng nhất nghĩ rằng về lâu dài Pháp sẽ trao quyền độc lập cho các lãnh thổ hải ngoại của Pháp, nhưng Pháp sẽ không trao quyền độc lập này ngay lập tức, với lý do bảo vệ sự hiện diện của Pháp và ngăn cản các thế lực nước ngoài khác ùa vào chiếm các lãnh thổ vốn nằm dưới sự cai trị của Pháp. Họ dự tính bảo đảm sự hiện diện của Pháp ở Viễn Đông bằng cách dựng lên những đơn vị lãnh thổ tự trị hoặc tự quản nằm trong Liên bang Đông Dương do một cao ủy Pháp đứng đầu. Thông qua một hệ thống đại diện trên cơ sở bầu cử dân chủ, các nước Đông Dương sẽ được giải phóng dần dần, hướng tới mục tiêu và không loại trừ khả năng một ngày nào đó các nước này trở thành những quốc gia độc lập.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #11 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 09:56:55 pm »

Tình hình diễn biến ở Việt Nam năm 1946 trở nên phức tạp hơn sau khi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt bày tỏ quan điểm muốn xây dựng một hệ thống ủy trị quốc tế đối với Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó nhấn mạnh vai trò của Trung Quốc. Roosevelt coi Đông Dương là một phần khu vực hoạt động quân sự của Tưởng Giới Thạch trong chiến tranh kháng Nhật và ông ta hy vọng rằng quân Tưởng sẽ đóng vai trò dẫn đầu trong công cuộc giải phóng Đông Dương, ông ta không ủng hộ để cho lực lượng Đông Nam Á dưới quyền của một đô đốc hải quân Anh là ngài Louis Mountbatten tiến hành chiến dịch nhân danh quân Đồng minh ở Đông Dương vì rất có thể Mountbatten sẽ giúp de Gaulle giữ lại thuộc địa này, vả lại Bộ Tư lệnh lực lượng Đông Nam Á đóng ở tận Kandy, Ceylon thuộc Xri Lanca. Tại Hội nghị Potsdam tháng Bảy 1945, ba tháng sau khi Roosevelt qua đời và chỉ một thời gian ngắn trước khi Nhật đầu hàng, các bên liên quan đã đạt được một thỏa hiệp vội vã, theo đó Tưởng Giới Thạch chịu trách nhiệm về nửa phía Bắc Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 và Mountbatten nắm nửa phía Nam. Nhật đầu hàng tạo ra một khoảng trống quyền lực, nhân cơ hội này Cách mạng Tháng Tám nổ ra, quân Anh đi đường biển đổ bộ vào miền Nam Đông Dương để tước vũ khí và đưa quân Nhật về nước. Khu vực Nam Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 bao gồm Nam Kỳ, Campuchia, nửa Nam An Nam và khu vực cực nam của Lào. Đồng thời, một đội quân Tưởng đông đảo tràn qua biên giới tiến vào Bắc Đông Dương, gồm Bắc Kỳ, Bắc An Nam và phần lớn lãnh thổ Lào, với danh nghĩa tước vũ khí và đưa quân Nhật về nước.


Quyết định chia đôi An Nam tại trung tâm của nó, nơi cho tới lúc đó được nhà Nguyễn trị vì, giết chết khả năng phục hồi chính quyền phong kiến bảo thủ ở Huế sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào tháng Tám 1945. Như vậy là Huế đã mất hẳn vai trò lịch sử, trong khi Sài Gòn và Hà Nội trở thành hai trung tâm quyền lực chính. Anh giúp Pháp đàn áp cách mạng ở miền Nam và thành lập chính quyền Đông Dương mới đóng tại Sài Gòn do một người được de Gaulle lựa chọn đứng đầu - Cao ủy Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu. Trong khi đó, lực lượng chiếm đóng quân sự của Tưởng ở phía bắc cho phép Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục tồn tại, Hà Nội vừa là thủ đô của Chính phủ Việt Nam, vừa là trung tâm của lực lượng chiếm đóng quân sự của Tưởng. Một điều đáng lưu ý là trước khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Hà Nội còn là thủ đô của cả Liên hiệp Đông Dương. Cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946, khi de Gaulle bất ngờ tuyên bố từ chức lãnh đạo Chính phủ Pháp, quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (CE-FEO) dưới quyền của Tướng Philippe Leclerc de Hautecloque do de Gaulle ra lệnh triển khai ở Đông Dương, chỉ nắm được quyền kiểm soát ở miền Nam Đông Dương. Tại Hà Nội, đại diện của Pháp là Jean Sainteny không có quyền hành gì, ông này trước đó đã được máy bay Mỹ đưa từ Trung Quốc tới Hà Nội. Jean Sainteny cùng đã cố gắng chuẩn bị cho việc quân Pháp đến, đồng thời tìm cách bảo vệ dân thường người Pháp khỏi bị tấn công bởi những kẻ khích động cực đoan tại Hà Nội và quân Tưởng.


Trong bối cảnh trên, cuộc đụng độ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đệ tứ Cộng hòa Pháp xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Ở miền Nam, Pháp nhanh chóng nắm quyền kiểm soát, không thừa nhận các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, ở miền Bắc, chính phủ cách mạng Việt Nam kiểm soát bộ máy nhà nước và hầu hết các tỉnh thành, nhưng có quan hệ không mấy thân thiện với giới quân phiệt Tưởng muốn ép những người cộng sản Việt Nam chia sẻ quyền lực với lãnh đạo hai đảng thân Tưởng chống cộng sản là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Như vậy, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai mục đích: thứ nhất là bảo vệ nền cộng hòa ở miền Bắc bằng cách củng cố sức mạnh chính trị và hành chính, xây dựng một quân đội vững mạnh, và thứ hai là phục vụ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Sau một loạt thất bại ban đầu, quân đội Việt Nam ở miền Nam đã tập hợp lại và thực hiện phương pháp chiến tranh du kích. Vừa tìm cách đàn áp nổi dậy ở miền Nam, Pháp vừa tiến hành đàm phán với chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội nhằm đạt được thỏa thuận Tưởng rút quân khỏi miền Bắc để Pháp rảnh tay trở lại miền Bắc - mảnh đất duy nhất mà Pháp chưa chiếm lại được. Ngày 4 tháng Mười 1945, Chính phủ Pháp bổ nhiệm Jean Sainteny làm Ủy viên của Cộng hòa Pháp tại Bắc Đông Dương (Bắc Kỳ và Bắc An Nam). Ông ta đàm phán lần đầu tiên với Hồ Chí Minh vào ngày 1 tháng Mười hai 1945, nhưng cuộc đàm phán này không có kết quả gì. Hầu như tất cả mọi người ở Hà Nội đều cho rằng một lúc nào đó Pháp sẽ đưa quân trở lại chiếm khu vực phía Bắc Đông Dương, mặc dù có thể Pháp và Tưởng cần phải thỏa thuận trước với nhau.


Cuốn sách này không có tham vọng đi sâu phân tích lập luận và quan điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như Đệ tứ Cộng hòa Pháp mới ra đời trong các cuộc đàm phán giữa các bên diễn ra tại Hà Nội dẫn đến Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946, hay trong các cuộc đàm phán thất bại tại thành phố cao nguyên Đà Lạt ở miền Trung Việt Nam từ tháng Tư đến tháng Năm 1946, cùng như tại Fontainebleau, ngoại ô Paris từ tháng Bảy đến tháng Chín 1946. Cuốn sách cũng sẽ không đi sâu vào khía cạnh quân sự của chiến tranh ở miền Nam. Cuốn sách sẽ tập trung vào vấn đề chiến tranh và hòa bình giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở trung tâm miền Bắc, với trọng tâm là hai giai đoạn khủng hoảng: tháng Hai - tháng Ba 1946 và tháng Mười một - Mười hai 1946; đợt khủng hoảng thứ nhất kết thúc bằng một nền hòa bình tạm thời, đợt khủng hoảng thứ hai dẫn đến một cuộc chiến tranh dài lê thê.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #12 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 09:57:34 pm »

CHIẾN TRANH LẠNH CÒN XA


Ta cần nhớ rằng năm 1946, những hạt giống của Chiến tranh lạnh còn chưa thực sự nảy mầm. Những kỷ niệm về liên minh thời chiến giữa phương Tây và Liên Xô vẫn còn tươi rói. Lúc này dư luận vẫn chưa coi Xtalin là một người độc đoán, ở Paris, các nước Đồng minh đang tiếp tục tranh cãi điều khoản của các hiệp định hòa bình với Italia và các nước phe Trục. Chưa ai đoán được rằng năm sau người ta sẽ tuyên bố học thuyết Truman hay Kế hoạch Marshall; Đức vẫn còn là lãnh thổ bị chiếm đóng, chia thành bốn khu vực do bốn nước kiểm soát, ở châu Á, Mỹ chưa cam kết ủng hộ Tưởng Giới Thạch để đánh Hồng vệ binh, không những thế, lúc này Mỹ còn kêu gọi Tưởng đàm phán với Hồng vệ binh. Trong những giây phút ít ỏi có thể quan tâm đến Đông Dương thì cả Harry S. Truman và Tưởng Giới Thạch có cái nhìn tương đối thiện cảm đối với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, hy vọng rằng Pháp sẽ công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mong muốn những người dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản sẽ có vai trò lớn hơn trong chính phủ này. Trong khi đó, sự hợp tác giữa những người cộng sản Việt Nam với một số rất lớn các nhóm dân tộc chủ nghĩa khác nằm cả trong lẫn ngoài mặt trận Việt Minh hoàn toàn không dễ dàng. Trở lại châu Âu, PCF cũng có mặt trong chính phủ liên minh với SFIO, phe cấp tiến và Đảng Dân chủ Công giáo, và có đại diện trong Ủy ban điều phối chính sách của Pháp tại Đông Dương. Lúc này mọi cơ hội, mọi trận tuyên đều để ngỏ.


Cho tới tận tháng Hai 1946, nền cộng hòa mới của nước Pháp vẫn chưa có Hiến pháp mặc dù nhiều bản dự thảo đã được xem xét và loại bỏ trong một năm rưỡi trôi qua kể từ ngày Paris được lực lượng "nước Pháp tự do" dưới sự lãnh đạo của Tướng Leclerc giải phóng. Xin mở ngoặc một chút là Leclerc vốn là một nhà quý tộc có cái tên rất dòng dõi là Philippe de Hautecloque, nhưng ông ta thích dùng cái tên Leclerc, nghe bình dân hơn. Ông ta đã lãnh đạo lực lượng giải phóng Paris tháng Tám 1944, cho phép Tướng Charles de Gaulle đặt chính phủ lâm thời ở thủ đô của nước Pháp. Nước Pháp kiêu hãnh của Tướng de Gaulle đòi được công nhận là một trong bốn cường quốc của thế giới, giành được một ghế thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và toan tính đóng vai trò độc lập trong quan hệ với "hội Anh - Mỹ" và Liên Xô. Các nhà hoạch định chính sách Anh và Mỹ sốt ruột muốn đưa Pháp vào quỹ đạo phương Tây nên hết sức tránh những hành động có thể chọc giận Pháp hay làm cho phe cộng sản ở Pháp mạnh lên, đồng thời cố gắng bảo đảm những lợi ích thiết thân của Pháp như nhu cầu về than đá. Tương tự, Liên Xô cùng thấy cần phải thận trọng trong quan hệ với Pháp. Họ muốn Pháp không bị hút vào quỹ đạo liên minh Anh - Mỹ và vì vậy, họ hoan nghênh một số chính sách độc lập của Pháp ở Đức.


Ở châu Á, Cách mạng Tháng Tám tại Việt Nam là một bộ phận của phong trào giải phóng dân tộc rộng lớn sau khi Nhật đầu hàng, nhờ phong trào này mà Ấn Độ, Miến Điện (sau này là Mianma), Philíppin và Inđônêxia đã giành được độc lập. Đồng thời, Cách mạng Tháng Tám cũng mang tính chất của phong trào cộng sản, phong trào này cho tới năm 1949 mới thắng lợi ở Trung Quốc, nhưng ở Malaixia thì thất bại do đàn áp quân sự và ở Triều Tiên thì rơi vào bế tắc. Dù sao đi chăng nữa, năm 1946, chưa ai dự đoán được tất cả những kết cục này. Chiến tranh ở Đông Dương đã bắt đầu rất lâu trước khi khu vực này của thế giới được các nhà lãnh đạo Mỹ và Liên Xô chú ý. Nếu thắng hoặc người ta quan tâm đến Việt Nam thì cũng chỉ quan tâm ở mức độ vấn đề nằm trong quan hệ tổng thể với Pháp. Do vậy, nghiên cứu về khởi điểm của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất phải tập trung vào quan hệ song phương Việt - Pháp, đồng thời không thể bỏ qua vai trò đáng kể của thế lực thứ ba là Trung Hoa dân quốc và không phóng đại tầm quan trọng của Liên Xô và Mỹ.


Đã đến lúc cần giới thiệu hai nền cộng hòa sắp đụng độ, các đảng phái và nhà lãnh đạo của hai nền cộng hòa này.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #13 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 09:59:46 pm »

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Mặc dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận nhiều công sở và nhân sự từ chính quyền thực dân Pháp và từ bộ máy Nhà nước Việt Nam của Bảo Đại, nòng cốt của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một liên minh giải phóng có tên là Việt Nam độc lập Đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) do Hồ Chí Minh (1890-1969) lãnh đạo. "Hồ Chí Minh" là tên mới của một người mà nhiều đồng bào của ông biết tới với tên gọi Nguyễn Ái Quốc (có nghĩa là người yêu nước). Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập và lãnh đạo chủ chốt từ nước ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập năm 1930. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chí Minh hoạt động ở vùng biên giới Trung Quốc và Đông Dương, cung cấp tin tức bí mật từ Đông Dương cho bên ngoài... Mục đích của Hồ Chí Minh là giải phóng Đông Dương khỏi ách đô hộ "một cổ hai tròng" của Nhật và Pháp.


Ban đầu, Việt Minh được tổ chức và chỉ huy từ miền. Nam Trung Quốc, nhưng từ năm 1941 trở đi, Hồ Chí Minh chỉ huy Việt Minh từ những cơ sở bí mật ở Việt Nam gần biên giới Trung Quốc. Dưới lá cờ của Việt Minh, các nhóm dân tộc chủ nghĩa và cộng sản trong nước giành được quyền lực trên khắp các tỉnh thành và trung tâm hành chính lớn của Việt Nam vào tháng Tám 1945. Ban đầu, cuộc cách mạng không có một đầu mối chỉ huy tập trung, mà loang ra như một phản ứng dây chuyền, tỉnh thành nọ nối tiếp tỉnh thành kia và nhiều ủy ban Việt Minh được thành lập, có lúc có sự tham gia của tổ chức cộng sản, có lúc không. Ngay sau khi Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng Tám, các vị chỉ huy Việt Minh từ vùng giải phóng ở miền núi tiến về Hà Nội mà không có phương tiện liên lạc nào với các chỉ huy cách mạng ở các nơi khác. Hồ Chí Minh và những người đồng chí thân cận của Người được các chỉ huy cách mạng tại Hà Nội vui mừng đón tiếp, họ hợp thành chính phủ cộng hòa đầu tiên. Một phái đoàn được cử đến Huế để yêu cầu hoàng đế thoái vị, và khi Bảo Đại tự nguyện thoái vị, ông được mời về Hà Nội giữ vị trí cố vấn tối cao. Với tuổi tác, kinh nghiệm và khả năng thu phục lòng người, Hồ Chí Minh rõ ràng là ứng cử viên nổi bật cho vị trí chủ tịch nước của nền cộng hòa mới. Người giữ vị trí Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng. Lần đầu tiên, cái tên Hồ Chí Minh nổi bật trên trang nhất của các tờ báo trên toàn thế giới. Ngày 2 tháng Chín 1945, tại Hà Nội, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trước đông đảo dân chúng cất tiếng hỏi qua một chiếc micro hiện đại: "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?" và một tiếng reo vang trời của cả biển người hoan hỉ đáp lại lời Người, chỉ có rất ít người biết rằng Hồ Chí Minh chính là người cộng sản nổi tiếng Nguyễn Ái Quốc. Chưa đầy hai tháng sau ngày Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố thành lập, Trung tâm tình báo của Bộ Ngoại giao Mỹ đã có một bản báo cáo điều tra tình báo dài 90 trang, trong đó có tiểu sử của 69 vị chỉ huy giải phóng dân tộc tại Đông Dương thuộc Pháp. Mười trang được dành để nói về Hồ Chí Minh, ông được giới thiệu là "Nguyễn Ái Quốc (ngày nay được biết đến với tên gọi Hồ Chí Minh hay Lý Thụy)". Bản báo cáo khẳng định một cách chắc chắn rằng Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là một và nói rằng đây là người thông minh nhất, giàu kinh nghiệm nhất trong số "các nhà lãnh đạo cộng sản dân tộc chủ nghĩa của An Nam, với khả năng tổ chức xuất sắc"3.


Nguyễn Tất Thành, về sau là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Chí Minh, nói rằng ông sinh năm 1890. Điều này có thể chính xác và hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý về năm sinh này, nhưng chắc chắn là ngày sinh của Người không phải là ngày 19 tháng Năm như ngày được kỷ niệm chính thức* (Theo quan điểm của tác giả (BT)). Ngày này được chọn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1946 vì chính phủ muốn tổ chức một ngày lễ long trọng dành cho Người trước khi Người đi Pháp trên cương vị đứng đầu nhà nước. Vào năm 21 tuổi, nếu chúng ta công nhận là Người sinh năm 1890. Nguyễn Tất Thành rời Đông Dương, ra đi vòng quanh thế giới trên một chiếc tàu Pháp. Sau khi đến Anh và Mỹ, Người đến Paris, tại đây Người tham gia thành lập PCF và viết báo bênh vực quyền lợi của các dân tộc bị áp bức qua những bài báo ngắn trên các tờ báo nhỏ theo khuynh hướng xã hội. Trong thập niên 1920, Người làm việc với Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva, tham gia tổ chức Phòng Đông Nam Á của Quốc tế Cộng sản, sau đó hoạt động trong mạng lưới Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc và Xiêm, và năm 1930, Người đóng vai trò quyết định trong việc hợp nhất các lực lượng khác nhau trong phong trào cộng sản Đông Dương và thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.


Mật vụ Pháp săn lùng Hồ Chí Minh suốt nhiều năm, cho đến năm 1931 khi Người bị Anh bắt giữ tại Hồng Công. Pháp đề nghị Anh dẫn độ Người về Đông Dương, nếu Anh đồng ý thì chắc chắn Người sẽ bị xử rất nặng. Anh đã có lúc cân nhắc đề nghị của Pháp, nhưng cuối cùng đã từ chối. Báo chí cộng sản quốc tế năm 1932 có tin là Hồ Chí Minh đã chết do bệnh lao4, nhưng thực ra Anh đã thả Người vào tháng Giêng 1933 và để Người lên một chiếc tàu Trung Quốc đi đến Sán Đầu. Cuối cùng, Hồ Chí Minh đã đến được Mátxcơva dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản tổ chức vào mùa hè năm 1935, nhưng không phải với tư cách lãnh đạo phái đoàn Đông Dương. Chính đại hội này đã quyết định thành lập những mặt trận dân tộc có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân để ngăn chặn chủ nghìn phátxít, một chính sách mà sau đó Đảng Cộng sản Đông Dương đã áp dụng, mặc dù đầu năm đó tại Đại hội lần thứ II của Đảng tổ chức tại Macao, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua một chiến lược mang tính cục bộ hơn5. Trong thời gian cầm quyền ngắn ngủi của Chính phủ Mặt trận bình dân Pháp đứng đầu là đảng viên SFIO Léon Blum, từ năm 1936 đến 1937, các đảng phái dân tộc và cộng sản ở Đông Dương được hoạt động hợp pháp. Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh không tìm cách trở về Tổ quốc trong thời gian này, ông bị kẹt ở Nga tới tháng Mười 1938, sống sót sau cuộc thanh trừng của Xtalin, rồi đến Tây An ở miền Bắc Trung Quốc6.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #14 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:02:00 pm »

Gần cuối năm 1937, một lần nữa Đảng Cộng sản Đông Dương bị đàn áp dữ dội và nhiều đồng chí của Hồ Chí Minh như Lê Duẩn, Dương Bạch Mai, Trần Huy Liệu đã bị bắt trước khi Đảng đi vào hoạt động bí mật năm 1939. Năm 1940, một số lớn cơ sở đảng bị phá khi Pháp đàn áp một cuộc khởi nghĩa ở miền Nam, nhưng ban lãnh đạo mới của Đảng đã được thành lập ở gần Hà Nội. Lúc này, Trường Chinh, hay còn gọi là Đặng Xuân Khu, đã được thả ra khỏi nhà tù trong phong trào Mặt trận bình dân Pháp, ông làm biên tập cho tờ báo bí mật của Đảng tại Bắc Kỳ từ năm 1940 trở đi và đã duy trì hoạt động bí mật trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai mà không bị Pháp bắt. Ông trở thành nhà lãnh đạo tư tưởng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong suốt 40 năm sau đó. Năm 1941, tại cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm mục đích tổ chức lại Đảng sau khi cơ cấu lãnh đạo của Đảng ở miền Nam đã bị Pháp phá hủy, Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư, ông giữ chức vụ này cho tới năm 1956 và trở lại cương vị này trong vài tháng của năm 19867. Những người khác, như Phạm Văn Đồng hay Võ Nguyên Giáp, lánh sang Trung Quốc năm 1940 và gặp lại Hồ Chí Minh ở đây. Trong số những người trẻ tuổi, hai người này đã trở thành những người thân cận nhất của Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng về sau đóng một vai trò then chốt trong chính phủ và ngoại giao, ông dẫn đầu phái đoàn Việt Nam đàm phán ở Pháp vào mùa hè năm 1946. Võ Nguyên Giáp là người sáng lập và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và vì vậy, ông có một vai trò rất quan trọng trong hai cuộc khủng hoảng mà cuốn sách này đề cập, sau lãnh tụ Hồ Chí Minh.


Võ Nguyên Giáp sinh ngày 21* (Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 807, Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng Tám 1911 (BT)) tháng Tám 1911 ở Quảng Bình, miền Trung Việt Nam và khi những dòng này được viết năm 2009, ông vẫn đôi khi tiếp khách tại nhà riêng của mình ở trung tâm Hà Nội. Khi còn nhỏ, ông học ở những trường trung học tốt nhất của Pháp ở Huế và Hà Nội và ngay từ khi còn ít tuổi, ông đã tham gia hoạt động chính trị. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong khi học luật và giảng dạy ở một trường tư thục tại Hà Nội. Sau khi Pháp đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ do Đảng Cộng sản Đông Dương ở phía Nam lãnh đạo, ông thấy không thể tiếp tục ở lại Hà Nội. Ông chia tay người vợ trẻ và đứa con chưa chào đời để sang Trung Quốc. Tại đây, ông gặp Hồ Chí Minh và từ bỏ ý định đến thăm trung tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc là Diên An. Ông theo Hồ Chí Minh trở về vùng biên giới miền núi phía bắc thuộc tỉnh Cao Bằng, miền Bắc Việt Nam, học tiếng dân tộc thiểu số và kết giao với nhiều tộc trưởng, trưởng bản địa phương. Tháng Mười hai 1944, ông thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Trong chính phủ đầu tiên do Hồ Chí Minh thành lập sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp giữ chức Bộ trưởng Nội vụ; đến tháng Ba 1946, ông là Chủ tịch ủy ban toàn quốc kháng chiến. Tháng Tư và tháng Năm 1946, ông dẫn đầu phái đoàn Việt Nam thương thuyết bất thành với đại diện của Pháp tại Đà Lạt. Từ tháng Mười một, ông là Bộ trưởng Quốc phòng.


Trong hầu hết thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Dương thuộc Pháp tiếp tục được coi là một thuộc địa của Pháp dưới sự cai trị của Đô đốc Jean Decoux, ông này trung thành với chính phủ của Thống chế Pétain ở Vichy, chấp nhận cho Nhật đóng quân ở Đông Dương. Decoux tiếp tục nắm quyền kiểm soát công việc nội bộ của Đông Dương, thậm chí có đủ khả năng đàn áp các hoạt động của các đảng dân tộc thân Nhật. Jean Decoux đi theo chính sách phi hiện đại hóa, tìm cách khôi phục và duy trì các vương triều phong kiến tại Lào, Campuchia và An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, nhấn mạnh các giá trị truyền thống và toan tính thiết lập hệ tư tưởng kết hợp giữa đạo Khổng và chủ nghĩa Pétain8. Đông Dương thuộc Pháp hợp tác với Nhật là lý do duy nhất khiến Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho phép mình tiến hành một chính sách đi ngược lại chính sách của Pháp ở Viễn Đông và kêu gọi thành lập một cơ chế ủy trị quốc tế để thay thế sự cai trị của Pháp9. Ngày 9 tháng Ba 1945, Mỹ mất một số lý lẽ biện minh cho chính sách bài Pháp của mình khi Nhật bất ngờ tấn công quân đội thực dân Pháp và lật đổ chính quyền Decoux. Từ trước đó khá lâu, Pétain đã buộc phải rời khỏi Pháp, do vậy, việc chính quyền Decoux vẫn còn yên vị có thể coi là bất bình thường. Chính phủ mới của Pháp là chính phủ của Tướng de Gaulle đã bí mật liên hệ với những thành viên có ảnh hưởng trong chính quyền Decoux, tuy nhiên, việc này không hoàn toàn được giữ kín. Nhật lo ngại Mỹ chiếm Đông Dương và sợ Pháp sẽ tiếp tay cho Mỹ, chính vì vậy, Nhật đã tiến hành đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba. Đa số lực lượng của Pháp nhanh chónh bại trận và bị đưa vào trại tập trung, nhưng một số lính Pháp đã chạy thoát sang Trung Quốc. Nhật lập ra một chính phủ bù nhìn tại Huế do hoàng đế Bảo Đại đứng đầu. De Gaulle lợi dụng cuộc đảo chính của Nhật để thúc đẩy Mỹ thay đổi chính sách đối với Đông Dương. Nhưng khi Roosevelt qua đời, chỉ vài ngày sau, Ngoại trưởng Mỹ là Edward Stettinius hứa với người đồng nhiệm phía Pháp rằng Mỹ sẽ tôn trọng chủ quyền của Pháp ở các thuộc địa Đông Nam Á. Mặc dù vậy, tại Hội nghị Potsdam tháng Bảy năm đó, Truman vẫn không hỏi ý kiến de Gaulle khi ông ta đồng ý chia Đông Dương làm hai phần cho Trung Quốc và Anh mà không hề giao cho Pháp vai trò quân sự nào10.


Trong lúc này, vụ đảo chính của Nhật đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho công cuộc kháng chiến của Hồ Chí Minh và Việt Minh. Việt Minh lập ra "vùng giải phóng" ở miền Bắc Việt Nam và mở rộng mạng lưới ra hầu khắp Đông Dương, đồng thời tiếp tục hỗ trợ các tổ chức tình báo Trung Quốc và Mỹ, giúp đỡ các phi công Mỹ nhảy dù. Thậm chí, Hồ Chí Minh còn tiếp một phái đoàn Phòng Tình báo Mỹ tại căn cứ ở miền Bắc Việt Nam".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #15 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:04:17 pm »

Bước vào thời kỳ cuối của chiến tranh, Nhật không còn quan tâm nhiều đến việc đánh Việt Minh và tự bằng lòng với việc giữ các thành phố lớn và đường dây liên lạc. Nhật cho phép chính quyền Bảo Đại bổ nhiệm một số người Việt theo đường lối cải cách vào những vị trí quan trong trong chính quyền, Việt Minh tận dụng cơ hội này để đưa người thâm nhập vào chính quyền công khai. Từ tháng Tám 1944, ban lãnh đạo Việt Minh đã lập kế hoạch giành chính quyền ở Đông Dương khi chiến tranh ở châu Á - Thái Bình Dương kết thúc. "Chúng ta thậm chí không cần phải giành chính quyền bằng vũ lực, bởi vì sẽ không còn chính quyền nào nữa" - một tài liệu đề ngày 6 tháng Tám 1944 nhận định12. Tin tức về các vụ nổ bom nguyên tử tại Hiroshima, Nagasaki và việc Liên Xô tấn công Mãn Châu giữa tháng Tám 1945 là tín hiệu tiến hành "Cách mạng Tháng Tám". Các nhà hoạt động cách mọng nhanh chóng giành được chính quyền, đầu tiên ở Hà Nội và sau đó là Huế và Sài Gòn. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp tiến về Hà Nội, rồi khi Bảo Đại thoái vị tại Huế, ngày 2 tháng Chín, đã đến thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của mình, khẳng định nền độc lập của Việt Nam với một sĩ quan Mỹ đứng ngay hàng đầu bên dưới khán đài và máy bay Mỹ bay trên bầu trời. Nhật không muốn đổ máu thêm chút nào để ngăn cản Cách mạng Tháng Tám. Họ đã thua trận và phần lớn trong số họ ở yên trong trại lính, tuy nhiên, vài nghìn người đào ngũ rồi gia nhập quân đội Việt Nam với tư cách huấn luyện viên, cố vấn quân sự, thậm chí trực tiếp tham chiến. Không bao lâu sau, Anh ra lệnh cho quân Nhật trong các trại lính tham gia đàn áp cuộc cách mạng ở miền Nam và họ đã thực hiện nhiệm vụ này đến nơi đến chốn. Như vậy là người Nhật đã chiến đấu và hy sinh cho cả hai phía13.


Khoảng trống quyền lực quân sự xuất hiện sau khi Nhật đầu hàng và kéo dài ba tuần cho tới khi lực lượng chiếm đóng của Anh và Trung Quốc tràn vào, là điều kiện thuận lợi để tiến hành cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không thể biết trước được việc Nhật đầu hàng. Trước đó, Hồ Chí Minh và ông Giáp đã chuẩn bị lực lượng để tiến hành tổng khởi nghĩa nhằm hỗ trợ cho quân Đồng minh tiến vào. Không chuẩn bị tinh thần để thành lập một chính quyền thay thế cho Nhật khi Nhật đầu hàng, nhưng vì nắm giữ cương vị lãnh đạo của Việt Minh và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nên đương nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Giáp đã trở thành những người đứng đầu của nền cộng hòa mới. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh giữ Vai trò hậu trường hơn.


Sau khi Bảo Đại thoái vị, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được tính hợp pháp cao trên toàn quốc, buộc các nhóm dân tộc trước đó vẫn còn nghi ngờ Hồ Chí Minh phải tìm chỗ đứng cho mình trong nền cộng hòa mới này. Việc các lực lượng Đông Dương thống nhất theo một hướng là điều thuận lợi cho ý đồ của Việt Minh. Đa số nhân dân đều sẵn sàng đoàn kết đấu tranh vì độc lập. Mặc dù vậy sự thống nhất của các lực lượng bên ngoài Đông Dương lại không theo hướng thuận lợi tương tự. Thậm chí, không có nước nào tính đến chuyện công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhiều nước rất lâu sau mới biết đến sự tồn tại của nhà nước này14. Thế giới lúc này ít nhiều coi như Pháp hiển nhiên có chủ quyền đối với Đông Dương, vả lại cuộc cách mạng của Việt Nam hầu như không được báo chí cộng sản quốc tế chú ý. Chính phủ de Gaulle bày tỏ ý định rõ ràng về việc sẽ gửi lực lượng viễn chinh Pháp đến để lập lại sự cai trị của Pháp đối với Đông Dương. Ngay sau khi Nhật đầu hàng de Gaulle tuyên bố bổ nhiệm Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu là Cao ủy, còn Leclerc là Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã rất sáng suốt nhận định như người phát ngôn của Đảng trong bài diễn văn tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội sáng mùng 2 tháng Chín: "Việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu"15.


Điểm thuận lợi là khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, đạo quân viễn chinh Pháp không ở gần Đông Dương, vì vậy, Anh và Tưởng là những lực lượng có mặt đầu tiên để tiếp quản Nhật đầu hàng, mặc dù cũng có một vài người Pháp xuất hiện với tư cách đại diện cho nhà nước chủ quyền và bắt liên lạc với sĩ quan và lính Pháp trong các nhà tù và trại tập trung của Nhật, cũng như liên lạc với hàng nghìn người Pháp đang sống vất vưởng từ sau ngày 9 tháng Ba. Năm 1943, khi lực lượng Anh ở Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Huân tước Mountbatten được thành lập, các bên chưa có thỏa thuận gì về trách nhiệm của lực lượng này trong việc tiến hành các chiến dịch của quân Đồng minh ở Đông Dương. Anh muốn Mountbatten chịu trách nhiệm về Đông Dương giống như Thái Lan và Miến Điện. Trong khi đó, kế hoạch ủy trị của Roosevelt tác động khiến Mỹ ủng hộ việc đưa Đông Dương vào vùng ảnh hưởng của Tưởng Giới Thạch. Có những lúc Đông Dương đã trở thành lý do bất hòa giữa các đồng minh, do vậy, thỏa thuận của Bộ Tham mưu hỗn hợp Anh - Mỹ tại Potsdam tháng Bảy 1945 về việc chia Đông Dương thành hai phần cho Anh và Tưởng là kết quả của một cuộc tranh cãi kéo dài. Thỏa hiệp chia đôi Đông Dương sẽ tác động sâu sắc và lâu dài tới lịch sử Việt Nam16.


Chừng 20 ngày sau khi Nhật đầu hàng và một tuần sau Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân Anh tới Sài Gòn bằng đường thủy, đồng thời một đội quân Tưởng đồ sộ tràn qua biên giới phía Bắc. Anh muốn chuyển giao quyền lực cho Pháp càng sớm càng tốt, nhưng một số chỉ huy phía Tưởng âm mưu ngăn cản Pháp tái chiếm Bắc Kỳ nhằm mục đích lập một chế độ thân Tưởng ở Việt Nam. Ngày 23 tháng Chín, lính Pháp thoát khỏi trại tập trung của Nhật được quân Anh cung cấp vũ khí đã gây binh biến tại Sài Gòn và chiếm được tất cả các tòa nhà công sở lớn. Một làn sóng giết chóc tiếp liền sau đó, trong đó có vụ thảm sát thường dân Pháp tại khu Cité Héraud. Ngày 5 tháng Mười, Tướng Leclerc đến Sài Gòn. Quân Anh, Pháp và Nhật Bản hợp sức với nhau để "làm dịu" tình hình, trong đó quân Nhật được sử dụng vào những hành động tàn bạo nhất. Cho tới tháng Hai 1946, với sự giúp đỡ của quân Anh, Pháp đã giành được quyền kiểm soát tất cả các thành thị lớn và đường giao thông chính, cũng như phần lớn các làng mạc ở nam vĩ tuyến 1617. Nếu như tại Potsdam, Mỹ nhượng bộ Anh mà giao toàn bộ Đông Dương cho Mounlbntten thì rất có thể Pháp đã tiêu diệt chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh ngay trong mùa thu năm 1945 và châm ngòi cho chiến tranh trên khắp Đông Dương18. Thế nhưng sự có mặt của đội quân Tưởng đông đúc đã cho phép Việt Minh thiết lập vị trí then chốt trong chính phủ cộng hòa mới, một chính phủ có quyền chính đáng đại diện cho cả nửa phía nam của đất nước nữa.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #16 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:08:19 pm »

Việt Minh là gì? Đó là một tổ chức mặt trận dân tộc với nhiều thành viên không phải là cộng sản, nhưng nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thể hiện rõ nhất là ở cơ cấu lãnh đạo cấp cao. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cộng sản Việt Nam đã bị chia rẽ sâu sắc giữa hai phe, một bên là phe quốc tế cộng sản cho rằng phong trào cộng sản Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp, và bên kia là phe dân tộc theo đường lối của Lênin về quyền dân tộc tự quyết và noi gương Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Hồ Chí Minh thuộc phe thứ hai. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các đảng cộng sản ít nhiều nghiêng về chủ nghĩa ái quốc và tuyên truyền kháng chiến chống phátxít, đế quốc và chế độ quân phiệt, nhờ vậy mà phe dân tộc dần dần thắng thế. Trong mười năm đầu sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập, các vị lãnh đạo của Đảng phần thì bị bắt, phần thì ở lân cận Sài Gòn và chịu nhiều tổn thất khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị Pháp dập tắt năm 1940. Sau đó, một ban lãnh đạo mới đã được thành lập ở miền Bắc với nòng cốt là Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt. Họ thường xuyên liên lạc với phong trào do Hồ Chí Minh gây dựng ở vùng biên giới Trung Quốc, ngay từ đầu phong trào này đã do các lãnh đạo của Đảng chỉ huy. Sau khi Nhật Bản đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba, Việt Minh đã nhanh chóng lập cơ sở ở các tỉnh, huyện trên khắp miền Bắc Việt Nam, cũng như lập cơ sở trong nhóm người Việt ở Lào, nhưng miền Nam Việt Nam lại đi theo một con đường khác. Cộng sản miền Nam có tổ chức mặt trận riêng của họ là Thanh niên tiền phong, tổ chức này được Nhật làm ngơ cho hoạt động và không có liên hệ gì với Hồ Chí Minh. Lãnh đạo của Thanh niên tiền phong là một bác sĩ hội viên Hội tam điểm tên là Phạm Ngọc Thạch. Ông công khai hợp tác với nhà cầm quyền Nhật, đồng thời giữ liên hệ thường xuyên với các lãnh đạo đảng cộng sản hoạt động bí mật19. Như vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương ở miền Nam hoạt động công khai hơn ở miền Bắc và bị chia rẽ thành hai nhánh có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, Việt Minh ở miền Bắc có ưu thế hơn, Thanh niên tiền phong giải tán và hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương ở miền Nam cũng rút vào bí mật nhiều hơn.


Ngày 11 tháng Mười một 1945, như đảng viên kỳ cựu Hoàng Tùng cho biết, theo quyết định của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Đông Dương đi một nước cờ khiến về sau Đảng phải chịu sự chỉ trích nghiêm trọng từ phong trào cộng sản quốc tế: tự giải tán. Ông Hoàng Tùng nhớ lại rằng Hồ Chí Minh đã phải rất cố gắng mới thuyết phục được Tổng Bí thư Trường Chinh đồng ý với một nước cờ dị thường như vậy20, về sau này, Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như Đảng Cộng sản Pháp đều nói rằng việc giải tán Đảng chỉ là để ngụy trang. Đảng chỉ chuyển sang hoạt động bí mật và tiếp tục hoạt động với tư cách Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, hay như ông Trường Chinh gọi là "Đoàn thể", ông và một số lãnh đạo Đảng như Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng và Hoàng Văn Hoan âm thầm hoạt động trong bóng tối, trong khi các thành viên lãnh đạo cấp cao khác của Đảng như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam thì giữ những vị trí công khai trong chính quyền. Một thời gian, Nguyễn Lương Bằng còn giữ vai trò trên danh nghĩa là Chủ tịch Mặt trận Việt Minh... Tài liệu của tình báo Pháp trong giai đoạn này có những tài liệu lấy được "Việt Minh và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng rất ít tài liệu xuất phát từ "Đảng Cộng sản" hay "Đoàn thể". Đảng không còn phát hành một tờ báo nào sau khi đóng cửa tờ Cờ Giải Phóng do ông Trường Chinh làm tổng biên tập. Báo đảng chỉ có một nguyệt san tạp chí mang tính chất lý luận là tạp chí Sự Thật tạp chí này thì nặng về lý luận tới mức ảnh hưởng của nó trên thưc tế khá hạn chế. Nếu Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động dưới vỏ ngụy trang thì lớp áo ngụy trang đó chắc chắn đã tác động tiêu cực tới hoạt động và sự phát triển của Đảng, thậm chí có lẽ làm giảm khá nhiều ảnh hưởng của Đảng đối với những quyết định quan trọng21.


Những lý do công khai của việc giải tán đảng là: thời cơ có một không hai để giành độc lập dân tộc; sự cần thiết phải đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt tầng lớp, đảng phái; quyết tâm chứng minh rằng người cộng sản sẵn sàng chịu những hy sinh lớn lao và đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và đảng phái; mong muốn xóa bỏ những hiểu nhầm cả ở trong và ngoài nước22. Mặc dù vậy, lý do thực sự là để xoa dịu quân Tưởng, một lực lượng mà ai cũng biết là thù nghịch với cộng sản và đang chiếm đóng Việt Nam. Điều này không dễ dàng gì, nhưng cuối cùng việc giải tán đảng đã có kết quả. Mặc dù Tưởng Giới Thạch chính thức có chiến tranh với phe cộng sản Trung Quốc, nhưng lực lượng của Tưởng ở Bắc Đông Dương chung sống hòa bình với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà nòng cốt là cộng sản, và còn khuyến khích sự hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các đảng chống cộng như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội.


Từ năm 1941 đến tháng Ba 1946, Việt Minh đã vượt qua một số chặng đường. Chặng đường đầu tiên là giai đoạn hoạt động bí mật từ năm 1941 đến tháng Ba 1945, sau đó đến chặng thứ hai từ tháng Ba đến tháng Tám 1945, khi chế độ thực dân Pháp sụp đổ tạo ra thời cơ có một không hai để tuyên truyền và gây dựng cơ sở Việt Minh ở khắp khu vực Bắc Đông Dương. Chặng đường thứ ba từ tháng Tám 1945 đến tháng Ba 1946 khi Việt Minh và các thiết chế của chính quyền mới đan xen với nhau. Giai đoạn mà cuốn sách này nghiên cứu, từ tháng Ba đến tháng Mười hai 1946 tương ứng với chặng đường thứ tư, trong thời gian này đã có những cố gắng nhằm phân biệt giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách một nhà nước và Việt Minh với tư cách một tổ chức mặt trận chính trị23. Một lý do cần phải tách biệt đảng và mặt trận là những lực lượng mà trong Chiến tranh thế giới thứ hai là kẻ thù của lực lượng của Hồ Chí Minh ở phía nam Trung Quốc, như Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, đã nắm được một phần quyền lực chính trị, kiểm soát một số bộ trong chính phủ và tổ chức quân đội riêng chiếm đóng, kiểm soát một số vùng. Phần lớn bọn họ từ chối lời mời gia nhập Mặt trận Việt Minh và bị các nhà lãnh đạo cộng sản coi là những kẻ phản bội. Một mặt trận rộng lớn hơn là Mặt trận Liên Việt được thành lập để lôi kéo họ và tạo sự đồng thuận rộng rãi hơn trên toàn quốc, nhưng Liên Việt chỉ đạt được những thành công hạn chế và phong trào giải phóng dân tộc do cộng sản lãnh đạo tiếp tục được trong nước và thế giới biết đến với cái tên Việt Minh. Ngoài Đảng Cộng sản, Việt Minh còn có một Đảng Xã hội quy mô nhỏ và một Đảng Dân chủ có ảnh hưởng lớn hơn, cả hai đảng này đều tiếp tục tồn tại như "những người bạn đồng hành" với Đảng Cộng sản cho đến tận năm 1990 mới giải tán.


Trong chặng đường đầu tiên, Việt Minh được tổ chức theo hai trật tự song song, một trật tự theo chiều dọc với các lãnh đạo được bầu và một trật tự theo chiều ngang với lãnh đạo đảng được trên bổ nhiệm xuống. Theo chiều dọc, Việt Minh bao gồm nhiều loại hình tổ chức khác nhau: các đảng phái, tổ chức thanh niên, tổ chức phụ nữ, tổ chức tôn giáo, quân đội, v.v... Theo chiều ngang, Việt Minh chia thành các ủy ban Việt Minh, mỗi ủy ban chịu trách nhiệm về một khu vực địa lý. Cấp trên kiểm soát cấp dưới về mặt chính trị rất chặt chẽ, nhưng đối với những vấn đề thực tiễn đời sống mỗi ủy ban Việt Minh có quyền hành động tương đối tự do.


Ở mỗi vùng, các hệ thống tổ chức theo chiều ngang và theo chiều dọc hợp lại ở cấp cao nhất tại ủy ban Việt Minh. Chủ tịch ủy ban được cấp trên bổ nhiệm, nhưng một số thành viên nhất định được bầu để đại diện cho các tổ chức theo chiều dọc. Ở cấp quốc gia, Trung ương Đảng bao gồm đại diện của tất cả các tổ chức theo chiều dọc, đại diện của ba miền Việt Nam và lãnh đạo của một số tổ chức đặc biệt như quân đội, ban tuyên huấn, ban hành chính. Cho tới Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh là Chủ tịch Ủy ban Trung ương, nhưng khi Người trở thành Chủ tịch nước, ông Nguyễn Lương Bằng thay Hồ Chí Minh đảm nhiệm chức vụ này. Ban Chấp hành Trung ương hội bầu một Tổng bộ hay Bộ Chính trị, có trách nhiệm chỉ huy Việt Minh trong công việc thường nhật. Trong cuốn Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952 (Lịch sử Việt Nam từ năm 1940 đến 1952) xuất bản năm 1952 của Philippe Devillers, một cuốn sách có ảnh hưởng lớn trong giới chuyên môn và có độ tin cậy cao, Philippe Devillers liệt kê tám người sau đây có thể là thành viên Tổng bộ vào thời điểm năm 1946: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu, Hoàng Quốc Việt, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Lương Bằng24.


Sang giai đoạn 2, tức là từ sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống chiều dọc của Việt Minh chuyển thành các cơ quan thay thế hệ thống hành chính bản địa tại An Nam và Bắc Kỳ vốn là các lãnh thổ bị đặt dưới chế độ bảo hộ. Thực ra cộng sản đã cài nhiều người vào hệ thống này từ trước. Lúc này họ nắm quyền kiểm soát bộ máy nhà nước, bổ nhiệm người mới vào các vị trí và thành lập các hội đồng nhân dân. Chính vì vậy, người ta nói rằng giai đoạn này tổ chức Việt Minh đan xen với nhà nước. Ngày 6 tháng Giêng 1946, lần đầu tiên Việt Nam tổ chức bầu cử trên toàn quốc, nhưng hầu như khắp nơi ứng cử viên đều là Việt Minh, cử tri bỏ phiếu kín để lựa chọn một số người, những người nhận được nhiều phiếu nhất trúng cử, Trước khi bầu cử diễn ra, các tướng lĩnh Trung Quốc đã ép Việt Minh thỏa thuận cho hai đảng dân tộc thân Tưởng là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội đưa 70 đại biểu của họ vào thẳng Quốc hội không qua bầu cử. Giống như một kỳ thủ nhường đối phương kém hơn đi trước một nước để cho ván cờ ngang tài ngang sức, Việt Minh vẫn ở thế áp đảo...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #17 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:10:00 pm »

Khi tìm hiểu quá trình ra quyết định ở cấp lãnh đạo cao nhất diễn ra như thế nào, giữa Đông Dương Cộng sản Đảng, hay còn gọi là "Đoàn thể", Tổng bộ Việt Minh và Hội đồng Chính phủ (Nội các) có sự phân vai như thế nào, ta sẽ thấy hết sức thú vị và hữu ích25. Tất nhiên cơ quan tình báo Pháp cũng quan tâm đến vấn đề này. Tình báo Pháp cho rằng Tổng bộ họp mỗi tuần một lần, ngoài ra hằng tuần Tổng bộ Việt Minh còn họp một lần nữa với các quan chức chủ chốt tại tất cả các bộ quan trọng. Theo tình báo Pháp tại cuộc họp này, các quyết định của Tổng bộ được "thông báo để các bộ thực hiện", mặc dù những người dự họp có thể thảo luận về các quyết định này. Nếu điều này là đúng thì Tổng bộ có quyền lực lớn hơn Hội đồng Chính phủ. Mặc dù vậy, có thể là Pháp nhầm lẫn Tổng bộ với Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản. Các báo cáo tình báo của Pháp nói rất ít về Đảng Cộng sản Đông Dương và không báo cáo nào nhắc đến Trung ương Đảng. Trong khi đó, sau này các nhà sử học Việt Nam nói rằng tất cả các vấn đề mang tính chiến lược đều do Đảng quyết định. Cũng có thể người ta đã gjải thích sai lịch sử hoặc thêm thắt các cuộc họp của Đảng, nhưng khả năng lớn hơn là tình báo Pháp đã bị lừa. Khó có thể biết chắc làm cách nào mà Đảng bảo đảm được các chức năng cơ bản sau khi đã chính thức giải tán, nhưng có một tài liệu đặc biệt mà trong chương sau tôi sẽ còn đề cập có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó hé lộ một vài điều về Đảng. Đó là một nghị quyết về vấn đề tổ chúc do Trường Chinh chuẩn bị và được chính thức ban hành vào ngày 22 tháng Mười hai 1946, ba ngày sau khi chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Trang đầu của nghị quyết này chỉ có tên của tài liệu không có tên của tổ chức nào. Nhưng trang thứ hai bắt đầu bằng hô ngữ "các đồng chí C.S"., "C.S". có nghĩa là "Cộng sản", và có lời nói đầu ký tên "T.V.T.U.D.C.S.D.D" mà bất kỳ đảng viên cộng sản Việt Nam nào cũng nhận ra là viết tắt của "Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương"26. Điều này chứng tỏ rằng Ban Thường vụ của ông Trường Chinh thực sự tồn tại.


Tình báo Pháp hết sức chú ý tới mối quan hệ giữa những người "trung hòa" và những người "cực đoan" trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng. Nguồn cung cấp tin cho Pháp nói rằng có hai phe phái cạnh tranh quyền lực với nhau trong Đảng, Pháp âm mưu lợi dụng điều này để gây chia rẽ trong nội bộ Đảng. Pháp cho rằng Hồ Chí Minh là một người trung hòa. Tin tình báo cho biết Hồ Chí Minh thân cận với hai người trung hòa khác là đảng viên cộng sản Hoàng Hữu Nam và đảng viên xã hội Hoàng Minh Giám, về Võ Nguyên Giáp thì các nguồn tin tình báo không thống nhất... Pháp không phải là thiếu khôn ngoan khi âm mưu khai thác mâu thuẫn nội bộ của lãnh đạo Việt Minh, nhưng ý đồ chia rẽ của Pháp luôn luôn thất bại. Đó là vì những người cộng sản Việt Nam có sự gắn kết chặt chẽ và tính kỷ luật nghiêm khắc, hơn nữa còn được củng cố bởi lòng trung thành với Hồ Chí Minh.


Tính đến tháng Hai 1946, Hồ Chí Minh đã làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được năm tháng. Đó là năm tháng cực kỳ gian nan, vất vả. Người liên tục phải đàm phán với các đảng dân tộc chủ nghĩa đối lập, các cố vấn và tướng lĩnh Tưởng, các sĩ quan Nhật còn ở lại, và đại diện của Pháp đến bằng máy bay hoặc nhảy dù. Khả năng thu phục lòng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể cả đối với đối thủ của mình, đóng một vai trò lớn trong xử lý quan hệ với Tưởng và Pháp. Tướng Leclerc, Cao ủy Jean Sainteny, Bộ trưởng Marius Moutet và Thủ tướng Georges Bidault, chưa kể chính Thống chế d'Argenlieu, đều được Hồ Chí Minh gọi trong thư gửi họ là "bạn thân mến", và chắc chắn là Người cũng tìm được những từ ngữ thích hợp để lấy lòng các tướng lĩnh của Tưởng. Hầu như tất cả những người đã từng gặp mặt người cộng sản kỳ cựu với bộ râu dài bạc trắng ấy đều có ấn tượng sâu sắc về ông. Năm 1947, một sĩ quan Pháp đã viết: "Không còn nghi ngờ gì nữa, Hồ Chí Minh là một nhân cách vĩ đại với một trình độ văn hóa sâu rộng có được nhờ cần mẫn, quyết tâm tự học và trí thông minh xuất chúng, một lòng trung thành với lý tưởng của mình, tuyệt đối không thể mua chuộc, và một lòng yêu nước thiết tha". "Sự cương quyết, gắng sức, sự khôn khéo và bề dày kinh nghiệm làm việc theo phương pháp luận bônsêvích biến ông thành một lãnh đạo cách mạng nguy hiểm, ông sẽ không chùn bước trước bất kỳ khó khăn, trở ngại nào để đạt được mục đích của mình là nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam"27.


Tương tự như vậy, Jean Sainteny viết trong cuốn hồi ký của mình cũng nhắc đến những đặc điểm của Hồ Chí Minh: "Vốn văn hóa sâu rộng, trí thông minh xuất chúng, xông xáo, táo bạo vô cùng, cần kiệm, giản dị tới mức khắc khổ và tuyệt đối không thể bị mua chuộc". Giáo sư Paul Mus, một trong những chuyên gia Pháp về Việt Nam có rất nhiều thông tin, người đã đóng một vai trò không nhỏ trong "chiến tranh tâm lý" của Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai28 vào năm 1947 đã nói với một người quen của ông ta rằng Hồ Chí Minh là "một nghệ sĩ tài năng", và như mọi năng khác, ông chỉ có thể diễn xuất trên nền tảng là sự chân thành của mình. Bản thân Võ Nguyên Giáp đã xác nhận khả năng thuyết phục xuất sắc của người thầy của ông...: "Bác Hồ có tài đo ý nghĩ và cảm giác của kẻ thù. Bác tài tình, tỉ mỉ vạch phương án đối xử với từng nhóm, từng người... Thậm chí, trong số kẻ thù của Bác có những tên khét tiếng chống cộng sản cũng kính trọng Bác. Dường như họ hiền lành hơn khi đứng trước Người"29, ông Giáp khiến người ta kính sợ và nể phục, còn Hồ Chí Minh khiến người ta tôn thờ.


Giữa thế kỷ XX, khi làn sóng cách mạng vô sản đang dâng cao trên toàn thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là một trong những nhà lãnh đạo cộng sản xuất sắc nhất như Lênin, Xtalin Mao Trạch Đông, Kim II Sung và Caxtrô. Cho đến năm 2009, có lẽ ông là người duy nhất đã bước qua thử thách của lịch sử mà lòng kính trọng người ta dành cho ông vẫn nguyên vẹn. Ngay như tôi là một nhà sử học kém cỏi say mê tiêu thời gian bằng cách lật giở từng trang tài liệu bụi bặm cũng không thoát khỏi sức hấp dẫn lớn lao của Hồ Chí Minh. Thư từ, điện tín của Người luôn luôn khác thường. Do vậy, nếu kể đến những người ngưỡng mộ Hồ Chí Minh thì tôi xin tình nguyện xếp mình vào đó.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #18 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:11:44 pm »

NƯỚC PHÁP MỚI


Nước Pháp mới không có sự lãnh đạo nhất quán như Việt Minh. Cho tới ngày 20 tháng Giêng 1946, nước Pháp nằm dưới sự lãnh đạo của một nhân vật nổi tiếng là Tướng de Gaulle, một người sống gần như tuyệt đối cùng thời với Hồ Chí Minh: cả hai đều sinh năm 1890, Hồ Chí Minh mất năm 1969, còn de Gaulle mất năm 1970. De Gaulle giữ một vai trò quan trọng trong việc thiết kế cơ chế ra quyết định tại Đông Dương, cơ chế này tồn tại trong suốt năm 1946. Ngày 20 tháng Giêng 1946, ông từ chức Thủ tướng (Chủ tịch Hội đồng Chính phủ) và rút về quê ông ở Colombey-les-Deux- Eglises. Từ lúc đó, nước Pháp bước vào thời kỳ lập hiến đầy khó khăn, với bốn chính phủ liên minh nối tiếp nhau lên cầm quyền trong vòng chưa đầy một năm. Mặc dù vậy, có hai người cần đặc biệt chú ý vì họ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tìm cách đặt nền móng tái sinh một khối Liên hiệp Pháp và cải cách Đông Dương: đảng viên SFIO Marius Moutet (1876-1968) và đảng viên Đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo Georges Bidault (1899-1983).


Ngày 18 tháng Ba 1947, trong một bài diễn văn trước Quốc hội Pháp, Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet điểm lại những năm vừa qua và thú nhận là ông đã bị thuyết phục rằng Hồ Chí Minh chân thành mong muốn hợp tác với Pháp. Moutet phát biểu: "Tôi đã quen với kiểu người như ông ấy. Tôi đủ nhiều tuổi để hiểu họ". Ông đủ kinh nghiệm để biết rằng không nên coi lời nói của người "Viễn Đông" như kinh thánh. Mặc dù vậy, ông ta vẫn chắc chắn rằng Hồ Chí Minh có ấn tượng tốt với nước Pháp vì Pháp đã đối xử với ông trọng thị "như với một nguyên thủ quốc gia thực sự"30.


Marius Moutet hơn Hồ Chí Minh 14 tuổi, ông ta được bầu vào Quốc hội Pháp lần đầu tiên vào năm 1914, với sự ủng hộ mạnh mẽ của nhà lãnh đạo tiên phong trong SFIO là Jean Jaurès. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông chuyên phụ trách các vấn đề thuộc địa và nêu cao chủ trương đối xử bao dung, đồng hóa các thuộc địa, từ bỏ chính sách đàn áp dã man tại các thuộc địa và tôn trọng các quyền tự do dân chủ. Ngày 4 tháng Sáu 1936, khi SFIO của Léon Blum thành lập Chính phủ Mặt trận bình dân, Marius Moutet được Léon Blum chọn làm Bộ trưởng Thuộc địa, Moutet giữ chức vụ này cho tới ngày 10 tháng Tư 1938. Theo đề xuất của Moutet, Pháp cấm sử dụng lao động cưỡng bức ở tất cả các thuộc địa và tiến hành một số cải cách pháp lý theo hướng bảo vệ các quyền xã hội và dân chủ Moutet là Bộ trưởng Thuộc địa đầu tiên bổ nhiệm một người da đen tên là Félix Eboué vào một vị trí quan trọng trong chính quyền thuộc địa - thống đốc thứ nhất của Guadeloupe, rồi sau đó trở thành thống đốc của Khối châu Phi Xích đạo thuộc Pháp. Năm 1940, sau khi Pháp thua trận Hitler, Moutet là một trong 90 thành viên Quốc hội Pháp bỏ phiếu chống dự luật giao toàn quyền cho Thống chế Pétain. Sau đó, ông chuyển sang hoạt động bí mật. Sau ngày giải phóng Pháp, Moutet được bầu vào Hội đồng lập hiến và nhậm chức Bộ trưởng Hải ngoại Pháp từ ngày 22 tháng Giêng 1946, sau khi de Gaulle từ chức. Moutet tích cực phản đối ý đồ của de Gaulle thành lập một "nền cộng hòa tổng thống", trao quyền lực lớn cho ngành hành pháp. Cũng như nhiều cựu thần của Đệ tam Cộng hòa Pháp, Moutet mong muốn có một hiến pháp trao quyền lực lớn hơn cho Quốc hội để Quốc hội kiểm soát ngành hành pháp.


Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách thuộc địa của de Gaulle và Vichy thực ra không có nhiều khác biệt. Trong khi Vichy tìm cách củng cố sự cai trị trên các lãnh thổ hải ngoại để bù đắp sự kém cỏi quyền lực ở châu Âu, thì de Gaulle muốn sử dụng các thuộc địa như một món của cải để đóng góp cho phe Đồng minh. Như vậy là họ đều có lợi ích chung trong việc duy trì thế đứng vững chắc nhất có thể của Pháp ở các thuộc địa. Thế nhưng cũng chính tại đây, những người theo phe Pétain và những người theo de Gaulle lại đấu đá nhau ác liệt, khiến Toàn quyền Jean Decoux phải gắng sức đẩy những người gôlít (theo phe de Gaulle) ra khỏi bộ máy chính quyền Đông Dương. Trong khi Pétain và Decoux công khai thể hiện chính sách độc tài thì de Gaulle sát cánh vởi đại diện cánh tả và cánh trung, đảng cộng sản, đảng xã hội, đảng cấp tiến và dân chủ Công giáo. Sau khi chiến tranh kết thúc, Đô đốc Decoux đã có cuộc đụng độ ngắn với de Gaulle trong lần được de Gaulle tiếp tại Paris. Theo Decoux, Tướng de Gaulle cư xử "còn hơn cả lạnh lùng; phải nói là băng giá, đúng kiểu của "người kháng chiến số 1 của nước Pháp" tiếp một toàn quyền bình thường từng làm việc cho chế độ Vichy xấu xa"31. Lúc này, Moutet chưa chiếm được nhiều ảnh hưởng đối với chính sách thuộc địa của Pháp, nhưng các nhà tư tưởng tiến bộ trong Bộ Thuộc địa, dẫn đầu là một người có tư tưởng tự do, theo phe de Gaulle là Henri Laurentie, đang xây dựng phương án cải cách sâu rộng chế độ thuộc địa, biến "Đế quốc" thành "Liên hiệp", "các lãnh thổ được bảo hộ" thành "nước liên hiệp" và "thuộc địa" thành "lãnh thổ tự trị" hoặc "lãnh thổ tự quản"32.


Sự hợp tác của Decoux với Nhật Bản khiến de Gaulle gặp khó khăn trong việc thuyết phục Mỹ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, trong khi de Gaulle không có cách nào gửi quân đến Đông Dương nếu không được quân Đồng minh cho mượn tàu biển. De Gaulle đành tìm cách bí mật gây dựng một phong trào kháng chiến trong số dân thường người Pháp và binh lính Pháp ở Đông Dương, dự định của de Gaulle, cũng như của Hồ Chí Minh là giúp đỡ quân Đồng minh khi Anh hoặc Mỹ sẵn sàng lấy lại Đông Dương từ tay Nhật. Khi biết tin Nhật tiến hành vụ đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945, de Gaulle lập tức có hành động ngoại giao, ông ta yêu cầu Đồng minh giúp "nhóm kháng chiến Pháp" tại Đông Dương, chuyển một lực lượng quân viễn chinh Pháp tới tham chiến với Nhật và yêu cầu Đồng minh công nhận chủ quyền của Pháp. Mỹ tỏ thái độ lừng khừng, xuất phát từ chính sách đã được biết đến từ lâu của Roosevelt là tuyệt đối không làm bất kỳ điều gì giúp Pháp ở Đông Dương. Khi đó de Gaulle bèn hỏi Đại sứ Mỹ Jefferson Caffery là Mỹ "muốn gì". Phải chăng Mỹ định đẩy Pháp tới chỗ trở thành "một trong những nước liên bang dưới sự bảo trợ của Liên Xô"33? Sau đó, những người Pháp không rơi vào tay quân Nhật và trốn được sang Trung Quốc đã nhận được một vài gói hàng tiếp tế muộn màng bằng đường không của Phi đội không quân 14 hoạt động tại Trung Quốc, dưới sự chỉ huy của tướng Mỹ là Claire Chennault.


Ngày 24 tháng Ba 1945, de Gaulle ra một tuyên bố của chính phủ đã được Bộ Thuộc địa chuẩn bị từ hơn một năm trước. Trong những người góp phần chuẩn bị tuyên bố này, có một vị quan chức xuất sắc về thuộc địa, đã phục vụ nhiệm kỳ đầu tiên ở Đông Dương trong những năm 1933-1936, tên là Léon Pignon. Bản tuyên bố này đã đặt nền móng cho chính sách Đông Dương của Pháp sau chiến tranh. Tuyên bố xác định mục tiêu thành lập một Liên bang Đông Dương gồm năm đơn vị, mỗi đơn vị được hưởng một mức độ tự chủ đáng kể34. Bản tuyên bố nói rằng Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ, Lào và Campuchia khác biệt nhau ở "văn minh, nòi giống và truyền thống". Một vị toàn quyền Pháp (chức vụ này về sau được đổi thành "cao ủy") sẽ đứng đầu liên bang và đóng vai trò "người phân xử cho tất cả"35. Tuyên bố ngày 24 tháng Ba ban đầu được coi là một tuyên bố mang tính chất tự do, và thực ra những lời bình luận đầu tiên của Việt Minh về tuyên bố này trong tờ báo bí mật lớn nhất khá tích cực36. Mặc dù vậy, hầu hết các bình luận viên về Việt Nam ở cả Đông Dương và Pháp đều phản đối tuyên bố này vì nó không công nhận sự thống nhất dân tộc của Việt Nam.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #19 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2026, 10:13:30 pm »

Khi biết tin Nhật đầu hàng ngày 15 tháng Tám 1945, de Gaulle bổ nhiệm sĩ quan tin cẩn của ông ta là Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, còn Đô đốc d'Argenlieu làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương. Leclerc đi trước để bảo đảm lực lượng chiếm đóng của Anh sẽ tôn trọng chủ quyền của Pháp và chỉ huy lực lượng Anh tại Sài Gòn, Tướng Douglas Gracey sẽ nhanh chóng chuyển giao trách nhiệm cho Pháp. D'Argenlieu cần nhiều thời gian chuẩn bị hơn vì phải tính toán để từng bước thực hiện tuyên bố ngày 24 tháng Ba. Như vậy là tại thời điểm de Gaulle từ chức ngày 20 tháng Giêng, để lại công việc nhà nước vào tay các chính trị gia, một bộ máy mang tính chất quân sự và trung thành với de Gaulle đã được thiết lập một cách vững vàng tại Đông Dương. Chính phủ mới của Pháp dưới sự lãnh đạo của đảng viên SFIO Félix Gouin (cầm quyền từ ngày 23 tháng Giêng tới ngày 12 tháng Sáu 1946) bận bịu với nhiều việc khác hơn là thay đổi bộ máy này và thay thế những người do de Gaulle bổ nhiệm tại các thuộc địa bằng những người khác. Điều này có nghĩa là đại diện của "nước Pháp mới" tại Đông Dương là hai sĩ quan cấp tướng có quan điểm kém tiến bộ hơn đa số chính trị gia trong chính quyền Pháp tại chính quốc. Ngay từ đầu, Leclerc và d'Argenlieu đã bị giằng xé giữa một bên là lòng trung thành với de Gaulle, lo ngại về thái độ phân biệt chủng tộc của người Pháp thực dân thời gian vừa qua bị người Nhật và người An Nam xử tệ và một bên là thái độ không mấy thiện cảm của họ đối với trào lưu tiến bộ và hiện đại hóa đang thịnh hành ở mẫu quốc lúc bấy giờ. Những người theo đường lối hiện đại hóa được sự ủng hộ của nhiều sĩ quan và viên chức dân sự trẻ đến Đông Dương sau khi Đức đầu hàng.


De Gaulle có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đối ngoại của Pháp, làm lu mờ cả cựu lãnh đạo phong trào kháng chiến trung nước của Pháp là Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault. Bidault luôn luôn cảm thấy như mình sống trong cái bóng của ông tướng de Gaulle cao lớn, và về sau ông tiết lộ rằng ngày de Gaulle rời nhiệm sở là "ngày đẹp nhất" trong đời ông37. Đối với thế hệ sau, sự đối đầu giữa Bidault và de Gaulle giống như sự đối đầu giữa một người tí hon và một kẻ khổng lồ, và chắc chắn dù de Gaulle có thể nghĩ khác, nhưng không phải tất cả người Pháp đều ủng hộ de Gaulle, trái lại nhiều người vẫn có cảm tình với Bidault. Cũng như de Gaulle, Bidault không muốn làm một chính trị gia bình thường. Ông gánh vác một sứ mệnh của đất nước. Bidault ghét cay ghét đắng de Gaulle, và de Gaulle cũng vậy. Một bức ảnh nổi tiếng trên thềm chiến thắng sau khi chiếm lại được Paris vào tháng Tám 1944 thể hiện hình ảnh của vị tướng cao lớn sừng sững lấn át ông Bidault nhạt nhòa, người đã được lịch sự đề nghị bước sau de Gaulle một bước.


Trong khi de Gaulle phải đợi 12 năm tính từ tháng Giêng 1940 để nước Pháp lại cần đến ông, thì Bidault ngay lập tức giữ một trong những vị trí có ảnh hưởng nhất trong Đệ tứ Cộng hòa Pháp, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao từ tháng Chín 1944 tới tháng Bảy 1948 trừ một thời gian gián đoạn từ ngày 18 tháng Mười hai 1946 tới ngày 22 tháng Giêng 1947. Liên quan đến vấn đề trong cuốn sách này, khoảng thời gian gián đoạn này ngắn nhưng hết sức quan trọng. Khi de Gaulle còn tại vị, Bidault có rất ít quyền hành, nhưng khi Félix Gouin thay de Gaulle thì ngược lại, Bidault có quyền quyết định khá lớn. Tiếp theo, tháng Sáu 1946, Gouin từ chức giữa những trận tranh cãi nảy lửa về xây dựng Hiến pháp, Bidault nhậm luôn chức thủ tướng, đồng thời tiếp tục kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Như vậy, ông ta đã trở thành lãnh đạo chính trị quyền lực nhất nước Pháp lúc bấy giờ. Bidault là một tấm gương tiêu biểu cho sự nhất quán trong các quyết định về chính sách đối ngoại của Đệ tứ Cộng hòa. Người nào biết rằng nước Pháp có không ít hơn 25 chính phủ lên cầm quyền trong khoảng thời gian từ khi chính quyền de Gaulle thành lập năm 1944 tới khi de Gaulle quay trở lại nắm quyền năm 1958, thì hẳn phải lấy làm ngạc nhiên khi biết chỉ có một vài chính trị gia chủ chốt, đặc biệt là Georges Bidault và đảng viên Đảng Dân chủ Công giáo là Robert Schuman liên tục giữ vị trí Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng. Các chính phủ mà Bidault và Schuman tham gia đều phát triển những chiến lược nhất quán về cải cách kinh tế và hòa nhập châu Âu, nhất quán ngay cả trong những cố gắng thất bại để cải cách và duy trì Đế quốc Pháp38.


"Ngày đẹp nhất" trong đời Bidault, ngày 20 tháng Giêng 1946, cũng là ngày Marius Moutet trở lại Bộ Thuộc địa ở số 27 phố Oudinot. Bây giờ ông ta có một danh xưng mới: Bộ trưởng Hải ngoại. Trước đó một tháng, ông ta viết một vài bài báo theo chủ đề về Đông Dương trên tờ nhật báo của SFIO là tờ Nhân dân, tuyên bố rằng Pháp phải duy trì sự hiện diện trên cả châu Á và châu Phi, nhưng không được trái với ý nguyện của người dân bản địa. Nước Pháp đã cố gắng nhiều vì người dân Đông Dương, nhưng chưa đủ. Cần phải làm nhiều hơn nữa để cụm từ "chủ nghĩa thực dân" có một ý nghĩa tích cực39. Theo Moutet, để cho Mỹ hay Liên Xô cai trị cũng sẽ không tốt đẹp gì hơn chế độ thực dân của Pháp, đồng thời ông có quan điểm rõ ràng về hai vấn đề then chốt liên quan đến nguy cơ chiến tranh với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đó là thống nhất và độc lập. Hòa giọng với tuyên bố ngày 24 tháng Giêng của de Gaulle, ông cho rằng "các đặc điểm chính như địa lý, sắc tộc và chính trị của Đông Dương có tính chất đa dạng. Đông Dương bao gồm năm nước: Bắc Kỳ, An Nam, Campuchia, Lào và Nam Kỳ"40. Ông ta coi chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh là không có bất kỳ quy chế pháp lý nào, mặc dù ông ta cho rằng có thể đàm phán, thỏa thuận một số điểm với các nhà lãnh đạo Việt Minh, ông ta lên án Việt Minh dám đối đầu với chính quyền Pháp và dám "tự tin mà thành lập" một chính phủ: "Người ta không ngẫu hứng thành lập chính phủ, luật pháp và bộ máy hành chính ở một đất nước đa dạng, nơi dân chúng còn chưa có khả năng lựa chọn cái mình muốn trên cơ sở hiểu biết"41.


Lời phát biểu này cho phép chúng ta nhìn vào suy nghĩ của Moutet: ông ta cho rằng chủ nghĩa thực dân chính là việc khai hóa văn minh cho những dân tộc chưa được khai hóa. Ông phát triển ý tưởng này khi phát biểu trong một cuộc họp SF10 ở thành phố La Rochelle nằm trên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp, tháng 1946: "Với tư cách một chiến sĩ của Đảng Xã hội, tôi kêu gọi phóng tầng lớp lao động. Ngày nay, tầng lớp lao động Pháp đã có phương tiện để tự giải phóng mình, vì đã giành được các quyền dân sự và chính trị. Nhiệm vụ của chúng ta hiện tại là mở rộng công cuộc giải phóng này bằng cách đấu tranh cho các dân tộc chúng ta có nghĩa vụ khai hóa và giúp đỡ. Tôi đã nguyện cống hiến cho sự cần thiết giải phóng và khai hóa họ ngay từ năm 1936 khi tôi là bộ trưởng trong Chính phủ Mặt trận bình dân"42.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM