Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 06:33:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam 1946 chiến tranh bắt đầu như thế nào  (Đọc 5574 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #20 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 07:43:33 pm »

Ý tưởng giáo dục các dân tộc khác được viết ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp Pháp được thông qua trong cuộc trưng cầu ý dân ngày 13 tháng Mười 1946: "Trung thành với sứ mệnh truyền thống của mình, nước Pháp dự định dẫn dắt các dân tộc mà Pháp bảo hộ tới tự do quản lý đất nước của mình và tự giải quyết các công việc nội bộ một cách dân chủ"43. Trong bản hiến pháp đã mất rất nhiều thời gian soạn thảo này, ý tưởng khai sáng các dân tộc khác sao cho họ trở thành những dân tộc tự chủ và không loại trừ việc có thể độc lập được đặt song song với ý tưởng trái ngược là đồng hóa tầng lớp trên trong số người dân thuộc địa để có thể trao cho họ quyền công dân Pháp đầy đủ. Những cuộc tranh luận của người Pháp về vấn đề thuộc địa thường là những trận chiến giữa một bên là những người coi mối quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa là mối liên hệ giữa một nước phát triển và một số dân tộc và lãnh thổ kém phát triển, và một bên là những người coi mối quan hệ này là một chiếc cầu nối giữa mẫu quốc với các công dân của mình trên toàn thế giới. Mặc dù vậy, mâu thuẫn này không có ảnh hưởng gì lớn đối với quá trình cải cách thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhiều người cho là một số thuộc địa sẽ phát triển thành quốc gia độc lập, trong khi một số thuộc địa khác sẽ bị nhập vào lãnh thổ Pháp thông qua quá trình đồng hóa. Nếu các dân tộc thuộc địa đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn và ngay lập tức, thì chắc chắn không phe nào chấp nhận. Như vậy là năm 1946, nhà dân tộc chủ nghĩa Công giáo là Bidault và nhà khai sáng xã hội là Moutet thống nhất với nhau về những khía cạnh quan trọng nhất trong chính sách thuộc địa của Pháp.


Marius Moutet bị coi là một lãnh đạo yếu kém, phản bội lại nhưng mục tiêu của chính mình và của Đảng Xã hội hòa bình vì đã nhượng bộ ảnh hưởng của de Gaulle và vị đô đốc mà de Gaulle cử đến Đông Dương44. Điều này chỉ đúng một phần. Moutet dễ dàng bị người khác ảnh hưởng và e ngại những rủi ro chính trị. Mặc dù vậy, hai điều có lẽ sẽ thay đổi hình ảnh "lãnh đạo yếu kém" của Moutet. Thứ nhất, Moutet chưa bao giờ tỏ thái độ chống chủ nghĩa thực dân như nhiều người Pháp theo khuynh hướng xã hội trong những năm 1946-1947, ví dụ như vị tổng thư ký trẻ của SFIO là Guy Mollet. Moutet chưa bao giờ mong muốn nhượng bộ đòi hỏi độc lập và thống nhất của Việt Nam, và thực tế là Moutet ủng hộ nội dung cơ bản trong chính sách của Cao ủy d'Argenlieu theo phe de Gaulle. Do vậy, hành động của Moutet thực chất là nhất quán với quan điểm của ông ta hơn là người ta nghĩ. Thứ hai, không phải chỉ có cách thức lãnh đạo của Moutet là yếu kém. Vị trí của ông ta trong hệ thống ra quyết định mà de Gaulle đã tạo ra cho Đông Dương cũng kém nữa. Theo hệ thống này thì Bidault là người có nhiều quyền hành, chứ không phải là Moutet.


Bộ trưởng Hải ngoại Pháp chịu trách nhiệm trực tiếp đối với hầu hết các lãnh thổ hải ngoại của Pháp, nhưng riêng đối với Đông Dương thì không. Moutet muốn đích thân lãnh đạo chính sách của Pháp đối với Đông Dương - bộ trưởng nào mà chả muốn có thực quyền, nhưng theo một sắc lệnh ngày 21 tháng Hai 1945, de Gaulle đã thành lập một cơ quan độc lập để điều phối việc chiếm lại Đông Dương, đó là Ủy ban liên bộ về Đông Dương (Cominindo). Cũng giống de Gaulle, Gouin và Bidault đều nắm Cominindo và đích thân làm Chủ tịch ủy ban. Tuy nhiên, Gouin để cho Moutet quết định một cách thực sự, trong khi Bidault, cũng giống như de Gaulle, thì muốn nắm quyền sinh quyền sát trong chính sách của Pháp đối với Đông Dương45. Thành viên của Cominindo gồm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault, Bộ trưởng Hải ngoại Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Edmond Michelet, Bộ trưởng Bộ Không quân Charles Tillon, Bộ trưởng Bộ Tài chính Robert Schuman, Tổng tư lệnh - Tướng Alphonse Juin và Cục trưởng Cục Tình báo Henri Ribière. Trong Cominindo Moutet là người duy nhất theo SFIO, còn Tillon là người duy nhất theo PCF. Ba người được bổ nhiệm còn lại theo Đảng Thiên Chúa giáo, quan điểm của họ thường chiếm ưu thế trong ủy ban Cominindo có quyền triệu tập những người có mặt tại các cuộc họp và điều này cho phép Bộ trưởng Không bộ là Alexandre Varenne một chính trị gia cấp tiến đã từng là Toàn quyền Đông Dương từ năm 1925 đến 1927, giữ chức Chủ tịch Liên minh bảo vệ thành quả của Pháp tại Đông Dương gần như lúc nào cũng có mặt trong các cuộc họp của Ủy ban. Cominindo có trụ sở ở Bộ Chiến tranh, số 16 phố St. Dominique. Nhiều nhất cũng chỉ có 26 người làm nhân viên tại đây, văn phòng Ủy ban do một chánh văn phòng đứng đầu, đây là người hiểu biết nhiều về những diễn biến hằng ngày tại Đông Dương hơn bất kỳ ai khác trong Bộ Hải ngoại. Các ngành khác của chính phủ có liên lạc trực tiếp với Sài Gòn thì chỉ có Bộ Tham mưu của Tướng Juin và Cục Tình báo của Ribière.


Tất cả các đường dây liên lạc dân sự đến và đi từ Đông Dương đều phải qua văn phòng Cominindo. Chánh văn phòng quyết định chuyển thông tin đến các bộ, tổ chức các cuộc họp hằng tuần gồm các đại diện từ các bộ liên quan để tham mưu cho các bộ trưởng và triệu tập đích thân các bộ trưởng khi cần ra những quyết định quan trọng. Dưới thời de Gaulle, François de Langlade giữ chức vụ này, ông ta là một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm về Đông Dương và sở hữu trang trại ở Malaixia thuộc Anh. Năm 1946, sau một thời kỳ chuyển tiếp với một chánh văn phòng không để lại chút dấu ấn nào trong chính sách của Pháp, một người trẻ tuổi tên là Pierre Messmer nhậm chức Chánh văn phòng46. Mặc dù theo phái de Gaulle hơn là theo cánh tả, ông ta là một đại diện tiêu biểu của nước Pháp mới, sẵn sàng thay đổi để thích ứng với những thay đổi của thời đại mới. Về sau, Messmer trở thành Thủ tướng Pháp từ năm 1972 đến 1974. Sau khi Nhật đầu hàng vào tháng Tám 1945, de Gaulle đã bổ nhiệm Messmer làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ với mong muốn Messmer sẽ đối phó với quân Tưởng chiếm đóng để bảo vệ lợi ích của Pháp, nhưng Messmer đã bị Việt Minh bắt ngay khi vừa nhảy dù xuống Bắc Kỳ và bị cầm tù cho đến khi ông ta trốn thoát. Trong khi đó, một thương gia trẻ tên là Jean Roger, con rể của vị toàn quyền quan trọng thứ hai trong tất cả các toàn quyền Pháp tại Đông Dương - Albert Sarraut (1911-1914, 1917-1919), có mật danh dùng trong thời kỳ kháng chiến của Pháp là Jean Sainteny, đã tự ý đảm nhiệm vai trò mà de Gaulle giao cho Messmer. Trước đó, Sainteny lãnh đạo một tổ tình báo Pháp ở nam Trung Quốc. Ông ta đến Hà Nội bằng máy bay Mỹ. Tháng Chín 1945, Sainteny được Hồ Chí Minh tiếp và từ đó trở đi, giữa hai người có một mối quan hệ kéo dài suốt đời họ, mối quan hệ mà Hồ Chí Minh đã khéo léo chuyển thành tình bạn. Sainteny có được sự ủng hộ của mộl người theo SFIO tên là Louis Caput, một nhân vật lai lịch không rõ ràng tên là Jacques Bousquet và một quan chức thuộc địa giàu kinh nghiệm là Léon Pignon. Léon Pignon đến Hà Nội sau khi soạn thảo tuyên bố ngày 24 tháng Ba 1945 đế làm trợ lý cho Tướng Marcel Alessandri, chỉ huy quân Pháp trốn từ Bắc Kỳ sang Trung Quốc trong khoảng thời gian từ tháng Ba đến tháng Tư 1945. Pignon có vẻ thích giữ một vai trò hậu trường khiêm tốn khi giúp Sainteny. Có lẽ nhiệm vụ của ông ta là bảo đảm Sainteny đi theo đúng chủ trương, đường lối của Pháp. Sau một thời gian cân nhắc, Chính phủ Pháp tại Paris chính thức bổ nhiệm Sainteny làm Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ và Bắc An Nam, chức vụ đáng lẽ dành cho Messmer nếu ông ta không bị Việt Minh bắt. Bất chấp kinh nghiệm không mấy vui vẻ này, Messmer cũng không trở thành một người khắc nghiệt. Trước khi quay trở về nhậm chức Chánh văn phòng Cominindo, ông ta viết một bài báo ủng hộ chính sách tự do ở Đông Dương, thậm chí bày tỏ "sự thấu hiểu" những lập luận của Việt Nam về thống nhất hai miền Nam Bắc và kêu gọi Pháp giữ quan điểm trung lập, để cho người dân tai Đông Dương có thể tự quyết định47. Tháng Tư năm đó, Messmer làm giới chức Pháp khó chịu khi xưng hô "cậu - tớ" và cho phép Tướng Giáp làm như vậy khi họ chuyện phiếm với nhau trong phiên đàm phán Pháp - Việt tại Đà Lạt, một thành phố cao nguyên miền Trung"48.


Chánh văn phòng Cominindo giữ một vai trò trung tâm, nhưng không phải là một vai trò quyền lực. Các chính trị gia mới là người quyết định, còn nếu họ không quyết định thì các quan chức tại Sài Gòn sẽ quyết định thay cho các quan chức tại Paris. Chánh văn phòng trẻ tuổi Messmer không thể buộc Sài Gòn phải thực hiện một chính sách nào đó mà không có căn cứ là một quyết định chính thức của Cominindo, thế nhưng trong thời gian Gouin và Bidault làm Chủ tịch Cominindo, dường như Cominindo cố tránh không đưa ra quyết định. Khi Cominindo ra quyết định thì hầu như chỉ là quyết định phê duyệt những điều Cao ủy tại Sài Gòn đã làm. Gouin và Bidault đều bận rộn vì việc khác tới mức họ không thể theo dõi sát sao được tình hình Đông Dương. Đồng thời, Bidault có vẻ muốn để Cao ủy tự hành động hơn là để Bộ trưởng Hải ngoại dẫn dắt chính sách của Pháp.


Lý do chính thức để thành lập Cominindo năm 1945 là Bộ trưởng Thuộc địa không thể kiểm soát những hành động quân sự để tái chiếm Đông Dương49. Khi Pháp đã chiếm lại được nửa phía nam của Đông Dương và Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 với Hồ Chí Minh đã được ký, Cominindo không còn nhiều lý do để tồn tại, và Bộ Hải ngoại của Moutet làm thay một vài chức năng của Comimndo. Tháng Chín 1946, số nhân viên của Cominindo bị giảm xuống còn 17 người. Tuy vậy, Cominindo vẫn được duy trì và văn phòng thư ký của Cominindo tại Bộ Chiến tranh tiếp tục là trung tâm liên lạc chính thức giữa Paris và Sài Gòn. Về sau, Moutet tuyên bố rằng hệ thống liên bộ đã đưa đến một "sự xé lẻ trách nhiệm có tác động tiêu cực đối với việc quản lý hành chính tốt". Ông ta thấy mình bị tước khả năng thực hiện các chức năng bình thường và "các phương tiện hành động mà đáng lẽ ông ta phải có"50. Một khi ngay cả Thủ tướng cũng không chủ động sử dụng quyền lực của mình, tác dụng chính của Cominindo chỉ còn là củng cố quyền tự chủ của Cao ủy tại Sài Gòn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #21 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 07:47:19 pm »

LIÊN BANG NGŨ GIÁC


Đô đốc George Thierry d'Argenlieu, Cao ủy Pháp tại Đông Dương từ tháng Tám 1945 tới tháng Hai 1947 không được sinh ra hay nuôi dạy để làm chính trị trong thế kỷ XX. Ông ta có những kiểu cách quý tộc, những bài diễn văn khoa trương, ưa thích những nguyên tắc lễ nghi cứng nhắc. Phải khó khăn lắm ông ta mới che giấu được thái độ khinh bỉ đối với các chính trị gia kế nhiệm người hùng de Gaulle của ông ta. Những đặc điểm đó biến d'Argenlieu thành người đi đầu vận động chủ trương không khoan nhượng của Pháp đối với Việt Nam trong con mắt của những người quan sát đương thời cũng như của các nhà sử học sau này. D'Argenlieu thuộc về nước Pháp mới chỉ ở chỗ các nguyên tắc của ông ta đi theo kim chỉ nam của de Gaulle, và chắc chắn ông ta chịu phần lớn trách nhiệm về những chính sách dẫn đến chiến tranh Đông Dương, nhưng đồng thời ông ta cũng là vật tế thần cho những hành động và không hành động của Bidault.


D'Argenlieu đã phục vụ trong Hải quân Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, sau đó trở thành một thầy tu ở tu viên Carmelite trong thời gian giữa hai cuộc chiến. Năm 1939, ông được động viên sĩ quan dự bị, rồi sau đó dần dần leo lên chức vụ Cao trong lực lượng hải quân Nước Pháp Tự do của de Gaulle, ông ngưỡng mộ de Gaulle tới mức de Gaulle có thể tuyệt đối tin tưởng ở lòng trung thành của ông ta. Điều này trở thành vấn đề khi de Gaulle từ chức. Như bất kỳ ai đã đọc cuốn sách của d'Argenlieu được xuất bản sau khi ông qua đời, đó là cuốn Chronique d'Indochine (1985), ông ta tiếp tục coi de Gaulle, chứ không phải các chính trị gia theo đảng phái tạm thời nắm giữ các chức vụ trong chính phủ tại Paris, là hiện thân của nước Pháp. Năm 1947, d'Argenlieu trở lại tu viện.


Phía Việt Nam thấy ở d'Argenlieu một tên thực dân phản động điển hình. Ông Giáp mô tả ông ta là một "tu sĩ bị lột áo", với "đôi mắt nhỏ, gian xảo ẩn dưới cái trán nhăn nheo và đôi môi mỏng dính". Sau một thời gian tiếp xúc với d'Argenlieu, Tướng Giáp nhớ đến ông ta như "một kẻ cáo già, xảo quyệt, kiêu ngạo và ti tiện"51. Ở Pháp có người cho rằng d'Argenlieu sở hữu một trong những bộ óc xuất sắc nhất của thế kỷ XX. Tướng Jean-Etienne Valluy, người kế nhiệm Tướng Leclerc làm chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Viễn Đông từ tháng Bảy 1946 mô tả d'Argenlieu một cách bao dung hơn, như là một người "hoàn toàn không kiêu ngạo, mặc dù hơi nghiêm túc và xa cách". D'Argenlieu là một trong những người mà sức mê hoặc của Hồ Chí Minh không tác động đến được. Tại một cuộc gặp giữa họ, Hồ Chí Minh nói: "Đô đốc thân mến, tôi kêu gọi những tình cảm Công giáo của ngài...". Vị tu sĩ cắt ngang lời Người: ''Thưa ngài Chủ tịch, xin lỗi ngài, nhưng chúng ta ở đây để thảo luận những vấn đề nghịêm túc". Vấn đề nghịêm túc nhất mà d'Argenlieu có thể tưởng tượng là Liên bang Đông Dương. Valluy về sau tuyên bố rằng d'Argenlieu hết sức say mê ý tưởng "ngũ giác Liên bang Đông Dương" gồm năm thành viên, như mô tả trong tuyên bố chính phủ của de Gaulle ngày 24 tháng Ba 194552.


Trong suy nghĩ của d'Argenlieu, Liên bang Đông Dương sẽ được quản lý bởi một hội đồng gồm 10 đại diện của Pháp và 10 đại diện từ mỗi nước thành viên53. Quyền hành chính của hội đồng liên bang là biểu quyết về ngân sách liên bang, quyết định về thuế và thông qua các đạo luật do chính phủ liên bang đề xuất. Chính phủ liên bang này sẽ do chính Cao ủy lãnh đạo, với sự hỗ trợ của các ủy viên có chức năng như các bộ trưởng của một nước độc lập. Sẽ có ủy viên chính trị, tài chính, ngoại giao, tư pháp, giáo dục, thông tin, v.v... Các ủy viên này hằng tuần sẽ họp nội các dưới sự chủ tọa của Cao ủy, với tư lệnh trưởng (Leclerc, sau đó là Valluy) làm phó54. Các ủy viên cần phải nắm tất cả các ngành quan trọng của chính phủ: quân đội, cảnh sát, thuế quan, bưu điện, đài phát thanh, v.v... với cấu trúc này thì các nước thành viên chẳng còn mấy quyền lực, nhưng d'Argenlieu muốn ký các thỏa thuận bằng văn bản với từng nước thành viên để xác định vị trí của nước đó trong Liên bang. Đặc biệt, ông ta sốt ruột muốn gây dựng một Nam Kỳ tự trị, vì Nam Kỳ có nền kinh tế phát triển nhất và nhiều kiều dân Pháp sinh sống nhất, ở Nam Kỳ, một số nhất định người bản địa giàu và có học vấn cao đã được cấp quyền công dân Pháp qua quá trình đồng hóa. Ngay sau khi chính phủ cách mạng bị đẩy ra khỏi các tòa nhà công cộng ở Sài Gòn ngày 23 tháng Chín 1945, đã nổi lên vấn đề sắp đặt quan hệ hợp tác một cách có hệ thống giữa người Pháp thường trú và người bản địa. Tuyên bố ngày 24 tháng Ba nói rằng chính quyền địa phương của mỗi nước trong số năm nước Đông Dương cần phải được cải cách và phát triển đồng thời cần mở rộng cơ hội bổ nhiệm cho tất cả mọi công dân. Về Pháp, những người thân cận nhất với cựu Toàn quyền là Tướng Decoux thuộc chính phủ Vichy phải quay về Pháp, nhưng những người có thể khoe là có một vài hành động "kháng chiến" đều được chào đón ở lại Đông Dương phục vụ với tư cách nhân viên, cùng với các quan chức trẻ mới từ Pháp sang.


Năm 1939, số nhân viên dân sự Pháp ở Đông Dương là khoảng 3.500 người, nhưng con số này năm 1946 đã lên tới 14.00055. Một trong những nguyên nhân của việc tăng nhân viên dân sự Pháp là đội ngũ quan chức cũ đã bị cách mạng quét đi và một nguyên nhân khác là nhiều người Việt có học thức đi theo Việt Minh. D'Argenlieu thường xuyên phàn nàn về tình trạng thiếu người56. Những kiều dân Pháp và một số người Việt Nam thuộc tầng lớp trên trong xã hội cùng nhau lập ra một hội đồng cố vấn. Người đứng đầu bên Việt Nam là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, Chủ tịch Đảng Dân chủ (khác với Đảng Dân chủ thuộc phe Việt Minh), một người kịch liệt chống đối cách mạng và có ảnh hưởng lớn đối với giới địa chủ bản địa giàu có. Mặc dù vậy, khó có thể nói là ông ta lôi kéo được các nhóm khác thuộc tầng lớp trên ở Nam Kỳ tham gia hội đồng của mình, vì họ sợ bị dán nhãn "theo Tây". Thế nhưng ngày 12 tháng Hai 1946, hội đồng cố vấn vẫn chính thức thành lập, gồm bốn người Pháp và tám vị "thân hào". Các thành viên người Pháp muốn biến Nam Kỳ thành một "quận hải ngoại" của Pháp, trong khi các thành viên người Nam Kỳ muốn Nam Kỳ có quyền tự trị57. Nhân viến pháp cả cũ lẫn mới, cũng như một số người bản địa đã được cấp quyền công dân Pháp đều cảm thấy lo sợ trước viễn cảnh Nam Kỳ bị nhập vào Việt Nam. Họ cũng lo sợ những thay đổi xã hội mà chủ nghĩa cộng sản có thể đưa đến.


Có lần người ta đã hỏi Hồ Chí Minh về quan điểm của Người đối với việc thành lập Liên bang Đông Dương. Ông trả lời rằng Việt Nam sẵn sàng chấp nhận một liên bang mang tính chất cơ bản là kinh tế, nhưng kiên quyết ngăn chặn âm mưu thiết lập lại chế độ Toàn quyền Pháp tồn tại trước chiến tranh dưới vỏ bọc liên bang58. Đây đúng là sự mô tả khá chính xác mục đích của d'Argenlieu, mặc dù có một khác biệt quan trọng giữa Toàn quyền trước chiến tranh và Cao ủy sau chiến tranh: trước chiến tranh thì Cominindo do Bộ trưởng Hải ngoại làm Chủ tịch, trong khi theo thiết kế mới thì Cominindo do Thủ tướng làm Chủ tịch, do đó Cao ủy độc lập với Paris hơn là Toàn quyền trước kia.


De Gaulle từ chức tháng Giêng 1946 là một cú sốc đối với hầu hết người Pháp ở Đông Dương59. Họ cảm thấy dường như vị tướng de Gaulle bỏ rơi đội quân của mình trước khi họ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng tất cả các lãnh thổ của Pháp. D'Argenlieu và Leclerc đã đi được một phần lớn chặng đường. Chính phủ cách mạng ở Campuchia đã bị kiềm tỏa, khiến cho vị vua trẻ Norodom Sihánouk giờ đây lại một lần nữa có thể nhận được những lời khuyên tốt từ phía Pháp. Nam Kỳ và Nam An Nam đã bị chiếm lại, đa số người tham gia khởi nghĩa đã bị bắt, bị giết. Tuy Pháp mới chiếm lại được phần cực nam của Lào, phần còn lại vẫn bị Tưởng chiếm đóng, nhưng Pháp có lý do để tin rằng quan hệ truyền thống của họ với vua Luổng Phạ Bang sẽ giúp họ lập lại sự hiện diện ở Trung và Bắc Lào. Tình hình Bắc Kỳ và Bắc An Nam đang bị Tưởng chiếm gây nhiều lo ngại hơn. Thậm chí, ngày 6 tháng Giêng 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức cuộc bầu cử được gọi là bầu cử toàn quốc và người Pháp tại Sài Gòn lo ngại rằng một chính phủ không có de Gaulle có lẽ sẽ không đủ mạnh để chiếm lại Bắc Đông Dương và đẩy quân Tưởng về nước. Liệu một chính phủ do đảng viên SFIO Félix Gouin đứng đầu có đủ mạnh và đủ quyết tâm để hoàn thành nhiệm vụ tế nhị là lập lại sự hiện diện của Pháp ở một đất nước mà phong trào cách mạng đang sôi sục, vừa bị Tưởng chiếm đóng lại vừa bị những người cộng sản dân tộc kiểm soát? Pháp phải chiến đấu trên ba mặt trận: đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chuẩn bị hành động quân sự và đàm phán với Tưởng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #22 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:14:27 pm »

Chương 2
CÁI BẪY CỦA TƯỞNG


Mùa thu năm 1946, trước khi thế giới nghe nói tới cuộc khủng hoảng là nguồn gốc của chiến tranh Đông Dương, Thủ tướng Inđônêxia là Sutan Sjahrir phàn nàn với lãnh sự Pháp ở Jakarta về những chính sách hẹp hòi của Hà Lan và Anh đối với Indônêxia. Hà Lan và Anh đã huy động lực lượng để ngăn cản Inđônêxia giành độc lập. Sjahrir cho rằng Hà Lan và Anh cần học theo tấm gương của Pháp, ông ta ao ước được ở vào vị trí của Hồ Chí Minh, người có đối tác là các quan chức Pháp sáng suốt đến thế, thái độ "tử tế" và "cảm thông" đến thế. Không còn nghi ngờ gì nữa, Cao ủy Pháp d'Argenlieu đúng là một "thiên tài". Làm sao trông mong Hà Lan cử tới Inđônêxia một người nhìn xa trông rộng, có đầu óc cởi mở như d'Argenlieu? Như Sjahrir nói, điều đó khác nào "hái sao trên trời", nhưng ít nhất người ta cũng phải phái đến ai đó có một chút "thiện chí" tối thiểu chứ!1


Ngày nay nhiều người đã quên rằng năm 1946, trong một khoảng thời gian ngắn, Pháp đã được coi là hình mẫu cho công cuộc giải phóng dân tộc ở châu Á2. Nguyên nhân là Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 ký tại Hà Nội với sự chứng kiến của các quan sát viên Anh, Mỹ và Trung Quốc đã mở ra một thời kỳ hòa dịu ngắn ngủi giữa Pháp và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh công du đến Pháp với tư cách một chính khách cấp cao vào mùa hè năm 1946.


HIỆP ĐỊNH NGÀY 6 THÁNG BA


Trong Hiệp định này, Pháp đã nhượng bộ ở ba điểm quan trọng. Thứ nhất, Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một đất nước tự do có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính riêng, mặc dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ được nhập vào Liên bang Đông Dương, rồi Liên bang Đông Dương sẽ trở thành một thành viên của Liên hiệp Pháp. Thuật ngữ "tự do" là một thỏa hiệp giữa đòi hỏi "độc lập" của Việt Nam và đề nghị dùng khái niệm "tự chủ" hoặc "tự trị" của Pháp, như vậy vấn đề "hoàn toàn độc lập" phải đợi đến tương lai mới được giải quyết. Nhượng bộ thứ hai là cam kết tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân để giải quyết câu hỏi có thống nhất hay không ba miền Bắc Kỳ, An Nam và Nam Kỳ (còn được gọi là các "kỳ", hay các "bộ" của Việt Nam)3. Nhượng bộ thứ ba là chấp nhận nêu trong một phụ lục về quân sự rằng số quân Pháp có mặt ở phía bắc vĩ tuyến 16 sẽ giới hạn ở 15.000 người trong một khoảng thời gian 5 năm. Phụ lục quân sự này được đàm phán trong đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng Ba và ngày hôm sau được ký đồng thời với Hiệp định, nêu rõ số quân Pháp được phép đóng ở từng địa phương. Phụ lục này bị Chính phủ Pháp phản đối dữ dội khi tin tức về nội dung Hiệp định được chuyển đến Pháp ngày 12 tháng Ba. Trên đây thực sự là những nhượng bộ quan trọng, và nếu như trên thực tế Pháp tôn trọng chúng thì hẳn Pháp đã xứng với những lời ca ngợi người ta dành cho.


Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba - một văn bản là đối tượng thảo luận và trình bày trong hầu như tất cả sách báo viết về các cuộc chiến tranh ở Việt Nam - thường được coi như là biểu hiện của chính sách ôn hòa tạm thời của Pháp mà về sau Pháp đã từ bỏ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Điều này dựa trên giả thiết rằng Pháp đã thật lòng thỏa hiệp như vậy vì nhận ra một cuộc chiến tranh kéo dài với phong trào kháng chiến Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo sẽ rất tai hại. Người ta cho rằng lúc này những người thực dụng như Jean Sainteny, trưởng đoàn đàm phán ở Hà Nội và Tướng Philippe Leclerc, chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, theo đuổi chính sách thỏa hiệp với sự ủng hộ của Bộ trưởng Bộ Hải ngoại là Marius Moutet, bất chấp sự phản đối của Cao ủy d'Argenlieu và phe chủ chiến. Người ta cũng vẫn nghĩ rằng Sainteny và Leclerc là những người có công lớn trong việc đạt được thỏa thuận trong Hiệp định4.


Mặc dù vậy, đáng buồn là Hiệp định không phải là kết quả của sự lên ngôi tạm thời của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa thực dụng hay chính sách ôn hòa nào. Dưới con mắt của Leclerc, Sainteny đàm phán ở Hà Nội chỉ với mục đích tạo vỏ bọc ngoại giao để quân Pháp có thời gian triển khai chiếm đóng miền Bắc. Leclerc thấy rất cần có Hiệp định để ngăn chính phủ Hồ Chí Minh rời thủ đô Hà Nội, rút về các căn cứ du kích ở miền núi và bắt đầu chiến tranh du kích trong khi quân Pháp chưa kịp triển khai, vì nếu vậy thì Pháp sẽ phải tiến hành một chiến dịch kéo dài và tốn kém. Leclerc không thấy cần phải ký hiệp định với Hồ Chí Minh trước khi quân Pháp đổ bộ. Ông ta muốn trình diễn sức mạnh với hy vọng Hồ Chí Minh sẽ phải chấp nhận ký một hiệp định theo các điều kiện của Pháp. Ý định ban đầu của Leclerc là tung lực lượng đổ tái chiếm đóng quân sự với sự giúp đỡ của Tàu Tưởng, rồi sau đó mới ép Hồ Chí Minh phải quy phục. Nhưng trên thực tế, Pháp đã rơi thẳng vào bẫy của Tàu Tưởng. Phía Tưởng không chấp nhận cho bất kỳ lính Pháp nào đổ bộ nếu Pháp chưa ký được thỏa thuận với Hồ Chí Minh. Thậm chí phía Tàu Tưởng còn dọa sử dụng hành động quân sự để ngăn chặn Pháp đổ bộ và thực tế đã bắn vào tàu Pháp khi chúng đến. Quân Pháp trên tàu đang rất cần nước ngọt, và trong bối cảnh này, Pháp không thể quay lái về Nam, từ bỏ cuộc xâm lược vì như thế thì quá đỗi mất mặt. Chính vì vậy, Tàu Tưởng đã ép Leclerc phải đạt được một thỏa thuận có thể nói là bằng mọi giá trước khi quân Pháp đổ bộ. Thực sự là Pháp và Việt Nam bị Tàu Tưởng buộc phải hòa hoãn5.


Hiệp định sơ bộ là kết quả của một số vòng đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, trên cơ sở các cuộc trao đổi từ ngày 1 tháng Mười hai 1945 trở đi6. Các cuộc trao đổi đó diễn ra trong bối cảnh một vỏ kịch quyền lực gồm ba nhân vật. Điều kiện rút quân của Tàu Tưởng là Pháp phải nhượng một số quyền cho Tàu Tưởng Pháp thì muốn tái lập sự hiện diện của mình mà không bị mất quá nhiều đặc quyền vào tay nước Việt Nam. Và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì muốn thoát khỏi sự chiếm đóng của Tàu Tưởng, đồng thời muốn được Pháp công nhận. Cả phía Việt Nam và phía Pháp đều đặt cược lớn vào canh bạc này và sẵn sàng nói chuyện với nhau bằng vũ lực, nhưng đều muốn tránh đối đầu vũ trang với Tàu Tưởng. Tàu Tưởng quyết tâm không cho phép chiến tranh nổ ra chừng nào quân Tàu Tưởng còn ở Việt Nam, đồng thời lợi dụng sự chiếm đóng tạm thời của họ để thu lợi nhiều nhất có thể được. Cho tới ngày 28 tháng Hai, Pháp đồng thời đàm phán với Tàu Tưởng tại Trùng Khánh và với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hà Nội. Vào thời điểm này, trong khi Tàu Tưởng chưa chính thức đồng ý để Pháp quay lại Bắc Đông Dương, Leclerc rất cần đạt được một thỏa thuận với Hồ Chí Minh để có thể đổ bộ xuống miền Bắc mà không bị Việt Nam chống trả. Do vậy, ông ta vận động Chính phủ Pháp đưa ra những lời hứa hẹn mới, thậm chí lấp lửng cả lời hứa trao trả độc lập cho Việt Nam. Mặc dù vậy, ngày 28 tháng Hai 1946, tại Trùng Khánh, Tàu Tưởng đã ký một hiệp định chuyển trách nhiệm chiếm đóng Bắc Đông Dương từ tay Tàu Tưởng sang tay Pháp. Thậm chí hiệp định này còn quy định rằng quân Pháp có thể đến vào nửa đầu tháng Ba. Chiến thắng ngoại giao này là cơ sở để tại Sài Gòn, Leclerc và d'Argenlieu quyết định ngay lập tức tổ chức một chiến dịch quân sự, đưa 21.000 quân ra Bắc bằng tàu biển, nhằm đổ bộ vào Hải Phòng và chiếm lại "phần lãnh thổ cuối cùng" mà Pháp chưa lấy lại được sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Lúc này Pháp cho rằng cứ việc đổ bộ mà không cần phải thỏa thuận điều gì với Hồ Chí Minh, vì đinh ninh là quân Tưởng ở phía Bắc sẽ ủng hộ việc Pháp chiếm lại Bắc Đông Dương. Thế nhưng Tàu Tưởng không muốn bị kẹt trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt nên đặt điều kiện rút quân là trước hết Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký một thỏa thuận. Đồng thời, Tàu Tưởng cũng dàn xếp một cuộc hòa giải giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập để thiết lập chính phủ liên hiệp ngày 2 tháng Ba. Như vậy là, dưới sự giám sát chặt chẽ của các sĩ quan Tàu Tưởng, hai bên đàm phán Pháp và Việt Nam đạt được thỏa thuận ngày 6 tháng Ba tại Hà Nội trong khi Leclerc đã đưa tàu vào Hải Phòng với quân Pháp súng ông kè kè. Mãi cho tới đêm mùng 5, rạng ngày 6 tháng Ba, Sainteny và Hồ Chí Minh mới đạt được thỏa thuận và đến cuối chiều ngày 6 tháng Ba, họ mới ký thỏa thuận này cùng với người đứng đầu một trong các đảng phái Việt Nam thân Tưởng là Vũ Hồng Khanh. Trước đó bốn ngày, Quốc hội Việt Nam thành lập và công nhận Chính phủ liên hiệp, ông Khanh trở thành Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc kháng chiến do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch. Theo quan điểm của Tướng Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phe đối lập rất cần phải chia sẻ trách nhiệm trong thỏa hiệp của họ với Pháp. Cả phía Pháp và phía Việt Nam đều hành động dưới sự ép buộc. Yếu tố ép buộc này và bối cảnh đàm phán phức tạp được thể hiện trong các nguồn tài liệu của Anh, Pháp và Mỹ, nhận xét mang tính kinh điển của Philippe Devillers, phân tích mới đây của Frédéric Turpin và ba tác phẩm quan trọng khác, một trong số đó dựa trên các nguồn của Trung Quốc. Không may là tác giả cuốn sách này đã không có cơ hội tiếp cận các tài liệu của phía Việt Nam có thể làm sáng tỏ chi tiết cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh để tồn tại về chính trị trong cuộc khủng hoảng từ tháng Hai đến tháng Ba này. Câu chuyện về những mối quan hệ phức tạp giữa Hồ Chí Minh với Sainteny, các quan chức Quốc dân Đảng đại diện cho lực lượng chiếm đóng của quân đồng minh, đại diện các đảng phái Việt Nam, thân Trung Quốc và chính các lãnh đạo cao cấp của Việt Minh vẫn chỉ được viết lại dưới con mắt của phía Việt Nam7.


Để hiểu được hoàn cảnh và lý do của Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, xuất phát điểm tốt nhất không phải là những điều Pháp vẽ ra về việc cải cách chế độ thực dân, mà là ham muốn - quả vậy Pháp coi điều này là hết sức cần thiết - xác lập lại chủ quyền của Pháp và chiếm lại trên thực địa phần lãnh thổ cuối cùng thuộc về đế quốc Pháp trước chiến tranh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:24:42 pm »

CHIẾN DỊCH BỂN TRE

Mật danh của chiến dịch tái chiếm Bắc Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 là Chiến dịch Bến Tre (Bến Tre là tên của thị xã và tỉnh nằm ở cửa sông Mê Công, phía nam Sài Gòn). Khi Sainteny ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba với Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh chín giờ sau khi những toán quân đầu tiên của lực lượng chiếm đóng Pháp tiến vào cảng Hải Phòng bằng tàu biển và bị quân Tưởng xả súng bắn, mục đích trước mắt của Pháp là ngăn ngừa sự bùng nổ của một cuộc chiến tranh quốc tế. Pháp không muốn có chiến tranh vào ngày này. Nếu không có hiệp định đó, các sách lịch sử hẳn đã phải viết lại rằng chiến tranh Đông Dương bắt đầu ngày 6 tháng Ba 1946, khi mà Tàu Tưởng trực tiếp đứng về phía Việt Nam chống lại Pháp.


Pháp đã chuẩn bị Chiến dịch Bến Tre từ nhiều tháng trước đó tại Phòng Ba Sở Chỉ huy của Tướng Leclerc8, nhưng không hề báo cho Đô đốc Anh là Huân tước Mountbatten. Hầu hết quân Anh tại Đông Dương đã rời đi hồi cuối tháng Giêng cùng với chỉ huy của mình là Tướng Douglas Gracey, nhưng một "lực lượng liên quân" nhở của Anh vẫn ở lại Sài Gòn, và về mặt chính thức, với tư cách chỉ huy cao nhất của quân Đồng minh tại Đông Nam Á, Mountbatten vẫn chịu trách nhiệm trước Bộ Tổng Tham mưu kết hợp của Anh và Mỹ về việc chiếm giữ Bắc Đông Dương. Tất nhiên, Pháp cũng không thông báo về chiến dịch này cho Tướng Lư Hán, người chịu trách nhiệm trước quân Đồng minh về việc chiếm giữ miền Bắc.


Cha đẻ của Chiến dịch Bến Tre là Trung tá Jean Lecompte. Kế hoạch của ông ta không chỉ được Leclerc phê duyệt, mà còn được đích thân Cao ủy d'Argenlieu chấp thuận trước khi được thông qua tại một cuộc họp của Cominindo tại Paris, ngày 20 tháng Hai 1946 với sự có mặt của d'Argenlieu. Cùng ngày, trong một bức điện gửi Tổng Tư lệnh quân đội Pháp, Tướng Alphonse Juin, Leclerc nhấn mạnh rằng Chiến dịch Bến Tre là tuyệt đối cần thiết, ông nói rằng nhờ dùng vũ lực ở miền Nam, Pháp mới đạt được kết quả tốt như vậy, và rằng Pháp sẽ mất nhiều thứ nếu nhầm tưởng ký một thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam thì không cần thiết phải trình diễn sức mạnh nữa. Việc thể hiện sức mạnh vượt trội của Pháp sẽ khiến cho "chính phủ này phải đầu hàng". Rồi sau đó mới đến lúc tỏ ra rộng lượng và kết thúc đàm phán với Hồ Chí Minh, chứ không sớm hơn9. Trong những chỉ thị cho Sainteny ngày 22 tháng Hai, Leclerc nhấn mạnh: "Dù đàm phán diễn ra như thế nào chăng nữa, tôi sẽ đến vào đúng ngày đã định"10. Trên cơ sở các trao đổi điện tín của Leclerc trong quá trình đẩy mạnh Chiến dịch Bến Tre, ta có thể thấy một chiến lược ba điểm như sau:

- Phải giữ Chính phủ Việt Nam tại Hà Nội, không để họ rút về vùng cao, vì nếu chính phủ này rút an toàn về vùng cao và tiến hành kháng chiến lâu dài chống Pháp thì có thể có những hậu quả tai, hại trong tương lai. Nhiệm vụ của Sainteny là giữ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội. Chính phủ Pháp phải góp phần làm lắng dịu công chúng Việt Nam bằng cách bố cáo những ý định quảng đại của mình.

- Chiến dịch Bến Tre phải được tiến hành bằng cách trình diễn sức mạnh thật rầm rộ.

- Chỉ khi Pháp chiếm thế thượng phong thì mới ký một thỏa thuận với chính phủ Hồ Chí Minh. Leclerc tin chắc rằng Hồ Chí Minh sẽ "đầu hàng" khi thấy sức mạnh của quân Pháp và ký vào thỏa thuận theo những điều kiện của Pháp.


Những người dưới quyền Leclerc như Thiếu tướng Repiton Préneuf, đứng đầu Phòng Nhì của Leclerc, hoàn toàn hiểu mức độ rủi ro của chiến lược nêu trên, đặc biệt là vào thời điểm này khi Tàu Tưởng chưa chính thức thỏa thuận cho Pháp chiếm lại Đông Dương. Chắc chắn họ hy vọng có thể đạt được một thỏa thuận với Hồ Chí Minh trước ngày quân Pháp dự kiến đổ bộ vào miền Bắc11. Ngày 22 tháng Hai, Leclerc có nói với Sainteny rằng ông ta phải đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý bằng văn bản về việc Pháp đổ bộ và đưa quân Việt Minh khỏi tuyến đường Hải Phòng - Hà Nội. Mặc dù vậy, Leclerc chia sẻ niềm tin của de Gaulle là trước hết cần phải cho thấy ai là kẻ mạnh rồi sau đó mới đàm phán. Vài tuần sau, sau khi Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã ký, Leclerc bị chỉ trích vì đã góp phần vào việc để mất những nhượng bộ to lớn vào tay Chính phủ Việt Nam. Rõ ràng rằng d'Argenlieu không thích những gì Leclerc đã làm. Vì vậy, ngày 27 tháng Ba, Leclerc viết một bức thư cho Tướng de Gaulle giải trình về Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba, nêu lý do tình thế cấp thiết. Ông ta cho rằng tuyệt đối cần thiết phải ký hiệp định này vì sử dụng quân sự để thôn tính lại Bắc Kỳ là không thể được:


Nếu ngoài quân Tưởng, chúng tôi thấy một đất nước nổi dậy chống lại chúng ta hoặc đơn giản chỉ là một đất nước trong tình trạng hỗn loạn, rõ ràng chúng tôi có thể đổ bộ vào Hải Phòng, nhưng như tôi đã khẳng định nhiều lần - việc tái thôn tính dù chỉ là một phần Bắc Kỳ là không thể được. Ta không thể thôn tính một đất nước có vũ trang và đã được tôi luyện, lớn bằng hai phần ba nước Pháp nhờ một lực lượng nhỏ, ít nhất là năm 1946, điều này không thể xảy ra. Vả lại, vấn đề có thể loang ra quốc tế. Bởi vậy không thể coi nhẹ tầm quan trọng của các thỏa thuận đã đạt được12.


Cũng như các nhà sử học về sau này, trong hồi ký của mình, Jean Sainteny coi bức thư này là bằng chứng rằng Leclerc cũng nghĩ như vậy trước ngày 6 tháng Ba13. Nhiều khả năng họ đã nhầm. Nếu Leclerc quyết tâm đạt được thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam trước khi cho quân đổ bộ, thì ông ta đã không tự đặt mình vào vị trí đòi hỏi cuộc đổ bộ phải xảy ra vào đúng một ngày đã định, điều mà ông ta đã làm; ngày này do thủy triều lên tại cảng Hải Phòng quyết định. Tương tự, nếu ông ta có ý định đạt được sự đồng ý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi đổ bộ, hẳn ông ta phải báo cáo Chính phủ Pháp về vấn đề này trước khi khởi động Chiến dịch Bến Tre, nhưng thực tế ông ta nói ngược lại. Ông ta báo cáo với Cominindo là một cuộc đổ bộ hiệu quả, tiếp theo là nhanh chóng tiến về phía Hà Nội, có thể khiến Hồ Chí Minh "đầu hàng" và ký một thỏa thuận theo các điều kiện mà phía Pháp đưa ra. Thêm nữa, nếu ý định của Leclerc là đầu tiên ký thỏa thuận, rồi sau đó mới đổ bộ, thì ông ta việc gì phải gây áp lực để quân Tưởng giúp cung cấp vũ khí cho quân lính thực dân Pháp đang bị giam lỏng tại thành Hà Nội, hay đòi quân Tưởng tạo điều kiện cho các toán lính được vận chuyển bằng đường không đáp xuống sân bay Hà Nội - điều mà ông ta đã làm như chúng ta sẽ sớm xem xét. Leclerc được Cao ủy d'Argenlieu cho toàn quyền tiến hành Chiến dịch Bến Tre như ông ta thấy cần. Ngày 1 tháng Ba, khi Leclerc ra lệnh cho quân lên tàu hướng Bắc thẳng tiến, ông ta đã chơi một canh bạc khổng lồ. Và canh bạc này không phải chỉ đơn giản là chuyện Hồ Chí Minh có ký vào thỏa thuận trước khi số lính này đến nơi hay không. Pháp đặt cược chủ yếu vào việc Tàu Tưởng sẽ để cho lính Pháp lên bờ mà không cần Chính phủ Việt Nam đồng ý và giúp lính Pháp hành quân đến Hà Nội. Khi canh bạc này thất bại, Leclerc buộc phải cho phép ký một thỏa thuận theo những điều kiện mà Chính phủ Pháp cho là không thể chấp nhận được trong hoàn cảnh bình thường, ông ta đã lôi Pháp và một cái bẫy với hy vọng hoặc niềm tin rằng Tàu Tưởng sẽ không lợi dụng tình huống này mà còn giúp Pháp. Khi đó Tàu Tưởng đã sử dụng đòn bẩy bất ngờ của mình để buộc Pháp và Việt Nam Kỳ một thỏa thuận.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:32:12 pm »

Tướng Philippe Leclerc là vị anh hùng vĩ đại của nước Pháp người giải phóng Paris tháng Tám 1944, người đã được phong hàm Thống chế sau khi chết trong một tai nạn hàng không tại châu Phi năm 1947, được các nhà sử học tôn trọng và thường được đánh giá cao hơn Đô đốc d'Argenlieu. Nhưng cả hai người đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc. Cả hai theo Cơ đốc giáo. Cả hai theo de Gaulle chống lại hòa ước của Pétain ngay từ những ngày vạn sự khởi đầu nan mùa thu năm 1940. Họ được bổ nhiệm vào những vị trí cao nhất ở Đông Dương mà chẳng hề biết gì về đất nước này. D'Argenlieu nắm chính quyền dân sự, còn Leclerc chỉ huy quân đội, chẳng người nào quyền cao chức trọng hơn người nào, nhưng về vấn đề chính sách, d'Argenlieu có lời nói cuối cùng. Leclerc thường được coi là người thực dụng hơn, trung dung hơn trong số hai người, ông ta nhận định rằng vấn đề Việt Nam chỉ có thể được giải quyết bằng chính trị, trong khi người ta cho rằng d'Argenlieu thiên về giải pháp sử dụng vũ lực14. Suy cho cùng thì họ không khác nhau là bao vào thời điểm này. Ngày 4 tháng Hai 1946, bị sốc vì chiến dịch "bình định" miền Nam Đông Dương, ngoại trưởng Mỹ yêu cầu đại sứ Mỹ tại Paris cung cấp thông tin về việc Chính phủ Pháp hậu thuẫn ai: "Leclerc, một người có đầu óc thực dân không khoan nhượng, khắc nghiệt hay là d'Argenlieu, người theo xu hướng hòa giải và dung hòa"15. Đây không đơn giản là sự nhầm lẫn tên tuổi, sự bất hòa giữa hai người về sau này thường bị hiểu sai. Xung đột giữa hai người bản chất là xung đột cá nhân và xuất phát từ quan điểm khác biệt về chiến thuật hơn là do bất đồng về nguyên tắc hay về quan điểm chiến lược. Năm 1973, Jean Sainteny nói rằng về cơ bản, hai người có quan điểm giống nhau, chỉ có điều d'Argenlieu bị ảnh hưởng quá nhiều bởi chủ nghĩa lạc quan giả tạo ở Sài Gòn. Leclerc hiểu tình hình miền Bắc rõ hơn, nhưng Chính phủ Pháp ủng hộ d'Argenlieu hơn16. Các nhà sử học quân sự Gilbert Bodinier và Philippe Duplay cho rằng cũng như de Gaulle, Leclerc tin tưởng vào việc phô diễn sức mạnh như một màn dạo đầu trước khi đặt bút ký các hiệp định, bằng chứng là trích đoạn một bài phát biểu của Leclerc về vấn đề Đông Dương vào tháng Mười 1945: "Sẽ hoàn toàn sai lầm nếu đàm phán theo kiểu thả lỏng với đại diện Việt Minh khi chưa chứng tỏ sức mạnh của mình... Hiển nhiên đây là vấn đề tái chinh phục, vì đàm phán với "người da vàng" không có tác dụng bao nhiêu"17. Phó cao ủy dưới quyền d'Argenlieu và người kế nhiệm Leclerc vào tháng Bảy 1946, Tướng Jean-Etienne Valluy là một trong những người cho rằng hai nhà lãnh đạo theo phe de Gaulle này khác nhau nhiều nhất. Valluy khẳng định Đô đốc d'Argenlieu và Tướng Leclerc khác nhau về bản chất và về tư tưởng. D'Argenlieu luôn luôn tìm cách thể hiện lòng ái quốc của mình và theo đuổi một chính sách gần như hoàn toàn nhất quán theo mô hình đã thiết kế. Trong khi đó, Leclerc là một người nhiều mưu mẹo khó có ai sánh kịp, nhưng không kiên định trong chính sách. Hành động của d'Argenlieu luôn luôn nhất quán với mục tiêu dài hạn tuân theo những nguyên tắc được người thầy vĩ đại của ông ta là Charles de Gaulle đưa trong bản tuyên bố ngày 24 tháng Ba 194518. Gần đây hơn, Prédéri Turpin đã có một nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa Leclerc và d'Argenlieu cho thấy d'Argenlieu luôn luôn được de Gaulle ủng hộ. Turpin cho rằng trong khoảng thời gian cận ngày ký thỏa thuận 6 tháng Ba, d'Argenlieu và Chính phủ Pháp đã "bật đèn xanh một cách bất cẩn cho việc khởi động Chiến dịch Bến Tre, trong khi Leclerc... thì tỏ ra là một người bốc đồng chứ không bình tĩnh một cách khôn ngoan"19.


Ngay sau cuộc họp của Cominindo ngày 20 tháng Hai thảo luân về việc tái chiếm Bắc Đông Dương, d'Argenlieu bật đèn xanh cho Leclerc triển khai Chiến dịch Bến Tre nhân danh Chính phủ Pháp Sư đoàn 9 Bộ binh viễn chinh Pháp và Sư đoàn 2 thiết giáp vừa hoàn thành việc "bình định" miền Nam Đông Dương lập tức lên chiến hạm của Pháp trong thời gian từ 27 tháng Hai đến 1 tháng Ba ngay sau khi d'Argenlieu trở về Đông Dương; ngày 1 tháng Ba một hạm đội hoành tráng gồm 35 chiến hạm rời Sài Gòn men theo bờ biển Bắc tiến. Đích thân Tướng Leclerc lên tàu Emile Bertin ngày 3 tháng Ba và "từ thời điểm đó, ông ta chỉ có thể liên lạc với Hà Nội và Sài Gòn bằng vô tuyến điện20. Mục đích công khai của chiến dịch này là để tiếp quản Bắc Đông Dương từ tay quân Tưởng, thực hiện nhiệm vụ chiếm giữ để quân Tưởng có thể rút trước cuối tháng 321. Tại sao lại tháng Ba? Vì trong trường hợp cần thiết, Pháp cũng cần thời gian để đè bẹp phong trào kháng chiến của người dân địa phương trước khi mùa mưa bắt đầu: "Chúng ta chưa nắm rõ thái độ của dân chúng An Nam đối với người Pháp ở Đông Dương, vì vậy, chúng ta phải chiếm các trung tâm lớn càng nhanh càng tốt để bảo vệ các trung tâm này"22. Những trung tâm lớn ở đây bao gồm Hải Phòng, Hòn Gai, Nam Định, Vinh, Huế và Hà Nội. Ở các thành thị này, từ ngày 9 tháng Ba 1945, người Pháp đã sống trong điều kiện tồi tệ dưới quyền Nhật Bản, Việt Nam và Tàu Tưởng. Hà Nội không chỉ có người dân Pháp mà còn có 3.000 lính và sĩ quan Pháp thuộc đội quân thực dân đã bị Nhật tước vũ khí và giam trong nội thành cho tới lúc đó.


Chiến dịch Bến Tre do các lực lượng sau tiến hành:

- Một lực lượng đổ bộ gồm Sư đoàn 9 Bộ binh do Tướng Jean- Etienne Valluy chỉ huy và Trung đoàn Massu thuộc Sư đoàn 2 thiết giáp, tổng cộng 21.000 người. Họ từ Sài Gòn di chuyển bằng đường biển, cập bến Hải Phòng. Cuộc đổ bộ này sẽ diễn ra vào các ngày 4, 5 hoặc 6 tháng Ba vì đó là những ngày duy nhất (cho tới ngày 16, 17 và 18 tháng Ba) thủy triều cho phép tàu biển có kích cỡ nhất định vượt qua doi cát nằm chắn giữa biển để vào cảng nằm cách biển 20 km23.

- Lực lượng ven biển đã đóng tại vịnh Hạ Long, phía bắc Hải Phòng.

- Quân Pháp trốn ở Trung Quốc sau khi thoát khỏi vụ tàn sát của Nhật Bản tháng Ba 1945. Họ chỉ nhận được sự giúp đỡ nửa vời và miễn cưỡng của những người dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc và quân Mỹ ở Trung Quốc, nhưng họ đã có thừa thời gian để nung nấu căm hờn vì đã bị người châu Á nói chung xử tệ, trong đó có cả những người "Annammít" đã bỏ rơi họ hồi tháng Ba, tháng Tư 1945. Những người lính Pháp này vẫn giữ được vũ khí cũ của mình và kiếm thêm được một số vũ khí mới, được tập hợp dưới sự chỉ huy của Trung tá Robert Quilichini. Một vài người trong số đó đã xâm nhập biên giới Bắc Kỳ và chiếm thị xã biên giới Lai Châu. Theo kế hoạch, họ sẽ di chuyển sang bờ tây sông Hồng (thực ra sau khi Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba được ký, họ bỏ sang Lào).

- Một lực lượng sẽ đến bằng đường không, hạ cánh xuống sân bay ngoại thành Hà Nội, với nhiệm vụ đặc biệt là vũ trang cho 3.000 lính Pháp còn lại ở Hà Nội. Họ nằm dưới quyền chỉ huy của Trung tá Lefèbvre d'Argence theo lệnh Tướng Raoul Salan. Trước đó, Salan đã được phong làm chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Đông Dương, đã đến Hà Nội để sau đó chỉ huy vụ tấn công Chính phủ Việt Nam theo kế hoạch. Lúc này, ông ta đang là thành viên đoàn đàm phán Sainteny. Về sau, Salan chỉ huy các chiến dịch quân sự Pháp tại Hà Nội, song song với việc đàm phán với Tàu Tưởng để tiếp quản vùng lãnh thổ do Tàu Tưởng chiếm đóng24.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:34:15 pm »

Mục đích của Chiến dịch Bến Tre là lấy lại Hà Nội từ tay "Chính phủ cách mạng Annammít" như Pháp nói. Người Pháp tại Hà Nội, cả lính và dân đều không ưa gì chính phủ này cũng như quân Tưởng chiếm đóng, nhiều người trong số họ ngóng chờ ngày trả thù cho những nỗi khốn khổ mà họ phải chịu từ ngày 9 tháng Ba 1945. Sau ngày 6 tháng Ba 1946, hiệp định được loan bá nhiều người Pháp, nhất là binh lính Pháp ở Hà Nội hết sức thất vọng. Một báo cáo của Cơ quan an ninh Pháp ngày 17 tháng Ba nói rằng họ bất bình vì "từ ngày 9 tháng Ba, họ chưa bao giờ mất hy vọng được trả thù, ít nhất là trả thù cho sự lăng nhục và quấy rối của những người Annammít mà họ đã phải nuốt hận chịu đựng. Đặc biệt là đa số binh lính Pháp bất bình vì bỗng chốc Hiệp định ngày 6 tháng Ba tước đi cảm giác hả hê mà họ mong có khi "trấn áp" những người đó"25.


Binh lính Pháp bị nhốt trong thành Hà Nội có lý do để ghen tị với các đồng chí của mình ở Sài Gòn, vì từ tháng Chín 1945, lính Pháp tại Sài Gòn đã được Anh bảo vệ và hỗ trợ, giúp họ lật đổ chính quyền cách mạng, đuổi tất cả những người theo cách mạng ra khỏi các công sở và lấy lại quyền kiểm soát Nam Kỳ. Một yếu tố quan trọng trong Chiến dịch Bến Tre là bí mật trang bị lại vũ khí cho càng nhiều binh lính Pháp bị nhốt trong thành Hà Nội càng tốt ngay sau khi quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng và trước khi số quân này đến Hà Nội. Điều này sẽ cho phép các cựu tù binh chiến tranh tự vệ, đồng thời bảo vệ thường dân Pháp và chiếm các vị trí chiến lược trước khi quân chiếm đóng tới. Ban đầu, Pháp đã tính tới khả năng thả dù vũ khí xuống thành Hà Nội, nhưng đã từ bỏ kế hoạch này vì cho rằng quá rủi ro. Người An Nam có thể đoán biết sự việc và vũ khí có thể rơi vào tay họ. Do đó, Pháp quyết định đưa 12 máy bay đầm già (dakota) chở đầy vũ khí từ Sài Gòn hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, bí mật chuyển vũ khí sang xe tải rồi lái về thành phố. Các tài liệu không cho biết xe tải lấy ở đâu, nhưng nhiều khả năng là mua tại Hà Nội26.


Việc tái chiếm Hà Nội do ba đơn vị chính đảm nhiệm: (1) Lực lượng trong thành Hà Nội, chia thành các tiểu đoàn, chịu trách nhiệm duy trì trật tự trong một số khu vực đã xác định trước27; (2) Một lực lượng đi đường không (Chiến dịch Ponchardier); và (3) Trung đoàn Massu (được đặt tên theo chỉ huy trung đoàn là Đại tá Jacques Massu), trung đoàn này sau khi đổ bộ vào Hải Phòng sẽ nhanh chóng tiến về Hà Nội theo đường 5 hoặc nếu bị chặn lại, sẽ đi thuyền theo hai sông đào khác nhập vào sông Hồng và xâm nhập vào Hà Nội bằng các đường dốc đã làm sẵn dọc bờ sông.


Ủy viên Cộng hòa Pháp Jean Sainteny đã được cung cấp truyền đơn thông báo thiết quân luật, truyền đơn có in chữ ký của Tướng Lư Hán, chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng với giả định là Lư Hán sẽ đồng ý28. Có lẽ không cần phải nói thêm rằng kế hoạch Chiến dịch Bến Tre hoàn toàn dựa trên yếu tố bất ngờ29.


Một số độc giả có lẽ đang tự hỏi: "Làm sao có thể như vậy?". Và họ đặt câu hỏi như vậy là hợp lẽ thôi. Chiến dịch Bến Tre đầy rủi ro. Gần như chắc chắn chiến dịch này sẽ trở thành một thảm họa. Không thể nào vũ trang cho 3.000 binh lính mà không ai biết giữa một thành phố có đầy quân Tưởng và người Việt, những người đó đều biết rằng đang có một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kể cả nếu quân Tưởng có đồng ý đi chăng nữa. Tổ chức cho một đơn vị thiết giáp hành quân từ Hải Phòng đến Hà Nội mà không khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam cảnh giác quả là chuyện không tưởng. Ấy thế mà kế hoạch vẫn được vạch ra, và trong những ngày ngày 6 tháng Ba, người ta đã chuẩn bị mọi thứ để tiến hành kế hoạch này. Chiến dịch này có một phiên bản hòa bình mật Bouquet để tiến hành trong trường hợp Chính phủ Việt Nam chịu để cho Pháp chiếm lại miền Bắc30.


Có một vấn đề giấy tờ chưa được giải quyết: miền Nam Đông Dương tính từ vĩ tuyến 16 nằm dưới sự quản lý của Bộ Tư lệnh Đông Nam Á của Anh, do đó, trước khi tiến hành bất kỳ chiến dịch quân sự nào, quân viễn chinh Pháp cần được Mountbatten cho phép. Nếu lực lượng nằm trong khu vực kiểm soát của Mountbatten lấn sang khu vực kiểm soát của Tưởng Giới Thạch, Anh có thể gặp phiền toái với Trung Quốc. Tháng Giêng 1946, Mountbatten đã rút tất cả lính Anh khỏi Đông Dương và để cho Pháp toàn quyền kiểm soát miền Nam trong tất cả mọi vấn đề thực tiễn, ông ta quả thực đã trao quyền lực cho Tướng Leclerc. Tháng Giêng 1946, Anh đã yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu kết hợp của Anh và Mỹ cho phép để Pháp chính thức chịu trách nhiệm thay Anh, nhưng ngày 1 tháng Hai, Mỹ đã từ chối31. Anh chỉ muốn tránh xa mọi rắc rối32, nên ba tuần sau, Mountbatten rất sốc khi biết rằng Pháp chuẩn bị một chiến dịch lớn mà không báo gì cho ông ta cả. Ông ta phàn nàn và yêu cầu Leclerc cung cấp một bản báo cáo đầy đủ về diễn biến sự việc. Đầu tiên, Leclerc thoái thác trả lời, nhưng sau đó cũng cung cấp cho Mountbatten thông tin được yêu cầu, trừ thông tin về kế hoạch chiếm lại Hà Nội. Ngờ rằng sắp có chuyện, Mountbatten bèn quyết định phủi tay ngay, không dính líu thêm với Pháp nữa.


Ông đề nghị Chính phủ Anh đàm phán một thỏa hiệp với Mỹ càng nhanh càng tốt, cho phép Pháp được chuyển giao hoàn toàn trách nhiệm về miền Nam Đông Dương với ngoại lệ duy nhất: Anh sẽ chịu trách nhiệm đưa tù binh Nhật trở về nước. Vì Mountbatten đã được Leclerc cho biết quân Pháp sẽ đổ bộ vào Hải Phòng ngày 5 tháng Ba, Mountbatten công bố rằng trách nhiệm quản lý miền Nam Đông Dương được chính thức chuyển cho Pháp kể từ đêm 4 rạng ngày 5 tháng Ba, mặc dù thực tế ngày 29 tháng Ba tiểu đoàn Anh cuối cùng mới rời Sài Gòn33. Mối quan tâm chính của Mountbatten là làm sao để Anh không dính dáng gì tới bất kỳ xung đột nào giữa Pháp và Tàu Tưởng34. Ngày 21 tháng Hai, lãnh sự Anh ở Sài Gòn đã báo cáo về Anh rằng mặc dù là một người lạc quan, Tướng Salan đã dự tính một chiến dịch bình định ở Bắc Đông Dướng có thể kéo dài ít nhất một năm: "Theo một nguồn rất đáng tin cậy ở Hà Nội, Tướng Salan - người sẽ chỉ huy quân Pháp - rất lạc quan về kết quả của chiến dịch và cho rằng việc quét sạch các trung tâm lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, v.v. có thể diễn ra nhanh chóng mà không gặp phải sự kháng cự đáng kể của phía An Nam. Tuy vậy, ông ta công nhận rằng quân Annammít sẽ rút lui về vùng đồi núi và có thể mất ít nhất một năm để dẹp yên toàn bộ vùng này"35. Mặc dù vậy, Mountbatten vẫn băn khoăn về việc Pháp định làm gì để tránh xung đột với Trung Quốc.


Tất nhiên là Pháp biết điểm yếu quan trọng nhất của Chiến dịch Bến Tre là chiến dịch này phụ thuộc vào ý định của Tàu Tưởng. Điều kiện của chiến dịch là Tàu Tưởng không những phải làm ngơ, mà còn phải giúp đỡ Pháp tái chiếm đóng Đông Dương. Chắc chắn về mặt pháp lý, Tàu Tưởng có nghĩa vụ phải làm điều đó vì Tàu Tưởng đã công nhận chủ quyền của Pháp, nhưng cho phép Pháp thiết lập lại sự hiện diện bằng vũ lực sẽ gây ra phiền phức chính trị nội bộ cho chính phủ Tưởng Giới Thạch và có thể khiến Việt Nam có thái độ thù địch những người Hoa sống tại Đông Dương36.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:36:13 pm »

ĐÀM PHÁN VỚI TÀU TƯỞNG

Có thể nói rằng quả là không khôn ngoan chút nào nếu khởi động một vụ xâm lược và tự đặt mình vào tình huống không có đường rút nếu như người ta hoàn toàn không sẵn sàng đón nhận hậu quả của tình huống đó. Pháp sẵn sàng đối đầu với Việt Minh nếu Hồ Chí Minh từ chối ký thỏa thuận, nhưng Pháp không hề dự liệu khả năng khi đó sẽ xảy ra chiến tranh với Tàu Tưởng. Thế nhưng, trong thời gian từ ngày 27 tháng Hai đến 1 tháng Ba, trước khi rõ phản ứng của phía Tàu Tưởng, Leclerc đã phái một "hạm đội nhỏ" như d'Argenlieu gọi trong hồi ký của ông. Như đã nói hạm đội này không thể quay trở lại được vì trên tàu không có đủ nước ngọt cho binh lính dùng lâu hơn nữa, và do điều kiện thủy triều, các tàu Pháp dứt khoát phải vào cảng Hải Phòng ngày 4, 5 hoặc 6 tháng Ba. Các nhà lãnh đạo phía Pháp hy vọng rằng việc quân Pháp đến sẽ khiến Hồ Chí Minh ký thỏa thuận theo những đòi hỏi của Pháp, và rằng Tàu Tưởng sẽ đứng sau lưng Pháp37. Mặc dù vậy, cả Tàu Tưởng và Việt Nam đều nhận ra rằng Pháp đã đặt lực lượng của mình và quyền lợi của mình vào vòng nguy hiểm. Điều này khiến Pháp rơi vào thế yếu và Pháp gần như hoảng sợ khi phát hiện ra Tàu Tưởng hoàn toàn không sẵn sàng hợp tác, mặc dù theo Hiệp định Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai thì Tàu Tưởng có nghĩa vụ pháp lý phải làm như vậy, đấy là chưa kể một số tướng lĩnh Tàu Tưởng đã được Pháp hối lộ những khoản tiền lớn.


Tướng Leclerc đã nhận ra mối nguy hiểm, và đó chính là lý do ông ta cố sức đề nghị Chính phủ Pháp ra một tuyên bố sử dụng thuật ngữ "độc lập". Ông ta nghĩ rằng điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Sainteny dụ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội cho tới khi quân Pháp tới. Leclerc cũng nhấn mạnh rằng trước khi khởi động Chiến dịch Bến Tre, ông ta nhận chỉ thị trực tiếp từ chính phủ mới của Pháp chứ không phải nhận chỉ thị của riêng d'Argenlieu. Trong thời gian Leclerc tiến hành công cuộc "bình định" Nam Đông Dương, giữa d'Argenlieu và Leclerc không có mâu thuẫn, căng thăng gì lớn, nhưng trước Chiến dịch Bến Tre, quan hệ của họ xấu đi trông thấy. Cuối tháng Giêng hoặc đầu tháng Hai, d'Argenlieu cử chỉ huy Sư đoàn 9 bộ binh, Tướng Jean-Etienne Valluy về Paris để xin chỉ thị khẩn của chính phủ. Ngày 26 tháng Giêng (chưa đầy một tuần sau khi de Gaulle từ chức), tại một phiên họp của Cominindo, Valluy trình bày một văn bản mà sau đó ông ta gửi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Georges Bidault, liệt kê ba điều kiện để tái lập thành công chủ quyền của Pháp ở miền Bắc: (1) hành động quân sự, (2) hành động ngoại giao đối với Tàu Tưởng, và (3) hành động chính trị đối với "người Annammít". Ông ta cũng nói rằng không thể trì hoãn hành động thêm nữa vì "điều kiện khí hậu" cho việc đổ quân là tốt nhất trong khoảng thời gian cuối tháng Hai hoặc đầu tháng Ba. Valluy lập luận rằng không nên chỉ tiến hành một chiến dịch quân sự thuần túy vì bốn lý do sau: (1) chiến dịch đó sẽ vấp phải sự chống đối đồng thời từ phía Việt Nam và phía Tàu Tưởng, (2) chiến dịch đó có thể châm ngòi cho một cuộc thảm sát người Pháp ở miền Bắc, (3) chiến dịch đó sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra chiến tranh du kích kéo dài, và (4) cả trong nước lẫn nước ngoài đều sẽ phản ứng tiêu cực với loại hành động quân sự này. Do vậy, hành động quân sự cần phải núp dưới vỏ bọc chính trị và ngoại giao. Theo Valluy, Hồ Chí Minh nhiều khả năng sẽ cư xử "biết điều" một khi biết rằng mình đã thua trong canh bạc Đông Dương38. Có vẻ Chính phủ Pháp đã không cho Valluy chỉ thị như ông ta muốn.


Ngày 13 tháng Hai, d'Argenlieu đích thân đến Paris, để Leclerc đảm nhiệm chức cao ủy lâm thời. Với chức vụ này, Leclerc phải báo cáo cho d'Argenlieu. Lúc này, Leclerc sợ rằng d'Argenlieu tự đặt mình chắn giữa Leclerc và Chính phủ Pháp và diễn giải chính sách của Pháp ở Đông Dương theo cách thức không hoàn toàn phản ánh đúng quan điểm của các vị bộ trưởng phụ trách. Về sau này, d'Argenlieu gọi việc Leclerc cố gắng liên lạc trực tiếp chính phủ, bỏ qua d'Argenlieu là "nực cười"39. Ngày 14 tháng Hai, một ngày sau khi d'Argenlieu khởi hành từ Sài Gòn, Leclerc gửi thông điệp của mình tới Paris đề nghị chính phủ ra một tuyên bố công khai, hứa hẹn "độc lập" cho Đông Dương. Leclerc cho rằng phía Việt Nam sẽ chấp nhận "độc lập" có nghĩa là "tự quản". Ông ta hối thúc chính phủ ra tuyên bố này trước khi Pháp đổ bộ và Bắc Kỳ40. Điều này không có nghĩa là Leclerc muốn Pháp chỉ đổ bộ nếu như đạt được thỏa thuận với Hồ Chí Minh, ông ta muốn có một tuyên bố của chính phủ để có thể dụ Hồ Chí Minh ở lại Hà Nội và đàm phán cho đến khi và sau khi quân Pháp đã đổ bộ. Điều này cho phép Pháp đàm phán trên thế mạnh. Đối với Leclerc, cứ phải "già đòn non lẽ", và điều thực sự có ý nghĩa là thể hiện được sức mạnh và sự quyết tâm của mình. Mục đích của việc đưa ra hứa hẹn không phải là để cam kết điều gì trong tương lai, mà là để tác động tới cách ứng xử của đối thủ ngay trong hiện tại. Chỉ cần Pháp thiết lập được sự hiện diện áp đảo ở miền Bắc, những gì còn lại có thể được giải quyết dễ dàng hơn nhiều.


Có lẽ Chính phủ Pháp đã nghe theo đề nghị của Leclerc sử dụng từ "độc lập" - bất chấp sự phản đối của d'Argenlieu - nếu như trong một báo cáo kết quả cuộc họp với Hồ Chí Minh ngày 16 tháng Hai, Sainteny không cho rằng Hồ Chí Minh có thể chấp nhận điều gì đó ít hơn thế. Sainteny nhận được trả lời của Chính phủ Pháp do d'Argenlieu soạn thảo và được Cominindo thông qua, cho phép ông ta ký một thỏa thuận với Việt Nam trên cơ sở tự quản lý" (từ tiếng Anh "self-government" được sử dụng trong nguyên văn). Mặc dù vậy, d'Argenlieu khăng khăng rằng thỏa thuận này không được có bất kỳ điều gì thể hiện việc Pháp chấp nhận thống nhất ba "kỳ". "Chắc chắn, Hồ Chí Minh phải thừa nhận rằng quyết một giải pháp về vấn đề này trước khi để cho dân chúng ba "kỳ" thể hiện ý kiến của mình một cách hoàn toàn độc lập và tự do là trái với nguyên tắc dân chủ", Đô đốc d'Argenlieu trả lời Sainteny như vậy41. D'Argenlieu đã tính sai. Rất có thể là ông ta sử dụng lập luận nêu trên để chống lại việc nhượng bộ bất kỳ điều gì liên quan đến Nam Kỳ. Kế hoạch của ông ta là phát triển những thiết chế ở riêng Nam Kỳ, các thiết chế này sẽ từng bước chuẩn bị Nam Kỳ sẵn sàng cho việc lấy ý kiến dân chúng. Trong khi đó, khi nêu lập luận của d'Argenlieu trong đàm phán với Hồ Chí Minh, có lẽ Sainteny đã diễn đạt ý này như một đề nghị trưng cầu ý dân. Ban đầu Hồ Chí Minh phản đối, nhưng về sau lại chấp nhận. Một người muốn chứng tỏ mình là đại diện cho một nền dân chủ không thể dễ dàng giũ bỏ khái niệm trưng cầu ý dân, vì vậy, Sainteny đã hứa một điều mà về sau d'Argenlieu cho là vô cùng tai hại: Pháp sẽ tôn trọng quyết định của nhân dân ba "kỳ" thể hiện thông qua trưng cầu ý dân42. Sainteny đã làm trái quy tắc chỉ trưng cầu ý dân đối với một vấn đề sống còn nếu như biết chắc kết quả cuộc trưng cầu ý dân đó là có thể chấp nhận được. Còn Hồ Chí Minh thì đã làm đúng quy tắc này vì ông tin chắc là đa số người dân ủng hộ việc thống nhất đất nước, nhưng Sainteny cam kết tổ chức trưng cầu ý dân ở Nam Kỳ, một lãnh thổ mà theo quan điểm pháp lý của Pháp thì hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp. Lời hứa này đi quá xa những gì mà nước Pháp sẵn sàng thực hiện.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:38:09 pm »

Trong thời gian ở Paris từ ngày 17 đến 25 tháng Hai, dường như Đô đốc d'Argenlieu không muốn bàn bạc về nguy cơ chiến tranh. Ông ta trấn an chính phủ, nói rằng các cuộc đám phán cả ở Trùng Khánh và Hà Nội đều diễn ra ổn thỏa. Ngày 20 tháng Hai, tại cuộc họp của Cominindo, ông ta nói rằng cả hai hiệp định Pháp - Tưởng và Pháp - Việt đều sắp được ký. Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Marius Moutet hẳn là hài lòng về việc này, nhưng để chắc chắn đầu tháng Ba, ông ta yêu cầu Cao ủy "làm rõ liệu ông có định đợi đến khi ký xong hiệp định với Hồ Chí Minh rồi mới nhận tiếp quản từ tay quân Tưởng hay không. Chúng tôi mong rằng ông cố gắng đạt được hiệp định này trước đã". Moutet cũng bày tỏ đôi chút lo ngại về kế hoạch vũ trang cho quân Pháp đang bị giam trong thành Hà Nội: "Tôi bổ sung là để ngăn ngừa những vụ việc tương tự những gì xảy ra ở Sài Gòn khi binh lính tại chỗ được vũ trang lại [tháng Chín 1945], cần phải có những biện pháp cần thiết để bảo đảm điều kiện cho việc tái vũ trang thành Hà Nội"43. Và những câu văn khó hiểu tiếp theo cho thấy ngài bộ trưởng không chắc là người ta sẽ tuân lệnh ngài: "Điều hết sức quan trọng là chỉ huy quân sự phải hiểu rằng quân đội không thể dùng làm phương tiện cho một chính sách nào đó. Chúng ta phải cố gắng đạt được kết quả bằng phương cách chính trị để tránh phải dùng các hoạt động quân sự. Binh lính không thể trở thành quan tòa của chính sách này, một chính sách mà có lẽ một số người trong số họ không ủng hộ"44.


Kể từ ngày 8 tháng Giêng, một đoàn đàm phán Pháp do Tướng Salan đứng đầu tiến hành đàm phán với chính quyền Tàu Tưởng tại Trùng Khánh về điều kiện để quân Pháp thay thế quân Tưởng ở Bắc Đông Dương. Các cuộc đàm phán này nằm trong bối cảnh Pháp và Tàu Tưởng tiến hành đàm phán ngoại giao về nhiều vấn đề khác nữa, không chỉ về Đông Dương mà còn về quyền của Pháp trên lãnh thổ Trung Quốc, về thương mại và về tô giới của Trạm Giang, còn gọi là Quảng Châu Loan, nằm trên bán đảo Lôi Châu ở phía bắc đảo Hải Nam. Trong Hiệp ước Trùng Khánh ký ngày 28 tháng Hai, Pháp trao lại Quảng Châu Loan, và các đặc quyền ngoại giao của Pháp tại Thượng Hải, Thiên Tần, Hàng Châu và Quảng Châu, và cam kết rằng Hải Phòng sẽ trở thành một cảng biển tự do đối với tàu buôn Trung Quốc45. Bù lại, Pháp muốn quân Tàu Tưởng nhanh chóng rút khỏi Đông Dương khi quân Pháp đến. Tuy vậy, ngày 27 tháng Hai khi quân Pháp lên tàu tại Sài Gòn, những người đại diện Pháp đàm phán tại Hà Nội vẫn chưa nói với đối tác Tàu Tưởng của mình rằng quân Pháp đã sẵn sàng đổ bộ và sẽ triển khai đổ bộ. Có một điểm trong Hiệp ước Pháp - Tưởng quy định rằng quân Pháp sẽ tiếp quản Bắc Đông Dương trong nửa cuối tháng Ba, nhưng điểm đó chỉ nói về hành động, "giao nhận" chứ không phải việc tiến hành chiếm đóng rầm rộ. Và các nhà đàm phán Pháp cũng không hé một lời với phía Tàu Tưởng về kế hoạch đối xử của Pháp với Chính phủ Việt Nam46.


Ngay sau khi ký hiệp ước song phương Pháp - Tưởng tại Trùng Khánh, Pháp thông báo cho Bộ Tham mưu của Tưởng Giới Thạch rằng quân đổ bộ của Pháp đang trên đường tới Hải Phòng và sẽ tới nơi vào đầu tháng Ba. Tin này không làm Tàu Tưởng hài lòng. Phía Tàu Tưởng còn bất bình hơn khi biết rằng Pháp cũng muốn được giúp đỡ để trang bị lại vũ khí cho quân Pháp ở thành Hà Nội47. Ngày 1 tháng Ba, đoàn đàm phán Pháp vẫn nghĩ rằng Tàu Tưởng đồng ý giúp họ trong cuộc đổ bộ sắp tới. Đại tá Jean Crépin, nhà quân sự cấp cao chủ chốt trong đoàn đàm phán của Pháp tại Trùng Khánh dưới quyền Tướng Salan gửi điện tín cho Leclerc: "Thỏa thuận đã đạt được. Hạm đội hãy nhổ neo". Thế nhưng khi Pháp yêu cầu Tàu Tưởng nhanh chóng dọn dẹp bến cảng, bảo đảm an ninh trên đường từ Hải Phòng về Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho 12 máy bay hạ cánh ở sân bay Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội và bảo đảm an ninh trên con đường từ Gia Lâm tới thành Hà Nội, Tàu Tưởng đã thẳng thừng từ chối. Pháp nhấn mạnh yêu cầu là chỉ huy quân sự phía Tàu Tưởng gửi những mệnh lệnh cần thiết tới Hà Nội ngay đêm 1 tháng Ba. Đoàn đàm phán Tàu Tưởng phản đối, tỏ ý muốn thoái thác với lý do sợ Việt Nam có thái độ thù địch người Hoa ở Bắc Kỳ, và họ tìm ra vô số lý do khác trong mấy ngày sau đó để từ chối thực hiện mong muốn của Pháp48. Đáng lẽ ra cuộc tranh cãi này phải được đích thân Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch giải quyết, nhưng ông ta lại đang bận rộn với Phiên họp thứ hai Đại hội Quốc dân Đảng lần thứ sáu, mà trong phiên họp này thì phe bảo thủ lại chỉ trích ông ta vì đã trao lại Việt Nam vào tay bọn thực dân Pháp. Chỗ bấu víu cuối cùng của Pháp là nhờ đại sứ Anh ở Trung Quốc là ngài Adrian Carton de Wiart nói giúp với ông bạn Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch, nhưng ý định này (mà Mountbatten không hay biết) cũng không thành công. De Wiart viết cho Mountbatten: "Hôm nay, đại sứ Pháp cử tham tán đến gặp tôi. Tôi rất lo ngại vì Leclerc đã cho tàu khởi hành từ Sài Gòn đến Hải Phòng, dự kiến ngày mùng 5 sẽ tới nơi. Leclerc nghĩ rằng hiệp định đã được ký rồi nhưng thực ra không phải... Pháp muốn tôi giúp và tất cả những điều tôi có thể làm là hỏi tổng tư lệnh liệu ông ta có trả đất cho Pháp hay không. Tôi nói với ông ta rằng nếu ông ta trả lời không, điều đó sẽ gây ra một tình huống hết sức không hay"49.


Trước đó một tháng, khi Tướng Valluy trình Cominindo kế hoạch tái chiếm Bắc Kỳ, ông ta đã nhấn mạnh rằng chiến dịch không được tiến hành dưới hình thức thuần túy quân sự, mà phai "núp bóng" hành động ngoại giao đối với cả phía Tàu Tưởng và phía Việt Nam50. Ngày 1 tháng Ba, "cái bóng ngoại giao" đã không mang lại kết quả ở Trùng Khánh, nhưng khi thốt bại trong đàm phán ở trung ương thì phải thử ở địa phương. Thế là Tướng Salan bèn cố sức thuyêt phục chỉ huy quân Tưởng tại Hà Nội giúp quân Pháp tràn vào Bắc Đông Dương. Nhiệm vụ của Salan không đơn giản, vì cả chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng là Tướng Lư Hán và chỉ huy Đại đoàn 53 của Tàu Tưởng là Tướng Zhou Fucheng đều ở Trùng Khánh để tham dự đại hội của Quốc dân Đảng. Do vậy, Tướng Salan phải đàm phán với các chỉ huy cấp dưới như Tướng Ma Ying và Tướng Zhao Zhenfan và người đứng đầu phái đoàn cố vấn của chính quyền Tưởng tại Việt Nam là Shao Baichang. Ngày 3 tháng Ba, Salan gửi một bức thư cho Lư Hán định ngày đổ bộ là 6 tháng Ba, giải thích cách trang bị vũ khí cho binh lính trong thành Hà Nội và yêu cầu cho Pháp tự do vào tất cả các sân bay ở Bắc Đông Dương và sử dụng con đường nối Hải Phòng với Hà Nội51. Cuộc đối thoại giữa Salan và phía Tàu Tưởng nhanh chóng rơi vào bế tắc vì các tướng lĩnh phía Tàu Tưởng nói rằng họ cần thảo luận với nhau và cần thêm thời gian để biết chắc Trùng Khánh chỉ thị làm đúng như yêu cầu của Pháp. Lúc này thì Salan phải từ bỏ cố gắng để Tàu Tưởng hỗ trợ trong việc trang bị lại vũ khí cho lính Pháp trong thành Hà Nội và tập trung vào vấn đề khẩn cấp hơn, đó là việc cho quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng. Trong cuộc gặp bắt đầu ngày 4 tháng Ba và kéo dài tới tận cuối buổi sáng ngày 5 tháng Ba, trước sự hối thúc của Salan, Tàu Tưởng chấp thuận cho tàu Pháp "hiện diện" tại Hải Phòng vào ngày 6 tháng Ba, nhưng không cho đổ bộ bất kỳ tên lính nào. Tuy vậy, cuối ngày hôm đó, khi những mệnh lệnh mới từ Trùng Khánh đến Hà Nội thì có vẻ ngay cả thỏa thuận này cũng không chắc chắn. Vậy là Salan phải bắt đầu lại từ đầu. Đêm mùng 5 rạng ngày 6 tháng Ba, một lần nữa Salan lại đạt được thỏa thuận với mục đích ngăn cản chiến tranh Pháp - Trung bùng nổ tại Hải Phòng. Thế nhưng khi đến Hải Phòng sáng ngày 6 tháng Ba, tàu Pháp vẫn bị pháo binh Tàu Tưởng nã đạn.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:39:35 pm »

Các cuộc đàm phán giữa Salan với sĩ quan Tàu Tưởng và chuỗi sự kiện dẫn tới cái gọi là "biến cố Hải Phòng" đã được mô tả kỹ trong cuốn sách của tác giả Lin Hun có tên Chiang Kai-shek, de Gaulle contre Ho Chi Minh (Cuộc đọ sức giữa Tưởng Giới Thạch, de Gaulle và Hồ Chí Minh) và trong cuốn sách của tác giả Prédéric Turpin mang tên De Gaulle, les gaullistes et l'Indochine 1940-1956. Turpin thấy biến cố này là "bi thảm và ngu ngốc" và cho rằng ít nhất Tướng Leclerc có một phần lỗi gây ra sự kiện đó vì ông ta đã nắm được thông tin đầy đủ về tình hình, do vậy biết rằng nếu cứ cố đổ quân thì có nguy cơ xảy ra sự biến nghiêm trọng52. Như Lin Hua và Turpin đã chứng minh một cách chi tiết, Leclerc và những người dưới quyền ông ta lúc đó biết rằng biến cố Pháp - Trung tại Hải Phòng không xuất phát từ bất kỳ sự hiểu lầm nào hay vì chỉ huy quân Tưởng ở Hà Nội ra chỉ thị trái với mệnh lệnh của Trùng Khánh. Mặc dù chính phủ trung ương của Tưởng và các chỉ huy quân sự của Tưởng ở Đông Dương có thể có quan điểm khác nhau53, họ đều thống nhất với nhau ở điểm cần phải ngăn cản Pháp gây chiến tranh đối với Việt Nam. Vì vậy, khi quân Tưởng nã pháo vào chiến hạm Pháp trên đường tiến vào cảng Hải Phòng, họ đang bảo vệ lợi ích của riêng họ, cũng như lợi ích của người châu Á chống lại sự xâm lược của phương Tây. Lãnh đạo hành động này là một viên tướng người Mãn Châu tên là Wang Lihuan, chỉ huy Sư đoàn 130, Đại đoàn 53. Mệnh lệnh nổ súng của Wang Lihuan căn cứ vào cách giải thích mà theo ông ta là đúng đắn nhất đối với chỉ thị của Trùng Khánh54. Khi ban lệnh này, ông ta chưa biết rằng hiệp định Pháp - Việt sắp sửa hoàn thành. Vụ đụng độ kết thúc lúc 11h sáng, khi ông ta biết tin phiên họp đàm phán cuối cùng giữa Sainteny và Hồ Chí Minh đã kết thúc và người ta đang chuẩn bị lễ ký. Nếu cho đến lúc này mà hai bên đàm phán chưa đạt được thỏa thuận thì Tướng Wang chắc hẳn sẽ tiếp tục chống lại cuộc tấn công của Pháp với sự cố vấn giá trị của các sĩ quan Nhật mà ông ta vẫn đang giam giữ55. Hành động của quân Tưởng hoàn toàn không phải do vô kỷ luật như một số nhà sử học nghĩ. Đó là một vụ tống tiền có chủ ý và có toan tính trước, nhằm mục đích ép Việt Nam và Pháp thỏa hiệp với nhau. Tàu Tưởng không muốn bị mắc kẹt trong chiến tranh Pháp - Việt, vì vậy, họ làm mọi cách để áp đặt hòa bình. Và họ đã thành công.


Trong nội bộ Quốc dân Đảng, từ lâu, phe tả khuynh dân tộc chủ nghĩa đã thúc đẩy chính sách giúp người Việt tự giải phóng từ tay Pháp. Một nội dung của chính sách này là tìm cách tăng cường ảnh hưởng của các đảng Việt Nam đối lập thân Tàu, các đảng này còn bài Pháp hơn nhiều so với đảng cộng sản. Phe bảo thủ dân tộc chủ nghĩa Quốc dân Đảng có mặt trong số sĩ quan cũng như cố vấn Tàu Tưởng ở Việt Nam. Tuy nhiên, mối lo riêng của Tưởng Giới Thạch là chiến tranh với lực lượng Hồng vệ binh của Mao Trạch Đông ở Bắc Trung Quốc đã bùng nổ trở lại từ tháng Hai 1946 sau một thời gian lắng dịu nhờ sự can thiệp của Mỹ. Tưởng Giới Thạch sợ quân Xôviết sẽ rút khỏi Mãn Châu Lý và để vùng đất này rơi vào tay cộng sản Trung Quốc, ở đông nam Trung Quốc (các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông), Tưởng chỉ muốn bảo vệ và củng cố sự kiểm soát của mình đối với khu vực này, đồng thời tìm cách để các tướng lĩnh địa phương cung cấp binh lính cho ông ta tiến hành chiến tranh ở miền Bắc. Ông ta không muốn dính líu vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà cũng không muốn bị coi là giúp Pháp đàn áp một dân tộc châu Á anh em. Ông ta muốn vùng đệm phía nam của ông ta yên ổn để còn tập trung vào chiến tranh giành Mãn Châu. Ông ta dự kiến điều Đại đoàn 60 chủ yếu là lính xuất thần từ tỉnh Vân Nam đến các cảng Hải Phòng và Hòn Gai để đi đường biển ra mặt trận Mãn Châu. Để làm được điều này, phải ngăn chặn chiến tranh giữa Pháp - Việt Nam. Tàu Tưởng đã ký hiệp ước ngày 28 tháng Hai không chỉ để chấm dứt các đặc quyền của Pháp trên đất Trung Quốc hay để thu lại một món tiền lớn, mà còn vì việc Trung Quốc công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương có thể góp phần bảo đảm sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với chủ quyền của Trung Quốc tại Mãn Châu - vùng lãnh thổ mà Nhật tách ra khỏi Trung Quốc và biến thành nhà nước Mãn Châu độc lập. Đây là một trong những lý do khiến Tưởng Giới Thạch cam kết rút quân chứ không theo đuổi chính sách giải phóng Đông Dương từ tay Pháp như Roosevelt từng mong muốn.


Vào tháng Hai, trước khi ký Hiệp ước với Pháp, Tàu Tưởng đã cố gắng cải thiện quan hệ giữa đội quân Tưởng chiếm đóng với các đại diện của Pháp tại Bắc Kỳ. Suốt từ tháng Chín 1945 tới lúc này đại diện của Pháp tại Bắc Kỳ liên tục lên án quân Tưởng cướp phá khắp nơi, không tôn trọng chủ quyền của Pháp và hầu như không làm gì để bảo vệ thường dân Pháp ở đây. Đội quân Vân Nam đói rách, vô kỷ luật một phần đã rút về Trung Quốc, một phần dồn về khu vực ven biển Hải Phòng - Hòn Gai, đẩy quân Việt Nam ra khỏi khu vực này. Thay thế đội quân Vân Nam là Đại đoàn 53 có kỷ luật hơn trực thuộc chính quyền Tàu Tưởng. Từ ngày 9 đến 26 tháng Hai, Tướng Lư Hán, tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam và chỉ huy tối cao các lực lượng chiếm đóng của Tàu Tưởng tại Việt Nam đã có mặt tại Hà Nội và trong thời gian này, ông ta cố gắng hết sức để thực hiện chính sách thân Pháp của Tàu Tưởng. Đổi lại, ông ta nhận được một "món quà quý" của Pháp và theo viên lãnh sự Pháp tại Côn Minh, ông ta khuyên Hồ Chí Minh thỏa hiệp với chính quyền thực dân Pháp56.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Mười, 2026, 08:40:38 pm »

ĐÀM PHÁN VỚI VIỆT NAM

Nhiệm vụ của Jean Sainteny với tư cách ủy viên pháp tại Bắc Kỳ và miền Bắc An Nam không hề dễ dàng, ông ta đại diện cho nước Pháp tại một vùng mà công dân Pháp tiếp tục bị giam lỏng, trong khi quân Nhật đã bị quân Tưởng giải giáp vũ khí. Sainteny cố gắng bảo vệ các thường dân Pháp cũng như binh lính bị giam và xây dựng mối quan hệ với vị chủ tịch "Chính phủ cách mạng Annam" là Hồ Chí Minh. Từ tháng Mười 1945 trở đi, hai người thỉnh thoảng lại gặp nhau, một trong những lần gặp nhau đó là một vòng đàm phán đặc biệt quan trọng diễn ra ngày 1 tháng Mười hai 1945. Sainteny có phụ tá là Léon Pignon và một người theo SFIO tên là Louis Caput, trong khi đứng đằng sau Hồ Chí Minh là Võ Nguyên Giáp và Hoàng Minh Giám. Từ sau cuộc tổng tuyển cử toàn quốc ngày 6 tháng Giêng khẳng định tính hợp pháp của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny đi sâu vào nội dung thực chất hơn. Hai vấn đề chính là quyền độc lập của Việt Nam và quy chế của miền Nam Việt Nam hay còn gọi là Nam Kỳ. Sainteny nhất quyết không chịu sử dụng từ "độc lập" hay trao cho Chính phủ Việt Nam chủ quyền dù dưới bất kỳ hình thức nào ở Nam Kỳ, vùng đất có ý nghĩa nhất về kinh tế ở Đông Dương.


Ngày 16 tháng Hai là một ngày có ý nghĩa quyết định. Hồ Chí Minh đang ở trong tình thế cực kỳ khó khăn về chính trị ngay trong thời gian nước rút chuẩn bị cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội mới được bầu trước đó không lâu, đối mặt với các đảng phái dân tộc chủ nghĩa đối lập được Tàu Tưởng công khai ủng hộ đang đòi ông từ chức. Cơn sóng gió này xảy ra trước khi người Việt Nam biết rằng Pháp đang tập hợp quân xâm lược, vì vậy, Hồ Chí Minh quay sang Sainteny và tỏ ý là có thể Hồ Chí Minh sẽ không yêu cầu "độc lập" ngay lập tức mà có thể chấp nhận "tự quản", với mục tiêu cuối cùng là độc lập. Như đã nêu trên, chuyện này xảy ra đúng vào lúc Leclerc yêu cầu Chính phủ Pháp ra một tuyên bố công khai có từ "độc lập". Sự mềm mỏng bất ngờ của Hồ Chí Minh cất cho Pháp được gánh nặng phải sử dụng một từ ngữ nguy hiểm và tạo ra cho người Pháp ảo tưởng tạm thời là họ sắp vớ bở. Họ sẽ sớm thất vọng.


Sau cái có vẻ như là một bước tiến lớn trong đàm phán, Sainteny đến Sài Gòn để nhận chỉ thị của Leclerc. Ngày 19 tháng Hai, ông ta trở về Hà Nội, trên đường phố hôm đó xảy ra những cuộc biểu tình của phe dân tộc chống cộng sản. Phe đối lập biết rằng Hồ Chí Minh đang đàm phán với Pháp và lợi dụng điều đó để phao tin Hồ Chí Minh sắp "trao đổi" nền độc lập của đất nước với Pháp và đòi Người phải rút lui, nhường chức chủ tịch nước cho cựu hoàng Bảo Đại. Sáng ngày 22 tháng Hai, tình hình chính trị cũng như việc Tưởng ủng hộ các đảng đối lập khiến Hồ Chí Minh lo ngại tới mức Người thực sự đã đề nghị trao chức chủ tịch cho cố vấn tối cao Bảo Đại, nhưng ngay trong tối hôm đó, Người thay đổi ý kiến và rút lời đề nghị đó* (Theo tài liệu của tác giả (BT)). Hồ Chí Minh chuyển sang chủ động đàm phán với cả đại diện của Tàu Tưởng và các chính trị gia đối lập, kết quả là họ đạt được một thỏa thuận ngày 24 tháng Hai về việc thành lập một chính phủ liên hiệp quốc gia mới. Điều này giúp cho Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định uy tín của mình và trở lại điểm cứng rắn hơn trong đàm phán với Sainteny.


Trong những ngày tiếp theo, hai người gặp nhau một vài lần nữa nhưng không có tiến triển gì về thực chất. Bỗng nhiên có tin Hiệp ước Pháp - Trung đã được ký tại Trùng Khánh, trong đó quy định Pháp sẽ thay thế Tàu Tưởng. Điều này khiến phía Việt Nam lại rơi vào tình thế khẩn trương mặc dù ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam không phải là thỏa thuận với Pháp mà là tập hợp tất cả các đảng phái vào chính phủ để tập trung sức mạnh chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc sắp tới. Vì lý do đó, kế hoạch khai mạc Quốc hội đầu tiên của Việt Nam đã được đẩy lên sớm một ngày, ngày 2 tháng Ba.


Hôm đó, Quốc hội tổ chức cuộc họp đầu tiên với mối đe dọa Pháp xâm lược treo lơ lửng. Trong một cuộc họp ngắn, 242 đại biểu Quốc hội có mặt đã ra một số quyết định và nhất trí tuyệt đối phê chuẩn Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu. Một trong những nhà lãnh đạo phe dân tộc là Nguyễn Hải Thần trở thành Phó Chủ tịch và một người khác - Nguyễn Tường Tam - là Bộ trưởng Ngoại giao. Người thứ ba - Vũ Hồng Khanh - như đã nêu ở phần trên cuốn sách, được bầu làm Phó Chủ tịch ủy ban toàn quốc kháng chiến do một người thân cận và được Hồ Chí Minh hết sức tin tưởng là ông Võ Nguyên Giáp lãnh đạo. Kỳ họp Quốc hội này ban đầu dự kiến kéo dài vài ngày, nhưng vì lý do an ninh, kỳ họp đã được rút ngắn xuống còn vẻn vẹn bốn giờ đồng hồ. Lý do có lẽ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Giáp cho rằng quân Pháp có thể ập vào bất kỳ lúc nào. Vì chưa có thêm tiến triển gì mới trong đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, chắc hẳn ban lãnh đạo Việt Nam phải chuẩn bị tư tưởng cho một cuộc đối đầu một mất một còn nếu như Pháp đổ bộ. Phía Tưởng cũng thấy trước mối nguy này và bắt đầu gây áp lực mạnh mẽ lên cả hai bên để "kiến tạo" hòa bình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM