Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:06:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam  (Đọc 12261 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #20 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:02:17 pm »

QUÁ TRÌNH KHAI THÁC VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN
Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ TÂY SƠN
*
(Tạp chí LSQS, số 7-2021)

ĐỖ BANG**
(PGS, TS, Phó Chủ tịch Hội khoa học lịch sử)


Quần đảo Hoàng Sa - có nghĩa là "cát vàng"; Bãi Cát Vàng là tên gọi phổ biến của người Việt trước đây khi tiếp cận với vùng đảo này, năm 1838 trong Đại Nam nhất thống toàn đồ mới xuất hiện hai tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa; người Pháp và Anh gọi Paracel1 (Có nghĩa là "đá ngầm, ám tiêu" được người phương Tây chú thích trên các bản đồ hàng hải vào thế kỷ XVII-XVIII. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, người Pháp mới có tên gọi là Spratly để chỉ tên gọi Trường Sa, quần đảo nằm về phía Nam của Hoàng Sa mà họ vẫn gọi là Parácel); Quần đảo Hoàng Sa gồm hơn 37 đảo đá, bãi cạn chia làm hai nhóm. Nhóm phía Đông, có tên là nhóm An Vĩnh, gồm khoảng 12 đảo đá, bãi cạn, trong đó cộ hai đảo lớn là Phú Lâm và Linh Côn, mỗi đảo rộng khoảng 1,5km2; nhóm phía Tây gồm nhiều đảo xếp thành hình vòng cung nên gọi là nhóm Lưỡi Liềm, trong đó có các đảo Hoàng Sa, diện tích gần 1km2, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Tri Tôn, Chim Yến...1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, 100 câu hỏi đáp về biển, đảo Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thống, H, 2013, tr. 29 (BBT chú thích)).


Vào cuối thế kỷ XVII, Đỗ Bá Công Đạo, quê ở Nghệ An, vượt biển vào Đàng Trong vẽ tập bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dâng lên chúa Trịnh, trong đó mô tả rõ quần đảo Hoàng Sa như sau: "Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Sa Vinh, mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đấy; gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ngoài cũng trôi giạt ở đấy, đều cùng chết đói cả. Hàng hoá thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...''2 (Lê Nguyên Lưu, Chiếc ghe của Đội Hoàng Sa, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên - Huế số 4 (75), 2009, tr.88).


Năm 1701, các giáo sĩ trên tàu L'Amphitrite sau khi thoát hiểm ở quần đảo Hoàng Sa cũng ghi lại: ''Chúng tôi dong buồm đi với gió thuận và chẳng bao lâu đến ngang tầm Hoàng Sa. Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc Đàng Trong. Đó là một khối đá khủng khiếp dài hơn trăm dặm, là nguyên nhân của những vụ đắm tàu từ trước đến nay. Nó trải dài dọc theo bờ biển Nam Kỳ. Tàu L'Amphitrite trong chuyến đi lần đầu sang nước Trung Hoa tưởng đã mất mạng ở đó"3 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa, Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Nxb Tri thức, 2002, tr. 19).


Dưới triều Nguyễn, Lý Văn Phức được triều đình cử đi công cán ở Philippines cũng ghi lại một ấn tượng tương tự trong bài thơ Vọng kiến Vạn Lý Trường Sa:

"Vạn Lý Trường Sa là một dải cát trắng từ biển nổi lên, phía Tây tiếp dương phận trấn Quảng Nghĩa, phía Nam giáp dương phận đảo Lữ Tống (Lưu Xông - Philippines), phía Bắc giáp dương phận tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Dằng dặc kéo ngang không thể lường đo được. Ấy là chỗ rất nguy hiểm đệ nhất có tiếng từ xưa đến nay. Tàu thuyền qua đó thường kiêng dè sự không thấy nó. Ấy vì bãi cát ra rất xa. Một khi đi lầm (đi đụng phải) thì không thể trở lại. Ngày 14-5 Nhâm Thìn (năm 1832), thuyền Định Tưng rời khỏi Quảng Nghĩa, đã vào hải phận trấn Bình Định. Trù tính không làm thành một đường thẳng vo, lấy hướng Kim Mão (Đông hơi chếch xế Nam) mà tiến. Không dè trái gió, nước xiết, con thuyền không tiến. Thình lình trưa hôm sau ngóng trông thấy nó, sắc cát lờ mờ, khắp chân trời đều trắng. Tất cả người trên thuyền, trong lòng tưng bừng, nước mắt rưng rưng. Trên thuyền hỏi đà công (người cầm lái) y là một tay lão luyện Tây dương. Nó nói rằng: Lấy thước đạt thiên (lục phân) mà đo thì may thuyền chưa phạm vào chân cát, còn chuyển buồm kịp. Bèn lấy hướng Kim Dậu (Tây) nhằm Quảng Nghĩa mà lùi, may nhờ phước lớn của triều đình về đến cửa biển Thái Cần mà tạm đỗ. Cuối cùng không có việc gì"1 (Hoàng Xuân Hãn, Quần đảo Hoàng Sa, Tập san Sử địa, số 29, Sài Gòn, 1974).


Quần đảo Trường Sa nằm cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý, bao gồm hơn 100 đảo đá, bãi ngầm, bãi san hô nằm rải rác trong phạm vi biển, khoảng từ Vĩ tuyến 6°30' Bắc đến 12°00 Bắc và khoảng từ Kinh tuyến 111°30' đến 117°20' Đông. Đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 200 hải lý, cách điểm gần nhất của đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng gần 600 hải lý và cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý1 (Ban Tuyên giáo Trung ương, 100 câu hỏi đáp về biển, đảo Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thống, H, 2013, tr.35-36 (BBT chú thích)).


Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữ vị trí chiến lược trọng yếu ở vùng Biển Đông, là nơi kiểm soát đường hàng hải quốc tế từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, nơi có thể chi phối an ninh thềm lục địa và đất liền của các nước trong khu vực.

Thấy được tầm quan trọng về vị trí hàng hải và an ninh của các quần đảo này nên từ thế kỷ XVTI - XVIII - XIX, chúa Nguyễn và các triều đại kế tiếp đã lập Đội Hoàng Sa và Bắc Hải để khai thác và bảo vệ các hải đảo ở vùng Biển Đông nước ta.

Cũng vì thế, vào cuối thế kỷ XIX, Toàn quyền Đông Dương Paul Douraer đã cho lập dự án trình lên Bộ Thuộc địa Pháp lập trạm Hải đăng, cho vẽ bản đồ quân sự và địa chất, xây dựng đài khí tượng, thuỷ văn, lập đội biên phòng và trú đóng tại Hoàng Sa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #21 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:06:03 pm »

1- Quá trình khai thác và thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa dưới thời các chúa Nguyễn

Mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tiếp cận với nhiều cửa biển nên đã hình thành một tư duy chính trị hướng ngoại. Đó là việc các chúa chú trọng khai thác kinh tế biển và mậu dịch đối ngoại trong thời kỳ thương mại quốc tế ra đời và phát triển ở thế kỷ XVII-XVIII.


Khai thác kinh tế biển, trước hết các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khai thác nguồn lợi yến sào, hải sản ven lục địa và các hải đảo, trong đó có Hoàng Sa, Côn Đảo mà Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục đã đặc biệt chú ý: "Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập Đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải. Phủ Quy Nhơn thì các cửa biển Tân Quan, Thời Phú, Nước Ngọt, Nước Mặn đều có đảo, nhiều yến sào, lập đội Thanh Châu để lấy. Ngoài biển phủ Bình Thuận thì có núi gọi là Côn Lôn, rộng mấy dặm, cũng có nhiều yến sào. Ở ngoài nữa có núi gọi là Cù Lao Khoai1 (Hòn Khoai nay ờ ngoài khơi mũi Cà Mau), trước có nhiều hải vật và hóa vật của tàu, lập đội Hải Môn để lấy. cửa biển phủ Gia Định có núi gọi là Côn Lôn. Phía ngoài biển trấn Hà Tiên có núi gọi là Đại Côn Lôn2 (Tức đảo Phú Quốc hiện nay. Đảo có diện tích 565km2, cách Hà Tiên 45km), có dân cư"3 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học, H, 1964. tr. 119-120).


Như vậy, ngay từ thời các chúa Nguyễn đã tổ chức khai thác Hoàng Sa, Côn Đảo, Phú Quốc; trong đó Phú Quốc đã có dân cư sinh sống muộn nhất là từ thuở Mạc Cửu khai phá, rồi nhập vào đất Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Chu vào đầu thế kỷ XVIII.

Nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa còn kiêm quản thêm cả đội Bắc Hải, đội này được tuyển từ ngư dân vùng biển ở các tỉnh miền Trung và được chúa Nguyễn cử đi khai thác các đảo phía Nam.

Lê Quý Đôn cho biết: "Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra xứ Bắc Hải, Cù Lao Côn Lòn và các đảo ở xứ Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm; cũng sai Đội Hoàng Sa kiêm quản''1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 124).


Trên cơ sở về những lợi ích của kinh tế biển qua việc khai thác các nguồn lợi của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải, vào đầu thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho quan quân khảo sát để khai thác đảo Trường Sa, sách Đại Nam thực lục tiền biên có ghi chi tiết này vào mùa Hạ, tháng 4 năm Tân Mão (1711) như sau: "Sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu"2 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb sử học, H, 1962, tr.178).


Như vậy, các đảo hiện nay thuộc về lãnh thổ nước ta đã được các chúa Nguyễn lưu tâm từ rất sớm, có thể bắt đầu từ thời chúa Nguyễn Hoàng. Vị chúa này, được Vũ Thì An và Vũ Thì Trung cùng con cháu gốc người Chămpa giúp chiếm lĩnh Hoàng Sa. Sau đó, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), thương gia Nhật Bản Araki Sôtarô lấy công nữ của chúa nên được mang tên Việt là Nguyễn Đại Lương, tự Hiển Hùng, trông coi việc buôn bán với nước ngoài, đã giúp chúa Sãi tổ chức một đội thuyền hàng năm ra Hoàng Sa thu vớt hàng hoá1 (Thệ Thuỷ, Quần đảo Hoàng Sa và đội ghe của các chúa Nguyễn, Huế xưa & Nay, số 29, 1998, tr. 19).


Nhà sư người Trung Quốc là Thích Đại Sán (1633-1704) theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu đến Hội An và Phú Xuân (1694), sau khi về nước đã viết sách Hải ngoại kỷ sự, cũng xác nhận rằng: "Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lươm vàng bạc, khí cụ của thuyền hư tấp vào"2 (Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế. 1963, tr. 125).


Việc khai chiếm Hoàng Sa từ đó được các chúa Nguyễn cho thực hiện liên tục và đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, với tư cách là một tổ chức của nhà nước, chúa Nguyễn đã có kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên phong phú và làm chủ vùng quần đảo này3 (Theo Nguyễn Nhã, việc thành lập Đội Hoàng Sa để khai thác Hoàng Sa và các đảo ở Biển Đông phải có trước hoặc trong thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) [Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ sử học, trường Đại học KHXH & NV Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.66- 67]).


Về sau, chúa Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa, lấy trai tráng ở đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) sung vào thành lực lượng bán quân sự có tính chuyên nghiệp, hàng năm 6 tháng ra Hoàng Sa để khai thác sản vật và thu lượm hoá vật của các con tàu đắm, mang về nộp cho phủ chúa tại Phú Xuân. Điều này, đã được Lê Quý Đôn ghi chép rất cụ thể: "Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ1 (Loại thuyền này do dân chài tự đóng lấy, thuyền có mê (đáy) làm bằng tre đạn, trát phân trâu, quét dầu rái để giữ độ bền và không thấm nước; mạn thuỵền làm bằng gỗ chò hay gỗ sao. 3 cột buồm bằng gỗ kiền kiền, cánh buồm đan bằng lá hình chiếc rìu. Ưu điểm của loại thuyền này nhẹ, chạy nhanh, an toàn), ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiêng cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vằn rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo2 (Nay gần Thuận An), đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về"3 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 123).


Lê Quý Đôn đã sưu khảo được cuốn sổ ghi chép của Thuyên Đức Hầu về những sản vật thu được ở Hoàng Sa vào đầu thế kỷ XVIII như sau:

Năm Nhâm Ngọ (có lẽ 1702) lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân (có lẽ 1704) được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu (có lẽ 1705) được 126 hốt bạc, Năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Quý Tỵ (1713), 5 năm ấy mỗi năm chỉ nhận được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 124).


Sự chuyên nghiệp hóa trong việc khai thác các nguồn lợi từ biển và các đảo đã mang lại một giá trị đáng kể đối với nền tài chính Đàng Trong và lợi ích cho người trực tiếp khai thác, đã nói lên sự đổi thay có tính thực tiễn với nhiều hiệu quả trong tư duy kinh tế biển của các chúa Nguyễn.


Việc khai thác các đảo và vùng biển tuy phương tiện còn thô sơ, chủ yếu dùng thuyền câu, mành lưới và các phương tiện thủ công để gom nhặt sản phẩm. Thu hoạch xong, thuyền đưa về Phú Xuân nộp vào kho nhà nước. Người khai thác nhận bằng như là chứng thực về công lao, hàng năm nộp thuế bằng sản vật theo lệ định, được hưởng một số ưu đãi về thuế khóa. Dù có nhiều hiểm nguy khi gặp bão tố, cướp biển nhưng vì gắn bó với nghề nghiệp lâu đời, đặc biệt là bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, họ sẵn sàng chấp nhận tất cả và xin được phủ chúa cho bám biển.


Hoàng Sa từ đó trở thành máu thịt của người dân Đàng Trong, là nỗi niềm lo âu, chờ đợi của bao nhiêu người ở đất liền khi người thân của họ đang thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở đảo xa:

Chiều chiều ra ngóng biển khơi,
Ngóng ai như ngóng đợi người Hoàng Sa,
Chiều chiều ra ngóng biển xa,
Ngóng ai đi lính Hoàng Sa chưa về.


Đi Hoàng Sa là một nghĩa vụ thiêng liêng của trai tráng ở xã An Vĩnh, tự nguyện "đi lính" cho triều đình, được phiên chế vào Đội Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền cho Tổ quốc hơn là một địa chỉ làm ăn đầy mạo hiểm của cư dân trên đảo Lý Sơn.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #22 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:09:31 pm »

Những người dân xã An Vĩnh luôn tự hào là đã công hiến cho đất nước Đội Hoàng Sa và xem đó như là quê hương của mình, nên đã chọn 70 trai tráng khoẻ mạnh còn đơn thân thay phiên ra Hoàng Sa để giữ gìn, khai thác. Họ xem mình như người nông dân ra đồng để sản xuất, vào rừng để kiếm củi mà không tính toán hơn thiệt, kể cả sinh mạng của mình.


Bởi vậy, một chuyến đi Hoàng Sa dài ngày, ngư dân An Vĩnh của đảo Lý Sơn ngoài chuẩn bị lương thực, nước uống 6 tháng; họ và gia đình còn chuẩn bị hành trang về tinh thần cho một cuộc hành trình về thế giới bên kia mà có thể đến với họ bất cứ lúc nào khi thuyền đã đi ra biển cả bao la. Đó là một đôi chiếu, sợi dây mây, 7 cái đòn tre và chiếc thẻ tre nhỏ ghi tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị để làm vật tin cho đời mỗi khi gặp tai biến.


Thấy được sự hiểm nguy khôn lường của những người con "đi lính" Hoàng Sa nên hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, dân xã An Vĩnh của đảo Lý Sơn làm lễ "tế sống" vì sợ không còn cơ hội gặp mặt người thân trước khi qua đời. Lễ này được thể hiện một cách bi tráng qua lễ "Khao lề thế lính Hoàng Sa" với mong muốn những hình nhân thế mạng trên những chiếc thuyền buồm trong câu chuyện cổ tích1 (Vật liệu của thuyền "hàng mã" làm bằng thân cây chuối, nan tre và giấy) sẽ chết thay cho con em họ, để những người lính Hoàng Sa có đủ nghị lực vượt qua phong ba bão táp yên bình trở về với gia đình.


Câu chuyện muôn thuở bi ai này cho đến hiện nay vẫn còn lưu truyền trong ngư dân ở vùng biển Quảng Ngãi qua câu ca dao:
   "Hoàng Sa trời nước mênh mông,
   Người đi thi có mà không thấy về,
   Hoàng Sa mây nước bốn bề,
   Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa".


Trong Đơn xin của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh, do nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Ngọc sưu tầm ở địa phương, đã phản ảnh khá đầy đủ về quá trình khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa của cư dân xã An Vĩnh:

"Ngày 15 tháng Giêng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775), thần là Hà Liễu, Cai hợp phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh về kho nội thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn, phủ Hòa Nghĩa.

Mong đội ơn trên: Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có Đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1691) Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được lập hai đội nữa là Đại mạo hải ba và Quế Hương hàm với nhân số là 30 người. Hàng năm thường nộp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723) vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thỉ nộp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung thêm dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và phải chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ chúng tôi lập hai Đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tim nhặt các hạng vật đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng theo sở nguyện chắng dám kêu ca. Chúng tôi xin cúi đầu mong ơn.
Thân (xét) chuẩn cho"1 (Nguyễn Quang Ngọc, Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2001, tr. 33-34).

Song song với khai thác và xác lập chủ quyền, các chúa Nguyễn rất chú trọng đến việc bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải; bảo vệ tài nguyên và tính mạng của người khai thác biển.

Các cửa biển và bán đảo gần bờ đều có quân đội trú phòng; còn ở các đảo xa như Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc thì người khai thác biển được quân sự hóa trở thành người lính chiến đấu để bảo vệ đảo, bảo vệ tài nguyên và tính mạng của mình. Điều này, đã thể hiện trong tờ đơn trình của Cai hợp Hà Liễu của Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, gửi cho phủ chúa vào năm 1776: "Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm"2 (Nguyễn Quang Ngọc, Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa và Trường Sa trong sách Phủ biên tạp lục, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5, 2001, tr. 33-34).


Do quá trình khai thác lâu đời nên Hoàng Sa, Trường Sa mặc nhiên trở thành lãnh thổ của đất Đàng Trong; được nhà Thanh tôn trọng và được bảo vệ, che chở, cứu hộ những người Việt khai thác ở các đảo này mỗi khi bị lâm nạn trên biển. Lê Quý Đôn đã ghi lại một chi tiết đáng lưu ý:

"Hoàng Sa chính gần phủ Liêm châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: Năm Càn Long thứ 18 (tức năm 1757) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai Cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu làm thư trả lời"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr. 123-124).


Văn bản ngoại giao này, đã cung cấp cho chúng ta một minh chứng lịch sử quan trọng là nhà Thanh đã công nhận chủ quyền của vùng đảo Hoàng Sa là thuộc về chúa Nguyễn. Nhà Thanh chỉ tham gia về những hoạt động nhân đạo cứu hộ, cứu trợ khi thuyền nhân gặp nạn và trao trả lại cho nước chủ quản mà không đòi hỏi một điều kiện nào.


Để làm chủ vùng biển và tạo thuận lợi cho nhân dân khai thác kinh tế biển, các chúa Nguyễn rất chú trọng việc bảo vệ trị an vùng biển, chống ngoại xâm, tích cực chống cướp biển để bảo vệ tài sản, tính mạng cho nhân dân.

Cùng với việc mở đất Đàng Trong, các chúa Nguyễn còn chú trọng mở rộng tầm kiểm soát và khai thác vùng biển bằng các nguồn lợi kinh tế của biển và hải đảo. Ý thức này không những làm cho Đàng Trong phát triển toàn diện về lãnh thổ, lãnh hải, tạo nên một tiềm lực kinh tế và quân sự mà còn trở thành ý thức chủ quyền mạnh mẽ, một di sản quý báu cho muôn đời sau1 (Đỗ Quỳnh Nga, Công cuộc mở mang lãnh thổ Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ sử học, Trường Đại học Khoa học Huế. 2007, tr. 9).
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #23 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:16:52 pm »

2- Dưới thời Tây Sơn.

Dưới thời Tây Sơn, việc khai thác và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn được tiến hành thường xuyên. Điều này, đã được thể hiện trong lá đơn của Cai hợp Hà Liễu ở phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Hoà Nghĩa (tên phủ được đổi dưới thời Tây Sơn tức Quảng Ngãi) trình lên chính quyền Tây Sơn vào ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775) như đã nêu ở trên.


Cũng tại nhà thờ họ Võ còn lưu lại bản Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quân binh dân chư vụ Thượng tướng công "Sai Hội Đức hầu, Cai Đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thuỷ quân, cỡi 4 thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ Cù Lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý... đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý, hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều phải trị tội".


Ngoài ra, còn có bản Ngự phê Hoàng đế Tây Sơn cho lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được Thánh chỉ ban thưởng vàng và Châu phê "Chuẩn cho"1 (Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, trong sách "Tây Sơn - Thuận Hoá và anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung", Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế, Nxb Chính trị quốc gia, 2009, tr. 271).


Trong một chuyến du hành đến nước ta vào năm 1792-1793, J. Barrow cũng xác nhận việc khai thác yến sào tại quần đảo Hoàng Sa của chính quyền Tây Sơn:

"Những tàu thuyền này được dùng trong công việc buôn bán ở vùng duyên hải và đánh cá. Và những tàu thuyền thu lượm giống Trepan (hải sâm) và những tổ chim yến trong quần đảo có tên gọi là Paracels (Hoàng Sa) thuộc nhiều loại mô tả khác nhau"2 (J.Barrow, Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), Bản dịch Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb Thế giới, H, 2008, tr. 92).


Hơn các triều đại trước và sau đó, chính quyền Tây Sơn (triều Quang Trung và Cảnh Thịnh) còn sử dụng cả số người gọi là "Tàu ô", "Tề ngôi" được phong là Đông Hải vương với chức Thông binh như Trần Thiên Bảo, Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh, Phan Văn Tài cai quản, bảo vệ an ninh vùng Biển Đông cho Tây Sơn để theo dõi tình hình nhằm chống lại nhà Thanh, quân của Nguyễn Ánh và hải tặc1 (Nguyễn Quang Ngọc, Biển Đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn, Sđd, tr. 265-266).


Kế thừa những thành quả của các chúa Nguyễn, triều đại Tây Sơn tiếp tục thực thi chủ quyền và khai thác Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Nếu gọi lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII gắn với cuộc "Nam tiến" được các chúa Nguyễn khởi động mạnh mẽ là đúng nhưng không đầy đủ. Đây còn là thời kỳ "Đông tiến" mang tính đột phá, đất nước ta từ đó mới có lãnh hải, nhân dân ta dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn từ đó đã vươn ra làm chủ biển, đảo, trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa, một bộ phận thân yêu của Tổ quốc gắn với vận mệnh dân tộc hơn 4 thế kỷ qua.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #24 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:18:22 pm »

QUÁ TRÌNH XÁC LẬP VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TRÊN QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ
(Tạp chí LSQS, số 9, 10-2011)

TRẦN NAM TIẾN**
(PGS, TS, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)


Quần đảo Trường Sa nằm về phía Đông Nam của Biển Đông, gồm trên một trăm đảo, đá, bãi cạn, cồn san hô và bãi ngầm, ở khu vực biển trong vĩ độ 6°30'B-12°00'B và kinh độ 111°30'Đ-117°20'Đ trên vùng biển rộng khoảng 180.000km2, cách cảng Cam Ranh (Việt Nam) khoảng 250 hải lý, được chia thành 8 cụm đảo (Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm và Bình Nguyên). Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10km2, trong đó Ba Bình là đảo lớn nhất (khoảng 0,5km2), Song Tử Tây là đảo cao nhất (khoảng 4-6m).


Khu vực biển quần đảo Trường Sa án ngữ có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực. Có năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông, bao gồm các con đường từ Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuyê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, New Zealand, con đường hàng hải Bắc Thái Bình Dương từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á, con đường từ Đông Á đến Úc và New Zealand, và từ Đông đến Trung Đông1 (Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật Biền ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004, tr. 161.). Nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc... phụ thuộc sống còn vào các tuyến hàng hải này.


Về tài nguyên thủy sản, quần đảo Trường Sa là nơi có lượng tài nguyên phong phú. Tại vùng biển Trường Sa, qua khảo sát bằng lưới rê, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được 18 họ hải sản với 32 giống và 37 loài, và bằng câu vàng xác định được 9 họ hải sản với 13 giống và 14 loài cá, trong đó có các họ cá có giá trị kinh tế cao như cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá thu ngàng. Cùng với tài nguyên thủy sản, vùng nước quần đảo còn là nơi có trữ lượng san hô lớn, có thể dùng sản xuất ra các sản phẩm mỹ nghệ và sử dụng trong lĩnh vực y học. Bên cạnh đó, khu vực đáy biển thuộc quần đảo Trường Sa còn chứa đựng một trữ lượng dầu khí được đánh giá là rất lớn và các mỏ khoáng sản sunphát đa kim, kết cuội sắt mangan. Theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu địa chất của Nga năm 1995 thì khu vực quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu khoảng 6 tỷ thùng, trong đó khí chiếm khoảng 70%.


Với những điều kiện nêu trên, quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược về quốc phòng, là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Theo các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 mà nước ta là một thành viên, quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên một vùng biển rộng gấp rất nhiều lần diện tích lãnh thổ đất liền; kiểm soát các tuyến hàng hải, làm chủ các vị trí chiến lược về quốc phòng cũng như các tài nguyên biển và lòng đất dưới đáy biển. Tuy nhiên, hiện nay quần đảo Trường Sa, một phần lãnh thổ của Việt Nam, hiện đang bị một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực yêu sách chủ quyền. Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia đòi hỏi chủ quyền mà còn thu hút sự quan tâm của các cường quốc và là yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định trên Biển Đông.


Bài viết này, thông qua các tài liệu, tư liệu lịch sử đã có sẽ phục dựng toàn bộ quá trình xác lập, khẳng định và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa qua các thời kỳ lịch sử, góp phần tạo thêm cơ sở cho việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam hiện nay.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #25 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:22:01 pm »

1- Quá trình khám phá, khẳng định và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa dưới thời các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII).

Trong hơn 2 thế kỷ, từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm ở Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa (bãi cát dài vạn dặm) hay còn gọi là Đại Trường Sa (bãi cát dài lớn) hay còn gọi là Cát (Kát) Vàng hay Hoàng Sa (Hoàng có nghĩa là Vàng, Sa có nghĩa là Cát). Vào đầu thế kỷ XIX, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ tuy có ghi Hoàng Sa ở phía Bắc và Vạn Lý Trường Sa ở phía Nam của Biển Đông, song hai quần đảo vẫn được vẽ trong một dải kéo dài liên tục từ Bắc xuống Nam, chưa thật sự có sự phân biệt rõ rệt như người Pháp sau này thể hiện ý muốn cho thấy Vạn Lý Trường Sa (tức phần phía Nam) thuộc về Nam Kỳ thuộc xứ thuộc địa, trong khi Hoàng Sa ở Trung Kỳ lại thuộc xứ bảo hộ. Quan niệm trên cũng giống quan niệm của các nhà hàng hải phương Tây khi trong các bản đồ do họ vẽ suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, tên gọi là Parcel, Pracel hay Paracels đều chỉ một dải dài các hải đảo ở Biển Đông dọc theo bờ biển miền Trung của Đại Việt1 (Theo Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luận án Tiến sĩ lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002).


Cho đến nay, tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được có liên quan đến chủ quyền Việt Nam ở vùng Biển Đông là quyển Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII (1686). Trong quyển này, tác giả Đỗ Bá đã mô tả những quần đảo này rất chính xác và xác nhận rằng chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII. Đoạn trích dịch như sau: "Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là "Bãi Cát Vàng", dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển thường bị đắm giạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị đắm trôi giạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo. Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày"1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d'histoire et de géographie, Sài Gòn, 1974, tr. 39-40). Theo nhận định của tác giả Võ Long Tê, quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển Hồng Đức bản đồ2 (Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460-1497)).


Thực tế cho thấy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Nhân dân ta đã di cư đến sống trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sinh hoạt và tiến hành khai thác các tài nguyên quanh đảo trong một thời gian dài. Lúc này, danh từ Bãi cát vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác từ lâu, trước khi chính quyền chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo. Người dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII, qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này, trong đó có quần đảo Trường Sa.
   Trong các tài liệu, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Trường Sa. Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam (bây giờ là vùng đất thuộc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định). Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều tài liệu của chính quyền các chúa Nguyễn để lại. Trong quyển 2 của Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã xác định một cách rõ ràng vị trí của "Đại Trường Sa gần xứ Bắc Hải". Mà Côn Lôn với Hà Tiên cũng thuộc phạm vi hoạt động của Đội Bắc Hải. Như thế, Đại Trường Sa hay Hoàng Sa vào cuối thế kỷ XVIII kéo dài đến phía Nam của Biển Đông, tức vị trí của Trường Sa hiện nay. Cuốn Tây Sa văn vật do Viện Bảo tàng tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) biên soạn và Nhà xuất bản Bác Vật tại Bắc Kinh xuất bản năm 1975 cũng xác định rằng "Bắc Hải là vùng quần đảo Nam Sa", tên Trung Quốc chỉ Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt, trong quyển 2 của Phủ biên tạp lục có 2 đoạn văn đề cập đến việc chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải:
   "... Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi xát quanh, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.
   Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt Đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào Cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ, lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ 5 năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.
   Họ Nguyễn lại đặt Đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tư Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai Đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được"1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của Viện sử học, Nxb Khoa học xã hội. H, 1977, tr. 119-120).
   Đoạn trích trên cho thấy việc khai thác hai quần đảo của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế kỷ XVII sang đến cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được tổ chức có hệ thống. Các thuỷ thủ do Nhà nước tuyển dụng, hưởng bổng lộc của Nhà nước, giấy phép và lệnh ra công tác do Nhà nước cấp. Như vậy, vào thời điểm này, Trung Quốc cũng như các nước khác ở Đông Nam Á không có bằng chứng nào minh chứng họ quan tâm đến việc xác lập chủ quyền của Nhà nước trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó, suốt trong thời gian từ thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII, một tổ chức dân binh Việt Nam, Đội Hoàng Sa đã hoạt động tại Hoàng Sa và Trường Sa, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên ở các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay cả các sách sử Việt Nam và cả của Trung Quốc đều chép Đội Hoàng Sa được thành lập vào đầu thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, kiêm lãnh việc khai thác và thực thi chủ quyền ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (Trung Quốc) viết năm 1696, chép thời Quốc Vương trước đã có những hoạt động của đội "Hoàng Sa". Như vậy, Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kỳ chúa Nguyễn, cả thảy 7 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi1 (Theo Nguyễn Q. Thắng, "các hải đội này được thành lập từ đời Nguyễn Phước Trăn (1687-1765) và có thể từ trước nữa - mà sau này chúng ta được biết qua Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán cùng các tư liệu của các giáo sĩ và thương gia phương Tây". Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Nxb Tri thức, H, 2008, tr. 129).
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #26 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:23:23 pm »

Đội Hoàng Sa là đội dân binh do Nhà nước lập ra và quản lý. Nhà nước, lúc bấy giờ là các chúa Nguyễn, bổ nhiệm chỉ huy đội kiêm chức vụ cai đồn cửa biển Sa Kỳ cùng chức thủ ngự, trông coi bắt giặc cướp biển, quản lý Biển Đông. Thông qua các sách sử để lại, Đội Hoàng Sa ngoài nhiệm vụ khai thác và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, còn kiêm quản cả Đội Bắc Hải hoạt động trong khu vực phía Nam của Biển Đông tức quần đảo Trường Sa và vùng phụ cận. Đội Hoàng Sa mở rộng phạm vi hoạt động khắp các đảo san hô ở Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và kiêm quản Đội Bắc Hải ở Trường Sa bây giờ. Nếu các đảo phía Bắc gần phủ Liêm Châu, Hải Nam (Trung Quốc) thì các đảo ở phía Nam tiếp tới là Côn Lôn, Hà Tiên. Dù chính Đội Hoàng Sa không đủ lực lượng tự mình đi khắp nơi song lại kiêm quản các đội khác (như Đội Bắc Hải) thì phạm vi hoạt động rõ ràng rất rộng, khắp các đảo trong Biển Đông chạy dài ngoài khơi dọc các tỉnh miền Trung Bộ Việt Nam khoảng Quảng Trị, Thừa Thiên, từ phía Tây Nam đảo Hải Nam xuống tới vùng Trường Sa hiện nay.


Riêng về quản lý quần đảo Trường Sa, bên cạnh Đội Hoàng Sa quản lý chung, chúa Nguyễn đã tổ chức Đội Bắc Hải đi tìm kiếm hải vật ở khu vực Bắc Hải, tức khu vực quần đảo Trường Sa và cả Côn Đảo, Hà Tiên cũng ở phía Nam của Đại Việt. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn và đến Đại Nam nhất thống chí (khởi soạn 1848, in năm 1910) của Quốc sử quán triều Nguyễn đều khẳng định "Đội Bắc Hải, khiến Đội Hoàng Sa kiêm quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật". Quá trình Đội Bắc Hải hoạt động cũng bắt đầu từ lâu, trước cả khi Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ra đời (1776). Như vậy, sớm nhất từ khi lãnh thổ Đại Việt mở rộng tới đất Bình Thuận vào khoảng năm 1697, Đội Bắc Hải đã ra đời do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều đội khác cũng có chức năng và nhiệm vụ như Đội Bắc Hải được thành lập, vì chính quyền chúa Nguyễn dần dần tìm ra các đảo san hô hết sức rộng ở Biển Đông. Song các chúa Nguyễn vẫn để Đội Hoàng Sa kiêm quản để có một đầu mối, để có thể dễ dàng nắm tình hình ở Biển Đông.


Về tên gọi, nhiều người thắc mắc: tại sao Đội Bắc Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là những vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. sử gia Võ Long Tê có giải thích rằng Bắc Hải theo nghĩa chữ nho cũng có thể là "xa xôi". Như vậy "Bắc Hải" có thể hiểu là vùng biển xa xăm1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 134, 61). Nghĩa thứ hai mà ta có thể giải thích là Đội Bắc Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những đảo ở phía Nam. Vì quyển Phủ biên tạp lục có ghi rằng Đội Bắc Hải hoạt động ở "vùng Biển Bắc, những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà Tiên và Cồn Tự"2 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 134, 61). Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu là hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không có sự phân chia vùng hoạt động riêng biệt. Theo như ghi chép trong Phủ biên tạp lục thì sự phân chia giữa hai đội là ở sản vật được khai thác: Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn Đội Hoàng Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc... do tàu đắm để lại. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của các hải đội này là tuần tra, do thám, đo đạc thủy trình trên Biển Đông, nhất là bảo vệ mặt biển Tổ quốc3 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Sđd, tr. 129).


Để chỉ huy Đội Hoàng Sa, người chỉ huy phải là vị quan lớn như cai đội Thuyên Đức Hầu. Các vị quan này đã được Lê Quý Đôn tra cứu sổ sách suốt từ 1702 (Nhâm Ngọ) đến 1713 (Quý Tỵ). Thuyên Đức Hầu đã được phong tước hầu. Hoặc như Phú Nhuận Hầu cũng thế, trong tờ trình ngày 1 tháng 10 năm Gia Long thứ 2 (1803) đã kiêm luôn "khâm sai cai thủ" cửa biển Sa Kỳ, kiêm chức "cai cơ thủ ngự", kiêm quản Đội Hoàng Sa (tờ kê trình của Phú Nhuận Hầu được lưu giữ tại Nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, nay là thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Khâm sai cai thủ là chức trông coi cửa biển, Thủ ngự là tổ chức tuần tra, chống trộm cướp thời Nguyễn. Chính Phú Nhuận Hầu được giao nhiều chức vụ quan trọng. Cũng từ đó có uy tín để kiêm quản các đội khác như Đội Bắc Hải.


Đội Bắc Hải tuy không được chính quyền chúa Nguyễn coi trọng như Đội Hoàng Sa, song đội vẫn do Nhà nước quản lý, trực tiếp do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Về mặt tổ chức, Đội Bắc Hải không định trước bao nhiêu suất, số lượng tùy theo tình hình khả năng các thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận hay làng Cảnh Dương, tình nguyện và được cấp văn bằng và sai phái đi hoạt động. Quyền lợi cũng như đội khác, được miễn sưu cùng các thứ tiền lặt vặt như tiền đi qua đồn tuần, qua đò; không thấy miễn tiền thuế. Phương tiện hoạt động của Đội Bắc Hải cũng dùng thuyền tài nhân, thuyền câu; phạm vi hoạt động ở phía Nam, ở quần đảo Trường Sa ngày nay và cả Côn Đảo, Hà Tiên.


Lê Quý Đôn còn cho biết thêm rằng, sở dĩ Nhà nước sai chức cai Đội Hoàng Sa kiêm quản đốc Đội Bắc Hải này vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, tức là những hàng đồi mồi, hải ba, đôn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quý ngư, còn những vàng bạc và các của cải quý báu khác (như súng ống) thì ít khi họ tìm kiếm được1 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của Viện Sử học, Sđd, tr. 120). Do đó, các chúa Nguyễn đã để cho cai Đội Hoàng Sa kiêm quản Đội Bắc Hải. Thực tế, các sản vật quý, trong đó có vàng bạc hay súng ống, mới là mối quan tâm của các chúa Nguyễn, mà những thứ sản vật ấy chỉ có được do các tàu đắm. Vả lại, Đại Trường Sa ở phía Nam, tức Trường Sa hiện nay, ít nguy hiểm hơn đối với các tàu biển vì vùng này ít xảy ra bão, nên quy mô của Đội Bắc Hải cũng không lớn bằng Đội Hoàng Sa.


Các tài liệu của nhà Nguyễn tiếp tục nhắc đến hoạt động của Đội Bắc Hải. Đại Nam thực lục tiền biên (soạn xong năm 1844) chép rằng Đội Bắc Hải mộ dân thôn Bình Thuận, Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo ở Bắc Hải lượm hoá vật, cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Đại Nam nhất thống chí quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi, soạn xong năm 1882, cũng còn viết "Đội Bắc Hải ra đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật cũng do Đội Hoàng Sa kiêm quản". Tuy nhiên, không có tài liệu nào cho biết Đội Bắc Hải ngưng hoạt động lúc nào, trước hay sau Đội Hoàng Sa.


Khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra (1771), chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định, thì Đội Hoàng Sa đặt dưới quyền kiểm soát của Tây Sơn. Trong tài liệu còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Võ tại phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, cho biết: năm Thái Đức thứ 9 (1786), dân Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại. Chứng cứ còn để lại là tờ đơn của ông Hà Liễu gửi cho chính quyền Tây Sơn đề ngày 15 tháng Giêng năm cảnh Hưng thứ 36 (1775) và Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) của Thái Phó Tổng lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công gửi cho cai Đội Hoàng Sa đi thuyền ra quần đảo Hoàng Sa1 (Xem: Nguyễn Nhã, Các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XVII đến khi thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nxb Thế giới, H 2008). Đến những năm cuối cùng của triều Tây Sơn, hoạt động của Đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưỏng, các hoạt động không còn thường xuyên như trước, sau đó thì ngừng hoạt động hẳn2 (Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa - Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế, Sđd, tr. 130).
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #27 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:26:06 pm »

2- Quá trình khẳng định và thực thi chủ quyền của nhà Nguyễn ở quần đảo Trường Sa (thế kỷ XIX).

Chủ quyền ở quần đảo Trường Sa tiếp tục được các vua nhà Nguyễn khẳng định trong thế kỷ XIX. Các bộ sử lớn của triều Nguyễn như: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí (1833), đều ghi chép việc chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cả các đảo khác nữa: Đội Thanh Châu phụ trách các đảo ngoài khơi Quy Nhơn khai thác tổ chim yến, Đội Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng Sa chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức Đội Bắc Hải thuộc Đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa ở phía Nam trong đó có quần đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam3 (Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, Nxb Sự thật, H, 1982, tr. 13-14). Nhìn chung, nội dung về Hoàng Sa và Trường Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.


Đại Nam thực lục tiền biên (soạn năm 1821, khắc in năm 1844), tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Việt sử cương giám khảo lược quyển IV của Nguyễn Thông (1877) cho biết: ở buổi quốc sơ thường kén những đinh tráng hai hộ An Hải và An Vĩnh. Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (soạn xong năm 1882, soạn lại lần 2 và khắc in năm 1910) xác định Hoàng Sa, thuộc tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải do Đội Hoàng Sa kiêm quản. Trong Quốc triều chính biên toát yếu, quyển III của Quốc sử quán triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng, có 3 đoạn văn liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Ngoài ra, các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam1 (Theo Nguyễn Nhã, Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tlđd). Dưới thời nhà Nguyễn, những hoạt động liên tục, định kỳ của thủy quân, cụ thể bắt đầu từ năm 1816, tại quần đảo Hoàng Sa mà như ta đã biết thời kỳ này Hoàng Sa và Trường Sa là một. Đó là những việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ của thủy quân, việc cắm mốc chủ quyền, dựng bia thành lệ hàng năm đến từng hòn đảo. 


Có thể nói, vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, vua Gia Long, đã củng cố thêm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Thực ra, trước khi lên ngôi Hoàng đế năm 1802, Nguyễn Anh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông, trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa. Năm Gia Long năm thứ 2 (1803), nhà vua đã cho Đội Hoàng Sa hoạt động trở lại như Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXII đã ghi rõ: "Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Năm 1816, vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam. Đoạn trích sau đây trong bộ Đại Nam thực lục chính biên chứng minh điều này: "Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời vua Gia Long (1816) ra lệnh cho lực lượng hải quân và Đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình". Sự khẳng định chủ quyền hai quần đảo dưới triều vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây. Bài của M.A. Dubois de Jancigny viết như sau: "... Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một dải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ"1 (M.A. Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và sự mô tả các dân tộc, các tôn giáo của họ, Ceylan (1830), Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr.168). 


Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long. Chaigineau đã viết trong hồi ký Le memoire sur la Cochinchine: "Chỉ đến năm 1816, đương kim Hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy"1 (Salles. J.-B. Chaigneau et sa famille; Le Mémoire sur la Cochinchine de Jean-Baptiste Chaigneau, Volume 23, 1923, p. 424-427). Giám mục Taberd cũng viết: "Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia Long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam". Có thể nói, những người phương Tây trên không phải là những nhà nghiên cứu nên chỉ ghi nhận sự kiện trước mắt, đương xảy ra, chứ không biết quá khứ từ lâu việc thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam như thế nào.


Sang thời Minh Mạng (1820-1840), việc đo đạc thủy trình được tiếp tục đẩy mạnh. Song song với việc đó, Minh Mạng cũng rất chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động khẳng định chủ quyền của nhà Nguyễn trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông. Công việc đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển, được xem là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công, cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có vùng biên Hoàng Sa lớn. Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa lớn do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám thành, với địa phương Quảng Ngãi và Đội Hoàng Sa. Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa cũng được quy định rất rõ ràng, có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221 như sau: "Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tưng vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thắng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm".


Như vậy, bắt đầu từ thời Minh Mạng, lực lượng thủy quân hàng năm đã đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa để vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, tổ chức nhiều các hoạt động khác... Lực lượng làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một "lực lượng đặc nhiệm" gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương, trong có dân binh Đội Hoàng Sa. Kinh phái đứng đầu là thủy quân cai đội hay thủy quân chánh đội trưởng chỉ huy cùng với lực lượng thủy quân lấy trong Vệ Thủy quân đóng ở Kinh thành hay ở cửa Thuận An. Ngoài thủy quân kinh phái còn các viên giám thành trong Vệ giám thành, là những chuyên viên vẽ bản đồ như đã trình bày ở trên. Tỉnh phái là các viên chức ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiệm vụ phối hợp với kinh phái trong công tác hướng dẫn, cung cấp dân công, lo xây dựng, đồng thời còn điều động binh dân ở tỉnh Quảng Ngãi, có khi gồm cả dân binh tỉnh Bình Định. Nhiệm vụ của "lực lượng đặc nhiệm" luôn được Minh Mạng theo sát và ra chỉ dụ cụ thể. Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi1 (Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Trường Sa, mảnh đất thiêng của Việt Nam - Kỳ 1: Đội Bắc Hải (xem ghi địa chí bài viết của tác giả có nêu)).
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #28 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:27:47 pm »

Dưới thời Minh Mạng, các chuyến đi công tác ra Hoàng Sa được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có Vệ Thủy quân là chính phối hợp với Vệ Giám thành, và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Dưới triều vua Minh Mạng, lực lượng thủy quân được tổ chức quy củ, có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa2 (Nhiều tác giả, Biển Đông và hải đảo Việt Nam, Nxb Tri thức, H, 2010, tr. 81). Trong các chuyến đi đó, mỗi cột mốc ở đây đều có khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy "lực lượng thủy quân đặc nhiệm" được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ. Nếu chỉ tính sử sách có ghi rõ tên những người chỉ huy đội thủy quân đặc nhiệm của các năm cụ thể thời Minh Mạng như Cai đội thuyền Phạm Văn Nguyên năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Thủy sư suất đội Phạm Văn Biện năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thì số đảo được đánh mốc cũng rất đáng kể. Mỗi thuyền 10 bài gỗ. Mỗi năm 4, 5 thuyền có thể cắm mốc tối đa 40, 50 cột mốc tại các đao, song rất khó tổng kết trên thực tế cắm cột mốc được ở trên bao nhiêu đảo1 (Nhiều tác giả, Biển Đông và hải đảo Việt Nam, Nxb Tri thức, H, 2010, tr. 82).


Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng, rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 104, đã viết: "Tháng tám mùa Thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)... vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời"2 (Vụ Thông tin và Báo chí - Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, H, 1979, tr. 21). Năm sau, vua Minh Mệnh lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 122, ghi nhận điều này: "Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh: ... vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ..."3 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens Ơhistoire et de géographie, Sđd, tr. 100).


Đến năm 1835 công việc xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154: "Tháng sáu mùa Hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: "Vạn lý Ba Bình" (muôn dặm sóng yên). Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ Đông, Tây, Nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía Bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về"1 (Vụ Thông tin và Báo chí - Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trưởng Sa, H, 1979, tr. 21).


Theo Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 165, vua nhà Nguyễn không những quan tâm đến việc khai thác đảo mà còn nhận thức được vị trí chiến lược của hai quần đảo, xem chúng là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và tổ chức cả một chương trình dài hạn để củng cố biên cương đó:

"Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa Xuân, tháng Giêng, ngày mồng 1... Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu.

Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tưng tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình". "Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ"1 (Võ Long Tê, Les archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens đhistoire et de géographie, Sđd, tr. 25).


Trên cơ sở đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ của triều dinh vua Minh Mạng. Qua những hoạt động trên, có thể thấy, chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã tiếp tục được thực thi bởi các vua nhà Nguyễn. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải được giao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần tiễu, đi lấy kích thước đảo để vẽ bản đồ, thăm dò địa hải, vẽ thuỷ trình... Những đội này cũng có nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo1 (Gutzlaff, Geography of the Cochichinese Empire in Journal of the Geographical Society of London, 1849, tập XIX. Viện dẫn trong sách "Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam", Nhà xuất bản Sự thật, Sđd, tr. 16. Trong đo, Gutzla.ff có viết: "Chính phủ An Nam thấy đặt một hạn ngạch thuế thi có thể thu được nhiều lợi bèn lập những trưng thuyền và một trại quản nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo Paracel, mà tác giả gọi là KatVang) để thu thuế mà mọi người tới đây đều phải nộp...".). Trên cơ sở đó, từ thời vua Minh Mạng năm thứ 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp tục. Sau đó, đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lộ sách Đại Nam thực lục chính biên thời Tự Đức những việc đã thành lệ rồi thì không còn chép nữa. Các hải đồ về Hoàng Sa và Trường Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở Vệ Giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4-7-1885 và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Kinh thành bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ quý giá về Hoàng Sa và Trường Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng. Chúng ta chỉ biết chắc từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ đưực một bản đồ chung về Hoàng Sa.


Trên thực tế, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động dưới sự quản lý của nhà Nguyễn cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858). Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời chúa Nguyễn, trải qua các triều vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ, hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là những hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức nhằm thực thi chủ quyền đầy đủ của mình trên quần đảo Trường Sa. Những hoạt động này, kéo dài từ thời các chúa Nguyễn sang các vua Nguyễn mà không có một lời phản đối của Trung Quốc thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự thực thi chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.


Như vậy, chủ quyền của Việt Nam được thể hiện rõ bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ dưới thời các chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII, và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới thời các vua nhà Nguyễn trong suốt thế kỷ XIX. Tất cả những minh chứng trên đã cho thấy Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII. Quyền này lại được củng cố thêm dưới thời các vua nhà Nguyễn. Trước thời Minh Mạng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xem như một quần đảo, nên gọi hai quần đảo là Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn lý Trường Sa. Tuy nhiên, sau khi các đoàn công tác được vua Minh Mạng ra lệnh lấy kích thước và thám sát cả hai quần đảo, thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản Đại Nam nhất thống toàn đồ), mối ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho hai quần đảo. Có thể nói, những hoạt động liên tục hàng năm của đội Bắc Hải thời chúa Nguyễn và đầu thời nhà Nguyễn, cũng như những hoạt động của thủy quân trong suốt triều Nguyễn đã chứng minh một cách hùng hồn: quần đảo Trường Sa không phải là đảo vô chủ. Do đó, chúng ta có thể khẳng định, Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa trong một thời gian rõ ràng và xuyên suốt.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 674



« Trả lời #29 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2026, 08:30:00 pm »

3- Quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay.

Sau khi thực dân Pháp thiết lập được ách đô hộ ở Việt Nam, nhân danh Vương quốc An Nam theo Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 cũng như Hiệp ước Patenôtre năm 1884, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Trường Sa trong tình trạng không có nước nào chiếm hữu. Sau đó, Bộ Ngoại giao Pháp đã có một thông tri đăng Công báo Pháp ngày 26-7-1933 về sự chiếm hữu đảo Spratley ngày 13-4-1930 và các đảo Aboine, Itu-Aba, Loai Ta, Thị Tứ và các đảo phụ cận từ ngày 7-4-1933 đến ngày 12-4-1933. Như vậy, cho đến trước năm 1933, khi chưa có nước nào, kể cả Trung Quốc đặt vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, chính quyền Pháp ở Việt Nam đã tổ chức chiếm hữu quần đảo Trường Sa (Spratley).


Về phía Trung Quốc, năm 1907, Trung Quốc chỉ mới bắt đầu tranh chấp với Nhật ở quần đảo Pratas. Đến năm 1909, Trung Quốc mới khảo sát trái phép theo phương thức cổ truyền phương Tây chỉ với đảo Hoàng Sa hay Paracels mà Trung Quốc cho là vô chủ. Thực ra, lợi dụng Việt Nam bị mất quyền tự chủ trong thời kỳ Pháp đô hộ, theo Hiệp ước Patenôtre năm 1884, quyền ngoại giao với nước ngoài do người Pháp đảm trách, chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) lấy cớ các đảo ở biển Nam Hải vô chủ, đã tổ chức chiếm hữu bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn chủ quyền của Việt Nam vốn đã từ lâu. Lúc này, Trung Quốc chưa có hành động nào đối với quần đảo gọi là Nam Sa hay Trường Sa của Việt Nam. Thực tế cho thấy, trước năm 1909, chưa hề có một bản đồ nào của Trung Quốc ghi tên Tây Sa và Nam Sa. Cuốn sách Trung Quốc địa lý giáo khoa thư do Thượng Hải Thương vụ An Thư quán, xuất bản năm 1906 ghi điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam như sau: "Phía Nam bắt đầu là Vĩ độ 18°13B lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút". Cho đến tháng 4-1935, mới xuất hiện địa danh Nam Sa trên bản đồ, song lúc ấy tên gọi Nam Sa chỉ là dùng để gọi bãi đá ngậm Macclessfield (tức Trung Sa).


Thực hiện sự chiếm hữu đối với quần đảo Trường Sa như trên đã nêu, thực dân Pháp sáp nhập Trường Sa vào đất thuộc địa Nam Kỳ, lúc này chỉ có ý nghĩa là tái xác lập chủ quyền vốn đã có từ lâu đời của Việt Nam mà Pháp chiếm làm thuộc địa. Suốt thời gian từ năm 1927 đến năm 1945, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã thường xuyên tổ chức khảo sát, khai thác ở quần đảo này. Chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đều thực hiện trách nhiệm quản lý vùng Biển Đông trong các thời kỳ chủ quyền bị xâm phạm cũng luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa1 (Ngày 31-3-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản ra tuyên bố Nhật Bản kiểm soát quần đào Trường Sa. Tuyên bố chuyển tới Đại sứ Pháp tại Nhật bằng một thông điệp khẳng định rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo Trường Sa vào năm 1917. Ngày 4-4-1939, Bộ Ngoại giao Pháp gửi một công hàm phản kháng quyết định của Nhật và khẳng định các quyền của Pháp. Pháp được Anh ủng hộ trong cuộc tranh luận ngày 5-4-1939 tại Hạ nghị viện, dại diện Bộ Ngoại giao Anh đã khẳng định chủ quyền quần đảo Trường Sa trọn vẹn thuộc nước Pháp).


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chấm dứt chế độ thuộc địa và kết thúc sự tồn tại của triều đình Huế, khiến cơ sở pháp lý của các Hiệp ước Giáp Tuất 1874 và Patenôtre năm 1884 không còn giá trị2 (Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, có một thời gian ngắn Trường Sa bị Nhật dùng vũ lực trái phép đem quân chiếm đóng (sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945). Cuối 1946 qua năm 1947, cũng trong một thời gian ngắn, lợi dụng thời gian tranh tối tranh sáng, quân đội Trung Hoa Dân quốc lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã đến chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Aba) vốn bị Nhật chiếm vài năm trước đó. Song đến đầu năm 1950, quân Trung Quốc đã rút. Sau đó đến năm 1956, cũng lợi dụng tình hình, Trung Hoa Dân quốc đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Abă) của Trường Sa và Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa). Sau đó, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp đã đánh chiếm Sài Gòn (từ ngày 23-9-1945), rồi Nam Bộ, thành lập chính quyền Nam Kỳ tự trị của người Việt thân Pháp và sau đó thành lập chính phủ Bảo Đại thân Pháp, ký kết với Bảo Đại hiệp ước năm 1947 và tranh thủ sự công nhận của các nước phương Tây để chống lại Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp. Các chính quyền thân Pháp ở Việt Nam hoặc thực dân Pháp đã liên tục quản lý quần đảo Trường Sa với các hải đảo đã chiếm hữu kể trên, kế tục sự chiếm hữu trước đó thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Cụ thể, ngày 4-9-1950, Đổng lý văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại, Hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn, đã công khai khẳng định lại quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Tại Hội nghị San Francisco (9-1951), ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tuyên bố: "Khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"1 (Xem: France Asie, số 66-67 (Novembre-Décembre, 1951), tr. 502-505). Tuyên bố này, đã không gặp sự phản đối của bất kỳ đại biểu nào trong Hội nghị.


Đến năm 1956, khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam, Trường Sa được bàn giao cho chính quyền ở Việt Nam Cộng hòa quản lý, đã bảo đảm tính liên tục thực thi chủ quyền một cách hoà bình của mình đối với Trường Sa. Chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Ngày 14-2-1975, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn công bố sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Đến năm 1975, khi giải phóng miền Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản, tiếp tục trấn giữ; và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ năm 1976, tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa. Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ghi rõ:

''Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam.

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam"1 (Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật Biển ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2004, tr. 202).


Tiếp theo đó, trong Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Việt Nam đã khẳng định rõ ràng chủ quyền của mình ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt, trong tuyên bố của Chính phủ ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này, đã chứng minh rõ ràng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên tất cả cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn. Để cụ thể hóa chủ quyền của mình, ngày 9-12-1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai; đến kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa VII ngày 28-12-1982 đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai và sáp nhập váo tỉnh Phú Khánh. Tháng 6-1989, tỉnh Phú Khánh tách thành tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa. Từ đó cho đến nay, chính quyền của huyện đảo Trường Sa thuộc Khánh Hòa vẫn đang thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình.


Như vậy, với chức năng của một chính quyền cấp nhà nước, các chúa Nguyễn đã tiến hành xác lập, khẳng định và thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Họ kiểm soát sự khai thác các sản vật ở Biển Đông và những hành động cụ thể trực tiếp khai thác các sản vật của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải, một tổ chức dân binh liên tục gần hai thế kỷ suốt từ đầu thế kỷ XVII cho đến năm 1816. Những hành động xác lập và thực thi chủ quyền rất cụ thể như xây cột mốc, dựng bia, xây miếu, trồng cây, đo đạc thủy trình vẽ bản đồ của thủy quân Việt Nam từ năm 1816 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua và triều đình Huế từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, là những bằng chứng rõ ràng, không thể tranh cãi về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Trải qua các thời kỳ lịch sử, tất cả các chính quyền có trách nhiệm về chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền hợp pháp của mình. Trong giai đoạn 1954-1975, trong khi 2 chính quyền ở miền Nam chịu trách nhiệm hành xử chủ quyền: một là Việt Nam Cộng hòa, hai là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cũng như chính quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất đã tiếp tục bảo vệ, không từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Đo đó, mọi sự tranh giành chủ quyền với Việt Nam là hành động trái phép với luật pháp quốc tế1 (Sau khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam (1956), các nước đã lợi dụng tình trạng phòng vệ yếu kém của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở các đào ở Biển Đông đã chiếm đóng trái phép: Trung Quốc chiếm đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa: Phú Lâm; Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất Itu-Aba (Ba Bình) của quần đảo Trường Sa; Philippines sau đó cũng tuyên bố Trường Sa trừ đảo Trường Sa (Pratley) là của Philippines nằm kế cận nước này, rồi cũng chiếm một số đảo đá trong đó có đảo Song Tử Đông. Đến năm 1988, bằng vũ lực, Trung Quốc mới chiếm một số bãi đá của Trường Sa (Việt Nam)).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM