Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:26:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam  (Đọc 12245 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:08:22 pm »

- Tên sách: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2015
- Người số hóa: macbupda, dungnuocgiunuoc


* Chỉ đạo công trình:

   - Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO

   - Đại tá, PGS, TS TRẦN NGỌC LONG

   - Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG


* Tổ chức thực hiện:

   - Thiếu tá, Th.S PHAN SỸ PHÚC

   - Đại úy, Th.S NGUYỄN HÀ HẢI

   - Đại úy, Th.S NGUYỄN ĐĂNG TIẾN

   - CN LÊ THỊ THANH HUYỀN
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:09:57 pm »

LỜI NÓI ĐẦU


Biển và hải đảo có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3.200km, hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có một số quần đảo, đảo xa bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn. Biển Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép chúng ta phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; cảng biển, vận tải biển, sửa chữa và đóng tàu; khai thác tài nguyên khoáng sản; du lịch; thông tin liên lạc...


Từ bao đời nay, các thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao công sức và máu xương để khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển và các hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của Tổ quốc hôm nay, những bài học lịch sử về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn cần được vận dụng sáng tạo, cùng với việc đề cao chính nghĩa, lẽ phải, phát huy nội lực đi đôi với tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc.


Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, các thế lực nước ngoài, vào những thời điểm nhạy cảm của Việt Nam đã sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm và dùng mọi cách hợp pháp hóa bằng các thủ pháp hành chính, thậm chí cả việc ngụy tạo những chứng cứ lịch sử (văn bản, hiện vật, bản đồ...) để xuyên tạc những chứng cứ của Việt Nam, bao biện, chứng minh cho những mưu đồ của họ. Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng trên cả nước, từ rất sớm, Tạp chí Lịch sử quân sự đã quan tâm và chú trọng đăng tải, tuyên truyền giới thiệu các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu cả trong và ngoài nước, khẳng định quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong năm 1988, Tạp chí Lịch sử quân sự đã xuất bản số chuyên đề về Hoàng Sa và Trường Sa. Cho đến nay, Tạp chí Lịch sử quân sự đã đăng tải được một số lượng khá lớn các bài viết về đề tài này. Mỗi bài viết được khai thác, luận giải dưới một góc độ khác nhau, song tựu trung đều góp phần khẳng định sự thực lịch sử khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Tập hợp, giới thiệu các bài viết, bài nghiên cứu về quá trình người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và ý kiến của các nhà khoa học quốc tế về vấn đề này trên Tạp chí Lịch sử quân sự là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Việc làm này không những ghi nhận những đóng góp dù còn khiêm tốn của Tạp chí Lịch sử quân sự - một cơ quan chuyên công bố giới thiệu các kết quả nghiên cứu uy tín về Lịch sử quân sự của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - cơ quan nghiên cứu đầu ngành về Lịch sử quân sự của toàn quân và cả nước, trong việc tuyên truyền về đề tài biển, đảo mà còn nhằm góp phần hệ thống hóa tư liệu, cung cấp cho bạn đọc hiểu biết thêm về quá trình các thế hệ người Việt Nam tiến hành khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông và nhất là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công trình sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, vừa củng cố niềm tự hào về lịch sử dân tộc, qua đó tăng cường ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong nhân dân mà đặc biệt là giới trẻ. Đồng thời công trình củng cung cấp thêm những cứ liệu lịch sử xác thực, có giá trị góp phần vào cuộc đấu tranh pháp lý trên trường quốc tế để khẳng định mạnh mẽ hơn nữa chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông và nhất là đối với hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc: Hoàng Sa và Trường Sa.


Công trình là hợp tuyển các bài viết công bố kết quả nghiên cứu, giới thiệu tư liệu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, hồi ức của các nhân chứng từng làm việc và chiến đấu tại Hoàng Sa, Trường Sa. Để tiện cho độc giả theo dõi, chúng tôi sắp xếp các bài viết thành các mảng vấn đề:


Phần thứ nhất bao gồm các bài viết đề cập về Quá trình khai phá, xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phần thứ hai gồm các bài viết phản ánh Quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, chứ không hoàn toàn rành rẽ, chuyên biệt, bởi nhiều bài viết đều cùng đề cập đến cả hai nội dung trên. Ban biên tập phân loại và sắp xếp trên cơ sở nội dung nào được đề cập trong bài viết tập trung hơn, sâu đậm hơn.


Phần thứ nhất: tập hợp 14 bài nghiên cứu, bài giới thiệu tư liệu phản ánh quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thời kỳ trước năm 1945. Trong đó, có một số bài viết đi sâu làm rõ về quá trình lịch sử khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên từng quần đảo.


Phần thứ hai: tập hợp 14 bài nghiên cứu, giới thiệu công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về quá trình các thế hệ người Việt Nam bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo, các hồi ký của những người từng công tác và chiến đấu tại Hoàng Sa và Trường Sa. Trong phần này, cũng có một số bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam và của các học giả quốc tế làm rõ những chứng cứ lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam và đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.


Trong mỗi phần, chúng tôi sắp xếp các bài theo trình tự thời gian mà nội dung bài viết phản ánh và sau đó là trình tự thời gian công bố. Tuyển chọn các bài viết này, về cơ bản, Ban biên tập giữ nguyên tính thời điểm và giá trị tư liệu của bài viết như lúc đăng tải. Tuy nhiên, do đây là công trình tập hợp các bài viết trong khoảng thời gian dài, một số bài viết, bài nghiên cứu công bố trên Tạp chí Lịch sử quân sự từ thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX nên Ban biên tập đã chỉnh sửa hoặc lược bớt những chỗ đã lạc hậu cho phù hợp với tình hình mới và chúng tôi cũng tôn trọng, giữ nguyên cách viết của các tác giả về địa danh, tên người (nguyên gốc hoặc phiên âm).


Các số liệu về tọa độ địa lý, diện tích của hai quần đảo và một số đảo trong hai quần đảo, về số lượng củạ các đảo, bãi đá... trong mỗi quần đảo hay nhóm đảo trong mỗi quần đảo giữa các bài viết do thời điểm công bố và dựa trên những nguồn tư liệu khác nhau nên còn chưa có sự thống nhất. Để đảm bảo tính cập nhật mới nhất và có nguồn chính thống, Ban biên soạn chỉnh sửa và dẫn theo nguồn số liệu chính thức theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương trong cuốn "100 câu hỏi - đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam" do Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông ấn hành năm 2013.


Về tác giả các bài viết, trong khả năng cho phép, Ban biên tập cập nhật và chú giải về học hàm, học vị, cấp bậc (các tác giả công tác hoặc từng công tác trong quân đội), chức vụ cao nhất, đơn vị công tác, chức vụ hiện nay, chức vụ lúc đăng tải bài viết.

Đề tài phản ánh về quá trình các thế hệ người Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một đề tài lớn, phong phú và có ý nghĩa lâu dài, nhiều mặt.

Dù đã có những cố gắng chỉnh sửa, cập nhật những thông tin tri thức liên quan đến vấn đề này, song cuốn sách này cũng sẽ không tránh khỏi những bất cập, khiếm khuyết. Ban biên tập rất mong nhận được sự đóng góp của đông đảo các nhà nghiên cứu và bạn đọc để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn.

VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:18:11 pm »

PHẦN THỨ NHẤT
QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ, XÁC LẬP, THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA


HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
TRONG TÂM THỨC VIỆT NAM*

(Tạp chí LSQS, số 6-1988)


ĐINH XUÂN LÂM**
GS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội


Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đã là một bộ phận cấu thành không tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Chân lý hiển nhiên đó đã được lịch sử cũng như công pháp quốc tế xác nhận. Bất cứ một âm mưu bành trướng nào, dù cho từ đâu tới, được dựng trên cơ sở xuyên tạc lịch sử và bóp méo sự thật tới đâu, đều là hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.


Sự gắn bó ruột thịt của Hoàng Sa - Trường Sa với Đất mẹ Việt Nam đâu chỉ có bằng lịch sử và pháp lý. Nó còn thể hiện sâu sắc trong đời sống tư tưởng và tình cảm của người dân nước Việt từ rất sớm, và ngày càng được củng cố, phát triển qua thời gian. Các tư liệu thành văn xưa về lịch sử và địa lý nước ta đều có ghi chép cụ thể các sự kiện về mối quan hệ mật thiết giữa hai quần đảo với đất liền, về tình hình khai thác tài nguyên thiên nhiên trên hai quần đảo, về công tác quản lý hai quần đảo của các triều đại trước kia. Đồng thời, văn học dân gian thắm đượm tình yêu quê hương, yêu lao động của các tỉnh "khúc ruột" miền Trung cũng khẳng định mạnh mẽ rằng từ rất xưa hai quần đảo đã đi vào đời sống văn hóa tinh thần, vào tập tục lễ nghi của cư dân ven biển nước ta.


Cảnh hàng năm những người lính được phái ra trấn thủ vùng hải đảo đã được phản ánh qua ca dao. Hai câu sau đây nói lên nỗi thương cảm sâu sắc của người vợ có chồng đi lính Hoàng Sa:

   Chiều chiều sóng dậy Biển Đông,
   Thương gái có chồng đi lính Hoàng Sa.


Với một ý thức trách nhiệm cao, đến phiên là những người dân ven biển miền Trung sẵn sàng ra đi, tất nhiên trong hoàn cảnh bấy giờ, ý thức trách nhiệm đó có phần được củng cố bằng lòng tin vào sự phù hộ của một sức mạnh siêu nhiên nào đó sau buổi lễ tiễn đưa do gia đình, bà con chòm xóm, hay chính quyền tổ chức:

   Cầu an, cầu phước, cầu vong,
   Trường Sa đi có, về không thấy về!
   Cho dù đi có về không,
   Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi!



Mặc dù mọi người đều biết rất rõ rằng cuộc sống "trấn thủ lưu đồn" ngoài vùng hải đảo giữa trùng khơi lộng gió, cách xa Đất mẹ thân thương, quanh năm vật lộn với phong ba bão táp, thường xuyên cảnh giác với quân thù ngày đêm rình rập, thật là muôn vàn gian khổ:

   Hoàng Sa một bãi cát vàng,
   Nước trong thấu đáy, hàng hàng lông chông
   ... Trường Sa lắm bãi nhiều cồn
   Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dậy mây.


   Ngày tiếp đêm là những cuộc tuần tra trên bộ, dưới nước, khắp vùng quần đảo mênh mông:
   Tuần bộ Trường Sa hùng binh,
   Tuần thành Trường Sa hùng binh,
   Tuần thuỷ Trường Sa hùng binh.


   Lại còn phải bảo đảm nhiều công việc lao động khác, như đánh cá, phơi lưới, giữ kho, canh trại...
   Bổ ngư Trường Sa hùng binh,
   Bảo võng Trường Sa hùng binh,
   Du hí Trường Sa hùng binh,
   Kỳ cổ Trường Sa hùng binh,
   Thủ khố Trường Sa hùng binh,
   Thủ tái Trường Sa hùng binh,
   Hoả đầu Trường Sa hùng binh
1 (Bổ ngư: đánh cá; Bảo võng: giữ lưới; Du hí: vui chơi, giải trí; Kỳ cổ: cầm cở, đánh trống; Thủ khố: giữ kho; Thủ tái: giữ đồn; Hoả đầu: nấu bếp).

   Khí thế của họ lúc xuống thuyền ra đảo tràn đầy phấn khởi và quyết tâm:
   Chủ tướng hành binh,
   Ba quân đều trẩy...
   Đứa trống, đứa kèn,
   Đứa cồng, đứa xập,
   Đứa cột con dao,
   Đứa lao con thuẫn,
   Đứa dẫn hành binh,
   Đứa phân ba ngả,
   Đứa đáp xuống thuyền,
   Tả cơ, hữu nghị,
   Tên pháo can qua,
   Mâu ma binh giáp,
   Thượng hạ trong thuyền,
   Đều thời trẩy hết.


   Niềm tin tưởng vững chắc vào sức mạnh và khả năng của chính mình, chính đó là vũ khí tinh thần nâng họ lên hoàn thành nhiệm vụ:
   Đẳng đội Trường Sa hùng binh1(Hùng binh là danh hiệu của Nhà nước tôn phong cho những thuỷ quân hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ở Trường Sa, do chiếu chỉ của vua Tự Đức ngày 12-12 năm Đinh Mão (1867))
   Thiên nhiên lực sĩ
   Vạn vạn tinh binh.


   Rõ ràng là Hoàng Sa - Trường Sa từ lâu luôn luôn đã là lãnh thổ của Việt Nam; Nhà nước Việt Nam đã là chủ hai quần đảo từ khi chưa có quốc gia nào đặt chân tới. Chỉ riêng việc hai quần đảo đi vào tình cảm, tâm thức của đồng bào các tỉnh miền Trung nói riêng, của nhân dân cả nước nói chung, đã là một cơ sở để khẳng định điều đó. Chính vì vậy, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam đối với Hoàng Sa - Trường Sa, nhân dân ta thực sự cũng đã đấu tranh cho sự trọn vẹn của những tình cảm chân chính của mình là lòng yêu quê hương, đất nước, yêu hoà bình và chính nghĩa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:20:28 pm »

BIỂN, ĐẢO TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM*

(Tạp chí LSQS, số 3-2009)


NGÔ VĂN MINH**
(PGS, TS, Học viện Chính trị Khu vực III)


1- Biển trong tâm thức văn hoá, phát triển kinh tế và giao thương với các nước trên thế giới.

Từ xa xưa trong lịch sử, nhân dân ta đã có sự gắn bó với biển, đảo trong công cuộc dựng nước và giữ nước của mình. Chúng ta thấy rất rõ cuộc sống biển khơi của tiền nhân qua những hình trang trí trên mặt và tang các trống đồng Đông Sơn và tâm thức biển qua câu chuyện Lạc Long Quân có nguồn gốc Rồng ở biển, Thục An Dương Vương được Thần Kim Quy rẽ nước trở về với "Mẹ Biển", hoặc chuyện người xưa xăm hình thuồng luồng trên cơ thể, cũng như những ngôi nhà hình thuyền và hình ảnh những trận hải chiến được mô tả trong các bản trường ca của đồng bào một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cho thấy nguồn gốc Mã Lai - Đa Đảo của tiền nhân các dân tộc này. Giới khảo cổ học phát hiện được ở các đảo có dấu tích con người sinh sống hàng ngàn năm trước Công nguyên. Ngành ngôn ngữ học cũng phát hiện được một điều lý thú về sự tương đồng ngôn ngữ giữa đồng bào một số dân tộc ở Tây Nguyên, với các dân tộc khác trên những quốc đảo ở Thái Bình Dương. Trước đây, ông Yngông Niekđam1 (Yngông Niekdam (1922-2001), là một trí thức, bác sĩ, Nhà giáo nhân dân, người dân tộc Ê Đê, từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội liên tục từ Khóa I đến Khóa IX, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đổng dân tộc của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (BBT chú thích)), Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã từng nói chuyện với một nhân viên hàng không Inđônêxia bằng tiếng Êđê của mình.


Vì sinh sống ven biển và các đảo nên cư dân Việt cổ sớm thông thạo nghề đi biển, đánh cá, đóng thuyền. Píetri là một thanh tra kiểm ngư người Pháp làm việc ở Đà Nẵng thời thuộc địa, trong một công trình khảo sát về các loại thuyền buồm chạy ven biển Việt Nam, có nhận xét rằng: "Nếu trên thế giới có một khu vực mà sự phong phú của nghề đi biển bằng thuyền buồm chứa đựng trong hàng nghìn nét khác nhau thì khu vực đó phải là khu vực ven Biển Đông Dương"2 (Píetri, Ba loại thuyền buồm ven Biển Đông Dương ít được biết đến, Tạp chí Xưa & Nay, số 134 (182), tháng 2-2008). Nếu để ý sẽ dễ nhận thấy, các loại thuyền đánh cá dọc ven biển nước ta thật là phong phú, đa dạng: từ thuyền thúng chài tròn trịa đến ghe câu to lớn của Quảng Bình, ghe bầu của xứ Quảng, thuyền lưới ở vịnh Hạ Long. Kỹ thuật đóng thuyền của dân tộc ta cũng đã một thời khiến cho các nước phải thán phục. Cho đến cuối thế kỷ XIX, trong con mắt của người Hoa, nhiều loại thuyền của Việt Nam thuộc loại "mạnh, nhanh, linh hoạt và hoàn hảo"1 (Li Tana, Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền ở Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tạp chí Xưa & Nay, số 131 (179), tháng 1-2003). Nền công nghiệp đóng thuyền ra đời. Nó vốn được hình thành từ thế kỷ XVII, XVIII và đã bắt đầu học tập kỹ thuật đóng thuyền của các nước phương Tây. Nhiều cơ sở đóng thuyền hình thành ở bờ Nam sông Đồng Nai và các làng dọc sông Cái Bè, sông Sài Gòn. Li Tana, tác giả của luận án tiến sĩ về Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII đã nhận xét rằng: "Có thể không phải là một suy đoán khi cho rằng thương nhân phương Tây đã chuyển giao công nghệ đóng thuyền của họ cho thợ đóng thuyền Trung Hoa và Việt Nam khi họ đặt hàng ở đó. Ít ai ngờ rằng nghề đóng thuyền tư nhân ở Đồng Nai giữa thế kỷ XVIII đã báo trước ngành công nghiệp đóng thuyền của Nguyễn Ánh, khi việc tiếp thu công nghệ đóng thuyền phương Tây trở nên rõ ràng trong cuộc chiến tranh của chúa Nguyễn với Tây Sơn"2 (Li Tana, Thuyền và kỹ thuật đóng thuyền ở Việt Nam cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tạp chí Xưa & Nay, số 131 (179), tháng 1-2003). Nghệ thuật điều khiển tàu thuyền bấy giờ của người Việt cũng thật độc đáo. Từ năm 1802, người Việt Nam đã mã hoá các lệnh cho người đứng lái để tránh va chạm với tàu khác, trong khi nước Pháp mãi tới ngày 4-11-1879 mới có nghị định hợp thức hoá điều đó. Đặc biệt, dưới thời Minh Mạng, nhận thấy những ưu điểm nổi bật của tàu máy hơi nước phương Tây, ông đã cho mua một chiếc với giá đắt để phỏng theo đó mà đóng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đốc công Hoàng Văn Lịch, Võ Huy Trinh, chỉ qua hai lần chạy thử trên sông Hương, chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên được chế tạo phỏng theo mẫu tàu hơi nước phương Tây (chỉ là tháo ra từng bộ phận để nghiên cứu chứ không có bản vẽ thiết kế) đã vận hành thành công vào năm 1839, sau chiếc tàu hơi nước hạ thuỷ đầu tiên trên thế giới chỉ 32 năm. Sau đó, hai chiếc tàu khác cũng được chế tạo và đều vận hành tốt.


Với lợi thế nằm ven Biển Đông nên giao thương giữa nước ta với các nước khác trên thế giới sớm được hình thành. Từ giữa thế kỷ II trước Công nguyên, cư dân sinh sống ven biển các quốc gia Phù Nam, Lâm Ấp, Văn Lang đã có giao lưu buôn bán với tàu thuyền các nước Trung Quốc, Ấn Độ. Đặc biệt, các nhà khảo cổ học còn phát hiện được chiếc huy hiệu in hình Antonio ở An Giang, chứng tỏ rằng, ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên, tiền nhân chúng ta đã xác lập được quan hệ buôn bán với cả thương nhân La Mã. Từ giữa thế kỷ VII trở đi, thuyền buôn các nước vùng Tây Á như Ả Rập, Ba Tư... trên đường qua lại buôn bán với Trung Quốc, đều ghé vào các cảng Thị Nại và Đại Chiêm của Champa để trao đổi mua bán. Đến thế kỷ IX, con đường tơ lụa hoặc con đường gốm sứ trên Biển Đông hình thành với điểm cực Tây là Roma, điểm cực Đông là Trung Hoa, đều đi ngang qua các thương cảng Côn Đảo, Cù Lao Chàm, Vân Đồn. Từ thế kỷ XVI trở đi, các thương cảng ở nước ta càng trở nên nhộn nhịp, nổi tiếng nhất là thương cảng Hội An ở Đàng Trong và Phố Hiến (Hưng Yên) ở Đàng Ngoài. Riêng với Đàng Trong, kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn giữ, các chúa Nguyễn đã rất tích cực trong việc mở cảng chiêu thương tại Hội An. Chỉ tính trong 6 năm, từ 1601-1606, Nguyễn Hoàng đã viết đến 8 bức thư kèm theo tặng phẩm gửi cho chính quyền Tokugawa Nhật Bản để thiết lập quan hệ buôn bán. Những năm về sau, ông trao cho quan trấn thủ Quảng Nam một cơ chế riêng, một quyền hành lớn làm tiền lệ cho các chúa Nguyễn kế vị về sau. Đó là, quan Trấn thủ được quyền giao thiệp trực tiếp với các thương nhân nước ngoài và kiểm soát ngoại thương. Trong thư gửi Toàn quyền Batavia vào năm 1637, chúa Nguyễn Phúc Lan nói rõ thiện ý của mình "thiết tha mong tất cả mọi nước đến buôn bán ở các bến cảng nước tôi". Để thắt chặt hơn tình giao hảo giữa hai nước trong giao thương, Nguyễn Hoàng đã nhận Hunamoto Yabeiji - một thương gia và cũng là phái viên đầu tiên của chính quyền Tokugawa - làm con nuôi. Kế theo, Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương nhân Nhật tên là Araki Sotaao. Thương nhân Nhật và Trung Quốc được chúa Nguyễn cho lập phố chợ riêng tại Hội An, được đặt người đứng đầu và sinh hoạt theo phong tục tập quán nước mình. Thương nhân Hà Lan và Bồ Đào Nha được cho lập thương điếm. Sang giữa thế kỷ XVII, các di thần nhà Minh bất hợp tác với nhà Thanh vượt biển xuống Đàng Trong lánh nạn, được chúa Nguyễn cho lập các Minh Hương xã cư trú vĩnh viễn tại Hội An. Một điểm đặc sắc trong thời gian này là các chúa cho tổ chức các mùa hội chợ theo định kỳ 4 tháng một phiên để đánh thuế thu lợi. Ở thế kỷ XVII, nhà sư Thích Đại Sán - người Trung Quốc đến Đàng Trong, đã viết lại trong sách Hải ngoại kỷ sự về sự hưng thịnh của Hội An "hai bên đường hàng phố liền nhau khít rịt". Đến thế kỷ XVIII, một lái buôn người Quảng Đông kể với Lê Quý Đôn rằng, tại Hội An hàng hoá nhiều đến mức, "dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được"1 (Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr.234). Hội An không chỉ là nơi tập kết hàng bán đi các nước, nơi lái buôn các nước đem hàng đến bán cho Đàng Trong và là cảng trung gian để các lái buôn đến trao đổi buôn bán với nhau, mà còn là nơi để Đàng Trong giao lưu văn hoá, tiếp thu khoa học kỹ thuật của các nước, nhất là các nước phương Tây qua đường biển.


Ở Đàng Ngoài, năm 1641, chúa Trịnh cũng cử sứ thần mang thư đến Batavia và Đài Loan mời gọi thương gia Hà Lan đến buôn bán. Để tạo điều kiện cho hoạt động mua bán của các thương nhân nước ngoài, triều đình Lê - Trịnh còn cho phép họ được lưu trú tại các khu vực nội địa như Phố Hiến, Thăng Long. Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các phố cảng như Sài Gòn, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Hải Phòng.


Nhìn lại quá trình phát triển ngoại thương từ thế kỷ XIII cho đến giữa thế kỷ XIX, có thể thấy rằng sự hưng thịnh của nó phụ thuộc rất nhiều vào chủ trương của triều đình. Việc nhà Lý cho lập trang Vân Đồn vào năm 1149 đánh dấu sự tham dự của Đại Việt vào hệ thống hải thương trong khu vực. Tuy nhiên, sự tồn tại và hưng thịnh của Vân Đồn chỉ trong hơn 2 thế kỷ. Do luật lệ ngoại thương có phần khắt khe ở thời Lê Sơ khiến cho nó không thể phát triển thành một đô thị thương mại và cuối cùng đi đến suy thoái hẳn vào cuối thế kỷ XV. Đến thời Trịnh - Nguyễn, nhất là với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, cái nhìn ra biển rõ hơn với những chính sách ngoại kiều, ngoại thương thoáng mở, nhưng tiếc rằng chỉ được một thời gian lại bị suy thoái mà nguyên nhân của nó có cả chủ quan lẫn khách quan. Trước hết, phải kể đến sức sản xuất hàng hoá nội địa không còn đáp ứng được cả số lượng và chất lượng theo yêu cầu ngày một cao của khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, ở Quảng Đông (Trung Quốc) đã có những thị trường mới có sức hấp dẫn các lái buôn phương Tây hơn. Thứ hai, tình hình chính trị trong nước và các nước phương Tây bấy giờ không ổn định. Ở trong nước nổ ra cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Ở châu Âu cũng nổ ra nhiều cuộc chiến tranh khiến cho việc ra nước ngoài buôn bán của các thương nhân gặp khó khăn. Thứ ba, ngoại thương trong nước luôn ở thế bị động chờ tàu thuyền nước ngoài đến mua bán chứ không có được những đội tàu đủ mạnh để đi xa. Vì vậy, khi lái buôn nước ngoài bỏ sang thị trường nước khác thì ngoại thương nước ta bị rơi ngay vào tình trạng đình đốn. Bước sang nửa đầu thế kỷ XIX, sự nhòm ngó của thực dân phương Tây khiến các vua đầu triều Nguyễn tỏ ra dè dặt, không dám mở cửa chiêu thương một cách thoáng mở như trước. Nhà Nguyễn đã khước từ các đề nghị lập phố buôn bán lâu dài ở Việt Nam của các nước Anh, Mỹ. Chính vì vậy, số lượng tàu thuyền các nước đến buôn bán tại nước ta thời gian này ngày một thưa thớt dần. Tàu thuyền của nước ta đi đến các nước buôn bán lại càng ít hơn. Không có tàu thuyền Việt Nam đi buôn bán ở các nước châu Âu.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:21:42 pm »

2- Biển, đảo trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ luôn là ý thức thường trực của các thế hệ tiền nhân. Điều đặc biệt là dưới thời phong kiến, cha ông ta đã biết lợi dụng thuỷ triều vào công tác phòng thủ đất nước và chống giặc ngoại xâm. Ba trận thuỷ chiến oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc đều liên quan mật thiết đến con nước thuỷ triều. Đó là chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán vào năm 938 - trận đánh diễn ra trong một thời gian cực ngắn - giữa hai con nước thuỷ triều và tại một phạm vi rất hẹp ngay tại cửa sông ven biển, mà ý nghĩa thắng lợi thật to lớn, khiến cho quân địch, phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa, tướng giặc là Thái tử Lưu Hoằng Thao cũng bỏ mạng. Cũng với chiến thắng này, thời kỳ mất nước kéo dài gần một nghìn năm kết thúc hoàn toàn, nước ta bước vào thời kỳ trung hưng.


Chiến thắng Bạch Đằng của quân và dân Đại Việt thời Trần, vào năm 1288, đánh thắng quân Nguyên làm cho "giang sơn ngàn thuở vững âu vàng". Trong Binh thư yếu lược, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có hẳn một chương Thuỷ chiến để khảo về nghệ thuật đánh giặc trên biển và nói về các loại thuyền chiến, lại có thêm thiên thuỷ chiến đưa ra kế "hiểm lạ" để đánh giặc trên sông biển. Hai lần chiến thắng quân Xiêm tại Rạch Gầm - Xoài Mút, lần thứ nhất vào năm 1785 của quân Tây Sơn và lần thứ hai vào năm 1833 của triều Nguyễn cũng đầy hiển hách.


Thời Lê Thánh Tông, nhà vua định ra quân lệnh về việc thuỷ chiến, cả thảy 31 điều, để rèn tập binh lính và đốc thúc họ phải thao diễn thuỷ binh thường xuyên. Từ thế kỷ XV trở đi, các triều đại phong kiến Việt Nam đầu tư xây dựng lực lượng thuỷ binh và những chiến thuyền lớn phòng ngừa mặt bể và chống lại các hành động cướp biển, gây hấn, vi phạm chủ quyền lãnh thổ của các nước. Đặc biệt, khi thuyền Hà Lan đến buôn bán ỷ có tàu to súng lớn, quẤn Đội thiện chiến, nổi tiếng là "chúa trùm mặt bể", đến bờ biển nước ta gây sự, bắt người đem đi, liền bị Thế tử Dũng Lễ hầu Nguyễn Phúc Nguyên cho thuyền chiến đánh tan tại cửa Eo (Thuận An - Huế) vào năm 1644, nhằm cảnh cáo hành động vi phạm chủ quyền của chúng.


Dưới thời Trịnh - Nguyễn, vấn đề chủ quyền biển, đảo rất được quan tâm. Chúa Trịnh đã cho người vẽ thuỷ trình và mô tả tất cả các hòn đảo trên Biển Đông. Chúa Nguyễn cho thành lập hai Đội Hoàng Sa để hằng năm ra đảo lấy hoá vật và khẳng định chủ quyền. Dưới thời các vua triều Nguyễn, công việc bảo vệ chủ quyền biển đảo càng được quan tâm và công việc cứu nạn các thuyền buôn nước ngoài trên vùng biển nước ta cũng được chú ý nhiều hơn. Ngay từ năm Gia Long thứ hai, nhà vua đã có chỉ truyền cho các đội thuyền, hằng năm bắt đầu từ tháng 3 cho đến tháng 7, phái các thuyền đi kiểm soát các đảo, không để cho thuyền giặc ngầm đậu, "Nếu bắt được bọn giặc để kết án, thì ắt có thưởng hậu. Nếu tuần bắt bất lực thì ắt trị tội nặng không tha"1 (Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 9, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.682). Các thuyền vận tải lớn đều có thuyền binh đi theo do thám và hộ tống, lại vũ trang khí giới cho ngư dân vừa đi đánh cá vừa do thám tình hình biển, đảo. Triều đình cho lập các đồn ải, tấn sở ở những nơi hiểm yếu để phòng bị và giao trách nhiệm cụ thể cho các quan trấn thủ, tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, lãnh binh phải chịu trách nhiệm an ninh biển, đảo thuộc địa hạt mình cai quản.


Thời các chúa Nguyễn, lường trước những bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, những người trong Đội Hoàng Sa tự lo trước hậu sự cho mình bằng cách mỗi người chuẩn bị sẵn một đôi chiếu, 7 dây mây và 7 cái đòn tre để nếu gặp chuyện chẳng lành trên biển thì đồng đội lấy chiếu quấn xác, dùng đòn tre nẹp thi thể, lấy dây mây buộc lại và kẹp theo một tấm thẻ tre ghi tên tuổi, quê quán và phiên hiệu của người xấu số, rồi bỏ xuống biển với một niềm hy vọng mong manh là nếu xác trôi vào bờ sẽ có người vớt lên chôn cất. Với những người thân ở quê nhà, khi nghe tin dữ sẽ nặn đất sét thành hình nhân bỏ vào quan tài làm lễ truy điệu, sau đó mai táng đúng như thủ tục đối với người chết để linh hồn người tử nạn quay về còn có nơi yên nghỉ. Mặc dù, đầy hiểm nguy như vậy nhưng những người ra đi luôn thường trực ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Khi trong nước xảy ra nội chiến giữa các thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn và nhà Tây Sơn, việc quản lý Hoàng Sa bị bỏ dở, lo sợ ngoại bang thừa cơ xâm phạm hải đảo nên những người dân ở Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi) tự đứng ra lập lại hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Trong lá đơn viết vào năm 1776 gửi lên chính quyền Tây Sơn, Cai Hợp của phường nói rõ mục đích lập đội thuyền là, nếu xảy ra chinh chiến sẽ "vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm", còn lúc bình sẽ "tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp".


Các nguồn tài liệu của triều Nguyễn như Châu bản, Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí đều cho thấy, nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời các vua triều Nguyễn luôn khẳng định chủ quyền quốc gia đối với các biển, đảo của mình, đặc biệt với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không chỉ khẳng định trong các bộ sử lớn mà triều Nguyễn còn có sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, kỹ lưỡng đối với mọi kế hoạch hoạt động, như việc chỉ dụ về tuần phòng biển, đảo hằng năm, có lệ thưởng phạt đối với những người đi làm nhiệm vụ, việc đo đạc cắm lại mốc giới một cách khoa học hơn; lại còn lập miếu, dựng bia, trồng cây để đảm bảo cho việc lưu trú và nhu cầu tín ngưỡng của những người thực thi nhiệm vụ. Những người đi làm nhiệm vụ này được triều đình vinh danh là "Hùng binh Trường Sa, Hoàng Sa". Với đồng bào của mình, họ được xem là những nghĩa sĩ, khi hy sinh nơi hải đảo sẽ được suy tôn "Âm linh chiến sĩ tôn thần", và có những hình thức tưởng niệm trọng thể.


Như thế, về mặt khai thác tiềm năng biển, dưới thời phong kiến, do chính sách chung của các triều đại vẫn là "trọng nông ức thương", nếu có mở cảng chiêu thương cũng chỉ ở một hai nơi, lại bị động một chiều ngồi chờ thuyền buôn các nước đến, không có được những đội tàu lớn vươn ra ngoài đại dương đánh bắt thuỷ sản và đi buôn bán xa, nên nhìn chung vẫn chưa thật sự khai thác biển như là một lợi thế để làm giàu cho đất nước. Nhưng về mặt phòng ngừa, xác lập và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, triều đình cũng như trong nhân dân đều luôn thường trực ý thức trách nhiệm về vấn đề này, đều xác định biển, đảo là nơi "tối thị hiểm yếu" của quốc gia. Đấy là những cứ liệu lịch sử quý báu để chúng ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về chiến lược biển, đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh, giàu lên từ biển, đấu tranh bảo vệ và đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia về biển, đảo.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #5 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:24:54 pm »

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA,
BỘ PHẬN LÃNH THỔ THIÊNG LIÊNG CỦA VIỆT NAM
QUA CÁC BẰNG CỨ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ*

(Tạp chí LSQS, số 6-1988)


TRẦN CÔNG TRỤC**
(TS, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ)


Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ lâu luôn luôn là lãnh thổ Việt Nam, vì Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo đó khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và đã liên tục thực hiện thật sự chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó.


Cơ sở pháp lý vững chắc này đã được chứng minh bởi các bằng cứ lịch sử Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa suốt trong mấy thế kỷ.


I. Thời kỳ các nhà nước phong kiến Việt Nam trước năm 1884.

Chỉ căn cứ vào các sử sách, văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVII, cũng đã thấy Nhà nước phong kiến Việt Nam là người đầu tiên trong lịch sử đã tổ chức chiếm hữu thực sự và liên tục thực hiện thực sự chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa1 (Hoàng Sa hay Cát Vàng hay Vạn lý Trường Sa, Đại Trường Sa là tên dùng để gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào thời kỳ lịch sử này. Các tài liệu phương Tây vào thời kỳ này cũng dùng tên Pracel, Parcel hay Paracels để gọi chung cả hai quần đảo này). Tính thật sự của hành động thực hiện chủ quyền Việt Nam trong thời kỳ này được thể hiện ở những bằng cứ có ý nghĩa pháp lý sau đây:


1- Về tổ chức hành chính, Hoàng Sa trong thời kỳ này đã được phiên thuộc vào tỉnh Quảng Nam.

Trong Toàn tập Thiên Nam chí tứ lộ đồ thư của Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, dựa trên cơ sở của các tư liệu thu thập được vào thời kỳ vua Lê Thánh Tông tiến hành các hoạt động mở mang bờ cõi về phía Nam, có ghi rõ trong đoạn chú giải bản đồ vùng phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: "giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng (tức Hoàng Sa)2 (Trang 94-95, Microfilm bản đồ phủ Quảng Nghĩa và phủ Thăng Hoa trong tác phẩm Hồng Đức bản đồ lưu giữ tại Tokyo Bunko ở Tokyo (Nhật Bản) số 100.891. Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn xuất bản năm 1962 thêm phân phiên âm ra tiếng Việt Nam và chú giải, tr. 68-137).


- Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, đã chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi: "xã An Vĩnh huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài biển có núi, gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa...1 (Phủ biên tạp lục, tập II, Bản dịch tiếng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. 1977, tr. 116, 119, 120).


- Các bộ sử của triều đình nhà Nguyễn trong thời kỳ từ năm 1802-1884 cũng đã ghi rõ mối quan hệ địa lý, hành chính này. Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882, đoạn nói về lãnh thổ tỉnh Quảng Nghĩa, cũng viết: "phía Đông có đảo cát (đảo Hoàng Sa), liền với biển làm hào..."2 (Đại Nam nhất thống chí quyển VI, Bản dịch tiếng Việt Nam, Nxb Lịch sử, H. 1970, tr. 354, 370).
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:26:57 pm »

2- Tổ chức các Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải (cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản) đi khai thác, quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Với tư cách là người chủ thực sự hai quần đảo này, các chúa Nguyễn và sau đó là các vua Nguyễn đã tổ chức ra Đội Hoàng Sa và thường xuyên lệnh cho các quan, quân từng năm đi ra Hoàng Sa để quản lý, khai thác, điều tra, khảo sát địa hình, địa vật, dựng miếu, trồng cây, cắm mốc...

- Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, thế kỷ XVII ghi rõ: "Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn". 

- Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép rằng: "Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa, 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ 3 tháng nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng...".

"... Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, Cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hoá vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai Đội Hoàng Sa kiêm quản"...


Trong các bộ sử của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục tiền biên và Đại Nam thực lục chính biên (soạn xong vào năm 1844 và 1848) cũng ghi chép rõ những nội dung nói trên:

... "Hồi đầu dựng nước, đặt Đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đầu tháng 3 đi thuyền ra đảo... Lại có Đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật; Đội này cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản"1 (Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch tiếng Việt, tập I, Nxb Lịch sử, H. 1962, tr. 22).


Kế tiếp các chúa Nguyễn là nhà Tây Sơn, mặc dù phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và quân Xiêm, vẫn luôn luôn quan tâm duy trì hoạt động của các Đội Hoàng Sa. Trong một tờ sai của quan thượng tướng công năm 1786 có ghi rõ... "Sai cai Đội Hoàng Sa Hội Đức hầu dẫn 4 chiếc thuyền vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu liên, đồi mồi, hải ba cùng của quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ"...


Hoạt động thường xuyên và có hiệu quả của Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải trong thời kỳ này cũng đã làm cho những tên thực dân phương Tây khi lăm le đến vùng biển của ta phải kinh ngạc và dè chừng. Trong báo cáo viết vào khoảng năm 1758, 1759 và bản bút ký viết năm 1768, đô đốc Pháp D'Estaing, người Pháp đầu tiên nghiên cứu một kế hoạch đột kích vào bờ biển miền Trung Việt Nam đã thú nhận: "Việc đi lại giữa quần đảo đó Paracels (tức Hoàng Sa) và đất liền còn khó khăn hơn việc đi lại ngoài biển khơi", thế mà "các thuyền nhỏ của xứ này vẫn thường qua lại vùng quần đảo". D'Estaing còn cho biết đã trông thấy ở Huế có đến 400 khẩu đại bác, phần lớn là của Bồ Đào Nha mà người Việt Nam thu lượm được ở Paracels1 (Tập san của Hội nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes indochinoises) tập 17, số 1, quý I năm 1942, tr.86, 43). Và một người Pháp khác, Pierre Poivre, cũng cho biết rằng hai lần ông ta đến Huế năm 1749 và 1750, đã thấy có đến 1.200 khẩu đại bác của Bồ Đào Nha và Hà Lan, được lấy ở trên các xác tàu đắm ở Hoàng Sa2 (Tập san của Hội nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la Société des Etudes indochinoises) tập 17, số 1, quý I năm 1942, tr.86, 43).


Từ năm 1802 đến năm 1886, các vua Nguyễn tiếp tục duy trì hoạt động của Đội Hoàng Sa, đồng thời liên tục cử quan quân, phái binh thuyền đi Hoàng Sa để tuần tra, nghiên cứu đường biển, đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ, trồng cây làm dấu cho người đi biển, dựng miếu, lập bia...


Trong Đại Nam thực lục chính biên và Đại Nam thực lục tiền biên đã chép rõ một loạt các sự kiện:

- Năm 1815, tháng Giêng năm Ất Hợi, vua Gia Long sai cai Đội Hoàng Sa là Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa để thăm dò đường biển.

- Năm 1816, vua Gia Long lệnh cho thuỷ quân cùng Đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển.

- Liên tục trong những năm 1833, 1834, 1835, 1836, vua Minh Mệnh lệnh cho Bộ Công cử người ra Hoàng Sa để dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối. Các vị tướng lĩnh như đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ, cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên, suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đã từng đưa binh thuyền ra Hoàng Sa để thực hiện lệnh vua ban:

"... Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, hình dị thế nào, phải tưng tận đo đạc vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi tính ước được bao nhiêu dặm... Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình1 (Đại Nam thực lục chính biên, quyển 165, kỳ thứ 2).


Những bài gỗ do Phạm Hữu Nhật mang ra Hoàng Sa để cắm trên các đảo ghi rõ:

"Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), Thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ"1 (Đại Nam thực lục chính biên, quyển 165, tờ 24b-25b. Quốc triều chính biên toát yếu, quyển 3, td 104a).


Các vua triều Nguyễn đã quy định lịch hoạt động của Đội Hoàng Sa hết sức chặt chẽ. Nếu năm nào không có điều kiện đi ra Hoàng Sa thì Bộ Công phải tâu trình xin nhà vua cho phép hoãn. Tờ tâu của thượng thư Bộ Công lên vua Thiệu Trị năm 1847 ghi rằng: "Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét để thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau". Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình"2 (Châu phê triều Nguyễn (Hồ sơ lưu trữ của triều đình Huế)).


Nhiều tác giả phương Tây như: Jean Louis Taberd, J.B Chaigneau, M.A- Dubois de Jancigny, E. Cortambert, và Léon de Rosny, P.A. Lapicque, Raoul Serene, Henri Cucherousset, Alexis Elie Lacombe... đã đăng nhiều bài viết nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên các báo, tạp chí từ những năm 20 của thế kỷ này (thế kỷ XX) đề cập đến các sự kiện nói trên và đều khẳng định rằng các vua chúa nước Việt Nam (mà lúc đó gọi là nước Cochinchine hay Annam) đã thực hiện chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này3 (Xem: Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (tiếng Pháp, tiếng Anh) Le Courrierdu Vietnam, H, 1984, tr.120-130).


Cũng trong các hồ sơ, tài liệu nói trên còn có những sự kiện chứng tở các chính quyền phong kiến Trung Quốc chẳng những không lên tiếng tranh chấp mà còn thừa nhận sự có mặt chính đáng của Nhà nước Việt Nam tại hai quần đảo này:

- Năm 1754, có hai lính Đội Hoàng Sa bị bão trôi giạt vào đảo Hải Nam và được các viên chức đảo Hải Nam xác minh đúng là người của Đội Hoàng Sa của Việt Nam hoạt động tại Hoàng Sa, nên cho trở về quê quán và chúa Nguyễn đã lệnh cho quan cai Thuận Hoá viết thư cảm ơn theo đúng thể thức ngoại giao. Trong công văn của chính viên đường quan huyện Văn Xương thuộc Quỳnh Châu (Trung Quốc) gửi cho xứ Thuận Hoá viết rằng:

"Năm thứ 18 (1754) niên hiệu Càn Long, 10 quân nhân ở xã An Bình thuộc đội kiếm vàng của huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Nghĩa, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra "Vạn Lý Trường Sa" lượm nhặt các hải vật; tám tên trong bọn ấy lên bờ biển tìm lượm các hải vật, còn hai tên ở lại coi giữ thuyền. Vì một trận cuồng phong nổi mạnh làm đứt neo thuyền, nên hai tên ấy bị trôi giạt vào cảng Thanh Lan. Viên quan địa phương tra xét đích thực, nên cho áp chở hai tên này trở về quê quán"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục).


- Năm 1795-1796, chiếc tàu Bellona của Đức và Imegi Maru của Nhật chở đồng cho Anh bị đắm ở Hoàng Sa. Dân đảo Hải Nam ra lấy cắp đồng ở trên hai chiếc tàu này. Anh đã phản đối, Phó vương tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) trả lời rằng: quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc, nên Trung Quốc không có trách nhiệm gì ở đây1 (Thư số 704A.EX ngày 20-3-1930 của Toàn quyển Đông Dương Pierre Pasquier gửi Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp đàng trong Eveil économique de Indochine, số 741, 12-6-1932).


Rõ ràng là trong giai đoạn lịch sử này. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu và liên tục thực hiện thực sự chủ quyền của mình ở hai quần đảo này mà không gặp phải bất kỳ một sự phản đối của bất cứ quốc gia nào. Điều đó có nghĩa là Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi chúng chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #7 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:47:07 pm »

II. Thời kỳ từ năm 1884 đến năm 1950

Trong khoảng gần 70 năm, với tư cách là người đại diện cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại theo tinh thần Hiệp ước ngày 6-6-1884, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã tiếp tục cai quản và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa2 (Tên quần đảo "Hoàng Sa" và quần đảo "Trường Sa" xuất hiện khoảng nàm 1838 trong bản đồ "Đại Nam nhất thống toàn đồ") với những nội dung:

1. Tổ chức khảo sát, nghiên cứu, khai thác, tuần tra, xây đèn biển, đài khí tượng, đài vô tuyến điện... ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Đưa quân ra quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đồn trú và chính thức công bố việc chiếm đóng này.

3. Thiết lập các đơn vị hành chính và sáp nhập chúng vào các tỉnh ở đất liền.


Sau đây là những sự kiện chủ yếu:

Năm 1899: Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị xây dựng một cây đèn biển ở quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1925: Một phái đoàn khảo sát do Giám đốc Viện nghiên cứu Biển Đông Dương, Krempf, dẫn đầu ra khảo sát quần đảo Hoàng Sa trên chiếc tàu De Lanessan. Đoàn này gồm có các kỹ sư của sở hầm mở Đông Dương, các kỹ sư của sở thuỷ văn hải quân Pháp và một đại diện của sở kiểm lâm Đông Dương.


Năm 1930: Ngày 14-4, thông báo hạm La Malicieuse do thuyền trưởng De Lattre điều khiển ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương để dựng bia chủ quyền1 (Điện số 689 ngày 18-4-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp tại Paris).


Năm 1933:

- Trong một thông báo của Hải quân Pháp, một biên đội gồm 3 tàu: Alerte, Astrolabe và De Lanessan, đã tiến hành chiếm hữu các đảo của quần đảo Trường Sa.

- Ngày 26-7-1933, Công báo của Cộng hoà Pháp, đăng thông báo của Chính phủ Pháp về việc Hải quân Pháp đã chiếm hữu các đảo Trường Sa, An Bang, Ba Bình, Song Tử Đông và Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, cũng như các đảo nhỏ phụ thuộc của các đảo này.

- Ngày 21-2, thống đốc Nam Kỳ Krautheimer ký Nghị định số 4762-CP sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tĩnh Bà Rịa.


Năm 1937: chính quyền Pháp phái Chánh kỹ sư trưởng công chính ở Hải Phòng tên là Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa để nghiên cứu địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thuỷ phi cơ và nghiên cứu các điều kiện định cư ở quần đảo này.


Năm 1938:

- Ngày 30-3, vua Bảo Đại ra Dụ số 10, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên1 (Nam triều quốc ngữ công báo số 8-1938).

- Ngày 15-6, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ra Nghị định số 156-S-V thành lập một đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.

- Dựng bia chủ quyền ở đảo Hoàng Sa thuộc quần đảo Hoàng Sa, cột mốc ghi: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc Annam, quần đảo Hoàng Sa, 1816, đảo Hoàng Sa -1938".

- Xây xong đèn biển, trạm khí tượng, trạm vô tuyến điện ở Hoàng Sa (quần đảo Hoàng Sa).

- Một đơn vị cảnh sát biển Việt Nam được phái ra Hoàng Sa để lập đội quân đồn trú.


Năm 1939:

- Ngày 5-5, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định số 3282 chia Đại lý hành chính Hoàng Sa thành hai Đại lý hành chính, gọi là Đại lý An Vĩnh (Délégation administrative de Croissant).


Năm 1946:

- Tháng 5, Pháp đưa tàu Savorgnan de Brazza ra giành lại quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1947:

- Pháp phái tàu chiến Le Tonkinois ra thám sát quần đảo Hoàng Sa, cho 10 lính Pháp và 17 lính người Việt Nam đóng ở đảo Hoàng Sa.


Trong thời kỳ này, chính quyền Pháp tại Đông Dương ngoài các hoạt động bình thường thực hiện chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn kịp thời lên tiếng công khai chính thức phản đối một số hành vi vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này do Trung Hoa dân quốc và Nhật Bản gây ra:

- Tháng 4-1939, Chính phủ Pháp gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Nhật Bản phản đối việc Chính phủ Nhật Bản tuyên bố đặt quần đảo Trường Sa dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản. Cũng xoay quanh sự kiện này, Thứ trưởng Ngoại giao Anh M.R. Butler đã trả lời chất vấn ở Hạ nghị viện Anh và khẳng định rằng: "Đảo Trường Sa ở phía Tây, một quần đảo rộng lớn mà Pháp đang thực hiện chủ quyền hoàn toàn theo một sắc lệnh năm 1933... Việc phản đối trước hết thuộc thẩm quyền của Pháp1 (Charles Rousseau: "Trung Quốc, Pháp, Nhật, Philippin và Việt Nam, tranh chấp liên quan đến vấn đề sở hữu của quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa". Rewe Général du Droit international pullic, Paris, số 3).

- Năm 1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối việc Trung Hoa dân quốc lợi dụng việc giải giáp quân Nhật, đã đưa tàu chiến ra chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào năm 19461 (Lãng Hồ, Hoàng Sa và Trường Sa - Lãnh thổ Việt Nam trong Tập san Sử địa Sài Gòn, số 29, tháng 1-3-1975).

Những sự kiện này là hành vi pháp lý quan trọng, có giá trị nói lên ý chí của một nhà nước có chủ quyền đối với vùng lãnh thổ có sự tranh chấp của các nước khác.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #8 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:48:57 pm »

III. Thời kỳ từ năm 1950 đến năm 1976

Đây là thời kỳ Chính phủ Bảo Đại và kế tiếp là các chính quyền Sài Gòn bảo vệ chủ quyền và quản lý thực tế hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1950:

- Ngày 14-10, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho Chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo ra đảo Hoàng Sa để chủ trì việc bàn giao này.


- Năm 1951: ngày 7-9, Thủ tướng kiêm Ngoại giao trưởng của chính quyền Bảo Đại Trần Văn Hữu, long trọng tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không có đại biểu nào trong số đại biểu của 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco lên tiếng bác bỏ tuyên bố này.


Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ngày 28-4-1956, quân đội viễn chinh Pháp rời khỏi miền Nam Việt Nam, Bộ tổng chỉ huy các lực lượng liên hiệp Pháp giải tán, quân đội Sài Gòn tiếp quản quần đảo Hoàng Sa. Tại đảo Hoàng Sa có khoảng 40 người thuộc quân lực "Việt Nam Cộng hòa" trú đóng.


Năm 1960: ngày 24-12, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 241-BNV-NV/3 cử ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng nhất giữ chức vụ phái viên hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1961: ngày 27-6, chính quyền Sài Gòn ký quyết định số 631-TTP-CV cử ông Hoàng Yên, cán bộ hành chính, giữ chức vụ phái viên hành chính ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 13-7 ký sắc lệnh 174/NV sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã gọi là xã Định Hải, thuộc quận Hoà Vang.


Năm 1966:

- Ngày 24-1, ra Nghị định 134/ND/NV cử ông Hoàng Văn Thao, giữ chức phái viên hành chính ở đảo Hoàng Sa và ông Nguyễn Văn Thuấn, giữ chức đảo trưởng đảo Quang Hoà, kiêm phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Ngày 20-8, ra Nghị định 1513/ND/DUHC cử ông Phạm Cầu giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Ngày 24-10, ra Nghị định 1939 ND/DUHC cử ông Phan Huề giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).


Năm 1967:

- Ngày 11-4, ra Nghị định số 809-ND/DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa).

- Từ ngày 18 đến 22-5, vùng III Duyên Hải của Hải quân Sài Gòn diễn tập hành quân ra quần đảo Trường Sa.


Năm 1969: Ngày 21-10, ký sắc lệnh 709/BNV- HCĐP/26 sáp nhập xã Định Hải, quận Hoà Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hoà Long, quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.


Năm 1973: Ngày 6-9, Nghị định số 420-BNV/26 của Tổng trưởng nội vụ sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.


Năm 1974:

- Ngày 16-1, Bộ trưởng Ngoại giao chính quyền Sài Gòn Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Trung Quốc huy động tàu chiến xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ánh, Quang Hoà, Duy Mộng và đã đổ bộ lên các đảo này.

- Ngày 1-2, lực lượng quân đội Sài Gòn được tăng cường để bảo vệ quần đảo Trường Sa.

- Ngày 5-2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố bác bỏ Tuyên bố ngày 4-2 của Bắc Kinh vu cáo quẤn Đội Sài Gòn "ngang nhiên cho tàu chiến xâm chiếm đảo Nam Uy (tức đảo Trường Sa)...".


Trong thời kỳ này, chính quyền Sài Gòn có trách nhiệm quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ đã có nhiều hoạt động thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo này. Tuy nhiên, do phải tập trung đối phó với phong trào cách mạng ở đất liền và lại bị Mỹ bỏ rơi, chính quyền Sài Gòn đã không giữ nổi quần đảo Hoàng Sa trước hành động xâm lược của Bắc Kinh. Quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay Bắc Kinh đầu năm 1974.


Vào thời điểm xảy ra sự kiện Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa và trong chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975, có hai sự kiện đáng chú ý:

1. Tuyên bố lập trường ba điểm của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam về sự kiện Hoàng Sa năm 1974:

- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

- Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.

- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

2. Từ ngày 14-4-1975 đến 29-4-1975, Hải quân nhân dân Việt Nam đã vượt biển, lần lượt giải phóng các đảo: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, An Bang và Trường Sa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #9 vào lúc: 18 Tháng Tám, 2026, 08:50:35 pm »

IV. Thời kỳ từ năm 1976 đến nay

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp tục quản lý, bảo vệ cả về mặt tinh thần (animus) lẫn thực chất (corpus) chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế:

- Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã liên tục phản đối bất cứ hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của bất kỳ nước nào đối với hai quần đảo, thường xuyên thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã bị Bắc Kinh xâm lược và đối với một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa bị quân đội của một số nước khác chiếm đóng, bày tỏ thiện chí giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình.


- Nâng đơn vị hành chính quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lên cấp huyện: huyện Hoàng Sa thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng (Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 9-12-1982) và huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng ngày 9-12-1982 và Nghị quyết của Quốc hội khoá 7, phiên họp thứ 4 năm 1982).


- Đẩy mạnh các hoạt động khai thác, thăm dò, thực hiện chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa1 (Các sự kiện từ năm 1975 đến nay xin xem: Les archipels Hoang Sa et Truong Sa (Le Courrier du Viet Nam) 1984, tr. 143-158).


Các sự kiện, văn kiện, bằng cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo qua bao thế kỷ đến nay còn rất nhiều. Nhưng chỉ với một số dẫn chứng nói trên, chúng ta đã có cơ sở vững chắc để khẳng định dứt khoát chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, vì các cứ liệu được nêu có thể giúp ta trả lời rõ ràng được câu hỏi mà pháp luật quốc tế yêu cầu là: Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo này từ bao giờ và đã thực hiện chủ quyền như thế nào đối với hai quần đảo này?


Điều khẳng định này:

1. Nhà nước phong kiến Việt Nam trước đây là người đầu tiên trong lịch sử đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đã thực hiện quyền cai trị và khai thác hai quần đảo đó với tư cách Nhà nước. Trước đó, hai quần đảo này chưa hề thuộc bất cứ một nước nào, không một quốc gia nào đương thời phản đối việc làm chủ của Việt Nam và cũng chưa bao giờ xảy ra việc tranh chấp đối với chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo suốt trong những thế kỷ trước thế kỷ XX.


2. Quyền làm chủ và cai trị của các chính quyền kế tiếp nhau trong nhiều thế kỷ đối với hai quần đảo ấy là thực sự, rõ ràng, có hiệu quả và phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. Ngay từ đầu, các quần đảo nói trên đã được tổ chức thành những đơn vị hành chính của Nhà nước Việt Nam. Qua từng thời kỳ bộ máy chính trị ở các quần đảo đã được quy định cụ thể, được nghiên cứu, thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế.


3. Việc thực hiện chủ quyền trên các quần đảo này qua từng triều đại đã được Nhà nước tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau. Những công việc thăm dò, đo đạc, vẽ bản đồ, dựng bia, xây miếu, trồng cây, xây đèn biển, đài khí tượng... đã được tiến hành từ lâu đời và ngày càng được đẩy mạnh. Việc phái các đơn vị đồn trú, đóng giữ và kiểm soát, tuần tra cũng được đặt ra ngay từ đầu và được các chính quyền kế tiếp nhau đảm nhiệm.


4. Nhà nước Việt Nam qua các thời đại luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa làm chủ của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm lược, xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


5. Chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo đã được nhiều nhà hàng hải, nhà địa lý và nhiều giáo sĩ phương Tây xác nhận từ nhiều thế kỷ trước. Nhiều luật gia quốc tế nổi tiếng cũng đã đánh giá và thừa nhận các chứng cứ của Việt Nam là có sức thuyết phục và có giá trị pháp lý để chứng minh chủ quyền của mình đối với hai quần đảo. Bởi vì các chứng cứ đó đáp ứng được nguyên tắc pháp lý về sự "chiếm hữu thực sự" (occupation effectivité) hay nguyên tắc "thực sự" (effectivité) mà Công pháp quốc tế đề ra để giải quyết các tranh chấp về quyền thụ đắc lãnh thổ.


Charles Rousseau, giáo sư trường Đại học Luật Paris và là ủy viên Viện Luật quốc tế, đã nhận xét tổng quát về các luận cứ của các bên có tranh chấp chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước hết là của Việt Nam và Trung Quốc như sau: "Trên thực tế, các mối quan hệ lịch sử lâu đời và vị trí địa lý gần gũi là hai danh nghĩa quan trọng mà Việt Nam có thể nêu ra và họ đã làm điều đó... Đương nhiên là Trung Quốc cũng có thể sử dụng luận cứ này, ít nhất là đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng một danh nghĩa như vậy chỉ có giá trị nếu nó dựa vào việc chiếm hữu thực sự, cụ thể mà nước Việt Nam là nước duy nhất có thể thực hiện được ở đây hoặc là có khả năng vận dụng hơn tất cả các bên khác1 (Tạp chí Công pháp quốc tế, Paris, số 3-1972, tr. 1-7).
Logged
Trang: 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM