Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:12:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam  (Đọc 12273 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #10 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:14:21 pm »

CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ
*

(Tạp chí Lịch sử quân sự, các số 4 và 5-2008)

NGUYỄN NHÃ**
(TS, Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh)


1- Việt Nam là nước khẳng định chủ quyền sớm nhất (và đầu tiên) tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước đây, trong một thời gian dài, người Việt và người Phương Tây đều nghĩ rằng giữa Biển Đông chỉ có một quần đảo dài, mang một tên chung, rất nhất quán. Người Việt gọi là Bãi Cát Vàng hay cồn Vàng hoặc Hoàng Sa. Cũng có khi gọi là Đại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa.


Mãi đến năm 1787-1788, khi đoàn khảo sát Kergariou Locmaria xác định rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Paracel như hiện nay, người Phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở phía Bắc với quần đảo ở phía Nam mà sau này đến thập niên 40 trong thế kỷ XX người Pháp mới gọi là Spratly chỉ chung cho quần đảo Trường Sa.


Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa hiện nay tính đến đảo gần nhất vào khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất 500 hải lý.

Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua, triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ ở Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam. Cũng xin nói rõ thêm là trong suốt thời kỳ phong kiến quân chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam (trong đó có triều nhà Nguyễn) luôn thần phục các triều đại Trung Quốc, nên không bao giờ xảy ra chuyện các triều đại Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình trên bất cứ phần đất nào của Trung Quốc, nhất là suốt một thời gian dài như thế. Xin lưu ý, Hoàng Sa tiếng Nôm là Cát Vàng hay cồn Vàng đã được xác định toạ độ như hiện nay trong An Nam đại quốc hoạ đồ của Giám mục Taberd in năm 1838, phụ bản của cuốn Từ điển Latin - An Nam.


Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều đình phong kiến Việt Nam như Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản Triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí đã ghi rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam. Tháng 8 mùa Thu năm Quý Tỵ, Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng dụ Bộ Công rằng: "Dải Hoàng Sa trong vùng biển Quảng Ngãi..." (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 104). Năm Bính Thân, Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh), Bộ Công tâu lên vua: "Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), phúc tấu của Bộ Công cũng khẳng định: "Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà..." (tập Châu bản Thiệu Trị, tập 51, tr. 235). Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng đã chép một cách rõ ràng: "Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi) chạy ngang đến đảo cát: đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh...".
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #11 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:16:00 pm »

2- Việc quản hạt hành chính của các chính quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước năm 1909 đã được ghi trong sách sử, địa chí của Việt Nam.

Trong suốt thời các chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn được quản lý hành chính bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa (hay Ngãi) lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép: "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam), huyện Binh Sơn, xã An Vĩnh". Địa dư chí của Phan Huy Chú chép: "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn, từ năm 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.


Năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng Nghĩa (Ngãi). Tại phủ này, ngoài viên Tuần phủ và viên Khánh lý còn có một viên Chính hộ lý, một viên Đề lãnh một viên Ký lục, một viên Cai phủ và một viên Thư ký. Sau đó, Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Hai xã An Vĩnh và An Hải ở phía Bắc cửa biển Sa Kỳ đều cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng (xã) An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông1 (Nguyễn Thông (1827-1884), quê ở làng Bình Thạnh, huyện Tân Thạnh, tỉnh Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An). Đậu Cử nhân rồi ra làm quan. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định năm 1859, ông từ quan và tòng quân đánh giặc. Nam Kỳ bị Pháp chiếm, ông dời ra Bình Thuận, rồi Khánh Hoà, Quảng Ngãi, ra sức bồi dưỡng sức dân, phát triển sản xuất, chuẩn bị kháng chiến. Khi giặc tới, triều đình Tự Đức lo sợ đình chỉ các việc ông làm) gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho Đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Ảnh được cử làm Đội trưởng Đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré (nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh huyện đảo Lý Sơn). Nhiều tài liệu như Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nghĩa (Ngãi). Tỉnh Quảng Nghĩa - đơn vị hành chính luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa, để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của triều Nguyễn sau này.


3- Đội Hoàng Sa, đội dân binh khai thác, quản lý Trường Sa và Hoàng Sa từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX.

Trước năm 1909, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đồng Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng cho việc họ quan tâm xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong ba thế kỷ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, một tổ chức dân binh Việt Nam là Đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đội này vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa.


Về thời gian bắt đầu ra đời của Đội Hoàng Sa, sử sách Việt Nam và của cả Trung Quốc đều chép Đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn. Hải ngoại kỷ sự (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của Đội "Hoàng Sa" và Phủ biên tạp lục viết năm 1776, chép "Tiền Nguyễn thị". Đại Nam thực lục tiền biên (1821) chép "Quốc sơ trí Hoàng Sa".


Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ đời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần cho đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi.

Khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì Đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré cho biết: Năm 1786, Thái Đức năm thứ 9, dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng. Đến đời Gia Long năm thứ 2 (1803), Đội Hoàng Sa mới hoạt động trở lại, Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: "Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Năm 1815, vua Gia Long sai Đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa.


Về lịch hoạt động ở ngoài đảo, theo các tài liệu như Dư địa chí, Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí thì hàng năm Đội Hoàng Sa bắt đầu đi từ tháng 3 âm lịch đến tháng 8 âm lịch trở về. Riêng theo Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Toàn tập An Nam lộ thì lúc đi cuối Đông, không nói thời gian về; theo Phủ biên tạp lục thì thường đi vào tháng Giêng âm lịch đến tháng 8 về. Từ tháng 3 đến tháng 8 (tức khoảng từ tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) ở Quảng Ngãi là mùa khô, có gió Tây Nam, rất thuận lợi cho việc đi biển; vùng Quảng Ngãi lại chỉ có bão trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch (tháng 9 đến tháng 12 dương lịch), nhất là hai tháng 9 và 10 âm lịch. Như thế, việc chọn thời gian hoạt động như trên của Đội Hoàng Sa là một sự lựa chọn rất khôn ngoan của tiền nhân. Đến tháng 8, gió Tây Nam yếu, chuyển qua gió Đông Bắc thì thuyền của Đội Hoàng Sa trở về cửa Eo để nộp sản phẩm ở chính dinh là đúng lúc, hợp lý nhất. Lúc đầu đi sớm quá không thấy lợi, nên dời đến tháng 3 là hợp lý; chấm dứt vào tháng 8 để tránh bão là điều rất khôn ngoan. Hầu hết các tài liệu đều viết tháng ba âm lịch đi từ Cù Lao Ré đến nơi bắt đầu hoạt động ở Hoàng Sa là 3 ngày 3 đêm. Riêng Đại Nam nhất thống chí ghi 3-4 ngày đêm. Khoảng thời gian trên đều là thời gian thực tế phù hợp với loại thuyền buồm nhẹ chạy nhanh khởi hành từ đất liền hay Cù Lao Ré đến đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa. Dĩ nhiên, trong suốt 6 tháng hoạt động, Đội Hoàng Sa tiếp tục đi khắp nơi, xa hơn, đến tận các đảo phía Bắc. Riêng các hòn đảo xa phía Nam thì đã có Đội Bắc Hải phụ trách, song cũng lệ thuộc vào Đội Hoàng Sa.


Về tổ chức, Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh vừa mang tính dân sự vừa mang tính quân sự; vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính nhà nước, vừa có chức năng kinh tế, vừa có chức năng quản lý thời ấy ở Biển Đông. Ra đời từ đầu thời chúa Nguyễn trong hoàn cảnh tay cầm cuốc, tay cầm gươm để mở đất khai hoang, người đứng đầu đơn vị hành chính lớn nhất là chưởng dinh cần có dinh lũy để vừa cai quản về hành chính, khai hoang, vừa chỉ huy quân sự sẵn sàng chiến đấu.


Thời chúa Nguyễn, mỗi năm lấy 70 suất đinh để làm những nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa theo phép tuyển như trên, song còn dựa vào khả năng đi biển mà tuyển chọn. Số lượng 70 là số lượng đặc biệt cho một đội dân binh như Đội Hoàng Sa. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã dùng từ quân nhân để chỉ những người trong Đội Hoàng Sa, trong đó có 2 người bị trôi giạt vào cảng Thanh Lan (Hải Nam) khi bị bão vào năm Càn Long thứ 17 (1754), còn 8 người khác bị mất tích. Như thế, mỗi thuyền trong Đội Hoàng Sa có số lượng khoảng 10 người.


Tại xã An Vĩnh, nay thuộc thôn An Vĩnh, xã Tự Kỳ còn di tích một ngôi miếu ở cạnh cửa biển Sa Kỳ gọi là ngôi miếu Hoàng Sa vốn thờ bộ xương đầu của con cá voi (tương truyền do dân binh Hoàng Sa đưa từ đó về) và thờ lính Hoàng Sa. Ngôi miếu này đã bị phá hủy trong thời kỳ chiến tranh và bộ xương cá voi thần linh ở miếu này được chuyển sang thờ tại lăng Thánh, ngay cạnh ngôi miếu xưa.


Tại Cù Lao Ré (nay là huyện đảo Lý Sơn), vẫn còn Am Linh Tự (tức miếu Hoàng Sa), ở thôn Tây xã Lý Vĩnh (tức phường An Vĩnh xưa) và Am Linh Tự ngoài trời ở xã Lý Hải (tức phường An Hải xưa). Cũng tại xã An Vĩnh và cả làng An Hải (cả đất liền lẫn ngoài đảo Cù Lao Ré) có tục tế đình và làm lễ khao quân tế sống để tiễn lính Đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, tại các đình làng. Hiện nay, chỉ còn đình làng xã Lý Hải, tức phường An Hải xưa. Lính Hoàng Sa được tế sống vì nhiệm vụ quá nguy hiểm: "lính Hoàng Sa đi dễ, khó về". Trừ các chỉ huy như đội trưởng, thuyền trưởng, các lính thường lấy trai tráng chưa có gia đình, vừa khoẻ mạnh, vừa không vướng vợ con. Tại thôn An Vĩnh thuộc xã Tự Kỳ hoặc tại đảo Cù Lao Ré có nhiều gia đình còn gia phả và bàn thờ những người đi lính Hoàng Sa như nhà ông Phạm Quang Tỉnh ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh có nhà thờ và gia phả ông tổ Phạm Quang Ảnh, người được vua Gia Long cử làm Đội trưởng Đội Hoàng Sa năm 1815.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #12 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:17:41 pm »

Về địa bàn hoạt động, Đội Hoàng Sa có phạm vi rất rộng. Khởi đầu là những đảo gần bờ biển nhất. Song trong 6 tháng, hàng năm, từ năm này qua năm khác, Đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản Đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ.


Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính Đội Hoàng Sa không đủ lực lượng để tự mình đi khắp nơi, song lại kiêm quản các đội khác (như Đội Bắc Hải) nên phạm vi hoạt động rõ ràng rất rộng, khắp các đảo trên Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Việt Nam (khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên); từ phía Tây (Nam đảo Hải Nam) xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.


Các nhà cầm quyền Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII đã biết rằng Hoàng Sa (Bãi Cát Vàng hoặc Vạn Lý Trường Sa) là một dải dài hàng ngàn, vạn dặm chạy dọc Biển Đông. Khái niệm chung nhất này cũng được thể hiện ở việc giao nhiệm vụ cho Đội Hoàng Sa, đứng đầu là cai đội hay Đội trưởng do nhà nước bổ dụng, được kiêm quản Đội Bắc Hải ở phía Nam cùng nhiệm vụ để thâu tóm vào một đầu mối. Đây cũng là một quan điểm về quản lý các hoạt động kinh tế tại Biển Đông của nước ta thời bây giờ.


Vì Đội Hoàng Sa là một tổ chức dân binh có nhiều chức năng, nhiệm vụ đặc biệt ở Biển Đông, nên tổ chức này cũng rất đặc biệt. Đứng đầu là cai đội theo như Phủ biên tạp lục, quyển 2 đã ghi là: "Lịnh cai Đội Hoàng Sa tính quản". Như binh chế thời chúa Nguyễn mà chúng ta đã biết, đội có cai đội và đội trưởng chỉ huy. Chức cai Đội Hoàng Sa thường kiêm luôn các chức khác, như trường hợp Phú Nhuận hầu kiêm Cai thủ đồn cửa biển Sa Kỳ kiêm Cai cơ thủ ngự. Theo tài liệu tờ kê trình của Phú Nhuận hầu, ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), hiện lưu trữ tại nhà thờ họ Võ phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) thì Thủ ngự là đơn vị cai quản, tuần tra chống trộm cướp thời Nguyễn.


Tùy theo, số thuyền đi từ 4-5 chiếc đến 18 chiếc, mỗi chiếc thuyền do chủ thuyền hay thuyền trưởng cai quản. Thuyền cũng là đơn vị nhỏ nhất trong phiên chế thời Nguyễn như chúng ta đã từng biết.

Số lượng 70 suất chia ra ở các thuyền đều là dân binh được gọi là "quân nhân" như Phủ biên tạp lục, quyển 2 ghi chép. Những quân nhân này chủ yếu là dân gốc xã An Vĩnh và một phần là dân xã An Hải ở đất liền và ngoài đảo Cù Lao Ré.

Hai xã An Vĩnh và An Hải ở hai bên cửa biển Sa Kỳ cùng với 2 phường An Vĩnh và An Hải do di dân đất liền ra Cù Lao Ré, trong đó xã An Vĩnh là chính, cung cấp dân binh cho Đội Hoàng Sa. Trong hầu hết các sử liệu chỉ nói đến xã An Vĩnh, chỉ riêng Việt sử cương giám khảo lược, quyển 4 của Nguyễn Thông là nói đến hai hộ An Hải và An Vĩnh (tức hai phường An Vĩnh và An Hải ở đảo Cù Lao Ré).


Theo lời truyền miệng của dân địa phương Cù Lao Ré, việc tuyển lựa 70 suất của Đội Hoàng Sa theo nguyên tắc định suất cho các dòng họ. Song cụ thể là vẫn theo lệ bổ tuyển quân nhân thời chúa Nguyễn. Những người gọi là quân nhân ấy được tuyển theo hệ thống xã, huyện, phủ. Do phải luân phiên nên hàng năm các Đội Hoàng Sa phải lo điều chỉnh quân số sao cho đảm bảo lệ này. Các quân nhân Đội Hoàng Sa có nghĩa vụ của một dân binh bình thường, không giống như binh lính chính quy. Về mặt quyền lợi, ngoài việc họ được miễn sưu thuế, họ còn được hưởng phần dư, phần còn lại ngoài số quy định phải nộp cho nhà nước. Lương thực mang đi trong 6 tháng được nhà nước cấp phát. Song chủ yếu là gạo còn thức ăn phần lớn họ phải tự bắt cá, bắt chim ở các đảo để sống. Họ phải mang củi lửa và theo lối truyền thống, họ giấu những bếp ở mỗi thuyền bằng các nùi dây dừa khô giữ lửa lâu. Đời sống của quân nhân (trong đó có Đội Hoàng Sa) thời chúa Nguyễn khả quan hơn đời sống của người dân, theo như Thích Đại Sán đã mô tả là rất khổ, phải nộp vào công khố bảy tám phần mười hoa lợi. "Người làm nghề đánh cá đem về nộp cả cho cai trưởng. Bọn này cấp hoàn cho bao nhiêu được bấy nhiêu... Gặp lúc nhà nước có việc công, cai xã bắt dân phu ra ứng dịch, mọi người phải lo cơm đơm, gạo bới đi làm".


Các quân nhân Đội Hoàng Sa còn mang theo một đôi chiếu, 7 sợi dây mây (hay cây ré), 7 cái đòn tre. Nếu chẳng may có chết ở giữa biển thì dùng chiếu ấy quấn xác, đòn tre dùng làm nẹp và lấy dây mây bó lại rồi thả xuống biển. Chiếc thẻ tre nhỏ ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người xấu số được cài kỹ trong bó chiếu, làm dấu hiệu nhận biết nếu có ai đó vớt được.


Cũng trong Hải ngoại kỷ sự, Thích Đại Sán có nói đến thuyền đánh cá ấy gọi là thuyền Điếu Xá. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu cũng đã cho thuyền Điếu Xá đón tiếp đệ tử và vật hàng của Thích Đại Sán đến sau tại đảo Tiên Bích Sa (Cù Lao Chàm).

Khi Thích Đại Sán rời Quảng Đông đi bằng loại thuyền lớn, chứa tới 400 người, phải dùng cả 2 chiếc thuyền nhỏ dẫn đường. Tuy thuyền đi như bay, nhưng có lần bị mắc cạn, có lần suýt bị nạn vì không theo lối thuyền con chỉ dẫn...

... Với những nhiệm vụ và tổ chức hoạt động kể trên, Đội Hoàng Sa thu lượm trước hết những hải vật quý lạ ở Hoàng Sa như hải sâm, ốc hoa, ốc tai voi có chiếc lớn như chiếc chiếu, bụng có châu ngọc lớn như ngón tay trẻ em, sắc đục không bằng sắc con trai ngọc, song vỏ ốc có thể tách ra từng phiến, cũng có thể dùng vỏ ốc làm thành vôi; có thứ ốc xà cừ, người ta có thể dùng để dát các đồ dùng; có thứ đại mạo hay đại mội, tức con đồi mồi rất lớn hay con hải ba (ba ba biển, tục gọi là con trắng bông, cũng giống như con đồi mồi, nhưng nhỏ hơn).


Những hải sản quý trên tuy cũng có nộp cho nhà vua theo quy định, song thường vẫn cho Đội Hoàng Sa bán và họ thường bán cho thị trường ở Hội An tiêu thụ nhiều và có giá hơn.

Quan trọng nhất là các hàng hoá từ các tàu đắm mà Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư viết rằng hàng hoá thu được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng ống. Phủ biên tạp lục thì ghi: "những đồ hải vật như gươm và ngựa bằng đồng hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, khẩu súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ".


Lê Quý Đôn hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá trong Phủ biên tạp lục có viết: "Ông tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức hầu", người chỉ huy Đội Hoàng Sa trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa, cụ thể như sau:

- Năm Nhâm Ngọ (1702), lượm được 30 thoi bạc.

- Năm Giáp Tuất (1704), lượm được 5.100 cân thiếc.

- Năm Ất Dậu, lượm được 126 thoi bạc.

Còn từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần, họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:18:47 pm »

4- Đội Bắc Hải hoạt động dưới sự kiêm quản của Đội Hoàng Sa trong khu vực phía Nam của Biển Đông - tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận.

Về sau, ngày càng có nhiều đội có chức năng và nhiệm vụ như Đội Bắc Hải được thành lập, vì Nhà Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để Đội Hoàng Sa kiêm quản để quy về một đầu mối, hầu có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông.


Như thế, người chỉ huy Đội Hoàng Sa phải là vị quan lớn, như: cai đội Thuyên Đức hầu, đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Hoặc như Phú Nhuận hầu cũng thế, trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803), đã kiêm luôn "Khâm sai cai thủ" cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức "Cai cơ thủ ngự", kiêm quản Đội Hoàng Sa1 (Tờ kê trình của Phú Nhuận hầu được lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn.


Trong Phủ biên tạp lục, quyển 2, Lê Quý Đôn đã ghi chép rất cụ thể về Đội Bắc Hải như sau: "Họ Nguyễn còn thiết lập một Đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn người thôn Tứ Chính (ở gần bờ biển) thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn người làng Cảnh Dương lấy những người tình nguyện bổ sung vào Đội Bắc Hải. Ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác".


"Những người được bổ sung vào Đội Bắc Hải đều được miễn nạp tiền sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò.

Những người trong đội đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo thuộc vùng Hà Tiên để tìm kiếm, lượm nhặt những hạng đồi mồi, hải ba, đồn ngư (cá heo), lục quý ngư, hải sâm (con đỉa biển)...".

Như thế, về tổ chức, Đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo khả năng thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương tình nguyện, được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động.

Về quyền lợi, cũng như đội khác, Đội Bắc Hải được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò, nhưng không thấy miễn tiền thuế. Đội cũng dùng thuyền tư nhân, thuyền câu với phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay và cả Côn Lôn, Hà Tiên.


Ở phía Nam Biển Đông, khu vực Trường Sa hiện nay, ít có bão lớn, không nguy hiểm, ít có vụ đắm tàu nên rất ít thu lượm được các sản vật từ tàu đắm như vàng bạc, súng ống mà chủ yếu là hải sản, đặc biệt là loại cá heo (đồn ngư),...

Đội Bắc Hải được các tài liệu ở các thời gian sau (thế kỷ XIX) tiếp tục ghi chép. Đại Nam thực lục tiền biên (soạn xong năm 1844) chép rằng Đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam nhất thống chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi (soạn xong năm 1882), viết "Đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tim lấy hải vật cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản". Không có tài liệu nào cho biết Đội Bắc Hải ngưng hoạt động trước hay sau Đội Hoàng Sa, chỉ biết chắc chắn Đội Bắc Hải ra đời sau Đội Hoàng Sa và trước năm 1776, tức là trước khi Lê Quý Đôn viết Phủ biên tạp lục.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:20:55 pm »

5- Thủy quân triều đình Việt Nam đo đạc thuỷ trình và bản đồ, cắm cột mốc ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot1 (Dayot là một trong số những người Pháp theo giúp Nguyễn Ánh. Sau thời gian giúp Nguyễn Ánh, ông về cư trú tại Áo Môn (Ma Cao - Trung Quốc) rồi mất tại đó năm 1821) giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông, trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa.


Lúc đầu, Đội Hoàng Sa có trách nhiệm xem xét đo đạc thủy trình như thời Gia Long. Tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Ảnh, thuộc Đội Hoàng Sa, được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tý (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối hợp với Đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình...


Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình.

Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, chép: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biển binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa".


Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công, cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển, trong đó có vùng biển Hoàng Sa. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo, cùng với thủy quân phối hợp với giám thành, với địa phương Quảng Ngãi và Đội Hoàng Sa.


Mỗi lần đi đo đạc, phải chọn được thợ lái có năng lực, năm rõ các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm... mà tránh; ngoài ra, còn phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiêt gió để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220, Bộ Công tâu rằng: người nào mười phần am hiểu thông thạo thì cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng bình, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn định. Ai đáng để bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng cấp tiền gạo gấp đôi... thì kê sách tâu rõ đợi chỉ gia ân. Những lời dụ và bàn được chuẩn y như sau: "Thơ lại thủy sư thì cửa biển hiểm hay dễ, xem gió, trông khí trời, nghiên núi, dò nước, nhìn kiếm tìm hướng, nhớ rõ địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu, ai được tám chín phần là hạng bình, ai được có năm sáu phần là hạng thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết thì ưu tiên bổ nhiệm ngay".


Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220, cũng chép: "Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả thì là hạng bình. Sai phái đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt".


Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển và thủy quân đi đến Hoàng Sa, vừa là dịp để khảo hạch và cũng là dịp luyện tập, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, việc thưởng phạt đặc biệt hơn. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, nhưng sau đó lại tiếp tục. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng đình hoãn do Bộ Công tâu xin. Sau đó, đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa, bởi theo Phàm lệ sách Đại Nam thực lục chính biên, thời Tự Đức thì những việc đã thành lệ rồi không còn chép nữa.


Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa, bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm mà sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng thứ 19 (1838), lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, nên mãi tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu, kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.


Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn tất công việc tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng, song cho phục chức cai đội1 (Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện nay, có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn).


Các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng đi chuyến này, những người trong Đội Hoàng Sa như Võ Văn Hùng (tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh2 (Tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã Lý Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện Đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Tương tự, vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), do khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh Gần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã minh hoạ rất rõ ràng việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:22:07 pm »

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được quy định cũng rất rõ ràng, có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221, có ghi như sau:

''Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tưng vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? Và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".


Như thế, việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ họa đồ lại là các viên giám thành.

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo Dụ của vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo tấu của Bộ Công ngày 21 tháng 6, năm Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo, đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.


Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn tuy có kỹ lưỡng và chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của phương Tây lúc bấy giờ, nhất là chưa xác định được tọa độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu. Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải cứ có hải đồ là có thể đi biển chính xác, mà phải cần đến những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở Vệ giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc, qua sự biến ngày 4-7-1885 và sau đó nữa là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh thành Huế bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ quý giá về Hoàng Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc rằng từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa.


Từ thế kỷ XIX, sau khi lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều Nguyễn, lấy niên hiệu Gia Long vào năm 1802, Nguyễn Ánh đã tiếp tục tái lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động của Đội Hoàng Sa trong thời gian đầu và của thủy quân.


Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, Giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long. Chaigneau đã viết trong hồi ký "Le mémoire sur la Cochinchine": "Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy". Giám mục Taberd viết: "Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia Long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam". Những người phương Tây nói trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền của Việt Nam như thế nào ở Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, đã ghi chép hoạt động của Đội Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình, do Phạm Quang Ảnh làm Đội trưởng vào năm 1815. Đến năm 1816, vua Gia Long lần đầu tiên ban lệnh cho thủy quân, với sự hướng dẫn của dân binh Đội Hoàng Sa, đi xem xét, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 52).


Thời nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, đã thành lệ, thủy quân hàng năm liên tục đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...

Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một "lực lượng đặc nhiệm" gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương, trong số đó có dân binh Đội Hoàng Sa. Kinh phái do thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong Vệ thủy quân đóng ở kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành trong Vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi, có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời, còn điều động dân binh ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định như trong chuyến công tác năm 1835 và 1837 đã dẫn trên đây.


Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm" này luôn được các hoàng đế Việt Nam theo sát và ra những chỉ dụ cụ thể, nhất là dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng này quan trọng đến chừng nào.

Cũng chính vua Minh Mạng ra Chỉ, Dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Chẳng hạn, năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân, mà Đội trưởng là Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải): "Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên", và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): "Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu". Cũng chính vua Minh Mạng theo dõi các chuyến đi công tác Hoàng Sa và đã nhiều lần ra Chỉ, Dụ thưởng phạt. Thường dân binh Đội Hoàng Sa Quảng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn. Còn các viên chỉ huy như cai đội, chánh suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội.


Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công; thi hành có Vệ thủy quân là chính, phối hợp với Vệ giám thành và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định.

Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), theo Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, thì: "Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa". Như vậy, thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng Giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:22:44 pm »

Thuyền ô là thuyền sơn đen từ mũi đến lái, dài hơn 4 trượng, rộng 8 thước 4 tấc, 3 thước 2 tấc, 30 cọc chèo. Từ năm Minh Mạng thứ 15 (1834), có Chỉ, Dụ các tỉnh có vùng biển như tỉnh Quảng Ngãi nên đóng hai ba chiếc thuyền nhanh, cứ mộ dân ven biển sung làm thợ lái, thủy thủ, mỗi thuyền cần đủ trên dưới 20 người, làm thủy binh thuộc tỉnh khi gặp việc khẩn cấp để tuần tiễu, thông báo, vận tải cho nhanh. Thuyền nhanh này cũng theo quy thức hình dáng thuyền Điếu hải dài hơn 4 trượng, rộng 1 trượng 5 thước 5 phân, sâu 5 thước 1 tấc.


Từ Quảng Ngãi, phải thuê 4 chiếc thuyền của dân. Đó là loại thuyền câu, song nhẹ và nhanh hơn, nhỏ hơn thuyền Điếu hải thuộc thủy quân ở các tỉnh, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, sở dĩ phải thuê vì thuyền của dân binh Đội Hoàng Sa vốn đi nhẹ, nhanh, dễ dàng cặp đổ bộ vào đất liền, dễ dàng tránh né các bãi ngầm, các thủy thủ lại quá quen thuộc, chưa kể thuyền ít người nên mang lương thực cung cấp cho sáu tháng dễ dàng hơn, và việc bắt chim, đánh cá để tự cung ứng cấp dưỡng cũng không còn là vấn đề lớn, để có thời giờ làm việc, đi thu lượm hải vật quý, lấy hàng hoá, súng ống từ tàu đắm. Tài liệu không cho biết rõ thuyền ô có đi theo ra Hoàng Sa hay không. Song, ít nhất lực lượng thủy quân trên có 4 chiếc thuyền câu. Cũng có năm, đi 5 thuyền thì có thể cả thuyền ô, khi lực lượng thủy quân đặc nhiệm này đã kết hợp với công tác của Đội Hoàng Sa. Và như vậy, sau này người ta không thấy sử sách nói nhiều về Đội Hoàng Sa nữa, vì lực lượng thủy quân đặc nhiệm này trở thành lực lượng chủ yếu và thường xuyên của nhà nước Việt Nam, và Đội Hoàng Sa mang tính dân sự càng ngày càng đậm nét hơn, chủ yếu hoạt động về lợi lộc tư nhân, về kinh tế mà thôi.


Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức quy củ, có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, đã chép rằng: trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ "Vạn Lý Ba Bình". Như thế, trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.


Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ là từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia. Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), với lời châu phê của vua Minh Mạng, cũng đã nêu rất rõ: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 6, còn ghi rõ: "Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ:

"... Minh Mạng thập thất niên Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)".

(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).

Các cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy "lực lượng thủy quân đặc nhiệm", được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đảo, song rất khó tổng kết trên thực tế số cột mốc đã cắm được ở bao nhiêu đảo.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:24:20 pm »

BẢN ĐỒ BÃI CÁT VÀNG CỦA ĐỖ BÁ VÀ
NHỮNG TƯ LIỆU ĐẦU TIÊN CHÉP VỀ ĐỘI HOÀNG SA
*
(Tạp chí LSQS, số 1-2002)

NGUYỄN QUANG NGỌC**
(GS, TS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội)


1. Về bản đồ Bãi Cất Vàng của Đỗ Bá.

Hiện nay, tại Viện nghiên cứu Hán Nôm vẫn còn lưu giữ được sách Hồng Đức bản đồ ký hiệu A2499, trong đó có Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư. Không chỉ ở trong nước mà tại Đông Dương văn khố Tokyo (Nhật Bản) cũng có một quyển Hồng Đức bản đồ khổ 32,5x22,0, dày 87 trang, mang ký hiệu X-2-24. Tất cả các tập bản đồ mà chúng tôi có điều kiện được khảo sát cả ở trong nước và ngoài nước đều là các bản sao của đời sau và đều có sách Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ trong đó.


Năm 1896, nhà nghiên cứu người Pháp là Dumoutier (Đuy-mu-chi-ê) công bố công trình Nghiên cứu về một bản đồ cổ An Nam thế kỷ XV, trong đó mảnh số 19 có vẽ một bãi cát dài kéo từ cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ đến Sa Huỳnh có ghi rõ là Bãi Cát Vàng mà người đọc có thể hiểu là Hoàng Sa Chử hay Hoàng Sa. Dumoutier dự đoán có nhiều khả năng bản đồ này được lập trong thời gian vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành vào năm 1471. Có thể đoán được rằng Dumoutier đã nghiên cứu bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được đính chung vào trong bộ Hồng Đức bản đồ. Cũng như nhiều tấm bản đồ khác trong bộ Hồng Đức bản đồ, rất có thể phần "hoạ" về Bãi Cát Vàng đã được vẽ từ thời Lê Thánh Tông, đúng như dự đoán khoa học của Dumoutier, nhưng phần "chú" tạo nên độ xác thực của bản đồ thì hình như không thuộc vào khung niên đại này.


Thật ra, trong kho sách Hán Nôm của ta, ngoài Hồng Đức bản đồ, cũng còn một số bộ sách khác có chứa Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hay Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư hoặc Toàn tập An Nam lộ... Giống như Hồng Đức bản đồ, các bộ sách này cũng chỉ là bản sao và đều ghi tên tác giả là Đỗ Bá Công Đạo. Chúng tôi đồng ý với nhiều ý kiến cho rằng Toàn tập An Nam lộ là bản sao thời Lê gần với nguyên tác nhất1 (Sách được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2628. Tham khảo Trấn Bá Chí: Đỗ Bá Công Đạo với bản đồ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 3-1990, tr. 27). Ngay trang đầu của sách (cũng đồng thời là trang bìa), dòng đầu tiên ghi rõ tên sách là Toàn tập An Nam lộ. Tiếp sau là dòng chữ "Chính Hoà thất niên" cho biết sách được soạn vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686). Phần dưới, nối với tên sách và niên đại là các dòng chữ: "Thanh Giang, Bích Triều nho sinh trúng thức Đỗ Bá thị tự Công Đạo tập". Điều đáng lưu ý ở đây là chính ông Đỗ Bá (tên chữ là Công Đạo), một Nho sinh trúng thức, người xã Bích Triều, huyện Thanh Giang (nay là xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) tự nhận mình là người tập hợp, biên tập bộ bản đồ này. Tập hợp, biên tập chắc chắn không phải là làm mới hoàn toàn, tuy nhiên việc Đỗ Bá đã ghi đậm dấu ấn của mình và biến thành bản đồ mang tên mình thì tập bản đồ này không thể coi là bản đồ các đời trước ông được. Vì thế, chúng tôi tin rằng tác giả chính hay tác giả hoàn chỉnh của bản đồ Bãi Cát Vàng chỉ có thể là Đỗ Bá mà thôi.


Sách Thanh Chương huyện chí xác nhận: Đỗ Công Luận (tên chữ là Công Đạo), người thôn Cẩm Nang, xã Bích Triều, huyện Thanh Chương (nay là thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An)1 (Thanh Chương huyện chí, bản chữ Hán, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv 2577). Gia phả họ Đỗ (mà nhân dân địa phương gọi là họ Đậu) ở thôn Cẩm Nang cho biết Đỗ Công Luận (hay Công Đạo) chính là người vẽ bản đồ và ghi lại lộ đồ cho chúa Trịnh, phù hợp với các thông tin trong Toàn tập An Nam lộ: "Họ ta xưa có Đậu Bá, tự Công Luận hoặc Công Đạo tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình gia ân cho làm Giám sinh, nhưng ông không thích (không đến học). Ông lại là ấm tử, nên cho làm Tri huyện huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng đất ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hàng năm bị xâm lân, có lần giặc giã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ. Vào khoảng thời Chính Hoà (1680-1705) ông từ quan giả dạng người buôn, xuôi sông Lam, vượt Thuận Quảng, qua Chiêm Lạp và các nước, xem xét sông núi, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế mở biên giới vào phía Nam. Chúa Trịnh (Trịnh Căn) rất vui mừng, đưa bản đồ cất vào kho. Lại yêu cầu ông soạn vẽ cho bộ Tứ chí lộ đồ"1 (Gia phả họ Đỗ (Đậu) thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An do PGS, TS Trần Bá Chi (Đại học Quốc gia Hà Nội) sưu tầm và dịch).


Những thông tin cụ thể và xác thực về quê hương, dòng họ, gia thế và hành trạng của Đỗ Bá là cơ sở đủ để tin bản đồ Bãi Cát Vàng do chính chúa Trịnh Căn sai Đỗ Bá vẽ (ở đây phải được quan niệm là cả "hoạ" và "chú") trên cơ sở tư liệu cũ (có thể là bản đồ thời Hồng Đức), kết hợp với tư liệu mới bí mật điều tra tập hợp thêm tại vùng đất phía Nam. Bản đồ được chuẩn bị công phu trong nhiều năm và được hoàn thành vào năm Chính Hoà thứ 7 (1686).


Trong Toàn tập An Nam lộ, phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi, phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng kéo dài từ khoảng cửa Đại Chiêm qua cửa Sa Kỳ. Phần chú trên trang bản đồ bằng chữ Nôm viết to và khoẻ, với nội dung như sau: "Bãi Cát Vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa biển Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mông. Gió Tây Nam thuyền đi phía trong sẽ giạt lại đó. Gió Đông Bắc mà thuyền đi cũng bị tắc lại đấy, đều bị chết đói, của cải phải bỏ lại. Mỗi năm đến tháng cuối Đông (chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó nhặt vàng bạc... Từ cửa Đại Chiêm đến bãi đảo ấy đi thuyền một ngày rưỡi, từ cửa Canh Sa đi thuyền cũng mất một ngày rưỡi, ở bãi đó cũng sinh sản loại đồi mồi''.


Như thế, tập bản đồ đã cung cấp những thông tin hết sức cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của đảo Hoàng Sa (mà khi ấy thường được gọi là Bãi Cát Vàng), cũng như chủ quyền của chúa Nguyễn đã được xác lập ở đó:

- Bãi Cát Vàng ở giữa Biển Đông và chạy song song với bờ biển, đoạn từ cửa sông Thu Bồn (cửa Đại Chiêm, Quảng Nam) cho đến cửa sông Trà Khúc (cửa Sa Kỳ). Trên đảo sản sinh loại đồi mồi và là nơi cực kỳ nguy hiểm cho thuyền bè qua lại.

- Bãi Cát Vàng là cái tên thông dụng và thuần Việt, sau mới được phiên ra chữ Hán Việt là Hoàng Sa (hoặc Hoàng Sa Chử).

- Bãi Cát Vàng là nơi có nhiều hoá vật của tàu đắm bỏ lại nên hàng năm chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền ra lấy vàng bạc.

Nhìn chung, thông tin trong phần "chú" về cơ bản là chính xác, tuy nhiên cũng có một vài số liệu cụ thể như chiều dài, chiều rộng, khoảng cách xa bờ của bãi cát là rất ước lệ, thậm chí mâu thuẫn với nhiều nguồn tư liệu khác. Chẳng hạn về chiều dài, chiều rộng của bãi cát nếu so với An Nam hình thắng đồ thì nhỏ hơn (400 và 20 dặm so với 500 và 50 dặm)... Đặc biệt, số liệu về khoảng cách từ các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ ra Bãi Cát Vàng trong bản đồ Đỗ Bá đã gây ra không ít băn khoăn cho người nghiên cứu. Thông thường tất cả các tài liệu đều chép thống nhất và chính xác từ đất liền ra Hoàng Sa mất 3 ngày 3 đêm. Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá (cũng như dị bản của nó là Nam Việt bản đồ) chỉ đưa ra con số 1 ngày rưỡi đường, thậm chí An Nam hình thắng đồ còn thu lại trong nửa ngày đường thì rõ ràng là một sự ước đoán thiếu chính xác, hoặc có thể do nhầm lẫn trong những lần sao đi chép lại (vì tất cả các bản chúng tôi nghiên cứu đều là bản sao). Điều cần phải nói thêm là Đỗ Bá vẽ bản đồ Bãi Cát Vàng trong điều kiện phải tiến hành điều tra bí mật và gián tiếp, không có điều kiện khảo sát trực tiếp hay tham khảo tư liệu một cách chính thức, đàng hoàng nên sự phỏng đoán của ông về khoảng cách xa bờ, chiều dài, chiều rộng của Bãi Cát Vàng... chưa được chính xác cũng là điều dễ hiểu.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:25:43 pm »

2. Bản đồ Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên chép về Đội Hoàng Sa.

Trong số những tài liệu thư tịch cổ Trung Quốc có chép đến hoạt động của Đội Hoàng Sa trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông, theo chúng tôi Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán có vị trí đặc biệt quan trọng. Thích Đại Sán là một hoà thượng nổi tiếng, quê ở huyện Cửu Giang, tỉnh Triết Giang (Trung Quốc), trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông. Ông sang vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi (1695) và trở về Trung Quốc vào năm Đinh Sửu (1697). Cuốn sách, đúng như tên gọi của nó, chỉ là ghi chép lại chuyến đi sang Đại Việt của tác giả. Ở quyển III có đoạn viết: "Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước và sau ngày Lập thu. Chừng ấy gió Tây Nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng 4, 5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần thổi lên, nước chẩy về hướng đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chẩy mạnh về đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn. Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng giữa biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam, động cao dựng đứng như bức tưng, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cát rộng đến trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn Lý Trường Sa, mù tít chẳng cỏ cây, nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà tạt vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Các Quốc vương thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng giạt vào. Mùa thu nước ròng cạn, chảy rút về hướng đông, bị một ngọn sóng đẩy đi, thuyền có thể trôi xa trăm dặm; gặp khi gió mạnh, càng sợ hiểm hoạ Trường Sa"1 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Bản dịch Viện Đại học Huế, 1963, tr.125). 


Bãi cát được Thích Đại Sán gọi là Vạn Lý Trường Sa chính là Bãi Cát Vàng với tất cả những đặc điểm tự nhiên, địa hình được mô tả trong phần "chú" của bản đồ Đỗ Bá. Thích Đại Sán nói đến đội thuyền do chúa Nguyễn (mà sách gọi là Quốc vương) cử ra khu vực bãi cát lượm vàng bạc, khí cụ của các tầu hư hỏng, phải chăng đấy là 18 chiếc thuyền được đề cập tới trong lời "chú" của bản đồ Đỗ Bá. Điều đặc biệt lý thú ở đây là Hải ngoại kỷ sự ra đời chỉ sau bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá 11 năm, nên nó như là một khẳng định thêm, một bảo đảm vững chắc cho tính xác thực của tấm bản đồ Đỗ Bá. Mặt khác, chính bản đồ Đỗ Bá, đến lượt nó lại trở thành minh chứng cho độ chính xác trong ghi chép của Thích Đại Sán.


Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán đã cho biết khá cụ thể, sinh động hoạt động thực thi chủ quyền của chúa Nguyễn ở giữa vùng biển, đảo Vạn Lý Trường Sa vô cùng nguy hiểm mà lâu nay thuyền bè Trung Quốc chỉ có một ứng xử là tìm cách tránh xa nó. Giá trị của trang tư liệu này còn được nhân lên ở chỗ nó được chính người Trung Quốc từ cuối thế kỷ XVII xác nhận và ghi chép lại một cách khách quan, trung thực. Sự tương đồng về nội dung phản ánh của 2 tài liệu (một của Việt Nam, một của Trung Quốc) xuất hiện độc lập, khách quan và cùng thời, là một bằng chứng hùng hồn khẳng định chúa Nguyễn là người nắm giữ chủ quyền ở khu vực Bãi Cát Vàng (hay Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa) một cách tự nhiên, hợp pháp và thật sự.


Những hình ảnh ban đầu của Đội Hoàng Sa đã được Đỗ Bá và Thích Đại Sán phác thảo những nét căn bản nhất vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, sau đó 7, 8 thập kỷ đã được nhà bác học Lê Quý Đôn khảo tả đầy đủ hơn, cụ thể và sáng rõ hơn trong Phủ biên tạp lục. Thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tương đối đầy đủ và cụ thể vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa 130 đảo (bao gồm cả Trường Sa), cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai Đội Hoàng Sa (chủ yếu ở khu vực quần đảo Hoàng Sa) và Bắc Hải (chủ yếu ở khu vực quần đảo Trường Sa). Phủ biên tạp lục dần dần đã trở thành cuốn sách gốc cho các sử gia, địa gia đời sau dựa vào để giới thiệu bổ sung và làm phong phú thêm trang lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa bằng những chi tiết mới.


Cũng đúng vào năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục thì ở quê hương của Đội Hoàng Sa, dân phường Cù Lao Ré làm đơn trình bày Đội Hoàng Sa vốn có lịch sử lâu đời (trước năm 1691) và giải thích thêm về chức năng bảo vệ vùng biển, đảo của tổ chức đặc biệt này: "... Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương... Bây giờ chúng tôi lập 2 Đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp...". Điều này, không chỉ xác nhận việc thành lập Đội Hoàng Sa để khai thác và bảo vệ các quần đảo giữa Biển Đông không chỉ là chủ trương của Nhà nước mà nó đã được thực thi đầy đủ, nghiêm chỉnh ở địa phương với những con người cụ thể có chức năng, nhiệm vụ, địa chỉ rõ ràng, minh bạch.


Bên cạnh các nguồn tư liệu Việt Nam và Trung Quốc, nguồn tư liệu phương Tây cũng không kém phần phong phú, sinh động. Từ thế kỷ XVI trở về trước đã có nhiều ghi chép và bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây gọi vùng các quần đảo giữa Biển Đông (I.de Pracel) là Baixos de Chapar (Bãi đá ngầm Champa), Pulo Capaa (đảo của Champa) và đoạn Tbờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Kỳ như trong bản đồ Đỗ Bá được đánh dấu là Costa da Pracel (bờ biển Hoàng Sa). Như thế, từ rất lâu đời, các nhà hàng hải phương Tây đã coi các quần đảo này có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi. Bước sang thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, số lượng tàu thuyền của người phương Tây đi qua vùng Biển Đông thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng ngày càng phong phú và chính xác hơn. Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tàu ở Paracel đã được những người Việt xứ Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá, tiền bạc trên các tàu bị đắm ở Hoàng Sa. Năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite đã khẳng định một thực tế hiển nhiên rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam". Đây là một bổ sung hết sức đắt giá cho Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán vì nguồn thông tin này chắc chắn không phụ thuộc vào một trong hai nguồn thông tin trên và lại xảy ra gần như đồng thời (cách nhau nhiều nhất không quá 15 năm: 1686-1697-1701).


Đến giữa thế kỷ XVIII, ngoài tàu thuyền của người Bồ, tàu thuyền các nước Hà Lan, Anh, Pháp đến vùng Biển Đông nhiều hơn. Pierre Poivre (Pi-e Poa-vrơ) (1719-1786) là một giáo sĩ kiêm thương nhân người Pháp có dịp đi qua vùng Hoàng Sa kể lại trong Mô tả xứ Đàng Trong, 1749-1750 rằng "Tôi nghe nói hàng năm nhà Vua (chúa Nguyễn) thường cho vài chiếc thuyền ra Hoàng Sa để tim kiếm những báu vật tự nhiên cho bộ sưu tập của mình". Khi được Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát tiếp ở Phú Xuân, Pierre Poivre mô tả kinh đô mới xây dựng và xác nhận những khẩu súng của công ty Đông Ấn Hà Lan ở đây là thu lượm được từ quần đảo Hoàng Sa.


Khoảng non chục năm sau, năm 1759 Bá tước Đe-xtanh, Phó Thuỷ sư đô đốc của Pháp thị sát vùng Biển Đông đã gửi một bức tưng trình về Pháp cho biết ở Phú Xuân có đến 400 khẩu súng đại bác mà số lớn được đem về từ các vụ đắm tàu ở quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1768, ông viết từ Pari về cuộc hành trình này trên Biển Đông: "Đôi khi khó khăn được nhân lên gấp đôi ở vùng quần đảo Hoàng Sa. Tàu thuyền đi giữa đám đảo đá ngầm này và đất liền thì thực là khó hơn đi ở ngoài khơi. Hơn nữa vùng biển này lại luôn luôn có những thuyền nhỏ của người bản xứ qua lại, họ có thể biết được tàu chúng tôi đến đó".


Như thế, các ghi chép của người phương Tây đương thời chính là các Đội Hoàng Sa mà Đỗ Bá lần đầu tiên nhắc đến trong tấm bản đồ của mình. Sự thống nhất về thông tin được phản ánh trong tấm bản đồ của Đỗ Bá (1686) với cuốn sách của Thích Đại Sán (1697), nhận định của thương nhân người Pháp (1701) và những ghi chép của Lê Quý Đôn, của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, phái bộ ngoại giao phương Tây thế kỷ XVIII về các đội tàu thuyền Đàng Trong ở Hoàng Sa chỉ có thể được giải thích là lúc này hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở đây đã trở thành thường xuyên đến mức mà hầu như cả người trong nước và người nước ngoài đều không thể không đề cập tới nó. Các nguồn tư liệu này bổ sung cho nhau, kiểm chứng lẫn nhau và làm tăng lên bội lần giá trị của nhau.


Đặt Bản đồ Bãi Cát Vàng của Đỗ Bá trong mối quan hệ với những tư liệu đầu tiên của Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây có chép tối hay có đề cập tới Đội Hoàng Sa, chúng ta có đủ cứ liệu để nhận định Việt Nam là nước chiếm hữu thật sự Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Paracels)1 () từ khi chúng còn là vùng đất chưa có chủ và đã thực thi chủ quyền của mình dưới danh nghĩa nhà nước, bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, độc đáo và được nhân dân địa phương chấp hành một cách triệt để.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2026, 08:29:14 pm »

ĐỘI HOÀNG SA - HÌNH THỨC TỔ CHỨC ĐỘC ĐÁO ĐỂ KHAI CHIẾM, XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN CÁC VÙNG QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG*
(Tạp chí LSQS, số 3-2009)

NGUYỄN QUANG NGỌC**
(GS, TS, NGND, Đại học Quốc gia Hà Nội)


Cuốn sách cổ ghi chép khá đầy đủ và cụ thể về các Đội Hoàng Sa, Bắc Hải là Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn, viết vào năm 1776, trên cơ sở sưu tầm, tập hợp tư liệu, ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy trong 6 tháng ông làm Hiệp trấn hai xứ Thuận Hoá và Quảng Nam.


Sách chép: "Phủ Quảng Ngãi ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, có núi gọi là Cù Lao Ré...; phía ngoài lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập Đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải... Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ hai tháng nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, kiếm lượn, vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán, riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về...


Họ Nguyễn đặt Đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai Cai Đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc, của quý ít khi lấy được"1 (Lê Quý Đôn toàn tập (Phủ biên tạp lục), tập 1, Bản dịch Nxb Khoa học xã hội. H. 1977.tr 116).


Như vậy, thông qua một hệ thống các tư liệu gốc, khách quan, xác thực, Lê Quý Đôn đã giới thiệu tương đối đầy đủ vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và hoạt động của hai Đội Hoàng Sa, Bắc Hải.

Bộ sách được hoàn thành chỉ sau Phủ biên tạp lục một thời gian ngắn là Đại Việt sử ký tục biên2 (Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Bản dịch, Nxb Khoa học xã hội, H, 1991, tr.243-244). Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê - Trịnh tổ chức biên soạn, nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Đại Nam thực lục tiền biên là phần đầu bộ chính sử của triều Nguyễn, được khởi soạn năm 1821, hoàn thành và khắc in năm 1844, nhân nói đến sự kiện tháng 7-1754: "dẤn Đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền ra đảo Hoàng Sa, gặp gió giạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh. Tổng đốc Thanh hậu cấp rồi cho đưa về. Chúa [Nguyễn Phúc Khoát] sai viết thư [cám ơn]1 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Bản dịch đã dẫn, tr. 164), đã mô tả Vạn Lý Trường Sa và các Đội Hoàng Sa, Bắc Hải được tổ chức từ thời "Quốc sơ" (tức là từ thời các chúa Nguyễn đầu tiên) không có gì khác với Phủ biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.


Toàn tập An Nam lộ của Đỗ Bá Công Đạo, người xã Bích Triều, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, soạn năm Chính Hoà thứ 7 (1686), phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi phía ngoài biển có vẽ Bãi Cát Vàng và ghi chú rõ: "Mỗi năm đến tháng cuối Đông [chúa Nguyễn] đưa 18 chiếc thuyền đến đó [Bãi Cát Vàng] nhặt vàng bạc"2 (Phần chú bằng chữ Nôm Toàn tập An Nam lộ trong Thiên hạ bản đồ lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2628). Khoảng một thập kỷ sau, vị Hòa thượng Trung Quốc nổi tiếng, trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông, là Thích Đại Sán sang Đàng Trong, trên đường trở về Trung Quốc, đã mô tả khá chi tiết về bãi cát Vạn Lý Trường Sa và cho biết: "Các Quốc vương [tức các chúa Nguyễn] thời trước hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng giạt vào"1 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Viện Đại học Huế xuất bản, tr.125). Năm 1701, nghĩa là chỉ 15 năm sau bản đồ Đỗ Bá và 4-5 năm sau Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite khẳng định: "Paracels là một quần đảo thuộc về vương quốc An Nam"2 (Jean Yves Clayes, Journal de Voyage aux Paracels, Indochine, No 45. 1941, tr.7).


Như thế, các tư liệu đương đại của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây đều chép rất cụ thể, rõ ràng và thống nhất về sự hiện diện của Đội Hoàng Sa vào thời kỳ đầu (buổi Quốc sơ) của các chúa Nguyễn trong thế kỷ XVII. Vấn đề đặt ra là vào thời điểm cụ thể nào và vị chúa Nguyễn nào là người đầu tiên tổ chức ra Đội Hoàng Sa?


Tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) còn giữ được tờ đơn đề ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775), do Hà Liễu là Cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh đứng tên xin chấn chỉnh lại Đội Hoàng Sa. Đơn cho biết: "Nguyên xã chúng tôi xưa có hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn xin tâu được lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người...".


Đối chiếu tư liệu này với nguồn tư liệu phương Tây đương đại, chúng tôi có thêm những thông tin để xác định thời điểm ra đời của Đội Hoàng Sa. Năm 1633, phái bộ thương gia Hà Lan do Paulus Traudenius dẫn đầu đã đến vịnh Đà Nẵng và đến 1636, người Hà Lan đã được phép mở một thương điếm ở Faifo (Hội An), dưới quyền điều hành của Abraham Duijcker. Ngày 6-3, hai tàu Hà Lan là Warmont và Grol đi từ Nhật Bản đã đến Đà Nẵng, được chính quyền Đàng Trong tiếp đón. Ở Hội An, chúa Nguyễn Phúc Lan cũng đã tiếp Duijcker. Trong cuộc tiếp kiến này "Duijcker đã chuyển đến Chúa một điều khiếu nại. Đó là việc chiếc tàu mang tên Grootenbroeck đã bị đắm ở ngoài khơi bãi cát Paracels, đoàn thuỷ thủ đã được các người Việt xứ Đàng Trong cứu giúp, nhưng đồng thời cũng lấy đi tổng số món tiền là 25.580 réaux, vậy nên trưởng điếm Duijcker có nhiệm vụ xin được bồi hoàn món tiền đó. Ông ta được trả lời rằng những việc đó đã được xảy ra từ thời chúa trước (tức chúa Nguyễn Phúc Nguyên), không nên đề cập đến nữa, ngược lại, người Hà Lan từ nay sẽ được hoàn toàn tự do mang hàng hoá đến buôn bán, được miễn thuế, vả lại, sau này nếu có tàu Hà Lan mà bị đắm ở ngoài khơi thì sẽ không có chuyện tịch thu hàng hoá được cứu hộ nữa"1 (Ch.B.Maybon, Les marchands européens en Cochinchine et au Tonkin (1660-1775), Revue Indochinoise, 1916).


Tư liệu xung quanh vụ đắm tàu Grootenbroeck ở Hoàng Sa năm 1634 xác nhận vai trò của những đoàn người Việt xứ Đàng Trong ở quần đảo Hoàng Sa làm công tác cứu hộ, rồi đưa các nạn nhân về vùng Quảng Nam. Họ thường xuyên đi thuyền ra Hoàng Sa kiểm soát vùng biển và đảo. Chúng ta có đủ cơ sở để tin rằng lực lượng người Việt xứ Đàng Trong cứu tàu Grootenbreock tại Hoàng Sa năm 1634 chính là những người của Đội Hoàng Sa đảo Lý Sơn (được thành lập trước năm Tân Mùi (1631) qua phản ánh của tờ đơn xin chấn chỉnh lại Đội Hoàng Sa lưu tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh.


Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp giữa lúc nhu cầu chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông đặt ra gay gắt và bức thiết. Được thừa hưởng những cơ sở và kinh nghiệm của người Chăm và vương quốc Chăm-pa trước đây, Nguyễn Hoàng đã sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông, nhưng chưa thấy có tư liệu nào khả dĩ cho hay vào thời kỳ Nguyễn Hoàng (1558-1613) đã có Đội Hoàng Sa. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chúng tôi, chỉ thật sự bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền. Các sự kiện có liên quan đến hoạt động của Đội Hoàng Sa xảy ra vào các năm 1631, 1634 hay trước 1631 một ít năm, thì cũng đều nằm trong thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635). Có đủ cơ sở để khẳng định Đội Hoàng Sa xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Nguyên hay chúa Nguyễn Phúc Nguyên chính là người đã sáng tạo ra một hình thức khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông hết sức độc đáo là Đội Hoàng Sa. Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là một trong những trang sử đẹp và bi hùng nhất của lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa mở đầu, khai sáng.


Nguyễn Phúc Nguyên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng là người thông minh, dũng lược. Năm 22 tuổi là tướng chỉ huy một đội thuỷ quân đánh thắng 5 chiếc tàu của ngoại bang đến cướp phá ở vùng Cửa Việt, được khen là bậc anh kiệt. Năm 40 tuổi, được giao làm Trấn thủ Quảng Nam, ông đã mở rộng giao lưu buôn bán với các nước phương Đông và phương Tây (đặc biệt là Nhật Bản), xây dựng Hội An thành cảng thị quốc tế phồn thịnh - mà ngày nay đã được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Năm 51 tuổi, trở thành người đứng đầu chính quyền chúa Nguyễn, ông đã cải cách nền hành chính, phát triển đất nước về mọi mặt, mở mang lãnh thổ xuống tận khu vực miền Đông và một phần miền Tây Nam Bộ, khởi dựng hình hài lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam hiện nay. Ông là người đầu tiên đặt ra Đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài - một hình thức độc đáo của quá trình khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM